LÊ HÀM : Hát ví trong dân ca người Việt ở xứ Nghệ, VIETNAM


Hát ví trong dân ca người Việt ở xứ Nghệ

  •   LÊ HÀM
  • Thứ tư, 10 Tháng 8 2011 06:54
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 

            

                         Ai đi qua nơi đây
                                    Xin dừng chân Xứ Nghệ
                                                                        (Cù Huy Cận)
Du khách mỗi lần qua nơi đây chúng tôi đều khoe: quê ta có nhút Thanh Chương, có Tương Nam Đàn, nào cam Xã Đoài, cháo lươn Kẻ Vịnh và cứ theo dọc vào đàng trong, ăn Bưởi Phúc Trạch, đội nón Kỳ Anh, uống nước chè Hương Sơn, chấm ruốc tôm canh Cửa Nhượng…
 
            Ngoài ra mời du khách lắng nghe những bài dân ca Xứ Nghệ một thổ sản đặc biệt trong gia tài văn hóa tinh thần mà bao đời cha ông để lại cho đến bây giờ, đó là:
            Các làn điệu Hò khoan, Kể vè, Hát ví, Hát dặm, Sắc bùa, Ru con, hát Đồng giao, Bài ca tế lễ… Mời xem trò Kiều, trò Trương viên, chiếu ca Trù cổ Đạm, xem múa chèo cạn, bài bông múa đăng, múa chén,…
            Để hiểu sâu hơn từng thể hát, hôm nay chúng tôi xin giới thiệu thể hát Ví, một hình thức ca hát độc đáo của người Việt ở Xứ Nghệ. Tìm hiểu nguồn gốc của loại dân ca này, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian cho rằng, nó do từ “ví” mà ra. Ví là ví von, so sánh.
            Ví dụ như:         Cổ tay em trắng như ngà
                                    Mắt em sắc như là dao au
                                    Miệng cười như thể hoa ngâu
                                    Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
            Như vậy, nó xuất phát từ lời ca, từ mặt văn hóa của làn điệu dân ca. Mà dân ca Việt Nam đâu chỉ có “hát Ví” mới có ví von, so sánh. Các làn điệu Sa mạc, cò lả, trống quân, quan họ, lý ngựa ô, lý con sáo… lời ca đều có ví von, so sánh, tại sao không gọi nó là hát Ví.
            Ở Nghệ Tĩnh nói tới hát Ví là nói tới một loại dân ca mà làn điệu dân ca này chỉ thấy xuất hiện ở Nghệ Tĩnh, lưu truyền ở Nghệ Tĩnh. Ra Thanh Hóa, vào Quảng Bình, chúng ta không nghe làn điệu dân ca này. Trong các sách viết về dân ca đã xuất bản từ trước tới nay, chúng ta cũng không thấy sách nào nói, địa phương nào có loại dân ca này. Vì thế chúng tôi cũng cho rằng hát Ví là một trong những thổ sản đặc trưng của Xứ Nghệ.
            PGS. Ninh Viết Giao đã cho rằng, “Ví” là “với”, hát ví là hát với và “ví” là “vói”. Bên nam đứng ngoài ngõ, ngoài đường “hát vói” vào sân, vào nhà với bên nữ; hoặc đám con gái đang cấy lúa ở đỗi ruộng này “hát vói” sang khu ruộng bên cạnh đó với đám con trai đang nhổ mạ. Đó là một ý kiến cần phải nghiên cứu.
            Qua thời gian đi sưu tầm dân ca ở các vùng miền hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh, tôi chưa thấy nghệ nhân nào nói “ví” là “với”. Nếu nói là “vói” còn có ý nghĩa trong ca hát còn từ “với” thì không thỏa lắm:
                        – Tôi với anh cùng đi
                        – Trứng chọi với đá
                        – Hình với bóng
                        – Con với cái…
            Còn từ  dù sao nó cũng mang thẩm âm nhiều hơn.
                        – Công ơn ví như trời biển
                        – Ví đổi phận làm trai
                        – Ví dù có phải hi sinh nơi trận mạc.
            Như thế từ hát Ví vẫn là từ thịnh hành nhất từ trước tới nay.
            Hát Ví Nghệ Tĩnh, trước khi là dân ca trữ tình, hát đối đáp giao duyên giữa trai và gái, nó là dân ca lao động, dân ca nghề nghiệp. Tại Xứ Nghệ này nói hát Ví là nói chung. Ở đây có hát ví phường vải, hát ví phường đan, hát ví phường nón, hát ví phường vàng, hát ví phường róc cau, lau mía, hát ví phường cấy, hát ví phường củi, hát ví phường chắp gai đan lưới… Như vậy, ngay cái tên của nó cũng gắn với nghề nghiệp đến lao động rồi. Và xét về nhiều phương diện, nó có quan hệ xa gần với các bài ca nghề nghiệp, đặc biệt là với hò lao động.
            Qua thời gian hát ví được nâng lên bằng một loại dân ca sinh hoạt – trữ tình.
            Đã có nhiều công trình ngiên cứu về hát ví Nghệ Tĩnh, trước khi đi sâu vào mặt âm nhạc, xin nêu tóm tắt các đặc điểm của hát ví ở Nghệ Tĩnh như sau:
1. Không như hát quan họ ở Bắc Ninh, hát ghẹo ở Phú Thọ, hát cửa đình ở một số nơi khác, nhân dân Nghệ Tĩnh hát ví không hề tính đến thời gian. Quanh năm trên đất Nghệ lúc nào cũng có thể nghe tiếng hát ví, không hát ví phường vải thì hát ví phường củi,…
            2. Hát ví nhất là ví phường vải, ví phường vàng, ví phường đan… có nho sĩ tham gia. Phần lớn các nho sĩ này là tầng lớp trí thức bình dân, xuất thân từ quần chúng lao động, cũng như có người là con nhà dòng dõi, con nhà khoa bảng, nhiều khi chính họ là những người có tên trên bảng vàng. Tham gia hát ví họ thường là “thầy bày”, “thầy gà” cho bên nam và bên nữ. Một số người cũng trực tiếp cất giọng. Chính vì có nho sĩ tham gia mà hát ví Nghệ Tĩnh đã để lại những lời ca óng ả, cô đọng, màu mè và nhiều giai thoại mà đến giờ đây nhân dân Xứ Nghệ còn truyền tụng.
            3. Hát ví có thủ tục hẳn hoi. Thông thường một cuộc hát ví có ba chặng. Chặng một là các bước hát dạo, hát chào, hát mừng là hát hỏi. Chặng hai là hát đố, hát đối. Chặng ba, chặng quan trọng nhất, có nhiều câu hát hay hơn cả, gồm: hát mời, hát xe kết và hát tiễn. Với hát ví phường vải thì thủ tục trên khá chặt chẽ. Có thủ tục nó làm cho cuộc hát thêm lịch sự và trở thành một hình thức phô diễn mang tính văn hóa hẳn hoi.
            4. Câu văn hát ví hầu hết được sáng tác theo thể lục bát và lục bát biến thể. Vì hát ví đã trải qua một thời gian dài lại có nho sĩ tham gia nên như vừa nói ở trên, câu hát khá chải chuốt, khá điêu luyện, thể hiện tình cảm phong phú, phức tạp, nhiều vẻ. Nhiều câu hát ví hàm súc mang chất trí tuệ ở logic diễn đạt, ở tri thức sách vở và tri thức thực tiễn. Bên cạnh đó cũng không ít câu mang tính chất chơi chữ và chất “trạng”.
            5. Về cách hát, trước khi hát một câu, bên nam hoặc bên nữ phải xướng lên một câu. Ví dụ như hát ví phường vải, bên nam gọi bên nữ: “Ơ này chị em phường vải ơi!”, bên nữ thưa: “Ơ thưa chi!” rồi bên nam mới hát. Hát hay bên nữ khen “Hay, ơ rằng hay” hoặc “Hay, rằng thưa xinh”, “Hay hỡi rằng cân”. Còn hát không hay, câu văn lủng củng, các cô nói “Hay rằng chưa cân” hoặc “Hay rằng chưa xinh”. Bên nữ khi hát cũng phải gọi bên nam: “Ơ, người đi nhởi ơi!”. Đó là lúc đầu.
            Còn khi đã đằm thắm gắn bó với nhau rồi, tức là khi cuộc hát đã chuyển sang chặng ba thì những lời gọi trên, chuyển thành “Ơ, là bạn người ơi!”, “Ơ là ngãi người ơi!” hoặc “Ơ là bạn tình ơi!”... nó làm cho tình cảm hai bên mặn mà hơn, da diết, sâu sắc hơn.
            Muốn hiểu sâu hơn chúng ta phân tích ví bằng âm nhạc mà trong âm nhạc thì điệu thức và gam là chủ yếu. Ngoài ra còn có nhịp điệu sắc thái trong diễn xướng…
            Như thế chúng ta có thể nói điệu thức trong dân ca Nghệ Tĩnh nói chung và hát ví nói riêng được không?
            Có thể được chứ!
            Bởi thuật ngữ điệu thức hiểu theo nghĩa chung nó giống như ngôn ngữ của một dân tộc. Còn gam là bảng chữ viết của dân tộc đó. Điệu thức gắn liền với giọng điệu, xung quanh một nốt đặc trưng, nốt đó có thể là âm chủ hoặc âm kết thúc.
            Ví dụ lên dây đàn thập lục:
             Đệm thơ miền Trung gồm chuỗi nốt Đồ rê mi sol la
             Đệm thơ miền Bắc gồm chuỗi nốt Đồ rê fa sol la
             Miền Trung khác với miền Bắc ở nốt mi và nốt fa.
             Âm nhạc hát ví thuộc hệ thống dân ca cổ, giai điệu chủ yếu nằm trong 3 nốt và 4 nốt (ngũ cung khuyết), một số bài trục chính là quãng 4 đúng và 3 thứ. Tầm cữ âm nằm trong phạm vi quãng 6, quãng 7 (Xem thêm phần điệu thức dân ca Nghệ Tĩnh).
            Ví là thể hát đơn, hát trên lời thơ lục bát, song thất lục bát hoặc biến thể. Nhưng đến khi có hội có phường thì có thể cả tốp cùng hát theo, hoặc 2 – 3 ngườicùng hát để hỗ trợ giọng cho nhau như ví phường vải hát trong lúc kéo xa quay con cúi. Hát ví trong những người lao động, nhiều người khác trong tứ dân (sĩ, nông, công, thương), trẻ già trai gái đều tham gia hát ví.
            Về văn học của hát ví, các nhà nghiên cứu sưu tầm văn nghệ dân gian như PGS. Ninh Viết Giao, GS. Nguyễn Đổng Chi, nhà thơ Trần Hữu Thung… đã tập hợp nhiều tư liệu, đã in thành sách và lưu hành rộng rãi. Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng ví chỉ có một loại, một làn điệu cơ bản nhưng qua nghiên cứu âm nhạc dân gian Nghệ Tĩnh thì ví phong phú về làn điệu, lý do là ở Nghệ Tĩnh mỗi nghề mỗi việc đều có thể ví về nghề đó như ví phường vải, ví phường chè, ví phường cấy,… nhưng khi hát lên chỉ khác nhau về âm sắc.
            Vì thế bản chất âm nhạc chuyển đổi tuyền luật theo cách hát của từng nghề, từng làn điệu của những người khi hành nghề đó, đồng thời do ngôn ngữ của từng vùng cũng ảnh hưởng tới cách hát, cho nên về cấu trúc âm nhạc cũng khác nhau ở nhịp vào bài và nhịp kết thúc (sẽ dẫn giải sau khi đi vào phân tích các điệu ví).
            Những bài hát ví ở nghệ Tĩnh đã sưu tầm có:
– Ví phường vải: Nam Đàn, Đô Lương, Can Lộc, Đức Thọ…;
– Ví đò đưa sông La: Đức Thọ, Hương Sơn,…;
– Ví đò đưa sông Lam: Dọc sông Lam;
– Ví đò đưa sông Phố: Hương Sơn;
– Ví phường chắp gai đan lưới: Cẩm Nhượng, Cửa Hội, Cửa Vạn;
– Víphường đan(đan rổ, rá): Kỳ Anh, Ba Giang, Nam Đàn…;
– Phường nón: Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà…;
– Phường buôn: Đô Lương, Hương Khê, Chợ Nhe, Chợ Thượng…;
– Ví trồng đấu: Kỳ Anh (Trồng chén, bát, gạch…);
– Ví tiểu thuyết: (do Nguyễn Chung Anh đặt tên);
– Phường vàng: Nam Vân, Sa Nam…;
– Bện võng: Phú Hậu, Hoàng La, Diễn Châu, Kỳ Anh…;
– Phường nốc: Tổng Bích Hào – Thanh Chương…;
– Trèo non: Xuân An, Hai Vai, Kỳ Nam, Nho Lâm, Nam Cai (Anh Sơn),…;
– Phường cấy – Phường gặt: Nơi nào cũng có, chủ yếu vùng đồng bằng;
– Ví phường củi: Các vùng có đồi núi chủ yếu vùng trung du;
– Ví róc cau lau mía:Vùng bán sơn địa;
– Ví nhổ mạ: Các vùng đồng bằng;
– Ví huê tình: Nơi nào cũng có;
– Ví đò đưa chuyển phường vải: Can Lộc;
– Ví đò đưa nước ngược: Nghi Xuân;
Hát ví Nghệ Tĩnh cũng giống như hát huê tình, hát xoan, hát ghẹo ở trung du Bắc Bộ, cũng tự tình, trong lời ca cũng có câu đệm.
Ví dụ:
Ở Bắc Bộ hát đệm:
