Tag Archives: interview

QUANG THI : Con trai trưởng GS-TS Trần Văn Khê: Tôi mãn nguyện về cha


Con trai trưởng GS-TS Trần Văn Khê: Tôi mãn nguyện về cha

27/06/2015 17:02 GMT+7

TTO – Sáng 27-6, GS-TS Trần Quang Hải – con trai trưởng của GS-TS Trần Văn Khê – đã từ Pháp trở về ngôi nhà trên đường Huỳnh Đình Hai để chịu tang cha.

Ông luôn túc trực bên linh cữu cha mình trước những đoàn người không ngớt đến chia buồn, tiễn đưa GS-TS Trần Văn Khê.

Xúc động trước sự ra đi của người cha, nhưng ông không giấu được những niềm tự hào và sự mãn nguyện vì cuộc đời và những cống hiến của cha mình cho sự nghiệp âm nhạc dân tộc nước nhà.

Đông đảo đoàn thể và cá nhân đến viêng GS-TS Trần Văn Khê trưa 27-6 - Ảnh: Quang Định
Đông đảo đoàn thể và cá nhân đến viêng GS-TS Trần Văn Khê trưa 27-6 – Ảnh: Quang Định

* Ông đã thu xếp thế nào để từ Pháp về dự đám tang của cha mình?

– Tôi nhận tin báo từ gia đình khi đang tham gia một hội thảo về âm nhạc quốc tế tại Ý. Tôi phải thu xếp bay từ Ý về Pháp, sau đó lấy vé máy bay từ Pháp về Việt Nam.

Tôi về đến nhà vào sáng nay (27-6), như vậy là vẫn còn kịp cho lễ tang ngày hôm nay và ngày mai cũng như lễ động quan vào ngày 29-6. Trước đó hồi tháng 6 khi nghe tin ba hấp hối, tôi đã về đây túc trực từ ngày 9 đến ngày 21-6.

Sau đó, tôi quay lại Pháp. Chưa được một tuần thì ba đi…!

* Ông có thể cho biết những chia sẻ từ bạn bè, đồng nghiệp… khi có tin GS-TS Trần Văn Khê qua đời?

– Khi nghe tin ba tôi mất, tôi đã thông báo cho tất cả các cơ quan, tổ chức mà tôi và ba tôi từng làm việc. Trong một ngày tôi nhận được hơn 300 thư chia buồn từ các đồng nghiệp, học trò cũ của ba tôi.

Ông có rất nhiều đồng nghiệp, học trò… khắp nơi trên thế giới, và họ đã gửi cho tôi những lời chia buồn sâu sắc nhất. Hội đồng âm nhạc truyền thống quốc tế, tổ chức nơi tôi và ba tôi từng làm việc, thông báo rằng trong hội thảo tháng 7 tại Kazakhstan, họ sẽ dành một phút tưởng niệm ba tôi.

Ông cũng được trao danh hiệu thành viên danh dự suốt đời của tổ chức này.

* GS-TS Trần Văn Khê ra đi là một nỗi mất mát lớn cho nền âm nhạc dân tộc nước nhà. Còn về tình cảm gia đình, ông đã chuẩn bị thế nào cho sự ra đi này?

– Theo cá nhân tôi, sự ra đi của ba cũng là sự giải thoát về mặt thể xác cho những nỗi đau đớn do bệnh tật mà ông đã chịu đựng từ trước đến nay. Nhưng đó chỉ là sự mất mát về thể xác, còn về tinh thần thì tôi và gia đình có quyền tự hào về những di sản lớn của ông để lại cho nền âm nhạc dân tộc nước nhà.

Đó không chỉ là hàng nghìn đầu sách trong thư viện của cha tôi hiện nay, hàng nghìn bản ghi âm mà cha tôi đã để lại…, mà còn là những kết quả rất thiết thực. Những lần phong tặng như nhạc cung đình Huế được công nhận di sản văn hóa UNESCO năm 2003, nhạc cồng chiêng Tây nguyên năm 2005, quan họ, ca trù năm 2009 đều có sự đóng góp của ba tôi.

Đặc biệt, sự kiện âm nhạc đờn ca tải tử được công nhận di sản văn hóa UNESCO năm 2013, ghi nhận lần đầu tiên âm nhạc Nam bộ được vinh danh quốc tế.

Còn về gia đình, đám tang của mẹ tôi cách đây hai năm, và đám tang của ba tôi bây giờ là hai lần mà gia đình bốn anh em tôi được gặp mặt đầy đủ. Lúc mẹ tôi cấn thai đứa em út Trần Thị Thủy Ngọc năm 1950 thì ba tôi đã qua Pháp.

Phải 20 năm sau, lần đầu tiên Ngọc gặp lại ba tôi ở Pháp thì mới gọi được tiếng ba. Tôi ở Pháp trên 50 năm cũng chỉ về Việt Nam vào năm 2002. Gia đình chưa lúc nào đoàn tụ đông đủ.

Chỉ có đám tang ba mẹ thì bốn anh em tôi là Trần Quang Hải, Trần Quang Minh, Trần Thị Thủy Tiên, Trần Thị Thủy Ngọc cùng các con cháu mới có dịp gặp mặt nhau.

* Ông đã chịu ảnh hưởng từ cha mình những điều sâu sắc nào?

– Tôi giống cha tôi ở cách nói chuyện, giọng nói, niềm say mê âm nhạc dân tộc… lẫn nguyên tắc. Tuy sống ở nước ngoài hơn 50 năm nhưng tôi nói tiếng Việt không pha trộn bất kỳ ngôn ngữ nào. Bởi vì tôi nghĩ rằng tiếng Việt đủ giàu để diễn tả bất cứ suy nghĩ nào.

Nhiều lúc ở Việt Nam tôi đi trên đường, nhiều người xúm lại hỏi tôi có phải con của giáo sư Trần Văn Khê hay không rồi họ tươi cười chụp hình chung với tôi, tặng tôi những món quà nhỏ… Có lúc trên máy bay tôi được ưu tiên đổi ghế ngồi VIP.

Đó là niềm hạnh phúc mà một đứa con được thừa hưởng từ người cha một cách thực tế giữa cuộc đời này chứ không phải ở một ý nghĩa nào khác.

