Tag Archives: hát tuồng

Trích đoạn tuồng “Ông già cõng vợ đi xem hội” – Nguyễn Đức Vĩnh (CK Vietnam’s Got Talent 2015)


Ajoutée le 5 avr. 2015

Tiết mục: Trích đoạn Tuồng “Ông già cõng vợ đi xem hội”
Biểu diễn: Đức Vĩnh (Nguyễn Đức Vĩnh)
Chương trình: Tìm kiếm tài năng Việt Nam – Vietnam’s Got Talent, đêm thi chung kết ngày 05/04/2015.

HUỲNH VĂN MỸ : Ông quan viết tuồng


ĐÀO TẤN – ÔNG QUAN “KỊCH TÁC GIA” – KỲ 2:

​Ông quan viết tuồng

31/03/2015 10:30 GMT+7

TT – Soạn tuồng là loại hình sáng tác đòi hỏi tác giả không chỉ có tài năng mà còn phải đầu tư rất nhiều thời gian, công sức cho tác phẩm của mình. 

Nguyên tác vở tuồng Trầm hương các của Đào Tấn có bút tích của bà Chi Tiên – thứ nữ cụ Đào Tấn – duyệt định (bản gốc hiện lưu tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định) – Ảnh: H.V.M.

Vậy mà Đào Tấn nhiều lúc vừa lo việc quan lại vừa sáng tác tuồng, chỉnh sửa tuồng cũ, đã để lại một di sản tuồng đồ sộ. Quả như lời nhiều người nói: “Với Đào Tấn làm quan là xác, viết tuồng mới là hồn phách của ông”…

Phụng mệnh vua sáng tác

Xem tấm biển viết chữ Hương thảo thất (nhà cỏ thơm) mà Đào Tấn treo trước mái nhà tranh nơi quê nhà Vinh Thạnh khi ông về hưu (1904), rồi đọc đây đó những câu thơ ông viết: Tràng An từ giã ra về/Trong mơ dắt nhạc thái hòa cùng đi, hay: Cười mình nếu sống đầy trăm tuổi/Chỉ thích đề ngâm khắp dưới trời mới thấy chuyện làm quan không phải là điều chí cốt của Đào Tấn.

Phải đem văn chương, mà chủ yếu là tuồng tích, là nghệ thuật hát bội để góp phần “phù thế giáo”, di dưỡng tâm khí con người mới chính là lý tưởng, là sở nguyện của Đào Tấn.

“Đào Tấn quả là có duyên với kịch nghệ hát bội” – nhà nghiên cứu Đặng Quý Địch nhận xét.

Cái duyên ấy, theo ông Địch, là khi được bổ dụng (1871 – bốn năm sau khi đậu cử nhân) Đào Tấn đã gặp được vua Tự Đức – vị vua nổi tiếng hay chữ, giỏi thơ văn lại yêu thích tuồng – chọn làm chức hiệu thư (biên chép, sửa chữa thư tịch) ở ngay tại triều.

Thấy văn tài của Đào Tấn, chỉ một năm sau nhà vua đã giao cho ông viết ba vở tuồng Đảng khấu, Bình địch và Tam bảo thái giám thủ bửu.

Được viết theo chỉ dụ của nhà vua để diễn ở cung đình, những vở tuồng này phần nào thể hiện mong muốn của nhà vua là dẹp được quân Pháp (Bình địch), trừ xong đám giặc khách cùng các cuộc dấy loạn của nông dân (Đảng khấu) và mở được mối giao hảo với bên ngoài để có thế lực đối địch với người Pháp mà vẫn giữ được khí chất của riêng nước mình (Thủ bửu).

Soạn được ba vở tuồng này để công diễn trên sân khấu cung đình Duyệt Thị Đường – vốn có từ thời vua Minh Mạng – sao cho vừa ý ông vua giỏi văn chương, sành nghệ thuật hát bội như Tự Đức quả là không dễ.

Thấy tài năng viết tuồng xuất sắc của Đào Tấn, sau hai năm để ông rời kinh nhậm chức tri phủ Quảng Trạch (tỉnh Quảng Bình), năm 1876 “vị vua mê tuồng” Tự Đức lại triệu ông về nội các để… tiếp tục viết tuồng.