            Ơ này anh hai chị hai đó ơi…
Ở Nghệ Tĩnh hát đệm:
            Ơ bạn tình ơi; Ơ này chị em phường vải ơi…
Lời ca có nhiều câu dí dỏm:
            Ơ bạn tình ơi! Khi đi anh trước em sau
            Giừ về đàng trẹ (rẽ) rọt (ruột) đau quằn quằn.
Hoặc:
                        Quen em chưa ráo mồ hôi
            Chưa trưa buổi chợ đã chia đôi nẻo đường.
Hoặc:
                        Năm ni em mắc chăn tru (Trâu)
            Vài năm chi nựa em về mần du (làm dâu) mẹ thầy.
Sau một thời gian hát ví lan truyền ở các địa phương, hát ví gắn với nghề nghiệp đã trở thành cuộc hát có thủ tục, có quy cách riêng như hát phường vải.
Ví dụ người ta quy định vào cuộc hát ví phải hát câu chào hỏi như sau:
            Ở nhà tôi mới tới đây
            Lạ thung lạ thổ tôi nay lạ nhà
            Ba cô tui lạ cả ba
            Bốn cô lạ bốn biết là quen ai
            Đến đây lạ cả bạn trai
            …
            Bây giờ biết nói làm sao
            Biết ai quen thuộc mà vào trình thưa.
Đặc điểm hát ví Nghệ Tĩnh cũng như hát giặm, chủ yếu là theo phương ngữ thổ âm của địa phương và thông qua ca khúc của ngành nghề nơi đó để hát – Tính chất rõ nhất là ngẫu hứng, tự do, phong phú có cảm xúc.
Về âm nhạc, nếu bài nào cũng ghi theo các nghệ nhân hát thì vô cùng phong phú nhưng xét về cấu trúc giai điệu dù khác nhau về lời ca cũng nằm trong điệu thức 4 nốt (mì la đố rế) – (la đố rế mí).
Nhưng nếu chuyển hóa dấu (’) (hỏi) = (´) (sắc) thì không còn đâu Xứ Nghệ.
Ví dụ: Nghệ Tĩnh: Anh nỏi anh vô chơi
            Ngoài Bắc: Anh nói anh vào chơi.
Sau đây tôi xin trích dẫn một số điệu ví để các bạn tham khảo.
1.       Ví đò đưa sông La
Nghệ Tĩnh có nhiều sông nhiều rào, đó cũng là nguồn giao thông đặc biệt trong tỉnh. Trên dòng sông thường có thuyền buồm, thuyền chợ, đò dọc, đò ngang, bè gỗ, bè nứa,… Ngay trong khi thuyền bè xuôi ngược dòng sông, giữa thuyền này với thuyền kia khi xuôi dòng, khi ngược dòng, với mênh mông trời nước, đó là sự cách trở để hai thuyền khó tâm tình với nhau, muốn giao duyên người bạn, thuyền bên tả ngạn hát ví, để bên hữu ngạn biết có người muốn tỏ tình. Câu ví hình thành trong khoảng không gian bao la đó, chữ “Người ơi” vút cao trong sáng nghe man mác biểu lộ rõ nhất ở chỗ bắt đầu khi vào bài với chữ “Người ơi” cấu tạo giai điệu là quãng 2 trưởng.
                        Người ơi thuyền anh xuôi Chế sáu chèo
                        Thuyền em ngược Lạng cheo leo một mình
                                    (Xem bản phổ ví đò đưa sông La)
2.       Ví phường vải
Ở Nghệ Tĩnh việc làm ăn ở hội có phường là truyền thống lâu đời. Nghề thủ công dệt vải, tơ lụa, nuôi tằm nổi tiếng như đất Đồng Môn dệt vải, lụa Hạ Châu Phong, các làng ở Nam Đàn, ở can Lộc (Như Trường Lưu)… đều có phường vải.
Nghề dệt vải – quay tơ, xe cúi phần lớn do chị em gái đảm nhiệm. Về tiết thu tháng 8 khi mùa màng cày cấy đã xong, chị em phường vải thường tụ tập vào một nhà trong xóm, lấy ca hát để động viên nhau cho quên sự mệt nhọc.
                                    Tần tấn rắp ranh
                                    Vì chưng kéo vải mới sinh ra phường
                                    Nguyệt dạ canh trường
                                    Dăm ba ô ngồi lại
                                    Dăm ba dì ngồi lại.
                                    Trước là nghề canh cửi
                                    Sau đàn hát vui chơi…
            Từ đó những điệu ví phường vải được vang lên bên lũy tre xanh, từ trong mái nhà tranh ấm cúng hay dưới đêm trăng bên thềm nhà, các chị em tay quay xa, tay cầm con cúi rút sợi. Tay quay xa khi quay khi dừng, lên lên xuống xuống, khi đưa ra khi đưa vào, nhịp nhàng mềm mại, tiếng xa sè sè, hòa vào tiếng quay vo vo êm ả, tiếng hát cũng trong hoàn cảnh đó, được cất lên êm dịu thiết tha nồng hậu, biểu hiện ở chỗ bắt đầu ở chữ “Người ơi” nhẹ nhàng thiết tha, cấu tạo âm bằng một quãng ba thứ, sau đó chuyển sang quãng 3 trưởng:
                                    Người ơi! Bốn mùa xuân hạ thu đông
                                    Thiếp ngồi canh cửi chỉ trông bóng chàng
            Hát phường vải khác với các ví khác là có thủ tục một cuộc hát: đầu tiên chỉ nhóm chị em phường vải nữ ca hát với nhau. Sau đó có sự tham gia của nhóm nam. Có thể nhóm nam này là trai phường nón hoặc trai phường củi… và trở thành hát đám hát hội. Hát phường vải là phôi thai của hát đám, do đó có quy tắc của phường đề ra:
            – Sinh hoạt của phường vải nữ;
            – Hát dạo của trai phường khác;
            – Vào cuộc: Hát chào hát mừng, hát hỏi rồi đến hát đố, hát đối, xong chuyển sang, hát mời, hát xe kết rồi hát tiễn ra về.
            Trong âm nhạc của hát phường vải tuy điệu thức các làn điệu ở các chặng giống nhau, nhưng nó khác nhau ở chỗ bắt đầu vào các chặng, nên ghi ra bản phổ cũng khác nhau.
            Ví dụ:
            Chặng chị em phường vải sinh hoạt.
                                    Ơ này chị em phường vải ơi…
            Trai phường khác mới vào cổng hát:
                                    Người ơi!…
            Khi chưa hỏi mời hai bên đều hát:
                                    Ơi nghĩa người ơi!
            Khi có cảm tình với nhau qua chặng đố đối hát:
                                    Ơ nghĩa người thương ơi!
            Qua đó ta cũng thấy được không phải vào câu ví nào cũng mở đầu bằng “Người ơi” một cách xa lạ, mà theo tình cảm của từng chặng từng cuộc mà hát với những từ thích hợp, âm điệu thích hợp.
            Về văn học của hát phường vải, chúng tôi xin giới thiệu thiệu tập “Hát phường vải” của Ninh Viết Giao in lần thứ 2 – Nxb Nghệ An 1993 và cuốn “Hát phường vải Trường Lưu” của Vi Phong – Thư Hiền – Nxb Hà Nội 1997.
            3. Ví đò đưa sông Lam
            Tính chất ví đò đưa là cùng loại với hát ví nói chung, nhưng ví đò đưa sông Lam khác sông La ở chỗ bắt đầu vào bài: “Người ơi” cấu tạo giai điệu ở quãng 3 thứ (la – đô hoặc sol – Sib). Đặc điểm của ví này là chỉ hát trên sông lúc đò đang đi xuôi hoặc ngược dòng, còn khi neo đậu không ai hát nữa. Khi thuyền trôi trên sông, người chống đò cầm sào đi lên phía mũi thuyền, bỏ sào chống xuống nước, tay cầm đầu sào, tùy vào phía trước bả vai, rồi lấy sức chống cao sào, đi ngược với con thuyền, lúc nhổ sào người chống sào đi thong thả về vị trí cũ là hết một cội sào, lúc đó họ nghỉ ngơi và cất lên tiếng hát – có lúc người ngồi bên mạn thuyền hát một câu ví tâm tình:
            Người ơi! Ai là biết nước sông Lam răng là trong là đục
            Thì biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh          
            Âm điệu của ví đò đưa sông Lam: man mác, bao la, sâu lắng.
            4. Ví phường cấy
            Người nông dân Nghệ Tĩnh đã chịu đựng biết bao cơ cực của thiên nhiên hà khắc, nào gió Lào hạn hán, lụt bão triền miên. Trong chế độ phong kiến cuộc sống làm thuê một nắng hai sương, người nông dân đi cày cấy trước khi trời chưa sáng trong màn sương mai dày đặc. Để biểu lộ tâm tình với nhau trên đồng ruộng, câu hát ví được hình thành trong hoàn cảnh đó, nó mang tính chất bàng bạc, u uất bâng khuâng, điển hình là câu “Người ơi” bắt đầu vào cuộc ví:
                        Người ơ ơi! Rồi mùa toóc rả rơm khô,    
                        Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm
            Cấu tạo giai điệu vào bài là quãng 1 có láy 1 nốt nhỏ lên 2 trưởng. Điệu thức ví phường cấy 4 nốt (la đô rê mi).
            5. Ví trèo non
            Rừng núi Nghệ Tĩnh khá rộng và có những mỏm núi cao vun vút, nằm trên dải Trường Sơn trùng điệp, có vùng đồi núi gần thượng du và trung du, đồng bằng ven biển đều có núi đồi. Người dân xứ Nghệ thường hay đi kiếm củi ở rú gần làng như rú Hống (núi Hống), rú Thành, rú Đại Huệ,… có vùng núi đá, có vùng núi đất, cây cối có nơi lè tè hoang dại, có nơi sầm uất xanh tươi. Mỗi lần đi kiếm củi, họ phải trèo lên cao mới có củi tốt. Những bàn chân đất, đòn gánh đè rạn hai vai, vất vả gian nan là thế nhưng câu hát ví vẫn cùng người xứ Nghệ lên non. Họ gọi đó là “hát ví trèo non”, âm điệu câu hát mang màu sắc không gian đồi núi. Thường thường người dân đi hái củi này hay dùng tiếng “hú” làm tín hiệu để liên lạc với nhau, cho nên hát ví lúc này không thể hát ngay chữ “người ơi”, mà vào đầu là chữ “Ơ” rồi mới hát “là người ơi”, có như thế người bạn bên núi kia mới biết người ở bên này đang hát với mình. Một đặc điểm khác là cuối câu ví không kéo dài, vì do gánh nặng hoặc leo trèo mệt nhọc nên dừng lại một chữ có âm ngắt “đó”:
                        Ơ… là người ơi!
                        Chứ trèo truông mới biết truông cao       
                        Chứ đã đi đò dọc lại ước ao sông dài đó.
            Cấu tạo giai điệu là: sol la đố rế
            Dưới đây là hệ thống một số làn điệu dân ca xứ Nghệ và kĩ thuật hát ví:
DÂN CA XỨ NGHỆ IN TỪ BĂNG CASSETTE
 SANG ĐĨA CD CỦA NGHỆ NHÂN ĐÃ MẤT
            1. Hò dô
            2. Hò khoan đi đường
            3. Hò xeo gỗ     
            4. Ví phường vải                        2L
            5. Ví đò đưa xuôi dòng   2L
            6. Ví đò đưa nước ngược
            7. Ví trèo non    
            8. Ví cấy          
            9. Ví chuyển điệu
            10. Ví buôn bộ
            11. Hát vè Hà Tĩnh
            12. Giặm xắp
            13. Giặm kể
            14. Giặm nối
            15. Ru con (Bài 1 – bài 2)
            16. Sắc bùa (Đức Thọ)
            17. Hát đúm
            18. Chèo kiều – các làn điệu
                                    Làn trăng
                                    Ai thả lạc
                                    Hầu cô
                                    Buông áo em ra
                                    Tam tầng (Kiều vẫn đi chơi về)
                                    Hát dạo (Vương ông đi chơi)
                                    Hát say
                                    Chèo đò
                                    Phải lương
                                    Hát xà
                                    Vọng phu (Kim Lương…)
                                    Lên chùa (quét sạch lá rừng)
                                    Quạt màn
                                    Ngâm Kiều…
                                    (Tư liệu của NS Lê Hàm sưu tầm từ năm 1956)
 
