Tag Archives: hát cải lương

NGUYỄN PHÚ QUỐC : CẢI LƯƠNG


 Cách đây ít lâu, tôi có dịp nghe đài SBS Melbourne phát thanh “Bài Ca Vọng Cổ”, một truyện ngắn của nhà văn Tiểu Tử, để phản bác lại luận điệu chê bai bộ môn cải lương vọng cổ do ông Nguyễn Hữu Liêm viết trên báo Talawas.

Nhà văn Tiểu Tử, trong câu chuyện, có kể rằng: Trên bước đường di tản, ông đến tận Paris và nhờ bạn bè, ông được làm việc cho công ty Đường Mía, xa Paris.Một hôm, có việc về họp ở công ty và trong khi chờ máy bay tại phi trường nhỏ nơi vùng quê hẻo lánh, thì ông nghe văng vẳng từ xa một giọng ca vọng cổ mùi mẫn. Lần theo tiếng hát, thì ông vô cùng ngạc nhiên thấy chàng ca sĩ tài tử lại là một thanh niên da đen

Trong câu chuyện tâm sự giữa hai người, tác giả Tiểu Tử và chàng thanh niên da màu, người đọc biết được chàng thanh niên nầy có cha là lính Châu Phi và mẹ là người Việt nam ở Vũng Tàu.

Chàng ta trãi qua tuổi trẻ nơi quê ngoại, nên nền văn minh miệt vườn đã in sâu vào tâm trí và bài ca vọng cổ mà chàng đã bị tiêm nhiễm ở tuổi thơ, giờ đây chàng mang qua tận trời Phi.

Cảm động trước một tâm hồn đầy ấp tình yêu quê hương, luôn thương về quê mẹ, nên tác giả Tiểu Tử buộc miệng, hỏi rằng: Trong mấy triệu người tỵ nạn buồn, sống khắp thế giới còn được bao nhiêu người nhớ bài ca vọng cổ, một điệu ca mà một chàng thanh niên da màu chỉ có năm chục phần trăm Việt Nam, nói bài vọng cổ là không lai Âu, lai Á gì hết, một điệu ca đặc thù của người Việt Nam.

Là một người yêu vọng cổ, mê cải lương, tôi muốn thưa cùng nhà văn Tiểu Tử là tỷ lệ những người Việt Nam tỵ nạn còn nhớ đến bài ca vọng cổ rất cao. Cải lương, vọng cổ là một cô gái đẹp, Nàng đi từ bước “ca ra bộ” để rồi hơn nửa thế kỷ sau, Nàng trở thành một tiểu thơ khuê các mà cầm kỳ thi họa là nghề của mình.

Bây giờ chúng ta hãy theo những bước Nàng đã đi trên quê hương mến yêu:

 Trước năm 1910, các tỉnh Nam kỳ không có dàn đờn cổ nhạc, chỉ có dàn đờn nhạc lễ thường dùng cho các cuộc ma chay. Mỗi khi có đám tang, vào lúc canh khuya, sau buổi tế lễ, tụng kinh, thường thấy các thầy nhạc và thầy chùa được gia chủ nấu cháo để đãi ăn mà thức sáng đêm. Trong dịp nầy, họ hòa đờn, tập ca cho đúng nhịp để khỏi buồn ngủ. Lần lần thành thói quen, mỗi dịp quan hôn tang tế, ăn tân gia, thăng quan tiến chức, đám giổ, đám cưới thường có mời dàn nhạc đến giúp vui cho thêm phần long trọng. Đến năm 1910 mới bắt đầu có dàn nhạc xuất hiện nơi công cộng mà Mỹ Tho là điểm khởi đầu

Dàn đờn tài tử ra đờn cho khán giả thưởng thức trước khi coi phim là dàn đờn của Ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều). Ông Tư Triều là thân phụ của Cô Hai Nhiễu, Cô từng ca thính phòng tại nhà hàng Cửu Long Giang (Sàigòn) làm say đắm khách mộ điệu thuở ấy.

Rạp hát bóng Thầy Hộ ở sau chợ Mỹ Tho cũng như nhà hàng Cửu Long Giang là nơi dàn đờn Tư Triều đến đờn và ca vài bản trước tấm màn trên sạp cao mỗi tối thứ tư và thứ bảy. Như vậy, là lối ca trước công chúng và trên sân khấu bắt đầu. Cũng nên nhắc lại ban tài tử của ông Nguyễn Tống Triều do ông đờn kìm, Chín Quán đờn độc huyền, Mười Lý thổi tiêu, Bảy Vỏ đờn cò, Cô Hai Nhiễu đờn tranh và ca, Cô Ba Đắc ca. Bài ca được hoan nghinh nhứt thuở đó là bản Tứ đại oán “Bùi Kiệm- Nguyệt Nga”. Cô Ba Đắc vừa ca vừa ra bộ rất vui nên khán giả khen thưởng nhiều.

Năm 1911, Ông chủ Minh Tân khách sạn, ngang ga xe lửa Mỹ Tho, mời ban tài tử Tư Triều đến đờn ca nên thu hút được nhiều khách. Cũng nên nhắc lại là nhờ mở mang đường xe lửa Sàigòn Mỷ Tho nên việc lưu thông giữa Sàigòn Mỹ Tho và các tỉnh hai bên đường rầy dễ dàng cũng góp phần phát triển bộ môn đờn ca tài tử.

Tuy nhiên cải lương lúc nầy cũng vẫn còn là phôi thai. Cải lương được sanh nhờ những yếu tố sau đây:

Cải luơng được sanh ra do sự tình cờ và cũng do lòng ái quốc của dân tộc. Trong những năm dài bị Tàu và Pháp đô hộ, dân Việt Nam luôn tìm mọi cách để giữ cho tinh thần quốc gia còn được tồn tại. Vì vậy phải nói yếu tố chính trị của thế chiến 1914-1918 có ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ môn cải lương.

1. Yếu tố chính trị:

Sau thế chiến lần thứ nhất, Pháp may mắn thắng trận, cho nên quan toàn quyền Albert Sarraut mới nới tay, nhắm mắt cho phép một số trí thức bày ra chuyện hát xướng để lấy tiền giúp mẫu quốc sau chiến tranh. Nhờ đó số trí thức nầy chỉnh đốn, sửa chữa hát bội ra một nghệ thuật trình diễn khác gọi là cải lương. Một cơ hội rất may, là người Miền Nam lúc đó biết thừa dịp mà lập hội, lập gánh hát vì năm 1918 quan toàn quyền Albert Sarraut muốn để cho dân thuộc địa quên việc mất nước mà không chống đối, nên cho dân tha hồ hát xướng, nhờ đó nghề đờn ca được trau dồi và đưa nghệ sĩ lên sân khấu.

2. Yếu tố nhân hòa:

 Những người có lòng và những nghệ sĩ có công với những bước đầu của cải lương:

Tống Hữu Định: Thuộc hàng công tử, giàu có, hào hoa phong nhã bực nhứt đất Vĩnh Long, còn được gọi Thầy Phó (Phó Tổng) Mười Hai. Ông hay tổ chức đờn ca, tiệc tùng, thi ca đủ thứ. Thầy Phó có tổ chức hát lưu diễn để giúp quốc trái trong thế chiến 1914-1918. Trước đó thầy đã từng đến rạp hát bóng Thầy Hộ cũng như từng ăn uống ở nhà hàng Cửu Long Giang để nghe đờn ca tài tử do đó thầy bày ra đờn ca ngồi trên bộ ván ngựa.

Kinh Lịch Huờn (Quờn): Ông giỏi chữ Nho, sở trường đặt bài ca, thịnh hành nhứt là bản Tứ Đại Oán tại Vĩnh Long.

Phạm Đăng Đàng: Ông là thầy đờn kỳ cựu, danh tiếng, có tài, thiện nghệ cây đờn bầu (độc huyền). Ông đặt lời ca các bài Tứ Đại Oán.

Trần văn Chiều ( Bảy Triều) (1897-1931): Năm 1912, ông học Chasseloup, học hai năm tại đây, ông đã được thân phụ dạy đờn kìm rồi mới vào học Chasseloup nhưng chưa giỏi. Nhờ năng luyện tập, sẵn thiên phú nên tài năng ông càng ngày càng phát. Dây Tố Lan do ông sáng chế ra. Ông là thân phụ của giáo sư Trần Văn Khê và nghệ sĩ Trần Văn Trạch.

Trần Ngọc Viện: Bà thiện nghệ đờn tranh, từng dạy đờn tại trường Áo Tím (Gia Long) Bà lập gánh Nữ Đồng Ban tại Mỹ Tho. Bà có công rèn luyện một số đào cải lương, mà người nổi tiếng nhứt là Cô Năm Phỉ.

