NGÀNH MAI , thông tín viên RFA : Hát bội với Lễ Hội Kỳ Yên ở đình làng


Hát bội với Lễ Hội Kỳ Yên ở đình làng

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2015-02-21
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
hat-boi-622

Đại Lễ Kỳ Yên ở Đình Thần Tân Thới – Tỉnh Bình Dương. (Ảnh minh họa chụp trước đây)

File photo


Hằng năm cứ đến giữa tháng 11 Âm Lịch, tức khoảng hơn 1 tháng nữa mới đến Tết, là người ta đã thấy các nghệ sĩ hát bội đã chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho nghề nghiệp (trang phục, đo hát và tập dượt) để sau khi ăn Tết xong, đến khoảng Rằm tháng Giêng là họ tổng dượt, để đến cuối tháng Giêng là bắt đầu ra mắt khán giả yêu thích bộ môn nghệ thuật này, trong dịp các làng xã cúng Lễ Hội Kỳ Yên, mà có rước hát bội về trình diễn.

Lễ cầu an, cúng tế linh thần

Khắp miền Nam nước Việt, làng nào cũng có một ngôi đình thờ thần hoàng bổn cảnh, và thông thường thì các làng xã nào mà dân chúng làm ăn khá, trúng mùa thì mỗi năm Lễ Hội Kỳ Yên đều có rước hát bội về, như trường hợp xã Thắng Nhì ở Bến Đình, Vũng Tàu chẳng hạn. Sở dĩ xã Thắng Nhì tổ chức hát bội hằng năm là do dân ở đây với nghề đi biển đánh cá, được coi như làm ăn khá hơn các làng xã khác.

Mấy năm gần đây, nhiều địa phương có điều kiện tổ chức lớn Lễ Hội Kỳ Yên, vì có kiều bào ở nước ngoài yểm trợ tài chánh, nên đa số đều có chầu hát bội.

Cứ đến mùa này là có một số nghệ sĩ hát bội, đứng ra lãnh chầu:

Thuê đồ hát, thuê âm thanh, ánh sáng, gom diễn viên, nhạc sĩ, hình thành một ban để ký hợp đồng trình diễn. Để phục vụ cho mùa lễ hội thì bắt đầu từ tháng 11 âm lịch là anh chị em nghệ sĩ hát bội từ khắp nơi trong thành phố cũng như ở các tỉnh xa lại kéo về tụ tap tại nhà nghệ sĩ Ngọc Khanh (con gái cô Ba Út nổi danh tài sắc một thời), lấy đó làm điểm hẹn cũng như nơi xuất phát cho những chuyến đi xa.

Mỗi năm thông thường là vào tháng 2, tháng 3 Âm Lịch, trăng tròn, tiết trời quang tạnh, rất nhiều nơi tổ chức lễ cầu an, cúng tế linh thần. Người dân vui lễ hội, mừng thắng lợi sau mùa thu hoạch nông nghiệp, ngư nghiệp, cầu phước lành cho cả năm, cho mọi người, mọi nhà.

Lễ Hội Kỳ Yên tháng Giêng hằng năm là lễ hội được tổ chức lớn nhất, trong đại nhất. Lễ hội cầu phúc cho thế giới hòa bình, cầu cho quốc thái dân an, cầu cho mưa thuận gió hòa, cầu cho sự an khang thịnh vượng của thập phương bá tánh…

hat-boi-305
Hát bội ở đình làng, một hình thức thưởng thức nghệ thuật ở nông thôn Việt Nam. (Ảnh minh họa)

Lễ Kỳ Yên cũng như bao nhiêu lễ hội trên đất nước chúng ta, là dịp để người dân địa phương biểu lộ lòng tôn kính và biết ơn các vị anh hùng, các bậc tiền nhân đã góp phần tạo dựng, và có nhiều công lao với quê hương, với dân tộc. Đó là những ngày làm song lại thật sự một quá khứ xa xưa, được biểu hiện như một đặc trưng truyền thống trong lịch sử văn hóa Việt Nam.