TÌM HIỂU KĨ THUẬT HÁT VÍ
                                                                                   
            Dân ca Nghệ Tĩnh, hát ví cũng như hát giặm, hát ru xuất phát từ hoàn cảnh lao động và thời gian nơi xảy ra ca hát.
            Các nghệ nhân vừa nhai trầu vừa hát ví, hát giặm, hát vào đêm trăng thanh gió mát như hát phường vải; hát vào buổi mờ sương như hát ví phường cấy; hát trong không gian trời cao sông rộng như ví đò đưa, ví đua thuyền; vừa hát vừa trèo núi hoặc xuống núi, hát khi đôi vai gánh nặng như ví trèo non; tưng bừng phấn khởi nơi biển khơi sau khi được mẻ cá;… do đó chúng ta phân loại giọng hát gồm: giọng trai, giọng gái, giọng già, giọng trẻ. Căn cứ vào lứa tuổi của các giọng ca, ta đối chiếu với ca hát dân gian nói chung để xếp loại giọng hát mà các nghệ nhân đã trình diễn như giọng: Kim – Mộc – Thổ đồng – Thổ thường.
            – Hơi hát (cách lấy hơi): ở tai – ngực – bụng – rốn, đan điền.
            – Kĩ thuật: Công minh trong phát âm tự do theo phương ngữ làn điệu.
            – Khẩu hình ngôn ngữ: Mỏng, sáng, nhẹ nhàng của phương ngữ phương Đông.
            – Đào tạo chủ yếu: Truyền khẩu – học theo nghệ nhân.
            Hát ví là loại ca hát: Không nhịp điệu, hát tự do, theo bản năng trong sinh hoạt; không như hát vè, giặm (hát theo nhịp phách 2/4 hoặc 7/8).
            Trong ca hát dân gian, không nằm ngoài ngôn ngữ người Việt, khi nói có 6 âm.
            Huyền ( ̀), sắc (´), nặng (.), hỏi ( ̉), ngã (~) và không. Nếu so sánh giọng nói ba miền ta thấy:
            Người phía Bắc nói sai phụ âm đầu: Nói =lói; nón = lón.
            Người miền Trung nói sai dấu: Nói = nỏi, cánh chim = cảnh chim
            Người miền nam nói sai âm cuối: đèn = đeèng, mình = miềng
            Có người hỏi tôi thổ âm, phương ngữ người xứ Nghệ có khác nhau không?
            Từ Bắc Nghệ đến Nam Nghệ Tĩnh giọng nói có vài vùng khác nhau:
            ví dụ:    
            – Người Quỳnh Lưu – Diễn Châu nói: Thực hiện tiếp giải phóng mặt bằng (nói đúng dấu ).
            – Người Nghi Lộc nói: Bổn quy đình nha nước (bốn quy định nhà nước). Hoặc: Me mi mô (mẹ mày đâu?) hầu hết là không dấu.
            – Người Thạch Hà, Kỳ Anh nói: Đất Đồng môn dệt vải – Đất cổ đạm vắt nồi (Dấu sắc thành dấu hỏi).
            Ngoài ra từ Cha có nơi gọi là BốBọ hoặc là Thầy…Như thế người xứ Nghệ hầu hết nói dấu sắc thành dấu hỏi, dấu nặng.
            Trong 6 dấu của tiếng Việt, xứ Nghệ có những nguyên âm ghép, những phụ âm dại khép kín phía sau các âm đóng, âm chết trong dân ca tỉ lệ dấu cao.
            Còn cách hát ví hầu hết là giọng nữ trung, nam trầm và nam cao ít thấy – nam nữ hát cách nhau một quãng 8, thường cách nhau một quãng 4 và quãng 5.
            Trong ca hát dân gian, phong cách không chỉ là bài bản, luyến láy, nhả chữ: phong cách có trong hơi thở (cái hồn của tiếng hát) khéo léo xử lí các khoang, xoang của cơ quan phát âm, vóc hình của tiếng hát, ví dụ:
                                    Hát chèo dùng hơi mũi
                                    Hát tuồng dùng hơi xoang ngực.
            Xử lí trong hát ví cũng phải hiểu nội dung câu ví (Về văn học cũng như âm thanh làn điệu) trong giọng hát phải đảm bảo cái thực của:
                                    Tinh – Khí – Thần, Hỷ – Nộ – Ai – Lạc
            Khi phát âm câu ví, từ ngữ khí, ngữ điệu phải có tình có lí. Những âm phát ra câu như: Trại lục, mắc, chặt… phải tròn vành rõ chữ.
            Hát ví phải hát cho hay, cho đẹp có cái duyên trong khẩu hình như nhả ngọc phun châu là yếu tố trước tiên của ca hát dân gian.
            Dù khác nhau về ngôn ngữ – thổ âm của từng vùng miền, nhưng khi vào hát ví – giặm ai cũng hát làn điệu – âm thanh giống nhau, đó là điều đáng quý.
            Trong thế kỷ XX – XXI: kĩ thuật ca hát dân gian như hát ví – giặm, đã chuyển hóa phong phú rất nhiều kể cả ca từ và âm điệu.
            Bởi lẽ chúng ta đã có các trường chuyên nghiệp, có khoa thanh nhạc mà khoa thanh nhạc hiện đại lại phân giọng hát ra:
                                    Nam cao – Nam trung – Nam trầm
                                    Nữ cao, Nữ trung, Nữ trầm
            – Hơi hát chủ yếu là ngực và hoành cách mô;
            – Cộng minh theo phát âm ngôn ngữ Tây phương;
            – Khẩu hình, tròn, dày, đáp ứng với công minh quen dùng;
            Ví dụ: Tổ quốc ta bao la
            hát là: tổ qu…ô…c ta ba…a…o…la…
            Chính vì những yếu tố trên mà ca hát dân gian dần được pha trộn kĩ thuật hiện đại.
            Cho đến nay trên các sóng phát thanh truyền hình, hát dân ca đã phong phú hơn nhiều. Nhưng cũng phải lưu ý rằng: Đừng để cánh diều dân ca đứt dây!                                                                                                                                            
L.H.