Hồ Văn Trung (Nhà văn Hồ Biểu Chánh): Ông cùng các bạn trong giới quan lại hay giới văn nhân như đốc phủ Lê Quang Liêm, Nguyễn Viên Kiều, Đặng Thúc Liêng, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Thành Phương v.v.. lập gánh hát có trình diễn tại nhà hát tây (Quốc Hội VNCH cũ), có đi lưu diễn các chợ lục tỉnh, hát tuồng Gia Long Tẩu Quốc, tuồng Pháp Việt Nhứt Gia. Gánh nầy diễn nữa hát bội, nữa kịch, xiêm y áo giáp thì theo xưa nhưng diễn xuất thì theo tân thời, nói suông, rõ ràng cho dễ nghe chớ không hát Nam hát Khách. Đây là khởi điểm để từ đó theo thời gian mà bộ môn cải lương thành hình qua những sự cải biến không ngừng.

Ông André Thận: Ông người Sa Đéc, lập gánh hát xiệc có thêm phần phụ diễn ca ra bộ có kép Bảy Thông, Tám Cang và đào Hai Cúc.

Thầy Năm Tú: (Châu văn Tú) Năm 1918, Thầy Năm Tú sang lại gánh hát của ông André Thận, mua thêm y trang, tranh cảnh, có soạn giả tiền phong giàu lòng yêu nước Trương Duy Toản từ gánh André Thận qua giúp lo phần tuồng tích. Gánh Thầy Năm Tú hát tại Mỹtho ba đêm, lên Chợ Lớn hát ba đêm tại rạp Eden.

Nên nói thêm là Thầy Năm Tú là người Mỹ Tho, du học bên Pháp, có đầu óc làm ăn, có rạp hát, biết thâu âm vô dĩa nhựa mà câu mở đầu bất hủ là “đây là ban hát cải lương của Thầy Năm Tú ở tại Mỹ Tho hát cho dĩa Pathé Phono nghe chơi”. Trên sân khấu của gánh hát thầy Năm Tú, cảnh trí được bày vẽ, có phong màn như kịch nhà hát tây, y trang đẹp mắt, tuồng tích hẳn hòi, lối trình diễn khác hẵn với hát bội đương thời, nên lúc nào cũng được khán giả ái mộ đông đảo.

Cô Tư Sự: Cô Tư Sự lập gánh Đồng Bào Nam ở Mỹ Tho.

Ông Hai Cu: lập gánh Nam Đồng Ban cũng ở Mỹ Tho, có nhiều đào kép danh tiếng vốn dân Mỹ Tho như cô Năm Phỉ, cô Bảy Phùng Há, ông Năm Châu, ông Hai Giỏi (chồng đầu tiên cô Năm Phỉ), cô Tư Sạng (vợ trước của ông Năm Châu). Cô Tư Sạng rất nỗi danh với bài “Tình mẫu tử” thâu thanh trên dĩa ASIA của thầy Năm Mạnh.

Ông Sáu Lầu: Nói chuyện cải lương là phải biết ông Sáu Lầu, vì ông là cha đẻ bản vọng cổ. Ông sinh ngày 22 tháng 12 năm 1892 tại Tân An, tỉnh Gia Định trong một gia đình nghèo sáu con. Cha tên Cao Văn Giỏi, mẹ tên Thạch Thị Tài. Gia đình nghèo nên di chuyển xuống U Minh để tìm đất sống. Tại đây, gia đình ra sức khai khẩn đất hoang để trồng lúa, đời sống vẫn vất vã, không khá. Họ lại tìm cuộc đất mới khác. Gia đình lại đến vùng đất Hòa Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu để sinh sống. Chính tại đây về sau đã trở thành quê hương của bản vọng cổ.

Bạc Liêu có những nhạc sĩ nỗi danh đàn ca tài tử như Hai Khị, Bảy Kiên lẫy lừng đất Nam Kỳ lục tỉnh lúc bấy giờ đã ảnh hưởng sâu đậm đến tâm hồn đa sầu đa cảm của cậu học trò Sáu Lầu. Chính nhạc sĩ Hai Khị là thầy dạy Cao Văn Lầu và có ảnh hưởng sâu xa đến sự nghiệp cầm ca của ông. Trong bước đường nghề nghiệp, ông Sáu Lầu đã từng chứng kiến các thân phận khổ đau của người dân nghèo, mộc mạc như ông thì trốn thuế thân, đàn bà thì nhớ thương chồng trong các hoàn cảnh khổ đau. Riêng thân phận ông thì do vợ chưa có con, cha mẹ bắt buộc ông phải cưới vợ khác do câu nệ về lễ giáo phong tục. Quá thương vợ nên ông lần lựa chưa cưới vợ khác. Do hoàn cảnh gia đình và cũng do chứng kiến nhiều nghịch cảnh xảy ra trong xã hội nên ông mượn điển tích “Nàng Tô Huệ chức cẩm hối văn” để diễn tả tâm trạng nhớ chồng của người phụ nữ. Ông đặt tên tác phẩm mình là “Hoài Lang”. Khi đưa lên sân khấu được đổi tên là “Vọng Cổ” . Sau được đặt tên nữa là “Dạ Cổ Hoài Lang” (Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng). Bài “Dạ Cổ Hoài Lang” được chính thức công nhận vào năm 1918. Các hảng dĩa và các đoàn hát khai thác bản vọng cổ từ đó đến nay.

Có nhiều dư luận phân vân, không biết ông Sáu Lầu có cưới vợ khác không?

Chúng ta nghe ông bầu Gánh Hoa Sen, tức nghệ sĩ Bảy Cao thuật lại chuyện tình của ông Sáu Lầu như sau:

“…Hồi đó chú sáu Lầu bị cha mẹ ruột buộc ông phải để vợ, vì chú sáu cưới thiếm sáu về ba năm rồi không có sanh con. Người xưa có câu “Tam niên vô tử bất thành thê”. Ba năm vợ chồng ăn ở với nhau mà không con thì không còn vợ chồng nữa. Thêm vào đó quan niệm “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” Tội không có con là tội bất hiếu lớn nhứt. Chú Sáu Lầu vì chữ hiếu, phải xa vợ, nhưng chú cũng yêu thương vợ, đâu có thể nói bỏ là bỏ được. Bởi vậy chú gởi thiếm sáu ở đậu trong chái nhà của ba tôi. Rồi chú lén cha mẹ về thăm thiếm Sáu ở lại trong đêm. Chái nhà của ba tôi trở thành điểm hẹn hò, kết nối mối tình dang dở của chú Sáu Lầu. Mỗi ngày má tôi nấu cơm cho hai vợ chồng chú Sáu, tôi dọn cơm và thu dọn chén dĩa sau đó. Tôi thấy chú thiếm nói chuyện với nhau, thiếm khóc thì chú lấy cây đờn kìm đờn, thiếm nghe một hồi thì im không khóc nữa. Tôi nghe đờn, tôi lẩn quẩn đứng đó, chú Sáu thấy vậy, mới hỏi tôi: Mầy muốn học ca học đờn không? Tôi mừng quýnh, nói chú dạy tôi học liền. Vì việc dạy tôi học đờn, học ca, chú Sáu Lầu tới nhà tôi thường hơn, không sợ lời người dị nghị nên có khi ở lại hai ba ngày. Thiếm Sáu cũng biết dán đồ mã, nên giúp việc cho ba tôi. Có lẽ Trời thương không nỡ bắt hai vợ chồng Chú Sáu chia ly hoài nên chú Sáu nhiều lần đến thăm vợ như thăm bẩy, thì Thiếm Sáu ốm nghén. Vợ chồng chú Sáu cho ba má tôi hay tin nầy. Ba tôi nói: Được rồi, để tao đi nói với ba má mầy, rước vợ mầy về bên nhà như hồi mới cưới. Chú thiếm sáu mừng như đang khát nước gặp mưa rào”.

(Trích đoạn kể chuyện của Nghệ sĩ Bảy Cao trong buổi gặp gỡ với soạn giả Nguyễn Phương và soạn giả Kiên Giang trong “Ngũ Đại Gia của Sân Khấu Cải lương, trang 248).

Những bước tiến của bản vọng cổ từ những năm sau 1918

Bản “Dạ Cổ Hoài Lang” nhịp đôi của nhạc sư Cao Văn Lầu
  1. Từ, là từ phu tướng,
  2. Bảo kiếm sắc phong lên đàng
  3. Vào ra luống trông tin chàng,
  4. Năm canh mơ màng,
  5. Thiếp trông chàng,
  6. Gan vàng thêm đau
Bản “Dạ Cổ Hoài Lang”, nhịp 4 tựa “Tiếng nhạn kêu sương” của Tư Chơi Huỳnh Thủ Trung
  1. Con nhạn đành kêu sương nơi biển Bắc,
  2. Én cam khóc hận dưới trời Nam,
  3. Thảm thương thay Ngưu-Nữ chia lòng
  4. Kẻ ăn thảm người lại nuốt nồng,
  5. Người ra đi ruột tím gan bầm,
  6. Kẻ ở lại, tâm xào phế can.
Bản “Vọng Cổ” “Văng vẳng tiếng chuông chùa” của Lư Hòa Nghĩa, nhịp 8.
  1. Văng vẳng tiếng chuông chùa, giọng công phu xa đưa của đoàn sư vãi.
  2. Ba tiếng chuông ngân, giọng chuông thức tỉnh dường như khêu gợi mối bi tình trên cỏi tạm trần ai.
  3. Chớ để đa mang làm chi, khối tương tư oằn vai mệt xác, càng nặng dạ đau lòng.
  4. Tôi tưởng ai mà năm canh mơ màng trằn trọc, chỉ nghe giọng thê lương buồn thảm của đàn dế khêu gợi bên cánh đồng.
  5. Chồng chất mối tơ duyên, tôi biết cùng ai đâu hầu giải tỏ mối duyên phần.
  6. Mây hồng một giải xa xa, kìa đàn chim líu lo chíu chit dường như khêu gợi nỗi lòng của người đang oằn quại thê lương

Danh ca Năm Nghĩa mở màn cho lối ca vọng cổ nhịp 8, rồi lần lượt nhịp 16, nhịp 32, nhịp 64 sau nầy để rồi nhờ vào bản vọng cổ mà nhiều nam nữ nghệ sĩ được phong vương, được phong cải lương chi bảo, được phong nữ hoàng…

Cảm tưởng của cha đẻ bản “Dạ Cổ Hoài Lang” từ nhịp 2 lần lượt thành nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32, nhịp 64.

