Tag Archives: hát ví giặm nghệ tĩnh

ĐỨC TRIẾT : TÂM TÌNH VÍ, GIẶM, HÀNỘI , VIỆT NAM


21/05/2015 17:55 GMT+7

TTO – Lúc 20g ngày 22-5, tại không gian văn hóa Heritage (28 Trần Bình, Hà Nội) sẽ diễn ra chương trình Tâm tình ví, giặm.

Các “nghệ sĩ” CLB Unessco Di sản dân ca xứ Nghệ ở Hà Nội hát ví, giặm trên thuyền ở Hồ Tây – Ảnh: CLB

Các thành viên của CLB Unessco Di sản dân ca xứ Nghệ ở Hà Nội như nghệ sĩ dân gian Minh Hiền, Thanh Phong, Lan Anh, Vĩnh Nam, Bích Ngọc… sẽ tâm tình với khán giả Hà Nội về ví, giặm qua Mời trầu, mời rượu (giặm Đức Sơn), Đêm trăng phường vải (giao duyên phường Vải), Lời mẹ hát (làn điệu tứ Hoa), Nhắn bạn (làn điệu Ví trèo non, hò khoan đi đường), Thập ân phụ mẫu (xẩm thương, lời cổ), Hương sắc sông Lam (làn điệu Hò trên sông), Thử lòng chung thủy (hát giao duyên), Giận mà thương (làn điệu giận thương), Hầu đồng: Quan Hoàng Mười.

Không chỉ thế, chương trình còn mang đến những ca khúc dân ca xứ Nghệ.

ĐỨC TRIẾT

THANH LƯU : VÀI NÉT VỀ DÂN CA XỨ NGHỆ


Vài nét về Dân ca xứ Nghệ

Ví giặm Nghệ Tĩnh vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đó là vinh dự lớn, đồng thời cũng là trách nhiệm của nhân dân Nghệ An và Hà Tĩnh trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị của di sản ấy cho hôm nay và mai sau.

Vài  nét cơ bản về dân ca ví – giặm – hò

Thể hát ví. Ví có những làn điệu như: ví đò đưa, ví phường vải, ví phường cấy, ví phường võng, ví phường chè, ví đồng ruộng, ví trèo non, ví mục đồng, ví chuỗi, ví ghẹo…Ví thuộc thể ngâm vịnh, bằng phương pháp phổ thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể…).

Ví thường là hát tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát có thể co dãn một cách ngẫu hứng. Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tuỳ thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, ít từ hay nhiều từ. Tình điệu (tính biểu cảm) thì tuỳ vào môi trường hoàn cảnh, không gian thời gian và tâm tính của người hát. Âm vực của ví thường không quá một quãng 8. Tình điệu ví nghe trang trải mênh mang sâu lắng, bâng khuâng xao xuyến, tha thiết ân tình. Tuy vậy, vẫn có loại ví ghẹo và ví mục đồng nghe dí dỏm hài hước, nghịch ngợm hồn nhiên tươi trẻ.

Thể hát giặm . Giặm là thể hát nói, bằng thơ ngụ ngôn (thơ / vè 5 chữ), nói cách khác thì giặm là thơ ngụ ngôn / vè được tuyền luật hoá. Giặm cũng có các làn điệu như: Giặm kể, giặm cửa quyền, giặm ru, giặm vè, giặm nối, giặm xẩm… Khác với ví, giặm là thể hát có tiết tấu rõ ràng. Thông thường một bài giặm có nhiều khổ, mỗi khổ có 5 câu (câu 5 thường điệp lại câu 4), mỗi câu có 5 từ (không kể phụ âm đệm). Tuy vậy, cũng có những bài giặm/ vè không phân khổ rõ ràng, mà cứ hát một lèo, có khi đến hàng chục hàng trăm câu, và mỗi câu cũng không nhất nhất 5 chữ mà có thể 4 hoặc 6,7 chữ (do lời thơ biến thể). Giặm rất giàu tính tự sự, tự tình, kể lể khuyên răn, phân trần bày giải. Cũng có loại giặm dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng. Và có cả giặm trữ tình giao duyên.

Thể Hò. Hò là những điệu hát thường được mô phỏng theo các nhịp điệu lao động mang tính tập thể. Hò có những làn điệu như: Hò dô, hò khoan, hò dật, hò trên sông, hò đầm đất, hò xeo gỗ, hò kéo lưới, hò trục buồm, hò tình tang, hò đi đường, hò tiếp vận…Điệu thức hò thường mang màu sắc trưởng, với quãng 4 đặc trưng nghe rất khoẻ khoắn . Khúc thức hò thường kết cấu 2 đoạn , đoạn 1 cho người hô (lĩnh xướng) hát tự do theo các thể thơ dân tộc. Đoạn 2 cho tập thể xô bằng các phụ âm: hò-dô-khoan theo tiết tấu đều để tạo nên xung lực mạnh mẽ trong lao động sản xuất, đấy là hình thức”nhất hô bách ứng” rất hiệu nghiệm. Ngoài ra, vẫn có loại hò ghẹo vừa mang tính hài hước vừa mang tính trữ tình giao duyên.

Môi trường – không gian và tính chất diễn xướng

Qua tìm hiểu và nghiên cứu về tính chất và môi trường không gian diễn xướng dân ca hò-ví-giặm ta thấy:

1. Hát gắn với không gian và môi trường lao động như: cày cấy, gặt hái, đắp đập đào mương, chăn trâu, cắt cỏ (đồng quê); tung chài kéo lưới, chèo chống thuyền bè (sông nước); hái củi, đốt than, bứt tranh, kéo gỗ, bóc măng (núi non) ; quay tơ dệt vải, trục lúa, đan lát ( xóm thôn).

