Tag Archives: hát then

THANH PHƯƠNG : Hát Then mong được xem là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại


Hát Then mong được xem là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

Phát Thứ sáu, ngày 16 tháng mười năm 2015
Hát Then mong được xem là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

Ảnh minh họaDR

Hát Then là một loại hình âm nhạc không chỉ mang tính dân gian mà còn gắn chặt với tín ngưỡng của người dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Thái và Việt Nam hiện đang làm thủ tục để đề nghị tổ chức UNESCO công nhận thể loại âm nhạc này là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào năm 2016.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam vừa thông qua kế hoạch tổng thể xây dựng hồ sơ đề cử quốc gia “Then, Tày, Nùng, Thái” đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Liên hoan nghệ thuật hát Then toàn quốc lần thứ 5 cũng vừa diễn ra ở Tuyên Quang trong tháng 9 vừa qua.

Cũng tại Tuyên Quang, một hội thảo khoa học quốc tế với đề tài: “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Then các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam” đã được tổ chức trong hai ngày 25 và 26/09/2015, trong đó có sự tham gia của bốn chuyên gia nước ngoài là những nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học và khoảng 80 đại biểu từ nhiều vùng khác nhau ở Việt Nam. Hội thảo này là nhằm trao đổi về những đặc trưng của hát Then, về lời ca, nhạc ngữ, tiết tấu, lễ nghi, nhằm tạo ra một hồ sơ vững chắc cho đơn xin công nhận hát Then là di sản văn hóa phi vật thể.

Trước khi về Việt Nam để tham gia hội thảo này, giáo sư Trần Quang Hải, nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc, đã trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ về hát Then, để giải thích vì sao thể loại âm nhạc này rất xứng đáng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể.

Giáo sư Trần Quang Hải 05/10/2015 Nghe

Cho tới nay Việt Nam đã có 9 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận, theo thứ tự thời gian từ mới nhất đến cũ nhất là Dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh được công nhận năm 2014, Đờn ca tài tử Nam Bộ được công nhận năm 2013, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được công nhận năm 2012, Hát xoan được công nhận năm 2011, Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội, được công năm 2010, Ca trù được công nhận năm 2009, Dân ca Quan họ được công nhận ngày 30/9/2009. Riêng Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào năm 2005, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Và di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận năm 2003, chính là Nhã nhạc cung đình Huế. Đến năm 2008, thể loại âm nhạc này được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.


Cùng chủ đề

  • TẠP CHÍ VIỆT NAM

    Di sản văn hóa phi vật thể chưa được bảo tồn đúng đắn

    Để biết thêm

  • TẠP CHÍ VĂN HÓA

    Hà Thị Cầu – Truyền nhân cuối cùng của nghệ thuật Hát xẩm?

    Để biết thêm

  • TẠP CHÍ XÃ HỘI

    Ca trù trước ngã ba đường: Phục sinh hay mai một

    Để biết thêm

  • TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

    Hát Xoan : sự hồi sinh của một môn nghệ thuật giao duyên

QUANG HÒA : Họp báo về Liên hoan Nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam lần thứ V và Lễ hội Thành Tuyên 2015


Họp báo về Liên hoan Nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam lần thứ V và Lễ hội Thành Tuyên 2015

TQĐT – Sáng 15-9, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Tuyên Quang tổ chức buổi họp báo Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam lần thứ V và Lễ hội Thành Tuyên năm 2015 tại tỉnh Tuyên Quang.

Tham dự và chủ trì buổi họp báo có các đồng chí: Huỳnh Vĩnh Ái, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trưởng Ban Chỉ đạo Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam lần thứ V; Nguyễn Hải Anh, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam lần thứ V, Trưởng Ban Tổ chức Lễ hội Thành Tuyên năm 2015; lãnh đạo một số cục, vụ, viện của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; lãnh đạo một số sở, ban, ngành, UBND thành phố Tuyên Quang; đại diện các cơ quan thông tấn, báo chí.


Đại diện lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang
chủ trì  buổi họp báo.

Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam lần thứ V và Lễ hội Thành Tuyên năm 2015 được tổ chức từ ngày 24 đến 26-9 (tức 12 đến 14-8 âm lịch) bao gồm các hoạt động: Hội chợ Nông nghiệp và Thương mại vùng Tây Bắc năm 2015 trưng bày sản phẩm nông nghiệp của 26 tỉnh, thành phố (khai mạc tối 23-9 tại sân Trung tâm Văn hóa, Thể thao Thanh thiếu nhi tỉnh Tuyên Quang); Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam lần thứ V gồm 14 tỉnh tham gia (khai mạc tối 25-9 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành) và Đêm hội Thành Tuyên năm 2015 với sự diễn diễu của khoảng 90 mô hình đèn Trung thu (khai mạc vào tối 26-9 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành). Trong Liên hoan sẽ có Triển lãm chủ đề “Di sản văn hóa Then Tày, Nùng, Thái Việt Nam”; Hội thảo quốc tế “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật hát Then – đàn Tính di sản văn hóa dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam”; biểu diễn giới thiệu các thể loại di sản hát, múa Then, đàn Tính. Liên hoan là hoạt động thiết thực để các địa phương, các cơ quan chức năng tiến tới hoàn thiện hồ sơ khoa học trình Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa UNESSCO của Liên Hiệp Quốc công nhận Then là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Chương trình có cầu truyền hình trực tiếp trên sóng VTV1, truyền hình trực tiếp trên sóng VTV2, VTV5 – Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Phát thanh và Truyền hình Tuyên Quang và một số đài Trung ương và địa phương khác.

Tại buổi họp báo, các phóng viên đã nêu những câu hỏi liên quan đến công tác tổ chức Liên hoan và Lễ hội. Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang đã trả lời, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho các nhà báo. Lễ hội Thành Tuyên năm 2015 dự kiến sẽ có nhiều đại biểu Trung ương, quốc tế, các tỉnh thành phố, các du khách thập phương tới dự.

MAI AN : Hoàn thiện hồ sơ hát then trình UNESCO công nhận là di sản của nhân loại


Hoàn thiện hồ sơ hát then trình UNESCO công nhận là di sản của nhân loại

Thứ ba, 29/04/2014, 00:16 (GMT+7)

(SGGP).- Viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam cho biết đang cùng 11 tỉnh phía Bắc là Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Lai Châu, Lào Cai… xây dựng và hoàn thiện hồ sơ hát then dân tộc Tày và Nùng trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Hát then là loại hình nghệ thuật truyền thống và là hình thức sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong cuộc sống của đồng bào dân tộc Tày, Nùng. Hát then bắt nguồn từ niềm tin “vạn vật có linh hồn”, là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng, vừa phản ánh vừa mô tả, gửi gắm, nhắn nhủ những ngọt bùi đắng cay của cuộc sống ông cha. 

Hát then mang tính chất dân gian khá rõ rệt, được lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng đồng bào dân tộc Tày và Nùng. Không chỉ thích nghe và xem, người dân còn thích được tham gia hát then. Bởi trong hát then có cả hát múa, đàn, hội họa và có cả giao duyên.

Dự kiến vào khoảng tháng 7, hội nghị khoa học quốc tế về nghệ thuật hát then sẽ được tổ chức nhằm quảng bá cho loại hình văn hóa dân gian này.

MAI AN

http://www.sggp.org.vn/amnhac/2014/4/347813/

MẶC LÂM / biên tập viên RFA: Đàn tính hát then


Đàn tính hát then

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-05-17
 

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này

05172013-dan-tinh-hat-then.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Nghệ nhân Hà Văn Thuấn (Tuyên Quang) truyền dạy hát Then, múa Then cho các cháu gái của mình.

Nghệ nhân Hà Văn Thuấn (Tuyên Quang) truyền dạy hát Then, múa Then cho các cháu gái.

