TRẦN HOÀI : DÂN CA VÍ, GIẶM CẦN KHÔNG GIAN MỚI, VIETNAM


DÂN CA VÍ, GIẶM CẦN KHÔNG GIAN MỚI
 
QĐND – Thứ Ba, 09/04/2013, 22:34 (GMT+7)

QĐND – Mới đây, hồ sơ dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch gửi đến UNESCO, đề nghị xem xét công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Ví, giặm là thể hát dân ca không có nhạc đệm, được sáng tạo và phổ biến trong quá trình sinh hoạt, lao động, sản xuất, mang đậm dấu ấn bản sắc địa phương về ca từ, giọng điệu, âm điệu. Trải qua bao thăng trầm, dân ca ví, giặm vẫn khẳng định sức sống âm thầm mà bền bỉ trong đời sống nhân dân…

Trong đời sống sôi động hiện nay, cũng như dân ca của các vùng miền khác, dân ca Nghệ Tĩnh có những biểu hiện mai một đáng tiếc. Cần phải làm gì và làm như thế nào để bảo tồn và phát huy, phát triển kho tàng dân ca Nghệ Tĩnh là vấn đề vô cùng lớn và khó khăn… Nói đến bảo tồn dân ca, theo một số nhà nghiên cứu, bao gồm nhiều hình thức: Bảo tồn phục cổ, tức là bảo lưu toàn bộ giá trị nguyên dạng cả làn điệu, cả môi trường, cả không gian diễn xướng và bảo tồn hình thái văn hóa. Thực tế hiện nay, dân ca ví, giặm hiện đang được bảo tồn ở dạng văn bản, tức là các làn điệu; còn vấn đề bảo tồn không gian văn hóa, hình thái diễn xướng thì còn nhiều trở ngại… Từ những năm 70 của thế kỷ trước, ngành văn hóa Nghệ Tĩnh đã dàn dựng, thể nghiệm các vở diễn sử dụng chất liệu dân ca ví, giặm để phát triển tình huống, xung đột kịch, diễn tả nội tâm nhân vật. Quá trình đó gọi là “sân khấu hóa dân ca Nghệ Tĩnh” và tạo ra thể kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh, với những vở kịch tiêu biểu như “Mai Thúc Loan”, “Không phải tôi”, “Cô gái sông Lam”…

6969251520130409213014734

 
Liên hoan Dân ca ví, giặm xứ Nghệ năm 2012. Ảnh: http://donghuonghatinh.vn

Tuy vậy, không gian văn hóa và diễn xướng của dân ca ví, giặm không chỉ ở sân khấu, lễ hội được tổ chức “hoành tráng” mà là những nơi diễn ra sự kiện của làng xóm cư dân với sự tham gia của cộng đồng, diễn ra tại khắp mọi nơi như khi đang làm đồng, khi chèo thuyền đánh cá, khi dệt vải… Vì thế, vấn đề bảo tồn không gian văn hóa dân ca ví , giặm đòi hỏi các cấp chính quyền và ngành văn hóa cần tìm tòi, tổ chức và nhân rộng những mô hình hoạt động phù hợp. Hiện nay, ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã thành lập được một số câu lạc bộ dân ca ví, giặm. Ví, giặm cũng đã được đưa vào các trường học từ nhiều năm nay. Nhưng qua khảo sát và tìm hiểu thực tế, hiệu quả của phong trào mới chỉ dừng lại ở hoạt động “bề nổi”, chưa tạo ra được chuyển biến thực sự trong nhận thức, tình cảm và kỹ năng hát dân ca ví, giặm trong cộng đồng. Sự tồn tại của di sản dân ca ví, giặm nếu chỉ được đặt ra trên các sân khấu, trong các câu lạc bộ hay ở các tiết học ngắn ngủi của trường học, thì đó chỉ là sự tồn tại một cách “hình thức”. Những người yêu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh cho rằng, cần nhìn thẳng vào thực tế để tổng kết, đánh giá hiệu quả của công tác bảo tồn, phát huy di sản dân ca, xem xét một cách nghiêm túc các giải pháp đã thực hiện có hiệu quả đến đâu, ở mức độ nào; cần có những nghiên cứu chuyên sâu về môi trường văn hóa, tâm lý, thị hiếu âm nhạc của công chúng đương đại để làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp bảo tồn, phát huy di sản dân ca cổ truyền. Để thực hiện được điều đó, các cấp, các ngành chức năng cần thay đổi nhận thức, phát huy tính chủ động, sáng tạo nghiên cứu, đồng thời đầu tư thỏa đáng cho bảo tồn và phát triển dân ca ví, giặm; tổ chức tuyên truyền, quảng bá rộng rãi dân ca ví dặm…

Một sự thật khách quan là không gian diễn xướng dân ca ví,  giặm nguyên bản như “cây đa, giếng nước, sân đình” cổ xưa đã không còn. Nhưng để tồn tại với tư cách là một hình thức văn nghệ dân gian thì ví, giặm phải được tồn tại trong chính cuộc sống của cộng đồng. Điều đó có nghĩa di sản dân ca ví, giặm đang đòi hỏi cần có không gian mới để tồn tại và phát triển, phát huy sức mạnh văn hóa, tinh thần trong cuộc sống hiện đại ngày nay…

TRẦN HOÀI

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/103/103/103/236986/Default.aspx

MAI HƯƠNG : Tổng kết Liên hoan dân ca ví, giặm xứ Nghệ năm 2012, VIETNAM


Tổng kết Liên hoan dân ca ví, giặm xứ Nghệ năm 2012
 

Sau ba ngày diễn ra sôi nổi, tối qua (25/6), tại TP Vinh, Liên hoan dân ca ví, giặm Xứ Nghệ 2012 đã thành công tốt đẹp. Dự lễ tổng kết có các ĐC Hồ Đức Phớc – phó bí thư Tỉnh ủy, chủ tịch UBND tỉnh; Nguyễn Xuân Đường – phó chủ tịch UBND tỉnh, trưởng ban tổ chức Liên hoan dân ca ví dặm xứ Nghệ; Nguyễn Thiên – Ủy viên ban thường vụ, phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh cùng lãnh đạo Sở VH, TT&TT 2 tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh, các ban ngành liên quan.

Liên hoan dân ca ví, giặm Xứ Nghệ 2012 quy tụ sự tham gia tranh tài của 22 Câu lạc bộ với gần 700 diễn viên, nghệ nhân, nhạc công. Đây là những gương mặt tiêu biểu được chọn lựa từ phong trào hát dân ca ở cơ sở mà nền tảng phong trào là các Câu lạc bộ, đội văn nghệ dân ca của xã, phường, thị trấn, trường học thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.

Tuy là lần đầu tổ chức nhưng Liên hoan dân ca ví dặm xứ Nghệ  được khẳng định là có chất lượng cả về nội dung và nghệ thuật. Các tiết mục tự biên, tự diễn khá nhiều, phản ánh được không gian và môi trường diễn xướng mang sắc thái của địa phương, tính chất nghề nghiệp. Diễn viên được trẻ hoá từ nghệ nhân cao tuổi đến các em học sinh phổ thông cơ sở, làm cho sân khấu đủ sắc màu, phong phú, đa dạng. Nhiều nghệ nhân dân ca rất chú ý đến giọng hát, kỹ thuật hát, ngân nga theo đúng nhịp phách âm nhạc và sáng tạo riêng thể hiện âm ngữ giai điệu của từng địa phương, từng thể loại hò, ví và giặm.

 
                                                                          (Ảnh: Trần Lan Anh)

Việc tổ chức Liên hoan dân ca ví, giặm Xứ Nghệ lần đầu tiên là tiền đề để hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tổ chức Liên hoan này theo hình thức Liên hoan dân ca cấp cụm hàng năm và Liên hoan cấp tỉnh hai năm một lần. Từ đó, đẩy mạnh phong trào xây dựng Câu lạc bộ dân ca ví, giặm Xứ Nghệ, làm cho phong trào hát dân ca ngày càng sâu rộng. Đồng thời, đây là điều kiện để 2 tỉnh triển khai việc lập hồ sơ khoa học trình Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, hướng tới lập hồ sơ trình UNESCO công nhận dân ca ví, giặm Xứ Nghệ là di sản văn hoá phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại.

