Tag Archives: hà đình nguyên

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Người kế vị ‘vua đàn môi’ VN


tranquanghaidanmoivn.wordpress.com/2015/03/22/ha-dinh-nguyen-nguoi-ke-vi-vua-dan-moi-vn/

Người kế vị ‘vua đàn môi’ VN

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/nguoi-ke-vi-vua-dan-moi-vn-543752.html

Suốt một thời gian rất dài, GS-TS Trần Quang Hải được coi là người VN duy nhất nghiên cứu về đàn môi, nên ngoài danh xưng “vua muỗng” ông còn được xem như “vua đàn môi” của VN. Nhưng nay, chính ông đã hoan hỉ xưng tụng người học trò của mình là “một tài năng duy nhất về đàn môi ở VN”.

Khai Nguyên biểu diễn đàn môi Khai Nguyên biểu diễn đàn môi – Ảnh: H.Đ.N

Qua sự giới thiệu của GS-TS Trần Quang Hải, chúng tôi đã về tận Phương Lâm, vùng đất Đồng Nai tiếp giáp tỉnh Lâm Đồng để tìm gặp “tài năng duy nhất ở VN” này. Đó là chàng trai Đặng Văn Khai Nguyên, còn rất trẻ (24 tuổi).

Học đàn môi qua internet

Khai Nguyên kể rằng, vào khoảng năm 2010, một lần xem ti vi thấy GS-TS Trần Quang Hải biểu diễn hát song thanh (ông là cha đẻ nghệ thuật này – NV), thấy hay hay nên em lên mạng tìm hiểu thì mới biết GS Hải còn là một bậc thầy về đàn môi. Tìm hiểu về đàn môi, Khai Nguyên lại thích quá, em tìm nơi bán loại nhạc cụ này để mua chơi thử, song chẳng ai biết. Sau đó, có người cho địa chỉ một cửa hàng nhạc cụ dân tộc ở TP.HCM, Khai Nguyên tức tốc đến mua liền 2 chiếc đàn môi bằng đồng về tự tập. Nửa năm sau, Khai Nguyên chủ động liên lạc với GS-TS Trần Quang Hải và được thầy hướng dẫn các kỹ thuật cơ bản về đàn môi (cách tạo tiết tấu, cao độ, âm sắc…). Thầy Hải cũng gửi nhiều tài liệu, video clip về đàn môi, Khai Nguyên cứ theo đó mà luyện tập. Trong quá trình tập luyện, em cũng tự quay video gửi cho thầy để xin chỉ dẫn. Khai Nguyên bảo rằng lúc đó em chỉ chuyên tâm tập luyện và sưu tầm đàn môi trong nước (của đồng bào dân tộc H’mông).

Đam mê đàn môi, Khai Nguyên tìm cách giao lưu với những người có chung niềm yêu thích này nhưng lúc đó ở VN hiếm có nghệ nhân đàn môi nào xuất hiện trên mạng xã hội. Vậy là Khai Nguyên lập một trang cá nhân trên Facebook để giao lưu với những người chơi đàn môi trên khắp thế giới. Đến nay em không thể nhớ nổi mình đã kết bạn với bao nhiêu người, chỉ nhớ là có bạn nhiều nhất ở Nga, Indonesia, Nhật Bản… Không chỉ giao lưu, Khai Nguyên còn trao đổi đàn môi và học cách chơi đàn theo văn hóa đặc trưng của mỗi quốc gia.