Nhà nghiên cứu Đặng Quý Địch cho rằng điều đáng nói trong lần phụng chỉ sáng tác này là Đào Tấn đã không dựa theo tích truyện có trước mà tự mình tạo ra cốt truyện để viết tuồng.

Cũng như ba vở tuồng ông phụng chỉ sáng tác lần đầu, Tứ quốc lai vương (sứ thần bốn nước đến triều kiến nhà vua), Quần phương hiến thụy (đám vật quý đưa điềm tốt) mỗi tuồng cũng đều có ba hồi, mỗi hồi diễn trọn đêm từ đầu hôm đến gần sáng.

Còn bộ tuồng vĩ đại Vạn bửu trình tường lại dài đến 108 hồi, trong đó Đào Tấn soạn 68 hồi, từ hồi thứ 41 đến hồi thứ 108! “Soạn ba bộ tuồng này Đào Tấn đã mất hết bốn năm.

Nếu ở Quần phương hiến thụy Đào Tấn dùng tên các loài hoa thì ở Vạn bửu trình tường ông lại dùng tên các vị thuốc bắc để đặt tên cho các nhân vật, trong đó có sự phù hợp về tính cách của nhân vật với loài hoa, vị thuốc mà nhân vật đó mang tên. Tài vậy đó!” – ông Địch dẫn giải.

Mộ Đào Tấn ở sườn núi Huỳnh Mai (xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước), cách làng Vinh Thạnh chừng hai cây số về hướng đông – Ảnh: H.V.M.

Vừa việc quan, vừa viết tuồng

Viết tuồng và viết tuồng. Với Đào Tấn viết tuồng là cái nghiệp ông tự thân nhận lấy với tất cả đam mê, yêu thích.

Dường như để bù lấp cho khoảng thời gian hai năm làm quan đầu phủ Thừa Thiên cùng những năm từ quan về quê ở ẩn vì triều chính rối ren (sau khi vua Tự Đức mất, 1883), khi được bổ làm tổng đốc An Tịnh (Nghệ An, Hà Tĩnh) – 1889, nhà viết tuồng Đào Tấn đã làm việc song hành cùng với ông quan tổng đốc Đào Tấn để lấy lại thời gian đã mất với tuồng!

Vùng đất mới trấn nhậm vốn xa kinh thành, dân tình khó khổ, rối ren, phải lo chấn chỉnh nhiều việc, công vụ bận rộn nhưng Đào Tấn vẫn cố dành thời gian cho tuồng.

Trước hết, ông bắt tay chỉnh lý Sơn hậu – một vở tuồng được coi là di sản quý của hát bội nước ta, được tôn gọi là “tuồng thầy”, là loại tuồng kinh điển mà không một nghệ sĩ hát bội nào không trải qua các vai diễn từ tuồng này mà thành tài.

Tuy vậy do lưu truyền lâu đời, nhiều đoạn của Sơn hậu bị lệch nên Đào Tấn đã phải chỉnh sửa, thậm chí viết lại.

Vẫn chưa hết nỗi canh cánh về những pho “tuồng thầy” đây đó còn chỗ sai lệch, tuềnh toàng do “tam sao thất bổn”, Đào Tấn lại tiếp tục chỉnh sửa các pho tuồng Tam nữ đồ vương, Đào Phi Phụng.

Với Tam nữ đồ vương, Đào Tấn đã chỉnh sửa mạnh tay hồi hai của pho tuồng có ba hồi này thành vở tuồng mới với tên Khuê các anh hùng.

Với pho tuồng bốn hồi Đào Phi Phụng, ngòi bút chỉnh lý của Đào Tấn đậm nét nhất ở hồi 4, trở nên là “vở diễn ăn khách của nhiều thế hệ hát bội ở Bình Định bởi chuyện tình éo le đến cùng cực của hai nhân vật Đào Phi Phụng – Liễu Nguyệt Tâm”, theo lời nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn.

