Tag Archives: hát giặm/dặm

Dặm hay là giặm?, dân ca Nghệ Tĩnh


Dặm hay là giặm?

Lao Động  – 07/09/2013 06:50

Anh Phan Thanh Bằng (29 Vạn Bảo, quận Ba Đình, Hà Nội) có hỏi: “Vừa rồi, khi đọc bài Trước thềm Liên hoan Dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh lần 2 của tác giả Vi Thùy Linh (Thể thao & Văn hóa, số 229, 17.8.2013), tôi có 2 điều thắc mắc muốn hỏi: 1. Hát ví dặm và hát dặm có phải là một không? 2. Về chính tả, tôi thấy đa số mọi người vẫn viết là hát dặm chứ ít thấy viết là hát giặm. Vậy cách viết nào đúng? Tại sao?”.

Trước hết, phải nói rằng cấu trúc hát ví dặm/giặm là cách nói chỉ tổng hợp hai loại hát dân gian cổ truyền ở vùng Nghệ Tĩnh. Dù là hai hình thức dân ca rất gần nhau, nhưng chúng có sự khác biệt. Theo “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, 2011) thì hát dặm là “lối hát dân gian ở Nghệ Tĩnh, nhịp điệu dồn dập, lời dựa vào thơ năm chữ, hai câu cuối bao giờ cũng lặp lại về âm vận và câu chữ”, còn hát ví là “hát đối đáp có tính chất trữ tình giữa trai và gái trong lao động” (như ví đò đưa, ví phường nón, ví phường vải, ví trèo non) v.v…Còn về cách viết, hiện tại đang tồn tại hai cách hiểu dẫn đến hai biến thể chính tả như anh Phan Thanh Bằng thắc mắc. Nếu ta viết “dặm” là ta chấp nhận đây là một danh từ. Lúc này dặm có thể chỉ một đơn vị đo độ dài. Đơn vị này ở Trung Quốc hay Việt Nam (trước vẫn dùng) tương đương 444,44m, còn ở một số nước phương Tây (như Anh) thì đơn vị này tương đương 1.609m. Trong tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, dặm còn là từ chỉ một “dụng cụ bắt cá nhỏ, tôm tép ven sông” (Nguyễn Nhã Bản chủ biên, “Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh”, 1999).

Còn khi viết “giặm” thì như vậy, giặm được hiểu là một động từ, có nghĩa: 1. Đan, vá thêm vào chỗ nan hỏng; 2. Thêm vào chỗ còn trống, còn thiếu cho đủ (“Từ điển tiếng Việt”, Hoàng Phê chủ biên, đã dẫn). Chính từ quan niệm như vậy mà đã xảy ra sự tranh luận về cách viết này với sự phân hóa hai cách hiểu như đã nói.

Theo Đỗ Thị Kim Liên, “sở dĩ gọi là giặm bởi bài nào cũng chứa ít nhất một câu lặp lại câu đi trước giữa khoảng trống hai khổ thơ, giống như giặm mạ thêm vào chỗ trống. Bài ít thì chỉ một cặp giặm, bài nhiều thì có đến 12 cặp lặp lại” (Tạp chí “Từ điển học & Bách khoa thư”, số 2/2012, tr. 8).

Tác giả Nguyễn Văn Ẩm không đồng tình cách hiểu này. Theo ông, “giặm trong “hát giặm” không phải chủ yếu là thêm vào hay lặp lại. Ở Nghệ Tĩnh khi người ta đề cập đến giặm ló (lúa), giặm má (mạ) thì ai cũng hiểu rằng ở đâu đó có nhiều thửa ruộng, nhiều khóm ló (lúa) bị chết, cần phải giặm lại, tức là cấy lại vào đúng chỗ những cây lúa, cây mạ bị héo, chết” (Tạp chí “Từ điển học & Bách khoa thư”, số 3/2013, tr. 64). Tuy nhiên, về cơ bản, giữa hai tác giả này chỉ có sự hiểu khác nhau về độ chính xác ngữ nghĩa chứ cả hai đều thừa nhận giặm là động từ.

Vấn đề phức tạp trên đã từng dấy lên sự tranh luận khá sôi nổi tại Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ” tổ chức tại TP Vinh, Nghệ An, vào tháng 3.2011. Không ít người cho rằng phải viết là “dặm” mới đúng (và thực tế, đa số các văn bản trước đây, cách viết “dặm” nhiều hơn hẳn so với “giặm”. “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê chủ biên) còn không thống kê từ “giặm” như một mục từ). Cuối cùng, sau nhiều ý kiến bàn thảo, căn cứ vào nhiều cứ liệu và luận cứ khá thuyết phục, các nhà khoa học đã trao đổi và nhất trí là từ nay (2011) sẽ sử dụng cách viết là GIẶM trên tất cả các văn bản chính thức.

Hiểu những chuyện liên quan tới nguồn gốc, xuất xứ tên gọi từ ngữ lịch sử, nhất là những tên gọi được truyền khẩu trong dân gian, luôn là vấn đề khá phức tạp, không dễ dàng có ngay một “đáp số” thỏa đáng. Chính sự phức tạp này là một phần của cuộc sống ngôn từ, là cái làm nên sự phong phú, cái hay của tiếng Việt chúng ta. Thời gian đã khỏa lấp nhiều dấu vết. Nhưng chính thời gian cũng giúp ta tìm lại những giá trị thực bị “hóa thạch” còn ẩn tàng trong các áng thơ văn.