2. Hát mang tính du hý vào những dịp Hội hè ,Tết nhất, Đình đám, hoặc những đêm trăng thanh gió mát bạn bè giao du thưởng ngoạn,thi thố tài năng ứng tác văn chương chữ nghĩa.

3. Tính giao duyên giữa những lứa đôi trai gái để đối đáp giao duyên, thổ lộ tâm tình, để gửi gắm niềm thương nỗi nhớ, để kén chọn trai tài gái đảm, tìm bạn trăm năm.

4. Tính bác học. Trong những cuộc hát phường vải, dầu bên trai hay bên gái cũng thường mời thêm các trí giả nho sĩ địa phương làm thầy gà, đến như đại thi hào Nguyễn Du hoặc như Phan Bội Châu cũng đã từng tham gia cuộc hát. Bởi thế mà đã lưu lại những câu đố – đáp rất tài hoa có tính bác học uyên thâm

5. Tính tự tình, nghĩa là mượn câu hát để bộc lộ nội tâm. Những nỗi niềm sâu kín, uẩn khúc cuộc đời, những mảnh tình dang dở, những số kiếp long đong, hoặc để biểu thị sự bất bình xã hội.

6. Tính tự sự. Tức là dùng hình thức kể vè để thuật lại những sự việc xẩy ra trong làng ngoài xã, hoặc kể về một sự tích, một giai thoại nào đó, hoặc muốn biểu dương người tốt việc tốt, hay là phê phán những thói hư tật xấu…

7. Tính giáo huấn. Thông qua câu hát để dạy,  bày khuyên nhủ người đời về những điều hay lẽ phải, về thuần phong mỹ tục, về đạo lý nhân nghĩa , tôn sư trọng đạo, tứ đức tam tòng, về lệ làng phép nước, về anh hùng nghĩa khí , ái quốc trung quân…

8. Tính đa dụng. Nghĩa là nó giàu tính biểu cảm, cùng một cốt nhạc (một làn điệu) có thể chuyển tải được nhiều nội dung văn học, nhiều đối tượng miêu tả, nhiều sắc thái tình cảm. Đây có lẽ là một đặc tính nổi trội của dân ca ví dặm.

9. Tính phổ cập. Hầu như khắp mọi miền quê, trai gái trẻ già ai ai cũng có thể hát. Chính vì vậy trong kho tàng văn hoá Dân gian-Dân tộc cổ truyền xứ Nghệ, thì dân ca hò ví giặm là một loại hình tiêu biểu, mang những nét đặc trưng bản địa đậm đà nhất và vì những điều đó mà Ví giặm Nghệ Tĩnh vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Đó là vinh dự lớn, là trách nhiệm của nhân dân Nghệ An và Hà Tĩnh trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị của di sản ấy cho hôm nay và mai sau.

THANH LƯU ANVN37 – Số Xuân (02/2015)

http://songnhac.vn/di-san/67-dan-ca-dan-vu/4604-vai-net-ve-dan-ca-xu-nghe.html

Bé 4 tuổi hát dân ca xứ Nghệ khiến cư dân mạng nổi da gà


Published on Jun 29, 2014

Cộng đồng mạng Nghệ Tĩnh tuần quan xúc động đến tự hào một cô bé 4 tuổi ở quê lúa Yên Thành hát say sưa bài dân ca xứ Nghệ: Lời mẹ hát với các làn điệu Nước non lời nguyền, tứ hoa và Hát Khuyên một cách hồn nhiên và da diết.
Vừa hát em vừa cầm dép gõ nhịp, thật đúng như câu thơ Khúc dân ca có từ trong máu thịt.

DƯƠNG SÔNG LAM : Câu ví, câu giặm đã tỏa sáng vươn xa, NGHỆ TĨNH, VIỆT NAM


Lễ vinh danh Ví, Giặm Nghệ Tĩnh:

Câu ví, câu giặm đã tỏa sáng vươn xa

12:00 01/02/2015
 
Từ lâu ví, giặm Nghệ Tĩnh đã âm thầm mạch sống mãnh liệt dưới mỗi nếp nhà, mỗi làng quê đất Nghệ, và hôm nay, những câu ví, câu giặm đã vươn xa khỏi lũy tre làng trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Những câu ví, câu giặm lại tiếp tục tỏa hương góp phần làm nên văn hóa trường tồn của con người đất Việt.

Về đất Nghệ những ngày này đi đâu chúng tôi cũng bắt gặp không khí vui tươi, chuẩn bị nghiêm túc của các địa phương và người dân để tối 31/1 tổ chức lễ đón nhận ví, giặm được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Lần đầu tiên chương trình ví, giặm được tổ chức quy mô, hoành tráng nhất ở Quảng trường Hồ Chí Minh (Thành phố Vinh), do 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh phối hợp tổ chức, và được truyền hình trực tiếp trên các kênh VTV1, VTV4, NTV, HTV.

Một tiết mục về câu ví, câu giặm được biểu diễn trong lễ vinh danh.

Chương trình được trình diễn bởi gần 600 diễn viên với nhiều phân đoạn, hoạt cảnh, ca từ được chuẩn bị công phu từ chính quyền, người dân 2 tỉnh đã nói lên phần nào sức sống mãnh liệt của những câu ví, câu giặm yêu thương. Không phải giờ đây khi ví, giặm được vinh danh người dân lao động ở vùng quê xứ Nghệ mới lắng sâu trong những ca từ, mà từ lâu trên mỗi làng quê này đã tồn tại hơn 100 câu lạc bộ dân ca ví, giặm cùng gần 1.000 nghệ nhân vẫn thường xuyên chắp nối, phát triển để ví, giặm mãi lưu truyền. Đắm mình trong làn điệu ví, giặm mới thấy khả năng thích ứng đặc biệt của loại hình dân ca này.

