Tag Archives: france

THANH HIỆP : Tưởng niệm 100 ngày mất của cố GS-TS Trần Văn Khê tại Pháp: Nguyện tiếp nối con đường thầy Khê đã đi


06/10/2015 22:16

Họ – những học trò tâm phúc của GS-TS Trần Văn Khê – mơ ước thực hiện di nguyện của thầy, xây dựng trung tâm âm nhạc dân tộc Việt tại châu Âu

Nhạc viện Taverny phía Bắc thủ đô Paris chiều 3-10 khác với mọi ngày khi dòng người kéo về không phải để nghe hòa nhạc như thường lệ mà tham dự một chương trình đặc biệt: Lễ tưởng niệm 100 ngày mất của cố GS-TS Trần Văn Khê. Cùng thời điểm này, một ngôi chùa ở miền Nam nước Pháp đã làm lễ cầu siêu và một nhà thờ ở phía Bắc Paris đã làm lễ siêu thoát cho ông.

Tiếng đàn tranh của cô bé Quỳnh Vy 5 tuổi đến từ Na Uy với bài “Tam pháp nhập môn” đã mở màn chương trình lễ trong niềm xúc động của khán thính giả. “Lễ tưởng niệm của thầy Khê không có đọc kinh cầu nguyện của tôn giáo nào, cũng không có khói hương, thay vào đó là nhạc lễ miền Trung, miền Nam Việt Nam được ngân vang như chính nguồn thương yêu vô bờ của chúng tôi kính dâng lên thầy để báo đáp công ơn”, GS – nhạc sĩ Phương Oanh, Giám đốc Trường Âm nhạc dân tộc Phượng Ca tại Paris – Pháp, xúc động nói.

GS - nhạc sĩ Phương Oanh và ban nhạc truyền thống Trường Âm nhạc dân tộc Phượng Ca tại Pháp biểu diễn trong lễ tưởng niệm GS-TS Trần Văn Khê
GS – nhạc sĩ Phương Oanh và ban nhạc truyền thống Trường Âm nhạc dân tộc Phượng Ca tại Pháp biểu diễn trong lễ tưởng niệm GS-TS Trần Văn Khê

Mọi người tham dự lễ tưởng niệm đều xúc động và dường như trong những cái bắt tay, ôm choàng lấy nhau vì lâu ngày gặp lại, đã có sự tiếc nuối bởi họ đều không được gặp GS-TS Trần Văn Khê lần cuối khi ông lâm trọng bệnh.

Từ Bỉ sang Pháp để lái ô tô đón đưa các học trò của thầy Khê đến từ nhiều quốc gia khác nhau ở châu Âu, chị Đoàn Vinh – trước đây làm việc tại Hội Chữ thập đỏ Bỉ, nay đã về hưu. Chị cho biết qua sự kết nối của GS – nhạc sĩ Phương Oanh, chị đã gặp thầy Khê, thọ giáo thầy không chỉ về kiến thức âm nhạc, văn hóa mà còn về nhân cách sống.

Chị Đoàn Vinh xúc động kể: “Tinh thần yêu dân tộc, tự hào về truyền thống âm nhạc nước nhà ở thầy Khê rất lớn. Khi hay tin thầy bệnh, chúng tôi mỗi ngày đều liên lạc hỏi thăm nhau, mỗi học trò của thầy ở nhiều quốc gia khác nhau đã truyền đến nhau những lời động viên, rằng thầy sẽ mau chóng khỏe lại. Rồi thầy ra đi mãi mãi, trong khi chúng tôi vẫn chưa thể lĩnh hội hết tất cả những bài học từ thầy”.

Nhân cách lớn từ GS-TS Trần Văn Khê mà GS – nhạc sĩ Phương Oanh đã học, đó là vượt qua tất cả khó nhọc trên xứ người để bảo vệ thành công luận án đưa đàn tranh vào Nhạc viện Pháp và được chính phủ Pháp phong hàm giáo sư. Bà nhớ mãi lời thầy Khê dạy: “Con có được người Pháp công nhận thì con mới đường đường, chính chính thực hiện ước mơ gầy dựng một trường dạy âm nhạc dân tộc mình trên xứ người” – lời GS-TS Trần Văn Khê dạy cho đến bây giờ GS – nhạc sĩ Phương Oanh vẫn nhớ rõ. Bà trở thành 1 trong 7 vị nghệ nhân âm nhạc dân tộc các nước được chính phủ Pháp phong hàm giáo sư từ tháng 6-1996. Bà nghiên cứu âm nhạc dân tộc, soạn thảo giáo trình giảng dạy đờn tranh bằng ngôn ngữ Pháp.  Sau GS – nhạc sĩ Phương Oanh, cô giáo Hồ Thụy Trang cũng đã được nhận bằng giáo sư quốc gia Pháp, thành lập nhóm Tiếng tơ đồng biểu diễn giao lưu văn hóa không chỉ với âm nhạc dân tộc Việt, mà vươn xa hơn với nhiều loại hình âm nhạc truyền thống của các nước. Tiết mục giao lưu giữa đàn tranh Việt Nam do Hồ Thụy Trang hòa tấu với tiếng đàn Kayagum của nữ nghệ sĩ Kwon Hye Kyoung đã làm khán phòng tràn ngập niềm xúc động.

Từ Hà Nội bay về Paris đúng ngày 1-10, sau khi tham dự các kỳ họp về chuyên môn về việc thực hiện hồ sơ trình tổ chức UNESCO xét duyệt nghệ thuật hát then của Việt Nam được công nhận di sản văn hóa đại diện nhân loại, GS-TS Trần Quang Hải, con trai của GS-TS Trần Văn Khê, đã có mặt và làm chủ lễ chương trình tưởng niệm được tổ chức long trọng tại Nhạc viện Taverny.

Nghệ sĩ đàn tranh  TS Nguyễn Thị Hải Phượng mang cây đàn tranh mà GS – nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Bảo vừa đóng sang, đã hòa quyện với tiếng đàn tranh của GS – nhạc sĩ Phương Oanh, cùng các ngón đàn của: Hồ Thụy Trang, Ngọc Dung, Vân Anh, Phi Thuyền, Nguyệt Ánh, Văn Trực… như rót thêm đầy niềm tri ân, lòng biết ơn đối với người khai sáng hướng đi chung cho họ: Dùng âm nhạc dân tộc kết nối tình đoàn kết, hướng về cội nguồn của bất cứ nơi nào có người Việt sinh sống.

Những yêu thương mà GS-TS Trần Văn Khê để lại cho đời còn là vòng tay lớn kết nối những tâm hồn đồng điệu. Chị Elise – giáo viên dạy sáo tây Nhạc viện Antony phía Nam Paris – xúc động nói: “Tôi biết giáo sư là một người có tinh thần dân tộc và yêu văn hóa Việt rất lớn. Tôi ngưỡng mộ ông và xúc động khi có mặt trong lễ tưởng niệm này, để cùng với các học trò của ông hòa tấu bài Dạ cổ hoài lang”. Chị Elise đam mê sáo trúc Việt Nam, chị thổi rất có hồn bản nhạc làm nên bài vọng cổ có xuất xứ từ Bạc Liêu, để rồi qua đó tìm hiểu về sự nghiệp âm nhạc của ông Sáu Lầu, hỏi cho tường tận câu chuyện làm nên bản nhạc diệu kỳ mang tên “Dạ cổ hoài lang””.

Hơn 100 học trò được xem là hạt giống quý mà GS – nhạc sĩ Phương Oanh đã đào tạo, họ đã tỏa đi khắp nơi, gieo thêm nhiều ước mơ giữ gìn và phát huy âm nhạc truyền thống dân tộc. Lễ tưởng niệm cũng là lễ họ báo công với thầy, chúc nhau vươn tới giá trị đích thực của việc học, nghiên cứu, truyền thụ âm nhạc dân tộc Việt trên khắp năm châu. Những tâm hồn đồng điệu ở đây đang quyết tâm thực hiện ước mơ xây dựng một trung tâm âm nhạc dân tộc Việt tại châu Âu, ngôi nhà chung của những ai yêu thích âm nhạc và nghệ thuật nước nhà.

Bài và ảnh: Thanh Hiệp

THANH PHƯƠNG / RFI RADIO: CHƯƠNG TRÌNH TƯỞNG NIỆM GS TRẦN VĂN KHÊ


Chương trình tưởng niệm GS Trần Văn Khê

Phát Thứ tư, ngày 30 tháng chín năm 2015
Chương trình tưởng niệm GS Trần Văn Khê

Giáo sư Trần Văn Khê – DR

Nghe toàn bộ tạp chí với phần phỏng vấn Giáo sư Phương Oanh, Giáo sư Trần Quang Hải và nhac sĩ Hải Phượng.

