Xây dựng hồ sơ trình UNESCO công nhận Bài Chòi là di sản văn hóa


Xây dựng hồ sơ trình UNESCO công nhận Bài Chòi là di sản văn hóa

 
1
Hát Bài chòi tại Đình làng Túy Loan. (Ảnh: Trần Lê Lâm/TTXVN)

Cuối tháng 8/2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công bố thêm 19 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Trong số 19 di sản phi vật thể vừa được công nhận có nghệ thuật Bài Chòi của các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam, góp phần tạo thuận lợi cho việc xây dựng hồ sơ “Tục chơi Bài Chòi mùa Xuân của người Việt” sẽ được gửi tới trình Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) xem xét ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2016.

Thông tin từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, việc xây dựng hồ sơ quốc gia về nghệ thuật Bài Chòi dân gian hiện nay đã được giao cho Viện Âm nhạc (Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam) và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Định phối hợp thực hiện. Theo đó, các đơn vị phải hoàn thành hồ sơ để Việt Nam trình UNESCO trước ngày 31/3/2015.

Phạm vi thực hiện hồ sơ quốc gia Bài Chòi gồm 11 tỉnh, thành phố miền Trung từ Quảng Bình tới Bình Thuận (không bao gồm Tây Nguyên), gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có văn bản gửi tới các tỉnh, thành phố yêu cầu cử lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tham gia ban chỉ đạo xây dựng hồ sơ; các Sở phối hợp với Viện Âm nhạc (Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam) thực hiện kiểm kê di sản nghệ thuật Bài Chòi trên địa bàn.

Theo giáo sư Hoàng Chương, Tổng Giám đốc Trung tâm bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, Cố vấn Hội đồng xây dựng hồ sơ di sản của nghệ thuật Bài Chòi, đây là một sản phẩm văn hóa độc đáo của vùng đất Trung Bộ, một trong những loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian mang đậm chất sân khấu nhỏ, đầy tính ngẫu hứng, được nhiều người dân vùng nông thôn tham gia.

Giáo sư Hoàng Chương cũng cho biết hội Bài Chòi luôn được người dân miền Trung đưa vào hàng đầu danh sách những trò chơi lễ hội Xuân tại các tỉnh Nam Trung Bộ. Mỗi khi có hội chơi bài chòi là người dân trong vùng lại nô nức kéo nhau đến tham gia. Và hô bài chòi cũng là thể loại dân ca độc đáo của người dân khu vực Nam Trung Bộ.

Bên cạnh những giá trị về văn hóa, nghệ thuật, hát bài chòi còn mang đậm tính nhân văn, tính giáo dục về tình yêu quê hương, đất nước, yêu con người… thông qua những câu hô hát (còn gọi là câu Thai).

Thông qua nội dung của những câu hát, có thể tìm thấy trong đó sự ca ngợi tình thương yêu cha mẹ, tình nghĩa thầy trò, tình nghĩa vợ chồng… Không chỉ mang đậm tính nhân văn, mà nội dung các câu hát trong nghệ thuật bài chòi còn mang đậm tính giáo dục về đạo đức, về nhân cách, lối sống cao đẹp, hướng con người đến những giá trị, chuẩn mực đạo đức cao đẹp hơn.

Các giá trị văn hóa, ý nghĩa nhân văn, giáo dục sâu sắc của loại hình nghệ thuật này là giá trị dân gian đặc biệt, gắn với đời sống người dân và cũng chính là những giá trị độc đáo, đặc sắc cần làm nổi bật trong hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Trong nhiều thế kỷ qua, nghệ thuật Bài Chòi đã dần trở thành nếp sinh hoạt văn hóa, là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân duyên hải miền Trung. Tuy nhiên, hiện nay ở nhiều địa phương loại hình nghệ thuật này đã dần mai một, chỉ còn Bình Định, Quảng Nam, Khánh Hòa vẫn còn lưu giữ; đặc biệt, Bình Định là địa phương thực hiện khá tốt việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của bài chòi.