TRẦN HOÀI : DÂN CA VÍ, GIẶM CẦN KHÔNG GIAN MỚI, VIETNAM


DÂN CA VÍ, GIẶM CẦN KHÔNG GIAN MỚI
 
QĐND – Thứ Ba, 09/04/2013, 22:34 (GMT+7)

QĐND – Mới đây, hồ sơ dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch gửi đến UNESCO, đề nghị xem xét công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Ví, giặm là thể hát dân ca không có nhạc đệm, được sáng tạo và phổ biến trong quá trình sinh hoạt, lao động, sản xuất, mang đậm dấu ấn bản sắc địa phương về ca từ, giọng điệu, âm điệu. Trải qua bao thăng trầm, dân ca ví, giặm vẫn khẳng định sức sống âm thầm mà bền bỉ trong đời sống nhân dân…

Trong đời sống sôi động hiện nay, cũng như dân ca của các vùng miền khác, dân ca Nghệ Tĩnh có những biểu hiện mai một đáng tiếc. Cần phải làm gì và làm như thế nào để bảo tồn và phát huy, phát triển kho tàng dân ca Nghệ Tĩnh là vấn đề vô cùng lớn và khó khăn… Nói đến bảo tồn dân ca, theo một số nhà nghiên cứu, bao gồm nhiều hình thức: Bảo tồn phục cổ, tức là bảo lưu toàn bộ giá trị nguyên dạng cả làn điệu, cả môi trường, cả không gian diễn xướng và bảo tồn hình thái văn hóa. Thực tế hiện nay, dân ca ví, giặm hiện đang được bảo tồn ở dạng văn bản, tức là các làn điệu; còn vấn đề bảo tồn không gian văn hóa, hình thái diễn xướng thì còn nhiều trở ngại… Từ những năm 70 của thế kỷ trước, ngành văn hóa Nghệ Tĩnh đã dàn dựng, thể nghiệm các vở diễn sử dụng chất liệu dân ca ví, giặm để phát triển tình huống, xung đột kịch, diễn tả nội tâm nhân vật. Quá trình đó gọi là “sân khấu hóa dân ca Nghệ Tĩnh” và tạo ra thể kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh, với những vở kịch tiêu biểu như “Mai Thúc Loan”, “Không phải tôi”, “Cô gái sông Lam”…

6969251520130409213014734

 
Liên hoan Dân ca ví, giặm xứ Nghệ năm 2012. Ảnh: http://donghuonghatinh.vn

Tuy vậy, không gian văn hóa và diễn xướng của dân ca ví, giặm không chỉ ở sân khấu, lễ hội được tổ chức “hoành tráng” mà là những nơi diễn ra sự kiện của làng xóm cư dân với sự tham gia của cộng đồng, diễn ra tại khắp mọi nơi như khi đang làm đồng, khi chèo thuyền đánh cá, khi dệt vải… Vì thế, vấn đề bảo tồn không gian văn hóa dân ca ví , giặm đòi hỏi các cấp chính quyền và ngành văn hóa cần tìm tòi, tổ chức và nhân rộng những mô hình hoạt động phù hợp. Hiện nay, ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã thành lập được một số câu lạc bộ dân ca ví, giặm. Ví, giặm cũng đã được đưa vào các trường học từ nhiều năm nay. Nhưng qua khảo sát và tìm hiểu thực tế, hiệu quả của phong trào mới chỉ dừng lại ở hoạt động “bề nổi”, chưa tạo ra được chuyển biến thực sự trong nhận thức, tình cảm và kỹ năng hát dân ca ví, giặm trong cộng đồng. Sự tồn tại của di sản dân ca ví, giặm nếu chỉ được đặt ra trên các sân khấu, trong các câu lạc bộ hay ở các tiết học ngắn ngủi của trường học, thì đó chỉ là sự tồn tại một cách “hình thức”. Những người yêu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh cho rằng, cần nhìn thẳng vào thực tế để tổng kết, đánh giá hiệu quả của công tác bảo tồn, phát huy di sản dân ca, xem xét một cách nghiêm túc các giải pháp đã thực hiện có hiệu quả đến đâu, ở mức độ nào; cần có những nghiên cứu chuyên sâu về môi trường văn hóa, tâm lý, thị hiếu âm nhạc của công chúng đương đại để làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp bảo tồn, phát huy di sản dân ca cổ truyền. Để thực hiện được điều đó, các cấp, các ngành chức năng cần thay đổi nhận thức, phát huy tính chủ động, sáng tạo nghiên cứu, đồng thời đầu tư thỏa đáng cho bảo tồn và phát triển dân ca ví, giặm; tổ chức tuyên truyền, quảng bá rộng rãi dân ca ví dặm…

Một sự thật khách quan là không gian diễn xướng dân ca ví,  giặm nguyên bản như “cây đa, giếng nước, sân đình” cổ xưa đã không còn. Nhưng để tồn tại với tư cách là một hình thức văn nghệ dân gian thì ví, giặm phải được tồn tại trong chính cuộc sống của cộng đồng. Điều đó có nghĩa di sản dân ca ví, giặm đang đòi hỏi cần có không gian mới để tồn tại và phát triển, phát huy sức mạnh văn hóa, tinh thần trong cuộc sống hiện đại ngày nay…

TRẦN HOÀI

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/103/103/103/236986/Default.aspx

MAI HƯƠNG : Tổng kết Liên hoan dân ca ví, giặm xứ Nghệ năm 2012, VIETNAM


Tổng kết Liên hoan dân ca ví, giặm xứ Nghệ năm 2012
 

Sau ba ngày diễn ra sôi nổi, tối qua (25/6), tại TP Vinh, Liên hoan dân ca ví, giặm Xứ Nghệ 2012 đã thành công tốt đẹp. Dự lễ tổng kết có các ĐC Hồ Đức Phớc – phó bí thư Tỉnh ủy, chủ tịch UBND tỉnh; Nguyễn Xuân Đường – phó chủ tịch UBND tỉnh, trưởng ban tổ chức Liên hoan dân ca ví dặm xứ Nghệ; Nguyễn Thiên – Ủy viên ban thường vụ, phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh cùng lãnh đạo Sở VH, TT&TT 2 tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh, các ban ngành liên quan.

Liên hoan dân ca ví, giặm Xứ Nghệ 2012 quy tụ sự tham gia tranh tài của 22 Câu lạc bộ với gần 700 diễn viên, nghệ nhân, nhạc công. Đây là những gương mặt tiêu biểu được chọn lựa từ phong trào hát dân ca ở cơ sở mà nền tảng phong trào là các Câu lạc bộ, đội văn nghệ dân ca của xã, phường, thị trấn, trường học thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.

Tuy là lần đầu tổ chức nhưng Liên hoan dân ca ví dặm xứ Nghệ  được khẳng định là có chất lượng cả về nội dung và nghệ thuật. Các tiết mục tự biên, tự diễn khá nhiều, phản ánh được không gian và môi trường diễn xướng mang sắc thái của địa phương, tính chất nghề nghiệp. Diễn viên được trẻ hoá từ nghệ nhân cao tuổi đến các em học sinh phổ thông cơ sở, làm cho sân khấu đủ sắc màu, phong phú, đa dạng. Nhiều nghệ nhân dân ca rất chú ý đến giọng hát, kỹ thuật hát, ngân nga theo đúng nhịp phách âm nhạc và sáng tạo riêng thể hiện âm ngữ giai điệu của từng địa phương, từng thể loại hò, ví và giặm.

 
                                                                          (Ảnh: Trần Lan Anh)

Việc tổ chức Liên hoan dân ca ví, giặm Xứ Nghệ lần đầu tiên là tiền đề để hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tổ chức Liên hoan này theo hình thức Liên hoan dân ca cấp cụm hàng năm và Liên hoan cấp tỉnh hai năm một lần. Từ đó, đẩy mạnh phong trào xây dựng Câu lạc bộ dân ca ví, giặm Xứ Nghệ, làm cho phong trào hát dân ca ngày càng sâu rộng. Đồng thời, đây là điều kiện để 2 tỉnh triển khai việc lập hồ sơ khoa học trình Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, hướng tới lập hồ sơ trình UNESCO công nhận dân ca ví, giặm Xứ Nghệ là di sản văn hoá phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại.