Điểm lại niên biểu sáng tác (và chỉnh lý) tuồng của Đào Tấn, điều nổi bật từ ông quan viết tuồng này là “duyên nợ tuồng” của tác giả với nơi tại nhiệm của mình. Kinh đô Huế và Nghệ An chính là hai nơi mà Đào Tấn đã sáng tác toàn bộ các vở tuồng của mình (trừ Tân Dã đồn).

Nhẹ bớt việc quan nhờ đã quen thuộc dân tình, lại không còn phải viết tuồng theo mệnh vua, việc chỉnh lý một số “tuồng thầy” cũng đã xong, từ đây cây bút tuồng trên tay ông quan tổng đốc An Tịnh bắt đầu cho những sáng tạo mới của mình.

Trừ Diễn võ đình – vở tuồng hai hồi được Đào Tấn viết vào những năm cuối khi làm tổng đốc An Tịnh lần nhất (1889-1893), bốn vở tuồng Cổ thành, Trầm hương các, Hộ sinh đàn (mỗi tuồng đều một hồi), Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan (ba hồi) đều được Đào Tấn viết trong thời gian ông làm tổng đốc An Tịnh lần thứ hai (1898-1902).

Sơ lược niên biểu làm quan của đào tấn

1867 đỗ cử nhân, năm 1871 được bổ làm hiệu thư tại triều. 1874 làm tri phủ Quảng Trạch (Quảng Bình). 1876 làm thừa chỉ tại nội các (triều đình).

1882 làm phủ doãn phủ Thừa Thiên. 1883 từ quan về quê ở ẩn ở chùa Ông Núi trên núi Linh Phong. 1887 được triệu dụng lại, làm phủ doãn Thừa Thiên, rồi làm thị lang bộ Hộ, làm giảng quan (dạy vua Đồng Khánh học).

1888 làm tham tri bộ Hộ. 1889-1893 làm tổng đốc An Tịnh. 1894 làm thượng thư bộ Công. 1896 làm thượng thư bộ Binh. 1897 làm thượng thư bộ Hình.

1898 làm tổng đốc Nam Ngãi (Quảng Nam, Quảng Ngãi). Mùa thu 1898 làm tổng đốc An Tịnh lần thứ hai. 1902 thượng thư bộ Công. 1904 rời chức thượng thư bộ Công về hưu tại quê nhà.

Ông mất đầu thu năm 1907, an táng tại sườn núi Huỳnh Mai – dãy núi có nhiều cây mai vàng tự mọc. ông từng để lại thơ khi đến núi này chọn nơi yên giấc:… Núi Mai rồi giữ xương mai nhé/ Ước được hoa mai hóa mộng hồn.

__________

Kỳ tới: Mở trường dạy hát bội

HUỲNH VĂN MỸ

GS HOÀNG CHƯƠNG : Sân khấu tuồng chật vật tìm hướng đi, VIETNAM


 Sân khấu tuồng chật vật tìm hướng đi
Thứ sáu, 19/07/2013 – 01:50 AM (GMT+7)
Image

Vở tuồng Nguyễn Tri Phương của Nhà hát tuồng Việt Nam.

Mỗi kỳ liên hoan hay cuộc thi toàn quốc là dịp những người hoạt động trong lĩnh vực sân khấu tuồng lại trăn trở với bao nỗi lo âu: Làm gì và làm như thế nào để bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật sân khấu dân tộc lâu đời này? Cách tân thế nào để phù hợp tâm lý, thị hiếu của công chúng hôm nay mà không để mai một hoặc mất đi những đặc thù của tuồng truyền thống? Cuộc thi tuồng và dân ca kịch toàn quốc 2013 cũng cho thấy thực trạng đáng buồn đó.

Ở cuộc thi vừa qua, nhiều đơn vị, nhiều đạo diễn vì muốn thử nghiệm các tìm tòi, sáng tạo mới đã làm vở diễn mất đi chất tuồng. Ðó là tính ước lệ, cách điệu – đặc thù bất biến của loại hình nghệ thuật này. Những nghệ sĩ tiền bối trước đây đã đúc kết không gian sân khấu tuồng và nghệ thuật biểu diễn tuồng bằng những câu thơ thật chí lý: Thốn thổ thị triều đình, châu, quần/Nhất thân kiêm phụ tử quân thần (Một tấc đất khi là triều đình, khi là châu, quận/Một người (diễn viên) khi là vua, khi là tôi hoặc cha, con).