Bài Chòi cũng đã có những bước phát triển chuyên nghiệp nhưng lại mất đi tính dân gian. Việc đào tạo đội ngũ nghệ nhân kế cận hát Bài Chòi khá là khó khăn bởi lớp trẻ ngày nay đã không còn nhiều người thích hát dân gian như trước.

Dịp Quốc khánh vừa qua, tại phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam đã lần đầu tổ chức hội thi hát Bài Chòi phục vụ khách du lịch tham quan. Đây là lần đầu tiên kể từ sau năm 1975 đến nay, hội thi hát Bài chòi được Thành phố tổ chức.

Cũng tại Hội An, từ những năm 90 thế kỷ trước đã duy trì hội chơi Bài Chòi ở cơ sở, từ khi Phố cổ Hội An được công nhận Di sản Văn hóa Thế giới, trò chơi này được phục hồi, phục vụ du khách hàng tuần, hàng tháng và vào các “Đêm Phố cổ”./.

 
Tin gốc: http://www.vietnamplus.vn/xay-dung-ho-so-trinh-unesco-cong-nhan-bai-choi-la-di-san-van-hoa/280282.vnp
http://baichoi.com/xay-dung-ho-so-trinh-unesco.html

MAI AN : Hoàn thiện hồ sơ hát then trình UNESCO công nhận là di sản của nhân loại


Hoàn thiện hồ sơ hát then trình UNESCO công nhận là di sản của nhân loại

Thứ ba, 29/04/2014, 00:16 (GMT+7)

(SGGP).- Viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam cho biết đang cùng 11 tỉnh phía Bắc là Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Lai Châu, Lào Cai… xây dựng và hoàn thiện hồ sơ hát then dân tộc Tày và Nùng trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Hát then là loại hình nghệ thuật truyền thống và là hình thức sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong cuộc sống của đồng bào dân tộc Tày, Nùng. Hát then bắt nguồn từ niềm tin “vạn vật có linh hồn”, là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng, vừa phản ánh vừa mô tả, gửi gắm, nhắn nhủ những ngọt bùi đắng cay của cuộc sống ông cha. 

Hát then mang tính chất dân gian khá rõ rệt, được lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng đồng bào dân tộc Tày và Nùng. Không chỉ thích nghe và xem, người dân còn thích được tham gia hát then. Bởi trong hát then có cả hát múa, đàn, hội họa và có cả giao duyên.

Dự kiến vào khoảng tháng 7, hội nghị khoa học quốc tế về nghệ thuật hát then sẽ được tổ chức nhằm quảng bá cho loại hình văn hóa dân gian này.

MAI AN

http://www.sggp.org.vn/amnhac/2014/4/347813/

PHAN TỪ : Toàn cảnh sống động của đờn ca tài tử Nam bộ – Việt Nam (tt&hết) / Bài cuối: Các biện pháp bảo vệ di sản


 

http://festivaldoncataituquocgia.baclieu.gov.vn/nghethuatDCTT/lists/posts/post.aspx?Source=/nghethuatDCTT&Category=&ItemID=27&Mode=1

00
Toàn cảnh sống động của đờn ca tài tử Nam bộ – Việt Nam (tt&hết)
Bài cuối: Các biện pháp bảo vệ di sản
>>Bài 1: Chân dung và “chủ nhân” của ĐCTT

>>Bài 2: Đờn ca tài tử – loại hình sinh hoạt gắn kết cộng đồng

>>Bài 3: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đờn ca tài tử

Việc giới thiệu và tôn vinh đờn ca tài tử (ĐCTT) đã được các tỉnh, thành phố có nghệ thuật ĐCTT quan tâm với nhiều hình thức. Khi được công nhận là di sản văn hóa thế giới, những nỗ lực bảo vệ di sản như đã qua chưa đủ; cần phải có thêm nhiều biện pháp bảo vệ rộng hơn, sâu hơn để ĐCTT xứng tầm được tôn vinh, đồng thời có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc lưu truyền cho hậu thế…

Lộ trình cụ thể trong việc bảo vệ di sản ĐCTT:

2013 – 2016: Tập trung thực hiện các hoạt động sưu tầm, kiểm kê, nghiên cứu, phục hồi, tư liệu hóa.