Gắn liền với lễ cúng tế thần linh là chầu hát bội. Nơi nào mà đáo lệ, Ban Quí Tế Hội Đình không tổ chức được chầu hát bội thì ai ai cũng tiếc. Bởi chính hát bội đã mang lại không khí tưng bừng cho lễ hội, niềm phấn khởi rạng rỡ cho mọi người, từ các bậc phụ lão đến thanh niên phụ nữ trẻ con. Mỗi năm một lần, ngày hội cúng đình có nơi còn vui hơn ngày Tết.

Đông chật khán giả

Trong những buổi cúng đình, hát bội thường diễn liên tục, vậy mà xuất diễn nào cũng đông chật khán giả. Càng ở những vở diễn sau càng thu hút được số lượng người xem nhiều hơn. Cái không khí vừa tưng bừng vừa trang trọng đó, cứ diễn đi diễn lại, năm này sang năm khác, với những con người nối tiếp đi qua, từ đời ông cha, đến đời con cháu. Ngót hai thế kỷ đã qua, tập tục tốt đẹp ấy vẫn tiếp nối duy trì, có ai dám bảo là mê tín dị đoan hay hủ tục làm mất thời giờ vô ích, mà phải coi đó là một hình thứctín ngưỡng ăn sâu vào đầu óc dân quê, không có gì phá bỏ được. Cũng có những xã vài ba năm mới có hát bội, còn những làng xã nghèo quá thì cả chục năm vẫn không có hát bội.

Thông thường một chầu hát bội gồm có 5 hay 6 tuồng diễn ra trong 2, 3 ngày tùy theo yêu cầu từng địa phương. Một tuồng thường trình diễn trong 6 hoặc 8 tiếng đồng hồ. Các nhóm và các đoàn họ nhận ít nhất là hai chầu và nhiều nhất là tám chầu. Nhưng vẫn không đủ! Vì thiếu đào kép, một số diễn viên chính phải “chạy sô”, sáng nơi này, chiều nơi nọ, tối nơi khác. Do số lượng diễn viên và nhạc công rất ít chỉ hơn 30 người nên hầu như xuất diễn nào diễn viên cũng có vai. Không thiếu trường hợp sau những xuất diễn thứ 2, thứ 3, trong lúc trên sân khấu rộn rã tiếng đờn ca, thì nơi hậu trường đã có vài diễn viên đang ngồi cạo gió cho nhau… Có người phải hát ba xuất cho một ngày, hát hết các đợt chầu, đa số các diễn viên đều bị tắt tiếng, nói không ra hơi.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-022115-nm-02202015164716.html

NGÀNH MAI – thông tín viên RFA : Hát bội Miền Nam và thêm hát bội Bình Định


Hát bội Miền Nam và thêm hát bội Bình Định

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-07-06
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
Hát Bội ở Miền Nam khi xưa

Hát Bội ở Miền Nam là một loại văn nghệ trình diễn cổ truyền ở Việt Nam.

(files photos)
 

Từ trước năm 1930 ở miền Nam nước Việt chỉ có hát bội là nghệ thuật sân khấu duy nhứt để cung ứng cho nhu cầu giải trí của các tầng lớp dân chúng. Hát bội dùng vào các lễ cúng Kỳ Yên cho đình thần mỗi làng, cho các tiệc tùng đăng quan tiến chức, ngay cả các cuộc cầu siêu lớn tại chùa chiềng.

Hát bội là nghệ thuật do phong kiến đẻ ra bởi giai cấp quan lại, cựu trào cho nên nội dung nó cũng phải phục vụ cho phong kiến là lẽ dĩ nhiên. Đức Tả Quân Lê văn Duyệt không thích gì hơn là hát bội và đá gà. Cụ Bùi Hữu Nghĩa lúc bị đày đi làm đốc quân trấn vùng biên giới Việt Miên cũng không giải trí bằng gì hơn là hát bội. Từ Đức Tả Quân cho đến cụ Bùi Hữu Nghĩa đều biết soạn tuồng. Soạn tuồng cho lính hát cho dân xem. Dân thấy quan quân thích hát bội nên cũng tập tành dựng lên những đoàn hát bội đi hát đó đây. Quan trên khích lệ, thì bộ môn nghệ thuật ấy sống dễ dàng. Hát bội được phổ biến sâu rộng trong dân chúng một thời là vì vậy.