Ông Sáu Lầu nói là phải cám ơn thằng Năm Nghĩa, nếu nó không chế biến ra thành bản vọng cổ Bạc Liêu 8 nhịp thì bài “Dạ Cổ Hoài Lang” của tôi cũng giống như các bài Oán, bài Nam “Bất Biến” theo khuôn khổ cũ như bao nhiêu bản cổ nhạc thì làm sao mà nó được phát triển và được mọi giới ưa thích như ngày nay.

Những bước đi của cải lương, từ “Ca ra bộ” đến lên sân khấu trình diễn có y trang, tranh cảnh đẹp mắt nhưng cải lương có nhiều hình thức trình diễn khác nhau tùy theo từng giai đoạn phát triển, do đó cũng xuất hiện nhiều thầy tuồng (soạn giả) với nhiều loại tuồng khác nhau. Xin kể một ít soạn giả tiêu biểu sau đây:

Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền:

Ông sinh năm Đinh Sửu (1876) tại làng Thạnh Hòa, xã Trung Nhứt, quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên (nay thuộc tỉnh Cần Thơ), con của ông Nguyễn Văn Tường và bà Trương Thị Thạnh. Ông học hết chương trình tiểu học, rồi học chữ Nho với thân phụ và tự học Pháp văn. Ông làm thơ ký cho hảng rượu nếp Phước Hiệp của ông Vương Thiệu. Ông chủ hảng nguyên là kép hát Tiều, nên hay mời các nghệ sĩ đoàn hát Tiều về hát cho công nhân xem trong các cuộc vui lễ lộc và nhờ đó ông có dịp học đờn cò và học hát. Do tiếp xúc nhiều như vậy nên ông giỏi tiếng Tiều.

  • Năm 1922 nhân dịp con trai ông chủ hảng lập gánh hát Tập Ích Ban, ông được mời làm soạn giả. Ông viết 27 tuồng dựa theo cốt truyện Tàu, dã sử Việt Nam và xã hội trong bảy năm làm thầy tuồng cho gánh hát nầy.
  • Năm 1923, ông được Bạch công tử và cô Phùng Há mời làm soạn giả cho gánh Huỳnh Kỳ. Ông viết 12 tuồng cho Huỳnh Kỳ.
  • Năm 1929 Ông bầu Nguyễn Bá Phượng gánh Hữu Thành ở Thốt Nốt mời ông làm soạn giả. Ông viết 5 tuồng cho gánh nầy.
  • Năm 1935 ông Nguyễn Bữu ở Trà Vinh và cô Phùng Há lập gánh Phụng Hảo 4. Ông làm soạn giả và viết 7 tuồng, trong đó có hai vở tuồng San Hậu và Phụng Nghi Đình đến nay vẫn còn được nhiều đoàn hát đem ra trình diễn và nhiều nữ nghệ sĩ được nỗi danh với vai diễn Điêu Thuyền trong vở Phụng Nghi Đình.
  • Năm 1937, gánh Hữu Thành tái sanh và gánh hát Kỳ Quan của ông Năm Hí thành lập. Ông làm soạn giả một lượt cho cả hai đoàn. Thời gian nầy ông viết được 17 tuồng.
  • Năm 1939, ông làm soạn giả cho gánh Ngự Bình của bầu Tư Thới, ông sáng tác 8 vở tuồng Tàu và dã sử cho Ngự Bình.
  • Năm 1952, ông Châu văn Sáu và cô Phùng Há lập đoàn cải lương Phụng Hảo 4, soạn giả Mộc Quán viết tuồng hương xa, lấy Nhật Bổn làm bối cảnh, tuồng mang tên “Luống cày rướm máu”. Tuồng nầy hát được một tuần lễ tại rạp Nguyễn Văn Hảo thì phải ngưng, vì Ông Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền bị tai biến mạch máu não và từ trần tại bịnh viện Châu Đốc vào ngày 21 tháng chin năm Quý Tỵ (1953). Cô Phùng Há, ông Châu Văn Sáu và nhiều nghệ sĩ tiền phong như Năm Châu, Bảy Nhiêu, cô Năm Phỉ, cô Kim Cúc, cô Kim Lan… đi về dự lễ an táng soạn giả kỳ cựu Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền nơi quê quán của ông tại xã Trung Nhứt, Quận Thốt Nốt. Cô Phùng Há đứng ra xây mộ cho ông, vì cô Bảy vừa là học trò, vừa là dưỡng nữ của ông. Là thầy tuồng có tài, ông đã trực tiếp dạy nghề hát cho các nghệ sĩ: Phùng Há, Năm Châu, Bảy Nhiêu, Năm Phỉ, Kim Cúc, Kim Lan (ái nữ của ông Bảy Nhiêu). Ông được các nghệ sĩ tiền phong kính trọng như bậc minh sư và các nghệ sĩ trẻ sau nầy kính trọng ông như là hậu tổ của cải lương.
Mộng Vân: Soạn giả cha đẻ của cải lương kiếm hiệp

 Soạn giả Mộng Vân, tên thật là Nguyễn Văn Trung sanh năm 1910 tại Bạc Liêu, học hết tiểu học rồi nghỉ học, ở nhà phụ cha mẹ buôn bán tạp hóa ở bên hông Chợ Bạc Liêu. Năm 14 tuổi, Mộng Vân học đờn kìm với nhạc sư Lê Văn Chột. Soạn giả Mộng Vân là bạn đồng môn với Bảy Cao, Năm Nghĩa. Năm 20 tuổi, ông làm trưởng ban đờn ca tài tử tỉnh Bạc Liêu, chuyên cây đờn kìm, nhạc sĩ Trịnh Thiên Tư, Ba Chột đờn sến, Tư Bình đờn cò, Năm Nhỏ đờn lục huyền cầm. Dàn ca sĩ có: Phong Sắc, Sanh Lợi, Mộc Thái, Ngọc Cầm, Tư Yến…

Ông Mộng Vân có biệt tài sáng tác các bài cổ nhạc vắn, nhạc sư Trịnh Thiên Tư viết lời ca. Hai ông đã góp phần làm phong phú hóa các tiết mục đờn ca tài tử, để rồi sau đó hai ông sử dụng các bản nhạc vắn nầy vào các tuồng cải lương do Mộng Vân viết.

Năm 1932, Phong Sắc lập gánh hát Phong Sắc mà diễn viên là các ca sĩ của ban đờn ca tài tử Bạc Liêu và Mộng Vân làm soạn giả.

Tuồng kiếm hiệp của Mộng Vân theo công thức: tình tiết éo le, gay cấn để rồi có trận đấu dao găm (poignard), kép phi thân bay qua cửa sổ, ca vọng cổ và phựt đèn màu. Trong 20 năm viết tuồng hát, soạn giã Mộng Vân cho ra đời 80 tác phẩm mở màn cho một nghệ thuật ca diễn cải lương sôi nỗi, đáp ứng được thị hiếu của số đông Khán giả yêu chuộng tuồng tích giựt gân, sống động.

Hoa Sen (Bảy Cao) một sân khấu cải lương với tuồng tích chiến tranh có súng nổ “cắt bùm”.

Danh ca Bảy Cao là cha đẻ ra sân khấu “cắt bùm” rất ăn khách vào những năm sau chiến tranh 1954. Ông bà Bảy Cao đi đứng bằng xe hơi đắt giá và có cơ sở đất cát ở Phú Lâm mà ai lên xuống qua lại trên trục lộ Sài Gòn-Mỹ Tho đều thấy hai chữ Hoa Sen lớn ở mặt tiền một biệt thự sang trọng.

Khán giả của Hoa Sen thưa dần và Hoa Sen cũng tàn lụi ít lâu sau.