2014 – 2016: Củng cố, hỗ trợ hoạt động cho các CLB, nhóm, gia đình. Thiết lập mạng lưới giao lưu, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm giữa các cá nhân, nhóm, CLB.

2014 – 2017: Hỗ trợ nghệ nhân mở lớp truyền dạy, xây dựng các chương trình giáo dục trong nhà trường. Đào tạo cán bộ quản lý di sản tại địa phương. Liên kết tổ chức đẩy mạnh việc quảng bá di sản trong và ngoài nước.

Những nỗ lực bảo vệ di sản

Để giới thiệu và tôn vinh ĐCTT, nhiều chương trình biểu diễn, sáng tạo đã được cộng đồng nhiệt tình hưởng ứng như: Liên hoan ĐCTT do các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng liên kết tổ chức suốt 10 năm qua; nhạc hội ĐCTT, tôn vinh nghệ nhân ở CLB, nhóm, gia đình tổ chức tại TP. HCM; các cuộc giao lưu trình diễn do nhà văn hóa các địa phương hỗ trợ kinh phí; các nghệ nhân ĐCTT tỉnh Bạc Liêu đã tham gia trình diễn xuất sắc tại Lễ hội đời sống dân gian Smithsonian tổ chức tại Hoa Kỳ…

Các nghệ nhân nổi tiếng đã tích cực truyền dạy cho thế hệ trẻ tại các lớp tập huấn ở một số tỉnh; nhiều nghệ nhân còn truyền dạy trực tiếp hoặc trên Internet dành cho học trò trong và ngoài nước như trường hợp nhạc sư Vĩnh Bảo. Năm 2005 – 2009, quỹ Sida Thụy Điển tài trợ cho sưu tầm, nghiên cứu, tư liệu hóa và truyền dạy ĐCTT tại các tỉnh Sóc Trăng, Tây Ninh, An Giang, Cà Mau… Tháng 12/2012, 108 tác giả ở nhiều địa phương trong cả nước đã tham gia cuộc thi viết lời mới cho 20 bản tổ nhạc tài tử, vọng cổ do TP. HCM tổ chức…

Từ năm 1997 đến nay, Nhà nước đã cấp kinh phí cho các địa phương sưu tầm, tư liệu hóa, kiểm kê ĐCTT và hỗ trợ các CLB, nhóm, gia đình tổ chức truyền dạy. Tuy nhiên, kinh phí chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Các cán bộ quản lý văn hóa địa phương còn hạn chế năng lực quản lý, nhận diện di sản và khả năng phối hợp cùng cộng đồng. Từ năm 2010 – 2012, Cục Di sản văn hóa, Viện Âm nhạc đã tổ chức tập huấn hàng năm về kiểm kê cho 21 tỉnh, thành phố có di sản; tổ chức các cuộc tọa đàm, hội thảo quốc tế nhằm xác định rõ những giá trị của ĐCTT…

Đề xuất các biện pháp bảo vệ

Ngành Văn hóa từ Trung ương và các địa phương sẽ tiếp tục thực hiện việc sưu tầm, nghiên cứu, nhận diện, tư liệu hóa, kiểm kê ĐCTT và tập huấn để nâng cao nhận thức cộng đồng và phục vụ các mục đích quảng bá và giáo dục di sản; tổ chức các hội thảo quốc gia và quốc tế để trao đổi kinh nghiệm trong bảo vệ và phát huy ĐCTT. Khuyến khích cộng đồng ở miền Nam và cả toàn quốc tham gia thực hành ĐCTT và sáng tạo bài bản mới trên cơ sở 20 bản tổ.