Trong những đêm trăng thanh, hay những ngày mùa, giữa cánh đồng, hay bên bếp lửa… mọi hình thức sinh hoạt ví, giặm đều được cất lên như nhắc nhở, như động viên, như hẹn hò, như dạy bảo. Chính vì vậy, không ít người con xứ Nghệ khi trưởng thành, khi xa quê họ vẫn thường cất lên điệu ví, điệu giặm để răn mình, để dạy con tình yêu đất nước, quê hương, dòng tộc, gia đình.

Để lễ đón bằng của UNESCO vinh danh dân ca, ví giặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại diễn ra một cách trang trọng, tuyệt đối an toàn về an ninh trật tự, Công an tỉnh Nghệ An đã chủ động phối hợp với các ban, ngành đoàn thể, các huyện, thành phố thị xã để tổ chức các phương án đảm bảo ANTT. Chủ động xây dựng các phương án và bố trí lực lượng làm công tác bảo vệ, đồng thời lực lượng Công an tỉnh tăng cường nắm tình hình, tham mưu phối hợp bảo vệ an toàn các khách sạn nơi đại biểu, khách mời nghỉ và các khu vực cơ quan xung quanh Quảng trường Hồ Chí Minh; tuần tra, điều hành phương tiện giao thông trên các tuyến đường; đảm bảo thông tin, y tế, điều lệnh và an toàn cho mỗi người dân.

Dương Sông Lam
 
 
 

TRẦN HOÀNG THIÊN KIM : Giấc mơ của một di sản, VIETNAM


Giấc mơ của một di sản

07:00 02/02/2015
Có một bộ môn nghệ thuật thuộc về dân gian đã thu hút được nhiều bậc thi hào như Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Nguyễn Công Trứ… coi là món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của mình, đó là hát ví, giặm (có tên gọi ở địa phương là hát Phường Vải), một loại hình diễn xướng dân gian của Nghệ Tĩnh đã được UNESCO vinh danh trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại.

Một điệu ví làm say lòng người, một câu giặm hết giận lại thương, một câu hò đã đi suốt chiều dài lịch sử của dải đất miền Trung nhiều thương khó, trở thành một nét văn hóa riêng không hề trộn lẫn, với những tà áo tứ thân cùng những giọng ca ấm áp tình người. Ví, giặm có thể làm say lòng bất cứ ai một lần đã được nghe và cảm nhận…

Con đường đưa chúng tôi trở về với mảnh đất xứ Nghệ lắm nắng, nhiều mưa, khô cằn sỏi đá nhưng ấm áp tình người. Đón chúng tôi là các anh chị em ở Trung tâm Bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ với ấm trà xanh và những lời ca điệu hát say lòng người.

Nghệ sĩ Nhân dân (NSND) Hồng Lựu trong tà áo tứ thân dịu dàng, e ấp với giọng hát quen thuộc đã bao năm vẫn còn trong, thanh thoát: “Đến đây đông thật là đông/ Chào bên nam thì mất lòng bên nữ/ Chào quân tử thì sợ dạ thuyền quyên/ Mà cho tôi chào chung một tiếng/ Kẻo chào riêng bạn cười…/ Đã thương thì thương cho chắc/ Mà đã trục trặc thì trục trặc cho luôn/ Đừng như con thỏ đứng đầu truông/ Khi vui thì giỡn bóng/ Khi buồn thì bỏ đi… Khi mô Hồng Lĩnh hết cây/ Sông Lam hết nước thì đó với đây mới hết tình”.

NSND Hồng Lựu.

Rồi câu chuyện về một miền ví, giặm như được cuốn vào những lời ca giọng hát đầy ân tình. Có một dòng sông Lam dạt dào cuộn chảy trong lời hát, có một ngọn núi Hồng sừng sững hiên ngang trong mái chèo mái đẩy đầy lạc quan của người chèo đò.

Miền đất thơm thảo có trong cả những điệu ví đò đưa, ví phường vải, ví phường cấy, ví phường võng, ví phường chè, ví đồng ruộng, ví trèo non, ví mục đồng, ví chuỗi, ví ghẹo… của một miền địa linh nhân kiệt.

NSND Hồng Lựu sợ chúng tôi không hiểu hết ý nghĩa của điệu ví giặm, chị còn giải thích: Thể ví thường là hát tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát có thể co dãn một cách ngẫu hứng. Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tùy thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, ít từ hay nhiều từ.