Theo một tài liệu trong lịch sử, hát bội có từ thời vua Lê Ngọa Triều, tính đến nay khoảng gần 1000 năm. Đầu tiên có một phường chèo người Tống tên Lâm Thủ Tiên sang nước ta vào hầu vua Lê, dạy cung nữ hát tuồng. Đến đời Nhà Trần, Đức Hưng Đạo Vương thắng quân Nguyên bắt được Lý Nguyên Cát, một nghệ sĩ trứ danh về lối hát cổ.

Theo một tài liệu trong lịch sử, hát bội có từ thời vua Lê Ngọa Triều, tính đến nay khoảng gần 1000 năm. Đầu tiên có một phường chèo người Tống tên Lâm Thủ Tiên sang nước ta vào hầu vua Lê, dạy cung nữ hát tuồng

Lý Nguyên Cát được lưu lại làm thầy tuồng, dạy con quan và dân hát. Đến đời Trần Dụ Tôn ngài tỏ ra ham thích môn hát bội, bắt các vương hầu thi nhau soạn tuồng. Những tuồng hay ngoài việc được đưa ra trình diễn ở hội đình, người viết còn được ban thưởng.

Về hát bội có câu: “Có chồng say như trong chay ngoài bội. Ngó vô nhà như hội Tầm Dương”. Dư luận cũng tỏ ra khắt khe với nghề hát nên có câu: “Trồng trầu trồng lộn dây tiêu. Con theo hát bội mẹ liều con hư”. Cũng vì thành kiến xướng ca vô loại trên mà Đào Duy Từ, thời Lê Trịnh truất đi khi ông ra Bắc thi đậu thủ khoa. Lấy cớ ông là con nhà hát bội.

Hát bội là một bộ môn nghệ thuật cổ điển có tánh cách văn chương, mỗi giọng hát được soạn ra theo một thể văn, hoặc lục bát, hoặc song thất lục bát, hoặc tứ tuyệt, cho đến lối nói thường cũng phải đối và vần. Nghệ sĩ khi ra sân khấu vừa chú ý đến điệu bộ diễn xuất, lại vừa chú ý đến câu hát cho đúng với bổn tuồng. Lỡ sai một chữ hoặc sơ xuất trong cử chỉ nào đó, gặp phải người cầm chầu sành sỏi, họ sẽ đánh trống để hỏi cho ra lẽ. Diễn viên hát bội vì thế đòi hỏi nhiều công phu trong lúc tập luyện. Từ lối đi đứng, lối cầm một cây roi ngựa cho đến giọng hát, nhất cử nhất động đều phải phù hợp. Ngày xưa, các diễn viên vào nghề phải gia công học tập ít ra cũng vài ba năm mới mong thành thục được.

Một màn hát bội trong thời kỳ phục hồi
Một màn hát bội trong thời kỳ phục hồi

Hát bội là một bộ môn nghệ thuật cổ điển có tánh cách văn chương, mỗi giọng hát được soạn ra theo một thể văn, hoặc lục bát, hoặc song thất lục bát, hoặc tứ tuyệt, cho đến lối nói thường cũng phải đối và vần. Nghệ sĩ khi ra sân khấu vừa chú ý đến điệu bộ diễn xuất, lại vừa chú ý đến câu hát cho đúng với bổn tuồng