Tiếp tục duy trì cả hai hình thức truyền dạy: truyền dạy theo hình thức truyền thống tại cộng đồng và nghiên cứu đưa ĐCTT vào nhà trường theo các chương trình giáo dục chính thức và ngoại khóa. Biên soạn, hoàn chỉnh bộ giáo án ĐCTT đủ điều kiện để giảng dạy ở các cấp trường học với sự hỗ trợ của các nghệ nhân. Đặc biệt là xây dựng chính sách đãi ngộ cho nghệ nhân, người thực hành, truyền dạy, học viên theo học ĐCTT. Xây dựng quỹ bảo vệ ĐCTT với sự đóng góp của các doanh nghiệp, cá nhân và cộng đồng để hỗ trợ việc giáo dục và quảng bá di sản. Tiếp tục hỗ trợ kinh phí để duy trì hoạt động của các CLB, nhóm, gia đình. Các tỉnh, thành phố cùng toàn cộng đồng duy trì tổ chức các liên hoan ĐCTT quốc gia định kỳ 3 – 5 năm/lần, trên cơ sở Liên hoan theo địa bàn tỉnh 2 năm/lần, huyện – xã 1 năm/lần. Thành lập Hội nghệ nhân, Hội người thực hành ĐCTT trên cơ sở các CLB, nhóm, gia đình ở cộng đồng; xây dựng chương trình hoạt động cho Hiệp hội để đóng vai trò tích cực trong việc truyền dạy cho thế hệ trẻ…

Thiết thực là việc hỗ trợ cộng đồng duy trì, phục hồi tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội liên quan đến ĐCTT; phục hồi các bài bản cổ, phát triển yếu tố mới phù hợp cuộc sống đương đại; đồng thời xuất bản, quảng bá, giới thiệu về ĐCTT cho công chúng trong và ngoài nước; xây dựng cơ sở dữ liệu về ĐCTT tại Viện Âm nhạc Việt Nam theo hình thức mở, phục vụ việc nghiên cứu, khai thác thông tin để công chúng có thể dễ dàng tiếp cận.

Theo Phan Từ (tổng hợp) – Báo Bạc Liêu

 

 

Số lượt người xem: 157Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN
TIN ĐÃ ĐƯA

PHAN TỪ : Toàn cảnh sống động của đờn ca tài tử Nam bộ – Việt Nam (tt) / Bài 3: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đờn ca tài tử


 

http://festivaldoncataituquocgia.baclieu.gov.vn/nghethuatDCTT/default.aspx?Source=/nghethuatDCTT&Category=&ItemID=22&Mode=1

10
Toàn cảnh sống động của đờn ca tài tử Nam bộ – Việt Nam (tt)
Bài 3: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đờn ca tài tử
>>Bài 1: Chân dung và “chủ nhân” của ĐCTT>>Bài 2: Đờn ca tài tử – loại hình sinh hoạt gắn kết cộng đồng

Một trong những tiêu chí Tổ chức UNESCO quy định đối với một di sản văn hóa là quốc gia thành viên phải chứng minh được rằng: Việc ghi danh di sản này sẽ góp phần đảm bảo tầm nhìn rõ ràng hơn về di sản và nhận thức về tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể và các đối thoại, qua đó phản ánh tính đa dạng của văn hóa trên thế giới và chứng minh được sự sáng tạo của nhân loại…

Liên hoan Đờn ca tài tử Nam bộ được tổ chức thường xuyên là cách để gìn giữ và phát huy giá trị loại hình nghệ thuật này. Ảnh: C.T

Nhìn đúng tầm một di sản văn hóa

Trước mắt, việc ghi danh di sản vào danh sách đại diện sẽ có đóng góp đặc biệt vào tầm nhìn đối với di sản văn hóa phi vật thể nói chung và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của nó ở cấp độ địa phương, quốc gia và quốc tế. Nhìn đúng tầm không chỉ có ý nghĩa tôn vinh giá trị di sản mà còn khuyến khích thúc đẩy sự gìn giữ và phát huy, đề xuất kịp thời những biện pháp cấp thiết bảo vệ di sản.