Tại lễ tổng kết, Ban tổ chức đã trao hai giải nhất cho Câu lạc bộ xã Nghi Liên, thành phố Vinh, Nghệ An và Câu lạc bộ xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh; 4 giải Nhì, 6 giải Ba và 10 giải khuyến khích. Ngoài ra, Ban tổ chức cũng trao Chứng nhận Nghệ nhân cao tuổi trình diễn xuất sắc cho cụ Khánh Cẩm, 82 tuổi – Câu lạc bộ Kỳ Thư, Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh; Tác giả có nhiều tiết mục xuất sắc cho cụ Cao Xuân Thưởng – Câu lạc bộ Diễn Thái, Diễn Châu, Nghệ An; Nghệ nhân nhỏ tuổi trình diễn xuất sắc cho Nguyễn Thi Hiền, 14 tuổi – Câu lạc bộ xã Nghĩa Hội, Nghĩa Đàn. Đơn vị sử dụng trang phục, đạo cụ phù hợp đẹp nhất cho Câu lạc bộ Lam Hồng –  phòng Giáo dục và đào tạo Thành phố Vinh.

 

(Mai Hương – Thanh Hà)-NTV

http://www.vinhcity.gov.vn/?detail=19477&lang=1&tong-ket-lien-hoan-dan-ca-vi-giam-xu-nghe-nam-2012

LIÊN HOAN DÂN CA VÍ,DẶM XỨ NGHỆ NĂM 2012


Thứ bảy, 23 Tháng 6 2012 11:48

LIÊN HOAN DÂN CA VÍ,DẶM XỨ NGHỆ NĂM 2012

Viết bởi 

Liên hoan Dân ca ví, dặm xứ Nghệ năm 2012 sẽ diễn ra từ ngày 23 – 26/6 tại tỉnh Nghệ An với chủ đề “Dâng Người câu hát dân ca”.

Hướng nội dung chủ đề ca ngợi tinh thần lao động, tình yêu cuộc sống, tình yêu quê hương đất nước; ca ngợi Đảng, Bác Hồ, Liên hoan Dân ca ví, dặm xứ Nghệ năm 2012 tập trung chủ yếu vào hai thể hát chính là: ví và dặm, nhằm mục đích hướng tới việc lập Hồ sơ khoa học đề nghị đưa Dân ca ví, dặm xứ Nghệ vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp.

Theo Ban Tổ chức liên hoan, thời lượng chương trình tham gia của các Câu lạc bộ Dân ca được quy định khoảng 70% là các làn điệu dân ca ví, dặm gốc và 30% các làn điệu dân ca ví, dặm cải biên. Các tiết mục hát dân ca khuyến khích các làn điệu cổ, các làn điệu cải biên có tính phổ biến; tái tạo các trò diễn xướng dân gian dân ca ví, dặm. Cùng với đó là các hình thức thể hiện: hát đơn, hát đôi, hoạt ca, hoạt cảnh; trang phục, đạo cụ phải gắn với nội dung, tính chất của làn điệu, phù hợp với môi truờng và không gian diễn xướng.

Liên hoan do Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh phối hợp tổ chức.

 http://hottour24h.vn/tin-tuc-du-lich/su-kien-du-lich/item/48-li%C3%AAn-hoan-d%C3%A2n-ca-v%C3%AD,d%E1%BA%B7m-x%E1%BB%A9-ngh%E1%BB%87-n%C4%83m-2012.html

Ví dặm – “giấy thông hành” của xứ Nghệ


Ví dặm - “giấy thông hành” của xứ Nghệ Liên hoan Cụm 1 tại Diễn Châu.

 

Ví dặm – “giấy thông hành” của xứ Nghệ

(LĐCT) – Số 25 – Chủ nhật 01/07/2012 09:22

Từ ngày 23 – 26.6.2012 tại thành phố Vinh (Nghệ An) và vùng phụ cận diễn ra Liên hoan dân ca ví dặm xứ Nghệ năm 2012. Khác với những Liên hoan trước, năm nay lần đầu tiên Liên hoan ví dặm hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh cùng tổ chức.

 

Liên hoan khai mạc vào tối 23.6 tại Quảng trường Hồ Chí Minh, sau đó khoảng 600 nghệ nhân – diễn viên vượt qua vòng ngoài, thuộc 21 đoàn nghệ thuật quần chúng sẽ biểu diễn tại thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, huyện Nghi Xuân và huyện Nam Đàn.

Theo thống kê sơ bộ, kho dân ca xứ Nghệ có khoảng 30 làn điệu, trong đó ví chiếm tới mươi làn, dặm chiếm dăm, bảy làn, còn lại là hò vè.

Gắn bó hữu cơ với lịch sử ngàn năm hình thành, phát triển của một vùng quê giàu văn hóa và truyền thống yêu nước, ví dặm xứ Nghệ là một trong những đặc sản của bản sắc văn hóa Việt Nam.

Ví và dặm là hai làn điệu vừa tương đồng vừa khác biệt.

Ví ngâm vịnh các thể thơ truyền thống (lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể). Dặm là thể hát nói bằng thơ ngụ ngôn và vè 5 chữ, có tiết tấu, có phách mạnh phách nhẹ, có nhịp nội nhịp ngoại.

Ví luôn tạo ra môi trường sáng tạo phóng khoáng, sự phóng khoáng của ví thể hiện ở độ co dãn của bài, nó tuỳ thuộc vào độ dài ngắn của ca từ. Âm điệu cao thấp của ví cũng mang tính ngẫu hứng, nó tạo cho người nghe cảm giác man mác, da diết, thân tình:

Ơi là bạn tình ơi/ Đồng thẳng cánh cò bay/ Cánh diều vui chao liệng/ Em mặc áo nâu sồng/ Gió thổi mà nón nghiêng/ Theo tay người lúa vượt mà lên.

Có nhiều loại ví như ví đò đưa, ví phường vải, ví phường cấy, ví phường võng, ví phường chè, ví đồng ruộng, ví mục đồng, ví ghẹo…. Ví mục đồng thiên về chất hài hước, tươi trẻ, hồn nhiên, phù hợp với lứa tuổi trường làng; ví ghẹo thiên về dí dỏm, nghịch ngợm, thông minh nhưng không quá đà gây phản cảm:

– Tiết thanh nhàn thong thả/ Muốn thăm hỏi vài câu/ …Thường thì mũi tìm trâu/ Trâu đâu tìm chạc mũi?
Em đã có chồng rồi/ Em đã có lứa rồi/ Vung đã úp vừa nồi/ Đũa đã ghép thành đôi/ Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!

Dặm giàu tính kể lể, tự sự, tự tình, khuyên răn, giãi bày…. Có nhiều điệu dặm như dặm kể, dặm xẩm, dặm vè, dặm nối, dặm cửa quyền, dặm ru… Thông thường một bài dặm có nhiều khổ, mỗi khổ có 5 câu (câu 5 điệp lại câu 4), mỗi câu có 5 từ. Tuy vậy bài dặm vè không phân khổ một cách rõ ràng, mà có khi hát một lèo hàng chục, hàng trăm câu, mỗi câu cũng không nhất thiết 5 chữ, mà có thể 4 hoặc 6 – 7 chữ theo biến thể của lời thơ. Có loại dặm dí dỏm, châm biếm, trào lộng, lại có loại dặm giao duyên giàu chất trữ tình.

Ai vô xứ Nghệ thì vô/ Quê hương của các cụ đồ còn đây/ Gió lào thổi suốt đêm ngày/ Khô cả ngọn cỏ cành cây bên đường/ Không khô chữ nghĩa văn chương…

Nghe điệu dặm kéo chài ta cảm nhận được sự mênh mang của sóng nước dòng Lam: Nếu không có sông Lam/ Núi Hồng buồn biết mấy/ Núi Hồng không đứng đó/ Sông Lam xanh cũng thừa…Và bao câu đò đưa/ Thả neo vào lịch sử… Núi Hồng và sông Lam/ Để muôn đời sừng sững/ Núi cao cho dáng đứng/ Sông dài cho bước đi…

* *

 

Liên hoan Cụm 2 tại Đô Lương.

Nhắc đến địa danh xứ Nghệ, người ta nghĩ đến núi Hồng, sông Lam, nghĩ đến làn điệu ví dặm. Nguồn sữa ví dặm xứ Nghệ không những nuôi dưỡng, còn là nơi neo đậu bao tâm hồn lồng lộng gió muôn phương, và những tâm hồn lớn, những con người vĩ đại của Nghệ – Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hương, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh… đã góp phần tôn đắp chất trí tuệ dân gian để ví dặm trở thành di sản vô giá trong dòng chảy văn hoá dân gian.

Sách cũ chép rằng: Trong thời gian sống tại quê làng Tiên Điền huyện Nghi Xuân, Nguyễn Du thường sang Trường Lưu đàm đạo với bạn văn chương. Thôn nữ Trường Lưu nổi tiếng đẹp người đẹp nết, chăm chỉ dệt lụa xe tơ, Nguyễn Du cùng các nho sĩ trong vùng có mặt tại Trường Lưu không thể bỏ qua cơ hội cân sắc thử tài:

Xôi nếp cái, gái Trường Lưu/ Văn nhân tài tử dập dìu/ Xăm xăm tìm nẻo Lam Kiều lần sang…
Có lần Nguyễn Du mượn chuyện hoa cúc để ghẹo thôn nữ tên Cúc:
– Trăm hoa đua nở về xuân/ Cớ sao Cúc lại muộn mằn về thu?
Đáp: Vì chưng tham chút nhụy vàng/ Cho nên Cúc phải dềnh dàng về thu.

Nghe tin Nguyễn Du ra làm quan triều Nguyễn, thôn nữ Trường Lưu trách khéo: Cái tình là cái chi chi/ Anh làm tham tri em cũng biết rồi…

Sự góp mặt của những tài thơ – “bồ chữ” đã thúc đẩy Trường Lưu trở thành một trong những tụ điểm hát ví phường vải nổi tiếng của xứ Nghệ. Hát ví phường vải tuần tự bốn bước, bước 1 gồm hát dạo, hát mừng, hát chào, hát hỏi; bước 2 hát đố, hát đối; bước 3 hát mời, hát xe kết; bước 4 hát tiễn.

Hát ví giao duyên để trai thanh gái tú bộc lộ tâm tình yêu thương, gửi gắm nỗi niềm tới chân trời mơ ước: Chung vui chung cả đò đầy/ Cho em chung mẹ chung thầy với anh?