Ảnh: Hồng Hà/qdnd
 

 Nghe bài này

Chương trình Văn hóa Nghệ thuật tuần này Mặc Lâm xin được giới thiệu một loại hình văn hóa dân gian của người dân tộc Tày Nùng cũng như Thái ở biên giới phía Bắc, đó là “đàn tính hát then”.

Bắt nguồn từ những nghi lễ tín ngưỡng

Loại hình nghệ thuật dân gian này bắt nguồn từ những nghi lễ tín ngưỡng và cầu đảo trong cộng đồng người dân tộc. Nó được phát triển và dần dần dân gian tự sáng tác theo cảm hứng của mình để miêu tả những mảng đời sống xã hội khác trong đó có tình yêu đôi lứa cũng như những câu chuyện thú vị khác xảy ra trong đời sống cộng đồng.

Hát then là loại hình diễn xướng dân gian tổng hợp trong đó có đàn hát, múa, kể chuyện, và thậm chí diễn trò như một chương trình tạp kỹ thu nhỏ. Người hát và đàn không phải là nghệ sĩ nhưng do yêu thích họ tự nguyện cùng quây quần với nhau sáng tác, trình diễn và biến loại hình này thành di sản văn hóa của cộng đồng.

Đàn tính có khi được những người hát sử dụng cùng lúc và làm cho âm thanh trở nên rộng và sâu hơn trong không gian nơi trình diễn. Trang phục của người đàn và hát rất huê dạng, đầy màu sắc hoa văn. Trang phục là nét chính khiến buổi trình diễn hấp dẫn hơn.

Loại hình nghệ thuật dân gian này bắt nguồn từ những nghi lễ tín ngưỡng và cầu đảo trong cộng đồng người dân tộc. Nó được phát triển và dần dần dân gian tự sáng tác theo cảm hứng của mình để miêu tả những mảng đời sống xã hội khác trong đó có tình yêu đôi lứa

Một buổi hát then thường thấy là người hát và người múa ngồi chung với nhau. Động tác múa rất đơn giản chỉ sử dụng đôi tay lập đi lập lại những mô típ rung chuyển và di dộng nhẹ nhàng thường thấy trong các nghi thức tín ngưỡng của người Tày, Nùng tại vùng Việt Bắc.

 

Hát tính, Làm then trừ tà ma của người Tày
Hát tính, Làm then trừ tà ma của người Tày – Ảnh: H.Hương/TT

 

Cũng có những màn hát múa được biên tập và trình diễn bởi những nghệ sĩ chuyên nghiệp của các đoàn văn công, nhưng người ta vẫn thích được ngồi ngắm người nghệ sĩ của bản làng mình hơn là những âm thanh từ loa điện tử cộng với ánh đèn chói chang của sân khấu.

Đàn tính và hát then

Chúng tôi hỏi chuyện với nhạc sĩ Hoàng Quân, người đã đến thành phố Hồ Chí Minh nhiều chục năm qua mang theo cây đàn tính của quê hương Lạng Sơn với ước muốn phổ biến và phát triển loại hình văn hóa dân tộc này cho các bạn trẻ tại thành phố.

Cuối thế kỷ 16 năm 1598 ông Mạc Kinh Cung bị nhà Lê đánh giạt lên Cao Bằng do buồn quá mới cho quan văn kiếm một đoàn các cô gái đẹp làm thành một đoàn hát then, còn một đoàn khác toàn đàn ông thì hát dàn. Sau này hát được rồi thì đem vào cung vua để hát cho vua khuây khỏa. Đây cũng là loại nhạc hát trong cung đình nhưng chỉ trong thời nhà Mạc. Thời kỳ đó nhà Mạc đã bại trận rồi cho nên không mạnh mẽ như trong triều vua nhà Nguyễn ở Huế. Từ đó trở đi mới có từng đoàn từng tốp chia thành hai loại, một loại là tâm linh, một loại là diễn xướng văn nghệ nó cũng giống như nhạc tài tử và nhạc cải lương vậy.