Còn thể hát giặm là thể hát nói, bằng thơ ngụ ngôn (thơ / vè 5 chữ), nói cách khác thì giặm là thơ ngụ ngôn hoặc vè nhật trình được tuyền luật hóa. Giặm cũng có nhiều làn điệu như: giặm kể, giặm cửa quyền, giặm ru, giặm vè, giặm nối, giặm xẩm…

Rồi vừa nói, chị vừa ví dụ bởi một khúc hát “Phụ tử tình thâm”, một bài hát điển hình cho thể ví giặm của Nghệ Tĩnh: “Phụ tử tình thâm/ Công thầy rồi nghĩa mẹ/ Đừng có tiếng tăm chi nặng lời/ Đừng cả tiếng dài hơi/ Nói mẹ cha sao nên/ Mà cãi mẹ thầy sao phải/ Ơ… đêm nằm nghĩ lại/ Nhớ đến cội thung uyên/ Công cù lao ai đền/ Nghĩa sinh thành ngày trước/ Khi ăn cơm rồi bát nước/ Ước phụ tử tình thâm/ Thầy đói rách nợ nần/ Mẹ cũng đói rách nợ nần/ Cũng vì con thơ ấu/ Dừ phụ trải trắc mẫu/ Rồi trắc trải khó khăn/ Con ở có thủy có chung/ Được phụ từ tử hiếu/ Mà được phụ từ tử hiếu/ Dăm ba cành đào liễu/ Sáu bảy quả nam nhi/ Thầy chưa được nhờ chi/ Mẹ cũng chưa được nhờ chi/ Đền công ơn cho đáng/ Công mẹ thầy cho đáng”…

Có lẽ, không ai có cha có mẹ mà nghe xong điệu “Phụ tử tình thâm” không rơi nước mắt trước ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ. Lời hát như một lời dặn dò, nhắc nhở sự hiếu đễ của con cái.

NSND Hồng Lựu cho biết, để có được bài “Phụ tử tình thâm” trọn vẹn chị đã phải đi sưu tầm ở 5 nghệ nhân ở 5 địa bàn khác nhau, rồi nhờ nhà nghiên cứu dân gian, PGS. Ninh Viết Giao, nhà thơ Thạch Quỳ giúp đỡ, để có được một bài chuẩn phục vụ biểu diễn. Từ đó đến nay, bài ca chị sưu tầm được phổ biến ở cả 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.

Là nữ NSND duy nhất trong lĩnh vực hát ví giặm Nghệ Tĩnh với một kho tàng kinh nghiệm, ít ai biết rằng, những ngày đầu khởi nghiệp của một tài năng là con đường đi vô cùng chông gai.

Chị sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo có 7 anh chị em tại huyện Thanh Chương, Nghệ An. Một dải đất miền Trung đầy lam lũ nhọc nhằn nhưng phong cảnh hữu tình non xanh nước biếc đã ban tặng cho Hồng Lựu một giọng hát mượt mà, sâu lắng như nhung.

4 tuổi, chị đã biết lên sân khấu hát say sưa những bài hát dân ca của bà, của mẹ ru mỗi đêm nằm ngủ, đã làm xiêu lòng các cô chú trong đoàn văn công Tổng cục Hậu cần về qua xóm nhỏ Đông Thượng, xã Đồng Văn, Thanh Chương, tuyển diễn viên.

Lớn lên, cô bé Lựu như một chú chim lảnh lót, luôn đi đầu trong mọi phong trào văn nghệ. Và may mắn là chị vẫn giữ được niềm đam mê của mình, để đến năm 1985 thi đỗ vào Trường Nghệ thuật Nghệ Tĩnh. Ra trường chị về thực tập tại Đoàn dân ca Nghệ Tĩnh và đóng thành công vai Thảo trong vở “Ông vua hóa hổ” (kịch bản của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ).

Năm 1988, Hồng Lựu chính thức về Đoàn dân ca Nghệ Tĩnh. Hơn 20 năm đứng trên sân khấu, NSND Hồng Lựu đã có 60 vai diễn khác nhau, mỗi vai diễn của chị đều ghi dấu ấn trong lòng khán giả.

Chị 8 lần tham gia Liên hoan Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, 8 lần giành được Huy chương Vàng và 3 giải nghệ sĩ xuất sắc. Ở xứ Nghệ, nhắc đến dân ca, ví, giặm, không thể không nhắc tới NSND Hồng Lựu.

Chị chia sẻ: “Khi biết tin ví giặm được vinh danh, tôi nghĩ đến PGS.TS Ninh Viết Giao, một người đã có nhiều công sức để sưu tầm và lưu giữ văn hóa xứ Nghệ. Từ những năm 90, thỉnh thoảng bác ấy lại rủ tôi cùng đi điền giã với bác. Hai bác cháu tôi không biết đi xe máy nên tôi thường đèo bác rong ruổi bằng xe đạp.

NSND Hồng Lựu trong giờ tập luyện.

Tôi là một nghệ sĩ biểu diễn, thường xuyên lưu diễn trong dân. Ban đêm biểu diễn cho bà con xem, ngày thì “lủi” đi tìm các nghệ nhân nghe hát. Đó là cách tôi tự thưởng cho mình một chuyến du lịch để tìm lại những gì còn thiếu, còn khuất lấp trong chính mình.

Ví giặm đối với tôi là một thứ ma lực, một mê hồn trận mà khi tôi lạc vào đó không tìm được lối ra.

Tôi còn nhớ kỷ niệm lúc tôi vừa từ Hà Tĩnh chuyển ra công tác tại Nghệ An, đang tập luyện trên sân khấu thì PGS.TS Ninh Viết Giao dựng chiếc xe đạp cà tàng, vào rủ tôi chiều đi xuống Nam Đàn (cách TP Vinh 20 km) gặp các nghệ nhân.

Hai bác cháu: một trẻ chở một già, một nhỏ, một cao to, người đi đường ai ai cũng ngoái nhìn. Chốc chốc bác lại hỏi tôi: có mệt không, bác thay lái cho.

Hai bác cháu vừa đi vừa trò chuyện vì thế chẳng mấy chốc đã đến nơi. Bác đã hẹn trước các cụ nghệ nhân rồi, vì thế khi tôi đến nơi, gia đình nghệ nhân Trần Văn Tư đã sắp xếp chõng tre, nước chè, ngô luộc đầy đủ đón tiếp.