Vào ngày 03/10/2015 tới đây, giới nghệ sĩ nhạc dân tộc Việt Nam từ Pháp, từ các nước châu Âu khác và từ Việt Nam sẽ tề tựu tại Taverny, ngoại ô Paris, để tổ chức một chương trình đặc biệt tưởng niệm cố giáo sư Trần Văn Khê, nhân lễ giỗ 100 ngày bậc thầy của ngành dân tộc nhạc học, nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam mà cả thế giới. Giáo sư Trần Văn Khê đã qua đời ngày 24/06 vừa qua ở Sài Gòn hưởng thọ 94 tuổi, sau khi đã dành trọn đời cho nghiên cứu cũng như duy trì âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Chương trình tưởng niệm do đoàn Phượng Ca Dân Ca Quốc Nhạc tại Paris tổ chức, với sự tham gia của các giáo sư, nhạc sĩ nhạc dân tộc từ Pháp, Bỉ, Na Uy, Canada, Hoa Kỳ và Việt Nam. Bắt đầu từ 19 giờ ngày 03/10/2015 tại Nhạc viện Taverny, Conservatoire de musique de Taverny (44 rue de Montmorency, 95150 Taverny), chương trình bao gồm hai phần : Phần Lễ giỗ, trong đó các nghệ sĩ cũng sẽ trình diễn các làn điệu dân tộc để tưởng niệm Giáo sư Trần Văn Khê và phần biểu diễn của nhạc sĩ Hải Phượng từ Việt Nam và nhạc sĩ Hồ Thụy Trang ở Paris.

Là người sáng lập đoàn Phượng Ca Dân Ca Quốc Nhạc, giáo sư Phương Oanh đã quen biết giáo sư Trần Văn Khê từ rất lâu. Theo lời giáo sư Phương Oanh, lễ giỗ tại Taverny chính là nhằm nhắc lại tinh thần tôn sư trọng đạo đối với giáo sư Trần Văn Khê, với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ là học trò của giáo sư Khê, qua đó duy trì sự tiếp nối giữa các thế hệ trong việc bảo tồn nhạc dân tộc ở nước ngoài.

Đứng chủ lễ trong ngày Lễ Giỗ ngày 03/10 ở Taverny, giáo sư Trần Quang Hải, con trai của Giáo sư Trần Văn Khê, cũng đồng ý với giáo sư Phương Oanh về mục đích của chương trình tưởng niệm mà ông cho là rất có ý nghĩa này. Giáo sư Trần Quang Hải còn cho biết là, ngoài chương trình lễ giỗ ở Taverny, sẽ có những chương trình tưởng niệm khác của những học trò người Pháp của giáo sư Trần Văn Khê.

Tham gia trình diễn trong lễ giỗ 100 ngày giáo sư Trần Văn Khê, đặc biệt có nghệ sĩ đàn tranh nổi tiếng ở Việt Nam Hải Phương, cũng là một học trò của giáo sư Trần Văn Khê và đã từng cùng với giáo sư Khê trình diễn tại Pháp cách đây hơn 20 năm. Trả lời RFI Việt ngữ trước khi lên đường sang Pháp, Hải Phượng kể lại những kỷ niệm với giáo sư Trần Văn Khê và nói lên tâm trạng của cô khi trở lại Pháp để tham gia lễ tưởng niệm người thầy của cô.

Nghe toàn bộ tạp chí với phần phỏng vấn Giáo sư Phương Oanh, Giáo sư Trần Quang Hải và nhac sĩ Hải Phượng.

Tạp chí Chương trình tư

DOMINIQUE DE MISCAULT : TRAN VAN KHE : REMARQUABLE FIGURE DE LIBERTÉ


tran van khe photo funeral

Trần Văn Khê ou une remarquable figure deLIBERTE, s’est éteint à Hochiminhville où ilrésidait à nouveau depuis 2005 dans sa maison-musée dont il avait dessiné le jardin, le 24 juin 2015 à l’âge de 94 ans

Trần Văn Khê, est né le 24 juillet 1921 à Binh Hoà Dông, un village, à une centaine de kilomètres à l’ouest d’Hochiminhville dans une famille de musiciens depuis plusieurs générations. Orphelin de mère, puis de père, à 10 ans, il est recueilli par son oncle numéro 5, Nguyễn Tri Khương (1890-1962) 1. Fabuleusement doué,  après des études de médecine à Hanoi, partisan du Viet Nam libre Trần Văn Khê mène une campagne ouverte anti- française. Arrêté en 1949, il aurait du être fusillé mais grâce à un engagé volontaire,

il part pour la France qu’il combattait. A Paris, il rentre à Sciences Po tandis qu’il affronte pendant plus de 3 ans une maladie qui l’invalidera pour le reste de sa vie. Erudit mais avec une sensibilité d’artiste, il choisira définitivement et par vocation la musique qui en a fait ce génial ethnomusicologue reconnu dans le monde entier. Trần Văn Khê n’a jamais obtenu la nationalité française et définitivement libre, il avait prévu ne pas vouloir de funérailles nationales…

Il avait choisi ce poème en 2014 qu’il chantait de sa voix venue des profondeurs de son 2Lý Trường MÃN GIÁC 滿覺 (1052 – 1096)

Il dit avant de mourir :

春去 百 花 落

春到 百 花 開

事逐 眼 前 過

老從 頭 上 來

莫 謂春 殘 花 落 儘

庭 前昨 夜 一 枝 梅

Le printemps est passé, cent fleurs jonchent le sol,

Le printemps est revenu, cent fleurs s’épanouissent.


Doucement la vieillesse s’empare de nos têtes.

La nuit dernière devant la cour, une branche de prunier a fleuri.

Ainsi file la vie,

Ne pensons plus à toutes ces fleurs fanées,

Xuân ruổi, trăm hoa rụng,

Xuân tới, trăm hoa cười.

Trước mắt, việc đi mãi,


Trên đầu, già đến rồi.


Ðừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,

Ðêm qua, sân trước, một cành mai.

http://www.aafv.org/tran-van-khe-1921-2015

1 Erudit et célèbre évêque Caodaï

2 Un livre des moines Bouddhistes dans le Viêt Nam d’autrefois, 2005 page 92 – « murmures aujourd’hui »2014

Un hommage lui sera rendu le 26 novembre 2015 à la maison des cultures du Monde 101 boulevard Raspail avec Simha Arom, François Picard, Cheng Shui Sheng, Tran Quang Hai, son fils ethnomusicologue et Bach Yen et Hô Thuy Tien.

Prof.Dr. GILBERT ROUGET’s pictures at his home in good health, 26 july 2015


Prof. Dr. GILBERT ROUGET (99 years old) is in good health. Pictures taken at his home during Tran Quang Hai ‘s visit, Paris July 26th 2015

GILBERT ROUGET (99 ans) est en bonne santé lors de la visite de TRAN QUANG HAI chez lui le 26 juillet 2015

DSC08116

Prof.Dr. GILBERT ROUGET

DSC08124

Prof.Dr. GILBERT ROUGET & TRAN QUANG HAI

DSC08129

DSC08122

TRAN QUANG HAI & AURÉLIE GARMA-ROUGET (Rouget’s daughter)

DSC08119

DSC08117

DSC08121

DSC08128

HOMMAGE A MONSIEUR TRẦN VĂN KHÊ


Hommage à Monsieur Tran Van Khê

Hommage à Monsieur Tran Van Khê

Tran Van Khê, passeur de musiques et messager de paixLe chef de l’État rend hommage au professeur Trân Van Khê

Tran Van Khê, passeur de musiques et messager de paix

Le Professeur Tran Van Khê est décédé au Vietnam, le 24 juin 2015. Il aurait eu 95 ans le 24 juillet. Il rejoint définitivement la terre de ses ancêtres.

 Il n’avait pas peur de la mort, il l’avait croisée plusieurs fois. Il avait prévu, dans les moindres détails, les cérémonies funéraires qui suivraient sa disparition car il ne voulait aucune récupération d’aucune sorte. Donc pas de funérailles nationales…

Pas de dépenses inutiles non plus. Il voulait que l’argent consacré aux fleurs ou les dons faits en de telles occasions servent à créer une bourse destinée à quelqu’un, musicien ou chercheur, qui se consacrerait à la musique traditionnelle. Il voulait que cette bourse devienne pérenne. Il souhaitait aussi que ses obsèques ne soient pas tristes et que ses ami(e)s musicien(ne)s, ses élèves jouent une dernière fois pour lui.

 La maison qu’il occupait à Ho Chi Minh Ville depuis son retour au Vietnam en 2005 va devenir un lieu de souvenir dédié à la culture et à la connaissance de la musique traditionnelle, non seulement du Vietnam, mais aussi de l’Inde, de la Chine, du Japon de l’Iran… On y retrouvera les documents qu’il a enregistrés, photographiés, filmés ou publiés pendant plus de 50 ans et qui seront accessibles aux chercheurs et aux étudiants. Ses instruments de musique personnels ainsi que ceux rapportés lors de ses nombreux voyages et missions y seront exposés.

Orphelin de mère à l’âge de 9 ans, puis de père à l’âge de 10 ans, Tran Van Khê nait dans une famille dans laquelle on est musicien depuis plusieurs générations ; il sera élevé pour devenir musicien et chanteur traditionnel, même si plus tard, jeune étudiant, il s’orientera, pendant un temps, vers la médecine.

L’Histoire tumultueuse que traverse le Vietnam depuis l’occupation japonaise jusqu’à la fin de la colonisation française fera très vite basculer sa vie. Arrêté au Vietnam pour ses activités de résistant il aurait dû être fusillé. Il nedevra la vie sauve qu’à une rencontre avec un soldat français, engagé volontaire qui lui permettra de s’évader.

Et, c’est paradoxalement ce pays qu’il combat qui va l’accueillir en 1949 et dans lequel il deviendra cet ethnomusicologue respecté dans le monde entier.

Il avait combattu au Vietnam la France coloniale de l’époque, et c’est en « exil » qu’il va vivre la guerre menée par les Etats Unis contre son pays.