Nhiều khi lời ví giao duyên để nhằm trút bỏ oán trách những kẻ chia rẽ tình duyên đôi lứa.
Quá trình hát ví giao duyên diễn ra tại đình làng, triền đê, bến nước… đã giúp bao cặp trai tài gái sắc có dịp bén duyên mà không cần ông tơ bà nguyệt, anh Bần hát ghẹo là một trường hợp như thế, màn “Bần hát ghẹo” được xem là sản phẩm nghệ thuật độc đáo, đặc sắc của ví dặm. Đặc sắc ở chỗ dù Bần nhưng trí tuệ không bần, lời tỏ tình của Bần tế nhị, thông minh, “có tích có tuồng” hẳn hoi:

Lá gì không nhánh, không ngành/ Lá gì chỉ có tay mình trao tay?
– Lá thư không nhánh, không ngành/ Lá thư chỉ có tay mình trao tay.
Nghe tin anh giỏi, anh tài/ Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?
– Thiên thai là của nàng Kiều/ Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra…

“Lời nói phải củ cải cũng nghe”, tiểu thư đài các cũng “xin chết” theo Bần.

Tài năng của nhà yêu nước Phan Bội Châu sớm nổi tiếng với việc đỗ đầu xứ lúc 16 tuổi. Là “bồ chữ”, thời trai trẻ ông rất thích hát phường vải. Trong những cuộc hát ấy, một chàng Phan cốt cách quân tử, phong nhã hào hoa khiến nhiều thôn nữ vùng Nam Đàn phải thầm yêu trộm nhớ, có một thôn nữ Nam Đàn gửi gắm tình yêu với chàng Phan:

– Sáp (gặp) nhau một gánh nặng nề/ Giang san bịn rịn tình quê nghẹn ngào. (Phan Bội Châu tên thật là Phan Văn San)

Chàng Phan hướng tình cảm của thôn nữ sang phía khác:
Đêm xuân gặp gỡ giữa đàng (đường)
Gang sơn một đội (gánh) cương thường hai vai.

Giữa bối cảnh đất nước đang nô lệ lầm than, chí sĩ họ Phan đã thông qua hát ví phường vải để khơi dậy tinh thần yêu nước tiềm tàng trong con cháu Bà Trưng, Bà Triệu, kết quả là đầu thế kỷ 20 nhiều thôn nữ xứ Nghệ đã đi theo tiếng gọi cứu nước thiêng liêng:

Ầm ầm nghe tiếng ong San/ Bầy em cất cánh lên rừng tìm hoa/ Chị em cất gánh sơn hà/ Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam.

***

Được biết, Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia đã đưa ví dặm vào danh mục “Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia”, trình Thủ tướng Chính phủ cho lập hồ sơ trình UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Từ sau Liên hoan dân ca ví dặm Xứ Nghệ lần này, hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh sẽ luân phiên tổ chức Liên hoan cấp liên tỉnh. Sắp tới Nghệ An mở cuộc thi sáng tác ca từ (lời mới) cho các làn điệu ví, dặm, và chọn đưa ví, dặm vào dạy cho học sinh cấp 2, cấp 3 tại một số cơ sở giáo dục trong tỉnh.

Khúc dân ca có từ trong máu thịt/ Không thể dối lòng… làm sống dậy một hồn quê/ Nhưng điệu ví theo anh về mãi mãi/ Anh cứ mơ hoài điệu dặm là em…

Bảo tồn phát huy giá trị của ví dặm xứ Nghệ là góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc Việt Nam đậm đà bản sắc, làm cho Ví Dặm thực sự là “giấy thông hành” của xứ Nghệ đến với bạn bè quốc tế.

 http://laodong.com.vn/Lao-dong-cuoi-tuan/Vi-dam-giay-thong-hanh-cua-xu-Nghe/71354.bld

PHLANHOA : Ví dặm là một loại hình nghệ thuật tổng hợp.


Ví dặm là một loại hình nghệ thuật tổng hợp.

  Ví dặm là một loại hình nghệ thuật tổng hợp – Bài viết của Phlanhoa  
     
(12h: 11-07-2010)
Cần phải khẳng định “Ví dặm” là một loại hình nghệ thuật tổng hợp. Ví dặm hoàn toàn không đơn thuần là một thể loại âm nhạc dân gian như chèo, tuồng, hay quan họ. Bởi những loại hình âm nhạc dân gian đó có người viết sẵn lời, còn diễn viên chỉ việc thuộc lời là diễn, có chăng chỉ là sự sáng tạo trong khâu diễn xuất mà thôi. Riêng vì dặm thì khác, diễn viên không những phải hát hay những làn điệu không thôi, mà còn phải tự sáng tác lời. Hơn thế nữa, lời hát còn phải sáng tác nhanh để đối đáp tại chỗ, đòi hỏi diễn viên phải có năng khiếu văn chương, phải tài ứng khẩu đối đáp, phải uyên thâm về chữ nghĩa, sử học, triết học, phải tận tường về cuộc sống. Hơn thế nữa, ví dặm có một nét đẹp tuyệt vời mà các loại hình âm nhạc dân gian khác không có, đó là đào nương vừa hát vừa lao động sản xuất. Hình ảnh người con gái xinh đẹp, chăm ngoan, vừa quay xa kéo sợi dệt vải, vừa đáp lễ tài tình với khách văn chương, sẽ trở nên đẹp đẽ và ý nghĩa hơn nhiều so với “trúc đứng đầu đình”. Do vậy, việc trở thành kép hát của phường vải có lẽ cũng khó khăn gấp bội so với việc trở thành kép hát trong các loại hình dân gian khác. Đây vừa là điểm nổi trội, lại vừa là điểm khó khăn cho việc phát triển lâu bền cho ví dặm.Trong Ví dặm, nghệ sĩ vừa hát vừa lao động sản xuất.         

 

Tấn Tần rắp ranh,

Vì chưng kéo vải mới sinh ra phường.

Nguyệt dạ canh trường,

Dăm ba  o ngồi lại,

Trước là nghề bông  vải,

Sau đàn hát vui cười,

Cuộc thanh lịch vui chơi…

 

Chỉ mấy câu thôi, chúng ta cũng hình dung ra được ví phường vải được hình thành như thế nào. Ấy vậy mà ở Nghệ – Tĩnh đâu chỉ có mỗi phường vải là có hát ví, mà còn có ví phường cấy, ví phường nón, ví  phường củi vv… Bởi vì như tôi đã nói ở trên, nghệ sĩ hát ví vừa hát vừa lao động sản xuất, nên mỗi phường có thủ tục nhập cuộc riêng tùy vào loại hình lao động sản xuất.

 

Nếu như phường muối :

Sớm mai quảy gánh đi ra,

Chờ nhau Đồng Gác*  phường ta đủ đầy.

 

Thì phường chè lại :

Dừng chân ở trại Cổ Cò *

Gặp bầy gặp bạn hát hò vài câu,

Lấy câu tình nghĩa làm đầu,

Cho dù nắng dãi mưa dầu cũng cam.

 

Không chỉ vừa hát vừa lao động, nghệ sĩ hát ví đồng thời còn là người sáng tác lời ca:

 

Đồn đây có gái hát tài

Để ta đối địch một vài trống canh

Dẫu thua, dẫu được cũng đành,

Bõ công đèn sách học hành bấy lâu.

 

Chà, đi hát cho mà để “bõ công đen sách…” , nghe cứ ngỡ như đi thi vậy. Đó là lời dạo cảnh đánh tiếng của kép nam muốn nhập cuộc vui, khi đi qua phường vải, động lòng nghe câu ví xa đưa. Nhưng chàng trai chưa chắc đã vào được bên trong để mà coi người đẹp vừa hát vừa quay tơ dệt vải,  vì thủ tục chào hỏi khá gay cấn đúng như là một cuộc thi sát hạch trình độ và tư cách chàng trai. Từ lúc chàng mở lời xin qua ngõ, các cô gái sẽ cử người nói lời chào, lời hỏi thăm tên tuổi, địa chỉ, quê quán và thách đối để kiểm tra tài năng của chàng khách đến đâu.  Cái khó là người đẹp phường ví ý nhị mở lời bằng thơ, lại là thơ của chính nàng sáng tác:

 

Hỏi chàng khách lạ đàng xa

Đến đây cân sắc hay là kết duyên?

 

 Nên chàng trai cũng phải tỏ ý mình là người lịch lãm có học :

 

– Sa chân bước xuống cõi tiên,

Trước thời cân sắc, sau kết duyên Châu Trần.

 

Ví dặm là một cuộc chơi chữ  trí tuệ

Bạn có biết vì sao người ta gọi hát ví phường vải là một “cuộc hát”, mà không phải là một buổi hát,  hay là một bài hát? Gọi là một cuộc hát bởi vì hát ví phường vải có tới ba lớp, chín hồi, từ hát dạo, hát chào, …cho tới hát tiễn, nội dung kết cấu thứ tự chặt chẽ. Trong đó lớp hai có phần hát đố, hát đối, hát nghịch là  lớp đấu trí gay cấn của các kép hát.  Thời gian kéo dài  bao lâu, một buổi, ba buổi hay một tháng, không hạn định trước được, mà phải phụ thuộc vào kết quả đấu trí của hai bên nam thanh nữ tú, chỉ khi nào ngã ngũ, cuộc hát của phường vải mới kết thúc được.

 

Một cái cổng đơn sơ “nhà nàng” gần như  không khép bao giờ, vậy mà nhiều lúc khó hơn qua “quan ải”, nhận phải câu đối khó, các kép nam thậm chí không thể đáp lời phường vải ngay được, phải về nhà vắt óc những mấy ngày, đôi khi đến cả tháng trời để sáng tác lời,  mới hòng hát sao cho vừa lòng đẹp ý phường vải.  Sự thông minh của các cô đào phường vải tạo cho khách văn chương một cảm giác tò mò, vừa khó khăn, lại vừa khích lệ bùng phát tài năng. Có lẽ đây chính là điểm cuốn hút say mê,  dẫn đến kết quả kép nam của môn hát ví toàn là những bậc nho văn uyên bác, đó là điều mà không một nghệ thuật dân gian nào khác có được.

 

Khởi đầu để cho khách lạ dễ dàng nhập cuộc, các cô gái chỉ đưa ra những câu hát với ý nghĩa đơn thuần là chào, hỏi thăm thân thế như trên, nhưng các chàng trai chớ vội chủ quan:

 

Mừng chàng quần áo mọi màu,

Quần hồ lơ trứng sáo, áo trắng phau cánh cò.

