Sức sống mãnh liệt của dân ca ví dặm, VIETNAM


Sức sống mãnh liệt của dân ca ví dặm

27/03/2013 00:01 (GMT + 7)
Tin dịch vụ – Dân ca ví dặm xứ Nghệ là loại hình nghệ thuật của vùng đất Nghệ An, Hà Tĩnh. Trải qua nhiều năm, loại hình dân ca này ngày càng chứng tỏ sức sống mãnh liệt và nét đặc sắc vốn có. Năm 2014, Dân ca ví dặm sẽ là đại diện của Việt Nam tham gia ứng cử danh sách các Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.
 

Không biết chính xác dân ca ví dặm có từ bao giờ, chỉ biết rằng điệu hát này xuất phát từ sinh hoạt cộng đồng của người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh.

Ví là ví von, còn dặm là dặm lúa, điền nam… bởi là lối hát ra đời từ các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của người nông dân nên những lời hát ví dặm cũng rất gần gũi, mộc mạc, đa số đều miêu tả lại đời sống hàng ngày, thân phận con người cũng như cách thức sản xuất, lao động và các nghề truyền thống. Ví như Thân em như hạt mưa sa/ Hạt rơi xuống giếng hạt ra ngoài đồng hay Đến đây hò hát làm thân/ Cúi đầu bái lạy trước sân làm gì?/ Đất chi có đất lạ lùng/ Đứng thì không chịu, nằm cùng lại cho…

Không gian diễn xướng của loại hình này cũng đa dạng, không chỉ phục vụ các lễ hội, những sự kiện của làng mà xưa kia hát ví, dặm diễn ra tại khắp mọi nơi như khi đang làm đồng, khi chèo thuyền đánh cá, khi dệt vải…Những năm gần đây, ví dặm mới được đưa lên sân khấu biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp để biểu diễn trong các chương trình nghệ thuật lớn của đất nước.

Khi mới xuất hiện, dân ca ví dặm xứ Nghệ còn thô sơ, mộc mạc, giản dị nhưng sau đó theo thời gian loại hình này đã phát triển lên tầm cao mới với bố cục chặt chẽ, câu từ trau chuốt, vần điệu chắt lọc để hấp dẫn và làm say đắm lòng người nghe.

Kể từ khi chính thức được xếp vào danh sách các di sản văn hóa sẽ được lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới, dân ca ví dặm xứ Nghệ ngày càng được phổ biến, thu hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng, đặc biệt là những người con của xứ Nghệ. Cái hay cũng là cái đặc biệt của loại hình nghệ thuật dân gian này đó là sức sống của nó cho đến ngày hôm nay. Đến vùng đất xứ Nghệ có thể dễ dàng nghe thấy những điệu hò, điệu hát vẫn từng ngày vang lên trong cuộc sống của người dân nơi đây. Theo UBND tỉnh Nghệ An, hiện nay trên toàn tỉnh có 52 Câu lạc bộ đàn và hát với khoảng hơn 2.000 thành viên trong đó có 8 người đã được tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian.

Được biết, Hồ sơ khoa học của Dân ca ví dặm đến thời điểm này cơ bản đã hoàn tất và dự kiến sẽ được đệ trình lên UNESCO trước ngày 31-3.

Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

http://tuoitre.vn/can-biet/du-lich/539823/suc-song-manh-liet-cua-dan-ca-vi-dam.html

VŨ HẠNH : Hò, ví, dặm “đặc sản” của văn hóa xứ Nghệ


Hò, ví, dặm “đặc sản” của văn hóa xứ Nghệ

QĐND – Tôi tìm đến căn phòng nhỏ ở khu chung cư Quang Trung (phường Quang Trung, TP Vinh, Nghệ An) để gặp nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Ninh Viết Giao. Có một điều rất đặc biệt, có người nói đó là một hiện tượng, PGS Ninh Viết Giao, một người dành cả cuộc đời của mình để nghiên cứu về văn hóa dân gian xứ Nghệ lại là người sinh ra và lớn lên trên mảnh đất xứ Thanh.