Sau vài câu giới thiệu, bác Ninh Viết Giao nhờ cụ Tư và mọi người chỉ dạy cho tôi câu hát Phường Vải Nam Đàn. Bác nói: “Bác mới chỉ nghe con hát Phường Vải của Trường Lưu, Phường Vải Nam Đàn khó hát hơn nhưng nam nữ hát lệch tông, hay lắm. Thế rồi, tôi hát được câu Phường Vải Nam Đàn từ đó…”.

Có đi nhiều, tiếp xúc nhiều mới thấy được rằng, ngọn lửa đam mê không chỉ có trái tim của những người nghệ sĩ như chị mà có ở hầu hết những người dân xứ Nghệ, từng gia đình, qua từng làn điệu ru con, qua từng hoạt động lao động sản xuất của những người dân quê chân chất, mộc mạc và càng ngấm hơn những câu chuyện đời thường, từ đó lượm lặt cho mình được nhiều làn điệu, khúc hát mới.

Dân ca Nghệ Tĩnh là một thể loại đặc trưng, nó mang hơi thở của cuộc sống sinh hoạt, lao động của bà con. Theo xu thế phát triển, nó lại mang những âm hưởng mới, dạy chúng ta về tình yêu thiên nhiên, đất nước, con người.

Và đặc biệt hơn là dân ca Nghệ Tĩnh chỉ có thể được hát bởi những con người xứ Nghệ, nói giọng Nghệ. Khắp các vùng quê xứ Nghệ ai cũng có thể hát được ít nhất vài ba câu ví, giặm.

Cái khó nhất của người hát ví, giặm là ngoài yếu tố chất giọng trời cho là cái tâm của mình đặt vào câu hát. Khi người hát truyền được cái tinh thần, cái cốt cách của người dân xứ Nghệ đến với người nghe, để người nghe hiểu thêm về con người và vùng đất này, đó mới là thành công. Người xứ Nghệ hát không để nó bay đi, mà hát để lắng lại, để suy ngẫm.

Trong những năm qua, không chỉ làm tròn bổn phận của một người nghệ sĩ, NSND Hồng Lựu còn là người tích cực cùng các anh chị em quản lý nghệ thuật đi tìm cho dân ca, ví, giặm một con đường thoát khỏi lũy tre làng, đến với đồng bào cả nước và trên thế giới.

Chị còn nhớ những chuyến đi đầy gian khổ, thiếu thốn đến các vùng miền hẻo lánh, xa xôi nơi có các nghệ nhân dân gian để thu thập tài liệu, ghi âm, chụp hình, quay video để lưu giữ lại giọng hát, lời ca của họ. Tìm tòi, gây dựng nên các câu lạc bộ dân ca ngay trên những vùng đất ấy.

Từ năm 1993, chị tìm đến nhiều trường học với mong muốn được đưa làn điệu dân ca vào chương trình học của các em học sinh, truyền lửa đến thế hệ trẻ.

NSND Hồng Lựu cho biết, hiện nay, ở Nghệ Tĩnh, số lượng các nghệ nhân ngoài 70 với những hiểu biết sâu rộng về ví, giặm Nghệ Tĩnh không còn nhiều bởi vậy cần thiết phải giữ gìn những báu vật sống của nhân loại là các nghệ nhân với những chính sách cụ thể cho họ như ghi danh, tôn vinh và có một chế độ chính sách hợp lý.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Tam, Câu lạc bộ (CLB) Dân ca hát ví Phường Vải Kim Liên – Nam Đàn năm nay đã 87 tuổi. Cụ lớn lên từ những khúc hát ru và làn điệu dân ca của bà, của mẹ. Cụ Tam là người nhớ nhiều, thuộc nhiều làn điệu cổ nhất trong CLB.

Thế hệ nghệ nhân hát dân ca như cụ Tam bây giờ còn lại rất ít, chỉ tính trên đầu ngón tay. Vì vậy, trong thời gian tới, chị tự thấy có trách nhiệm trong việc tìm cho cụ một cơ chế để khuyến khích, để lớp nghệ nhân cao tuổi phát huy, đào tạo, phát hiện tài năng hát dân ca ngay từ cơ sở.

Hiện nay, nhiều loại hình giải trí khác đầy hấp dẫn đã khiến tình yêu dân ca, ví giặm có giảm đi trong lòng khán giả, NSND Hồng Lựu đã bắt tay vào sáng tác kịch bản dân ca cho nhà trường, dàn dựng vở cho các doanh nghiệp, góp phần tạo dựng tên tuổi cho đơn vị dù đó là một đơn vị không liên quan đến văn hóa.

Chị cho rằng, làm vậy có nghĩa là mình đã “truyền bá” dân ca, ví giặm đến tường tận mọi ngóc ngách của đời sống, mọi ngành nghề. Từ nhiều bài hát sưu tầm được, chị mạnh dạn sáng tạo và phát triển, vẫn giữ được nét truyền thống mà lại mang hơi thở của thời đại.

Dân ca xứ Nghệ chủ yếu là đối đáp giao duyên dành cho người lớn nên rất ít lời dành cho con trẻ, vì thế, khi đi dạy ở các trường học, chị viết lời các bài dân ca dựa vào những lời dạy trẻ rất thiết thực, để mỗi câu dân ca xứ Nghệ đều mang tính giáo dục con người về nhân tình thế thái.

Tuy nhiên, dù vui với những thành tựu của cá nhân và của người dân xứ Nghệ đã đạt được nhưng trong lòng chị, một người đang nắm giữ nhiều trọng trách trong việc giữ gìn và phát huy giá trị của dân ca ví, giặm đã chia sẻ nỗi lo âu của mình.