Tại lễ tổng kết, Ban tổ chức đã trao hai giải nhất cho Câu lạc bộ xã Nghi Liên, thành phố Vinh, Nghệ An và Câu lạc bộ xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh; 4 giải Nhì, 6 giải Ba và 10 giải khuyến khích. Ngoài ra, Ban tổ chức cũng trao Chứng nhận Nghệ nhân cao tuổi trình diễn xuất sắc cho cụ Khánh Cẩm, 82 tuổi – Câu lạc bộ Kỳ Thư, Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh; Tác giả có nhiều tiết mục xuất sắc cho cụ Cao Xuân Thưởng – Câu lạc bộ Diễn Thái, Diễn Châu, Nghệ An; Nghệ nhân nhỏ tuổi trình diễn xuất sắc cho Nguyễn Thi Hiền, 14 tuổi – Câu lạc bộ xã Nghĩa Hội, Nghĩa Đàn. Đơn vị sử dụng trang phục, đạo cụ phù hợp đẹp nhất cho Câu lạc bộ Lam Hồng –  phòng Giáo dục và đào tạo Thành phố Vinh.

 

(Mai Hương – Thanh Hà)-NTV

http://www.vinhcity.gov.vn/?detail=19477&lang=1&tong-ket-lien-hoan-dan-ca-vi-giam-xu-nghe-nam-2012

LIÊN HOAN DÂN CA VÍ,DẶM XỨ NGHỆ NĂM 2012


Thứ bảy, 23 Tháng 6 2012 11:48

LIÊN HOAN DÂN CA VÍ,DẶM XỨ NGHỆ NĂM 2012

Viết bởi 

Liên hoan Dân ca ví, dặm xứ Nghệ năm 2012 sẽ diễn ra từ ngày 23 – 26/6 tại tỉnh Nghệ An với chủ đề “Dâng Người câu hát dân ca”.

Hướng nội dung chủ đề ca ngợi tinh thần lao động, tình yêu cuộc sống, tình yêu quê hương đất nước; ca ngợi Đảng, Bác Hồ, Liên hoan Dân ca ví, dặm xứ Nghệ năm 2012 tập trung chủ yếu vào hai thể hát chính là: ví và dặm, nhằm mục đích hướng tới việc lập Hồ sơ khoa học đề nghị đưa Dân ca ví, dặm xứ Nghệ vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp.

Theo Ban Tổ chức liên hoan, thời lượng chương trình tham gia của các Câu lạc bộ Dân ca được quy định khoảng 70% là các làn điệu dân ca ví, dặm gốc và 30% các làn điệu dân ca ví, dặm cải biên. Các tiết mục hát dân ca khuyến khích các làn điệu cổ, các làn điệu cải biên có tính phổ biến; tái tạo các trò diễn xướng dân gian dân ca ví, dặm. Cùng với đó là các hình thức thể hiện: hát đơn, hát đôi, hoạt ca, hoạt cảnh; trang phục, đạo cụ phải gắn với nội dung, tính chất của làn điệu, phù hợp với môi truờng và không gian diễn xướng.

Liên hoan do Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh phối hợp tổ chức.

 http://hottour24h.vn/tin-tuc-du-lich/su-kien-du-lich/item/48-li%C3%AAn-hoan-d%C3%A2n-ca-v%C3%AD,d%E1%BA%B7m-x%E1%BB%A9-ngh%E1%BB%87-n%C4%83m-2012.html

Ví dặm – “giấy thông hành” của xứ Nghệ


Ví dặm - “giấy thông hành” của xứ Nghệ Liên hoan Cụm 1 tại Diễn Châu.

 

Ví dặm – “giấy thông hành” của xứ Nghệ

(LĐCT) – Số 25 – Chủ nhật 01/07/2012 09:22

Từ ngày 23 – 26.6.2012 tại thành phố Vinh (Nghệ An) và vùng phụ cận diễn ra Liên hoan dân ca ví dặm xứ Nghệ năm 2012. Khác với những Liên hoan trước, năm nay lần đầu tiên Liên hoan ví dặm hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh cùng tổ chức.

 

Liên hoan khai mạc vào tối 23.6 tại Quảng trường Hồ Chí Minh, sau đó khoảng 600 nghệ nhân – diễn viên vượt qua vòng ngoài, thuộc 21 đoàn nghệ thuật quần chúng sẽ biểu diễn tại thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, huyện Nghi Xuân và huyện Nam Đàn.

Theo thống kê sơ bộ, kho dân ca xứ Nghệ có khoảng 30 làn điệu, trong đó ví chiếm tới mươi làn, dặm chiếm dăm, bảy làn, còn lại là hò vè.

Gắn bó hữu cơ với lịch sử ngàn năm hình thành, phát triển của một vùng quê giàu văn hóa và truyền thống yêu nước, ví dặm xứ Nghệ là một trong những đặc sản của bản sắc văn hóa Việt Nam.

Ví và dặm là hai làn điệu vừa tương đồng vừa khác biệt.

Ví ngâm vịnh các thể thơ truyền thống (lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể). Dặm là thể hát nói bằng thơ ngụ ngôn và vè 5 chữ, có tiết tấu, có phách mạnh phách nhẹ, có nhịp nội nhịp ngoại.

Ví luôn tạo ra môi trường sáng tạo phóng khoáng, sự phóng khoáng của ví thể hiện ở độ co dãn của bài, nó tuỳ thuộc vào độ dài ngắn của ca từ. Âm điệu cao thấp của ví cũng mang tính ngẫu hứng, nó tạo cho người nghe cảm giác man mác, da diết, thân tình:

Ơi là bạn tình ơi/ Đồng thẳng cánh cò bay/ Cánh diều vui chao liệng/ Em mặc áo nâu sồng/ Gió thổi mà nón nghiêng/ Theo tay người lúa vượt mà lên.

Có nhiều loại ví như ví đò đưa, ví phường vải, ví phường cấy, ví phường võng, ví phường chè, ví đồng ruộng, ví mục đồng, ví ghẹo…. Ví mục đồng thiên về chất hài hước, tươi trẻ, hồn nhiên, phù hợp với lứa tuổi trường làng; ví ghẹo thiên về dí dỏm, nghịch ngợm, thông minh nhưng không quá đà gây phản cảm:

– Tiết thanh nhàn thong thả/ Muốn thăm hỏi vài câu/ …Thường thì mũi tìm trâu/ Trâu đâu tìm chạc mũi?
Em đã có chồng rồi/ Em đã có lứa rồi/ Vung đã úp vừa nồi/ Đũa đã ghép thành đôi/ Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!

Dặm giàu tính kể lể, tự sự, tự tình, khuyên răn, giãi bày…. Có nhiều điệu dặm như dặm kể, dặm xẩm, dặm vè, dặm nối, dặm cửa quyền, dặm ru… Thông thường một bài dặm có nhiều khổ, mỗi khổ có 5 câu (câu 5 điệp lại câu 4), mỗi câu có 5 từ. Tuy vậy bài dặm vè không phân khổ một cách rõ ràng, mà có khi hát một lèo hàng chục, hàng trăm câu, mỗi câu cũng không nhất thiết 5 chữ, mà có thể 4 hoặc 6 – 7 chữ theo biến thể của lời thơ. Có loại dặm dí dỏm, châm biếm, trào lộng, lại có loại dặm giao duyên giàu chất trữ tình.

Ai vô xứ Nghệ thì vô/ Quê hương của các cụ đồ còn đây/ Gió lào thổi suốt đêm ngày/ Khô cả ngọn cỏ cành cây bên đường/ Không khô chữ nghĩa văn chương…

Nghe điệu dặm kéo chài ta cảm nhận được sự mênh mang của sóng nước dòng Lam: Nếu không có sông Lam/ Núi Hồng buồn biết mấy/ Núi Hồng không đứng đó/ Sông Lam xanh cũng thừa…Và bao câu đò đưa/ Thả neo vào lịch sử… Núi Hồng và sông Lam/ Để muôn đời sừng sững/ Núi cao cho dáng đứng/ Sông dài cho bước đi…

* *

 

Liên hoan Cụm 2 tại Đô Lương.