PGS Ninh Viết Giao lý giải với tôi: Tôi “say” dân ca xứ Nghệ (hò, ví, dặm), bởi nó là một di sản tinh thần vô giá, kết tinh trí tuệ, tình yêu và tài hoa của bao thế hệ cộng đồng dân cư, của các dân tộc anh em trên quê hương Nghệ An -Hà Tĩnh. Có thể xem đó là một thứ rượu đặc biệt, được chưng cất từ nụ cười và những giọt nước mắt, từ những say đắm mãnh liệt cũng như nỗi buồn đau khắc khoải, từ mồ hôi, nước mắt và máu của nhân dân, là tấm gương phản chiếu một cách trung thực nhất, sâu sắc nhất đời sống vật chất và tinh thần, những nét riêng trong truyền thống, bản sắc, cuộc sống và con người xứ Nghệ.

Một tiết mục trong liên hoan dân ca ví, dặm xứ Nghệ của Nghệ An tổ chức năm 2012. Ảnh: Chu Anh

Những câu dân ca, ví, dặm đã gắn bó thân thiết với mỗi người dân xứ Nghệ. Ngay từ khi còn thơ ấu, các em nhỏ đã được nghe câu dân ca ru hời của bà, của mẹ, rồi trước mảnh sân nhà, các em truyền cho nhau những trò chơi dân gian qua các bài đồng dao, bài vè quen thuộc. Thời niên thiếu qua đi, những bài đồng dao trả lại cho đàn em, các anh chị đã đến tuổi trưởng thành, họ lại hát những bài ví, bài dặm để đối đáp, bày tỏ tình cảm với người mình yêu.

Theo PGS Ninh Viết Giao, nếu phân theo loại hình lao động thì xứ Nghệ có đến hơn 20 loại hát ví, nhưng nếu chia làn điệu theo tình cảm, hát ví cũng tương đối đa dạng như: Ví thương, ví giận, ví ai oán, ví tình cảm… tức là con người có bao nhiêu cung bậc tình cảm thì có bấy nhiêu loại hát ví. Trong các cuộc hát ví thường hình thành hai nhóm nam và nữ, mỗi nhóm có thể là một nam, một nữ nhưng cũng có thể nhiều hơn. Có đến hàng trăm câu ví lần lượt được đưa ra để thi thố, đối đáp và rồi những câu hát ấy được thế hệ sau ghi nhớ bởi lời thơ bình dị, dễ thuộc, nhưng cũng rất đỗi tài hoa.
Về lời ca, hát ví lấy thể thơ lục bát làm gốc, về sau do nhu cầu tình cảm của nội dung mà hình thức dần dần được biến hóa, tiết tấu phát triển, người ta hát ví trên thể thơ song thất lục bát. Câu ví truyền thống được xây dựng trên hệ thống điệu thức năm âm, giai điệu được hình thành trên một câu thơ lục bát hoàn chỉnh mà những âm chính của điệu thức được vận động biến hóa ở âm thứ sáu của cả hai vế trong câu thơ. Vậy là vần của thơ đã gắn liền với điệu của nhạc, nhịp điệu của câu hát được gắn liền với tiết tấu câu thơ.
Trong hát ví, thanh niên nam nữ đã vượt ra khỏi tầm tư tưởng phong kiến, họ từ làng này sang làng khác, từ vùng nọ qua vùng kia để tìm kiếm bạn hiền, chọn vợ, chọn chồng bằng quyền tự do của chính mình. Rõ ràng, họ đã lấy hát ví làm ngọn giáo để chống lại tư tưởng kìm kẹp, o ép của chế độ phong kiến bấy giờ.

Khi câu hát cất lên ta nghe vừa dí dỏm lại vừa buồn man mác, hát cho người khác thì ít mà hát cho chính mình thì nhiều. Người nghệ sĩ nông dân đã gửi gắm vào trong những lời ca, câu hát biết bao tâm tư, tình cảm ấp ủ bấy lâu. Ta có thể coi hát ví là những bản tình ca của người lao động, nó gắn bó máu thịt và trở nên quá đỗi thân quen trong sinh hoạt thường ngày của người dân Nghệ -Tĩnh.