Cette guerre sera toujours présente en lui. En déplacement aux Etats Unis pour un congrès international, il refusera de se rendre à la Maison Blanche à l’invitation du président de l’époque, et ce,  lui fait-il répondre, « tant que les Etats Unis porteront la guerre dans mon pays ». Face aux étudiants des universités américaines venus écouter le musicien, il explique la guerre du Vietnam et joue en mémoire des morts des deux  pays.

Acteur-témoin de l’Histoire politique et culturelle du Vietnam et de la France, que de chemin parcouru entre le brillant étudiant en médecine, le chanteur de variétés habillé et gominé comme Tino Rossi, le musicien de jazz à ses heures perdues, l’acteur de cinéma, le diplômé de Sciences Politiques et l’ethnomusicologue, musicien traditionnel qu’il est devenu.

 

 Tran Van Khê a donné des conférences, joué et chanté dans près de 60 pays, sur tous les continents, partageant la scène avec des musiciens prestigieux, tels Yehudi Menuhin ou Ravi Shankar. Il a fait l’objet de nombreuses émissions de radio et de télévision aux cours desquelles il a pu parler de son métier et de son engagement pour la préservation des musiques traditionnelles, patrimoine culturel de l’humanité.

Il a toujours voulu, à travers ses activités, être « un pont » entre son pays d’adoption et son pays d’origine. C’est sans doute pour cela que le président Mitterrand, lorsqu’il voulut renouer les liens avec son ancienne colonie, demandera à Tran Van Khê de l’accompagner dans son voyage.

Mais pour moi, Tran Van Khê est plus que ce personnage respecté et admiré par ses pairs, par ses étudiants et son public à travers le monde. il est cet oncle avec lequel depuis l’enfance j’ai tissé des liens d’amour et de complicité et au sujet duquel j’ai entrepris, il y a une vingtaine d’années la réalisation d’un film.

Tran Van Khê est entré dans ma vie par la magie du cinéma, j’avais six ans. Un jour, ma mère m’amena au cinéma. Sur l’immense écran, je découvris le visage et la voix de l’homme qui changea ma vie ; Tran Van Khê jouait le rôle d’un policier dans un film d’André Pergament, intitulé “La rivière des trois jonques“. Je le trouvais sévère mais juste ; il représentait la loi ! 

Cousin de ma mère, ils s’étaient perdus de vue à cause de la guerre. En 1958, il emménage avec nous dans la proche banlieue parisienne. Merveilleux conteur, il nous racontait chaque soir avant le coucher, « le Singe Pèlerin ». Il accompagnait ses paroles avec les gestes du théâtre chinois, ménageait ses effets et le suspense. Nous étions fascinés. Au fil des années, c’est lui qui m’éduquera, mettra en chansons mes tables de multiplication, mes cours d’histoire, de géographie et de sciences naturelles afin que je les retienne plus facilement … Il était fier de ce que j’étais devenue. Je lui dois beaucoup. Ma peine est immense…                                                                                                                                    

 
En avril dernier, j’étais au Vietnam, je lui ai rendu visite chaque jour pendant 2 mois, équipée de ma caméra pour saisir tous les instants qui pourraient encore enrichir mon film.

Lorsque j’arrivais à 9h, sa journée était déjà bien commencée ; il avait pris connaissance des nouvelles du monde, dicté son courrier, ses réponses sur son Facebook. Puis il se mettait au travail ; toutes ses recherches ayant été consignées en français, aidé de son

assistant, il écoutait, répertoriait des enregistrements datant de plusieurs décennies. Il donnait le lieu, la date, et le nom de l’instrument de musique. Sa mémoire et son envie de transmettre étaient intactes.

L’après midi, il dictait les pages qui devaient être celles d’un nouveau livre le concernant, constitué essentiellement de photos inédites, drôles, étonnantes de lui. Il écoutait et choisissait les chansons qu’il avait interprétées dans des versions inédites, certaines remontant à plus de 50 ans. Elles devaient sortir sous forme de CD. Il se réjouissait, en préparant ainsi son 95ème anniversaire, à l’idée de montrer une facette inconnue, moins « sérieuse» du personnage officiel.

 Puis venait mon tour de lui prendre un peu de son temps précieux. Sa vue ayant beaucoup  baissé, il ne pouvait pas lire la retranscription de ses interviews que j’avais filmées en français. Comme je ne voulais pas d’une autre voix que la sienne pour le doublage en vietnamien, alors, je les lui lisais et il devait les mémoriser pour les traduire fidèlement, puis les enregistrer. En raison de son âge, j’avais prévu 2h d’enregistrement par jour pendant 15 jours, mais il ne nous faudra que 3 jours pour tout achever. Sa voix était toujours aussi puissante et magnifique. Il nous a tous surpris, il était heureux et impatient de voir le film terminé.

Lorsque je l’ai quitté le 24 mai, nous nous étions donné rendez vous pour le mois d’octobre, pour la diffusion du film à la télévision vietnamienne. Il ne sera pas au rendez vous.

 

 Paris, le 3 juillet 2015, Ho Thuy Tien , Réalisatrice

 

 Ce disque “Musique du Viet Nam” a obtenu en 1960 le Grand Prix du disque 1960, Académie du Disque Français Prix des Universités de France. Disque “Musique du Viet Nam” “La Boîte à Musique” No. LD 365.

Tran Van Khê (musicologue, musicien) à la vièle à 2 cordes
Mong Trung (chant traditionnel, poétesse) au chant
Mai Thu (musicien et peintre) jouant du monocorde
 

Le chef de l’État rend hommage au professeur Trân Van Khê

Le président du Vietnam, Truong Tân Sang, a rendu hommage le 28 juin au professeur Trân Van Khê, décédé le 24 juin à l’âge de 94 ans, et a exprimé ses condoléances dans le registre de deuil, au domicile du défunt au 32 rue Huynh Dinh Hai, dans l’arrondissement de Binh Thanh de Hô Chi Minh-Ville.

Le professeur Trân Van Khê, un homme qui a consacré toute sa vie à l’œvre de la musique vietnamienne, contribuant notablement à présenter la culture vietnamienne grâce à ses connaissances musicologiques. Son esprit, son prestige, son talent, son cœur et sa créativité resteront des éléments précieux de la culture vietnamienne “, a écrit Truong Tân Sang.

 

Le président de la République Truong Tân Sang a rendu hommage le 28 juin au professeur Trân Van Khê. Photo: Thanh Vu/VNA/CVN

Né le 24 juillet 1921 à Mỹ Tho, au Sud Vietnam, le professeur Trân Van Khê était un éminent ethnomusicologue à qui l’on doit le renouveau et la préservation de la musique traditionnelle vietnamienne. Auteur d’une somme immense de recherche, d’enseignement et d’interprétation, cet infatigable conservateur des arts a légué au Vietnam et au monde un héritage précieux et pérenne. Sa vaste expertise fut partagée dans le cadre de près de 200 congrès internationaux à travers le monde et par quelques 200 articles publiés dans de nombreuses langues, notamment dans Le courrier de l’UNESCO.

Avec une attention particulière au Viet Nam, sur la base de plus de 600 heures de musique et de conversations enregistrées avec de grands interprètes, Trần Văn Khê a été le premier à produire des enregistrements de musique traditionnelle vietnamienne (folklorique et cérémonielle), un art considéré jusque là comme quasiment perdu. Il a également fait revivre d’anciennes formes musicales comme le théâtre populaire Chèo, le chant des chanteuses professionnelles Ca Trù, le chant alterné Quan Ho, la musique dite des amateurs du Sud Viet Nam Đon Ca Tài Tu Nam Bô, et la musique liturgique bouddhique Nhac Phât Giao. L’ethnomusicologue a aussi codifié la musique des instruments à cordes du Viet Nam, notamment pour le Đàn Tranh, la cithare vietnamienne.

Le professeur Trân Văn Khê était un grand maître de musique du Vietnam ayant reçu de prestigieuses distinctions de la République de France comme d’associations de musique du monde. Parmi les nombreux honneurs qui lui ont été accordés, on peut citer le Grand Prix de l’Académie du disque français (1960 et 1970), le diplôme de docteur honoris causa par l’Université d’Ottawa (1975), le prix IMC Unesco (1981), la médaille d’Officier de l’ordre des arts et des lettres (1991), la qualité de membre correspondant de l’Académie européenne des sciences, des arts et des lettres (1993), la médaille du Travail de première classe de la République socialiste du Vietnam(1999), le titre de Chevalier des palmes académiques, France (1999), le prix Phan Châu Trinh du Vietnam(2011)…

http://www.cap-vietnam.com/dossiers/tran-van-khe-passeur-de-musiques-et-messager-de-paix.html?page=dernier-publie

MỪNG SINH NHỰT TRẦN QUANG HẢI / thơ xướng (Bạch Yến) và họa (Trần Quang Hải) / HAPPY BIRTHDAY TO TRAN QUANG HAI, 13.05.2015


17693_10152710060330807_440473849885781983_n4

thực hiện : Tùng Thái

happy birthday

happy birthday
Bảy mươi hai tuổi vẫn còn ngon
Giọng nói tiếng cười nổ rất giòn
Xơi lắm món ngon không ngại béo
Sâm-banh (champagne) mỗi tiệc khó mà thon
            Thương tặng chồng cưng yêu.
             Limeil Brévannes 03 giờ 15 sáng
                            Ngày 13 Tháng 05 Năm 2015
                            Bạch Yến

Joyeux anniversaire mon BB
Happy birthday my wonderful husband.
Feliz cumpleaños mi marido encantador.
Buon compleanno mio marito intenzionale

 

Chồng họa thơ vợ

Tuổi cao không ngại vẫn ăn ngon

Hải vị sơn hào các món giòn

Thế giới chu du truyền dạy hát

Tiệc tùng liên tục khó mà thon .