Sưu tập hơn 600 cây đàn môi khắp thế giới

Đến nay, bộ sưu tập của Khai Nguyên đã có hơn 600 cây đàn môi của gần 30 quốc gia (VN, Lào, Campuchia, Thái Lan, Philippines, Indonesia, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Anh, Áo, Hungary, Slovakia, Estonia, Na Uy, Thụy Điển, Ý…). Khai Nguyên nhận xét: “Nhìn chung, đàn môi của các nước châu Á (trừ Hàn Quốc, không có đàn môi) đa số được làm bằng tre (một thanh tre liền), có khi cũng được làm bằng sắt hoặc đồng (VN, Nhật Bản, Mông Cổ…). Còn đàn môi của các nước châu Âu đa số làm bằng sắt với 2 mảnh ghép (lưỡi gà và sườn đàn). Mỗi loại đàn môi có một nét văn hóa đặc trưng và lối chơi riêng: đàn morchang (Ấn Độ) và đàn genggong (Indonesia) dùng để hòa âm với các nhạc cụ khác trong các điệu múa lễ hội, đàn khomus của Cộng hòa Yakutia (thuộc Nga) dùng cho các pháp sư giao tiếp với các thần linh và là vật hộ mệnh của họ, đàn môi H’mông của VN dùng để… tỏ tình, còn các loại đàn môi châu Âu thường chỉ dùng để giải trí trong lúc nông nhàn. Qua quá trình tập luyện, chơi đàn và qua trao đổi với các bạn chơi đàn môi trên khắp thế giới, tôi và các bạn đều công nhận cây đàn môi của VN là có bồi âm chuẩn nhất, âm thanh hay nhất, còn cây đàn môi khomus của Yakutia đẹp nhất (được chế tạo rất kỳ công)”.

Một góc bộ sưu tập đàn môi của Khai Nguyên Một góc bộ sưu tập đàn môi của Khai Nguyên – Ảnh: H.Đ.N

Nhận thấy khả năng chơi đàn môi xuất sắc của Khai Nguyên (từ những video clip), GS-TS Trần Quang Hải đã giới thiệu và Hiệp hội Đàn môi quốc tế (International Jew’s Harp Society-IJHS) đã kết nạp Khai Nguyên làm thành viên (ngày 10.5.2012).

Đầu năm 2014, GS-TS Trần Quang Hải về nước và tổ chức buổi nói chuyện về đàn môi tại tư gia của bố mình (GS-TS Trần Văn Khê). Lần đầu tiên hai thầy trò Khai Nguyên gặp mặt nhau. Thầy thuyết trình, trò biểu diễn minh họa rất ăn ý. Đây cũng là lần đầu tiên Khai Nguyên ra mắt công chúng. Tâm nguyện của Khai Nguyên là phổ biến đàn môi Việt càng nhiều càng tốt, vì người VN hình như đang quên lãng một loại nhạc cụ độc đáo của mình, trong khi người nước ngoài lại đánh giá đàn môi VN rất cao và chơi khá phổ biến. Hiện có đến 70% đàn môi sản xuất ở VN được bán ra nước ngoài. Đó là một nghịch lý!

“Khai nguyên tiến xa hơn anh nhiều”

“Em Khai Nguyên sinh sống ở VN, chỉ học hàm thụ với anh mà nay trở thành người chơi nhiều loại đàn môi trên thế giới và đã tiến xa hơn anh nhiều.

Em chơi đủ loại đàn môi, biết cách làm đàn môi tre và sáng chế nhiều kiểu đàn môi tre mà trên thế giới chưa có. Lại có khiếu truyền dạy đàn môi cho thế hệ trẻ. Những đứa nhỏ ở cùng xóm đã được em Khai Nguyên dạy chơi đàn môi và hiện nay có gần 10 em từ 7 tới 12 tuổi chơi đàn môi H’mông rất khá. Gần đây nhất, ngày 17.1.2015, em Khai Nguyên đã cùng anh biểu diễn và dạy đàn môi ở Trường mầm non Hoa Hồng Đỏ, Q.9, TP.HCM với kết quả rất tốt”.

 (Trích thư của GS-TS Trần Quang Hải gửi cho người viết)

Hà Đình Nguyên

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Mơ Hoa (Hoàng Giác)


Mơ Hoa (Hoàng Giác)

Nói đến Hoàng Giác, người yêu nhạc xưa sẽ nghĩ ngay đến hai bản nổi tiếng: “Mơ hoa” và “Ngày về”. Trong bài viết này DongNhacXua.com xin mời quý vị thưởng thức sáng tác đầu tay của nhà nhạc sỹ tiền bối.