Nhóm “Con Tằm” với sân khấu cải lương tuồng xã hội:

Ông Năm Châu đứng đầu nhóm với sự tán thành của Tư Chơi, Năm Nở, Tư Trang để thực hiện sân khấu “đẹp” “thật”. Đây là thời kỳ phát triển của cải lương theo chiều hướng tuồng xã hội. Khi trình độ thưởng ngoạn của công chúng lên cao, quan niệm sân khấu phản ảnh cuộc đời, hay cuộc đời là sân khấu, thì tuồng xã hội phát triễn theo nhu cầu đòi hỏi của khách mộ điệu. Khán giả thích thú với các nghệ sĩ mình ưa thích trong những vai diễn mà mình có thể gặp ở đời thường. Tuồng “Con gái chị Hằng” Khán giả nhớ hoài Hữu Phước trong vai diễn “cậu tư Kiên” lái heo, vì vai nầy là hình ảnh của một người mà ai cũng có thể gặp ở lò heo Chánh Hưng hay gặp bất cứ vùng quê nào, với lối nói năng của một nông dân đầy ấp “quốc văn giáo khoa thư”, có nghĩa là có tình có nghĩa của người dân miền Nam Việt Nam. Đơn cử thêm, khán giả cũng gặp được Hương (The) một cô thôn nữ trẻ đẹp bị một chàng nhạc sĩ bất lương luờng gạt tình đến mang bầu và phải lăn lộn vào chốn bùn nhơ trong “Nửa đời hương phấn”. Khán giả bình dân gọi tuồng xã hội là tuồng Tây vì diễn viên ăn mặc như dân chúng sinh hoạt hằng ngày.

Như đã nói trên, ông Năm Châu là người cổ súy cho phong trào tuồng xã hội và càng về sau, loại tuồng nầy rất ăn khách vì các soạn giả lớp sau viết tuồng xã hội với một văn phong trẻ trung, mượt mà, đáng kể là cặp Hà Triều-Hoa Phượng, Kiên Giang, Nguyễn Phương và ê-kíp soạn giả thường trực của Thanh Minh-Thanh Nga.

Nhìn qua những bước đi của Cải lương, chúng ta phải nhìn nhận cải lương phát triễn không ngừng cải biến, sáng tạo, áp dụng: Cầm, Ca,Vũ, Nhạc, Hội họa vào cải lương, nhờ những nhạc sĩ tài ba, những văn nghệ sĩ yêu cải lương, nhứt là từ khi bản “Dạ Cổ Hoài Lang” của ông Sáu Lầu ra mắt năm 1918, là liều thuốc tiên trên địa hạt sân khấu và cả trên địa hạt dĩa nhựa. Ngoài nhạc sĩ, văn thi sĩ, họa sĩ, soạn giả thì các nam nữ nghệ sĩ đã đua tài để diễn các vai tuồng khác nhau của các soạn phẩm mới lạ, làm say mê khán giả qua nhiều thời kỳ phát triễn của sân khấu cải lương. Vì vậy khán giả luôn luôn ái mộ thương yêu cải lương.

Ai lập bản khai sanh cho cải lương?

Theo từng bước đi của cải lương, chúng ta nhớ năm 1910 ông Tư Triều bắt đầu đem dàn đờn ca tài tử của ông ra đờn ca trước công chúng ở rạp hát bóng Thầy Hộ tại Mỹ Tho và Nhà Hàng Cửu Long Giang ở Sài Gòn. Đó là bước đầu của ca ra bộ, để rồi một số văn nhân, thi sĩ, công chức cao cấp, lợi dụng không khí hơi “thoáng” một chút sau thế chiến thứ nhứt chấm dứt để chế biến, sửa đổi hát bội thành một sân khấu trình diễn khác, được gọi là Cải Lương.

Người đứng ra làm bản khai sanh cho cải lương là soạn giả kiêm nghệ sĩ và cũng là giáo sư phân khoa kịch nghệ trường Quốc Gia Âm Nhạc: Ông Duy Lân.

Địa điểm:

Trụ sở hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Tương Tế.
131-133, đường Cô Bắc, SàiGòn.

Thời gian:

Vào năm 1967 nhân dịp tổ chức cuộc hội thảo “Kỷ niệm 50 năm sân khấu Cải lương”

Làm bài toán trừ, (1967-50 = 1917), thì ra năm sanh của cải lương là 1917.

Năm sanh của cải lương kể như chánh thức, vì có sự chứng kiến của các bực cha chú, những ân nhân, những nhà báo nặng lòng với cải lương, những soạn giả và một số đông nam nữ nghệ sĩ, kể cả những nghệ sĩ tiền phong:

  • Học giả kiêm nhà khảo cổ Vương Hồng Sển, cụ Á Nam Trần Tuấn Khải, ông Thanh Trung Trần Văn Khải, nhà nghiên cứu, kiêm soạn giả hát bội ông đốc phủ sứ Đỗ Văn Rỡ, nhà báo sáng lập giải Thanh Tâm ông Trần Tấn Quốc.
  • Các ký giả kịch trường luôn thương quý cải lương: Nguyễn Ang Ca, Tô Yến Châu, Phùng Mậu, Lê Hiền, Phong Vân, Ngọc Linh, Hồng Sơn, Hoài Ngọc…
  • Soạn giả các đoàn hát đang diễn ở SàiGòn
  • Các nghệ sĩ tiền phong: Năm Châu, Phùng Há, Ba Vân, Duy Lân, Ba Thâu, Năm Lâu, Hai Nữ, Kim Cúc, Kim Chưởng, Minh Tơ, Thành Tôn, Chín Viễn, Tám Vân, Việt Hùng-Ngọc Nuôi, Hoàng Giang-Kim Giác.
  • Các nghệ sĩ trẻ: Thanh Nga, Bích Sơn, Kim Hoàng Như Mai, Thành Được, Hữu Phước, Ngọc Hương…
  • Thơ Ký đoàn: Ngọc Văn, Nguyễn Phương, Ngọc Linh và Kiên Giang.
  • Thuyết trình viên: Ông Duy Lân đọc tham luận “Lịch sử 50 năm sân khấu cải lương” được cử tọa tán thành.

Tôi chỉ ghi lại vài mẫu chuyện lan man về cải lương từ 1911 đến 1975, vì sau 1975 thì cải lương cũng theo vận nước nỗi trôi chưa biết ngày nào hồi sinh.

Trước khi chấm dứt, tôi xin ghi mấy địa chỉ cần thiết để bà con có dịp thuận tiện đến thăm bạn bè, nghệ sĩ đang an giấc nghìn thu nơi Nghĩa Trang Nghệ sĩ tại xã Hạnh Thông Tây, Gò Vấp. Đó là những người lúc sinh thời đã từng là anh hùng, từng là hoàng tử, từng là tiểu thư khuê các trong các vai diễn, đã dâng hiến cuộc đời mình đêm đêm đem tiếng hát, câu ca làm vui lòng khách mộ điệu cầm ca, nơi đây cũng là nơi an nghỉ cho các soạn giả, hay các nhạc sĩ của các đoàn hát đã để lại bao mến thương cho tao nhân mặc khách ngưởng mộ.

Có được nghĩa trang và một kiển chùa Nhật Quang Tự cũng là công trình của tập thể nghệ sĩ mà phải công nhận hai công trình nầy thực hiện được hoàn hảo là do một phần lớn sự góp công và uy tín lớn lao của cô Bảy Phùng Há. Cô Bảy suốt cuộc đời mình chỉ phục vụ cho sân khấu và dìu dắt đàn em, con cháu. Thật là một tấm gương sáng của một nghệ sĩ gương mẫu.

Một công trình đáng được nhắc nhở nữa là Nhà Dưỡng Lão Nghệ sĩ ở trong hẻm nhỏ đường Âu Dương Lân, Quận 8.

Tôi ao ước cải lương sẽ bừng sống lại một ngày không xa, tùy theo vận nưóc “hết cơn bỉ cực tới hồi thới lai”. Mong Thay!

http://dongnaicuulongucchau.org.au/tapsan02/subpages/nc_cailuong.html

TRẦN VĂN KHÊ : GÁNH HÁT CỦA THẦY NĂM TÚ, GÁNH HÁT HUỲNH KỲ & GÁNH HÁT ĐỒNG NỮ BAN


GÁNH HÁT CỦA THẦY NĂM TÚ, GÁNH HÁT HUỲNH KỲ & GÁNH HÁT ĐỒNG NỮ BAN

GÁNH HÁT CỦA THẦY NĂM TÚ, GÁNH HÁT HUỲNH KỲ & GÁNH HÁT ĐỒNG NỮ BAN

A. GÁNH HÁT THẦY NĂM TÚ

Theo các nghệ nhân thì ca ra bộ là tiền thân của hát Cải Lương. Mặc dầu đa số các sử gia về hát Cải Lương đều cho rằng ca ra bộ xuất hiện tại tỉnh Vĩnh Long năm 1917, tại nhà ông cai tổng Tống Hữu Định với bản “Tứ Đại Oán” – bài “Bùi Kiệm thi rớt trở về”. Theo tư liệu của TS Mai Mỹ Duyên thì ca ca bộ đã được nhạc sư Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) đề xướng ra cách ca tài tử đứng dựa cột cạnh một chậu kiểng năm 1916. Mãi đến năm 1920, danh từ Cải Lương mới được dùng để chỉ một bộ môn nghệ thuật sân khấu đổi mới, ngang qua câu đối mà gánh hát Tân Thinh đã treo lên trong các cuộc biểu diễn:

“Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh”

Nhưng trước năm 1920 tại Mỹ Tho đã có sự kiện Cải Lương được phổ biến rộng rãi trong các dĩa hát của hãng dĩa Tây Pathé Phono. Nhờ việc thầy Năm Tú – một người yêu nhạc Tài Tử & Cải Lương – từ năm 1917 đã mua lại gánh hát xiệc (cirque) của ông André Thận (là người đầu tiên đem ca ra bộ lên sân khấu biểu diễn giữa những màn hát xiệc). Thầy Năm Tú khi lập gánh hát phối hợp tất cả những tiết mục Ca Ra Bộ ăn khách trong một buổi diễn gồm toàn Ca Ra Bộ, và sau đó thầy thấy rằng nội dung các bài Ca Ra Bộ không cùng đi với nhau nên thầy nhờ một nhà nho là ông Trương Duy Toản – người đã từng tham gia phong trào Đông Du – đứng ra làm thầy tuồng và đặt những vở tuồng đầu tiên theo tích của “Kim Vân Kiều”.