 

Các cô bắt đầu trổ tài chơi chữ, chơi tiếng rồi đấy : “hồ ” (bột) và “trứng sáo” là một màu, “trắng phau” và “cánh cò” cũng là một màu trắng.  Và để xem chàng trai đối lại thế nào :

 

– Mừng nàng má phấn môi son,

Áo màu huyền cánh quạ, tóc xanh non đuôi gà .

 

Đối được thế là cũng giỏi rồi, cũng coi như có thể nhập cuộc hát ví rồi. Nhưng để đánh giá người khách đến chơi là bậc tài trí nào trong thiên hạ, các diễn viên phường ví sẽ nâng dần độ khó của vế đối :

Ra về thiếp dặn thiệt nha,

Mai răng cũng lại đàng nhà thiếp chơi.

 

Đến đây thì các cô không chỉ chơi chữ, mà còn là chữ Hán -Nôm cớ đấy, “thiệt” là lưỡi, “nha” là răng, như vậy cả hai câu của các cô đều nói đến răng với lưỡi. Chá chà, nữ nhi mà văn chương cỡ đấy thì nam nhi tính sao đây?

 

Chưa khi hương vị ngát nồng

Bóng dần trước dậu, sao đông láy đoài.

 

Với tài dùng chữ nghĩa có tầm cỡ, diễn viên phường ví có thể gộp cả “cầm kỳ thi tửu”, “tuyết nguyệt phong hoa”, “xuân hạ thu đông” chỉ trong hai câu như thế này, thì người chơi tìm được lời mà đối cho đặng cũng toát mồ hôi hột chứ chả chơi:

 

Thơ đông tuyết, cờ thu phong

Đờn vui hạ nguyệt, rượu nồng xuân hoa.

 

Ví dặm đòi hỏi người chơi phải tinh tường sử sách, phải có kinh nghiệm cuộc sống, đạo đức tư cách:

 

– Thuyền quyên muốn hỏi anh hùng

Ông chi thuở trước vun trồng cây Lê?

 

– Đến đây hỏi bạn học trò,

Ngày xưa ông Thuấn cày bò hay trâu?

 

– Đố chàng quán cổ thông kim

Tình hình thế giới nổi chìm dường bao?

 

– Tiếng đồn anh học chữ ngoài triều

Chị dâu rớt xuống giếng, nắm đằng nào kéo lên?

 

Ví dặm là yêu thương sâu đằm

Bởi vì lời đối đáp trong ví dặm là chắt lọc của trí tuệ, được trải qua cao trào đấu trí minh mẫn, rồi đằm sâu trong sự cảm phục tài trí của nhau, cho nên cái kết của một cuộc hát ví thường có nhân hậu để đời. Khi cuộc hát tàn canh thì đồng thời cũng ươm mầm nên những mối tình keo sơn bền chặt. Ví dụ  như o Cúc nặng tình với Nguyễn Du, o phường vải Hoàng Trù nhan sắc thuở nào, đã trọn đời thủy chung với chí sĩ Phan Bội Châu. “Trai khôn tìm vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân” há chẳng phải là đây sao? Liệu có sự ứng xử thanh lịch nào tuyệt vời hơn khi nam thanh nữ tú dùng âm nhạc để ngỏ lời tình yêu. Lời của ví dặm không phải do một vài tác giả ngồi gom góp kinh nghiệm của mình để soạn ra phục vụ người đời,  mà lời và nhạc của ví dặm được soạn ra từ trái tim người hát, là lời thật của tình yêu, tình trong ví dặm là tình mặn nồng keo sơn của kép hát chính, cho nên có nghe là có sâu đằm da diết dấy lên trong lòng.

 

Ai về về với ai ơi,

Ai ngược ngược với, ai xuôi xuôi cùng.

***

Anh về mai đã lên chưa,

Để em bưng bát cơm trưa em chờ?

– Cơm trưa em cứ ăn đi,

Còn lưng cơm túi (tối), em thì đợi anh.

 

Ví dặm quyến rũ mê say

Không động lòng say mê sao được khi mỗi lời hát cất lên,  thâm ý chỉ bộc lộ nửa chừng,  nửa thâm tình còn lại bị người hát ý tứ dấu vào đâu đó, lẩn khuất trong không gian, trong cỏ hoa, sông núi, trăng sao, đất trời… Đúng là cái kiểu “người khôn ăn nói nửa vời” như thế chỉ có gái ngoan và chính nhân quân tử mới có, xô đẩy cuộc hát vào một kết cục người về, người ở đều lưng chừng cảm xúc cái kiểu  “nửa trong như đã, mặt ngoài còn e”. Nên mới than thở mà rằng:

 

Nửa về nửa muốn ở đây,

Nửa thiên địa vận, biết xây đường nào?

 

Phường vải thì cũng dường như nửa thì muốn đoan chính, tiễn đưa khách ra về kẻo trời đã khuya, nửa lại muốn níu giữ bạn hát ở lại dốc hết tâm tình cho trọn canh. Với những lời hát non biển như thế này, nếu bạn là người trong cuộc liệu có vô tư ra về nổi hay không?

 

Anh về em chỉ ngong theo,

Ngong truông truông rậm, ngong đèo đèo cao. ..

 

Chàng về ngoảnh mặt  lại đây,

Em ngong một  chút, đỡ khuây cơn buồn.

 

Rốt cuộc thì bậc chính khách quả là đã không thể dấu mình:

 

– Lời sao cặn kẽ chí tình,

Nàng ơi ở lại cho anh lên tàu,

Mình đang trò chuyện cùng nhau,

Trách con gà kia vội gáy, giục mau ba tuần.

 

Làn điệu da diết, lời hát sâu sắc, đấu trí tài tình, yêu thương chân tình, kết cục có hậu, đó là lý do vì sao ví dặm có sức cuốn hút cả những bậc tri thức tài cao học rộng như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan  Bội Châu cùng tích cực tham gia làm kép hát.  Để rồi khi người quân tử vì xã tắc giang sơn mà ra đi không về, phường vải ở lại vẫn tha thiết đợi chờ, thủy chung trọn đời, tình yêu của họ trở thành bất hủ.

 

Nước chảy cho đá trôi nghiêng,

Chàng lo chung thiên hạ, thiếp sầu riêng một mình. *

Ước mong

Ví dặm là tâm hồn, là con tim yêu thương, là trí tuệ uyên bác chỉ có miền địa linh nhân kiệt mới có; là tinh hoa được chắt chiu từ giai điệu trữ tình của âm nhạc, tinh túy của văn chương, vẻ đẹp của lao động sản xuất và văn hóa ứng xử ấm tình làng quê cộng lại, nên ví dặm trở nên đặc biệt sâu sắc, quý giá  và hiếm hoi vô cùng. Để có một ngày, thế giới biết đến ví dặm, ngành văn hóa Nghệ An – Hà Tĩnh cần phải có kế hoạch duy trì và phát triển hợp lý.  Tôi tin tưởng rằng, nếu các nhà văn hóa thế giới được giới thiệu cặn kẽ về ví dặm, sẽ không thể không tâm đắc, khi mà  Nguyễn Du, Hồ Chí Minh cũng đã từng tâm đắc ví dặm. Đơn giản vì những con người vĩ đại ấy cũng là danh nhân văn hóa thế giới.


http://thuongyenho.violet.vn/entry/show/entry_id/5985387/cat_id/5095757

TÔN ĐỨC QUANG : Hội nghị tập huấn kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể


Hội nghị tập huấn kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể
Xem hình
 

Sáng ngày 25/2, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tổ chức hội nghị tập huấn kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể “dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh” theo tiêu chuẩn UNESCO và lấy ý kiến đồng thuận đề cử “Dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh” vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đồng chí Nguyễn Thiện, Phó chủ tịch UBND tỉnh, đã đến dự.

Hội nghị tập huấn Kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể “dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh” do chuyên gia của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam- Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, truyền đạt. Tại đây, các học viên là cán bộ phòng văn hóa thông tin các huyện, xã, phường, thị trấn được bổ sung các kiến thức liên quan đến mục tiêu và biện pháp kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đồng thời quán triệt nhiệm vụ kiểm kê, xây dựng hồ sơ trình UNESCO xem xét, công nhận, đưa nghệ thuật hát Ví, Giặm Nghệ Tĩnh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Tại hội nghị, 100% ý kiến biểu quyết đồng thuận đề cử “Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh” vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tôn Đức Quang

THƯƠNG THƯƠNG HOÀI : VÙNG QUÊ VÍ DẶM ÂN TÌNH, VIETNAM


VÙNG QUÊ VÍ DẶM ÂN TÌNH

“Trót say câu ví đò đưa/

Cũng đành cà mặn, nhút chua một đời”…

           Bao đời nay, làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh luôn không thể thiếu trong đời sống của người dân xứ Nghệ nói riêng và nhân dân cả nước nói chung. Ca hát dân ca xứ Nghệ là một nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh, mang đầy tính nhân văn trong đời sống nông nghiệp ở nông thôn nước ta, góp phần không nhỏ tạo nên bản sắc văn hoá độc đáo của dân tộc Việt Nam… Đặc biệt, cứ mỗi độ Xuân về, làn điệu dân ca xứ Nghệ ân tình lại vang lên khắp nơi nơi trên quê hương Việt Nam và cả khắp cộng đồng người Việt đang sinh sống ở nước ngoài…

 

Dòng sông La

Hát dặm Nghệ Tĩnh

Ai đã từng nghe dân ca Nghệ Tĩnh thì chắc hẳn đều có chung một ấn tượng, đó là ca từ rất bình dị và đậm chất tiếng nói địa phương nhưng lại thể hiện được một “cá tính Nghệ Tĩnh” mà phải ở lâu, ở gần người Nghệ Tĩnh, gần người con gái Nghệ Tĩnh mới thấm, mới ngấm được cái nồng nàn, ấm áp, sâu lắng của “cá tính xứ Nghệ”, thô mà tinh, lý đấy nhưng tình đấy.