Đàn tính hát then phát triển ở rừng núi phía Bắc Việt Nam như Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Hà Giang. Những tỉnh sát biên giới với Trung Quốc. Hát then thì phải đi liền với cây đàn tính chứ không phải đây là hai thể loại khác nhau. Đàn tính được người ta làm bằng vỏ của trái bầu lớn và nó đi liền với hát then. Nếu mình sử dụng loại đàn khác thì nó sẽ không còn hay nữa cho nên người ta mới gọi là hát then đàn tính. Thế gian này chỉ có một loại âm nhạc này thôi.

 

Nghệ nhân làm đàn tính ở Cao Bằng. Ảnh: Hồng Gấm
Nghệ nhân làm đàn tính ở Cao Bằng. Ảnh: Hồng Gấm/LĐ

 

 

Hát then thì phải đi liền với cây đàn tính chứ không phải đây là hai thể loại khác nhau. Đàn tính được người ta làm bằng vỏ của trái bầu lớn và nó đi liền với hát then. Nếu mình sử dụng loại đàn khác thì nó sẽ không còn hay nữa cho nên người ta mới gọi là hát then đàn tính

Đàn tính thì hiện nay có hai loại, một loại hai giây và một loại ba giây. Hiện nay về hướng Việt Bắc người ta dùng ba giây hết, cón phía Tây Bắc tức đồng bào Thái thì người ta dùng hai giây nó đơn giản hơn nhưng hai giây hay ba giây thì đều như nhau chẳng qua giây giữa là giây sòl còn giây trên là giây sol. Giây sòl thì quảng 8 nó hạ xuống thấp nữa mới hay được

Ngày xưa hát then đàn tính mang tính chất của đời sống tâm linh thí dụ như người ta cầu mùa, vào lễ tân gia, lễ Kỳ Yên vào tháng Giêng người ta cầu cho mùa màng tốt tươi…gia đình sống lâu sống khỏe, gia cầm chăn nuôi thì phát triển, mang tính chất đời sống tâm linh. Khi hòa bình lập lại rồi thì các tỉnh nó mới thành lập các đoàn văn công sau đó người ta mới sáng tác trong từng đoàn và đi biều diễn nhiêu nơi.

Hiện nay hầu hết ở các miền núi từ sau này nó mang tính chất bảo tồn thôi còn hát thì rất ít vì vậy mình đem vào thành phố Hồ Chí Minh để sáng tác và kêu gọi đồng bào người Kinh kể cả Việt kiều cũng học với mình. Có một bà người Pháp cũng học và sau đó mở một “câu lạc bộ Đàn tính hát then”. Đàn tính hát then thì phát triển trong dân tộc Tày, dân tộc Nùng còn dân tộc Thái thì nó chỉ rất ít trong cách sử dụng đàn hai giây thôi. Hiện nay thì thành lập nhưng nói chung nhà nước không làm được bao nhiêu chỉ khuyến khích phát triển thể loại này để làm hồ sơ di sản UNESCO.

Đàn tính hiện nay phát triển ở các vùng phía Bắc còn tôi là người đầu tiên đưa vô Sài Gòn này và bây giờ tôi đang phát triển trong các trường đại học ở Sài Gòn. Vừa rồi đi thi ở các trường đại học thì sinh viên thi môn đàn tính hát then nó được giải nhất. Mình phải mở ra cho tuổi trẻ ở các thành phố lớn thì nó mới lan tỏa được nhiều hiện nay tôi chú ý trong các trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh. Tôi cũng dạy ở một số câu lạc bộ cho người cao tuổi nhưng rất thiếu thốn kinh phí.

Tôi có diều kiện sáng tác và lại là người Tày nữa. Tơi sinh ra và lớn lên ở Lạng Sơn Cao Bằng cho nên vừa sáng tác vừa rành tiếng Tày tiếng Nùng lại vào ở thành phố Hồ Chí Minh nữa cho nên có cơ hội tiếp cận với nền văn hóa hiện đại của Việt Nam và thế giới nhưng tôi thiếu người bạn đồng hành, thiếu tiển nong để giúp cho người họ. Học cái này thì cần cây đàn tính và đồng thời phải mặc quần áo Tày lên sân khấu thì nó mới đúng gout của nó. Sinh viên đã đi học xa rồi mà còn phải mua quần áo thì cũng khó cho các em.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/dan-tinh-hat-then-05172013074520.html

Lập hồ sơ trình UNESCO công nhận hát Then


Lập hồ sơ trình UNESCO công nhận hát Then

 Lập hồ sơ trình UNESCO công nhận hát Then
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chỉ đạo hoàn tất hồ sơ trình UNESCO công nhận hát Then là văn hóa phi vật thể nhân loại, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý IV – 2012.