Nói tới hát bội thì người ta nghĩ ngay đến các cốt truyện trong truyện Tàu, và khán giả bộ môn nghệ thuật cổ truyền này đã quá quen thuộc với các nhân vật. Lưu Kim Đính, Phàn Lê Huê, Chung Vô Diệm, Điêu Thuyền, Tiết Ứng Luông, La Thông v.v… Nhưng cũng có soạn giả đã đưa nhân vật lịch sử Việt Nam lên sân khấu hát bội: Soạn giả Đinh Bằng Phi với vở tuồng Phạm Ngũ Lão tùng chinh. Soạn giả Thành Tôn và Hồ Văn Lang với vở tuồng Nguyễn Huệ bình Thăng Long. Đây là một sự cải tiến mạnh mẽ và hợp lý hợp thời của sân khấu cổ mà ai nấy đều phải hoan nghinh. Vào năm 1962 vở hát bội Nguyễn Huệ bình Thăng Long được trình diễn cúng Kỳ Yên tại Đình Nam Chơn, Đa Kao, khán giả đi coi chật đình, và khen ngợi từng diễn viên như sau:

Trước tiên là kép Thành Tôn và cô đào Ba Út thật xuất sắc trong vai vợ chồng tướng Ngô Văn Sở. Vì Thành Tôn là một trong hai soạn giả của tuồng nầy nên thuộc rành lớp lang và lột tả một cách rất điệu nghệ vai Ngô Văn Sở. Còn cô Ba Út chỉ diễn tuồng nầy đâu có một vài lần, mà cũng làm tròn vai một cách đáng khen. Đến kép Mười Sự từng vang danh với những vai tướng trung như Quan Công, thì hôm đó diễn vai anh hung Nguyễn Huệ nghiêm chỉnh và sắc bén vô cùng. Còn cô Năm Đồ làm say sưa khán giả với vai Ngọc Hân Công Chúa, trong lớp anh hùng ngộ thuyền quyên, ai ai cũng tán thưởng. Quạt giấy bay lên sân khấu như bướm luyện vườn Xuân. Hội Khuyến Lệ Cổ Ca hân hoan khi thấy vở hát thành công ngoài sức tưởng tượng, càng thấy sự lo lắng duy trì nền cổ kịch phải được xúc tiến mạnh mẽ hơn.

Tuy khán giả đông đảo và khen đáo để, mà không biết tại sao hát bội ngày càng tàn lụn!

Khi xưa ở trong Nam có hát bội Nam Phần, với những đoàn hát bội chuyên hát cúng đình cúng miễu, và hàng tuần trên đài phát thanh, đài truyền hình cũng có chương trình hát bội Đinh Bằng Phi, hát bội Ban Vân Hạc. Song song đó thì ở ngoài Trung cũng có nghệ thuật hát bội mà người ta gọi nôm na là “Hát Bội Bình Định”, đã một thời được khán giả mến chuộng.

Nhắc đến Bình Định mà quên nói đến hát bội thực là một thiếu sót to lớn. Nếu miền Nam nổi tiếng với môn cải lương, miền Bắc với chèo cổ, thì Bình Định có hát bội góp mặt. Hát bội Bình Định nổi tiếng nhờ hai yếu tố: Tuồng tích giá trị và diễn viên điêu luyện. Nếu như ở trong Nam có những nghệ sĩ hát bội vang bóng một thời như kép Thành Tôn, đào Ba Út, Năm Đồ, Năm Nhỏ… thì hát bội Bình Định cũng có đào kép lừng danh là đào Ngọc Cầm, Thu An, và kép Long Trọng…Thế nhưng, thời kỳ cải lương xuống dốc thì hát bội Nam Phần lẫn hát bội Bình Định cũng xuống theo, mà còn trầm trọng hơn nhiều, gần như tê liệt.