GS.TS Trần Quang Hải (con trai cả GS.TS Trần Văn Khê) trò chuyện với các đoàn thể và cá nhân đến viếng cha mình - Ảnh: Quang Định
GS.TS Trần Quang Hải (con trai cả GS.TS Trần Văn Khê) trò chuyện với các đoàn thể và cá nhân đến viếng cha mình – Ảnh: Quang Định
Bé Chiêu Anh (9 tuổi) viết sổ tang sau khi đến viếng GS.TS Trần Văn Khê cùng cha mình - Ảnh: Quang Định
Bé Chiêu Anh (9 tuổi) viết sổ tang sau khi đến viếng GS.TS Trần Văn Khê cùng cha mình – Ảnh: Quang Định
Dòng suy nghĩ của bé Chiêu Anh về GS.TS Trần Văn Khê ghi trong sổ tang - Ảnh: Quang Định
Dòng suy nghĩ của bé Chiêu Anh về GS.TS Trần Văn Khê ghi trong sổ tang – Ảnh: Quang Định
GS.TS Trần Quang Hải (con trai cả GS.TS Trần Văn Khê) gửi lời cảm ơn đến các đoàn thể, cá nhân tới viếng cha mình - Ảnh: Quang Định
GS.TS Trần Quang Hải (con trai cả GS.TS Trần Văn Khê) gửi lời cảm ơn đến các đoàn thể, cá nhân tới viếng cha mình – Ảnh: Quang Định
Ông Alain Cany - nguyên Chủ tịch Hội doanh nghiệp châu Âu tại VN (EuroCham) thắp nhang viếng GS.TS Trần Văn Khê - Ảnh: Quang Định
Ông Alain Cany – nguyên Chủ tịch Hội doanh nghiệp châu Âu tại VN (EuroCham) thắp nhang viếng GS.TS Trần Văn Khê – Ảnh: Quang Định

QUANG THI

THANH HIỆP : NSND Ngọc Giàu mừng thọ GS-TS Trần Văn Khê


TIN ẢNH

NSND Ngọc Giàu mừng thọ GS-TS Trần Văn Khê

Thứ Năm, 16:27  24/07/2014

(NLĐO) – Trưa 24-7, NSND Ngọc Giàu và nhiều nghệ sĩ trẻ đã đến nhà riêng của GS-TS Trần Văn Khê chúc mừng sinh nhật lần thứ 94 cụa ông. GS-TS Trần Văn Khê vui mừng gặp lại người nghệ sĩ mà ông xem như người em trong gia đình, khi ông cho phép bà gọi bí danh là “anh hai”.

 

GSTS Trần Văn Khê và NSND Ngọc Giàu trong ngày mừng thọ 94 tuổi, trưa 24-7-2014.

GSTS Trần Văn KhêNSND Ngọc Giàu trong ngày mừng thọ 94 tuổi, trưa 24-7-2014.

Cuộc hội ngộ thật xúc động khi NSND Ngọc Giàu hát tặng GS-TS Trần Văn Khê bài Dạ cổ hoài lang, một kỷ niệm thật đẹp mà năm 2009 khi UBND tỉnh Bạc Liêu và Hội Sân khấu TPHCM tổ chức hội thảo 90 năm bài Dạ cổ hoài lang tại Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh TPHCM, bà đã được GS-TS Trần Văn Khê chỉ định ca nguyên bản Dạ cổ hoài lang.

GS-TS Trần Văn Khê đã nhận xét: “Làn hơi của NSND Ngọc Giàu đúng như báo giới Sài Gòn những năm 60 của thế kỷ trước đã đánh giá, một làn hơi lụa trải nhung căng, thấm đượm sự sâu lắng, da diết của một trái tim yêu. Nghe Ngọc Giàu ca Dạ cổ hoài lang là thấy ngay đẳng cấp, vì cô biết biến chuyển nét riêng cho cách ca, “nguyện là nguyện cho chàng, đặng chữ an bình an, mau trở lại gia đàng cho én nhạn hiệp đôi…í…i”, khi đó cô chuyển sang hơi Xuân rồi về lại hơi Ai, nhấn mạnh sự lạc quan trong nỗi lòng của người vợ phải xa chồng. Tôi đánh giá cao NSND Ngọc Giàu vì chịu khó nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo cho cách ca bài Dạ cổ hoài lang, mà không phải ai cũng làm được điều này. Với tôi, món quà mừng thọ năm nay rất ý nghĩa”.

 

GSTS Trần Văn Khê phân tích bài Dạ cổ hoài lang trong ngày mừng thọ 94 tuổi của ông.

GSTS Trần Văn Khê phân tích bài Dạ cổ hoài lang trong ngày mừng thọ 94 tuổi của ông.

GS-TS Trần Văn Khê đã đáp lại tình cảm của NSND Ngọc Giàu khi ông ca Long hổ hội, phân tích những cách ca diễn trong phần đối đáp rất thú vị của các nhân vật trong vở tuồng Giọt máu chung tình, mà ông đã từng nghe người cậu ruột Nguyễn Tri Khương ca diễn.

NSND Ngọc Giàu xúc động: “Nhìn thấy GS-TS Trần Văn Khê khỏe mạnh, tôi hạnh phúc lắm. Bởi, trong sự nghiệp nghiên cứu đờn ca tài tử Nam Bộ và âm nhạc cổ truyền của dân tộc, ông là cây đại thụ có sức ảnh hưởng rất lớn. Mừng thọ ông, chỉ xin được cầu nguyện cho ông luôn dồi dào sức khỏe để là điểm tựa cho thế hệ con cháu đang nỗ lực hết sức gìn giữ những tinh hoa của nền nghệ thuật dân tộc nước nhà”.

 

Nghệ sĩ Mai Thế Hiệp và GSTS Trần Văn Khê trong ngày mừng thọ 94 tuổi của ông

Nghệ sĩ Mai Thế Hiệp và GSTS Trần Văn Khê trong ngày mừng thọ 94 tuổi của ông

 

NSND Ngọc Giàu bên bức tượng đồng của GSTS Trần Văn Khê 

NSND Ngọc Giàu bên bức tượng đồng của GSTS Trần Văn Khê

Rất đông nghệ sĩ, nhạc sĩ, sinh viên của các trường Âm nhạc, Văn hóa, Sân khấu đã đến chúc thọ GS-TS Trần Văn Khê. CLB Tiếng hát Quê hương trước đó trong ngày 20-7 đã tổ chức mừng thọ ông tại tư gia. GS-TS Trần Quang Hải – con trai của GS-TS Trần Văn Khê cũng đã về nước mừng thọ cha già. “Gia đình chúng tôi vừa chịu tang mẹ – Bà Nguyễn Thị Sương. Mẹ tôi qua đời ở tuổi 93 tại tư gia ở quận 2, TPHCM. Mẹ tôi sinh năm 1921, là cựu học sinh trường áo tím Gia Long và Petrus Ký, cựu giáo sư Trường nữ trung học Gia Long và Hội Việt Mỹ. Hai ông bà kết hôn vào năm 1943 khi ông hoạt động trong Tổng hội Sinh viên và có với nhau 4 người con – 2 trai, 2 gái. Tôi là con cả, vẫn đang tiếp tục sứ mệnh gìn giữ và phổ biến âm nhạc dân tộc Việt Nam ra thế giới. Thấm thía nỗi mất mát lớn của gia đình, nên ngày mừng thọ của cha tôi, chúng tôi dù ở bất cứ nơi nào cũng đều quây quần bên cha”.

 

GSTS Trần Văn Khê hôn NSND Ngọc Giàu sau khi nghe bài ca bài Dạ cổ hoài lang tặng ông trong ngày mừng thọ 94 tuổi.