Nhắc đến địa danh xứ Nghệ, người ta nghĩ đến núi Hồng, sông Lam, nghĩ đến làn điệu ví dặm. Nguồn sữa ví dặm xứ Nghệ không những nuôi dưỡng, còn là nơi neo đậu bao tâm hồn lồng lộng gió muôn phương, và những tâm hồn lớn, những con người vĩ đại của Nghệ – Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hương, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh… đã góp phần tôn đắp chất trí tuệ dân gian để ví dặm trở thành di sản vô giá trong dòng chảy văn hoá dân gian.

Sách cũ chép rằng: Trong thời gian sống tại quê làng Tiên Điền huyện Nghi Xuân, Nguyễn Du thường sang Trường Lưu đàm đạo với bạn văn chương. Thôn nữ Trường Lưu nổi tiếng đẹp người đẹp nết, chăm chỉ dệt lụa xe tơ, Nguyễn Du cùng các nho sĩ trong vùng có mặt tại Trường Lưu không thể bỏ qua cơ hội cân sắc thử tài:

Xôi nếp cái, gái Trường Lưu/ Văn nhân tài tử dập dìu/ Xăm xăm tìm nẻo Lam Kiều lần sang…
Có lần Nguyễn Du mượn chuyện hoa cúc để ghẹo thôn nữ tên Cúc:
– Trăm hoa đua nở về xuân/ Cớ sao Cúc lại muộn mằn về thu?
Đáp: Vì chưng tham chút nhụy vàng/ Cho nên Cúc phải dềnh dàng về thu.

Nghe tin Nguyễn Du ra làm quan triều Nguyễn, thôn nữ Trường Lưu trách khéo: Cái tình là cái chi chi/ Anh làm tham tri em cũng biết rồi…

Sự góp mặt của những tài thơ – “bồ chữ” đã thúc đẩy Trường Lưu trở thành một trong những tụ điểm hát ví phường vải nổi tiếng của xứ Nghệ. Hát ví phường vải tuần tự bốn bước, bước 1 gồm hát dạo, hát mừng, hát chào, hát hỏi; bước 2 hát đố, hát đối; bước 3 hát mời, hát xe kết; bước 4 hát tiễn.

Hát ví giao duyên để trai thanh gái tú bộc lộ tâm tình yêu thương, gửi gắm nỗi niềm tới chân trời mơ ước: Chung vui chung cả đò đầy/ Cho em chung mẹ chung thầy với anh?

Nhiều khi lời ví giao duyên để nhằm trút bỏ oán trách những kẻ chia rẽ tình duyên đôi lứa.
Quá trình hát ví giao duyên diễn ra tại đình làng, triền đê, bến nước… đã giúp bao cặp trai tài gái sắc có dịp bén duyên mà không cần ông tơ bà nguyệt, anh Bần hát ghẹo là một trường hợp như thế, màn “Bần hát ghẹo” được xem là sản phẩm nghệ thuật độc đáo, đặc sắc của ví dặm. Đặc sắc ở chỗ dù Bần nhưng trí tuệ không bần, lời tỏ tình của Bần tế nhị, thông minh, “có tích có tuồng” hẳn hoi:

Lá gì không nhánh, không ngành/ Lá gì chỉ có tay mình trao tay?
– Lá thư không nhánh, không ngành/ Lá thư chỉ có tay mình trao tay.
Nghe tin anh giỏi, anh tài/ Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?
– Thiên thai là của nàng Kiều/ Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra…

“Lời nói phải củ cải cũng nghe”, tiểu thư đài các cũng “xin chết” theo Bần.

Tài năng của nhà yêu nước Phan Bội Châu sớm nổi tiếng với việc đỗ đầu xứ lúc 16 tuổi. Là “bồ chữ”, thời trai trẻ ông rất thích hát phường vải. Trong những cuộc hát ấy, một chàng Phan cốt cách quân tử, phong nhã hào hoa khiến nhiều thôn nữ vùng Nam Đàn phải thầm yêu trộm nhớ, có một thôn nữ Nam Đàn gửi gắm tình yêu với chàng Phan:

– Sáp (gặp) nhau một gánh nặng nề/ Giang san bịn rịn tình quê nghẹn ngào. (Phan Bội Châu tên thật là Phan Văn San)

Chàng Phan hướng tình cảm của thôn nữ sang phía khác:
Đêm xuân gặp gỡ giữa đàng (đường)
Gang sơn một đội (gánh) cương thường hai vai.

Giữa bối cảnh đất nước đang nô lệ lầm than, chí sĩ họ Phan đã thông qua hát ví phường vải để khơi dậy tinh thần yêu nước tiềm tàng trong con cháu Bà Trưng, Bà Triệu, kết quả là đầu thế kỷ 20 nhiều thôn nữ xứ Nghệ đã đi theo tiếng gọi cứu nước thiêng liêng:

Ầm ầm nghe tiếng ong San/ Bầy em cất cánh lên rừng tìm hoa/ Chị em cất gánh sơn hà/ Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam.

***

Được biết, Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia đã đưa ví dặm vào danh mục “Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia”, trình Thủ tướng Chính phủ cho lập hồ sơ trình UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Từ sau Liên hoan dân ca ví dặm Xứ Nghệ lần này, hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh sẽ luân phiên tổ chức Liên hoan cấp liên tỉnh. Sắp tới Nghệ An mở cuộc thi sáng tác ca từ (lời mới) cho các làn điệu ví, dặm, và chọn đưa ví, dặm vào dạy cho học sinh cấp 2, cấp 3 tại một số cơ sở giáo dục trong tỉnh.

Khúc dân ca có từ trong máu thịt/ Không thể dối lòng… làm sống dậy một hồn quê/ Nhưng điệu ví theo anh về mãi mãi/ Anh cứ mơ hoài điệu dặm là em…

Bảo tồn phát huy giá trị của ví dặm xứ Nghệ là góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc Việt Nam đậm đà bản sắc, làm cho Ví Dặm thực sự là “giấy thông hành” của xứ Nghệ đến với bạn bè quốc tế.

 http://laodong.com.vn/Lao-dong-cuoi-tuan/Vi-dam-giay-thong-hanh-cua-xu-Nghe/71354.bld

TRẦN LAM THỦY : VỀ TÊN GỌI HÁT GIẶM XỨ NGHỆ


VỀ TÊN GỌI HÁT GIẶM XỨ NGHỆ

Thứ hai, 16/04/2012  – Trần Lam Thủy
Thời gian qua, Báo CANA có đăng một số bài về đề tài hát giặm xứ Nghệ. Sau khi báo phát hành, một số bạn đọc thắc mắc từ hát “dặm” hay hát “giặm”. Để rộng đường dư luận, số báo này chúng tôi đăng bài “Về tên gọi hát giặm xứ Nghệ” của tác giả Trần Lam Thuỷ – Cán bộ Trung tâm bảo tồn phát triển di sản dân ca xứ Nghệ. Qua đây mong bạn đọc trao đổi, góp ý trong cách gọi này.

“Giặm” là tên gọi một thể hát của dân ca xứ Nghệ. Từ trước tới nay vốn tồn tại hai cách viết “giặm” và “dặm”. Đây là một trong những vấn đề gây tranh cãi nhiều trong giới học thuật – những người thực sự quan tâm đến ngôn ngữ – văn hóa của xứ Nghệ.

Theo các nhà ngôn ngữ học, khi “dặm” với tư cách là một danh từ dùng để gọi tên sự vật, ta viết với con chữ “d”, chẳng hạn như: dặm ngàn, dặm trường (dặm là độ dài chỉ quãng đường), hoặc trong từ địa phương Nghệ Tĩnh, dặm là dụng cụ bắt cá nhỏ, tép ven sông… (theo Nguyễn Nhã Bản, Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, 1999). Như vậy, với quan điểm coi “dặm” là danh từ gọi tên một thể hát dân ca xứ Nghệ, thì lẽ đương nhiên phải được viết là “hát dặm”.

Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian xứ Nghệ xuất phát từ đặc điểm, cấu trúc của thể hát này lại cho rằng “hát giặm” có nguồn gốc từ động từ.

Theo Từ điển tiếng Việt (tr 398), “giặm” là thêm vào chỗ còn trống, còn thiếu như giặm mạ vào ruộng; Ăn giặm thêm vào giữa buổi. Với hát giặm, có người cho rằng “giặm” là “giẫm chân” và hát giặm là lối hát có đánh nhịp bằng chân.