Hát ví thường có những từ đệm như: ơi, ơ, chứ, thì, rằng, mà… xen kẽ giữa các nhịp, các tiết của lời thơ, lúc mở rộng kéo dài, lúc ngân nga lơ lửng. Cách vận dụng những tiếng đệm này vào trong cơ cấu giai điệu còn được gọi là bắt giọng, giữ giọng, lấy hơi, giữ hơi… Đó là yếu tố xây dựng cao độ, trường độ, cường độ, là những nhân tố tạo màu sắc không thể thiếu trong cơ cấu giai điệu của hát ví. Vào cuộc hát bao giờ bên nam hỏi, bên nữ đáp “thưa chi” thì bên nam mới tiếp tục hát. Hay ngược lại, bên nữ hỏi nếu được bên nam đáp lại thì mới hát tiếp. Họ vừa làm vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động. Và đặc biệt trong câu hát ví, những nghệ sĩ nông dân hai sương một nắng trên đồng ruộng vụt trở thành những tiểu thư khuê các, những trang công tử hào kiệt, hát để bày tỏ tấm lòng của mình. Điều này đã làm cho hát ví trở nên tế nhị hơn, độc đáo hơn.

Hát ví xứ Nghệ đa dạng về thể loại, mỗi nghề nghiệp, mỗi công việc lao động đều được ghép tên theo hát ví và những người lao động chính là những người sáng tạo ra hát ví. Nhưng dựa theo tính chất kết cấu trong âm nhạc cũng như cách gọi tên các lối ví trong nhân dân, ta có thể chia hát ví thành hai hình thức: Ví phường vải (hay còn gọi là giọng phường vải) và ví đò đưa (hay còn gọi là giọng đò đưa). Ví phường vải thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức nam xuân, vừa tình tứ lại lửng lơ, bay bổng, không nghiêng về màu sắc của điệu trưởng (Bắc) mà cũng không nghiêng về điệu thứ (Nam). Ví đò đưa thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức Nam ai, tạo được tính chất nhẹ nhàng, bâng khuâng, lại thêm chút vương buồn sâu lắng, có thế ổn định, nghiêng về màu sắc của điệu thứ (Nam). Trong hát ví thì ví phường vải có phần phong phú và thông dụng hơn cả. Hát phường vải thường diễn ra vào ban đêm, sau thời gian lao động nơi sông nước, ruộng đồng. Hễ nơi nào có quay sa, kéo sợi thì nơi ấy có hát phường vải. Họ hát vào lúc tuổi trưởng thành, trai thanh, gái lịch. Nhiều đôi trai gái bắt đầu từ hát ví phường vải mà nên vợ nên chồng, bằng không thì cũng là sự giao lưu, trao đổi tình cảm, thi thố tài năng, tô thêm nét đẹp cho cuộc đời. Đây là một nét sinh hoạt văn hóa lành mạnh, mang đầy tính nhân văn trong đời sống nông nghiệp ở nông thôn nước ta, góp phần không nhỏ tạo nên sắc thái văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam.

Vũ Hạnh
qdnd.vn

http://tennguoidepnhat.net/2012/12/18/ho-vi-dam-dac-san-cua-van-hoa-xu-nghe/

Nhạc sĩ THANH LƯU : Những điều lý thú chưa biết về ví dặm xứ Nghệ


Những điều lý thú chưa biết về ví dặm xứ Nghệ

Từ xa xưa, Nghệ Tĩnh là miền biên giới cực Nam của Quốc gia Đại Việt. Nơi đây đã hình thành hai vùng văn hoá dân gian mang sắc thái riêng biệt cùng song song tồn tại.

Image

Đó là văn hoá dân gian các dân tộc thiểu số sống rải rác khắp miền Tây rộng lớn (chiếm khoảng 2/3 diện tích tự nhiên toàn Tỉnh) và văn hoá dân gian của người Việt (dân tộc kinh), sống ở miền trung du, đồng bằng và ven biển.

Trong kho tàng văn hoá Dân gian – Dân tộc cổ truyền ấy, thì dân ca là một trong những loại hình tiêu biểu, mang những nét đặc trưng bản địa rõ nhất.

“Điền dã” với dân, đi tìm câu ví dặm

Để xây dựng một nền văn nghệ mới Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta không thể không coi trọng việc sưu tầm, nghiên cứu và phát huy nguồn văn hoá văn nghệ dân gian nói chung, dân ca nói riêng.