Năm 1918 thầy Năm Tú cho xây cất một rạp hát đầu tiên tại Mỹ Tho rất rộng rãi và có đủ bề cao trên sân khấu. Thầy có mời một hoạ sĩ danh tiếng vẽ tranh cảnh để làm phông trang trí cho sân khấu cùng 2 bên cánh gà. Khán giả chia ra làm 3 hạng: hạng nhứt, hạng nhì, hạng ba; và 2 bên sân khấu có một số phòng đặc biệt cho khách quý. Nhờ có rạp hát khang trang và chương trình đầy đủ, tụ họp được nhiều đào kép danh tiếng: Tám Danh (Nguyễn Phương Danh), Ba Du, Bảy Thông, Phùng Há, Năm Phỉ, Năm Thoàn… nên hãng Pathé Phono bằng lòng ghi âm lại những bài ca cải lương và có khi ghi cả tuồng với câu mở đầu: “Bạn hát của thầy Năm Tú, ca cho hãng Pathé Phono nghe chơi”. Thầy Năm Tú cũng cho làm máy hát tại Việt Nam, để hình con chó ngồi nghe và trên dĩa hát có hình con gà màu đỏ, sau đó đem bán khắp nơi. Nhờ vậy mà hát Cải Lương vừa mới thành hình đã được dĩa hát phổ biến rộng rãi khắp thôn quê.

Thầy Năm Tú tên thật là Châu Văn Tú, có người gọi là ông Pierre Tú vì ông là người có quốc tịch Pháp, sanh tại làng Vĩnh Kim. Phu nhơn của thầy Năm Tú là cô Tám Hảo – em ruột của cô Năm Thoàn (đào hát của gánh hát thầy Năm Tú). Thầy Năm Tú là người hào hoa phong nhã, là người Việt Nam đầu tiên mua chiếc xe hơi (xe auto) tại nước Việt. Sau mấy năm, nhờ rạp hát và dĩa hát làm ra tiền, thầy Năm Tú sanh ra tật xài lớn, sử không có ghi chép tại lý do gì, nhưng thấy làm ăn ngày càng sa sút, đến nỗi phải bán rạp hát cho người khác. Rạp hát đó vì vậy mà thay đổi tên nhiều lần. Có người mua rạp hát đó để làm rạp chiếu bóng, và mang tên là Ciné Palace. Đến sau một lần đổi chủ, rạp hát mang tên Vĩnh Lợi Giang, hiện giờ rạp hát đó vẫn còn và mang tên là rạp hát Tiền Giang tại tỉnh lị Mỹ Tho.

Mặc dầu thầy Năm Tú không phải là một kép hát, nhưng thầy Năm Tú có công xây dựng một rạp hát đầy đủ phương tiện, là một cơ ngơi xứng đáng cho những buổi diễn lớn. Ông lại có công gắn liền tên gánh hát của mình vào dĩa hát Pathé Phono và đã phổ biến lối hát cải lương vào những nơi hẻo lánh, đồng thời tạo điều kiện cho những đào kép giỏi có chỗ hành nghề, xây dựng tên tuổi. Các nghệ sĩ Tám Danh, Ba Du, Năm Châu… đều coi thầy Năm Tú như là một ân nhân giúp cho các nghệ sĩ đó bước chân vào nghề và tiến bộ trong nghệ thuật cải lương.

B. GÁNH HÁT HUỲNH KỲ

Ban tổ chức chỉ đề nghị tôi nói rõ xuất xứ và sự phát triển của hai gánh hát là gánh của thầy Năm Tú và gánh của Đồng Nữ Ban như là điển hình của nghệ thuật cải lương tại Tiền Giang. Nhưng tôi nhớ lại cùng gần một thời với gánh thầy Năm Tú, có Bạch công tử – tên thật là Lê Công Phước, con của ông Lê Công Sùng, là người tuy không phải trong nghề đờn ca tài tử, nhưng đã được cùng đi một lúc với dàn nhạc đờn ca tài tử của ông Nguyễn Tống Triều sang dự cuộc đấu xảo thuộc địa tại Pháp. Nhờ vậy ông Lê Công Phước thuở nhỏ đã được có dịp du học bên Pháp. Năm 1926, ông Lê Công Phước gặp một người đam mê âm nhạc tài tử – cải lương tên Nguyễn Ngọc Cương. Hai người hùn lại lập nên gánh Phước Cương (lấy tên ghép của Lê Công Phước và Nguyễn Ngọc Cương) rất hùng hậu. Và gánh Phước Cương đã tập hợp tất cả các đào kép giỏi thuở ấy. Bạch công tử có cất một rạp hát ở sát cạnh nhà của mình. Ông Lê Công Sùng (thân phụ ông Phước) tuy là người miền Trung nhưng vào lập nghiệp tại Mỹ Tho. Như vậy tại Mỹ Tho có hai rạp hát cho nghệ thuật cải lương. Nhưng đến năm 1927, Bạch công tử tách riêng và lập một gánh hát khác mang tên là Huỳnh Kỳ, có cờ vàng làm biểu hiệu. Các gánh hát khác di chuyển bằng thuyền chèo (ghe), mà chỉ có gánh Huỳnh Kỳ là di chuyển bằng thuyền (ghe) máy. Chiếc ghe đầu dành riêng cho chủ gánh là Bạch công tử, có hai từng và nhiều phòng đầy đủ tiện nghi (phòng ngủ, phòng ăn, phòng giải trí…). Chiếc ghe máy thứ nhì dành riêng cho đào – kép hát. Chiếc ghe thứ ba dành cho dàn đờn và những người dọn lớp. Nhưng rồi cũng như gánh thầy Năm Tú, Bạch công tử làm ăn sa sút và gánh hát Huỳnh Kỳ lại tan rã. Đào – kép chia nhau tìm gánh khác hoặc lập ra gánh hát để mưu sinh.

Trong giai đoạn đầu tiên, khi hát cải lương mới được hình thành thì tại Mỹ Tho đã có 3 gánh hát góp phần không nhỏ cho việc phát triển cải lương về mặt nghệ thuật và tổ chức. Nhưng phải đến 1927, gánh Đồng Nữ Ban ra đời tạo một loại gánh hát rất đặc biệt không dùng đào – kép rành nghề, và lập ra không phải với mục đích mưu sinh mà để khơi dậy tấm lòng yêu nước của người Việt ngang qua tuồng tích. Một gánh cải lương mà có kỷ luật như một trường nội trú, đòi hỏi diễn viên không phải chỉ biết hát mà còn phải có văn hoá. Sau khi trang trải tất cả các chi phí, tiền lời dùng để giúp cho những nhà cách mạng.

C. GÁNH HÁT ĐỒNG NỮ BAN

Trong lịch sử Cải Lương, năm 1927, với sự thành lập gánh hát Đồng Nữ Ban, là một năm đáng ghi nhớ, vì sự chuyển mình về hình thức và nội dung rất quan trọng. Rất nhiều chuyên gia viết về lịch sử Cải Lương thường lướt qua năm 1927 và ghi tên của gánh Cải Lương Đồng Nữ Ban, mà không ngờ rằng gánh này không phải là một gánh Cải Lương thường như Văn Hý Ban hay Tập Ích Ban.

Gánh này rất đặc biệt về hình thức lẫn nội dung. Chúng tôi chỉ ghi lại những nét đặc thù khó tìm trong một gánh Cải lương khác.

I. Diễn viên:

1. Toàn thể diễn viên là những người thôn nữ chưa bao giờ biết nghề hay xuất hiện lên sân khấu. Do đó, gánh hát mang tên Đồng Nữ Ban.

2. Các diễn viên được đào tạo về nghề nghiệp, nhưng bắt buộc phải học văn hóa như những học sinh trường trung học. Và học võ thật sự với một người thầy võ Bình Định.

3. Thời khóa biểu rất chặt chẽ trong cả tuần và các diễn viên phải tuân theo kỷ luật được đặt ra:

– Trong nhà thì các diễn viên mặc áo bà ba, nhưng khi ra đường (đến rạp hát, đi chợ …) thì phải mặc áo dài tím (như Nữ sinh Trường áo tím).