Mơ hoa (Hoàng Giác). Ảnh: amnhacmiennam.blogspot.com
Mơ hoa (Hoàng Giác). Ảnh: amnhacmiennam.blogspot.com

mo-hoa--1--hoang-giac--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

Theo nhà báo Hà Đình Nguyên trong bài viết về hai nhạc phẩm “Mơ hoa” và “Ngày về” đăng trên báo Thanh Niên ngày 17.02.2012:

Số tác phẩm của nhạc sĩ Hoàng Giác chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nhưng trong số đó đã có 2 tuyệt phẩm là Mơ hoa và Ngày về. Đó là niềm hạnh phúc và cũng là “tai ương” cho tác giả.

Định mệnh đã đưa đến cho nhạc sĩ Hoàng Giác một người vợ “trên cả tuyệt vời” để đồng cam cộng khổ, để là điểm tựa tinh thần cho chồng trong giai đoạn lao đao nhất của đời mình. Nói về sắc đẹp, bà Kim Châu (vợ nhạc sĩ) được tôn vào hàng “giai nhân đất Hà thành”. Biết bao chàng công tử phong lưu cầu cạnh được kề cận bên người đẹp, thế nhưng bà Kim Châu đã rũ bỏ tất cả để về “nâng khăn sửa túi” cho chàng nhạc sĩ tuy nghèo nhưng rất mực tài hoa, đúng như ước nguyện của mình.

Hoàng Giác sinh năm 1924, gốc làng Chèm (xã Thụy Phương, Từ Liêm, Hà Nội). Làng Chèm có nghề làm chả giò truyền thống trong câu thành ngữ “giò Chèm, nem Vẽ”. Cha của ông là một nghệ nhân chơi đàn bầu rất hay đồng thời cũng là một võ sĩ quyền anh, từng giữ chức Chủ tịch Liên đoàn Quyền anh Bắc kỳ. Hoàng Giác được theo học ở Trường Bưởi – một ngôi trường rất nổi tiếng thời đó. Bạn học cùng lớp với ông nhiều người sau này trở thành những nhạc sĩ nổi tiếng như Dzoãn Mẫn (tác giả Biệt ly), Ngọc Bích (tác giả Mộng chiều xuân), Đoàn Chuẩn (tác giả Thu quyến rũ)… Hoàng Giác được học nhạc trong nhà trường nhưng cũng giống bạn bè đồng lứa, còn mày mò tự học thêm. Những sáng tác đầu tay của thế hệ ấy đa phần ra đời trong giai đoạn này.

Nhưng bản nhạc đầu tay của Hoàng Giác không phải làm tặng cho… người đẹp Kim Châu. Ông kể: “Lúc bấy giờ, chúng tôi phần nhiều ở lứa tuổi 18, 19, cho nên rất mơ ước có những bài hát của người Việt làm với lời Việt. Lứa tuổi chúng tôi lúc đó hầu hết là học sinh, đều say sưa viết. Mơ hoa cũng là một trong những bài tôi viết thời đó. Đấy là năm 1945, tôi vừa tốt nghiệp Trường Bưởi, ở gần nhà tôi có một thiếu nữ trong Hà Đông ra, cô mới tuổi 16 thôi. Dáng người cô thon nhẹ, tóc dài. Chúng tôi gặp gỡ, trao đổi và có những tình cảm quyến luyến như những chàng trai, cô gái tuổi mới lớn khác. Nhìn cô, tôi liên tưởng ngay đến các cô ở làng hoa Ngọc Hà mà sáng sáng tôi hay gặp trên đường đi học. Thế là tôi mơ ước viết một bài để tặng cô ấy, tức nhiên trong lòng đã mang một giấc mơ. Và đấy là bản nhạc đầu tay trong cuộc đời sáng tác của tôi”.

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn

http://www.dongnhacxua.com/category/nha-tho/ha-dinh-nguyen

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Cô Láng Giềng (Hoàng Quý)


Cô Láng Giềng (Hoàng Quý)

Trong một bài viết về nhạc phẩm “Bến Xuân”, chúng tôi có đề cập đến mối tình hay có thể chỉ là những rung động đầu đời của một chàng trai trẻ mới ngoài đôi mươi Văn Cao với người đẹp Hoàng Oanh. Hôm nay, để người yêu nhạc xưa có thêm thông tin, DongNhacXua.com xin trân trọng giới thiệu bản “Cô Láng Giềng” của nhạc sỹ Hoàng Quý, người anh cả của nhóm Đồng Vọng và cũng là một người bạn thân của Văn Cao.