Một hành động cụ thể khác cũng nhằm bảo tồn bộ môn nghệ thuật hát bội của chính quyền thời đó, là khuyến thích việc đào tạo mầm non bằng cách trợ cấp tiền hàng tháng cho học viên, nhưng rồi cũng chẳng đạt được bao nhiêu, nếu không nói là thất bại

Chính quyền thời kỳ trước 1975 đã có nhiều biện pháp nhằm cứu vãn hai thành phần hát bội này để không sớm bị mai một, mà cụ thể là vào khoảng đầu năm 1972 Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa, đã tổ chức 3 đêm trình diễn hát bội tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, gọi là “đối chiếu nghệ thuật hát bội hai miền Nam và miền Trung”. Đêm đầu là vở hát “Ngũ Hổ Bình Tây” do nghệ sĩ Bình Định, kịch đoàn Tây Sơn, Hội Khổng Học trình diễn. Đêm thứ hai cũng vở hát “Ngũ Hổ Bình Tây” do nghệ sĩ Miền Nam, và đêm thứ ba Hội Khuyến Lệ Cổ Ca trình diễn vở tuồng “Tiết Cương tế Thiết Khưu Phần”.

Khán giả trong lúc xem một số người nói hát bội Bình Định rất dễ nghe, nhưng thiếu phần huê dạng như hát bội Nam Phần. Nhờ cái hôm trình diễn đối chiếu hát bội Nam – Trung này, người ta mới gặp lại cặp tài danh hát bội Bình Định là Long Trọng – Thu An (đào hát bội Thu An chớ không phải soạn giả Thu An của cải lương). Hỏi dạo này “Ý Hiệp Ban”, tức ban hát bội nổi tiếng một thời ngoài Trung có còn hoạt động hay không, thì Long Trọng lắc đầu chán nản đáp: “Dạo này hát khó sống cho nên vợ chồng tôi đây đã mở quán cà phê hủ tiếu để kiếm ăn, thỉnh thoảng có lễ hội mời thì vợ chồng tôi mới hát thôi”! Người ta lại hỏi thăm cô đào tài sắc của miền Trung là Ngọc Cầm thì cặp Long Trọng – Thu An cho biết cũng mở quán phở như vợ chồng anh thôi. Rõ ràng là nghệ thuật không nuôi sống nổi con người chuyên nghiệp.

Ai đã làm cho sân khấu cổ truyền sụp đổ như vậy? Một hành động cụ thể khác cũng nhằm bảo tồn bộ môn nghệ thuật hát bội của chính quyền thời đó, là khuyến thích việc đào tạo mầm non bằng cách trợ cấp tiền hàng tháng cho học viên, nhưng rồi cũng chẳng đạt được bao nhiêu, nếu không nói là thất bại.

Năm 1969 lớp dạy hát bội của trường Quốc Gia Âm Nhạc Kịch Nghệ, lúc đầu ghi tên 15 người, nhưng hôm khai giảng chỉ có 10 học viên. Dạy được một thời gian người ta nhìn lại thì con số 10 người đã nghỉ học hết 7 còn lại 3. Thêm thời gian nữa thì nghỉ hết 2 còn 1 (như trong câu sấm Trạng Trình). Vậy mà lớp vẫn còn y nguyên, các giáo sư vẫn tiếp tục dạy như thường. Có người hỏi Giáo Sư Đinh Bằng Phi rằng lớp chỉ còn có một ngoe thì dạy cái nỗi gì chớ! Giáo sư trả lời: “Còn người học thì còn dạy chớ sao”!

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/vn-opera-binh-dinh-07062014070848.html

NGÀNH MAI, thông tín viên RFA : Hát bội bị bỏ quên trên màn ảnh truyền hình


Hát bội bị bỏ quên trên màn ảnh truyền hình

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-08-30
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
Một gánh hát bội trình diễn ở miền Nam

Một gánh hát bội trình diễn ở miền Nam

Văn nghệ tiền Giang
 

Cách đây không lâu trên làn sóng phát thanh này, tôi có nói về hát bội miền Nam, hát bội miền Trung, tức hát bội Bình Định. Sau đó thì giáo sư Đinh Bằng Phi nhà ở Sài Gòn, có liên lạc với tôi nói chuyện về hát bội, và ông gởi cho tôi dĩa hát bội thu thanh từ thời thập niên 1960.