Lại có người cho rằng, tiếng “giặm” xuất phát từ tính phân đoạn trong một bài hát giặm, tức là trong một bài hát có nhiều đoạn nhiều khúc. Còn có người cho rằng, giặm là giắm vào, điền vào như giắm lúa, điền nan (trong một cái rổ). Ý kiến này căn cứ những câu láy lại sau những trổ hát trong một bài hát giặm.

PGS. Ninh Viết Giao cho rằng, “giặm” là tiếng vang lại của giọng nói nơi núi rừng. Nhất là khi chúng ta đi vào chỗ núi rừng có nhiều vách đá thẳng tắp cheo leo, khi nói một câu chúng ta thường nghe lại những tiếng của chính mình. Câu láy lại trong một đoạn hay một khúc có thể là tiếng vọng đó của con người thời xa xưa.

Tại Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ” tổ chức vào tháng 3 vừa qua ở thành phố Vinh, vấn đề tên gọi của các thể hát cũng được đặt ra trao đổi và lựa chọn. Sau khi nghe ý kiến các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, văn hoá, Hội thảo đã thống nhất tên gọi với cách viết là “giặm” – ví, giặm xứ Nghệ.

Chúng tôi thiết nghĩ, bản thân ngôn ngữ vốn là võ đoán và mang tính quy ước, bởi vậy, nên có sự thống nhất để tiện cho việc gọi tên, bảo lưu và phát triển cho hôm nay và cả các thế hệ người Nghệ nói riêng và người Việt nói chung trong tương lai.

(Nguồn: congannghean.vn)

http://thientoan.com/tin-am-nhac/am-nhac-viet-nam/121-v-ten-gi-hat-gim-x-ngh.html

 

PHLANHOA : Ví dặm là một loại hình nghệ thuật tổng hợp.


Ví dặm là một loại hình nghệ thuật tổng hợp.

  Ví dặm là một loại hình nghệ thuật tổng hợp – Bài viết của Phlanhoa  
     
(12h: 11-07-2010)
Cần phải khẳng định “Ví dặm” là một loại hình nghệ thuật tổng hợp. Ví dặm hoàn toàn không đơn thuần là một thể loại âm nhạc dân gian như chèo, tuồng, hay quan họ. Bởi những loại hình âm nhạc dân gian đó có người viết sẵn lời, còn diễn viên chỉ việc thuộc lời là diễn, có chăng chỉ là sự sáng tạo trong khâu diễn xuất mà thôi. Riêng vì dặm thì khác, diễn viên không những phải hát hay những làn điệu không thôi, mà còn phải tự sáng tác lời. Hơn thế nữa, lời hát còn phải sáng tác nhanh để đối đáp tại chỗ, đòi hỏi diễn viên phải có năng khiếu văn chương, phải tài ứng khẩu đối đáp, phải uyên thâm về chữ nghĩa, sử học, triết học, phải tận tường về cuộc sống. Hơn thế nữa, ví dặm có một nét đẹp tuyệt vời mà các loại hình âm nhạc dân gian khác không có, đó là đào nương vừa hát vừa lao động sản xuất. Hình ảnh người con gái xinh đẹp, chăm ngoan, vừa quay xa kéo sợi dệt vải, vừa đáp lễ tài tình với khách văn chương, sẽ trở nên đẹp đẽ và ý nghĩa hơn nhiều so với “trúc đứng đầu đình”. Do vậy, việc trở thành kép hát của phường vải có lẽ cũng khó khăn gấp bội so với việc trở thành kép hát trong các loại hình dân gian khác. Đây vừa là điểm nổi trội, lại vừa là điểm khó khăn cho việc phát triển lâu bền cho ví dặm.Trong Ví dặm, nghệ sĩ vừa hát vừa lao động sản xuất.         

 

Tấn Tần rắp ranh,

Vì chưng kéo vải mới sinh ra phường.

Nguyệt dạ canh trường,

Dăm ba  o ngồi lại,

Trước là nghề bông  vải,

Sau đàn hát vui cười,

Cuộc thanh lịch vui chơi…

 

Chỉ mấy câu thôi, chúng ta cũng hình dung ra được ví phường vải được hình thành như thế nào. Ấy vậy mà ở Nghệ – Tĩnh đâu chỉ có mỗi phường vải là có hát ví, mà còn có ví phường cấy, ví phường nón, ví  phường củi vv… Bởi vì như tôi đã nói ở trên, nghệ sĩ hát ví vừa hát vừa lao động sản xuất, nên mỗi phường có thủ tục nhập cuộc riêng tùy vào loại hình lao động sản xuất.

 

Nếu như phường muối :

Sớm mai quảy gánh đi ra,

Chờ nhau Đồng Gác*  phường ta đủ đầy.

 

Thì phường chè lại :

Dừng chân ở trại Cổ Cò *

Gặp bầy gặp bạn hát hò vài câu,

Lấy câu tình nghĩa làm đầu,

Cho dù nắng dãi mưa dầu cũng cam.

 

Không chỉ vừa hát vừa lao động, nghệ sĩ hát ví đồng thời còn là người sáng tác lời ca:

 

Đồn đây có gái hát tài

Để ta đối địch một vài trống canh

Dẫu thua, dẫu được cũng đành,

Bõ công đèn sách học hành bấy lâu.

 

Chà, đi hát cho mà để “bõ công đen sách…” , nghe cứ ngỡ như đi thi vậy. Đó là lời dạo cảnh đánh tiếng của kép nam muốn nhập cuộc vui, khi đi qua phường vải, động lòng nghe câu ví xa đưa. Nhưng chàng trai chưa chắc đã vào được bên trong để mà coi người đẹp vừa hát vừa quay tơ dệt vải,  vì thủ tục chào hỏi khá gay cấn đúng như là một cuộc thi sát hạch trình độ và tư cách chàng trai. Từ lúc chàng mở lời xin qua ngõ, các cô gái sẽ cử người nói lời chào, lời hỏi thăm tên tuổi, địa chỉ, quê quán và thách đối để kiểm tra tài năng của chàng khách đến đâu.  Cái khó là người đẹp phường ví ý nhị mở lời bằng thơ, lại là thơ của chính nàng sáng tác:

 

Hỏi chàng khách lạ đàng xa

Đến đây cân sắc hay là kết duyên?

 

 Nên chàng trai cũng phải tỏ ý mình là người lịch lãm có học :

 

– Sa chân bước xuống cõi tiên,

Trước thời cân sắc, sau kết duyên Châu Trần.

 

Ví dặm là một cuộc chơi chữ  trí tuệ

Bạn có biết vì sao người ta gọi hát ví phường vải là một “cuộc hát”, mà không phải là một buổi hát,  hay là một bài hát? Gọi là một cuộc hát bởi vì hát ví phường vải có tới ba lớp, chín hồi, từ hát dạo, hát chào, …cho tới hát tiễn, nội dung kết cấu thứ tự chặt chẽ. Trong đó lớp hai có phần hát đố, hát đối, hát nghịch là  lớp đấu trí gay cấn của các kép hát.  Thời gian kéo dài  bao lâu, một buổi, ba buổi hay một tháng, không hạn định trước được, mà phải phụ thuộc vào kết quả đấu trí của hai bên nam thanh nữ tú, chỉ khi nào ngã ngũ, cuộc hát của phường vải mới kết thúc được.

 

Một cái cổng đơn sơ “nhà nàng” gần như  không khép bao giờ, vậy mà nhiều lúc khó hơn qua “quan ải”, nhận phải câu đối khó, các kép nam thậm chí không thể đáp lời phường vải ngay được, phải về nhà vắt óc những mấy ngày, đôi khi đến cả tháng trời để sáng tác lời,  mới hòng hát sao cho vừa lòng đẹp ý phường vải.  Sự thông minh của các cô đào phường vải tạo cho khách văn chương một cảm giác tò mò, vừa khó khăn, lại vừa khích lệ bùng phát tài năng. Có lẽ đây chính là điểm cuốn hút say mê,  dẫn đến kết quả kép nam của môn hát ví toàn là những bậc nho văn uyên bác, đó là điều mà không một nghệ thuật dân gian nào khác có được.

 

Khởi đầu để cho khách lạ dễ dàng nhập cuộc, các cô gái chỉ đưa ra những câu hát với ý nghĩa đơn thuần là chào, hỏi thăm thân thế như trên, nhưng các chàng trai chớ vội chủ quan:

 

Mừng chàng quần áo mọi màu,

Quần hồ lơ trứng sáo, áo trắng phau cánh cò.