Đờn ca tài tử (ĐCTT) được ghi danh sẽ góp phần nhận diện một loại hình nghệ thuật trình diễn độc đáo mang tính sáng tạo, ngẫu hứng; tôn vinh giá trị sáng tạo nghệ thuật của những người lao động, khuyến khích cộng đồng nhận diện giá trị di sản, tự nguyện tham gia thực hành, sáng tạo, truyền dạy và bảo vệ.

Việc ghi danh ĐCTT còn có ý nghĩa gắn kết cộng đồng thông qua các hình thức bảo vệ, lưu truyền và gìn giữ, phát huy những giá trị độc đáo của ĐCTT, tạo cơ sở khẳng định bản sắc văn hóa của cư dân các cộng đồng, nhóm và cá nhân; ghi nhận khả năng gắn kết yếu tố văn hóa bác học và dân gian – một đặc trưng độc đáo được nhìn nhận của loại hình di sản văn hóa này; từ việc công nhận đến những giai đoạn tiếp sau là phổ biến rộng rãi loại hình di sản này đến khắp quốc gia, vùng miền, rộng hơn là phạm vi quốc tế sẽ thúc đẩy quá trình tiếp thu và sáng tạo yếu tố văn hóa quốc tế, góp phần tạo nên sự da dạng văn hóa của quốc gia, quốc tế.

Tôn trọng tính đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của nhân loại

Trước mắt, việc ghi danh ĐCTT vào danh sách di sản văn hóa đại diện của nhân loại sẽ khuyến khích sự đối thoại giữa các cộng đồng, nhóm người và cá nhân. Cụ thể, việc ghi danh sẽ tạo điều kiện giao lưu, giới thiệu, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi giữa các thành viên trong gia đình, nhóm, câu lạc bộ; tăng cường sự hiểu biết, tôn trọng sự sáng tạo, tính đa dạng trong nghệ thuật trình diễn, gắn kết các cá nhân, nhóm, câu lạc bộ, tạo thành mạng lưới những người thực hành ĐCTT trong khu vực. Ngoài ra, việc ghi danh ĐCTT còn nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng và chính quyền địa phương, quốc gia trong việc nghiên cứu, tư liệu hóa, thực hành, trao truyền và giáo dục di sản.

Ở tầm quốc tế, việc ghi danh ĐCTT sẽ nâng cao sự tôn trọng đối với tính đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của nhân loại. Đó là khẳng định sự đánh giá cao của quốc tế đối với ĐCTT, là sự khích lệ tinh thần để cộng đồng chủ động tham gia thực hành truyền dạy và phát huy giá trị di sản của chính mình.

Bằng việc ghi nhận và khẳng định những giá trị độc đáo, mang tính đặc trưng; ĐCTT khi gia nhập vào danh sách di sản văn hóa đại diện sẽ thúc đẩy giao lưu, hội nhập, tiếp biến, bản địa hóa văn hóa thế giới một cách sáng tạo và phù hợp với truyền thống văn hóa, thẩm mỹ nghệ thuật của các cộng đồng cư dân bản địa. Sự nhìn nhận đúng tầm và tôn vinh kịp thời một di sản văn hóa thế giới mới còn có ý nghĩa quốc tế là khuyến khích các cộng đồng, dân tộc khác quan tâm nhận diện rõ hơn về giá trị di sản của mình để có biện pháp bảo vệ phù hợp; đồng thời khuyến khích sự hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của nhân loại.

Nhìn từ bản chất nghệ thuật và quá trình sáng tạo nên một di sản văn hóa được thế giới công nhận, việc ghi danh ĐCTT nói riêng và những loại hình di sản văn hóa thế giới khác nói chung còn thể hiện rõ nét sự tôn trọng quyền sáng tạo và thụ hưởng văn hóa, tính ngẫu hứng của cá nhân và cộng đồng trong quá trình thực hành nghệ thuật.