Qua đó có thể thấy, sân khấu tuồng là sân khấu mở để nghệ sĩ, diễn viên tung hoành, sáng tạo ra không gian, thời gian, ra sông, núi, thác, đèo. Chúng ta từng say mê xem nhân vật Kim Lân trong tuồng Sơn Hậu mang hoàng tử sơ sinh nương theo ngọn đèn ma Khương Linh Tá để vượt qua đèo sâu trong đêm tối, được diễn tả bằng những câu hát nam và bằng những động tác cách điệu biểu trưng trên cái bục gỗ: Dương con vác phát đường gai góc/Thương hại vì tiếng khóc cô nhi/Vin cây, chen đá ngại gì/Ðèn soi nghĩa khí, non ghi nghĩa tình và diễn tả trời sắp sáng bằng tiếng gà gáy xa xa với câu hát nam xuân: Tiếng gà xao xác rừng xanh/Ngọn đèn phụt tắt hồn anh đâu rồi. Như vậy khán giả vẫn hiểu hết thì cần gì phải trang trí trên sân khấu những bục bệ nhiều tầng, những phông màn tả thực, mà chỉ cần những nét quy ước, chấm phá tượng trưng là đủ gợi óc tưởng tượng cho người xem khi người diễn viên làm động tác kết hợp với hát múa và âm nhạc tuồng.

Tôi nói âm nhạc tuồng có nghĩa là nhạc truyền thống chứ không phải nhạc sáng tác mới. Hiện tượng cách tân, cải tiến, làm mới sân khấu tuồng ở Cuộc thi tuồng và dân ca kịch toàn quốc 2013 vừa qua còn thấy rất rõ trong những vở Phò mã Thân Cảnh Phúc của Nhà hát tuồng Việt Nam. Ở vở này sân khấu trang trí quá rườm rà, thậm chí dựng cả rừng cây và cho nhân vật chém cây tơi tả như thật. Ở lớp nhân vật Thân Cảnh Phúc uống rượu bằng một cái vò thật to thì làm động tác sao được. Trong tuồng truyền thống những lớp uống rượu là lớp đặc tả tâm trạng nhân vật như lớp Trương Phi uống rượu trong vở tuồng Quan Công hồi Cổ Thanh của Ðào Tấn. Ở đây dù có uống rượu hàng vò như Trương Phi thật thì trong tuồng, Trương Phi vẫn phải uống bằng một chiếc ve rượu nhỏ bằng gỗ. Ve rượu là cái cớ để nhân vật bộc lộ tâm trạng rối bời, bộc lộ tính cách nóng nảy của Trương Phi qua ve rượu bằng gỗ mộc. Hiệu ứng động tác uống rượu của Trương Phi rất mạnh làm cho người xem thích thú và nhớ lâu.

Còn trong vở Phò mã Thân Cảnh Phúc thì nhân vật uống rượu bằng một cái vò thật to thì làm sao diễn tả được tâm trạng của nhân vật bằng các trình thức uống rượu. Xin nhắc lại, ve rượu chỉ là đạo cụ tượng trưng để diễn tả nội tâm và tính cách của nhân vật vì vậy mà không nên sử dụng đạo cụ thật, hoặc phóng đại đạo cụ, như vậy sẽ làm mất bản sắc, mất đặc trưng của tuồng truyền thống.

Ở cuộc thi lần này không ít vở tuồng dàn dựng theo thủ pháp kịch nói, được thể hiện trong những cách tạo hình tượng nhân vật, hoặc xử lý gần như tả thực mà hiệu ứng không cao, chưa nói là bị bật ra khỏi nguyên tắc cách điệu ước lệ của tuồng.