– Tóc bỏ xõa và kẹp sau lưng, phải sắp hàng hai.

– Các diễn viên sống chung với nhau và theo thời khóa biểu như những học sinh nội trú: ăn, ngủ, học (văn hóa, ca, múa, võ thuật …), làm việc theo thời gian đã định.

II. Sân Khấu:

– Một họa sĩ được mời vẽ bức phông và cánh gà đặc biệt cho mỗi màn. Họa sĩ phải biết rõ nội dung vở tuồng để tạo ra những tấm phông có tính chất nghệ thuật như một bức tranh lớn.

– Giữa các lớp (hồi), một tấm màn nhung đỏ được kéo ngang để che cả sân khấu, trong lúc dọn màn, dàn nhạc đánh các bản truyền thống Việt Nam, chớ không được đánh các bản Tây như trong những gánh hát khác.

– Ánh sáng được thiết kế như các rạp hát lớn để làm nổi bật các diễn viên.

III. Trang phục và đạo cụ:

– Xiêm y của các vai do cô Ba Viện thiết kế và sáng tạo. Cô may, thêu thùa rất khéo, nên cô đã tạo ra những bộ đồ võ cho vai Võ Đông Sơ, không phải như áo giáp của Hát Bội, cũng không như đồ lụa của Hát Quảng, Hát Tiều, mà những trang phục mang tính chất Việt Nam. Màu sắc cũng được chọn lựa rất kỹ, phù hợp với tranh cảnh.

– Khi có dịp đấu võ thì dùng gươm, giáo, kích, đoản đao, song kiếm, côn, gậy và lăn khiên … được dùng trong giới võ thuật chớ không dùng đồ giả như trong các gánh hát khác.

IV. Âm nhạc phụ họa:

– Dàn nhạc phụ họa gồm có: đờn Kìm, đờn Cò, đờn Sến, ống Sáo, ống Tiêu.

Vì diễn viên toàn là nữ nên dây đờn không lên theo hai bực phù hợp cho giọng nam hay giọng nữ, mà phù hợp cho mỗi diễn viên. Hầu hết các bài bản trong Đờn ca Tài tử đều được dùng.

– Bản “Dạ cổ hoài lang” có mặt nhưng không được dùng nhiều. Cậu Năm Nguyễn Tri Khương có đặt thêm những bài khác, tuy là nhạc mới mà âm hưởng không khác gì các bài bản cổ: “Yến tước tranh ngôn” , “Phong xuy trịch liễu”, “Thất trĩ bi hùng”, “Bắc cung Ai” …

Tiếc rằng, tuồng “Giọt lệ chung tình” chỉ diễn được không tới một năm và gánh Đồng Nữ bị mật thám của Pháp tình nghi là gánh hát của cách mạng, nên lấy lại giấy phép cho lập gánh. Sau thời gian đi lưu diễn từ làng Vĩnh Kim qua các làng lân cận, khi lên diễn tại Sài Gòn được mấy đêm gánh hát phải giải tán.

V. Tập Tuồng và lên sân khấu:

Kỷ luật rất nghiêm, những giờ tập tuồng đã ghi trên thời khóa biểu, tất cả diễn viên đều phải có mặt, trừ những trường hợp bất khả kháng. Thời gian luyện tập khá nhiều, cô Ba Viện tuy thông cảm với trình độ văn hóa, nghề nghiệp của các diễn viên, nhưng cũng còn giữ tính cầu toàn nên đòi hỏi các diễn viên phải luyện tập nhiều hơn thường.

Mỗi đêm khi lên sân khấu, diễn viên phải tụ họp lại trước, tất cả đều mặc áo dài tím như đồng phục của học sinh trường Áo tím, tóc kẹp suông, sắp hàng hai, đi bộ từ nhà tới rạp, có bốn người võ sĩ bảo vệ. Khi vào hậu trường, mỗi diễn viên phải biết tự lo trang điểm và dậm mặt, 5 phút trước khi ra tuồng phải đứng sẵn sàng tại cánh gà. Hết lớp tuồng phải trở về phòng trang điểm, để nếu cần biết chỗ đi gọi. Sau khi hạ màn chót, trang phục phải xếp kỹ rồi lại mặc áo dài, kẹp tóc, sắp hàng hai đi về nhà hay xuống chiếc ghe chài lớn dùng cho việc ăn ở và di chuyển khi lưu diễn.

VI. Vài nét đặc biệt trong kịch bản các vở Tuồng:

1. Hầu hết các câu nói lối, Ông Năm Khương (Nguyễn Tri Khương) viết theo lối văn biền ngẫu, có vần, đối đáp, nội dung gợi lòng yêu nước và tự hào dân tộc.

Có những đoạn đối với hoàn cảnh nước Việt Nam, thuộc địa của Pháp, bị cho là có tính chất “cách mạng” chống Pháp. Như khi Võ Đông Sơ đánh bại tướng cướp, đạp chân trên mình tướng cướp hỏi:

“Sao nhà ngươi đem cường quyền đạp công lý?
Mượn võ lực dốc tung hoành?
Nhà người có biết:
Phạm tự do thì xã hội dám hy sinh
Đạp công lý quốc dân đành xả mạng?”

Tên cướp ngụy biện trả lời: (trong lớp Ú của bài “Tây Thi”)

“Nước non vẫn cũng nước non
Kẻ lầu son, kẻ sao phận bạc
Thân trâu ngựa nên tâm hồn cũng trâu ngựa”

thì Võ Đông Sơ ngắt lời và nói:

“Nhà ngươi nên nhớ
Lấy bạc tiền làm nô lệ cho thân hình
Chớ nhà ngươi đừng để
Vì tiền bạc mà thân hình làm nô lệ
Ôi tệ ôi rất tệ ! ! ! …”

2. Tất cả bài bản trong truyền thống Đờn ca Tài tử đều được dùng. Và có những bản mới do Ông Năm Khương đặt như đã viết bên trên.

Cốt chuyện là một mối tình cao thượng giữa Bạch Thu Hà và Võ Đông Sơ.

Trong những lớp sau có nhiều đoạn rất hay, chúng tôi chỉ đơn cử lại một vài thí dụ nhỏ như tên bán quán nhất định không bán hàng hóa du nhập từ nước ngoài, chỉ dùng toàn thổ sản, lời lẽ đối đáp theo văn biền ngẫu:

Đốt than Tòng nấu thịt đa đa
Nhen lửa Bá hâm lòng quốc quốc
Dùng chảo sắt xáo tan bầy hổ đất
Lấy nồi đồng nấu rụi đám cải trời.
Giống khum lưng là đồ tôm luộc để ăn chơi
Thứ co gối là ếch xào xơi nhậu lủi
(ám chỉ những người sợ chánh quyền phải khom lưng co gối)

Tuy mở đầu trước khi vào tuồng theo phong cách của Cải Lương thuở ấy, phải có một lớp đầu tất cả đào kép đứng lên sân khấu ca bài “La Madelon” và khi vãn tuồng phải ca phần điệp khúc của bản “La Marseillaise”, nhưng lời của bài ca cậu Năm Khương đặt ra mang đậm tư tưởng dân tộc, như những câu dân ta phải giúp cho ta (bài “La Madelon”); máu nóng quyết rưới vì nước (bài “Madelon de La Victoire”). Cuối cùng thay vì điệp khúc của “La Marseissllaise” là quốc ca Pháp, cô Ba Viện và cậu Năm Khương đồng ý thay vào bài “Long Hổ hội”, vì thế chánh quyền thuộc địa đã để ý và theo dõi gánh hát từ lúc mới lập đến ngày bị thu hồi giấy phép.

VII. Mục đích của gánh Đồng Nữ:

Gánh hát Đồng Nữ được lập ra không phải để kinh doanh, vì tất cả những tiền lời sau khi trang trải mọi chi tiêu được cô Ba Viện chuyển giúp đỡ cho những nhà cách mạng.

Gánh hát được lập ra không phải để cho khán giả “mua vui cũng được một vài trống canh” mà để giáo dục quần chúng, khơi dậy lòng yêu nước và kỷ luật của diễn viên, văn chương của kịch bản cốt để xóa tan ý kiến “xướng ca vô loại”.

Trong khi các gánh hát khác chuyển hướng theo Tây, theo Tàu, thì gánh Đồng Nữ đề cao tính dân tộc trong tranh cảnh, trang phục và kịch bản.

Vì những lẽ trên đây mà tôi thấy rằng, năm 1927, và sự kiện ra đời của gánh hát Đồng Nữ Ban, là những điểm đáng nhớ và là một dấu son đáng ghi lại trong lịch sử của kịch nghệ Cải lương. Tiếc rằng trong những bài viết hoặc các quyển sách về Cải lương chưa có ai nhắc đến sự kiện này một cách đầy đủ!