 

Thương yêu tặng vợ bài thơ họa

Trần Quang Hải, 13 tháng 5, 2015 lúc 9giờ20 am .

11245497_379905835540355_8018729139888030579_n

Thực hiện : Nguyễn thị Ngọc

anh minh tqh

QUÁCH VĨNH THIỆN : DVD LE DESTIN HISTORY / MUSIQUE SANS PAROLES d’après le poème KIM VÂN KIỀU de NGUYỄN DU


QuachVinhThien

QUÁCH VĨNH THIỆN

Le Destin History – Musique sans parole d’après le poème Kim Vân Kiều

x

Vinh-Thien QUACH

ThienMusicvous présenteCD – DVD Le Destin History : Musique sans parole. D’après le poème Kim Vân Kiều de Nguyễn Du.Musique et Harmonie de Vinh-Thien Quach.Auteur – Compositeur de la SACEM.Membre de l’Académie Européenne des Sciences, des Arts et des Lettres.http://www.youtube.com/user/thienmusichttp://www.thienmusic.comVoyage en Images et en Musique :http://thienmusic.free.fr/NotaBene.htm

le destin 1 QWTHIEN

Le Destin 1 Le Destin History 01 – Les deux soeurs Thuy Kieu et Thuy Van :https://www.youtube.com/watch?v=Tf-8u_Pj2gE&index=12&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gLe Destin History 02 – Thanh Minh Đạp Thanh – Commémoration de la Pure Clarté de Clémence :https://www.youtube.com/watch?v=HhTLj5aBgwo&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gLe Destin History 03 – Hồng Nhan Bạc Mệnh – Beauté de Rose, Epineuse Destinée :https://www.youtube.com/watch?v=b3SMd7zi8H4&index=10&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gLe Destin History 04 – Le Gentleman Kim Trọng :https://www.youtube.com/watch?v=2gNUIyYrcgs&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gLe Destin History 05 – Gặp Gở Làm Chi – Pourquoi ai-je rencontré cet homme :https://www.youtube.com/watch?v=8T7NQUu6AuA&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g&index=8Le Destin History 06 – Kiếp Nhân Duyên – La destinée résultant de Karma :https://www.youtube.com/watch?v=AwqoMLT9SxE&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g&index=7Le Destin History 07 – Mộng Triệu Mạch Tương – L’interprétation des songes, La source des larmes :https://www.youtube.com/watch?v=GizH_25jl_Y&index=6&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gLe Destin History 08 – Le gentleman Kim Trọng, la belle Thúy Kiều :https://www.youtube.com/watch?v=ge4vbdwUy_U&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g&index=6Le Destin History 09 – Rày Gió Mai Mưa – Aujourd’hui, le vent et demain, la pluie :https://www.youtube.com/watch?v=kwpxlygRdJw&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g&index=5Le Destin History 10 – Lượng Xuân – La générosité du printemps :https://www.youtube.com/watch?v=oTbPgxLacr0&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g&index=3Le Destin History 11- Lửa Hương – Le feu d’encens :https://www.youtube.com/watch?v=Z4d4YDR93bU&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g

le destin 2

Le Destin 2Le Destin History 12 – Lòng Xuân – Cœur Léger :https://www.youtube.com/watch?v=7zcB6hhdp0wLe Destin History 13 – Chung Tử Kỳ, un grand connoisseur en musique :https://www.youtube.com/watch?v=vZLLkIcypJ0Le Destin History 14 – Liêu Dương Ville :https://www.youtube.com/watch?v=04wCXoAJASILe Destin History 15 – Ba Đông – Les Trois Hivers :https://www.youtube.com/watch?v=jLis8jbc21MLe Destin History 16 – Bên Tình Bên Hiếu – Côté Amour, Côté Piété Filiale :https://www.youtube.com/watch?v=W78B7mN1zwsLe Destin History 17 – Ép Cung Cầm Nguyệt – Son et Sonate d’une complainte :https://www.youtube.com/watch?v=ansCJTQKWGALe Destin History 18 – Tơ Duyên – Le fil de la vie sentimentale :https://www.youtube.com/watch?v=AoSL0YskLOMLe Destin History 19 – Mảnh Hương Nguyền – Un débris de l’encens :https://www.youtube.com/watch?v=abY4ZVJBM_QLe Destin History 20 – Mr Mã Giám Sinh :https://www.youtube.com/watch?v=C9msF67yDNI&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g&index=24Le Destin History 21 – Madame Tú Bà :https://www.youtube.com/watch?v=cqwyUbXYdB4&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g&index=22&spfreload=1Le Destin History 22 – Đoạn Trường – Cœur déchiré :https://www.youtube.com/watch?v=Eg1qXkX5Pl8&index=21&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g

le destin 3

Le Destin 3Le Destin History 23 – Gương Nhật Nguyệt – Le miroir du Soleil et de la Lune :https://www.youtube.com/watch?v=H05fPqhVjFc&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g&index=19Le Destin History 24 – Lầu Xanh – La Maison de joie :https://www.youtube.com/watch?v=9aWicFsKP10&index=18&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gLe Destin History 25 – Phong Trần – Vents et poussières :https://www.youtube.com/watch?v=C6O-BQ9oBTo&index=17&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gLe Destin History 26 – Túc Nhân – Le Destin :https://www.youtube.com/watch?v=ieXWImNfMiI&index=16&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gLe Destin History 27 – Buồn Trông – Un regard triste :https://www.youtube.com/watch?v=OJMITl1G7BA&index=15&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gLe Destin History 28 – Sở Khanh, le Don Juan :https://www.youtube.com/watch?v=MdKNGSNiYVQ&index=14&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gLe Destin History 29 – Phù Dung – Hibiscus :https://www.youtube.com/watch?v=VkHzl4qeZs4&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g&index=13Le Destin History 30 – Quyến Gió Rủ Mây – Séduire le vent qui entraîne les nuages :https://www.youtube.com/watch?v=cJM3f9TnSoQ&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g&index=12Le Destin History 31 – Tong-Ngoc Trang-Khanh, les snobs :https://www.youtube.com/watch?v=miBex8hRLT4&index=11&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gLe Destin History 32 – Le saule de Chương Đài :https://www.youtube.com/watch?v=nFc6b5thAec&index=10&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g

le destin 4

Le Destin 4Le Destin History 33 – Thuc Sinh, le lettré :https://www.youtube.com/watch?v=S75VFCwUBQw&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g&index=9Le Destin History 34 – Phận Bèo Mây – Vogue le destin par nuages et marais :https://www.youtube.com/watch?v=J1SIgatUQxY&index=5&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gLe Destin History 35 – Đêm Ngắn Tình Dài – Nuit courte, amoureux pour toujours :https://www.youtube.com/watch?v=-SFpS81C9XM&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g&index=4Le Destin History 36 – Tay Đã Nhúng Chàm – La main prise au piège :https://www.youtube.com/watch?v=_YHzkN19N2I&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g&index=3Le Destin History 37 – Tài Tử Giai Nhân – La belle et l’élégant :https://www.youtube.com/watch?v=fml2lihEVdg&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8g&index=2Le Destin History 38 – Yếm Thắm Trôn Kim – Faits dévoilés :https://www.youtube.com/watch?v=mFgrCCBJDTA&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gLe Destin History 39 – Trăng Hoa – Fleur éphémère et Lune fugace :https://www.youtube.com/watch?v=F5kmRkBaRpo&index=3&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gLe Destin History 40 – Càng Mặn Càng Nồng – L’ardeur d’un cœur ardent :https://www.youtube.com/watch?v=28fj2HtR–0&index=2&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gLe Destin History 41 – Lâm Tri – L’être omniscience :https://www.youtube.com/watch?v=FkgYKMLK-_E&list=UURuamTfHI51hDifqPxXqQ8gProchainement : Le Destin 5, 6 et 7.quachvinhthien@gmail.com


Quách Vĩnh Thiện

http://www.thienmusic.comhttp://www.youtube.com/user/thienmusichttps://twitter.com/thienmusic
https://www.facebook.com/vinhthien.quach
Voyage en Image et en Musique :http://thienmusic.free.fr/NotaBene.htm
Président ACTV Association Culturelle Traditionnelle Vietnamienne( Hội Văn Hóa Cổ Truyền Việt Nam )

THU HẰNG , RFI PHÁP : Trương Vĩnh Ký : Chiếc cầu nối Đông-Tây


TẠP CHÍ VĂN HÓA

Phát Thứ sáu, ngày 20 tháng ba năm 2015
Trương Vĩnh Ký : Chiếc cầu nối Đông-Tây
 

Pétrus KýDR

  • print
    « Nhà văn Việt Nam. Sáng lập ra ngành báo chí tại Việt Nam, ông cũng là tác giả của nhiều tác phẩm lịch sử, giảng dạy, ngôn ngữ và dịch thuật các tác phẩm Tầu » . Đây là lời giới thiệu về Jean-Baptiste Pétrus Trương Vĩnh Ký (06/12/1837-01/09/1898) của từ điển các danh nhân của Larousse. Ông cũng được giới học thuật châu Âu thế kỷ XIX liệt vào một trong « Thế giới Thập bát văn hào » , đồng thời đứng trong hàng những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới nhờ thông thạo 10 ngoại ngữ và nắm sơ một số khác.