GSTS Trần Văn Khê hôn NSND Ngọc Giàu sau khi nghe bài ca bài Dạ cổ hoài lang tặng ông trong ngày mừng thọ 94 tuổi.

Dù đã ly hôn với người vợ này từ nhiều năm, nhưng với GS-TS Trần Văn Khê bà vẫn là người bạn tri kỷ, là người mẹ lo cho các con ăn học thành tài, thay ông chăm sóc các con khi ông bôn ba khắp nơi để truyền bá âm nhạc dân tộc Việt ra thế giới.

 

NSND Ngọc Giàu và hai người con của GS-TS Trần Văn Khê: GS-TS Trần Quang Hải - con trai và bà Ngọc - con gái.

NSND Ngọc Giàu và hai người con của GS-TS Trần Văn Khê: GS-TS Trần Quang Hải – con trai và bà Ngọc – con gái.

 

Tin ảnh: Thanh Hiệp

LE GUIDE CULTUREL : MISS TÂM ET “SECRETS” DE LA CUISINE VIETNAMIENNE


MISS TÂM ET “SECRETS” DE LA CUISINE VIETNAMIENNE

Minh-Tâm Tran (Copyright : La Kitchenette de Miss Tâm)

 

D’origine vietnamienne et vivant à Paris, Trân Thi Minh Tâm (connue en tant que Miss Tâm) transmet le goût du Vietnam à travers ses recettes traditionnelles vietnamiennes sur son blog La Kitchenette de Miss Tâm 

Après une carrière dans la production musicale, elle a décidé d’aller vers sa passion : la cuisine vietnamienne et bien sûr la transmission de la culture vietnamienne. «Aussi loin que remontent mes premiers souvenirs, j’ai toujours eu les papilles en éveil. La cuisine de mon enfance fut un merveilleux lieu de découverte culinaire, ouverte sur le monde, véritable laboratoire de parfums et de saveurs, et un espace de vie sensorielle puissante ! Ma première école… Mes premières amours gustatives… Le goût du Vietnam » partage-t-elle sur son blog culinaire. 

Pour elle, c’est bien de cuisiner, mais surtout ce qui est intéressant au-delà de la cuisine, ce sont les origines, les traditions et même concernant la cuisine directement, elle aime toujours savoir comment on fait une recette, pourquoi on utilise tel ou tel ingrédient etc…

Pour partager et transmettre les subtils saveurs et parfums de la merveilleuse cuisine vietnamienne à travers les recettes traditionnelles, elle a déjà créé le blog « La Kitchenette de Miss Tâm ». Cela nous donne certainement envie de découvrir la cuisine du Vietnam, de tester quelques recettes et d’en apprécier leurs saveurs et parfums. 

Vu que la cuisine vietnamienne n’a pas de secret pour elle, nous l’invitons à partager quelques caractéristiques de la cuisine et du goût vietnamien. Bonne découverte !

Mon impression générale sur la cuisine vietnamienne…

Cette question mériterait qu’on y consacre un livre entier. Je constate que la cuisine pour les Vietnamiens, que cela soit dans le pays ou à l’étranger, a une place fondamentale dans leur vie. Il ne s’agit pas simplement de se nourrir et d’éprouver du plaisir gustatif, il s’agit aussi de lien social, familial et affectif. Et pour les Vietnamiens résidant à l’étranger, c’est un repère identitaire et culturel particulièrement fort. La génération suivante d’origine vietnamienne née à l’étranger connaît le Vietnam d’abord à travers sa cuisine, souvent celle perpétuée par la famille exilée. Pour moi, la cuisine vietnamienne est le dénominateur commun de tous les Vietnamiens du monde, c’est l’âme du Vietnam. 

Quelques caractéristiques de la cuisine vietnamienne et de ses goûts spécifiques…

La Kitchenette de Miss Tam

Je suis loin d’avoir percé le secret de la cuisine vietnamienne ! Régie par le principe des cinq éléments et de la philosophie du Yin et du Yang issu du taoïsme chinois, la cuisine vietnamienne trouve un équilibre et une harmonie dans l’opposition et la complémentarité du Yin (âm) et du Yang (dương) qui désignent la nature de chaque aliment, permettent de maintenir une bonne santé et de se soigner (par un aliment Yin ou Yang) selon la nature manquante ou déséquilibrée dans le corps. Le principe des cinq éléments dans la gastronomie renvoie aux cinq éléments de la nature (ngũ hành : eau, feu, bois, métal, terre),  aux cinq organes vitaux (ngũ tạng : reins, cœur, foie, poumon, rate), aux cinq saveurs (ngũ vị : salé, amer, acide, piquant, sucré). On pourrait rajouter encore la notion des cinq sens (cinq couleurs, cinq textures) et la bienséance d’offrir au minimum cinq plats à ses hôtes. C’est un vaste sujet que je n’ai pas le temps de développer ici. 

La cuisine vietnamienne a sa propre identité mais tire aussi profit des influences étrangères (chinoise, française, indienne et cham) pour les réadapter à son propre goût.  L’aliment de base est le riz blanc nature et sous toutes ses formes (farine, galette, vermicelles, pâtes, gâteau, alcool). Le condiment principal typique du pays est la saumure de poisson, le nước mắm. Les légumes (feuilles, tiges, racines, fruits, fleurs) sont cuits très rapidement pour préserver leurs propriétés nutritives et la consommation des herbes aromatiques fraîches associées aux mets est très caractéristique de la cuisine vietnamienne. Les poissons ou les crustacés (crevettes, crabes, calamars…) de la mer et des rivières sont présents à tous les repas, ne serait-ce avec le nước mắm ou le mắm. Les volailles comme le poulet ou la caille, ou les mollusques sont très appréciés. Le boeuf est moins consommé sauf pour les grandes occasions, contrairement à la viande de porc dont sont friands les Vietnamiens.

Rouleaux de printemps - La Kitchenette de Miss Tâm

Du nord au sud du Vietnam, une distance de 1.700 kilomètres séparent les extrémités. Comme partout ailleurs, la cuisine de chaque région a ses propres caractéristiques, liés ici aux influences culinaires, au climat et aux produits régionaux.  Dans le nord du Vietnam, sans compter les cuisines des minorités ethniques, la cuisine est très raffinée, moins sucrée que dans les autres régions, avec des grillades, des pâtés ou hachis de viande ou de poisson (chả et giò) des plats mijotés (kho), des légumes et volailles bouillis (luộc), des vermicelles transparentes (à la fécule de haricot mungo – miến). Dans le centre où la terre est moins fertile mais où les produits de la mer sont abondants, c’est une cuisine de pêche très relevée et pimentée, alliée au raffinement des mets issus de la cuisine impériale de Huê. Le mắm ruốc (petites crevettes fermentées en saumure), une spécialité de Huê, est quasiment le condiment principal. Dans le sud et l’influence de la cuisine sud-est asiatique, la cuisine est plus sucrée, avec un goût prononcé pour le sucré-salé et l’aigre-doux, l’usage du jus ou du lait de coco dans les plats et desserts (chè), des crudités marinées et une profusion d’herbes aromatiques (rau thơm) pour accompagner toutes sortes de grillades. 