Việc này phải được tiến hành một cách khẩn trương cấp bách, bởi vì dân ca chỉ tồn tại đồng thời với sự tồn tại của các nghệ nhân dân gian, mà phần lớn những nghệ nhân đó đều đã ở vào tuổi “xưa nay hiếm” đang gần đất xa trời, nếu không kịp thời khai thác thì e rằng vốn cổ quý báu ấy sẽ đi theo các cụ về thế giới bên kia. Như vậy chúng ta không chỉ có lỗi với cha ông mà còn mắc lỗi với cả con cháu sau này.

Ý thức được điều đó, nhiều thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian tỉnh nhà đã có nhiều đợt điền dã khắp các miền quê trong tỉnh để sưu tầm khai thác vốn cổ quý báu đó. Tiêu biểu trong số họ phải kể đến các ông (bà): Ninh Viết Giao, Nguyễn Đổng Chi, Thái Kim Đỉnh, Trần HữuThung…(sưu tầm văn học); Lê Hàm, Đào Việt Hưng, Lê Quang Nghệ, An Thuyên, Hoàng Thọ…(sưu tầm Dân ca); Bích Thu, Trần Nghiên (sưu tầm Mỹ thuật); Lan Phương (sưu tầm múa) …

Riêng Đoàn Dân ca Nghệ An thì hầu hết các diễn viên và nhạc công đều phân ra từng tốp thực hiện chế độ “3 cùng” với các nghệ nhân dân gian (cùng ăn + cùng ở + cùng học tập – học hát, học múa, học đàn) trong nhiều đợt điền dã, có những đợt” nằm vùng” suốt hơn 3 tháng.

Nhiều tư liệu quý về văn hoá văn nghệ dân gian – dân tộc đã được sưu tập khai thác và sử dụng; nhiều công trình nghiên cứu và thực nghiệm đã được công bố bằng phương tiện in ấn (xuất bán sách và băng đĩa) và bằng công diễn trên sân khấu hoặc trên sóng phát thanh truyền hình…

“Ơi câu hò xứ sở, sao thắm đượm tình quê”

Xin điểm qua mấy nét cơ bản về dân ca ví dặm để bạn đọc có thể hình dung được phần nào diện mạo của nó.

– Thể hát ví: Ví có nhiều điệu như: ví đò đưa, ví phường vải, ví phường cấy, ví phường võng, ví phường chè, ví đồng ruộng, ví trèo non, ví mục đồng, ví chuỗi, ví ghẹo…

Ví thuộc thể ngâm vĩnh, bằng phương pháp phổ thơ dân tộc ( lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể…).

Ví thường là hát tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát có thể co dãn một cách ngẫu hứng. Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tuỳ thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, ít từ hay nhiều từ.

Tình điệu (tính biểu cảm) thì tuỳ vào môi trường hoàn cảnh, không gian thời gian và tâm tính của người hát. Âm vực của ví thường không quá một quãng 8. Tình điệu ví nghe trang trải mênh mang sâu lắng, bâng khuâng xao xuyến, tha thiết ân tình. Tuy vậy, vẫn có loại ví ghẹo và ví mục đồng nghe dí dỏm hài hước, nghịch ngợm hồn nhiên tươi trẻ.

– Thể hát dặm: Dặm là thể hát nói, bằng thơ ngụ ngôn (thơ / vè 5 chữ), nói cách khác thì dặm là thơ ngụ ngôn / vè nhật trình được tuyền luật hoá. Dặm cũng có nhiều làn điệu như: Dặm kể, dặm cửa quyền, dặm ru, dặm vè, dặm nối, dặm xẩm…

Khác với ví, dặm là thể hát có tiết tấu rõ ràng, có phách mạnh phách nhẹ, có nhịp nội nhịp ngoại.Thông thường một bài dặm có nhiều khổ, mỗi khổ có 5 câu (câu 5 thường điệp lại câu 4), mỗi câu có 5 từ (không kể phụ âm đệm). Tuy vậy, cũng có những bài dặm/ vè không phân khổ rõ ràng, mà cứ hát một lèo, có khi đến hàng chục hàng trăm câu, và mỗi câu cũng không nhất nhất 5 chữ mà có thể 4 hoặc 6,7 chữ (do lời thơ biến thể).