Cuộc đời và sự nghiệp của ông nhận nhiều ý kiến trái chiều. Một số người nhìn nhận ông như tay sai của thực dân Pháp. Một số khác thì ghi nhận ông như người đặt nền móng cho nhiều lĩnh vực chưa từng được biết đến tại Việt Nam trong giai đoạn đó, như dịch thuật, báo chí và viết văn.

Sinh tại ấp Cái Mơn, huyện Vĩnh Thành, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre), Trương Vĩnh Ký, còn được biết tới dưới các bút hiệu « Sĩ Tải » hay « Nam Trung ân sĩ », nổi tiếng với học thức uyên bác, am tường nhiều lĩnh vực và khả năng ngoại ngữ siêu phàm. Ngay từ nhỏ, nhờ trí thông minh, nhanh nhẹn, ông được linh mục Long đưa vào trường dòng học chữ la tinh ở Cái Nhum (thuộc tỉnh Vĩnh Long ngày nay). Từ đó, ông được bôn ba du học tại nhiều nước trong khu vực, từ Cam-bốt tới Cao Miên hay Pinang (Malaysia). Tại mỗi nơi, được gặp gỡ bạn đồng môn quốc tế, ông vận dụng khiếu ngoại ngữ để học tiếng nói của họ. Tới năm 1858, khi quay về quê chịu tang mẹ, ông đã thành thạo khoảng chục ngoại ngữ và am tường văn chương, khoa học, triết học. Năm đó, ông mới 21 tuổi.

Năm 1860, dưới sự chỉ huy của Đô đốc Bonard, người theo chủ trương tôn trọng ngôn ngữ và phong tục bản địa, quân đội Pháp chuẩn bị tấn công Sài Gòn và cần một thông dịch để tránh mắc sai lầm về chính trị. Linh mục Lefèbvre trông coi địa phận Nam Kỳ đã giới thiệu Trương Vĩnh Ký. Bắt đầu từ công việc thông dịch, dần dần ông tham gia nhiều lĩnh vực khác, đặc biệt phải kể đến báo chí và xuất bản, trước khi tham gia chính trị để rồi cuối đời gần như về ở ẩn và viết sách do bị cả chính phủ thuộc địa Pháp và triều đình nhà Nguyễn nghi kị.

Cầu nối Đông-Tây ?

Vai trò cầu nối Đông-Tây của Trương Vĩnh Ký có thể được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, trong đó phải kể tới dạy học, dịch thuật và làm báo.

Theo nhận xét của Nguyễn Cao Kim trong bài « Thân thế và sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký » , « ông giữ thái độ đặc biệt không đi quá trớn. Sau khi được đô đốc Bonard mời ra giúp việc, ông đã chấp thuận với ý định tạo nên bầu không khí giao hảo giữa Pháp và Việt Nam. Cũng vì nghĩ như vậy nên lúc làm thông ngôn (20-12-1860), hay lúc làm Đốc học trường thông ngôn Sài Gòn, ông vẫn chủ trương giúp cả hai nước mà chẳng nhị tâm ».

Phải chăng, Trương Vĩnh Ký chỉ muốn tận dụng cơ hội và vị trí của mình để xoa dịu những mất mát của người dân do chiến tranh gây ra và sau đó là cổ xúy cho tân trào ?

Năm 1861, đô đốc Charner, người kế nhiệm và đi ngược với chính sách bị coi là « mị dân »của đô đốc Bonard, cho phá đồn Chí Hòa (Kỳ Hòa). Hiểu rõ nỗi thống khổ của người dân, Pétrus Ký muốn làm dịu vết thương chiến tranh bằng cách đứng ra làm gạch nối cho sự giao hảo Pháp-Việt. Có lẽ vừa do phẩm chất, vừa do trình độ, nên nhiều lần, ông được cử làm thông ngôn cho sứ bộ hai bên, trong đó phải kể tới chuyến sang châu Âu của phái đoàn Phan Thanh Giản (06/1863-03/1864) đàm phán với triều đình Pháp và Tây Ban Nha việc chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường).

Trong thời gian lưu lại châu Âu, Trương Vĩnh Ký đã khám phá tinh hoa của nước Pháp và tìm hiểu tại sao người Pháp có thể tới đánh chiếm một nước xa xôi như Việt Nam. Ngược lại, ông cũng đã khiến triều đình Pháp thán phục trước sự thông tường chữ la tinh. Để thử tài của ông, một Bộ trưởng Pháp, trong lúc đón phái đoàn, đã để ông nói chuyện với một chuyên gia chữ la tinh hàng đầu của chính phủ.

Trong cuốn Impressions d’un Japonais en France, suivies des impressions des Annamites en Europe (Ấn tượng của một người Nhật tại Pháp, tiếp theo là ấn tượng của người An Nam tại châu Âu, 1864), Richard Cortembert miêu tả cuộc đối thoại giữa Pétrus Ký và nhà la tinh học lỗi lạc của Pháp thời bấy giờ như sau :

« … Đôi khi, nhà bác học Pháp phải chờ đợi vài giây trước khi kết thúc đoạn hội thoại của mình và dường như phải quanh co để không bị đuối. Trái lại, chàng phiên dịch An Nam lại cứ thoải mái nói hơn bao giờ hết ; cứ như từng giây một, cậu ta lại có thêm sinh lực mới… Những lời giải thích của cậu trở nên chính xác, rõ ràng hơn, trong khi đó, đối thủ của cậu luẩn quẩn trong cách nói dài dòng và không chính xác. Có lúc, như đuối sức, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng phương Tây trả lời luôn bằng tiếng Pháp trước câu hỏi bằng tiếng la tinh của Pétrus ; chàng thanh niên An Nam phản lại bằng tiếng la tinh, và người ta lại trả lời bằng tiếng Pháp… »

Từ năm 1866 tới 1879, ông lần lượt được đề cử làm Giám đốc dạy tiếng Đông phương ở trường Thông ngôn (Collège des Interprètes (1866-1868)), rồi Giám đốc Trường sư phạm (Ecole normale, 01/01/1872-31/12/1873) và cuối cùng là Giáo sư sinh ngữ (tiếng Việt và Hán tự) tại trường Tham biện Hậu bổ (Ecole des Administrateurs stagiaires, 01/01/1874-1879).

Đây là khoảng thời gian mà ông soạn nhiều sách và giáo trình để phục vụ cho công việc giảng dạy. Đối với người Pháp là giáo trình dạy chữ Hán và quốc ngữ, địa lý và lịch sử Việt Nam. Đối với người Việt, phần lớn cũng là sách dạy chữ quốc ngữ và tiếng Pháp. Ngoài ra, nhận thấy người Pháp mở trường tiểu học nhưng « quên » soạn và in sách, ông đã biên soạn nhiều sách giáo khoa, đồng thời luôn có những lời khuyên răn đạo đức cho trò nhỏ mà có thể thấy trong cuốn Sơ học vấn tân quốc ngữ diễn ca (1877) :

« Sách Sơ học vấn tân nghĩa là kẻ mới học hỏi bền là sách Annam làm cho con-nít học cũng như bên Tàu Tam-tự-kinh vậy. Sách nầy tóm cả truyện bên Trung-quốc cả truyện bên nước Nam ta nữa ; lại có kể ra phép học, bài thi, khuyên gắng công học cho chuyên.

Vậy nay âm ra ba thứ tiếng để cho con-trẻ học mà phá ngu, cùng tập lần cho biết cho dễ học sách cao đến sau ; đã có chữ có nghĩa lại có tiếng phangsa một bên, học một mà biết ba thì cũng tiện lắm.

Học thì chẳng phải là học cho biết viết chữ, cho thuộc tiếng nói mà-thôi, mà lại phải học nghĩa-lý phép-tắc, lễ-nghi, cang-thường luân-lý, là giềng-mối mà xử-trí trong việc ăn-ở trong đời với thiên-hạ. Ấy là lịch ấy là thanh. Nên phải do cựu tùng tân mới là phải, chẳng nên mới chuộng cũ vong mà mang lấy tiếng « yểm cựu nghinh tân ». Vì « vật hữu bổn mạt, sự hữu thỉ chung ; tri sở tiên hậu tắc cận đạo hỉ ». »

Tại thời điểm đó, tác giả không phải bận tậm việc phân phối sách nhờ trợ cấp của chính phủ và thường viết theo « đặt hàng ». Vì không phải lo lắng tới việc phân phối và nhuận bút, nên tác giả hoàn toàn có thể chuyên tâm vào việc nghiên cứu để tác phẩm có chất lượng tốt. Hoặc nếu nhận thấy một tác phẩm có ích, nhà nước sẽ xét duyệt ngân sách để mua và phân phối tới các trường học, thư viện hay các phòng ban hành chính.

Cũng trong giai đoạn này, ngoài sách dạy học, ông cũng chuyên tâm dịch các bộ sách cổ của Tầu, như Tứ Thư (1876) (Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh Tử). Một số ý kiến cho rằng, dù theo Công giáo, nhưng ông vẫn giữ truyền thống nho giáo phương Đông và muốn duy trì những tư tưởng này cho thế hệ sau.