 

Hát Then là thể loại âm nhạc thứ 7 của Việt Nam làm hồ sơ trình UNESCO công nhận di sản Văn hóa phi Vật thể.

Sau chuyến thăm và làm việc tại Tuyên Quang vào tháng 5 vừa qua, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã đồng ý với đề nghị của tỉnh về việc lập hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu hát Then của dân tộc Tày khu vực Việt Bắc để đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. 

Phó Thủ tướng giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, hướng dẫn tỉnh Tuyên Quang, Cao Bằng và các tỉnh phía Bắc hoàn tất hồ sơ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý IV -2012.

Hát Then là di sản văn hoá của vùng Việt Bắc, Tây Bắc. Vùng lõi của hát Then là các tỉnh: Cao Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn và Bắc Kạn. Hát Then là văn hoá “gốc” của dân tộc Tày nhưng thực tế người Nùng, người Thái cũng hát then và hát then đã có mặt ở 14 tỉnh, thành phố trong cả nước.

Ở Tuyên Quang, hát Then có mặt ở các hội diễn, giao lưu văn hóa văn nghệ và đặc biệt là món ăn tinh thần không thể thiếu ở các xóm bản vùng Chiêm Hóa, Nà Hang, Lâm Bình.

Được biết, Tuyên Quang hiện chỉ còn 2 nghệ nhân nắm giữ các làn điệu hát Then cổ đều đã ngoài 70 tuổi nhưng vẫn chưa có người kế nghiệp. Trong khoảng 40 hạt nhân văn hoá là người dân tộc Tày chỉ có số ít biết hát then cổ.

Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Tuyên Quang đã đề nghị ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh giới thiệu bộ môn hát vào các trường học ở vùng hát then nhưng chưa được chấp nhận. Hát Then đang đứng trước nguy cơ bị mai một nếu không có giải pháp đồng bộ và hữu hiệu.

Việc lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể là vấn đề cấp bách để bảo tồn và đưa hát Then Tuyên Quang vào dòng chảy di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.

UNESCO bắt đầu xét công nhận di sản Văn hóa phi vật thể từ năm 2001. Đến nay, Việt Nam đã có 5 thể loại âm nhạc được công nhận ở hạng mục này là Nhã nhạc Cung đình Huế (2003), Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên (2005), Dân ca quan họ Bắc Ninh (2009), Ca trù Thăng Long (2009) và Hát Xoan Phú Thọ (2011). Ngoài ra, hồ sơ Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được trình hồ sơ đề nghị xem xét công nhận, và Dân ca Ví dặm Nghệ Tĩnh cũng đang xúc tiến lộ trình này.

http://yenbaiact.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=243:lp-h-s-trinh-unesco-cong-nhn-hat-then-&catid=48:tin-tc-s-kin&Itemid=253

 

Giá trị văn hoá đặc sắc của loại hình hát Then dân tộc Tày


Giá trị văn hoá đặc sắc của loại hình hát Then dân tộc Tày
Ngày đăng tin: 16/07/2012 2:29 CH

Trong đời sống xã hội của người Tày, Then có nhiều giá trị văn hoá: Then phản ánh hiện thực xã hội Tày ở các giai đoạn lịch sử; phản ánh thế giới tâm linh của người Tày; phản ánh các giá trị gia đình truyền thống của người Tày; phản ánh sự đa dạng của văn hoá Tày, đồng thời Then cũng tích hợp những giá trị văn hoá nghệ thuật đặc trưng của người Tày tiêu biểu là nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn cộng với môi trường diễn xướng mang đậm màu sắc tâm linh, thông qua các thể loại độc tấu, song tấu, hòa tấu, hỗn tấu cùng cây đàntính

Dưới đây, chúng tôi đề cập một phần giá trị văn hóa đặc sắc của Then Tày.