 

Các cô bắt đầu trổ tài chơi chữ, chơi tiếng rồi đấy : “hồ ” (bột) và “trứng sáo” là một màu, “trắng phau” và “cánh cò” cũng là một màu trắng.  Và để xem chàng trai đối lại thế nào :

 

– Mừng nàng má phấn môi son,

Áo màu huyền cánh quạ, tóc xanh non đuôi gà .

 

Đối được thế là cũng giỏi rồi, cũng coi như có thể nhập cuộc hát ví rồi. Nhưng để đánh giá người khách đến chơi là bậc tài trí nào trong thiên hạ, các diễn viên phường ví sẽ nâng dần độ khó của vế đối :

Ra về thiếp dặn thiệt nha,

Mai răng cũng lại đàng nhà thiếp chơi.

 

Đến đây thì các cô không chỉ chơi chữ, mà còn là chữ Hán -Nôm cớ đấy, “thiệt” là lưỡi, “nha” là răng, như vậy cả hai câu của các cô đều nói đến răng với lưỡi. Chá chà, nữ nhi mà văn chương cỡ đấy thì nam nhi tính sao đây?

 

Chưa khi hương vị ngát nồng

Bóng dần trước dậu, sao đông láy đoài.

 

Với tài dùng chữ nghĩa có tầm cỡ, diễn viên phường ví có thể gộp cả “cầm kỳ thi tửu”, “tuyết nguyệt phong hoa”, “xuân hạ thu đông” chỉ trong hai câu như thế này, thì người chơi tìm được lời mà đối cho đặng cũng toát mồ hôi hột chứ chả chơi:

 

Thơ đông tuyết, cờ thu phong

Đờn vui hạ nguyệt, rượu nồng xuân hoa.

 

Ví dặm đòi hỏi người chơi phải tinh tường sử sách, phải có kinh nghiệm cuộc sống, đạo đức tư cách:

 

– Thuyền quyên muốn hỏi anh hùng

Ông chi thuở trước vun trồng cây Lê?

 

– Đến đây hỏi bạn học trò,

Ngày xưa ông Thuấn cày bò hay trâu?

 

– Đố chàng quán cổ thông kim

Tình hình thế giới nổi chìm dường bao?

 

– Tiếng đồn anh học chữ ngoài triều

Chị dâu rớt xuống giếng, nắm đằng nào kéo lên?

 

Ví dặm là yêu thương sâu đằm

Bởi vì lời đối đáp trong ví dặm là chắt lọc của trí tuệ, được trải qua cao trào đấu trí minh mẫn, rồi đằm sâu trong sự cảm phục tài trí của nhau, cho nên cái kết của một cuộc hát ví thường có nhân hậu để đời. Khi cuộc hát tàn canh thì đồng thời cũng ươm mầm nên những mối tình keo sơn bền chặt. Ví dụ  như o Cúc nặng tình với Nguyễn Du, o phường vải Hoàng Trù nhan sắc thuở nào, đã trọn đời thủy chung với chí sĩ Phan Bội Châu. “Trai khôn tìm vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân” há chẳng phải là đây sao? Liệu có sự ứng xử thanh lịch nào tuyệt vời hơn khi nam thanh nữ tú dùng âm nhạc để ngỏ lời tình yêu. Lời của ví dặm không phải do một vài tác giả ngồi gom góp kinh nghiệm của mình để soạn ra phục vụ người đời,  mà lời và nhạc của ví dặm được soạn ra từ trái tim người hát, là lời thật của tình yêu, tình trong ví dặm là tình mặn nồng keo sơn của kép hát chính, cho nên có nghe là có sâu đằm da diết dấy lên trong lòng.

 

Ai về về với ai ơi,

Ai ngược ngược với, ai xuôi xuôi cùng.

***

Anh về mai đã lên chưa,

Để em bưng bát cơm trưa em chờ?

– Cơm trưa em cứ ăn đi,

Còn lưng cơm túi (tối), em thì đợi anh.

 

Ví dặm quyến rũ mê say

Không động lòng say mê sao được khi mỗi lời hát cất lên,  thâm ý chỉ bộc lộ nửa chừng,  nửa thâm tình còn lại bị người hát ý tứ dấu vào đâu đó, lẩn khuất trong không gian, trong cỏ hoa, sông núi, trăng sao, đất trời… Đúng là cái kiểu “người khôn ăn nói nửa vời” như thế chỉ có gái ngoan và chính nhân quân tử mới có, xô đẩy cuộc hát vào một kết cục người về, người ở đều lưng chừng cảm xúc cái kiểu  “nửa trong như đã, mặt ngoài còn e”. Nên mới than thở mà rằng:

 

Nửa về nửa muốn ở đây,

Nửa thiên địa vận, biết xây đường nào?

 

Phường vải thì cũng dường như nửa thì muốn đoan chính, tiễn đưa khách ra về kẻo trời đã khuya, nửa lại muốn níu giữ bạn hát ở lại dốc hết tâm tình cho trọn canh. Với những lời hát non biển như thế này, nếu bạn là người trong cuộc liệu có vô tư ra về nổi hay không?

 

Anh về em chỉ ngong theo,

Ngong truông truông rậm, ngong đèo đèo cao. ..

 

Chàng về ngoảnh mặt  lại đây,

Em ngong một  chút, đỡ khuây cơn buồn.

 

Rốt cuộc thì bậc chính khách quả là đã không thể dấu mình:

 

– Lời sao cặn kẽ chí tình,

Nàng ơi ở lại cho anh lên tàu,

Mình đang trò chuyện cùng nhau,

Trách con gà kia vội gáy, giục mau ba tuần.

 

Làn điệu da diết, lời hát sâu sắc, đấu trí tài tình, yêu thương chân tình, kết cục có hậu, đó là lý do vì sao ví dặm có sức cuốn hút cả những bậc tri thức tài cao học rộng như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan  Bội Châu cùng tích cực tham gia làm kép hát.  Để rồi khi người quân tử vì xã tắc giang sơn mà ra đi không về, phường vải ở lại vẫn tha thiết đợi chờ, thủy chung trọn đời, tình yêu của họ trở thành bất hủ.

 

Nước chảy cho đá trôi nghiêng,

Chàng lo chung thiên hạ, thiếp sầu riêng một mình. *

Ước mong

Ví dặm là tâm hồn, là con tim yêu thương, là trí tuệ uyên bác chỉ có miền địa linh nhân kiệt mới có; là tinh hoa được chắt chiu từ giai điệu trữ tình của âm nhạc, tinh túy của văn chương, vẻ đẹp của lao động sản xuất và văn hóa ứng xử ấm tình làng quê cộng lại, nên ví dặm trở nên đặc biệt sâu sắc, quý giá  và hiếm hoi vô cùng. Để có một ngày, thế giới biết đến ví dặm, ngành văn hóa Nghệ An – Hà Tĩnh cần phải có kế hoạch duy trì và phát triển hợp lý.  Tôi tin tưởng rằng, nếu các nhà văn hóa thế giới được giới thiệu cặn kẽ về ví dặm, sẽ không thể không tâm đắc, khi mà  Nguyễn Du, Hồ Chí Minh cũng đã từng tâm đắc ví dặm. Đơn giản vì những con người vĩ đại ấy cũng là danh nhân văn hóa thế giới.


http://thuongyenho.violet.vn/entry/show/entry_id/5985387/cat_id/5095757

TÔN ĐỨC QUANG : Hội nghị tập huấn kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể


Hội nghị tập huấn kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể
Xem hình
 

Sáng ngày 25/2, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tổ chức hội nghị tập huấn kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể “dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh” theo tiêu chuẩn UNESCO và lấy ý kiến đồng thuận đề cử “Dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh” vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đồng chí Nguyễn Thiện, Phó chủ tịch UBND tỉnh, đã đến dự.