Globalement, la cuisine du Vietnam, quel que soit la région, est particulièrement parfumée, tend vers le goût sucré (Yang)-salé (Yin), et n’est pas très relevée (sauf dans le centre bien que cela soit moins piquante que la cuisine thaïlandaise). Elle est très variée, légère, diététique, digeste et bien sûr… exquise !

Bananes au lait de coco (Copyright : La Kitchenette de Miss Tâm)

Selon moi, les erreurs ou bien les confusions que les Français font souvent dans la cuisine vietnamienne sont…

Les Français font souvent la confusion avec les cuisines d’Asie en général, en particulier entre la cuisine chinoise et la cuisine vietnamienne, des cuisines fondamentalement différentes. Pour « faire » cuisine vietnamienne, les Français rajoutent souvent de la sauce de soja, de la sauce d’huître et de la coriandre partout (goût plutôt chinois), ou parfois c’est le trio gingembre, citronnelle, lait de coco mais là, on s’égare du côté de la Thaïlande… Menthe et coriandre, voilà la triste combinaison des herbes aromatiques réduites hélas à ça, pour accompagner certains plats où normalement il faudrait une variété d’herbes, pourtant véritable identité culinaire du Vietnam.  Hélas, c’est difficile de trouver ce qu’il faut quand on n’habite pas à Paris (je parle seulement pour la France, car je ne sais pas ce qu’il en est dans les autres pays). Voilà une des difficultés pour faire de la cuisine vietnamienne traditionnelle hors du pays. 

Miss Tâm et la cuisine vietnamienne

Pour manger une bonne cuisine vietnamienne à Paris…

Comme je cuisine vietnamien à la maison et pour mon activité, quand je sors, je préfère explorer d’autres goûts par gourmandise et pour ma curiosité personnelle. Mais voici quelques lieux vietnamiens à Paris que je pourrais recommander sans que cela soit une liste exhaustive. Il y a le Saigon Moi (Sài Gòn mới) au 82 rue de Baudricourt 75013 Paris,Le Bambou au 70 rue de Baudricourt 75013 Paris, Le Pho Bi Da au 36 rue Nationale 75013 Paris, Pho 99 au 119 avenue de Choisy 75013 Paris et le Dông Huong au 14 rue Louis Bonnet 75011 Paris. Bien entendu, il existe d’autres très bons restaurants, mais je ne les connais pas tous. Il en existe aussi d’excellents dans les autres villes de France avec une communauté vietnamienne concentrée à Strasbourg, Lyon, Bordeaux, Toulouse, Marseille pour ne citer que les villes de grande agglomération. 

Merci Miss Tâm pour ce moment sympathique et d’avoir accepté de partager avec nous un peu de tes connaissances sur la cuisine vietnamienne. Nous te souhaitons plein de succès dans tes projets et du bonheur dans ta vie. Nous espérons un jour te voir au Vietnam. À très bientôt ! 

 

Sommaire Le guide culturel »

http://www.amica-travel.com/vietnam-le-guide-culturel/la-cuisine-vietnamienne/miss-tam-et-la-cuisine-vietnamienne

TRAN QUANG HAI : ABOUT DR. TRẦN VĂN KHÊ (life honorary member of the ICTM)


ABOUT DR. TRẦN VĂN KHÊ (life honorary member of the ICTM)Image

 

The Board of the ICTM asked me to have an interview with my father, Dr. Trần Văn Khê when he was offered the title of “life honorary member” of the ICTM .

         Dr. Trần Văn Khê is now living in Vietnam, therefore I had to interview him over the telephone.

Trần Quang Hải (TQH) : Hello, Daddy. Are you there?

Trần Văn Khê (TVK): Who’s speaking ?

TQH: I am Hải, your son calling you from France.

TVK : Oh, my dear son. I’m glad to hear your voice. How are you?

TQH : I’m fine Dad. I would like to ask you something and I wish you will accept it.

TVK : What is it? If it’s not so difficult, I’ll be happy to do it for you, my son.

TQH: You know, I made a recommendation that you be offered the title of “life honorary member” of the ICTM last year in Shanghai during the board meeting. As the Board accepted my recommendation, all Board members asked me to write a paper about you under the form of a dialogue . I accepted that request .

And that is the reason why I am calling you today to ask you if we can have a talk over the telephone about your life, career and especially your activities when you were member of the ICTM. Is it possible for us to do so now?

TVK (after a short silence): You know, son, I am getting old. My memory is not good enough to remember all those things . But if you ask me easy questions, I‘ll try to do my best to give you the answers you are looking for. OK ?

TQH (with a smile and laugh): Thank you very much Daddy. You are really my beloved father, always . Now I can start the interview with you. Are you ready ?

TVK: I am. What can I start with ?

TQH: You can start by telling me about who you are, where you were born, and a summary of your career.

TVK : Well, I was born on July 24th 1921, in a small village called Bình Hòa Đông in the province of Mỹ Tho, in the southern part of Vietnam. During my time in Vietnam, I studied medicine at the Medical College of the University of Hanoi from 1942 to 1943. Then I went to France in 1949. In Paris, I first studied political science at the Institut d’Etudes Politiques where I obtained my diploma in 1951. Then I was very ill, and for 4 years, I was  hospitalized at many hospitals in France. During that time, I thought a lot of Vietnamese traditional music. As I was born into a family of 4 generations of traditional musicians, I decided to study musicology at the Sorbonne University in Paris upon my recovery from illness in 1955. In 1958, I obtained the degree of Doctor in Musicology at the Sorbonne University. Since that date, I devoted all my time to do research and teaching musicology and participating in various international conferences on musicology until I decided to go back and live in Vietnam in 2004.

TQH: Great Dad. Can you tell me about different positions you held during your professional life ?

TVK : There are many. I was Director of Research at the Centre National de la Recherche Scientifique (C.N.R.S.), professor at Paris-Sorbonne University (1958-1988), and Honorary Member of the Conseil International de la Musique (UNESCO). My scientific research along with my activities in traditional music (participation in numerous festivals, several recordings edited with Ocora, l’Unesco and A.C.C.T.) have enabled me to receive many distinctions and prizes from prestigious universities, academies and international institutions around the world. My expertise includes all Asian music, particularly Indian, Persian, Chinese, Japanese and Arabic musical traditions. Having lived in Paris for about 55 years, and travelled around the world to lecture and to perform, I have played a key role in introducing Asian music into the western world. In the past 55 years, I have supervised  a  sizable number of Ph.D. dissertations and taught thousands of students all over the world.

TQH : Can you give me some important dates of your working experience ?