Ra đời trong dân gian, gắn với đời sống của dân gian nên lời hát Then là sự phản ánh chân thực cuộc sống của người dân miền núi mà trước hết là môi trường tự nhiên- xã hội của người Tày. Chúng ta có thể nhận thấy làng bản và cuộc sống sinh hoạt lao động sản xuất của người Tày hiện lên rất quen thuộc trong các câu Then: “đầu bản có giếng nước nguồn, trên cánh đồng có nơi thả vịt, có đàn lợn, đàn trâu thả rông”…

Then cũng gắn liền và có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của người Tày. Một số thầy Then đã sơ đồ hoá con đường lên mường Trời của họ mà qua đó mường Trời hiện lên chẳng khác gì mường Đất. Nó cũng bao gồm cảnh vật, rừng núi, chim muông, sông suối, chợ búa buôn bán làm ăn chẳng khác gì dưới trần gian. Nhiều chương, đoạn trong lời hát Then đã miêu tả khá sinh động về một không gian miền núi đầy chất hoang dã như thuở khai thiên lập địa: “núi rừng âm u rậm rạp nhiều thú hoang, rắn rết, ve kêu, vượn hú, đường đi khúc khuỷu, lên thác, xuống ghềnh”… Lễ vật mà họ đang cúng tiến mường Trời là những sản vật do họ tự nuôi trồng, săn bắt, hái lượm được.

Trong lễ cấp sắc của người Tày, lễ cầu an đầu năm, lễ chúc thọ cha mẹ…, Then là hình thức cơ bản để phản ánh tâm tư, nguyện vọng, những mong muốn rất bình dị của người nông dân: Có thóc gạo, trâu bò, gà vịt đầy nhà; cha mẹ già trường thọ; gia đình hoà thuận yên vui, con cái hiếu thảo trưởng thành; người làm nghề cúng bài thì được linh nghiệm, được dân làng tín nhiệm mang lại vẻ vang cho gia tộc…

Bên cạnh đó, trong Then còn có nhiều nội dung phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội, đề cao những phẩm chất tốt đẹp của con người. Thông qua nghệ thuật sắp xếp ca từ, Then đã khắc họa nên những hình tượng nhân vật tương phản: trai đần- trai giỏi, gái lười- gái chăm, với ý nghĩa răn đe, giáo dục người đời. Để khuyên răn con cái phải hiếu thảo với cha mẹ, Then ca ngợi tình mẫu tử qua kể chuyện thằng cu Vỉnh(1). Để khuyên răn chị em gái, mẹ chồng nàng dâu không nên cãi lộn, tranh chấp nhỏ nhặt, tranh vợ cướp chồng, Then kể về cuộc sống buồn tẻ, cô quạnh của họ sau khi chết lên mường Trời. Để ca ngợi tình nghĩa vợ chồng thủy chung, Then miêu tả cuộc chia tay đầy cảm động của đôi vợ chồng suông trong chương Khảm hải (Vượt biển)(2)… Then cũng bày tỏ lòng cảm thông sâu sắc với những số phận không may mắn như những người tật nguyền, người chết thảm, những trẻ mồ côi, những cô gái xinh đẹp nhưng bị ép duyên hoặc phận mỏng…

Có thể nói, Then hội tụ những giá trị văn học dân gian truyền thống của người Tày với các thể loại truyện kể, truyền thuyết, các câu thành ngữ, tục ngữ đã được chau chuốt, gọt giũa mà qua đó đã làm sáng tỏ được nhân sinh quan và quan niệm về đạo đức của người Tày. Điều quan trọng ở đây là thông qua việc phê phán, khuyên răn, ca ngợi thực tiễn cuộc sống bằng hình thức diễn xướng hát có đệm đàn, Then đã đạt được hiệu quả tích cực trong giáo dục cộng đồng mà không phải hình thức tuyên truyền nào cũng làm được./.