Hạnh phúc, tự hào nhưng NSND Hồng Lựu vẫn còn nhiều trăn trở: Chúng tôi đã có một nền tảng tốt, bây giờ ước mơ của chúng tôi là có một bệ phóng, một chính sách tốt để phát triển di sản, cụ thể như xây dựng thành công hơn nữa những CLB hát dân ca ví, giặm trên cả nước để những tầng lớp khán giả biết đến và thấm được dân ca ở xứ Nghệ như một món ăn tinh thần không chỉ ở Nghệ An, Hà Tĩnh mà còn ở những vùng miền khác của đất nước…

Để làm được điều đó, trước hết, cần phải có chế độ phù hợp với những nghệ nhân cao tuổi, cả những nghệ sĩ biểu diễn, kể cả những nghệ nhân trong cộng đồng… để họ có thể toàn tâm toàn ý yên tâm cống hiến, phát huy di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, như lời ca hào hùng, mang đậm bản sắc văn hóa Lam Hồng, giàu âm hưởng những khúc dân ca ví giặm trong kịch hát sử thi “Danh nhân lớn lên từ câu hò ví giặm” mà NSND Hồng Lựu đã sáng tác cùng với soạn giả Vũ Hải: “Bằng dáng đứng của Hoành Sơn hùng vĩ.

Bằng nước mát của dòng sông quê. Trong cái nắng rạt rạt và dòng sữa mẹ, theo năm tháng thời gian, bao lớp người xứ Nghệ đã lớn lên rồi nằm xuống. Bao tên tuổi đã tạc vào lịch sử, hòa vào dòng sông và núi để làm đẹp thêm câu hò ví giặm quê tôi”…

Trần Hoàng Thiên Kim

THẢO VY : VỀ MIỀN VÍ GIẶM , VIETNAM


30/01/2015 17:01 GMT+7

 

Về miền Ví, Giặm

Ngày 27/11/2014, tại Thủ đô Paris (Pháp), dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã chính thức được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại, đây là di sản văn hóa phi vật thể thứ 9 của Việt Nam được tôn vinh trên trường quốc tế.
«
Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ là hai lối hát dân ca không có nhạc đệm, do cộng đồng hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo, lưu truyền trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt. Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ được thực hành trong cuộc sống, lúc ru con, khi làm ruộng, chèo thuyền, lúc dệt vải, xay lúa… Vì vậy, các lối hát thường được gọi tên theo các hình thức lao động và sinh hoạt như: Ví Phường Vải, Ví Phường Đan, Ví Phường Nón, Ví Phường Củi, Ví Trèo Non, Ví Đò Đưa, Giặm Ru, Giặm Kể, Giặm Khuyên… Hai lối hát dân ca này thường được hát xen kẽ cùng nhau nên có tên ghép là dân ca Ví, Giặm.

»
Dân ca Ví, Giặm có một sức sống cực kì mãnh liệt. Sức sống ấy không phải chỉ có ở quá khứ, mà đến nay nó vẫn đang không ngừng sinh sôi nảy nở trong chính tâm hồn người dân xứ Nghệ hôm nay. Chẳng thế mà người xứ Nghệ có câu nói nổi tiếng rằng: “Bao giờ người xứ Nghệ mất đi giọng nói thì lúc đó mới mất đi tiếng hát dân ca Ví, Giặm”.

Ngay sau khi dân ca Ví, Giặm chính thức được UNESCO vinh danh, chúng tôi đã về Nghệ An, về với “miền Ví, Giặm” để khám phá tính đặc biệt của loại hình dân ca này.

1. 6h sáng, chúng tôi rời Hà Nội đúng vào ngày tiết trời lạnh giá nhất của mùa đông để bắt đầu chuyến hành trình tìm về “miền Ví, Giặm”. Địa danh đầu tiên chúng tôi đến là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây được coi là một trong những nơi có phong trào hát dân ca Ví, Giặm phát triển mạnh mẽ nhất và cũng là cái nôi của điệu Ví Phường Vải, một trong những điệu Ví nổi tiếng của dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh.

Đón đoàn chúng tôi là anh Trịnh Hưng Minh, cán bộ văn hoá huyện Nam Đàn. Là cán bộ văn hóa, anh Minh cũng là người soạn lời phần lớn các bài hát Ví, Giặm cho các Câu lạc bộ (CLB) ở trong vùng. Anh Minh đưa chúng tôi đến một ngôi nhà cổ có niên đại cả trăm năm ở xã Kim Liên, nơi sinh hoạt thường xuyên của gần 30 thành viên trong CLB Ví Phường Vải Kim Liên.


Hai thành viên Trần Công Sơn và Phạm Thị Nhàn của CLB Dân ca Ví, Giặm xã Nam Thanh (Nam Đàn, Nghệ An)
hát đối đáp giao duyên ngay tại ngôi nhà cổ nhất trong xã, địa điểm sinh hoạt thuờng xuyên của CLB. Ảnh: Trọng Chính


Nét đặc sắc của dân ca Ví, Giặm chính là sự gắn bó chặt chẽ với không gian diễn xướng, vậy nên khi trải nghiệm
loại hình nghệ thuật này người nghe không chỉ cảm nhận cái hay của câu hát, giọng hát,
mà còn thấy được trong đó cả một không gian lao động thường ngày của người biểu diễn. Ảnh: Việt Cường


Các thành viên của CLB Dân ca Ví, Giặm Nam Thanh đang luyện tập một tiết mục mới. Ảnh: Trọng Chính