TVK : I can’t remember them all. But I can give you some dates: from 1960 to 1988, I was researcher at the Centre National de la Recherche Scientifique in Paris. I was guest professor at many universities (1968 at UCLA, California, USA; 1972 at University of Southern Illinois, USA; 1973 at University of Montreal, Canada; 1975-1985 at Catholic Institute in Paris, France; 1979 at Intercultural School in Venice, Italy; 1981 at Liszt Academy of music in Budapest, Hungary; 1983 at University of Hawaii at Manoa, USA; 1984-1987 as Director of a seminar at Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales, in Paris, France; 1985 at University of Western Australia in Perth, Australia; 1988 at University of Hawaii at Manoa as a Fullbright scholar; 1989 at University of the Philippines, in Manila, Philippines. From 1966 to 1988, I was professor at University of Paris – Sorbonne and supervised more than 40 Ph.D. dissertations on Asian music. I was the founder of the Centre d’Etudes de Musique Orientale in Paris in 1959, etc… Those were my major activities when I lived in France.

TQH : Thank you Dad. Apart from all the things you have just mentioned, did you give any lectures on musicology in other countries? I suppose that you had given many.

TVK : You are right my son. I gave 2 lectures on Asian music and on methodology in ethnomusicology, as well as several hundreds of other lectures at numerous Universities around in the world, namely Berkeley, Maryland, Baltimore County USA, (1988) Central Conservatory of Beijing, Conservatory of TianJian, Xian (People’s Republic of China 1987), Antatanarivo, Madagascar (August 1985), Kunitachi College, Japan (July 1985), Wellington, New Zealand (November 1984), Venice, Italy (March 1984-April 1985), Harvard, USA (June 1982) Conservatory Tchaikovsky, Moscow, USSR (May 1981), National Institute of Music of Algeria (August 1980), National Center for the Performing Arts, Bombay, India (Sept. 1979), Teheran, Iran (June 1976) Conservatory of Saigon, Buddhist University of Vạn Hạnh, Catholic Institution Taberd, Centre Culturel Français, Vietnam-USA Association, South Vietnam (August 1974), Sau Paulo, Brasil (July 1974), Shiraz, lran (August 1972), Sangeet Natak Akademi, New Delhi, India (May 1961), Traditional Musicians Association, TaiPei, (April 1961), Ueno University, Japan (April 1961).

TQH : It’s amazing Dad . How could you recall all these facts? It’s really unbelievable. Now, I’d like to ask you about your activities when you were a member of the IFMC, which later became ICTM. Can you recall a few important dates ?

TVK : It was a long story but I’ll cut it short. In 1958, I took part in the IMC conference on the Universe of Music, at the UNESCO House, where I met several musicologists and ethnomusicologists such as Samuel Baud-Bovy, Willard Rhodes, Walter Wiora, Marius Schneider and Paul Collaer. They appreciated my paper that I had presented and woud like to invite me to join the IFMC (Internationnal Folk Music Council)…. They introduced me to Dr. Maud Karpeles and then I  became member of the IFMC in 1960 after having been elected member of the Executive Committee of the  IMC (International Music Council of UNESCO). I did not have  much time for the IFMC because of my heavy workload at the French CNRS (Centre National de la Recherche Scientifique), at in the IMC, and at in the CEMO (Centre d’Etudes de Musique Orientale). But I attended regularly the General Assemblies of the IFMC. I often met many members of the IFMC to exchange experiences in their personal researches and sometimes to collaborate with them in certain topics of research such as folk and traditional musics, theatre music in Vietnam with Paul Collaer; tone languages in China and Vietnam with Marius Schneider, ethnomusicology with Claudie-Marcel Dubois. I also wrote a few articles for the Journal of the IFMC in 1966.

1/ La musique populaire au Vietnam. Ses attaches avec la musique de tradition savante ou musique rituelle (pp 2-4)

2/ Journal of the IFMC 1963

La musique vietnamienne traditionnelle (Review)

3/ Le pentatonisme est il universel ? Journal of the IFMC 1958.

(what are the above 5 lines???)

In 1961, while attending the General Assembly of the IFMC in Jerusalem, I took part in the international concert organized on that occasion by playing Vietnamese traditional music. Prof. Zolten Kodaly was in the audience. At the intermission, Dr. Kodaly congratulated me on my performance and wanted to meet me some day to discuss about pentatonic scales. After that General Assembly, I had an opportunity to meet Dr. Kodaly in Budapest where we had a very interesting exchange of our experiences on Pentatonism. In Vietnam, when the late Professor Lưu Hữu Phước organized a festival of traditional music in the whole country of Vietnam, he invited Dr. Eric Stockman, President of the ICTM to come to festival as a special guest. Dr. Stockman could not accept the invitation… because he was in poor health and could not make a long flight. Instead, Dr. Stockman asked me to go to Vietnam as a Vice President of the ICTM. At the festival, I was warmly welcome by the organizing committee. In 1984, the Annual General Assembly of the ICTM took place in Tunis, capital of Tunisia. I  came to Tunis wearing two hats: one was Vice President of the ICTM and the other one was special guest of the Festival of Arabic traditional music …

TQH : So, you were member of the IFMC in 1960, weren’t you?  Were you present at the IFMC conference in Seoul in 1981?

TVK : Yes, I was there as an Executive Board member (elected in 1978). At that conference, I witnessed the name change of the organization from IFMC (International Folk Music Council) to ICTM (International Council for Traditional Music). There was an important discussion about that matter. Poul Rovsing Olsen was President of the new council with Dieter Christensen as Secretary General. I was elected Vice President of the ICTM together with Prof. Claudie Marcel-Dubois from France. In 1987, without receiving any  notification,  Prof. Kishibe Shigeo and I were surprised when we did not see our names on the list of members of the Executive Committee.

TQH : Dad, I am obliged to interrupt you on the last point . As you know, according  to the rules of the ICTM, any vice president can only hold the position for 4 years. After that, he or she has to leave the title to someone else. On the other hand, he or she has the right to resubmit his/her candidacy for the same position for another 4 years. I don’t know whether you have attended the ICTM conferences in 1983, 1985 and 1987. If you were absent at these conferences, then I think that you and Prof. Kishibe Shigeo could no longer belong to the Executive Board. But I think that it is fair to inform you and Prof. Kishibe about this, and remind you of the rules. Anyhow, those were things of the past . We can change the subject, can’t we Dad ?

TVK : OK. What more do you want to know?

TQH :  I know that you have received many international awards . Can you name me a few important ones?

TVK : In 1949, I obtained  the 2nd Prize of the International Competition on Folk Music Instruments at the Youth Festival of Budapest in Hungary, a few months after my arrival in France. Then, in 1960  my first LP record published by La Boîte à Musique  got the Grand Prize from the French Music Academy in Paris . After that, my LP record “VIETNAM 1” edited by Barenreiter Musicaphon, UNESCO Collection in Germany won the Schallplatten Prize in 1969 and the Grand Prize from the French Music Academy of French Records  in 1970. For other awards, there were Doctor honoris cause from University of Ottawa (Canada) in 1975 and from Moncton University (New Brunswick, Canada) in 1999, UNESCO IMC music award in 1981, Fullbright scholarship in 1988, Officier des Arts et des Lettres (France) in 1991, Koizumi Fumio ethnomusicological prize (Japan) in 1994,, Chevalier de l’ordre des Palmes académiques (France) in 1999, and a dozen of awards obtained in Vietnam . The last one was the badge of Ho Chi Minh City as emerite citizen of Ho Chi Minh City in 2013.