Bìa nhạc "Cô láng giềng" xuất bản trước 1975. Ảnh: trungtamasia.com
Bìa nhạc “Cô láng giềng” xuất bản trước 1975. Ảnh: trungtamasia.com

TỪ “BẾN XUÂN” ĐẾN “CÔ LÁNG GIỀNG”
(Nguồn: bài viết của nhà báo Hà Đình Nguyên đăng trên Thanh Niên ngày 14/04/2012)

Trong dòng nhạc tiền chiến, 2 ca khúc Bến xuân (của Văn Cao) và Cô láng giềng(của Hoàng Quý) chẳng có chút liên hệ. Tuy nhiên, hẳn ít ai biết đã có một “bóng hồng” chen vào giữa cuộc đời của họ.

"Cô láng giềng" trong tuyển tập nhạc tiền chiến. Ảnh: ThanhNien.com.vn
“Cô láng giềng” trong một tuyển tập nhạc sau 1975 . Ảnh: ThanhNien.com.vn

Em đến tôi một lần

Không ai có thể phủ nhận sự tài hoa của nhạc sĩ Văn Cao – cây đại thụ của nền tân nhạc. 16 tuổi đã có sáng tác đầu tay (Buồn tàn thu, năm 1939) và các tình khúc tiếp theo của ông được sánh vào hàng “siêu phẩm”: Suối mơ, Thiên thai, Cung đàn xưa,Bến xuân, Thu cô liêu, Trương Chi… Vào đầu những năm 40 của thế kỷ trước, những bài hát của Văn Cao đã lan tỏa từ bắc chí nam. Người có công đầu là Phạm Duy, lúc đó chưa sáng tác nhạc mà đi theo đoàn cải lương Đức Huy – Charlie Miều lưu diễn xuyên Việt, Phạm Duy chuyên hát “phụ diễn”, bài hát ruột là Buồn tàn thu. Tri âm đến nỗi Văn Cao đã đề tặng dưới cái tựa Buồn tàn thu trong bản nhạc: “Tương tiến Phạm Duy, kẻ du ca đã gieo nhạc buồn của tôi đi khắp chốn”. Còn những người hát nhạc Văn Cao ở phía bắc là ca sĩ Kim Tiêu (nam), Thương Huyền, Thái Thanh (nữ)… Văn Cao sinh năm 1923 tại Lạch Tray (Hải Phòng) nên tham gia vào nhóm Đồng Vọng của nhạc sĩ Hoàng Quý. Cũng chính ở thành phố biển này, Văn Cao đã gặp một giai nhân để rồi dòng nhạc tiền chiến có thêm một viên ngọc lấp lánh: ca khúc Bến xuân (đồng sáng tác với nhạc sĩ Phạm Duy).