Lối hát dân ca Ví, Giặm thường được gọi tên theo các hình thức lao động và sinh hoạt đời thường như:
ru con, dệt vải, trồng lúa, hò hẹn giao duyên, hội hè đình đám,… Ảnh: Trọng Chính


Các nghệ nhân của CLB Ví Phường Vải Kim Liên cùng các em học sinh trường Tiểu học Làng Sen hát bài “Hò bơi thuyền”.
Ảnh: Việt Cường


Cô giáo Lê Thị Bích Thuỷ hướng dẫn các em học sinh trường Tiểu học Làng Sen
thực hành hát Ví, Giặm trong một tiết học ngoại khoá của trường. Ảnh: Trọng Chính


Cô giáo Nguyễn Thị Mai Lan dạy các em học sinh lớp 9C, trường THCS Kim Liên hát dân ca Ví, Giặm trong một tiết học âm nhạc.
Ảnh: Việt Cường

Ở đây, chúng tôi gặp lão nghệ nhân Trần Văn Tư, dù tuổi đã ngoài bát tuần nhưng ông vẫn nhớ rành mạch và rõ ràng từng câu hát cổ của Ví Phường Vải cũng như lịch sử ra đời của nó. Theo cụ Trần Văn Tư, ngày xưa, nam thanh nữ tú của làng Kim Liên ai cũng biết hát Ví Phường Vải, bởi đây là lối trò chuyện, đối đáp thông minh giữa hai bên nam – nữ trong những làng làm nghề dệt vải. Họ vừa làm, vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động. Và cũng từ hát Ví Phường Vải mà nhiều đôi nam nữ đã nên duyên vợ chồng.

Điểm nổi bật nhất của Ví Phường Vải là tính trí tuệ sắc sảo và chất trữ tình đằm thắm trong nội dung lời ca và âm điệu. Chẳng vậy mà ông Tư cho biết, khi còn nhỏ, chính Bác Hồ cũng hay theo chân người lớn trong vùng đi nghe hát Ví Phường Vải. Và chính chi tiết này đã tạo cảm hứng để nhạc sĩ An Thuyên viết nên ca khúc nổi tiếng: “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác”, trong đó có đoạn: “Bác theo phường đi nghe hát, quần xắn gối đứng đầu sân…”.

Ngày nay, tuy Nam Đàn không còn nghề dệt vải thủ công nữa, nhưng không vì thế mà dân ca Ví, Giặm bị mai một đi. Để minh chứng cho điều này, anh Minh đưa chúng tôi đến trường Trung học Cơ sở Kim Liên. Giờ học nhạc của các em học sinh lớp 9C thật đặc biệt, thay vì dạy những bài hát tân thời, cô giáo Nguyễn Thị Mai Lan dạy các em cách hát những bài dân ca Ví, Giặm. Nhờ đó mà những câu hát của quê hương xứ sở cứ thế ngấm dần vào lòng giới trẻ. Được biết, hiện nay hầu hết các trường học ở Nam Đàn đều đã đưa dân ca Ví, Giặm lồng ghép vào các tiết học chính khoá cũng như ngoại khoá.

2. Ngày thứ hai của hành trình về “miền Ví, Giặm”, chúng tôi sang huyện Thanh Chương. nơi nổi tiếng với Ví Phường Nón dân dã, mộc mạc nhưng cũng đầy thi vị.

Ở Thanh Chương có CLB dân ca Ví, Giặm Ngọc Sơn, đơn vị có công rất lớn trong việc phục dựng lại hiện trường các phường hát Ví để làm hồ sơ đệ trình UNESCO.


Hát “Ví mời trầu”, một trong những thể hát rất phổ biến ở các vùng miền của người dân xứ Nghệ. Ảnh: Trọng Chính


CLB dân ca Ví, Giặm Ngọc Sơn luyện tập tiết mục “Ví Phường Nón” để chuẩn bị cho Lễ vinh danh Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh
là “Di sản văn hoá phi vật thể” của nhân loại được tổ chức vào ngày 31/1. Ảnh: Việt Cường


Các thành viên Phùng Thị Tình, Võ Thị Mai Anh, Võ Thị Vân của CLB Dân ca Ví, Giặm Ngọc Sơn
(xã Ngọc Sơn, Thanh Chương, Nghệ An) biểu diễn những câu Ví, Giặm ngay trên những thửa ruộng quê mình. Ảnh: Trọng Chính

«
Dân ca Ví, Giặm hiện đang được lưu truyền rộng rãi ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Trên địa bàn hai tỉnh này hiện có hơn 100 CLB dân ca Ví, Giặm cùng với 803 nghệ nhân và hơn 2000 thành viên tham gia sinh hoạt.

»
Lúc chúng tôi đến, CLB Ví, Giặm Ngọc Sơn đang bận rộn tập luyện để chuẩn bị cho lễ đón bằng công nhận Di sản Dân ca Ví, Giặm của UNESCO do UBND hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tổ chức vào ngày 31/1. Chị Võ Thị Vân, Chủ nhiệm CLB cho biết, tất cả các tiết mục của CLB từ dàn dựng, viết lời mới đều do chị và ông Vũ Trọng Thìn, nhạc sĩ của CLB trực tiếp làm.

Tuy mới thành lập được 5 năm, nhưng CLB Ví, Giặm Ngọc Sơn đã có trên 40 thành viên, sinh hoạt đều đặn 2 lần/tuần. Bản thân chị Võ Thị Vân nhờ có nhiều cống hiến trong việc giữ gìn và phát triển phong trào hát dân ca Ví, Giặm ở địa phương nên năm 2014 chị được công nhận là Nghệ nhân Ưu tú.