TQH : Fantastic! As a distinguished ethnomusicologist, I suppose that you were also members of many scientific societies .

TVK : Well, I belonged to many international scientific societies such as Société Française de Musicologie (France), Société Française d’Ethnomusicologie (France), Société des Gens et des Lettres (France), International Musicological Society (Switzerland), Society for Ethnomusicology (USA), Society for Asian Music (USA), International Society for Music Education, International Folk Music Council (after 1981 becoming International Council for Traditional Music ( vice president from 1981-1987 and life honorary member since 2013) (USA then Slovenia), International Music Council (ex- vice president and now life honorary member)  UNESCO, France) .

TQH : As member of many international scientific societies, I am quite sure that you must have had several extraordinary activities. Is it possible for you to cite some important events?

TVK : I participated in more than 180 International Congresses, Conferences, Symposia, and Music Festivals. (The lists of publications and the International Conferences could be sent on request). I can tell you about a few significant contributions to various works on research, documents on major traditional music in Asia, especially Vietnamese, events organized by the International Center for Comparative Music Studies and Documentation (Berlin) where I was a member, and for 8 years when I was President of the Scientific Council. Since 1988, I was nominated life honorary member of the International Music Council  belonging to UNESCO and I am now a special advisor for the Council in subjects related to traditional music of Asian countries.

TQH : Thank you Dad . What about your principal publications ?

TVK : I made 27 LP and CD records from 1959 to 1994, one film on Indian Dhrupad singing tradition, 4 tapes on Asian Music (GRM Group of Recherche Musicale, French Radio), 4 video tapes on the Chinese Sheng (mouth organ), Qin (Chinese 7 stringed board zither), Vietnamese Đàn  Tranh  (16-string board zither) Audio Visual Center University Dauphine, 4 books on Vietnamese Traditional Music (in French, German and Italian languages), 1 book on Water Puppets in Vietnam, 187 articles (in French and English languages) on Asian Music, Vietnamese Music, and musicological matters, 14 books, 140 articles (in Vietnamese) on autobiography, researches on Vietnamese traditional music and musicological matters.

TQH :  For the last question, what have you done since you went back to live in Vietnam from 2004 until now?

TVK : Before that, in 2003, I was invited to teach Vietnamese Traditional Music at the Private University of Hùng Vương (Ho Chi Minh City), to give several lectures on Asian Musical  Traditions at the Institute of Musicology of Vietnam (Hanoi). Since 2003 up to the present time, I have been actively participating in the cultural life of the whole country of Vietnam. I attended the Symposium on Court Music in Vietnam organized by the Center for the Preservation of Huế Relics, and together with Mrs. Noriko Nakamura from UNESCO,  helped the Vietnamese scholars to complete a file on Nhã Nhạc, Court Music  in Huế to be presented to UNESCO for the nomination as a master piece of Oral and Intangible Heritage of Humanity. In 2003, Nhã Nhạc Huế Court Music was recognized by UNESCO as a masterpiece of Oral and Intangible Heritage of Humanity. Then, the Vietnamese Embassy in France near the UNESCO Headquarters in Paris has organized a series of concerts in France and in Belgium to introduce Vietnamese Nhã Nhạc to the European audience  and has asked me to be the MC for those concerts. I accepted the invitation and I was happy to perform that task. In 2005, I was invited by the Minister of Foreign Affairs, and the Minister of Culture and Information of the Vietnamese Government to be a Special Advisor helping those Vietnamese specialists to prepare a file on Ca Trù (special vocal art of North Vietnam). At the same time, UNESCO invited me to write an evaluation of the file on Gongs on the High Plateaux in Vietnam. I compared the Gongs ensembles from Vietnam with the gamelan from Java, the Gong from Bali, the Kulingtan from the Philippines and finally proposed Unesco to recognize the “Cultural area of gongs from the High Plateaux in VietNam” as an Oral and Intangible Heritage representing humanity. I have been for several years, from 2006 to the present time, a special advisor of the scholars in charge to prepare the file of Quan Họ  from Bắc Ninh (2006), and of Ca Trù (2007). Recently, I played an active part in the preparation of the file on the Đờn Ca Tài Tử from Nam bộ (2011) . The People Committee of Ho Chi Minh City thanked me on my presentation of Vietnamese traditional music and particularly of the Đờn Ca Tài Tử (entertainment music from the south) throughout the world and gave me the title of “Emerite Citizen” of Ho Chi Minh City.

TQH : I am so sorry for taking so much of your time. I hope that with this interview, all members of the ICTM will know about you a lot better.

TVK : It’s quite all right. I am happy to be interviewed by my beloved son who has taken my place in the framework of the ICTM . Please convey my sincere thanks to the direction of the ICTM for accepting me as a life honorary member.

TQH : Thank you Dad . I wish you a good health and a long life in order to shore up the Vietnamese traditional music in Vietnam and around the world . Now I have to say goodbye to you and I hope to see you soon in Vietnam when I have an occasion to be there, perhaps in the very near future. Good bye Dad, I love you.

TVK : Thank you my dear son. Goodbye and I am looking forward to seeing you soon in Vietnam .

 Image

TRAN QUANG HAI

Executive Board Member of the ICTM

TÀI TỬ revived for Shanghai stage


Tai tu revived for Shanghai stage

Practice makes perfect: Six senior artists rehearse the Indochina Dance and other pieces of tai tu in HCM City a few days before travelling to China, where they will perform at the world conference of the International Council of Traditional Music. — VNS Photo Van Dat

HCM CITY (VNS)— Eight senior Vietnamese artists (six musicians and two singers) yesterday completed rehearsals for performing an old piece of tai tu music at an international event in Shanghai next week.

The artists will also perform some other compositions at the 42nd world conference of the International Council for Traditional Music next Saturday.

The notations for Indochina Dance, a very early tai tu piece performed in France in 1900 on the stage of Indochina Theatre at the Paris International Fair, was accidentally found by Australian- Vietnamese music expert Nguyen Le Tuyen while he was researching the music form at the France National Library last year.

“This is the most ancient piece in the tai tu music history of Viet Nam. It was noted by French researcher Julien Tiersot in 1900. At the performance, famous French ballet dancer Cleo de Merode danced to the music,” Tuyen said.

After finding the music piece, Tuyen announced his discovery to senior traditional musicians in the country, including researcher Bui Trong Hien, who helped him convert the music sheet to the traditional Vietnamese style.

“This surprising discovery is meaningful as Viet Nam is applying for UNESCO regconition of tai tu music as an intangible cultural heritage. It’s surprising that 113 years ago, the music piece was performed in France and now, it will be presented before more than 700 international traditional music experts,” Tuyen told Viet Nam News.

It was also evidence that early in the 20th century, the public and the French colonialists paid attention to tai tu music, a precious Vietnamese asset, Tuyen said.