Dặm rất giàu tính tự sự, tự tình, kể lể khuyên răn, phân trần bày giải. Cũng có loại dặm dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng.Và có cả dặm trữ tình giao duyên.

Môi trường – Không gian và tính chất diễn xướng

Qua tìm hiểu và nghiên cứu về tính chất và môi trường không gian diễn xướng dân ca hò-ví-dặm ta thấy rằng:

1. Hát gắn với không gian và môi trường lao động như: cày cấy, gặt hái, đắpđập đào mương, chăn trâu, cắt cỏ (đồng quê); tung chài kéo lưới, chèo chống thuyền bè (sông nước); hái củi, đốt than, bứt tranh, kéo gỗ, bóc măng (núi non); quay tơ dệt vải, trục lúa, đan lát ( xóm thôn).

2. Hát mang tính du hý vào những dịp Hội hè, Tết nhất, Đình đám, hoặc những đêm trăng thanh gió mát bạn bè giao du thưởng ngoạn, thi thố tài năng ứng tác văn chương chữ nghĩa.

3. Tính giao duyên giữa những lứa đôi trai gái để thổ lộ tâm tình, để gửi gắmniềm thương nỗi nhớ, để kén chọn trai tài gái đảm, tìm bạn trăm năm.

4. Tính tự tình, nghĩa là mượn câu hát để bộc lộ nội tâm. Những nỗi niềm sâu kín, những uẩn khúc cuộc đời, những mảnh tình dang dở, những số liếp long đong, hoặc là để biểu thị sự bất bình xã hội.

5. Tính tự sự. Tức là dùng hình thức kể vè để thuật lại những sự việc xẩy ra trong làng ngoài xã, hoặc kể về một sự tích, một giai thoại nào đó, hoặc muốn biểu dương người tốt việc tốt, hay phê phán những thói hư tật xấu…

6. Tính chất tâm linh. Tức là hát trong khi thờ cúng, tế lễ, cầu vong cầu đồng, phù thuỷ, làm chay làm đàn…

7. Tính giáo huấn. Thông qua câu hát để dạy bày khuyên nhủ người đời về những điều hay lẽ phải, về thuần phong mỹ tục,về đạo lý nhân nghĩa ,tôn sư trọng đạo, tứ đức tam tòng,về lệ làng phép nước, về anh hùng nghĩa khí , ái quốc trung quân…

8. Tính hành nghề (mưu sinh) đối với các phường trò chuyên nghiệp hoá,hoặc ở các gánh hát ca trù, các ông xẩm hát rong và các ông thầy cúng.

9. Tính đa dùng. Nghĩa là nó giàu tính biểu cảm, cùng một cốt nhạc (một làn điệu) có thể chuyển tải được nhiều nội dung văn học, nhiều đối tượng miêu tả, nhiều sắc thái tình cảm. Đây có lẽ là một đặc tính nổi trội của dân ca ví dặm.

10. Tính phổ cập. Hầu như khắp mọi miền quê, trai gái trẻ già ai ai cũng có thể hát được.

Dân ca Việt Nam giàu bản sắc, tình người

Bảo tồn & phát huy Dân ca xứ Nghệ

– Chúng ta cần phải bảo tồn các điệu hát nguyên gốc, phục hồi các hình thức diễn xướng cộng đồng, đó là cách bảo tồn không gian môi trường hát dân ca xưa (hát trên sông nước, trên ruộng đồng, trên núi non, trong thôn xóm & trong nhà.