Tâm sự với chúng tôi, chị Vân đã không giấu được nỗi niềm xúc động: “Sau nhiều năm chờ đợi, khi nghe thông tin dân ca Ví, Giặm của quê mình được công nhận là di sản của thế giới, tôi đã bật khóc vì quá sung sướng và hạnh phúc!”.

3. Ngày thứ ba. Chúng tôi trở lại thành phố Vinh để tiếp tục chuyến hành trình về “miền Ví, Giặm” của mình.

Ở Vinh chúng tôi gặp NSND Hồng Lựu, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và Phát triển dân ca xứ Nghệ. NSND Hồng Lựu là một trong những nghệ sĩ có công rất lớn trong việc bảo tồn và phát triển dân ca Ví, Giặm.

Theo NSND Hồng Lựu, trong công tác bảo tồn và phát triển dân ca Ví, Giặm, việc sân khấu hoá loại hình nghệ thuật dân gian này chính là một hướng đi có ý nghĩa rất quan trọng. Còn nhớ, vào năm 1970, lần đầu tiên ra mắt, vở kịch hát “Không phải tôi” của Đoàn dân ca Nghệ Tĩnh đã nhận được sự ủng hộ nồng nhiệt từ đông đảo công chúng, từ đó đánh dấu cho việc ra đời thể loại kịch hát được chuyển thể từ những làn điệu Ví, Giặm. Về sau nhiều vở kịch hát nổi tiếng thuộc thể loại này tiếp tục ra đời và để lại tiếng vang lớn như: Cô gái sông Lam; Lời Người, lời của nước non,… Trong đó, vở diễn “Lời Người, lời của nước non” đạt kỷ lục trên 1.000 đêm công diễn ở nhiều nơi trong và ngoài tỉnh.


Các động tác mô phỏng công việc nhà nông khéo léo như: tát nước, cấy hái… đã giúp tiết mục “Ví Phường Cấy”
của CLB Dân ca Ví, Giặm Vinh Tân (Tp. Vinh, Nghệ An) tạo được ấn tượng mạnh
khi tham gia các Liên hoan văn nghệ quần chúng của tỉnh. Ảnh: Việt Cường


Trong bảo tồn, phát huy di sản Dân ca Ví, Giặm, bên cạnh lời hát thì không gian và môi trường diễn xướng
cũng được xác định là một trong các yếu tố rất quan trọng. Ảnh: Trọng Chính


Các nghệ sỹ của Trung tâm Bảo tồn và Phát triển Dân ca xứ Nghệ biểu diễn những làn điệu của “Ví sông Lam”
ngay trên chính dòng sông này. Ảnh: Sỹ Minh


Liên hoan “Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ” là ngày Hội lớn được hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh
tổ chức thường niên từ năm 2012, nhằm trao truyền và tôn vinh những giá trị của Dân ca Ví, Giặm. Ảnh: Sỹ Minh

Cùng với việc sân khấu hóa, chính quyền hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh còn phối kết hợp tổ chức nhiều hình thức bảo tồn và phát triển dân ca Ví, Giặm như: tổ chức các hội thi hát dân ca Ví, Giặm; đưa dân ca vào trường học; xuất bản các loại tài liệu, sách, băng đĩa dân ca để tuyên truyền, quảng bá.

Những tưởng cuộc sống hối hả ở thành thị sẽ khiến cho con người không mấy mặn mà với dân ca, dân vũ. Ấy vậy mà ở thành phố Vinh vẫn có những câu lạc bộ dân ca Ví, Giặm phát triển rất mạnh. Ví dụ như CLB dân ca phường Vinh Tân có gần 40 thành viên và đa phần là công chức, nhưng lại rất khéo léo khi hóa thân trở thành những chàng trai, cô gái thạo việc đồng áng cấy cày.

Nhìn các chàng trai cô gái chân trần trắng muốt lội ruộng thoăn thoắt cấy cày thể hiện điệu Ví Phường Cấy khéo léo chẳng khác gì người nông dân chính hiệu mới thấy được hết tấm lòng yêu dân ca Ví, Giặm của người thành Vinh.

Chị Nguyễn Thanh Vân, Chủ nhiệm CLB Vinh Tân cho biết, dù mới thành lập năm 2011 nhưng CLB đã có tới hơn 40 người, người nhỏ nhất là bé Trà My 7 tuổi, còn lớn nhất là một bác cán bộ hưu trí hơn 70 tuổi.

Chỉ có ba ngày trên quê hương của những làn điệu dân ca Ví, Giặm, nhưng chúng tôi đã tìm thấy ở đó một tình yêu đặc biệt của người dân xứ Nghệ đối với loại hình di sản đặc biệt này. Đây chính là cơ sở để chúng ta tin rằng, cùng với sông Lam, núi Hồng, dân ca Ví, Giặm sẽ mãi trường tồn cùng người xứ Nghệ./.

9 Di sản Văn hóa Phi vật thể Thế giới của Việt Nam:

1/ Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh (2014).
2/ Đờn ca tài tử Nam Bộ (2013)
3/ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (2012).
4/ Hát xoan Phú Thọ (2011).
5/ Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc (2010).
6/ Ca trù (2009).
7/ Dân ca Quan họ (2009).
8/ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (2008).
9/ Nhã nhạc cung đình Huế (2008).

http://vietnam.vnanet.vn/vnp/vi-vn/13/116190/phong-su-chuyen-de/ve-mien-vi-giam.html

Bài: Thảo Vy – Ảnh: Trọng Chính, Việt Cường & Sỹ Minh

This blog is focused on Trân Quang Hai