Người ta còn nhớ từ thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, bộ môn hát bội Ban Vân Hạc đã thường xuyên có trên đài phát thanh Sài Gòn. Đến khi truyền hình ra đời thì hát bội cũng vẫn có chỗ đứng, khán giả yêu thích vẫn còn được thưởng thức trên màn ảnh nhỏ, với chương trình hát bội Đinh Bằng Phi được bà con yêu mến bộ môn nghệ thuật này đón coi.

Nhưng càng về sau do sự chèn ép của cải lương, nhứt là hồ quảng thì hát bội lại càng chịu thua thiệt. Mấy năm đầu đài truyền hình mỗi tuần đều có hát bội, nhưng về sau thì lơi dần, hai ba tuần mới có, và đài đã cho phát cải lương hồ quảng thay thế.

Đến khoảng 1974 thì hát bội hầu như bị gạt ra ngoài, trên truyền hình ít khi được chiếu, do đó đã gây bất mãn cho giới yêu thích hát bội, họ gởi thơ lên đài truyền hình, gởi cho báo chí đăng tải nói lên vấn đề. Sau đây là lá thư gay gắt của ông Công Thành, một công chức hồi hưu gởi cho đài truyền hình, cho báo chí vào khoảng 1974, tôi đọc lại để cùng quí vị thấy rằng hát bội bị chèn ép ra sao, và có người đã “mê” hát bội đến cỡ nào.

Và lá thơ có nội dung như sau:

Mấy lúc gần đây, người ta rất lấy làm ngạc nhiên khi thấy bộ môn hát bội vắng bóng trên đài Truyền Hình Việt Nam. Là người có chút ít ưu tư cho nền văn hóa dân tộc, chắc không ai là không lưu tâm đến bộ môn sân khấu cổ truyền đó trước tình thế hiện tại. Hát bội không còn đất sống người ta chỉ còn mong được xem trên khung kiếng truyền hình.

Cái trật tự của ngàn xưa lồng khuôn nền luân lý Khổng Mạnh thể hiện bằng nghệ thuật hát bội. Thế mà bọn già chúng tôi lại bị thất vọng! Không hiểu vô tình hay cố ý, bộ môn hát bội đã bị bỏ quên một cách tệ hai. Này nhé: Cứ cả tháng mới được một lần, chúng tôi phải chờ đợi đến mỏi mắt mãi đến hơn 10 giờ đêm Thứ Tư mới được xem. Bọn khán giả già cố thức để mà xem, nhưng lại không thỏa mãn, vì tuồng quá ngắn, phải xén bớt đi nhiều đoạn hoặc chờ tiếp kỳ sau. Bao nhiêu đó chưa đủ, quý vị còn gạt gẫm chúng tôi loan báo là có hát bội. Thế rồi có hôm chờ mãi, chờ mãi hết tin tức đen phóng sự rồi bình luận, chúng tôi cũng kiên nhẫn ngồi xem cho đến 23 giờ đêm để rồi được quí vị cáo lỗi vì lý do… kỹ thuật, tuồng hát bội hôm nay được thay bằng một chương trình tân nhạc.

Thế thì đành chờ quí vị thương tình trả cho một buổi hát bội trong kỳ tới vậy. Thế rồi, than ôi! Tuần tới giờ giải trí đêm Thứ Tư lại là tuồng cải lương hồ quảng. Không phải vì óc kỳ thị, nhưng chúng tôi sẽ buồn mà thấy quí vị quá

lạm dụng bộ môn cải lương đó. Chúng tôi đã nhiều lần châu mày trước những câu văn rẻ tiền của cái được mệnh danh là cải lương hồ quảng. Xét về nội dung lẫn hình thức, bộ môn này chỉ thỏa mãn được một số đông người bình dân dễ tính.