Hội nghị tập huấn Kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể “dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh” do chuyên gia của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam- Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, truyền đạt. Tại đây, các học viên là cán bộ phòng văn hóa thông tin các huyện, xã, phường, thị trấn được bổ sung các kiến thức liên quan đến mục tiêu và biện pháp kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đồng thời quán triệt nhiệm vụ kiểm kê, xây dựng hồ sơ trình UNESCO xem xét, công nhận, đưa nghệ thuật hát Ví, Giặm Nghệ Tĩnh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Tại hội nghị, 100% ý kiến biểu quyết đồng thuận đề cử “Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh” vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tôn Đức Quang

Tản mạn về hát giặm, VIETNAM


Tản mạn về hát giặm

  •   KYM
  • Thứ năm, 21 Tháng 6 2012 04:42
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

HÁT giặm cũng như hát ví, là một “đặc sản” ca nhạc dân ca xứ Nghệ. Khác với hát giặm Hà Nam (1) là lối hát kết hợp hát, múa và gõ nhịp, chỉ được trình diễn ở đình làng trong dịp tế thần hàng năm, hát giặm Nghệ Tĩnh là loại dân ca phổ biến trong sinh hoạt hàng ngày và hát giao duyên nam nữ.

“…Ngày nay, nhiều người không còn rõ nghĩa tiếng “giặm” là gì… Tuồng như tiếng “giặm” đặt trong từ hát giặm đã trở thành một tiếng không có nghĩa. Tuy nhiên… có nhiều người Nghệ – Tĩnh đã hiểu tiếng giặm trong hát giặm theo một nghĩa gần như giắm thêm vào. Nhưng họ lại hiểu theo hai nghĩa khác nhau: Cách hiểu thứ nhất bắt nguồn từ hiện tượng điệp câu của hát giặm: thường thường người ta bắt buộc phải xen vào những câu láy lại (hay câu điệp)… Cách hiểu thứ hai lại xuất phát từ chỗ hát giặm thường phải chắp vần. Trong lúc hát đối đáp, chữ vần của câu đầu bài đáp phải chắp cùng với vần câu cuối bài hỏi… Việc chắp vần, hay là hát chắp vào ấy tức là hát giặm. Cũng gọi là bắp xắp. Bởi vậy hát giặm cũng có nơi gọi là hát xắp hay hát luồn…(2).

Bài (hoặc “khổ”) hát giặm cơ bản có năm câu, mỗi câu năm chữ gieo vần chân: Câu 1 vần trắc; câu 2 và câu 3 cùng vần bằng; câu 4 vần trắc, và câu 5 – câu láy lại (điệp) – cũng vần trắc.

Ai khun (khôn) bằng Từ Hải

Cũng mắc dại Thúy Kiều

Nghe lời nói cũng xiêu

Về thu binh cuốn giáo

Hạ cột cờ cuốn giáo.

Cũng có khi câu hát chỉ có bốn chữ hoặc dài tới sáu, bảy tám chữ và một bài (khổ) hát giặm có khi kéo dài hàng chục câu bằng cách tăng thêm câu vần bằng.

Những tay đặt chuyện giỏi thì không bị gò bó về câu, vần mà biến hóa rất linh động: “…Về chợ hạ tui (tôi) quen cụ Đình – Vô (vào) Lạc Thiên tui quen cậu ấm Ninh – Quen ông Tâm Ca Lai Thạch (chuyển vần trắc) – Quen ông Bát Trạch ở Giang Đình (trở lại vần bằng) – Quen ông Ký Bưởi ngoài Vinh..”.

Một bài hát giặm tự sự hoặc trữ tình dài hơi có nhiều “khổ” có khi tới hàng mấy chục “khổ” nối tiếp nhau. Loại này thường mở đầu và kết thúc bằng hai câu 6 – 8 hoặc kết thúc bằng một câu 6.

Có loại hát giặm nhất thiết phải “sáng tác ứng khẩu” tại chỗ như bài hát đối đáp, đối thoại, hay là bài hát trình diễn trước đông người bằng độc xướng hoặc hòa thanh để cùng vui, chúc mừng, ca tụng kể sự việc, hay cổ động một sự việc mang tính thời sự. Người ta kiêng hát lại những bài cũ (và cũng khó có bài cũ thích hợp để hát). Đó là nguyên tắc của những tay hát giặm cừ khôi. Do vậy, nghệ nhân hát giặm ngày trước nhất thiết phải là một tay sáng tác giỏi.

Khác với hát ví phường vải thường có nhà nho tham gia hát hoặc làm “ông trùm đầu dạy chuyện”, người hát và người đặt bài bè chuyện hát giặm đều là nông dân, thợ thủ công hay dân buôn nghèo… (buôn bộ).

Với loại hát giặm khác, dài hơi để kể một câu chuyện hoặc diễn đạt một tâm trạng… thì người sáng tác phải chuẩn bị chu đáo, sắp xếp kết cấu bài, trau chuốt văn chương… để kể được hay bày tỏ ý kiến, tình cảm… Những bài hát này là những tác phẩm định hình, nếu hay, thì được truyền bá rộng rãi và có giá trị bền vững. Đó là những bài giặm, (kể) vè hay vè giặm. Một số bài loại này do các nhà nho, kể cả các nhà nho khoa bảng làm như: Đầu phủ Cam, Tú Ngung, Đầu huyện Thân, Giải San, Giải Huân, Nghè Kế,… nhiều bài đã vượt khỏi phạm vi sáng tác dân gian, thực sự trở thành tác phẩm văn học thành văn như bài “Chúc thọ vua Tự Đức” của Tư Ngung chẳng hạn(3).

Âm nhạc của hát giặm cũng như âm nhạc của dân ca Nghệ – Tĩnh nói chung còn mộc mạc, chưa có kết cấu hoàn chỉnh, dựa vào lời theo các thể thơ, trên cơ sở dấu giọng để biến thành giai điệu(4). “khoảng cách giữa hát và nói không xa bao lắm”(5).

Điệu hát giặm nghe không mềm mại, du dương, uyển chuyển như hát ví (nhất là ví đò đưa) mà đều đều, khi khoan thai, khi dồn dập, lắng đọng trong tâm hồn người.

Hát giặm bao giờ cũng “hát chay”, không có đàn, sáo đệm, trừ dặm xẩm.

Tùy theo môi trường diễn xướng và thói quen cảm thụ của người từng vùng mà về làn điệu, tiết tấu, hát giặm có ít nhiều khác biệt, nhưng vẫn không xa nhau bao nhiêu. Các nhà sưu tầm, nghiên cứu âm nhạc thường gọi theo nhiều tên riêng biệt: Giặm nối, giặm kể, giặm ru, giặm cửa quyền… có người lại gọi theo môi trường diễn xướng: Giặm đò đưa, giặm trèo non, giặm đường trường…

Hát giặm được trình diễn trong nhiều môi trường khác nhau, dưới nhiều hình thức.

1. Hát trong lao động, hát trong sinh hoạt thường ngày:

Có khi, mọi người cùng hát đồng thanh một bài giặm để động viên cổ vũ nhau. Phường đi củi Phù Minh (Can Lộc) có tục lệ, từ lúc tập trung những nơi trên núi, cất gánh lên vai, về tới nhà thì các chàng trai cùng hát những bài hát giặm, đại loại như: “Động Cơn (cây) Mai thì dốc – Động Trộ Đó thì dài – ra đến động Hai Vai – thậm chừng chi là khỏe – chi thậm chừng là khỏe”. Những cô gái (gọi là “mẹ”) cứ sau mỗi bài hát cùng reo to: “hay chưa” làm tiếng bế.

– Có khi một người đọc xướng một bài, bày tỏ niềm riêng với bạn (hoặc với chính mình). Chàng trai phường gặt trước lúc từ giã bạn gái thường thốt lên bằng lời hát: “Rơm cũng đã rã rồi – Toóc (rạ) cũng đã rã rồi – Giừ (giờ) mự (mợ) ngồi với tui (tôi) – Tui giải một đôi lời – Mự rẹ (rẽ) về một nơi – Tui rẽ về một nơi – Mai đàng sá xa xôi – Tui về không gặp mự – Tui về rồi không gặp mự”.

– Có lúc hai người bạn hát gặp nhau, cùng hát đối đáp để mua vui hoặc trao đổi ý kiến, tình cảm. Có nhiều giai thoại về những cuộc hội ngộ loại này: Nguyên Hạnh là tay hát trẻ mới nổi, có lần đi buôn bộ qua Truông Bát, chạm trán với “lão tướng” hát giặm Sợi Đường. Đường hát một bài tỏ ý coi khinh Hạnh, Hạnh liền đáp lại, ý nhún nhường mà cứng cỏi, khiến Đường phải hát xin lỗi: “Voi biết voi trắng ngà – Bợm đã biết bợm thì tha nhau cùng – Bởi trước có quen cung – Nhắc tình đây một tỉ (tí) – Vấn cội đờn (đàn) một tí”.