Đánh giá đúng bản chất, nâng cao nhận thức và nhận diện được tầm quan trọng của một loại hình di sản có ý nghĩa đặc biệt trong nhiệm vụ đề ra những biện pháp cấp thiết và lâu dài để bảo vệ di sản đó.

Theo Phan Từ (tổng hợp) – Báo Bạc Liêu

 

Bài cuối: Các biện pháp bảo vệ di sản

 

Số lượt người xem: 208Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN
TIN ĐÃ ĐƯA

PHAN TỪ : Toàn cảnh sống động của đờn ca tài tử Nam bộ – Việt Nam (tt) / Bài 2: Đờn ca tài tử – loại hình sinh hoạt gắn kết cộng đồng


Toàn cảnh sống động của đờn ca tài tử Nam bộ – Việt Nam (tt)
Bài 2: Đờn ca tài tử – loại hình sinh hoạt gắn kết cộng đồng
 

>>Bài 1: Chân dung và “chủ nhân” của ĐCTT

Là loại hình sinh hoạt văn hóa gắn kết cộng đồng bằng nghệ thuật, thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, trở thành cầu nối cho sự giao tiếp của các cộng đồng, nhóm người và cá nhân; tạo nên sự hài hòa, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững; đó là đờn ca tài tử Nam bộ – Việt Nam (gọi tắt là ĐCTT).

Bắt nguồn từ truyền thống

Như đã đề cập trong bài trước, ĐCTT có lịch sử khá lâu đời và được bắt nguồn từ truyền thống văn hóa đa dạng các cộng đồng miền Trung và miền Nam Việt Nam. ĐCTT là sự kế thừa, tích hợp giá trị âm nhạc Cung đình, dân gian; giao lưu, tiếp biến các yếu tố văn hóa của người Khmer, Hoa và phương Tây.

Trên bước đường tiếp biến, dung nạp nhiều giá trị văn hóa, ĐCTT luôn khẳng định vai trò không thể thiếu trong đời sống xã hội người Việt Nam, được cộng đồng các dân tộc trong khu vực tự nguyện chấp nhận; tự do, bình đẳng tham gia thực hành, sáng tạo; góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa Việt Nam. Mặt khác, ĐCTT luôn được bổ sung, làm mới bằng việc tích hợp, tiếp thu giá trị văn hóa của những tộc người khác. Việc thực hành, sáng tạo, thưởng thức, trao truyền ĐCTT giữa các thế hệ không vi phạm quyền con người, vì mọi người đều có thể tự nguyện, bình đẳng tham gia, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, trình độ, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp…

ĐCTT phục vụ nhu cầu thực hành các nghi lễ, sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, do đó bản thân ĐCTT đã mang tính gắn kết cộng đồng. Thông qua việc thực hành ĐCTT, cộng đồng còn giới thiệu và bảo tồn các tập quán xã hội khác như: lễ hội, văn hóa truyền khẩu, nghề thủ công…

…Và gắn kết từ trong cách chơi

Có một minh chứng sống động nhất về tính gắn kết cộng đồng của ĐCTT là những người chơi luôn tôn trọng, quý mến, học hỏi nhau không chỉ ở tài năng nghệ thuật mà cả trong văn hóa ứng xử, đạo đức, góp phần gắn kết cộng đồng, xã hội hướng tới cái đẹp, cái thiện. Và vì ĐCTT là loại hình nghệ thuật trình diễn phổ biến, bình dân phản ánh tâm tư, tình cảm của người dân miền Nam Việt Nam ở miệt vườn, sông nước với lối sống cần cù, phóng khoáng, cởi mở và can trường, nên ĐCTT khuyến khích được sự sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật, không chỉ với những người chơi mà cả đối với công chúng nói chung.