Trong cuốn băng video Văn Cao – Giấc mơ đời người (đạo diễn Đinh Anh Dũng, Hãng phim Trẻ sản xuất năm 1995, tái bản năm 2009), trong phần giới thiệu ca khúcĐàn chim Việt (tức Bến xuân), nhạc sĩ Văn Cao tâm sự: “Ngày xưa tôi có thầm yêu một người con gái mà không dám nói ra. Nhưng người ấy hiểu lòng tôi và đến với tôi. Vì thế nên mới có câu hát “Em đến tôi một lần” và có bài hát này”… Người con gái ấy chính là Hoàng Oanh, nữ ca sĩ ở Hải Phòng (sau này trong miền Nam cũng có nữ ca sĩ Hoàng Oanh hiện ở hải ngoại, không phải Hoàng Oanh trong bài viết). Nhưng tại sao nhạc sĩ Văn Cao yêu mà không dám nói? Là bởi con tim của nhạc sĩ “chậm xao động” hơn hai ông bạn thân. Biết được cả Kim Tiêu lẫn Hoàng Quý đều đem lòng yêu thương Hoàng Oanh, chàng nhạc sĩ trẻ đành nín lặng, ôm mối tình đơn phương… Tuy thế, sau những lần gặp gỡ, qua ánh mắt, nụ cười nàng đã hiểu tấm chân tình của chàng. Rồi một hôm, Văn Cao đang ở Bến Ngự (Hải Phòng) thì nàng tìm đến. Không chỉ thăm suông mà nàng còn ngồi làm mẫu cho chàng vẽ (Văn Cao còn là một nhà thơ kiêm họa sĩ), rồi ân cần ngồi quạt cho chàng sáng tác nhạc… Có thể nói ca khúc Bến xuân không chỉ là một bài hát làm xuyến xao lòng người mà còn là một bức tranh hết sức sống động, một bài thơ với những ca từ đầy biểu cảm. Tóm lại cả ba năng khiếu (thơ, nhạc, họa) tài hoa của Văn Cao đều dồn vào Bến xuân: “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước, em đến tôi một lần, bao lũ chim rừng hợp đàn trên khắp bến xuân”. Hình ảnh thẹn thùng, khép nép của giai nhân trong nhạc của Văn Cao sao mà đáng yêu chi lạ: “Mắt em như dáng thuyền soi nước. Tà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân”. Hôm đó có lẽ nàng cũng có hát nữa nên mới “nghe réo rắt tiếng Oanh ca”. Bản nhạc được NXB Tinh Hoa ấn hành năm 1942 với lời ghi “nhạc: Văn Cao, lời: Văn Cao – Phạm Duy” (sau này nhạc sĩ Văn Cao đặt lời mới và đổi tựa thành Đàn chim Việt). Chẳng biết nhạc sĩ Phạm Duy “đóng góp” như thế nào trong phần lời nhưng ở đoạn cuối, rõ ràng là tâm trạng của Văn Cao: “Nhà tôi sao vẫn còn ngơ ngác. Em vắng tôi một chiều. Bến nước tiêu điều còn hằn in nét đáng yêu. Từng đôi chim trong nắng khe khẽ ru u ù u ú. Lệ mùa rơi lá chan hòa” (dùng chữ “lệ mùa rơi lá” quá hay!). Cái cảnh chàng gột áo phong sương trở về bến cũ sao mà buồn đến nao lòng: “Người đi theo mưa gió xa muôn trùng. Lần bước phiêu du về chốn cũ. Tới đây mây núi đồi chập chùng. Liễu dương tơ tóc vàng trong nắng. Gột áo phong sương du khách còn ngại ngùng nhìn bến xưa”.

Nàng đến thăm chàng một lần, rồi… thôi, chừng đó cũng đủ hiểu lòng nhau và đã quá lãng mạn. Sau này gia đình ca sĩ Kim Tiêu có dạm hỏi Hoàng Oanh nhưng hôn sự bất thành vì gia đình nhà gái thách cưới cao quá. Bản thân Kim Tiêu cũng gặp phải nhiều sóng gió và nghe nói chết trong nghèo đói ở thềm ga Hàng Cỏ (Hà Nội). Rồi Hoàng Oanh lên xe hoa, trở thành vợ của nhạc sĩ Hoàng Quý.

Đôi mắt đăm đăm chờ tôi về

Nhạc sĩ Hoàng Quý sinh năm 1920 (lớn hơn Văn Cao 3 tuổi) và là thủ lĩnh nhóm Đồng Vọng ở Hải Phòng. Ông được biết tới như là một nhạc sĩ tiên phong sáng tác thể loại nhạc hùng, hát cộng đồng (tráng ca) với các ca khúc: Bên sông Bạch Đằng, Nước non Lam Sơn, Bóng cờ lau, Tiếng chim gọi đàn… Tuy nhiên, người ta nhớ đến Hoàng Quý nhiều nhất bởi ông là tác giả của ca khúcCô láng giềng bất hủ.