– Khi một nghệ nhân hoặc phường hát đến nơi xa lạ, gặp dịp tết nhất, tế lễ thì phải hát mừng, hát chúc. Bài hát mừng một gia đình đại loại như: “… Anh em vội mừng “tràng cảnh lưu tiên (?)” – Được hai chữ vững bền – Được bốn chữ bình yên – Thăm hai cội thung huyên – Phúc lộc thọ song tuyền – Thăm cả bến liền thuyền…”.

Đây là bài hát mừng “hàng xã”: “… Nghe chiêng đánh kêu vang – Nghe trống đánh chuyển làng – Anh em bước chân sang – Đáo phong cảnh đất làng. Trời mở rộng phong quang – Trên chư vị Thành Hoàng… Đình hai dãy chiếu ngang – Trên hàng tổng với xã làng… Dưới dân sự hai hàng”.

– Khi thuyền xuôi trên sông về ban đêm, người chèo thuyền thường độc diễn một bài hát giặm vè tự sự hoặc trữ tình: Phụ tử tình thâm; Mẹ dòng; Tình ca 24 tiết, có khi là bài hát có nội dung yêu nước… Tiếng hát khoan thai theo nhịp chèo, chủ yếu là để cho người biểu diễn tự thưởng thức. Đó là hát giặm đò đưa.

– Các bà mẹ xứ Nghệ thường lấy những bài hát giặm trữ tình dài hơn (vè giặm) để ru con. Hát giặm ru rất phổ biến ở Nghệ Tĩnh.

– Các nghệ nhân hát xẩm cũng rất sính hát giặm. Họ ứng tác những bài hát thời sự, hoặc những bài vè giặm có sẵn để diễn tấu. Đặc biệt ở đây hát giặm thường được đệm bằng nhị, bầu.

2. Hát giao duyên, đối đáp nam nữ:

Căn cứ vào một ít bài hát giặm phản ánh tình hình thời Lê – Trịnh sưu tầm được ở Hà Tĩnh, ta ước đoán hát giặm có thể đã ra đời ít nhất là thế kỷ XVII – XVIII, nhưng tục hát giặm giao duyên nam nữ thì chỉ được phản ánh trong bài phú Trung Lễ nhất hòa của Lê Trọng Đôn, năm 1885: “…Ngoài đường thì người dạo từng đoàn: đoàn họp làng, đoàn hát giặm…”. Lúc này chắc là tục này đã rất phổ biến.

Cuộc hát thường do trai gái trong làng (hoặc trai gái các làng lân cận đến) hát với nhau. Mỗi đoàn hát giặm, nam như nữ, thường có từ ba đến năm người, trong đó nhất thiết phải có người sáng tác giỏi. Người này ứng khẩu hát, và những người khác hát cặp theo sát lời, kháp giọng.

Nội dung đối đáp là các cuộc đối đáp giữa hai phe nam nữ, nhưng cuối cùng bao giờ cũng là cuộc “tỏ tình” với nhau. Khác với hát ví, những bài hát đối đáp trong hát giặm không chỉ có năm bảy câu, mà có khi hàng chục, hàng trăm câu. Vì vậy, có người cho đây là “tỏ tình bằng văn xuôi”.

Nhưng lối hát giặm đối đáp thực chất là một cuộc biểu diễn thi tài, chủ yếu giữa các nghệ nhân cầm đầu, còn những người khác mới vào nghề thì chỉ đóng vai phụ. Do đó, lối hát đối này dần dần đi vào “chuyên môn hóa”, mất đi tính quần chúng rộng rãi.

Vào những năm hai mươi của thế kỷ này, lối hát đối đáp nam nữ chỉ còn thấy ở Thạch Hà, Cẩm Xuyên. Các vùng khác ở Nghệ Tĩnh thì lối hát giặm này nhường bước cho hát ví.

Hát giặm với thể văn ngắn, nôm na, mộc mạc, dùng nhiều thổ ngữ, với nhịp hát dồn dập, gấp gáp và giọng hát như dằn xuống chắc nịch, nghe trầm, buồn… phải là sản phẩm của một vùng xa nơi đô hội, ít giao lưu, không có thuyền lớn sông dài, mà là nơi đồng chua nước mặn, cuộc sống con người vất vả, nhọc nhằn. Đó là vùng phía nam Hà Tĩnh.

Ta có thể tìm được những bài hát giặm (không kể giặm vè) và gặp nhiều người biết hát giặm ở Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nam Đàn, Hưng Nguyên… và nhiều nơi khác ở Nghệ An, Hà Tĩnh và cả Quảng Bình nữa. Nhưng chỉ ở vùng Thạch Hà (xưa) bao gồm phần đất từ nam Can Lộc đến bắc Cẩm Xuyên bây giờ – từ Nghèn đến Hội – mới có nhiều làng xã có sinh hoạt hát giặm giao duyên nam nữ, mới có những cuộc hát tay đôi của những cặp nghệ nhân hát giặm “đi vào giai thoại”. Vào cuối thế kỷ trước đến đầu thế kỷ này cũng không ở đâu tập trung đông đảo nghệ nhân hát giặm cừ khôi như ở đây.

Nếu các nơi khác lẻ tẻ có vài ba tay hát giặm tiếng tăm “như Xã Tam ở Vĩnh Lại, Cẩm Xuyên: Cháu Tau ở Phù Minh; bà Hiệt ở Thanh Lương; ngoéc Lãm ở Thuần Thiện (Can Lộc); Dĩ Diễn ở Xuân Viên, Nghi Xuân; Sáu Cai ở Đông Khê; cháu Xanh ở Kẻ Lãng (Đức Thọ)… thì ngót ba chục nghệ nhân hát giặm xuất sắc khác là dân Thạch Hà. Số người này đều dồn vào các làng xã quanh tỉnh lị Hà Tĩnh, trong một diện từ 10 đến 15km đường bán kính. Đó là dái Thông, ngoéc Sáu Cai, ông Nhường, dái Bốn, Lương Đấu, Tri Lương, Sợi Đường, nhiêu Ngọ, Nguyên Hạnh, dái Kình, o Tộ, chị đồ Chương, dì Tương, chị Nguyễn, o Hai Vạn, o Tiu Hào và nhiều người khác.

Những cứ liệu trên đây phải chăng có thể giúp ta tin rằng Thạch Hà (xưa) là quê gốc của hát giặm Nghệ – Tĩnh?

THƯƠNG THƯƠNG HOÀI : VÙNG QUÊ VÍ DẶM ÂN TÌNH, VIETNAM


VÙNG QUÊ VÍ DẶM ÂN TÌNH

“Trót say câu ví đò đưa/

Cũng đành cà mặn, nhút chua một đời”…

           Bao đời nay, làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh luôn không thể thiếu trong đời sống của người dân xứ Nghệ nói riêng và nhân dân cả nước nói chung. Ca hát dân ca xứ Nghệ là một nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh, mang đầy tính nhân văn trong đời sống nông nghiệp ở nông thôn nước ta, góp phần không nhỏ tạo nên bản sắc văn hoá độc đáo của dân tộc Việt Nam… Đặc biệt, cứ mỗi độ Xuân về, làn điệu dân ca xứ Nghệ ân tình lại vang lên khắp nơi nơi trên quê hương Việt Nam và cả khắp cộng đồng người Việt đang sinh sống ở nước ngoài…

 

Dòng sông La

Hát dặm Nghệ Tĩnh

Ai đã từng nghe dân ca Nghệ Tĩnh thì chắc hẳn đều có chung một ấn tượng, đó là ca từ rất bình dị và đậm chất tiếng nói địa phương nhưng lại thể hiện được một “cá tính Nghệ Tĩnh” mà phải ở lâu, ở gần người Nghệ Tĩnh, gần người con gái Nghệ Tĩnh mới thấm, mới ngấm được cái nồng nàn, ấm áp, sâu lắng của “cá tính xứ Nghệ”, thô mà tinh, lý đấy nhưng tình đấy.