Ở hội diễn tuồng nào, người xem cũng chờ đợi tiết mục của Nhà hát tuồng Ðào Tấn danh tiếng, nhưng tại cuộc thi lần này nhà hát ứng thi vở tuồng Ðêm phương Nam không đạt yêu cầu, yếu từ kịch bản đến dàn dựng, vì vậy cho dù diễn viên ở đất tuồng Bình Ðịnh nổi tiếng hát hay cũng không cứu vãn nổi! Khán giả chờ đợi một bản anh hùng ca – chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút vang lừng từ hơn hai trăm năm trước của Tây Sơn – Nguyễn Huệ ở đất phương nam, nhưng trên sân khấu lại diễn ra câu chuyện buồn nhiều hơn vui.

Nguyễn Huệ ba lần độc thoại, ba lần khóc than, hành động này hoàn toàn trái ngược với tính cách của Anh hùng áo vải Nguyễn Huệ – Quang Trung, rồi đâu đó lại thấp thoáng những mô-típ trong Quang Trung đại phá quân Thanh (cảnh Ngọc Hân – Nguyễn Huệ, cảnh Nguyễn Huệ với tấm bản đồ…) hoặc hình bóng một nhân vật ngu trung Lưu Phước Trung do NSND Xuân Hợi biểu diễn, không những na ná nhân vật Lê Quyết trong vở Trời Nam mà còn có những hành động phi lý là ám sát Nguyễn Huệ một cách dễ dàng ấu trĩ. Lâu nay, nhân vật Bùi Thị Xuân trong những vở tuồng, chèo, cải lương, bài chòi… bao giờ cũng oai phong, dũng mãnh trước ba quân và cả trước đối phương, nhưng Bùi Thị Xuân trong vở Ðêm phương Nam thì không còn là nữ tướng oai phong với thanh gươm, lưng ngựa dũng mãnh xông vào trận mạc, mà là một phụ nữ đi làm “dân vận”. Hành động ấy hoàn toàn trái ngược với tính cách vị nữ tướng lừng danh có thể sánh ngang với Bà Trưng, Bà Triệu. Nói cho công bằng, vở tuồng Ðêm phương Nam cũng có chất văn học tuồng, có điều là chủ đề bị lệch và đạo diễn cũng chưa tìm được chìa khóa để mở cánh cửa cho vở diễn phát triển theo đúng tinh thần Tây Sơn – Nguyễn Huệ.

Cũng giống như ở các cuộc Liên hoan tuồng lần trước, Nhà hát cung đình Huế đều đem tới những vở tuồng mang đậm mầu sắc Huế, ca hát nhẹ nhàng, tiết tấu chầm chậm, đôi khi làm cho người xem có phần sốt ruột nhưng lại có cảm tình với một phong cách tuồng rất Huế. Vở Máu lửa ngập Thiên Trường, nguyên bản là vở Trần Bình Trọng của tác giả Kim Hùng đã được hàng chục đoàn tuồng cả nước dựng diễn trong gần nửa thế kỷ qua đến nay được đạo diễn Trương Ðức Hải dựng lại. Dĩ nhiên đã dàn dựng thành tiết mục mới thì phải có những sáng tạo mới, mặc dù kịch bản đã được định hình không cần thiết phải thêm bớt. Và thực tế vở Máu lửa ngập Thiên Trường đã mang nhiều nét mới trong cách tổ chức những lớp quần chúng, những trận đánh và đặc biệt là xây dựng hình tượng nhân vật Anh hùng Trần Bình Trọng thật oai phong lẫm liệt đối trọng là hình tượng Thái tử Thác Hoan cũng bộc lộ được tính cách của tên chỉ huy đội quân xâm lược Nguyên Mông hung bạo.

Cuối cùng, tôi muốn nói tới Ðoàn tuồng Thanh Hóa với vở Hai người mẹ, tác giả và đạo diễn Ngọc Quyền. Ðây là vở tuồng đề tài hiện đại duy nhất tại cuộc thi lần này. Nội dung vở tuồng dựa vào câu chuyện có thật của hai Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, ở hai tỉnh kết nghĩa là Thanh Hóa và Quảng Nam thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Câu chuyện kịch thật cảm động, diễn viên diễn xuất cũng rất có hồn nên hút được cảm xúc của người xem. Rất tiếc là kịch bản văn học tuồng chưa thật hoàn chỉnh, cấu trúc cũng còn đôi chỗ chưa hợp lý, nên vở diễn chỉ dừng lại ở mức trung  bình.