Sau khi nhìn qua nội dung và hình thức của gánh Cải lương Đồng Nữ Ban, tôi thấy rằng nghệ thuật Cải lương là một nét đặc thù của văn nghệ Miền Nam Việt Nam. Cải lương có khả năng diễn tả những đề tài mà bộ môn nghệ thuật khác khó làm được. Cải lương tiếp thu kinh nghiệm của những bộ môn sân khấu khác nhưng có tính chất động nên dễ phát triển. Tôi muốn mượn lời của Nghệ sĩ nhân dân Năm Châu đã nói về bộ môn Cải lương mà suốt đời anh gắn bó để kết thúc:

“Cải lương là sản phẩm của nhân dân, phản ánh trung thực nhất sự tiến thoái của dân tộc. Trải qua những biến cố thăng trầm nó vẫn còn mãi với nhân dân và nhất định không bao giờ bị tiêu diệt”.

TRẦN VĂN KHÊ
Bình Thạnh 18.01.2014

(Bài viết trong kỷ yếu Hội thảo: “TIỀN GIANG LÀ CÁI NÔI CỦA HÁT CẢI LƯƠNG” do Uỷ ban Nhân Dân tỉnh Tiền Giang tổ chức 2014)

TVK tại cảnh vườn Sceaux năm 1954

Đây là cảnh vườn Sceaux năm 1954 cạnh nhà dưỡng bịnh cho những sinh viên từ các nhà dưỡng lao trở về nằm tại đây để bác sĩ theo dõi trong 2-3 tuần lễ trước khi trở về với cuộc sống bình thường. Vườn hoa này rất đẹp, quanh năm luôn luôn có nhiều sắc hoa, là nơi du ngoạn cho người trong thành phố, hầu hết là những người khá giả, lại có trường đại học Sceaux là một trường danh tiếng. Sau khi chụp tấm ảnh này thì độ 2 tuần lễ sau tôi được xuất viện và tiếp tục học tại Sorbonne để bảo vệ luận án Tấn sĩ.

Sáng nay thấy thoải mái trong người nên muốn mời các bạn cùng quay ngược dòng thời gian để cùng dạo chơi với Trần Văn Khê một thời tuổi trẻ xa xưa, hít thở không khí trong lành và ngắm những đoá hoa tươi làm dịu mát cả tâm hồn…

Maître VĨNH BẢO : LE HÁT BỘI ET LE CẢI LƯƠNG.


LE  HÁT BỘI ET LE CẢI LƯƠNG.

 

D’après la tradition, le HÁT BỘI, art dramatique authentique, aurait été introduit au Vietnam au début du XIVème siècle par un acteur chinois faisant partie d’une armée d’invasion, et qui aurait été fait prisonnier par les Vietnamiens.

Les sujets que traite le HÁT BỘI sont d’ordinaire empruntés aux histoires romancées chinoises.

Les Vietnamiens  aiment beaucoup l’art scénique. Il n’y a pas de fête de village où les offrandes rituelles aux Génies titulaires ne comportent quelques soirées de HÁT BỘI.

Sous l’accumulation des conventions de mise en scène, à travers les costumes voyants, barbes longues, maquillages qui font peur aux enfants,  auxquels les jeunes Vietnamiens ne sont pas habitúés, les gestes qui peuvent les surprendre, les paroles d’une littérature savante qu’ils ne comprennent pas, cet art leur est méconnu et qui préfèrent le Théâtre Cải Lương d’allure plus jeune. Dans le Théâtre CẢI LƯƠNG les artistes s’habillent comme les Vietnamiens le sont d’habitude et jouent des comédies le plus souvent calquées sur celles du cinéma.

L’action du théâtre sur l’évolution intellectuelle du peuple Vietnamien est certaine. Son influence est beaucoup plus direct que celle du livre sur les masses qui ne lisent pas, car le pourcentage d’illettrés est encore élevé.

Vĩnh Bảo Image

THU THẢO : Biểu diễn cải lương phục vụ khán giả Long An, VIETNAM


Biểu diễn cải lương phục vụ khán giả Long An

Thứ hai, 25/11/2013, 01:09 (GMT+7)

(SGGP).– Tối 24-11, tại UBND xã Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, Đoàn 1 – Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang (TPHCM) đã tổ chức biểu diễn vở cải lương Tiếng vạc sành (tác giả Trung Dân, chuyển thể cải lương Hoàng Song Việt, đạo diễn Phan Quốc Kiệt) – vở diễn từng đoạt huy chương bạc tại Hội diễn sân khấu cải lương chuyên nghiệp toàn quốc năm 2012, phục vụ đông đảo khán giả mộ điệu cải lương. Đây là một trong những hoạt động “Giao lưu văn hóa nghệ thuật” giữa Sở VH-TT-DL TPHCM và tỉnh Long An. Vở diễn có sự góp mặt của các nghệ sĩ: Dương Thanh, Quỳnh Hương, Tô Tấn Loan, Lý Thu, Hoàng Hải, Điền Trung, Lê Thanh Thảo, Hoàng Minh Vương…

Tiếng vạc sành (ảnh) là vở diễn về đề tài nông thôn mới, nơi có lũy tre, dòng sông, bến nước, con đò và tiếng côn trùng kêu lảnh lót mỗi khi đêm về. Vở diễn khắc họa những gam màu sáng tối trong cuộc sống gia đình của một người mẹ miền sông nước Việt Nam. Đồng thời, qua vở diễn này ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng của những người mẹ dành cho con…

 

THU THẢO

http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2013/11/333238/

 

Đức Tuyên : Mỹ nhân trong khu dưỡng lão


:47 (GMT + 7)
 
 
TT – Lặng lẽ cảnh đời cút côi khi tuổi đã về chiều. Mơ một giấc mơ gia đình nhưng nghệ sĩ cải lương Mộng Lành, nay đã 67 tuổi, đang sống những ngày cuối đời không người thân thích nơi khu dưỡng lão.

Nghệ sĩ Mộng Lành trong vở Ngũ sắc châu Ảnh do nhân vật cung cấp

 

“Này Thần nữ!… Gươm đao chẳng dung tình, ta đem ứng luôn giả hình, tội tử phải làm gương, giữa công đường quân pháp bất vị thân…”.

Hình ảnh oai hùng, bước đi hùng dũng, lời ca sang sảng, đó là hình ảnh nghệ sĩ cải lương Mộng Lành (tên thật Võ Hiếu Nghĩa) với vai nữ tướng Phàn Lê Huê trong vở Thần nữ dâng ngũ linh kỳ làm mưa làm gió một thời trên các sân khấu khắp vùng Nam kỳ lục tỉnh.

Thế nhưng sau hơn 30 năm rực rỡ nơi ánh đèn sân khấu, nay về già nghệ sĩ Mộng Lành của một thời là ngôi sao sáng trong làng cải lương tuồng cổ lại không nhà cửa, không chồng con, sống nương nhờ nơi khu dưỡng lão nghệ sĩ sân khấu tại Q.8, TP.HCM.

Hào quang của nữ võ tướng

Ký giả kịch trường của những năm 1960, 1970 Tần Nguyên – chủ nhiệm và quản lý khu dưỡng lão nghệ sĩ sân khấu – nhìn nghệ sĩ Mộng Lành cười vui: “Bả là một trong tứ đại mỹ nhân của cải lương tuồng cổ (còn gọi là cải lương hồ quảng) nổi danh một thời từ năm 1968-1975. Báo chí thời ấy ca ngợi bả vì có giọng hát hay, diễn xuất giỏi mà lại đẹp nữa. Lúc ấy tui muốn gặp bả viết bài là trần ai lắm”.

Nghe thế nghệ sĩ Mộng Lành liền đáp: “Vậy mà giờ đây ổng lại muốn đá tui ra khỏi khu dưỡng lão này đấy nhưng không dễ à nha”. Cả hai cùng cười. Giọng cười hai người già giòn giã như cái thủa Mộng Lành còn rong ruổi cùng các đoàn cải lương sống đời cơm chợ, ngủ đình.

Như sống lại thời xưa, nghệ sĩ Mộng Lành hồi tưởng những năm 1960-1970 cải lương chiếm lĩnh sân khấu, đình làng, đi vào lòng người từ thành phố lớn đến tận những vùng sâu trên khắp các tỉnh thành. Được báo chí thời ấy ca ngợi là một trong bốn đại mỹ nhân cải lương tuồng cổ gồm Bạch Lê, Thanh Thế, Xuân Yến, nghệ sĩ Mộng Lành cũng được người đưa kẻ đón.

“Nhưng tui sợ có chồng, có con, rồi già, thanh không còn trong, sắc tàn và không còn được đứng trên sân khấu nữa nên không dám nghĩ đến chuyện lập gia đình, sinh con” – nghệ sĩ Mộng Lành bồi hồi tâm sự. Tuổi xuân của người nghệ sĩ cứ thế bị cuốn theo ánh đèn sân khấu. “Khi nhìn lại thì đời mình đã xanh rêu” – Mộng Lành trầm tư, thực tại và quá khứ như đang đan xen trong suy nghĩ của người nghệ sĩ già này.

Chỉ còn nhớ mang máng gia đình, ba mẹ trước đây cùng sống với mình trong một căn nhà nhỏ ở Cái Răng, Cần Thơ, tuổi thơ của cô bé Võ Hiếu Nghĩa, sinh năm 1946, lặng lờ trôi như những vạt bèo trên dòng sông Cái Răng và chỉ đến khi có đoàn cải lương về diễn mới ồn ào náo nhiệt như ngày hội.