Tư tưởng này cũng nổi bật rõ nét trong những câu chuyện mà ông biên soạn sau khi từ giã quan trường lui về ở ẩn. ông chuyển thể sang chữ Quốc ngữ những chuyện thơ dân gian, hay viết những câu chuyện đơn giản, dễ hiểu đầy ngôn từ địa phương. Ví dụ có thể kể đến các cuốn : Bất cượng chớ cượng làm chi (1882), Nữ tắc (1882), Thơ mẹ dạy con (1882), Thơ dạy làm dâu (1882), Thạch suy bỉ thới phú (1883), Học trò khó phú (1883), Phú bần truyện diễn ca, Cờ bạc nha phiến (1884)… Trong lời tựa của mỗi cuốn sách, ông đều tìm cách giải thích cho người đọc ý nghĩa câu chuyện, bài học đạo đức và giải thích phong tục tập quán. Như trong cuốn Thạnh, suy, bỉ, thới có những dòng tâm sự sau :

« Phú nầy nói về làm con người ở đời thì có sự thạnh, sự suy, sự bỉ, sự thới. Lúc thạnh thì khiến cho được giàu-có sang-trọng. Của-cải bạc-tiền, ngọc ngà châu báu chẳng thiếu vật chi. Đã giàu mà lại thêm sang, tôi-mọi hầu-hạ trong ngoài, khách kẻ tới người lui chật nhà chật cửa. Đến lúc suy cũng như hùm mạnh sa cơ, nhà-cửa xích-xác, trống trước trống sau, cũng như Vương-khải với Thạch-sùng khi nghiên-nghèo sánh lại với buổi giàu-sang, xa cách nhau biết là bao nhiêu ? Khi bỉ thì khốn-khó lút đầu lút óc, trí phải khó-nhọc buồn-rầu, xác phải nhọc-nhằn công lên việc xuống ; ăn bữa no bữa đói, đi thất-thơ thất-lạc. Đến khi gặp hồi thới lai, thì lại ra tử-tế, nên giàu nên sang, quan yên dân chuộng kẻ đưa người rước ; việc gì việc nấy đều may-mắn cả, phỉ-chí toại lòng.

Vậy mới biết việc đời xây-vần dời-đổi. Nên dầu nghèo dầu giàu cũng chẳng nên lo ; hễ hết thạnh thì tới suy, suy rồi lại thạnh ; hễ có qua cực rối lại sướng, sướng rồi lại tới cực đắp-đổi nhau. Có vậy mới từng mùi đời, mới biết thạnh suy bỉ thới ».

Nhìn vào danh sách tác phẩm của Trương Vĩnh Ký, có thể nhận thấy rằng ngoài kiến thức siêu phàm, phải có tâm huyết cao, ông mới có thể soạn ra các tác phẩm với những chủ đề đa dạng như vậy.

Nhà trí thức vì tân trào

Mong muốn duy tân đất nước của ông được thể hiện rõ ràng ngay trong chuyến công du lần đầu tới nước Pháp. Cũng như nhiều quan lại trong phái bộ, ông ý thức rằng văn minh, nông nghiệp và công nghệ châu Âu đã tiến xa rất nhiều so với phương Đông. ông nuối tiếc nêu những điểm yếu của Việt Nam trong bức thư gửi Richard Cortembert :

« Ở An Nam, đất đai rất mầu mỡ ; nhưng không được tiếp xúc với nhu cầu lao động nên tâm trí luôn trong trạng thái « ăn không ngồi rồi »… Đối với những người đứng đầu nhà nước, vấn đề không phải là phải thay đổi An Nam, mà là phải đấu tranh chống sự trây ì… Và có bao nhiêu điều mê tín phải loại bỏ, bao nhiều phong tục phải cải tổ lại, bao nhiêu định kiến phải tiêu diệt, bao nhiêu tính kiêu căng sẽ bị động chạm tới trong chiến dịch tổng cải tổ này ! »

ông chỉ trích quan lại Việt Nam quá cố hữu trong những chuẩn tắc của chính mình. Dù có trình lên những gì « mắt thấy tai nghe » tại châu Âu, hay có đưa ra những đề xuất gì, chưa chắc phái bộ Phan Thanh Giản đã thuyết phục được triều đình thay đổi ý kiến. ông cũng lo lắng vì quan lại không nghĩ tới dân, mà chỉ muốn làm vui lòng vua nhà Nguyễn với những tin tức hay sự kiện vui vẻ. Trong khi đó, họ giấu nhẹm những tai ương, đói khổ mà người dân cam chịu.

Ngoài ra, hơn ai hết, ông cũng hiểu được những khó khăn trong việc phổ biến học thuật mới bằng chữ Tầu. ông băn khoăn tự hỏi : « Làm thế nào để có thể truyền bá kiến thức với loại chữ tượng hình với hàng loạt kí tự khó này ? Tôi không phủ nhận rằng người ta có thể tiếp nhận khoa học với loại chữ này. Nhưng chỉ toàn bất tiện và khó khăn mà thôi. Để có thể đọc và hiểu được tốt những gì loại chữ này thể hiện, một người phải mất ít nhất cả tuổi thanh xuân của mình ; anh ta chẳng bao giờ có đủ thời gian để bắt tay nghiên cứu những công trình khoa học.

Đồng hương của tôi tạo thành một dân tộc dễ sai khiến, hay bắt chước, nhưng lại hoàn toàn trây ì ; tôi thấy rằng, ở đây, lỗi chủ yếu là do nhà nước. Họ không chú tâm vào khích lệ hay thức tỉnh dân tộc » .

Chính vì thế, ngoài viết sách, báo chí cũng là công cụ hữu hiệu để ông thử nghiệm việc truyền bá học thuật bằng chữ quốc ngữ. Trước khi ông được bổ nhiệm làm « chánh tổng tài »(rédacteur en chef), Gia-định báo chỉ đơn thuần là một tờ công báo của chính phủ Pháp tại Nam Kỳ. Tờ báo dịch đăng những thông tin bằng tiếng Pháp của tờ Le Courrier de Saigon. Tờ công báo này có nội dung nghèo nàn và ngôn từ khô khan với hai phần : « Phần Công vụ » với những thông tư, văn bản mới được công bố và « Phần Tạp vở » với những thông tin thuyên chuyển, bổ nhiệm hay giá cả một số mặt hàng.

Làm chánh tổng tài từ số 20 (24/09/1869), ông đã biến tờ báo thành một cơ quan phong phú, đa dạng hơn. ông khuyến khích viên chức nhà nước, giáo viên tham gia viết bài về bất kì chủ đề gì, từ cuộc sống đời thường tới những bài học khuyên răn đạo đức, từ dịch chuyện hay viết văn bằng chữ quốc ngữ… Ngoài các cơ quan nhà nước và địa phương, tờ báo cũng được « phát không tới các trường học để học sinh khá trong các làng mạc có thể đọc được » (Le Courrier de Saigon, số 7, 05/04/1865).

Chính vì thế, Gia-định báo giữ hai chức năng chủ đạo. Thứ nhất, là chiếc cầu nối nhằm tránh những hiểu lầm giữa chính phủ và người dân. Mục đích này được ông viết trong lời tựa số 20 :

« Những thầy trường quốc ngữ thì trễ nải, hoặc chẳng đọc nhựt trình cho học trò hay là người làng nghe, hoặc có khi chẳng hiểu cho rõ, kẻ hay chữ thì chẳng hay cắt nghĩa cho người ta biết với. Quan Nguyên-Soái người muốn cho người ta đừng có làm như vậy nữa, thì người phú cho ta việc đặt nhựt trình nầy kẻo người ta nói đặng rằng không hiểu, cũng là cho người ta biết những điều viết trong nhựt trình là đều thật và có ích.

Nhựt trình nầy có ích cho mọi người vì trong ấy có đủ mọi đều về dân sự, lịnh quan Nguyên Soái dạy, ý người về sau làm sao cùng là cách thế người làm. Trong ấy người ta biết được các tin tức buôn bán. Ở trên Châu-Đốc Hà-Tiên đều biết được giá hàng tại Saigon Chợ-Lớn. Mà ngồi một chỗ khỏi đi đâu, nên muốn mua muốn bán cũng gặp chầu, lại biết cho đến giá riêng đồ các chợ lớn ở các nơi. » (Gia-định báo, số 20, 24/09/1869).

Mặt khác, trong một thời gian dài, Gia-định báo được dùng làm sách dạy đọc chữ quốc ngữ tại các trường học ở nông thôn. Trên thực tế, chính phủ Pháp lập trường nhưng lại không tập trung soạn sách giáo khoa. ông hiểu rằng nhắm tới học sinh nhỏ, sẽ tác động được tới cha mẹ của các em. Vì các em thường kể những gì mình học được và nghe được cho gia đình.

Từ một tờ công báo đơn thuần, ông đã biến Gia-định báo thành một cơ quan truyền bá với ba mục đích chính : truyền bá chữ quốc ngữ, cổ động tân học và khuyến học trong dân. Các mục mới như khảo cứu, nghị luận, gồm các bài dịch thuật, sưu tầm, khảo cứu, sáng tác thơ, văn, lịch sử, truyện cổ tích lần lượt được mở với sự tham gia của các cộng tác viên là trí thức, giáo viên hay công chức… Gia-định báo đã mở đường cho các thể loại văn xuôi Việt Nam in bằng chữ Quốc ngữ, đặt nền móng cho sự hình thành báo chí Việt Nam.