Nhìn tổng quan những vở tuồng tại cuộc thi lần này, thấy bộc lộ những điểm yếu trong sân khấu tuồng hiện nay. Trước hết là không có kịch bản hay, mà không có tích thì không dịch ra tuồng. Ai đã đọc và xem những vở tuồng cổ, tuồng lịch sử thành công trước đấy đều thấy đó là những kịch bản văn học hay, từ cốt truyện đến văn chương (thơ tuồng), đều có đất cho diễn viên làm tuồng (ca, hát, diễn xuất). Và ngày xưa, cho dù đã có kịch bản hay, nhưng khi dàn dựng trên sân khấu đều có ý kiến đóng góp của các bậc thầy tuồng. Bây giờ không có các thầy tuồng như ngày xưa thì vẫn có chuyên gia tuồng cả về lý luận lẫn thực hành. Một đạo diễn tuồng dù đã đạt danh hiệu NSND, NSƯT nhưng hiểu biết sâu về nghệ thuật tuồng vẫn còn rất hiếm. Không phải cứ dàn dựng được nhiều vở tuồng là am hiểu sâu về nghệ thuật tuồng, nhất là một đạo diễn nào đó chủ quan, tự phụ thì dễ thất bại khi dàn dựng một vở mới, mà đó lại là kịch bản văn học tuồng chưa thật hoàn chỉnh, chưa thật hay.

 
Giáo sư HOÀNG CHƯƠNG

http://www.nhandan.com.vn/vanhoa/dong-chay/item/20800802-s%C3%A2n-kh%E1%BA%A5u-tu%E1%BB%93ng-ch%E1%BA%ADt-v%E1%BA%ADt-t%C3%ACm-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-%C4%91i.html

ĐỨC TRIẾT : Nghệ sĩ tuồng phải bước nhiều “chân”, VIETNAM


Nghệ sĩ tuồng phải bước nhiều “chân”

27/05/2013 08:46 (GMT + 7)
 

 
TT – Sân khấu tuồng đang ra quân rầm rộ với 9 vở dự thi nghệ thuật sân khấu tuồng và dân ca kịch toàn quốc (từ 18 đến 28-5 tại TP Tam Kỳ, Quảng Nam). Cũng vui, cũng nô nức đấy nhưng cũng không ít nỗi ngậm ngùi.

Vở Hai người mẹ – vở tuồng duy nhất mang đề tài hiện đại tại cuộc thi – Ảnh: H.T.Phát

 

Để đến với cuộc thi, các đoàn phải chắt chiu, tằn tiện từng khoản chi tiêu cho nơi nghỉ, bữa ăn, phương tiện di chuyển… Tất cả cũng vì đời sống nhiều nghệ sĩ tuồng vẫn còn ở dưới mức trung bình…

Với hầu hết các nhà hát tuồng, các vở diễn lớn được dựng mỗi năm thường không thể bán vé trực tiếp cho khán giả. Ở phía Bắc, Nhà hát tuồng VN đặt kế hoạch 70 buổi diễn có doanh thu “hòa vốn” mà vẫn vất vả. Còn những nhà hát tuồng ở miền Trung và phía Nam như Nhà hát tuồng Đào Tấn, Nhà hát nghệ thuật truyền thống Khánh Hòa, Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh thì biểu diễn đều miễn phí, không có doanh thu, dù khán giả bình dân không thờ ơ với tuồng, họ có thể đội mưa đội nắng để xem trọn vở.

Tiền lương, thù lao đêm diễn ít ỏi nhưng có một thực tế mấy năm qua diễn viên tuồng có đời sống tốt hơn (so với đời sống của chính họ trong những năm trước). Vì điều gì? Vì nghệ sĩ tuồng đã thích ứng với nhu cầu mới và “bước đi bằng nhiều chân”. “Chân” đầu tiên mà nghệ sĩ tuồng luôn có chỗ là lễ hội với những màn trống hội, múa lân, múa rồng, hòa tấu nhạc. Nghệ sĩ Nhà hát tuồng Đào Tấn, Nhà hát nghệ thuật truyền thống Khánh Hòa, Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh thì đắt sô nhất trong mùa lễ hội cầu ngư. Nghệ sĩ Nhà hát tuồng VN thì trẩy hội suốt mùa xuân. Còn nghệ sĩ Nhà hát nghệ thuật hát bội TP.HCM thì bận mãi với những buổi hát ở tế lễ cửa đình.