 

Một tiết mục biểu diễn nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ – Ảnh: chinhphu.vn

ĐCTT gắn kết cộng đồng từ chính bản chất của mình, ngoài ra còn thể hiện ở cách truyền dạy. ĐCTT được truyền dạy theo hai hình thức, thứ nhất là truyền ngón, truyền khẩu trực tiếp kỹ thuật đờn, ca của thầy cho học trò tại nhóm, câu lạc bộ hoặc tại nhà thầy; đặc biệt rất phổ biến là hình thức truyền dạy trong gia đình, dòng họ; thứ hai là truyền ngón, truyền khẩu kết hợp với giáo án, bài giảng (nốt ký âm theo kiểu phương Tây và chữ nhạc Việt Nam) tại một số trường văn hóa – nghệ thuật ở một số địa phương và quốc gia. Tính gắn kết cộng đồng thể hiện đậm nét ở chỗ, người học ca học những bài truyền thống trên cơ sở đó sáng tạo cách nhấn nhá, luyến láy tinh tế theo nhạc điệu và lời ca của bài gốc cho phù hợp với bạn diễn và thẩm mỹ cộng đồng. Người đờn dạo nhạc mở đầu (rao), người ca mở đầu bằng lối nói để tạo không khí, gợi cảm hứng cho bạn diễn và người thưởng thức. Họ dùng tiếng đờn và lời ca để “đối đáp”, “phụ họa” tạo sự sinh động và hấp dẫn của dàn tấu.

Ngày nay, ĐCTT vừa là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng vừa là hoạt động văn hóa góp phần phục vụ du lịch bền vững ở các địa phương.

Theo Phan Từ (tổng hợp) – Báo Bạc Liêu

Bài 3: Nâng cao nhận thức và tầm quan trọng của đờn ca tài tử

Số lượt người xem: 220Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN
TIN ĐÃ ĐƯA
Xem theo ngày 

QUỲNH PHẠM : Nâng tầm lan tỏa cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh


DÂN CA, VÍ GIẶM 
  Nâng tầm lan tỏa cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

Không biết chính xác dân ca ví, giặm có từ bao giờ, chỉ biết rằng điệu hát này xuất phát từ sinh hoạt cộng đồng của người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Khi mới xuất hiện, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh còn thô sơ, mộc mạc, giản dị nhưng sau đó theo thời gian loại hình này đã phát triển lên tầm cao mới với bố cục chặt chẽ, câu từ trau chuốt, vần điệu chắt lọc để hấp dẫn và làm say đắm lòng người nghe…

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản giao Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) làm các thủ tục cần thiết gửi hồ sơ “Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh” trình Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) xem xét đưa vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.


Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, một loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc

Theo quyết định mới của UNESCO, mỗi năm một nước chỉ được trình 1 loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Năm 2012, Việt Nam có hồ sơ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại); năm 2013 là hồ sơ Đờn ca tài tử và đang chờ kết quả từ UNESCO trong cuối năm nay. Vì thế, hồ sơ Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh sẽ trình UNESCO xét duyệt là Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại vào năm 2014.

Cần phải nhắc lại, cuối tháng 6/2012, để góp phần gìn giữ, bảo tồn, tôn vinh và phát triển những giá trị bền vững của loại hình nghệ thuật dân ca ví, giặm, hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã từng phối hợp tổ chức “Liên hoan dân ca ví, giặm xứ Nghệ lần thứ nhất năm 2012” với chủ đề “Dâng Người câu hát dân ca”. Đây là bước quan trọng và là tiền đề để các cơ quan chức năng, hội nghề nghiệp có thêm niềm tin, căn cứ để lập hồ sơ trình UNESCO công nhận Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại.

Không biết chính xác dân ca ví, giặm có từ bao giờ, chỉ biết rằng điệu hát này xuất phát từ sinh hoạt cộng đồng của người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Khi mới xuất hiện, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh còn thô sơ, mộc mạc, giản dị nhưng sau đó theo thời gian loại hình này đã phát triển lên tầm cao mới với bố cục chặt chẽ, câu từ trau chuốt, vần điệu chắt lọc để hấp dẫn và làm say đắm lòng người nghe.