Và như những cô bé khác mê mệt trước hình ảnh của người nghệ sĩ, làn điệu, câu ca của cải lương, Hiếu Nghĩa khi gần bước vào tuổi 13 đã trốn cha mẹ, bỏ nhà theo gánh hát. Từ gánh nước, kiếm củi, đi chợ, nấu ăn, giặt trang phục… cho đến đóng vai tì nữ, vai phụ rồi có người nghệ sĩ nghỉ bệnh thì Hiếu Nghĩa mới được đóng thế. “Lần lần mình biết hát, có vai người ta cho mình diễn là hạnh phúc lắm” – nghệ sĩ Mộng Lành hồi tưởng.

Trải qua nhiều gánh hát, đến năm 1968 Hiếu Nghĩa nổi tiếng với nghệ danh Mộng Lành và về đầu quân cho gánh cải lương Khánh Hồng đóng tại đình Cầu Quan (Q.1, TP.HCM).

Hỏi vai nào tâm đắc nhất với suốt cuộc đời hơn 30 năm dưới ánh đèn sân khấu, nghệ sĩ Mộng Lành không chút đắn đo: “Đó là vai chính diện nữ võ tướng Phàn Lê Huê trong vởThần nữ dâng ngũ linh kỳ. Đây cũng là vai để đời, mang lại danh vọng và tiền bạc cho tui. Tui có thể diễn vở này 3-4 suất trong một ngày đêm. Và cứ ngày này qua ngày khác, từ thành phố đến các tỉnh xa, tui sống với vai diễn Phàn Lê Huê trên sân khấu cũng như trong đời thực vậy”.

Nhớ những ngày rực rỡ ánh đèn sân khấu, nghệ sĩ Mộng Lành rưng rưng nhớ lại người đã dìu dắt mình vào nghiệp ca hát – ấy là cố nghệ sĩ Minh Tơ. “Nghệ sĩ Minh Tơ vừa là thầy, vừa là cha và cũng là bạn của tui nữa. Ông là người thầy chính gốc, đã dạy từng tí một để tui đứng được trên sân khấu.

Nghệ sĩ Minh Tơ và anh em trong đoàn lúc ấy đi lưu diễn, sống và coi nhau như người thân trong nhà” – nhắc đến người thầy với lòng thương kính, nghệ sĩ Mộng Lành không khỏi bồi hồi. Thời thanh xuân, trắc trở trong chuyện tình cảm, gia đình, con cái, thế nhưng cuộc đời nghệ sĩ Mộng Lành những ngày cuối đời cũng rất “nghịch thường”.

Bi đát khôn cùng

“Người nghệ sĩ, nhất là nghệ sĩ cải lương trong những đoàn, gánh hát tư nhân, khi rời xa ánh đèn sân khấu thì cuộc đời sẽ bi đát khôn cùng. Bởi những nghệ sĩ cải lương này dù nổi tiếng, được nhiều người biết, công nhận tài năng nhưng không nằm trong biên chế nhà nước. Nghệ sĩ lại là người sống nghịch thường với người bình thường khác” – ký giả kịch nghệ Tần Nguyên đúc kết rồi đưa ánh mắt nhìn nghệ sĩ Mộng Lành.

Còn bà, đưa tay phải nhấc cánh tay trái bị bại liệt để vào lòng mình,  mắt ngân ngấn nước nhớ lại thời gian sau về đầu quân cho Đoàn cải lương Minh Tơ, Mộng Lành càng được ưu ái, kiếm được bộn tiền.

Thế nhưng bà cũng chẳng màng đến việc mua nhà cửa: “Tui đi diễn miết, mua nhà làm chi, sống với đoàn, ngủ trong đình, miếu… Giờ mới biết không có nhà cửa thì khổ như thế nào”. Những đồng tiền Mộng Lành kiếm được rồi cũng trôi theo son phấn. Năm 1997 Đoàn Minh Tơ tan rã, Mộng Lành lang thang các đình chùa hát tuồng kiếm cơm qua ngày.

Những oan trái khổ đau cũng xuất hiện từ đây. Năm 2006, sau một lần đi hát, ngủ đình, bà bị tai biến liệt nửa người, mồm méo, lưỡi rụt nói không rõ chữ. Thương quá, bà Trần Thị Bảy – một khán giả ái mộ tài nghệ, đã đưa bà về nhà ở Q.4 nuôi nấng, chăm sóc.

Sau một thời gian chạy chữa bệnh tật thuyên giảm, những đồng tiền ky cóp rồi cũng cạn, nghệ sĩ Mộng Lành nổi danh một thời giờ trở thành bà lão với nửa người liệt, nghiêng nghiêng bước đi trên khắp các ngõ hẻm bán vé số kiếm sống qua ngày.

Tưởng đời thế đã đủ khổ, nào ngờ con tạo trêu ngươi, nhà khán giả ái mộ Trần Thị Bảy bị giải tỏa. Bà Bảy và Mộng Lành che tấm bạt tá túc một thời gian nơi góc hè của căn nhà bên bờ sông bị giải tỏa còn sót lại, nương tựa nhau sống. Cực! Cuối cùng bà Bảy cũng phải về sống với người cháu.

Trở về quê không còn ai thân thích, nghệ sĩ Mộng Lành ở tuổi ngoài 60 trở thành người bơ vơ với xấp vé số trên tay, tiếp tục lang thang trên phố phường Sài Gòn. Phố phường tấp nập mà trong đầu cứ váng vất câu ca Nửa đời phiêu bạt tha hương, bóng quê dáng mẹ trĩu vương cõi lòng…

Cuối cùng, Ban ái hữu nghệ sĩ (thuộc Hội Sân khấu TP.HCM) cũng biết được nỗi khổ, hoàn cảnh khó khăn của Mộng Lành nên đã đưa bà vào sống tại khu dưỡng lão nghệ sĩ sân khấu từ năm 2007. Dù còn nhiều khó khăn, dù tiền ăn mỗi ngày chỉ được 22.000 đồng/người nhưng đối với bà cũng như những nghệ sĩ khác khi được sống trong khu dưỡng lão, chuyện trò cùng những bạn nghệ sĩ một thời, ấy cũng đã đủ trở thành một niềm vui rồi.

Giờ đây, mỗi tháng, Mộng Lành cũng như những người bạn nghệ sĩ già khác mong đến ngày rằm lên sân khấu (ngay trong khuôn viên khu dưỡng lão) để được diễn, được sống lại với những kỷ niệm vui buồn trong nghề đã qua. Và đó cũng là cách để các nghệ sĩ kiếm chút thu nhập, thêm vào cho những bữa cơm từ lòng hảo tâm, sự mến mộ của khán giả tự do đến xem.

“Sống tại đây như đang được ở cõi tiên vậy” – người nghệ sĩ đã nếm đủ vinh hoa và cay đắng thanh thản nói.

ĐỨC TUYÊN

https://www.google.fr/?gws_rd=cr&ei=CnlMUpjZOLT40gWRoID4DQ#newwindow=1&q=tuoi+tre+online&safe=off

 

Nghệ sĩ Mộng Lành chụp hình chung với nghệ sĩ cải lương tuồng cổ lớp đàn em Bảo Tiên – Ảnh: Đ.Tuyên

 

Chủ nhiệm khu dưỡng lão nghệ sĩ sân khấu Tần Nguyên cho biết hiện 26 nghệ sĩ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được chăm sóc và nuôi dưỡng tại khu dưỡng lão với chi phí hoạt động mỗi tháng hết 27-30 triệu đồng. Nguồn chi phí của khu dưỡng lão chủ yếu dựa vào sự ủng hộ của các mạnh thường quân thông qua Ban ái hữu nghệ sĩ Hội Sân khấu TP.HCM, một số cơ quan, báo đài… cũng như nguồn thu từ mỗi đêm rằm các nghệ sĩ tổ chức “sáng đèn sân khấu”.

CẢI LƯƠNG – HÀNH TRÌNH NGHỆ THUẬT ( tập 2 ) / dạ cổ hoài lang


CẢI LƯƠNG – HÀNH TRÌNH NGHỆ THUẬT ( tập 2 )
Published on Jun 17, 2012
Cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ.
Giải thích chữ “cải lương” (改良) theo nghĩa Hán Việt, giáo sư Trần Văn Khê cho rằng: “cải lương là sửa đổi cho trở nên tốt hơn”, thể hiện qua sân khấu biểu diễn, đề tài kịch bản, nghệ thuật biểu diễn, dàn nhạc và bài bản.
Về thời gian ra đời, theo Vương Hồng Sển: tuy “có người cho rằng cải lương đã manh nha từ năm 1916, hoặc là 1918”, nhưng theo ông thì kể từ ngày 16 tháng 11 năm 1918, khi tuồng Gia Long tẩu quốc được công diễn tại Nhà Hát Tây Sài Gòn, cách hát mới lạ này mới “bành trướng không thôi, mở đầu cho nghề mới, lấy đờn ca và ca ra bộ ra chỉnh đốn, thêm thắt mãi, vừa canh tân, vừa cải cách…nên cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ…”