Một “chân” nữa đem lại thu nhập tốt cho nghệ sĩ tuồng là biểu diễn phục vụ các doanh nghiệp mới thành lập, cửa hàng mới khai trương… Đôi cái trống cùng vài ba nghệ sĩ múa rồng, múa lân, không cần hát, chỉ cần khuấy động không khí và đứng đón khách ở cửa chừng một giờ mà nhận được thù lao đến cả chục triệu! Những buổi hợp đồng như thế khiến nghệ sĩ Nhà hát tuồng VN tủi phận khi nghĩ: bao năm qua vào mỗi chiều thứ hai và thứ năm, buổi diễn ở rạp Hồng Hà vừa phải hát, vừa phải múa đến “rút ruột, rút gan” mà khách vắng vẫn hoàn vắng!

NSƯT Ngọc Quyền ở Đoàn nghệ thuật tuồng Thanh Hóa chua xót: “Làm sao mà sống được bằng những vở tuồng chất lượng cao. Phải nghĩ ra nhiều “chân”. Để trang trải cho cuộc sống, ngay như tôi đây còn nhận cả việc đọc chúc văn, đánh trống tế tại mỗi đám tang”. Cũng là một cơ may cho nghệ sĩ tuồng khi Đoàn nghệ thuật tuồng Thanh Hóa còn có thêm một “chân” nữa là đi khắp Bắc – Trung – Nam để hòa tấu trống đồng trong các ngày hội lớn của các tỉnh, thành phố.

Kinh tế thị trường đã khiến sân khấu truyền thống, đặc biệt là sân khấu tuồng, lâm vào những khó khăn nhiều khi tưởng như chẳng thể vực lại được. Nhưng có thể thấy kinh tế thị trường giờ đây lại mở ra cho họ những cơ hội kiếm sống bằng cách này hay cách khác. Có thêm thu nhập đấy nhưng sao nghe trong câu chuyện của mỗi người vẫn có tiếng thở dài để rồi ao ước: giá như …

 

 

Thiếu tác giả nhà nghề

Tại cuộc thi này, các vở dân ca kịch có đề tài hiện đại đều được chuyển thể từ kịch bản văn học. Còn tuồng thì sao? Đành chịu. NSƯT Trần Ngọc Tuấn – giám đốc Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh (Đà Nẵng) – lý giải: “Vì không có tác giả hiểu và yêu nghệ thuật tuồng để chuyển thể. Một phần họ ngại ngần khi tuồng giờ đây không đắt khách. Mặt khác, một số tác giả chưa thật sự hiểu những đặc trưng rất riêng của tuồng nên đã biến vở tuồng có câu chuyện hiện đại thành kịch nói”. Có lẽ vì vậy mà trong số chín vở tuồng tham gia cuộc thi, chỉ có vở Hai người mẹ của Đoàn nghệ thuật tuồng Thanh Hóa là mang đề tài hiện đại.

“Hiện đại ư? Khó lắm. Tuồng ngày xưa ước lệ động tác đi ngựa bằng một cái roi, bây giờ toàn đi xe máy thì diễn viên phải diễn sao đây? Khó thì khó vậy nhưng cách đây chừng 20 năm vẫn có những vở tuồng hiện đại như Suối nước hoa (Thùy Linh – Hoàng Đức Anh), Bông hồng núi Nưa (Hoài Linh, Đinh Bằng Phi), Không có đường nào khác (Văn Sử). Nghĩa là nếu đột phá thì vẫn có thể được. Chỉ có điều nhiều năm qua, kịch bản hay về đề tài hiện đại dành cho tuồng gần như vắng bóng” – NSƯT Nguyễn Gia Thiện, phó giám đốc Nhà hát tuồng Đào Tấn (Bình Định), nói trong luyến tiếc.

 

ĐỨC TRIẾT

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/550496/nghe-si-tuong-phai-buoc-nhieu-chan.html