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, các làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay và mỗi loại hình lại mang những đặc trưng riêng. Bởi thế, dân ca, ví, giặm Nghệ Tĩnh là di sản tinh thần vô giá, đã thấm sâu vào tâm hồn, trí tuệ, đời sống người dân của 2 tỉnh miền Trung này.

Môi trường diễn xướng của hát ví Nghệ Tĩnh rất đặc biệt, không cần phải chờ đến mùa vụ, hay hội hè mà vừa lao động vừa ca hát. Những năm gần đây, ví giặm mới được đưa lên sân khấu biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp để biểu diễn trong các chương trình nghệ thuật lớn của đất nước. Hát ví chỉ giới hạn trong đối đáp, giao duyên. Trai thanh, gái lịch hát đối đáp với nhau, hát vọng từ ngoài đường vào nhà, từ trong nhà với ra, hay cũng có thể là từ trên sông vọng lên bờ…

Do hát ví gắn liền với lao động, nên mỗi một loại hát ví lại gắn với một loại hình lao động riêng biệt như: hát ví của những người đi cấy thì gọi là ví phường cấy, hát ví của những người đi củi thì gọi là ví phường củi, hát ví của những người dệt vải thì gọi là ví phường vải…

Theo điều tra, kiểm kê của UBND tỉnh Nghệ An thì hiện nay trên toàn tỉnh có 52 Câu lạc bộ đàn và hát dân ca ví, giặm với khoảng hơn 2.000 thành viên, trong đó có 8 người đã được tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian.

Hát ví Nghệ Tĩnh đa dạng về thể loại, mỗi nghề nghiệp, mỗi công việc lao động đều được ghép tên theo hát ví và những người lao động chính là những người sáng tạo ra hát ví. Nhưng dựa theo tính chất kết cấu trong âm nhạc cũng như cách gọi tên các lối ví trong nhân dân, ta có thể chia hát ví thành hai hình thức:

Ví phường vải (hay còn gọi là giọng phường vải) và ví đò đưa (hay còn gọi là giọng đò đưa). Ví phường vải thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức nam xuân, vừa tình tứ lại lửng lơ, bay bổng, không nghiêng về màu sắc của điệu trưởng (Bắc) mà cũng không nghiêng về điệu thứ (Nam).

Ví đò đưa thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức Nam ai, tạo được tính chất nhẹ nhàng, bâng khuâng, lại thêm chút vương buồn sâu lắng, có thế ổn định, nghiêng về màu sắc của điệu thứ (Nam). Cùng là một câu thơ lục bát nhưng ví đò đưa hát khác mà ví phường vải hát khác.

Ví phường vải là lối hát bắt nguồn từ nghề trồng bông, nuôi tằm, dệt lụa. Còn ví đò đưa là lối hát bắt nguồn từ sông nước. Người hát thường là những trai bạn chèo chống trên thuyền xuôi ngược dọc sông, hoặc các phường buôn, phường nón… Họ cho hai thuyền đi song song, có khi ghép hai thuyền lại cùng xuôi, cùng ngược và hát với nhau thâu đêm suốt sáng. Tuy nhiên, giọng ví phường vải không chỉ hát trên cạn, trên làng và giọng đò đưa không chỉ hát dưới sông, dưới thuyền mà trong hát phường vải có giọng đò đưa, trong ví đò đưa có giọng phường vải.

Như vậy, việc trình hồ sơ “Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh” lên UNESCO để công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, được xem là hành động kịp thời và cần thiết để vinh danh loại hình nghệ thuật độc đáo này. Đồng thời thúc đẩy công tác bảo tồn, giữ gìn và phát huy nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh, mang đầy tính nhân văn trong đời sống nông nghiệp ở nông thôn nước ta, góp phần không nhỏ tạo nên sắc thái văn hoá độc đáo của dân tộc Việt Nam.

Bài và ảnh Quỳnh Phạm

http://ngheantourism.gov.vn/index.asp?options=items&code=1886