-Kế thừa & phát triển bằng hình thức “bình cũ rượu mới”, nghĩa là dùng nguyên xi các làn điệu cũ rồi soạn lời mới có nội dung hiện thực, phản ánh cuộc sống sôi động phong phú và hào hùng của nhân dân ta như: Ngô khoai tranh đấu, Thần sấm ngã, Trước lúc lên đường, Dâng Người câu ví Thành Sen, Đẹp lắm quê mình, Hành hương về quê Bác, Xứ Nghệ quê tôi, Vững một niềm tin…

-Phát triển bằng ca khúc mới, tức là lấy chất liệu dân ca rồi phát triển thành những ca khúc mới mang hơi thở và nhịp sống hiện đại. Ta có thể kể ra hàng loạt những ca khúc nổi tiêng được đông đảo công chúng ưa thích như: Xa khơi, Đào công sự, Chào em cô gái Lam Hồng, Cô dân quân làng Đỏ, Câu hò trên đất Nghệ an, Tiêng hát sông Lam, Trông cây lại nhớ đến Người, Từ làng Sen, Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác, Giữa Mạc tư Khoa nghe câu hò xứ Nghệ, Lời Bác dặn trước lúc đi xa, Khúc tâm tình người Hà Tĩnh, Người đi xây hồ Kẻ gỗ, Hương cau vườn Bác, Về hôi làng Sen, Ân tình xứ Nghệ, Xứ Nghệ quê tôi…

-Phát triển bằng hình thức sân khấu hóa (dân ca kịch) .

Qua hàng chục năm nghiên cứu và thể nghiệm, với hàng chục vở lớn nhỏ, đủ các thể loại (Bi – hài – hùng) như : Không phải tôi, Khi ban đội đi vắng, Cô gái sông Lam, Đầu bến sông, Hoa đất, Trắng hoa mai, Vụ án kỳ lạ, Đốm lửa núi Hồng ... Đến vở Mai thúc Loan (1985), kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh đã nghiễm nhiên trở thành một thành viên mớí trong đại gia đình kịch hát dân tộc Việt Nam.

Từ đó đến nay Kịch hát Nghệ Tĩnh lại tiếp tục dàn dựng nhiều vở nổi tíêng khác và đã được tặng nhiều Huy chương vàng-bạc tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp. Chính từ cái nôi dân ca kịch này đã nẩy nở nhiều tài năng nghệ sĩ, trong đó có NSND Hồng Lựu, các NSƯT: Song Thao, Xuân Năm, Đức Duy, Danh Cách, Đình Bảo, Lệ Thanh, Tiến Dũng, Hồng Năm, An Phúc, Minh Tuệ, Hồng Dương, Thanh Toàn …

Như vậy, rõ ràng dân ca ví dặm đã có bước phát triển về chất, đó là sự chuyển hoá từ hình thức ca hát dân gian, đến ca nhạc chuyên nghiệp, rồi ca kịch sân khấu.

Ở đây chúng ta cũng cần biết thêm rằng, dân ca thuần tuý thường chỉ tồn tại trong môi trường diễn xướng dân gian, nhưng khi ta đưa dân ca vào ca kịch thì trước hết phải sân khấu hoá dân ca – bởi khi đó hát là hành động, là nội tâm, là tính cách của nhân vật.

Do yêu cầu nội tại của kịch, ngoài việc ứng dụng các làn điệu gốc, còn phải sáng tạo thêm nhiều “làn điệu ” mới (đa dùng hoặc chuyên dùng) mang âm hưởng ví dặm, cấu trúc theo khúc thức dân gian, lời hát theo các thể thơ dân tộc, và phải biểu đạt được tâm trạng và tích cách nhân vật.

Một loạt làn điệu mới như: Giận mà thương, Hát khuyên, đại thạch, tứ hoa, xẩm thương, xẩm chợ, một nắng haisương, tình sâu nghĩa nặng, em giữ lời nguyền, khóc cha, cuộc đời nổi trôi, ai cứu chàng…(thể hát mang tâm trạng); các điệu: Con cóc, xoay xở, lập lờ, lập loè, đi rao, đèo bòng, khen Thầy tài, to gan, uất ức, bướm say hoa, chồng chềnh, lòng vả lòng sung…(thể hát nói-tính cách); hoặc như: Vào hội đông xuân, đứng thẳng người lên, gốc lúa quầng trăng, cha ơi ngồi dậy mà xem, hỡi công nông binh, hò vượt sông…(thể hát gây không khi sôi nổi hào hùng)…

Có thể nói các làn điệu mới sáng tạo bổ sung đã phần nào thoả mãn được những đòi hỏi cấp bách của công cuộc sân khấu hoá dân ca xứ Nghệ, qua sự sàng lọc của thời gian, nhiều làn điệu đã trở thành “bài tủ” không thể thiếu trong các vở diễn.