Tuyen, who lectures at the Australian National University, said his surmise that this was the earliest piece was based on the fact that it was performed 10 years before the earliest book with tai tu compositions was printed in 1909.

Artists Huynh Van Khai, Nguyen Thi Hai Phuong, Vo Vam Kim, Vo Truong Giang, Pham Cong Ty, Phan Minh Duc, Mai Thanh Mai and Pham Van Mon will perform the Indochina Dance as it was done in more than a century ago.

Unchanged melodies

All six artisans agree that the music is not different from what they are playing now, meaning that tai tu has retained its originality for more than a century though its compositions are not written.

“I am proud that the music was introduced in a foreign country 113 years ago. That means tai tu had developed before that for decades,” said Huynh Khai, who has been performing traditional music for 34 years.

He said he was eager to introduce the music again to international experts.

Vu Kim Anh, deputy director of HCM City’s Department of Culture, Sports and Tourism, said UNESCO would take a decision on recognising tai tu in December this year.

“However, pass or fail is not important. This is proof that tai tu music has retained its vitality for a long period of time. For more than 100 years, the music has remained unchanged and developed well,” she said. — VNS

http://vietnamnews.vn/life-style/241721/tai-tu-revived-for-shanghai-stage.html

TRỌNG THÀNH / RFI :Văn hóa cổ truyền : Làm sao để đến được với công chúng ? (phỏng vấn GS Trần Quang Hải, NS Đặng Hoành Loan), 6 tháng 3, 2013


Thứ tư 06 Tháng Ba 2013
Văn hóa cổ truyền : Làm sao để đến được với công chúng ?
Hiện tượng trình diễn đồng ca quan họ bị nhiều chỉ trích tại Việt Nam. Kỷ lục đồng ca với sự tham gia của hơn 3.500 người, tháng 2/2012, tại hội Lim, Bắc Ninh (DR)

Hiện tượng trình diễn đồng ca quan họ bị nhiều chỉ trích tại Việt Nam. Kỷ lục đồng ca với sự tham gia của hơn 3.500 người, tháng 2/2012, tại hội Lim, Bắc Ninh (DR)

Năm 2013 được chọn làm năm văn hóa Pháp – Việt. Trong năm này, sẽ có nhiều chương trình giới thiệu các hoạt động văn hóa nghệ thuật cổ truyền Việt Nam tại Pháp. Trong bối cảnh các di sản nghệ thuật cổ được tôn vinh, cùng lúc với các hoạt động biểu diễn nghệ thuật mang màu sắc cố truyền có xu hướng lan rộng, có nhiều câu hỏi đặt ra là : Nghệ thuật như thế nào xứng đáng được coi là bảo lưu di sản ? Nên quảng bá các nghệ thuật truyền thống như thế nào với bạn bè quốc tế ? Và nếu có thể cách tân, thì cách tân như thế nào ?

Từ những năm gần đây, đặc biệt sau khi một số loại hình nghệ thuật cổ truyền Việt Nam như quan họ, nhã nhạc cung đình, cồng chiêng Tây Nguyên… được Unesco tôn vinh làm di sản phi vật thể của nhân loại, việc giới thiệu quảng bá với công chúng Pháp và công chúng phương Tây nói chung ngày càng được chú ý.

Tạp chí Cộng đồng của RFI tuần này đặc biệt giới thiệu với quý vị về văn hóa quan họ, như một ví dụ cho các cách nhìn khác nhau xung quanh vấn đề gìn giữ, phát huy và cách tân các di sản nghệ thuật cổ truyền. Quan họ là một di sản có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Việt Nam, nhất là tại xứ Kinh Bắc, và được Unesco thừa nhận là di sản nhân loại năm 2009, tiếp theo nhã nhạc cung đình Huế và không gian cồng chiêng Tây Nguyên.

Trước hết, mời quý vị theo dõi phần phỏng vấn với nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học Trần Quang Hải. Để quảng bá tốt các môn nghệ thuật cổ truyền Việt Nam, theo giáo sư Trần Quang Hải, cần phải giới thiệu những gì trung thực nhất với truyền thống.

Trung thực với truyền thống : Điều công chúng phương Tây mong đợi

RFI : Xin ông cho một số điều lưu ý để quảng bá tốt nghệ thuật cổ truyền Việt Nam ra bên ngoài.

Ông Trần Quang Hải : Điều thứ nhất là muốn đi quảng bá, thì phải tuyển lựa những nghệ nhân có trình độ cao, và làm đúng theo truyền thống. Đừng có nên, vì cái thị hiếu, muốn vui lòng người Âu Châu, mà pha trộn những khía cạnh gọi là « giao lưu văn hóa », thì sẽ đi đến chỗ làm cho người Pháp sẽ thất vọng. Tại vì, họ muốn tìm hiểu những cái gì gọi là nguyên xi và trung thực với truyền thống, hơn là để làm vui nhộn, theo những hình ảnh múa, theo kiểu vũ đạo, để đệm cho những bài hát.

Ông Trần Quang Hải

06/03/2013

Theo như tôi thấy, ở Việt Nam bây giờ, có xu hướng những bài hát dân gian, những bài hát dân tộc gọi là « canh tân hóa », thêm vào những tiết mục, thêm vào những điệu hòa âm, phối khí, vũ đạo đệm vào mất đi tính chất nguyên xi của một truyền thống nào đó. Thành ra cái đó rất uổng. Nếu chúng ta hiểu biết được cái đòi hỏi của người Tây phương, thì chúng ta sẽ làm những chương trình đúng theo tiêu chuẩn. Tại vì tôi thấy rằng, các xứ khác, giống như xứ Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc, khi họ đi sang Tây phương, họ trình diễn các tiết mục đúng theo truyền thống, chứ không phải có những màu sắc, màu mè, hay làm cho chương trình nó được hoành tráng.

Nghệ thuật của chúng ta không phải là nghệ thuật sử dụng đa âm, tức là polyphonie, hay là các điệu màu mè, mà chúng ta cần làm những loại nhạc đơn điệu, tức là monodie, chú trọng đặc biệt đến khía cạnh gọi là dịu dàng, tha thiết, và đặc biệt là lồng vào trong loại nhạc ngũ cung và những truyền thống mà chúng ta phải phát triển nhiều hơn.

RFI : Xin ông cho biết một thí dụ cụ thể.