Quê hương ví dặm

Tiếng dặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào nột chỗ thiếu… xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba, bốn trăm năm. Về nội dung, có nhiều bài hát dặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến. Về hình thức, hát dặm là một thể văn vần đặc biệt. Mở đầu bài hát dặm thường là hai câu lục bát, tiếp theo là một loạt câu 5 chữ, cũng có những bài không tuân theo quy chuẩn đó mà mở đầu ngay bằng câu 5 chữ. Phần lớn các bài hát dặm đều gồm cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lấy lại một ý, điệp cả về ý lẫn lời. Ví dụ:

Tôi lấy chân khóa lại
Tôi lấy bản khóa lại

Hay:
Thấy những lời kêu trách
Nghe những lời kêu trách
”.

Bốn đời hát ví giặm trong một gia đình ở Thanh Chương – Nghệ An

Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát nó làm nổi ý của câu hát và của cả bài. Hát giặm có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung và hình thức đều được trau chuốt. Hát giặm Nghệ Tĩnh không phải hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được dân ưa thích và phổ biến rộng rãi.

Ví giặm đã ngấm vào máu thịt của con người nơi đây 

Hát ví Nghệ Tĩnh

Hát ví Nghệ Tĩnh xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Môi trường diễn xướng của hát ví Nghệ Tĩnh rất đặc biệt, không cần phải chờ đến mùa vụ, hay hội hè mà vừa lao động vừa ca hát. Theo các nhà nghiên cứu, nếu phân theo loại hình lao động thì xứ Nghệ có đến hơn 20 loại hát ví, nhưng nếu chia làn điệu theo tình cảm, hát ví cũng tương đối đa dạng như: ví thương, ví giận, ví ai oán, ví tình cảm… tức là con người có bao nhiêu cung bậc tình cảm thì có bấy nhiêu loại hát ví. Trong các cuộc hát ví thường hình thành hai nhóm nam và nữ, mỗi nhóm có thể là một nam, một nữ, nhưng cũng có thể nhiều hơn.

Bến đò, con sông… vằng vặc tuổi thơ của con người xứ Nghệ

Có đến hàng trăm câu ví lần lượt được đưa ra để thi thố, đối đáp và rồi những câu hát ấy được lớp thế hệ sau ghi nhớ bởi lời thơ vô cùng bình dị, dễ thuộc, nhưng cũng rất đỗi tài hoa.

“Anh về chẻ lạt bó tro
Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.
Em về đục núi lòn qua,
Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng”

Về lời ca, hát ví lấy thể thơ lục bát làm gốc, về sau do nhu cầu tình cảm của nội dung mà hình thức dần dần được biến hoá, tiết tấu phát triển, người ta hát ví trên thể thơ song thất lục bát. Trong hát ví, thanh niên nam nữ đã vượt ra khỏi tầm tư tưởng phong kiến, họ từ làng này sang làng khác, từ vùng nọ qua vùng kia để tìm kiếm bạn hiền, chọn vợ, chọn chồng bằng tiếng gọi con tim.

Đồng quê xứ Nghệ

Dựa trên tính chất âm nhạc thì hát ví chỉ có một làn điệu. Khi câu hát cất lên ta nghe vừa dí dỏm lại vừa buồn man mác, hát cho người khác thì ít mà hát cho chính mình thì nhiều. Người nghệ sỹ nông dân đã gửi gắm vào trong những lời ca, câu hát biết bao tâm tư, tình cảm ấp ủ bấy lâu. Ta có thể coi hát ví là những bản tình ca của người lao động, nó gắn bó máu thịt và trở nên quá đỗi thân quen trong sinh hoạt thường ngày của người dân Nghệ Tĩnh.

Chỉ tại “Dòng sông đa tình”

Trong hát ví có chặng hát đố. Hát đố là theo cách gọi dân gian, còn hát đối là của các nhà nho. Chặng này là chặng quan trọng nhất, chữ đối chữ, nghĩa đối nghĩa sao cho thật chuẩn xác, thật nhanh. Khi đến độ hăng say, họ còn mang cả tri thức trong sách vở, kinh thư vào trong câu hát, lúc này không phải hát đối nữa mà là thi thố về tài năng, về trí tuệ:

“Đến đây hỏi khác tương phùng
Chim chi một cánh bay cùng nước non?
Tương phùng nhắn với tương tri,
Lá buồm một cánh bay đi khắp trời”

“Lá gì không nhánh, không ngành?
Lá gì chỉ có tay mình trao tay?
Lá thư không nhánh, không ngành,
Lá thư chỉ có tay mình trao tay”.

Sự tham gia của các nhà nho đã làm cho điệu hát ví dân gian trở màu mè hơn, bác học hơn, hàm súc hơn. Hát ví thường có những từ đệm như: ơi, ơ, chứ, thì, rằng, mà… xen kẽ giữa các nhịp, các tiết của lời thơ, lúc mở rộng kéo dài, lúc ngân nga lơ lửng. Vào cuộc hát bao giờ bên nam hỏi, bên nữ đáp “thưa chi” thì bên nam mới tiếp tục hát. Hay ngược lại, bên nữ hỏi nếu được bên nam đáp lại thì mới hát tiếp. Họ vừa làm vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động. Và đặc biệt trong câu hát ví, những “nghệ sỹ” hai sương một nắng trên đồng ruộng vụt trở thành những tiểu thư khuê các, những trang công tử hào kiệt, hát để bày tỏ tấm lòng của mình. Điều này đã làm cho hát ví trở nên tế nhị hơn, độc đáo hơn.

Ân tình xứ Nghệ

Do hát ví gắn liền với lao động, nên mỗi một loại hát ví lại gắn với một loại hình lao động riêng biệt như: hát ví của những người đi cấy thì gọi là ví phường cấy, hát ví của những người đi củi thì gọi là ví phường củi, hát ví của những người dệt vải thì gọi là ví phường vải… Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả. Đặc biệt, hát phường vải chỉ có ở xứ Nghệ.

Bảo tồn những nét đẹp xưa

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, dân ca Nghệ Tĩnh vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay, và mỗi loại hình lại mang những đặc trưng riêng. Nhưng trước sự du nhập của nhiều nền văn hóa ngoại lai trong quá trình mở cửa hội nhập thì có một thực tế đáng buồn là dân ca Nghệ Tĩnh đang dần bị mai một. Các nghệ nhân dân gian bây giờ hiếm như là mùa thu, tuổi các cụ cũng xế chiều. Hiện nay các nghệ nhân đang cố gieo trồng những lớp kế tục để giữ gìn truyền thống ca hát của dân tộc. Tuy nhiên những tâm huyết đó chưa được đền đáp xứng đáng. Trẻ con ngày trước được nuôi lớn bằng những khúc hát dân ca trữ tình sâu lắng, đầy tính nhân văn. Ngày nay người mẹ ru con không thể thuộc lấy một câu hát dân ca. lớp trẻ không còn quan tâm nhiều đến dòng nhạc truyền thống. Có thể nói thời nào thì có nghệ thuật của thời đó. Vì vậy, dân ca muốn sống được chỉ còn cách duy nhất phải kịp thời cải tiến, nhưng cải tiến không phải là gieo vừng ra đỗ mà làm mất đi cái tinh túy của ông cha.

Nơi ta ngồi ngóng mẹ

Có một “kênh” giúp bảo lưu, giữ gìn và phát huy vốn dân ca xứ Nghệ tuy âm thầm nhưng diễn ra liên tục, có chiều sâu học thuật. Đấy là khá nhiều đầu sách giá trị của các nhà nghiên cứu có tên tuổi như: Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Chung Anh, Ninh Viết Giao, Trần Hữu Thung, Dương Hồng Từ, Thanh Lưu… bàn về hát ví phường vải, ví sông Lam, hát dặm Thạch Hà, về dân ca Nghệ – Tĩnh. Sự kiện thành lập Trung tâm Bảo tồn và phát huy Di sản Dân ca xứ Nghệ với tư cách là một cơ quan nghiên cứu khoa học, lưu trữ đã và sẽ đóng một vai trò không nhỏ trong việc bảo tồn di sản dân ca – ví dặm Nghệ – Tĩnh.

Nơi tạo cảm hứng cho những câu ví giặm ân tình

Hy vọng, một ngày không xa, dân ca xứ Nghệ sẽ được tôn vinh.

Bên con sông quê, ví giặm đã ngấm sâu trong lòng mỗi người

THƯƠNG THƯƠNG HOÀI