__________________________

(1), (2) : Theo truyền thuyết và truyện kể của dân tộc Tày.

Các tin khác:

NGHỆ THUẬT HÁT THEN


Nghệ thuật hát Then

Trong kho tàng nghệ thuật dân gian truyền thống của Việt Nam có một điệu hát vô cùng đặc sắc và là nét đặc trưng văn hóa của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái đó là điệu hát Then.

Các nghệ sĩ hát Then “Then” theo tiếng đồng bào dân tộc là Thiên tức là Trời, vì thế hiểu theo ngôn ngữ dân tộc thì điệu hát Then được coi là điệu hát thần tiên, là một loại hình nghệ thuật mang màu sắc tín ngưỡng thuật lại một cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin một điều gì đó.

Hát Then gắn bó sâu sắc với đời sống tinh thần và tâm linh của đồng bào dân tộc bởi nó xuất phát từ tín ngưỡng về một thế giới thần bí, nơi có những nhân vật và sức mạnh diệu kỳ như: Bụt, Giàng, Trời…Chỉ có những ông Then, bà Then mới có đủ sức mạnh và bản lĩnh cũng như khả năng đến được thế giới đó. Khi những  ông Then, bà Then này dâng lên Mường Trời những sản vât của con người thì họ hát. Lúc đầu hát Then chỉ có một người, tay đệm đàn, miệng hát, chân xóc nhạc. Chính lời hát bài hát Then, hòa trong nhịp đàn tính dìu dặt, cùng tiếng đệm đàn, miệng hát, chân xóc nhạc sẽ đưa ông Then, bà Then đến với Mường Trời.  Do vậy, người hát Then trong dịp lễ, tết là những người đại diện cho cộng đồng, cho người dân giao tiếp với thần linh để cầu xin mùa màng bội thu, tươi tốt, đời sống ấm no, hanh phúc..

Âm nhạc là yếu tố xuyên suốt cuộc hát Then. Hát Then có nhiều bài bản, làn điệu khác nhau, đến nay ngoài các điệu Then cổ còn có các điệu Then mới được biên soạn. Người Tày, người Nùng và người Thái bất kể tuổi tác, giới tính đều rất thích nghe hát Then. Hát Then không chỉ là một làn điệu dân ca thông thường mà còn là một nghệ thuật tổng hợp bởi người nghệ sĩ hát Then vừa phải biết hát, biết đệm đàn lai phải biết múa. Mặc dù ở mỗi vùng quê đều có những làn điệu hát Then khác nhau ví dụ như: Then – Lạng Sơn dìu dặt tha thiết, Then – Tuyên Quang dồn dập như thúc quân ra trận, Then – Hà Giang lại nhấn nhá từng tiếng một, Then – Bắc Kạn lại như tiếng thì thầm…Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể, Then có một số loại hình thể hiện các chức năng chính như: Then Kỳ Yên có nghĩa là cầu an, Then cầu mùa, Then chúc tụng, Then chữa bệnh, Then cấp sắc…

Nói đến nghệ thuật hát Then sẽ không thể không nhắc đến cây đàn Tính, bởi nếu thiếu đi âm thanh của cây đàn này thì điệu hát Then sẽ không hoàn chỉnh. Tiếng trầm bổng ngân nga từ cây đàn tính quyện với những lời ca, tiếng hát của Then như đưa người ta vào một thế giới hư ảo, huyền bí…

Cho đến hôm nay, hát Then vẫn còn được lưu giữ và là một món ăn tình thần không thể thiếu ở nhiều địa phương nơi có người đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái sinh sống.

Theo Cinet

Created by doanthuha

http://www.archives.gov.vn/Pages/Tin%20chi%20ti%E1%BA%BFt.aspx?itemid=1840&listId=cb018edc-28eb-4aca-9b21-bd3ad3eef91d&ws=content