Thời điểm nhạc sĩ sáng tác Cô láng giềng cũng gần như cùng lúc với Văn Cao viết ca khúc Bến xuân (khoảng năm 1942, 1943). Lúc này Hoàng Quý phải rời Hải Phòng để lên Sơn Tây làm thư ký cho một trang trại nuôi bò. Chuyến đi khiến ông phải chia tay với người yêu (rất có thể là Hoàng Oanh). Ở Sơn Tây, Hoàng Quý luôn nhớ đến người yêu và mơ một ngày trở về. Đó là chất liệu để ông viết Cô láng giềng: “Hôm nay trời xuân bao tươi thắm. Dừng bước phiêu du về thăm nhà. Chân bước trên đường đầy hoa đào rơi, tôi đã hình dung nét ai đang cười… Tôi mơ trời xuân đôi môi thắm. Đôi mắt nhung đen màu hạt huyền. Làn tóc mây cùng gió ngàn dâng sóng. Xao xuyến nỗi niềm yêu… Cô láng giềng ơi! Tuy cách xa phương trời tôi không hề. Quên bóng ai bên bờ đường quê. Đôi mắt đăm đăm chờ tôi về…”.

Năm 2002, người viết có phỏng vấn nhạc sĩ Tô Vũ (em ruột nhạc sĩ Hoàng Quý), ông cho biết nhạc sĩ Hoàng Quý chỉ ở Sơn Tây 6 tháng rồi về quê. Trên đường về, ông có ghé Hà Nội thăm Tô Vũ (lúc đó còn dùng tên thật là Hoàng Phú) và đưa bản nhạc ra khoe với người em. Ông em (Tô Vũ) rất thích giai điệu của ca khúc này, liền xin phép đặt lời 2 cho bản nhạc. Đó là cảnh tượng và tâm trạng của chàng trai khi về tới đầu ngõ thì nghe tiếng pháo vu quy tiễn người yêu đi lấy chồng: “Trước ngõ vào sân vang tiếng pháo. Chân bước phân vân lòng ngập ngừng. Tai lắng nghe tiếng người nói cười xôn xao. Tôi biết người ta đón em tưng bừng… Đành lòng nay tôi bước chân ra đi. Giơ tay buồn hái bông hồng tường vi. Ghi chút tình em nói chờ đợi tôi. Đừng nói đến phân ly… Cô láng giềng ơi! Nay mối duyên thơ đành lỡ rồi. Chân bước xa xa dần miền quê. Ai biết cho bao giờ tôi về?”.

Hoàng Quý tham gia Việt Minh từ rất sớm và hoạt động tích cực trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Tiếc rằng tài hoa yểu mệnh, ông mất năm 1946 vì bệnh lao, khi mới 26 tuổi.

Người góa phụ trẻ Hoàng Oanh nửa đường gãy gánh không biết số phận sau này thế nào.

Hà Đình Nguyên

http://www.dongnhacxua.com/category/nha-tho/ha-dinh-nguyen

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : ‘Nỗi lòng’ trong ‘Chiều vàng’ (Nguyễn Văn Khánh)


‘Nỗi lòng’ trong ‘Chiều vàng’ (Nguyễn Văn Khánh)

Nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh (? – 1976) là một trong số những nhạc sỹ để lại cho hậu thế chỉ một vài tác phẩm nhưng những sáng tác ấy đã trở thành bất hủ. ‘Nỗi lòng’ và ‘Chiều vàng’ là hai bản nổi bật mà người nhạc sỹ tài hoa để lại cho người yêu nhạc chúng ta. DongNhacXua.com xin trân trọng giới thiệu dòng nhạc Nguyễn Văn Khánh cùng bài viết của nhà báo Hà Đình Nguyên.