Quê hương ví dặm

Tiếng dặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào nột chỗ thiếu… xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba, bốn trăm năm. Về nội dung, có nhiều bài hát dặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến. Về hình thức, hát dặm là một thể văn vần đặc biệt. Mở đầu bài hát dặm thường là hai câu lục bát, tiếp theo là một loạt câu 5 chữ, cũng có những bài không tuân theo quy chuẩn đó mà mở đầu ngay bằng câu 5 chữ. Phần lớn các bài hát dặm đều gồm cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lấy lại một ý, điệp cả về ý lẫn lời. Ví dụ:

Tôi lấy chân khóa lại
Tôi lấy bản khóa lại

Hay:
Thấy những lời kêu trách
Nghe những lời kêu trách
”.

Bốn đời hát ví giặm trong một gia đình ở Thanh Chương – Nghệ An

Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát nó làm nổi ý của câu hát và của cả bài. Hát giặm có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung và hình thức đều được trau chuốt. Hát giặm Nghệ Tĩnh không phải hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được dân ưa thích và phổ biến rộng rãi.

Ví giặm đã ngấm vào máu thịt của con người nơi đây 

Hát ví Nghệ Tĩnh

Hát ví Nghệ Tĩnh xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Môi trường diễn xướng của hát ví Nghệ Tĩnh rất đặc biệt, không cần phải chờ đến mùa vụ, hay hội hè mà vừa lao động vừa ca hát. Theo các nhà nghiên cứu, nếu phân theo loại hình lao động thì xứ Nghệ có đến hơn 20 loại hát ví, nhưng nếu chia làn điệu theo tình cảm, hát ví cũng tương đối đa dạng như: ví thương, ví giận, ví ai oán, ví tình cảm… tức là con người có bao nhiêu cung bậc tình cảm thì có bấy nhiêu loại hát ví. Trong các cuộc hát ví thường hình thành hai nhóm nam và nữ, mỗi nhóm có thể là một nam, một nữ, nhưng cũng có thể nhiều hơn.

Bến đò, con sông… vằng vặc tuổi thơ của con người xứ Nghệ

Có đến hàng trăm câu ví lần lượt được đưa ra để thi thố, đối đáp và rồi những câu hát ấy được lớp thế hệ sau ghi nhớ bởi lời thơ vô cùng bình dị, dễ thuộc, nhưng cũng rất đỗi tài hoa.

“Anh về chẻ lạt bó tro
Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.
Em về đục núi lòn qua,
Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng”

Về lời ca, hát ví lấy thể thơ lục bát làm gốc, về sau do nhu cầu tình cảm của nội dung mà hình thức dần dần được biến hoá, tiết tấu phát triển, người ta hát ví trên thể thơ song thất lục bát. Trong hát ví, thanh niên nam nữ đã vượt ra khỏi tầm tư tưởng phong kiến, họ từ làng này sang làng khác, từ vùng nọ qua vùng kia để tìm kiếm bạn hiền, chọn vợ, chọn chồng bằng tiếng gọi con tim.

Đồng quê xứ Nghệ

Dựa trên tính chất âm nhạc thì hát ví chỉ có một làn điệu. Khi câu hát cất lên ta nghe vừa dí dỏm lại vừa buồn man mác, hát cho người khác thì ít mà hát cho chính mình thì nhiều. Người nghệ sỹ nông dân đã gửi gắm vào trong những lời ca, câu hát biết bao tâm tư, tình cảm ấp ủ bấy lâu. Ta có thể coi hát ví là những bản tình ca của người lao động, nó gắn bó máu thịt và trở nên quá đỗi thân quen trong sinh hoạt thường ngày của người dân Nghệ Tĩnh.

Chỉ tại “Dòng sông đa tình”

Trong hát ví có chặng hát đố. Hát đố là theo cách gọi dân gian, còn hát đối là của các nhà nho. Chặng này là chặng quan trọng nhất, chữ đối chữ, nghĩa đối nghĩa sao cho thật chuẩn xác, thật nhanh. Khi đến độ hăng say, họ còn mang cả tri thức trong sách vở, kinh thư vào trong câu hát, lúc này không phải hát đối nữa mà là thi thố về tài năng, về trí tuệ:

“Đến đây hỏi khác tương phùng
Chim chi một cánh bay cùng nước non?
Tương phùng nhắn với tương tri,
Lá buồm một cánh bay đi khắp trời”

“Lá gì không nhánh, không ngành?
Lá gì chỉ có tay mình trao tay?
Lá thư không nhánh, không ngành,
Lá thư chỉ có tay mình trao tay”.

Sự tham gia của các nhà nho đã làm cho điệu hát ví dân gian trở màu mè hơn, bác học hơn, hàm súc hơn. Hát ví thường có những từ đệm như: ơi, ơ, chứ, thì, rằng, mà… xen kẽ giữa các nhịp, các tiết của lời thơ, lúc mở rộng kéo dài, lúc ngân nga lơ lửng. Vào cuộc hát bao giờ bên nam hỏi, bên nữ đáp “thưa chi” thì bên nam mới tiếp tục hát. Hay ngược lại, bên nữ hỏi nếu được bên nam đáp lại thì mới hát tiếp. Họ vừa làm vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động. Và đặc biệt trong câu hát ví, những “nghệ sỹ” hai sương một nắng trên đồng ruộng vụt trở thành những tiểu thư khuê các, những trang công tử hào kiệt, hát để bày tỏ tấm lòng của mình. Điều này đã làm cho hát ví trở nên tế nhị hơn, độc đáo hơn.

Ân tình xứ Nghệ

Do hát ví gắn liền với lao động, nên mỗi một loại hát ví lại gắn với một loại hình lao động riêng biệt như: hát ví của những người đi cấy thì gọi là ví phường cấy, hát ví của những người đi củi thì gọi là ví phường củi, hát ví của những người dệt vải thì gọi là ví phường vải… Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả. Đặc biệt, hát phường vải chỉ có ở xứ Nghệ.

Bảo tồn những nét đẹp xưa

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, dân ca Nghệ Tĩnh vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay, và mỗi loại hình lại mang những đặc trưng riêng. Nhưng trước sự du nhập của nhiều nền văn hóa ngoại lai trong quá trình mở cửa hội nhập thì có một thực tế đáng buồn là dân ca Nghệ Tĩnh đang dần bị mai một. Các nghệ nhân dân gian bây giờ hiếm như là mùa thu, tuổi các cụ cũng xế chiều. Hiện nay các nghệ nhân đang cố gieo trồng những lớp kế tục để giữ gìn truyền thống ca hát của dân tộc. Tuy nhiên những tâm huyết đó chưa được đền đáp xứng đáng. Trẻ con ngày trước được nuôi lớn bằng những khúc hát dân ca trữ tình sâu lắng, đầy tính nhân văn. Ngày nay người mẹ ru con không thể thuộc lấy một câu hát dân ca. lớp trẻ không còn quan tâm nhiều đến dòng nhạc truyền thống. Có thể nói thời nào thì có nghệ thuật của thời đó. Vì vậy, dân ca muốn sống được chỉ còn cách duy nhất phải kịp thời cải tiến, nhưng cải tiến không phải là gieo vừng ra đỗ mà làm mất đi cái tinh túy của ông cha.

Nơi ta ngồi ngóng mẹ

Có một “kênh” giúp bảo lưu, giữ gìn và phát huy vốn dân ca xứ Nghệ tuy âm thầm nhưng diễn ra liên tục, có chiều sâu học thuật. Đấy là khá nhiều đầu sách giá trị của các nhà nghiên cứu có tên tuổi như: Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Chung Anh, Ninh Viết Giao, Trần Hữu Thung, Dương Hồng Từ, Thanh Lưu… bàn về hát ví phường vải, ví sông Lam, hát dặm Thạch Hà, về dân ca Nghệ – Tĩnh. Sự kiện thành lập Trung tâm Bảo tồn và phát huy Di sản Dân ca xứ Nghệ với tư cách là một cơ quan nghiên cứu khoa học, lưu trữ đã và sẽ đóng một vai trò không nhỏ trong việc bảo tồn di sản dân ca – ví dặm Nghệ – Tĩnh.

Nơi tạo cảm hứng cho những câu ví giặm ân tình

Hy vọng, một ngày không xa, dân ca xứ Nghệ sẽ được tôn vinh.

Bên con sông quê, ví giặm đã ngấm sâu trong lòng mỗi người

THƯƠNG THƯƠNG HOÀI

Hò ví dặm – Đi tìm cội nguồn câu hát xứ Nghệ, VIETNAM


Hò ví dặm – Đi tìm cội nguồn câu hát xứ Nghệ

Nghĩ về Xứ Nghệ là nghĩ tới núi Hồng, sông Lam. Về Xứ Nghệ là về với quê hương Ví Dặm, nơi có những câu dân ca thấm đượm nghĩa tình, được đúc kết từ lời ăn tiếng nói mộc mạc, từ cái hay cái đẹp tinh tuý trong cuộc sống của người lao động.

Dân ca xứ Nghệ được coi là viên ngọc bích trong hoạt động văn hoá dân gian; những câu hát Ví, hát Dặm ngân vang lắng đọng trong hồn người bởi nét dung dị, trữ tình, gợi nhớ, gợi thương, nơi neo đậu một hồn quê sâu thẳm…

https://i0.wp.com/a8.vietbao.vn/images/vn888/hot/v2013/best_2131625135-1-Hovidamkhuchatantinhxunghe1.JPG.jpeg

Mỗi lần nghe, mỗi lần cảm nhận là một lần đắm mình vào hồn quê xứ Nghệ, bởi, hoá thân trong những lời ca ấy là điệu hồn của người dân quê, mộc mạc mà chân chất ân tình… Với lớp ngôn từ mượt mà, tha thiết diễn tả những nỗi lòng sâu kín, tinh tế diệu vợi, khiến cho mỗi lần nghe là một lần thấm cảm, một lần đưa ta về với nguồn cội, để đối diện với chính mình mà biết sống và ước mơ. Có thể nói dân ca xứ Nghệ là một di sản tinh thần vô giá, kết tinh trí tuệ, tình yêu và tài hoa của bao thế hệ của cộng đồng dân cư trên quê hương Nghệ An – Hà Tĩnh. Những câu hò, câu ví xứ Nghệ ân tình ấy luôn được nhân dân gìn giữ.

Dân ca Xứ Nghệ tồn tại như một biểu tượng vững bền trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam- như một con thuyền chở hồn người về neo đậu bến quê ân tình.

 

 

Việt Báo.