Dù cổ vũ tân trào, Trương Vĩnh Ký luôn giữ những giá trị truyền thống phương Đông, đặc biệt là trang phục áo dài, khăn xếp. Chính cách ăn mặc giản dị, cũng như thần thái khoan dung của một nhà nho học, lúc đó mới có 25 tuổi, đã khiến Richard Cortembert ngỡ ngàng khi tiếp xúc tại Paris. ông viết : « Diện mạo của cậu ta (Trương Vĩnh Ký) khác hoàn toàn với những người khác cùng đoàn ; – tuy sắc mặt có vẻ xanh xao hơn, mũi tẹt hơn ; đôi môi thì dầy, còn gò má thì cao, nhưng vầng trán thì rất rộng làm nổi rõ tính cách quân tử. Trang phục của cậu ta, vô cùng giản dị, gồm một kiểu như váy đen khiến liên tưởng tới váy trùm của thầy tu. Một dải băng dài màu xám cuốn xung quanh đầu và để hé vài sợi tóc đen phía sau…

Tôi nhanh chóng nhận thấy sự thông minh nổi trội và những phẩm chất thanh cao của chàng phiên dịch trẻ, mà giọng nói nhẹ nhàng đầy thiện cảm đã cuốn hút tôi ngay lập tức… Rất dễ để nhận thấy rằng chuyên môn ưa thích của cậu ta là thần học. Cậu ta nói chuyện về chủ đề này, không hề tự phụ, với một cách dẫn giải khó lòng cưỡng lại được. Cậu ta ở đúng bộ môn mình ưa thích, lĩnh vực mà cậu đã trau dồi từ lâu và thấu hiểu tường tận : cậu ta mới chỉ có 25 tuổi ! »

Chênh vênh ở thế giữa, ông chọn làm cầu nối trung gian giữa hai nền văn minh Đông và Tây : hai thái cực mà một bên ông ngưỡng mộ, còn bên kia, ông thương yêu gắn bó. ông tìm cách phổ biến những gì tiên tiến tốt đẹp của phương Tây mà Việt Nam chưa có. Đồng thời, ông vẫn bảo tồn và quảng bá những truyền thống của người Á đông. Gần 200 tác phẩm ông để lại, gồm đủ các loại tiếng, giúp chúng ta phần nào đánh giá được sự nghiệp và lương tâm nghề nghiệp của ông.

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150320-truong-vinh-ky-chiec-cau-noi-dong-tay/

THU HẰNG , RFI PHÁP :Trương Vĩnh Ký và những nỗ lực phổ biến chữ quốc ngữ cuối thế kỷ XIX


CHÍ VĂN HÓA

Trương Vĩnh Ký và những nỗ lực phổ biến chữ quốc ngữ cuối thế kỷ XIX

Phát Thứ sáu, ngày 27 tháng ba năm 2015
Trương Vĩnh Ký và những nỗ lực phổ biến chữ quốc ngữ cuối thế kỷ XIX
 

Pétrus Ký và các học trò.@historicvietnam.com/tim-doling/

Trong suốt cuối thế kỷ XVI và nửa đầu thế kỷ XIX, chữ quốc chỉ được dùng trong mục đích truyền giáo. Đây là loại kí tự dùng chữ cái La tinh để ghi lại tiếng nói của người Việt. Công trình này lần lượt được các nhà truyền giáo dòng Tên khởi nguồn và hoàn thiện, từ Gaspard d’Amaral và Antonio Barbosa, hai giáo sĩ dòng Tên người Bồ Đào Nha, cho tới Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ) hay Pigneaux de Béhaine (cha Bá Đa Lộc), người Pháp.

Khi mới đặt chân tới Tourane (Đà Nẵng) vào năm 1624, cha Đắc Lộ đã không khỏi ngạc nhiên khi nghe người bản địa, đặc biệt là phụ nữ, nói như “chim hót” và đã từng nghĩ không thể nào học được tiếng nói này. Sau này, chính ông là người đã hệ thống hóa và phổ biến loại chữ viết La tinh, vừa dễ học vừa nhanh hơn so với chữ Hán và chữ Nôm. Tuy nhiên, chữ quốc ngữ được hoàn thiện như ngày nay là nhờ vào công sức của cha Bá Đa Lộc trong khoảng cuối thế kỷ XVIII-đầu thế kỷ XIX.

Sau khi chiếm được Sài Gòn và bắt đầu công cuộc khai thác, chữ quốc ngữ trở thành công cụ hữu ích cho chính sách đô hộ. Chính quyền Pháp muốn sử dụng loại chữ viết này để cắt hẳn mọi liên hệ giữa người dân Nam Kỳ, giờ đây nằm dưới sự cai trị của người Pháp, với nền văn minh Trung Hoa, tiếp theo là phổ biến học thuật Pháp và đồng hoá dân bản địa.

Trong thư văn đề ngày 15/01/1866 gởi cho thống đốc Sài Gòn, giám đốc nội vụ Paulin Vial có viết : « Từ những ngày đầu người ta (Pháp) đã hiểu rằng chữ Hán còn là một ngăn trở giữa chúng ta và người bản xứ ; sự giáo dục bằng thứ chữ tượng hình khó hiểu làm chúng ta rơi tuột hoàn toàn ; lối viết này chỉ tổ khó cho việc truyền đạt đến dân chúng những điều tạp sự cần thiết có liên quan tới khung cảnh của nền cai trị mới cũng như cho việc thương mại… Chúng ta bắt buộc phải theo truyền thống nền giáo dục riêng của chúng ta ; đó là cách duy nhất khiến chúng ta có thể gần gũi người An Nam thuộc địa hơn, ghi vào tâm não họ những manh mối của nền văn minh Âu châu đồng thời cô lập họ khỏi ảnh hưởng đối nghịch của các lân quốc của chúng ta ».

Tuy nhiên, các đô đốc Pháp nhanh chóng hiểu rằng rất khó thay đổi được một đất nước chịu ảnh hưởng của Khổng giáo và lòng trung thành sâu sắc của người dân đối với triều đình. Họ chú ý tăng cường ảnh hưởng của Pháp tới đời sống và phong tục của người Nam Kỳ. Để thực hiện thành công chính sách cai trị và “mị dân”, các “quan” Pháp được khuyến khích học chữ hán, chữ quốc ngữ, nghiên cứu phong tục tập quán, ngôn ngữ và lịch sử của Việt Nam. Chính vì thế, rất nhiều tài liệu bằng tiếng Pháp và tiếng Việt mang tính chuyên môn cao được các“học giả” quân sự dịch và soạn thảo trong giai đoạn này.

Mặt khác, họ đưa chữ quốc ngữ ra khỏi khuôn khổ của Giáo Hội để phổ biến trong dân. Ngay từ năm 1864, các trường tiểu học quốc ngữ được thành lập tại các trung tâm quan trọng nhất và các làng công giáo. Mục đích chính là nhằm đào tạo một thế hệ công chức tương lai tận tâm với nước Pháp, đồng thời cắt đứt ảnh hưởng của Nho giáo. Bắt đầu từ năm 1882, chữ quốc ngữ được dùng là văn tự chính thức trong giao dịch, giấy tờ hành chính, tư pháp và thương mại của nhà cầm quyền thuộc địa. Các quan địa phương phải học chữ quốc ngữ và chỉ được thăng chức hay giảm thuế nếu biết đọc, biết viết loại văn tự này.

Biên soạn giáo trình dạy chữ quốc ngữ

Về phần mình, từ khi được bổ nhiệm làm chánh tổng tài tờ Gia-định báo (16/09/1869), Trương Vĩnh Ký có cơ hội để phát triển sự nghiệp dịch thuật và viết văn. Đây cũng là vị trí và công cụ giúp ông phổ biến rộng rãi hơn chữ quốc ngữ. Thái độ ủng hộ việc truyền bá học thuật bằng kí tự La tinh này đã được ông thể hiện với Richard Cortembert ngay từ chuyến công du sang Pháp.

Sau này, lợi ích và vai trò của nó còn được ông nhấn mạnh trong cuốn Manuel des écoles primaires (Giáo trình cho các trường tiểu học, 1876) như sau : « Chữ quốc ngữ phải trở thành chữ viết của nước nhà. Cần phải nắm vững nó cho điều tốt đẹp và cho sự tiến bộ. Vì thế, chúng ta phải tìm mọi cách để phổ biến chữ viết này ». Ông cho rằng loại chữ viết đơn giản, dễ học này sẽ là phương tiện hiệu quả để tiếp thu những kiến thức mới vì ba lý do : Thứ nhất, do nạn mù chữ đại trà trong dân, tiếp theo là chữ hán sẽ không còn có ích một khi người Pháp cai trị Nam Kỳ và cuối cùng, chỉ cần ba tháng là có thể biết đọc và viết chữ quốc ngữ.

Ngoài ra, ông còn khuyên nhủ người học như sau :

« Sách nầy là sách rút tóm lại những đều đại-cái người ta phải học, để cho con trẻ mới vô trường, học những đều đại lược mà phá ngu, cho đặng đến sau khi vào trường chung nghe dạy nghe giải rộng các đều ấy thì mau hiểu hơn là một ; hai nữa là để mà tập coi, tập đọc tập viết tiếng Annam trong chữ quốc-ngữ cho trúng tiếng, cho nhằm giọng, phân biệt ra cho rõ-ràng.

Khuyên các trò hãy bớt tính ham chơi, mà chuyên việc học-hành, chữ-nghĩa, văn-chương cho được vào đường công-danh với người-ta cho sớm, trước là cho đặng đẹp mặt nở mày cha mẹ, giúp đời dạy dân, sau là cho mình được công thành danh toại, thơm danh, tốt tiếng ở đời ».