Chiều vàng (Nguyễn Văn Khánh). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Chiều vàng (Nguyễn Văn Khánh). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

chieu-vang--1--nguyen-van-khanh--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

NHỮNG BÓNG HỒNG TRONG THƠ  NHẠC: CÓ MỘT “CHIỀU VÀNG” TRẢI “NỖI LÒNG”
(Nguồn: nhà báo Hà Đình Nguyên đăng trên ThanhNien.com.vn ngày 16/02/2012)

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh thuộc thế hệ nhạc sĩ thứ 2 của nền tân nhạc VN. Tuy nhiên, ông chỉ để lại vài tác phẩm, trong đó nổi bật là các ca khúc Chiều vàng và Nỗi lòng…

Nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh. Ảnh: ThanhNien.com.vn
Nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh. Ảnh: ThanhNien.com.vn

“Ngón nghề độc chiêu” của Nguyễn Văn Khánh là chơi đàn guitar Hawaienne (Hạ uy cầm). Không biết ông học từ ai, nhưng theo Hoài Nam trong 70 năm tình ca âm nhạc Việt Nam (Đài SBS, Úc, thực hiện) thì trước 1954, ở Hà Nội chỉ có 2 nhạc sĩ chuyên đàn và sáng tác cũng như dạy đàn bằng Hạ uy cầm là William Chấn (thầy của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn) và Nguyễn Văn Khánh. Riêng ông Khánh lại đánh đàn bằng tay trái, cho nên “nếu không phải là… thiên tài thì cũng là người có khả năng đặc biệt”. Cùng thời với ông là những nhạc sĩ: Hoàng Dương, Hoàng Trọng, Nguyễn Thiện Tơ, Hoàng Giác, Tu My, Hùng Lân… góp phần làm nên thời cực thịnh của tân nhạc VN thập niên 1944-1954…

Dạo nền tân nhạc mới thành hình ở nước ta (đầu thập niên 1940), “các chàng nghệ sĩ Tây nhạc” luôn là thần tượng của nhiều cô gái, nhất là ở các chốn thị thành. Ở Hà Nội, Nguyễn Văn Khánh mở lớp dạy Hạ uy cầm và Tây ban cầm ở gần ga Hàng Cỏ (lối đi xuống chợ Khâm Thiên), phía trước nhà có một cái ao, bên kia ao là nhà trọ của các nữ sinh. Những đêm trăng sáng, Khánh đem đàn ra sân chơi, tiếng đàn Hạ uy cầm réo rắt… Phía bên kia ao, đám nữ sinh rủ nhau ra ngồi nghe đàn trông như một đàn cò trắng.

Vậy mà ở gần đó, ngay phố Khâm Thiên, có một thiếu nữ đẹp người, đẹp nết nhưng lại chẳng chút động lòng hoặc tơ tưởng đến “các chàng nghệ sĩ Tây nhạc”, nàng chỉ chăm lo phụ giúp cha mẹ. Cô gái ấy tên Đặng Thị Thuận. Cô gái không màng đến những chàng nghệ sĩ hào hoa kia lại “bị” bà dì của mình mai mối cho Nguyễn Văn Khánh. Lúc đầu, cô Thuận cứ “ứ thèm”, chẳng cần biết Khánh là ai, thậm chí khi nhà trai đem lễ vật đến chạm ngõ, cô cũng chẳng thèm… len lén xem mặt anh chàng kia như những cô gái khác thường làm. Ấy thế nhưng, bà chị dâu của cô lại xăng xái:“Mày không chịu, nhưng cứ để tao xem cái mặt mẹt của nó xem sao!”. Lát sau, bà chị dâu ấy chạy vào bếp, mách: “Tao thấy mặt mũi nó cũng được đấy, Thuận à!”… và được sự “động viên” của những người thân trong gia đình, cô Đặng Thị Thuận chính thức trở thành bà Nguyễn Văn Khánh vào đầu năm 1942. Khi ấy cô 20 tuổi!