Từ những điều lý thú về câu ví dặm, lại thấy được rằng cái đúng đắn của câu “Học xưa vì nay, học cũ để làm mới”. Câu hò ví dặm đã thực sự phục vụ cuộc sống đương đại, chứ không chỉ dừng lại ở hình thức bảo tồn thuần tuý, mặc dầu bảo tồn vốn cổ cũng hết sức cần thiết.

Từ dân ca cổ truyền, chúng ta cần tiếp tục bảo tồn nguyên bản, lập hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận là di sản thế giới cần bảo vệ. Mặt khác chúng ta cũng cần phát triển sự nghiệp sân khấu hóa ví dặm mạnh hơn nữa, nhằm tạo ra những sản phẩm tinh thần mới, không ngừng thoả mãn nhu cầu thưởng thức ngày càng cao hơn, phong phú hơn của công chúng, góp phần xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

NGUYỄN DUY : Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh được đề nghị là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới


Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh được đề nghị là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới

 

(Dân trí) – Thông tin từ Phòng Văn hóa phi vật thể, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết, Dân ca Ví, giặm Nghệ – Tĩnh chính thức được chọn là di sản đại diện cho Việt Nam xét ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể thế giới.

Mới đây, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết, dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh chính thức được lựa chọn là di sản đại diện cho Việt Nam xét ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới năm 2014. Tất cả hồ sơ về Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh đang được nhanh chóng hoàn thiện để chính thức trình lên Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) muộn nhất vào ngày 31/3 tới.

Ví và Giặm là hai thể hát dân ca không có nhạc đệm, được cộng đồng người Việt ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo ra trong quá trình sinh hoạt và lao động. Dân ca ví, giặm mang đậm bản sắc địa phương về điệu hát, ca từ, giọng điệu cũng như âm điệu. Theo các chuyên gia ước tính thì hiện nay có khoảng 15 điệu ví và 8 điệu giặm được gọi tên theo bối cảnh cuộc sống, lao động, nghề nghiệp như Ví phường vải, Ví đò đưa, Giặm ru, Giặm kể…
 
Dân ca ví, giặm Nghệ - Tĩnh được đề nghị là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới
Dân ca ví, giặm chính thức được lựa chọn là di sản đại diện cho Việt Nam xét ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới.

Ví, giặm thông thường có ca từ bằng thơ dân gian cô đọng, súc tích, dễ thuộc, dễ nhớ, dễ hát nên luôn được trao truyền, kế thừa và sáng tạo. Ngoài ra loại hình dân ca này cũng có nội dung phản ánh xã hội, lịch sử; thể hiện những tâm tư, tình cảm, tình yêu cuộc sống, yêu quê hương, đất nước, tình yêu đôi lứa. Bên cạnh đó, Dân ca ví, giặm còn giáo huấn, triết lý trọng nghĩa, trọng tình, mang đậm tính nhân văn của người Việt Nam.

Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh hiện nay được lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng người Việt ở 259 làng, thôn, xóm, khu dân cư của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh (miền Trung Việt Nam). Đa số người Nghệ Tĩnh đều biết hát ví, giặm vì loại hình dân ca này chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa, cuộc sống của họ.

Hiện nay, đã có 51 câu lạc bộ dân ca ví, giặm; có hơn 803 nghệ nhân và nhiều cá nhân ở hai tỉnh; các nghệ sỹ, nhạc sỹ chuyên nghiệp ở Trung tâm Bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ ở Nghệ An và Nhà hát nghệ thuật truyền thống Hà Tĩnh quan tâm tới việc diễn xướng, truyền dạy, bảo tồn và phát huy Dân ca ví, giặm. Được biết, tại tỉnh Nghệ An, không gian của Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh tập trung ở 167 làng, thôn, xóm, khu dân cư thuộc 59 xã, phường trong 14 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh.
 

Nguyễn Duy

http://dantri.com.vn/van-hoa/dan-ca-vi-giam-nghe-tinh-duoc-de-nghi-la-di-san-van-hoa-phi-vat-the-the-gioi-713123.htm