Dù tên sách viết bằng tiếng Pháp nhưng đây là bộ giáo án giành cho giáo viên, gồm hai phần, phần một là « phép học chữ quốc ngữ, lịch sử An Nam và Tàu », và phần hai gồm « các khái niệm khoa học cơ bản ». Trong đó, Trương Vĩnh Ký giải thích cách tổ chức một buổi lên lớp, các hoạt động hay cách đánh giá học sinh.

« Hễ trò nào mới vô thì phóng vở theo đã ra trước nầy, giao cho nó, cấp cho một trò cũ đã biết mà nhác-biểu chỉ-vẽ cho nó.

Phân lớp ra mà dạy cho dễ : Như học-trò đã biết viết, biết đọc thì bát nó viết mò, bát đọc một đoạn sách cho lẹ cho xuôi. Viết mò thì lấy những tuồng, văn, thơ, phú, mà nói cho nó viết, viết rồi thì thầy coi mà sửa lại cho nó, cho chính câu chính chữ.

Còn mỗi bữa học, bát nó kiếm câu hát, câu đối, lời phương ngôn tục ngữ, diêu ngôn vân vân, mà viết ra một đâu câu chẳng hạn, đem tới nộp cho thầy sửa, góp những cái ấy lại, để một nơi.

Dạy toán thì trước hết dạy bốn phép, cộng, trừ, nhơn, chia, cho rõ. Rồi cứ ra bài đố cho nó mần cho quen. Dạy phép đo cũng vậy… Những tập nó học nó viết mỗi bữa học thì thầy sửa rồi đề ngày vô cho nó, cho dễ xét đứa nào trễ-nải, đặng như quan có đòi thì thầy có sẵn mà nộp cho quan ».

Một giáo trình khác được Trương Vĩnh Ký biên soạn nhằm chủ yếu vào giới quan lại địa phương khi có nghị định bắt buộc dùng chữ quốc ngữ trong các văn bản hành chính. L’Alphabet quốc ngữ en treize tableaux avec des exercices de lecture (Vần quốc ngữ thông qua 13 bảng và các bài tập đọc, 1887) giúp các quan học loại chữ viết này trong một thời gian ngắn. Tám bảng đầu dạy học nguyên âm và phụ âm cùng với sáu thanh điệu và cách ghép vần. Các bảng còn lại gồm các bài tập đọc, từ đơn giản tới phức tạp.

Sưu tầm-chuyển ngữ

Song song với việc soạn giáo trình, Trương Vĩnh Ký dùng chữ quốc ngữ ghi lại những cuốn sách Tàu và những tác phẩm được viết bằng chữ nôm. Trên thực tế, hai loại chữ tượng hình trên dần dần bị sao nhãng và ngày càng có ít người sử dụng. Chữ Hán chỉ giành cho một bộ phận nhỏ gồm các nhà nho và quan lại. Trong khi đó, chữ Nôm còn phức tạp hơn do mượn Hán tự. Vì vậy, cần phải biết chữ Hán mới có thể học được loại chữ này.

Hơn nữa, Trương Vĩnh Ký cho rằng văn học Việt Nam mới chỉ có thơ ca với nhiều thể loại khác nhau, song không có văn xuôi và các loại khảo cứu, nghị luận. Dịch thuật là một cách giúp học làm văn và làm giàu từ vựng tiếng Việt. Chính vì thế, không có gì ngạc nhiên khi một phần ba trong tổng số 118 tác phẩm của ông là các công trình dịch thuật.

Vấn đề phiên dịch các tác phẩm Tầu ra thể văn vần chữ quốc ngữ cũng đã được Luro, một thanh tra bản xứ sự vụ, trong bản báo cáo ngày 06/01/1873, đề xuất : « Từ lâu, tôi thỉnh cầu một cách vô hiệu rằng người ta phải phiên dịch, dưới sự chăm sóc của một hội đồng có đủ quyền hành, lịch sử nước An Nam và những sách cao quí triết lý của Trung Hoa. Người dân ít nghe tiếng Quan thoại, họ sẽ rất sung sướng có được những cuốn sách dịch bằng ngôn ngữ thường ngày của họ một cách thanh nhã. Họ sẽ mua, sẽ đọc những cuốn sách đó. Trong số các thừa sai và viên chức của chúng ta, chúng ta có nhiều người có đủ khả năng để hoàn thành những sách dịch thanh nhã từ tiếng Quan thoại ra tiếng nói hàng ngày ».

Như vậy, cả chính phủ Pháp và Trương Vĩnh Ký đều tận dụng thời cơ để phổ biến chữ quốc ngữ. Chính quyền Pháp muốn « mượn tay » những công chức Pháp hóa để tách rời dân chúng khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc. Còn Trương Vĩnh Ký thì hoàn toàn tin vào chính sách khai hóa của nước Pháp. Và, theo ông, công cụ duy nhất để có thể đạt tới trình độ « Học thuật Châu Âu » là chữ quốc ngữ. Chính vì thế, ông tìm mọi cách để loại chữ viết La tinh này được phổ biến rộng rãi tới các tầng lớp dân chúng.

Từ khi chữ quốc ngữ trở thành văn tự chính thức tại Nam Kỳ vào năm 1882, ông chuyển ngữ ngay nền văn chương truyền khẩu bình dân, gồm những áng văn vần và chuyện dân gian rất được ưa chuộng, như : Phép lịch sự Annam (1881), Thơ dạy làm dâu (1882), Thơ mẹ dạy con (1882), Nữ tắc (1882), Thạnh suy bỉ thới phú (1883), Cờ bạc nha phiến (1884), Ngư tiều trường điệu (1884)… Trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã nhận định rất đúng khi viết : « Hồi đó, ông (Trương Vĩnh Ký) cần phải xuất bản như thế, cốt dùng những chuyện phổ thông làm cái lợi khí cho chữ quốc ngữ được lan rộng trong nhân gian… »

Tất cả đều được bán với giá rất hợp lý. Thường những tập dày 7 đến 10 trang, được bán với giá từ 35 đến 50 xu franc và từ 1 đến 2 franc đối với những tập dày trên hai mươi trang.

Viết văn

Thông qua những bản dịch, lần đầu tiên một loại hình văn học mới được đưa vào Việt Nam. Đó là văn xuôi, với nhiều thể loại khác nhau, như tiểu luận, kí sự hay tiểu thuyết. Tại thời kỳ đó, thể loại này còn chưa được ưa chuộng và không được coi là « văn học », vì người ta cho rằng văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ ngang như lời nói. Công bằng mà nói, lời nhận xét khá đúng, vì ngôn từ và cách hành văn trong các tác phẩm thời đó thiếu trau chuốt và tự nhiên như văn của thế hệ sau này.

Bài văn xuôi đầu tiên do Trương Vĩnh Ký biên soạn, dài khoảng bẩy trang, xuất hiện trên tờ Gia-định báo vào năm 1863, dưới tựa đề Ghi về vương quốc Khơ Me (1863). Phải chờ tới năm 1881, Trương Vĩnh Ký viết một tập bút kí khác, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876), công phu hơn và trau chuốt hơn. Tuy nhiên, ông phải mượn rất nhiều từ Hán để có thể miêu tả tỉ mỉ chuyến đi này. Không bàn tới mục đích của chuyến công du Bắc Kỳ của Trương Vĩnh Ký, ở đây chúng ta chỉ quan tâm sau chuyến đi này, ông viết một bản hồi kí ghi lại những kỉ niệm, những điều « mắt thấy tai nghe », vị trí địa lý, lịch sử, những phong tục tập quán của những địa phương nơi ông đi qua.

Ví dụ văn phong trong một đoạn miêu tả « Chợ » ở Bắc Kỳ : « Chợ-búa nội cả tỉnh cũng nhiều lắm. Mà chợ lớn có tiếng và đủ đồ hơn hết tại Bắc-kỳ, thì là những chợ kể trong câu ví nầy : Xứ Nam là chợ Bằng Vồi ; xứ bắc Giâu, Khám, xứ đoài Xuân Canh ; nghĩa là tỉnh Hà-nội, Hưng-yên, Ninh-bình, Nam-định là phía nam, thì có chợ Bằng, chợ Vồi có tiếng hơn hết. Còn bắc là Bắc-ninh, thì có chợ Giâu, chợ Khám ; xứ đoài là trên Sơn-tây thì là chợ Thâm-xuân-canh ».

Một nhà nghiên cứu nhận xét đây là « một trong vài tác phẩm viết bằng chữ quốc ngữ sớm nhất của thế kỷ XIX, Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi để lại nhiều dấu ấn ngôn ngữ với những phương ngữ, tiếng Việt cổ có giá trị về mặt ngôn ngữ. Câu văn khúc chiết, sinh động chứng tỏ năng lực viết văn xuôi quốc ngữ của tác giả trong buổi sơ khai của loại chữ mới mẻ này ».

Tới năm 1918, quốc ngữ trở thành chữ viết bắt buộc tại Bắc Kỳ. Từ giai đoạn này trở đi, các nhà trí thức trẻ không ngừng trau dồi, phát triển và phổ biến nền văn học hiện đại Việt Nam. Năm 1954, quốc ngữ trở thành chữ chính thức của các cơ quan hành chính Việt Nam. Điều này đã khẳng định tiên đoán cũng như mong muốn của Trương Vĩnh Ký vào năm 1876 : « Chữ quốc ngữ phải trở thành chữ viết của nước nhà ».

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150327-truong-vinh-ky-vn/