Vợ chăm chồng viết nhạc cho người yêu

Cuộc hôn nhân tuy không hình thành từ tình yêu trước đó nhưng không vì thế mà cô Thuận đẹp người, đẹp nết lại quên mất cái “nết” của mình. Cô một mực ân cần chăm lo cho chồng, thậm chí lo cả cho gia đình nhà chồng. Có lẽ cảm được tấm chân tình của vợ nên mấy năm đầu của cuộc hôn nhân này ông Khánh “tu chí”, thường xuyên ở nhà (bởi sau đó là quãng thời gian dài ông đi phiêu bạt giang hồ). Thời gian này, ông cất căn nhà nhỏ, không xa ngôi nhà chính là mấy, vì căn nhà nhỏ ấy nằm lúp xúp bên một gốc đa nên cả nhà và cả chính ông đều gọi một cách thân thương là “cái miếu”. Đó là không gian riêng của ông, nơi ông ngồi để sáng tác các ca khúc riêng tặng… những người phụ nữ khác! (thực ra ca khúc đầu tay của Nguyễn Văn Khánh có tựa là Thu, viết năm 1946 được riêng tặng cho vợ, nhưng vì tặng vợ nên cô Thuận cất làm kỷ niệm, thành ra không phổ biến), còn những Chiều vàng, Nỗi lòng, Nghệ sĩ với cây đàn, Lời thề xưa, Chiều gặp gỡ… (sáng tác từ năm 1951 trở về sau) đều viết cho những phụ nữ khác. Mỗi khi viết xong một ca khúc, ông Khánh thường tự tay mang lên Đài phát thanh Hà Nội rồi tự hát: “Yêu ai, yêu cả một đời. Tình những quá khắt khe khiến cho đời ta. Đau tủi cả lòng, vì yêu ai mà lòng hằng nhớ…” (Nỗi lòng). Rồi “…Lời thề nguyền ngờ đâu xa vắng. Tình tràn đầy sầu chung non nước. Hồn em có cùng người chứng minh. Anh bước ra đi luyến tiếc hoài. Đời còn có em nay là thôi… (Chiều vàng).

Bà Thuận, vợ nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh. Ảnh: ThanhNien.com.vn
Bà Thuận, vợ nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh. Ảnh: ThanhNien.com.vn

Chuyện ông viết ca khúc vì những người phụ nữ khác là có thật (trừ bài Thu). Người nhà ông kể rằng bài Nghệ sĩ và cây đàn được ông viết sau chuyến đi Bắc Ninh thăm người yêu cũ nhưng không gặp. Lạ một điều, mỗi lần ông ngồi viết nhạc trong “miếu” thì lúc nào bà Thuận cũng ngồi phía sau cầm quạt, quạt cho ông. Bà không biết tí gì về âm nhạc, cũng chẳng quan tâm ông viết nhạc cho ai ngoài việc tôn trọng chồng và tôn trọng nghề nghiệp của chồng…

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh mất ngày 20.8.1976, bà Thuận tính, vậy là bà làm vợ ông những 34 năm, nhưng khoảng thời gian ông ở cạnh bà chỉ bằng một phần ba con số đó. Hai phần ba thời gian còn lại ông đuổi theo những cuộc tình khác, và người khiến cho ông “bận bịu” nhất là Lê Thị Sâm – bà này đẻ cho ông Khánh những 7 đứa con. Tuy thế, vào năm 1973 bà Sâm cũng quyết liệt xua đuổi “bố của bầy trẻ” ra khỏi nhà khi ông bị chứng viêm quai hàm – giai đoạn cuối. Bà Thuận lại mở rộng vòng tay đón “chàng nghệ sĩ Tây nhạc… đa tình” trở về mái nhà xưa lo thuốc thang. Chẳng những thế, bố chồng của bà lại năn nỉ cô con dâu “đẹp người, đẹp nết” đưa 2 đứa con quặt quẹo của chồng bà với bà Sâm (5 người con trước của họ mất vì bệnh) về nuôi “làm phúc”. Ai cũng khen bà nhân hậu, cao thượng, bà chỉ cười, khiêm tốn: “Tôi chỉ được cái nuôi con nhỏ “mát tay”!”. Bà Sâm mất năm 1979, không thấy được hai người con của mình giờ đây đã được nuôi dạy nên người…

Hà Đình Nguyên

http://www.dongnhacxua.com/category/nha-tho/ha-dinh-nguyen

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

http://www.dongnhacxua.com/category/nha-tho/ha-dinh-nguyen

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Chuyện tình nghệ sĩ Mộc Lan – Bài 6: Hậu Châu Kỳ – Mộc Lan


HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Chuyện tình nghệ sĩ Mộc Lan – Bài 5: Khúc ly ca


HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Chuyện tình nghệ sĩ Mộc Lan – Bài 4: Châu Kỳ – Mộc Lan dìu nhau vào mộng