Thế mà hát bội lại bị hát hồ quảng chèn ép một cách tệ hại. Không thể ngồi yên một cách tiêu cực, chúng tôi cố gắng sức già gióng lên một tiếng chuông kêu cứu, thỉnh cầu quý giới chức có trách nhiệm ở đài Truyền Hình Việt Nam vui lòng xót thương cho một bộ môn nghệ thuật đang bị diệt vong trước làn sóng văn nghệ ngoại lai, mà giúp cho hát bội được góp mặt khá hơn trên quý đài. Chúng tôi cũng thiết tha mong chương trình này được phát hình sớm hơn thường lệ để bọn già chúng tôi đỡ phải mỏi lưng chờ đợi.

Lá thư được chấm dứt tại đây.

Hát bội là một bộ môn nghệ thuật cổ truyền lâu đời, thịnh hành qua nhiều thế hệ và mọi người trong chúng ta có

lẽ  không một ai lại muốn cho nghệ thuật văn hóa dân tộc này bị mai một. Thế nhưng, nói thì nói thế chớ trên thực tế thì trong quá khứ từ thời trước 1975 hát bội đã bị chèn ép một cách thảm hại, và rồi đây không biết có tồn tại được chăng? Giáo Sư Đinh Bằng Phi nguyên là giáo sư dạy tại trường Trung Học Vũng Tàu. Về sau biệt phái về Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa, và dạy môn hát bội tại trường Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch Nghệ Sài Gòn. Ông từng đoạt giải văn học nghệ thuật của Tổng Thống về môn hát bội.

Giáo Sư Đinh Bằng Phi gởi cho tôi dĩa hát bội tuồng Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu với các nghệ sĩ thủ các vai như sau:

– Nữ nghệ sĩ Năm Đồ vai Lưu Kim Đính.

– Nữ nghệ sĩ Ba Út vai Triệu Hoàng Cơ.

– Nghệ sĩ Năm Còn vai Dư Hồng.

– Nghệ sĩ Chín Luông vai Vua Triệu Khuông Dẫn.

– Nghệ sĩ Thành Tôn vai Quân sư.

– Nghệ sĩ Mười Sự vai Cao Quân Bảo.

Với các nhạc sĩ: Sáu Vững (đờn cò). Tư Phúc (kèn). Hai Giác (đánh trống). Văn Vĩ (thổi tiêu). Năm Cơ (kìm).

Tất cả các nghệ sĩ, nhạc sĩ trên đây đều qua đời.

Và bây giờ, trước khi mời quí vị nghe vở tuồng hát bội Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu. Tôi nhờ làn sóng phát thanh này chuyển lời thành thật cám ơn Giáo Sư Đinh Bằng Phi.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-08230-nm-08282014070421.html

Maître VĨNH BẢO : LE HÁT BỘI ET LE CẢI LƯƠNG.


LE  HÁT BỘI ET LE CẢI LƯƠNG.

 

D’après la tradition, le HÁT BỘI, art dramatique authentique, aurait été introduit au Vietnam au début du XIVème siècle par un acteur chinois faisant partie d’une armée d’invasion, et qui aurait été fait prisonnier par les Vietnamiens.

Les sujets que traite le HÁT BỘI sont d’ordinaire empruntés aux histoires romancées chinoises.

Les Vietnamiens  aiment beaucoup l’art scénique. Il n’y a pas de fête de village où les offrandes rituelles aux Génies titulaires ne comportent quelques soirées de HÁT BỘI.

Sous l’accumulation des conventions de mise en scène, à travers les costumes voyants, barbes longues, maquillages qui font peur aux enfants,  auxquels les jeunes Vietnamiens ne sont pas habitúés, les gestes qui peuvent les surprendre, les paroles d’une littérature savante qu’ils ne comprennent pas, cet art leur est méconnu et qui préfèrent le Théâtre Cải Lương d’allure plus jeune. Dans le Théâtre CẢI LƯƠNG les artistes s’habillent comme les Vietnamiens le sont d’habitude et jouent des comédies le plus souvent calquées sur celles du cinéma.

L’action du théâtre sur l’évolution intellectuelle du peuple Vietnamien est certaine. Son influence est beaucoup plus direct que celle du livre sur les masses qui ne lisent pas, car le pourcentage d’illettrés est encore élevé.

Vĩnh Bảo Image