Ông Trần Quang Hải : Ví dụ như trong điệu hát quan họ. Ở xứ Việt Nam, quan họ có ba loại. Thứ nhất là quan họ chay, tức là quan họ làng, hát ở trong làng và hát theo đúng truyền thống, có lễ kết nghĩa, tục ngủ bọn, và hát những kỹ thuật gọi là « vang, rền, nền, nảy ». Phải chú ý, phải học nhiều năm, chứ không phải học vài bài, theo như tôi được nghe ở xứ Việt Nam bây giờ. Thứ hai là có quan họ đoàn, tức là những bài dân ca quan họ, đã được đổi đi một chút, tức là theo điệu thanh nhạc. Cái đó có thể là mới mẻ đối với người Việt Nam. Cũng như hội Lim – một hội rất lớn về quan họ vào dịp Tết, nhưng có điều bây giờ ở Việt Nam lại đưa ra cách gọi là « hát du thuyền ». Tức là người quan họ, ngồi trên thuyền, dùng máy vi âm, hát to lên, rồi đi dọc theo bờ sông, rồi đưa cái nón lá ra, để hứng tiền người ta thảy vào trong đó. Cái đó là hình thức đi xin tiền, giống như hát xẩm ngày xưa, thì cái đó là đi sai đường lối. Hay là, hát thật nhiều giọng với nhau, thì hoàn toàn sai. Vì quan họ là chỉ hát, một cặp nữ đối với một cặp nam. Thành ra, vấn đề chúng ta phải phát triển là làm sao hát không có đệm nhạc, hát mà không có làm rùm beng, mà làm sao cho thấy cái kỹ thuật hát nó đi đến cái chỗ rất đặc biệt, mà bên Châu Âu này không có. Đó là cái mà tôi thấy rằng mình nên thận trọng khi đi biểu diễn ở xứ ngoài.

Cái vốn cổ phải giữ làm căn bản

Mình tự hào về cái vốn cổ của mình, thì mình phải làm sao giữ cho được đúng theo truyền thống, thì tôi thấy là hay nhất, chứ không có gì phải thay đổi hay biến chế, đặng cho nó hợp với thị hiếu của đại đa số quần chúng.

Cái vốn cổ của mình, mình giữ cái đó đi, làm căn bản. Ngoài ra, có những sự phát triển, thì mình để cho phát triển. Cái căn bản mình phải giữ hoài, thì từ đó nó mới đẻ ra nhiều chuyện khác nữa. Chứ bây giờ, mình lo mình phát triển mà quên đi cái nguồn gốc, cái vốn cổ, thì dần dần sẽ mất đi, sẽ không còn là vốn cổ nữa.

Tôi muốn lưu ý rằng, khi muốn đưa một đoàn hát, hay đoàn nghệ thuật sang ngoại quốc, thì chúng ta phải ý thức rằng, làm sao đưa nghệ nhân nào có trình độ cao, và hát đúng theo truyền thống, chứ đừng đưa những người trẻ đẹp, mặc quần áo cho thiệt đẹp, đi lên sân khấu để trình diễn. Đối với mình, cái vấn đề nghệ thuật là căn bản, chứ không phải là màu sắc. Làm sao những nghệ nhân (đi quảng bá) phải là những người có căn bản vững chắc, có thể, khi trình diễn ở hải ngoại, đáp ứng được những cái gì mà người Tây phương chờ đợi, tức là sự trung thực với truyền thống.

Di sản xưa và quan họ hôm nay

Ở trong nước, cũng cùng mối lo ngại với ông Trần Quang Hải, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiển nhấn mạnh đến việc « di sản quan họ đã thực sự mai một từ những năm 60 của thế kỷ trước », mặc dù di sản này vừa được Unesco nhìn nhận. Bên cạnh đó cũng có quan điểm, như của nhà nghiên cứu Trần Minh Chính, thì cho rằng : Cần phải thừa kế tối đa các tinh túy của di sản, nhưng điều cốt yếu nhất là tạo dựng được « nền văn hóa quan họ của ngày hôm nay ». Theo ông Trần Minh Chính, « con người quan họ, nhất là lớp trẻ, bắt đầu lúng túng với cảnh ‘‘bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước…’’ ».

Những nghệ nhân – người lưu truyền các « di sản sống » – suy nghĩ như thế nào về văn hóa quan họ ngày hôm nay ? Sau đây là một số chia sẻ của chị hai Thềm (Bắc Ninh), một nghệ nhân nổi tiếng xứ Kinh Bắc :

Chị Nguyễn Thị Thềm

06/03/2013

Chị hai Thềm : Thật ra trong lối chơi quan họ, phải là những người nào rất tâm huyết mới theo được lối chơi này. Bởi vì, chơi quan họ ngày xưa, người ta ý tứ khiêm nhường, mà người ta lịch sự, tinh tế lắm. Ví dụ như, đi hát cả một buổi tối ở « nhà chứa », thì nam ngồi một bên, một bên nữ ngồi, cái ngọn đèn dầu ở giữa, thì có khi hát cả tối có khi không nhìn thấy mặt nhau. Đấy là những cái tinh tế và những cái rất là khác biệt với những loại hình ca hát khác. Ví dụ như ngày xưa, chơi thì đúng thực là chơi tàn canh, rạng sáng. Hát suốt đêm đến rạng sáng, rồi nghỉ, rồi lại hát tiếp. Nhưng mà đấy là theo như thời ngày xưa, còn theo như bây giờ, thì cũng không hát được như thế, vì xã hội bây giờ, cái công việc nó cũng không cho phép mình được chơi bời như thế. Ví dụ trong khuôn khổ hạn hẹp một đêm thôi. Ví dụ như ngày xưa các cụ chơi, các cụ giữ lề, giữ lối, các anh hai, chị hai, chơi với nhau gọi là tình tứ, tình cảm lắm, yêu vụng, nhớ thầm, chứ không như bây giờ, họ đi chơi bời với nhau, có khi đi tới hôn nhân, nhưng ngày xưa các cụ chơi kết chạ các cụ không như thế đâu.

Bây giờ, chúng tôi ở đây, cốt lõi là mình phải gìn giữ những gì cổ, nhưng đồng thời vẫn dạy cho các em những cái phát triển lên, là nó phải lồng nhạc vào, để nó biểu diễn trên sân khấu, ví dụ như ở trong tỉnh, mở những cái cuộc liên hoan tiếng hát của các em bé chẳng hạn, thì mình phải đưa lên sân khấu, mình phải lồng nhạc. Các em mà cho ngồi hát ê a, như tôi và các cụ, thì các em cũng chưa hát được. Cho nên bây giờ cũng khuyến khích các em phải học quan họ nhiều, thì mình phải có các bài hát của lứa tuổi thiếu nhi hoặc mình sáng tác thêm những lời mới, đưa các em để tham gia sân khấu biểu diễn liên hoan.

Còn đồng thời mình vẫn dạy thêm các em những cái gì của vốn liếng cổ của mình, mình vẫn cứ giữ.

Càng thêm bạn, càng thấy cần phát huy lối chơi cổ

Tiếp theo đây là tiếng nói của anh hai Hiển (Bắc Ninh), một liền anh được lớn lên trong một gia đình nhiều đời theo quan họ :

Anh hai Hiển : Tôi được đắm mình trong dòng sữa dân ca. Thứ nhất là tôi học lối chơi quan họ, sau là tôi học hát quan họ. Từ đó, tôi đã có sự tâm huyết rồi. Cứ mùa trảy hội, là tôi đi các làng tôi trảy hội, du xuân. Từ đó tôi được kết bạn rất nhiều, các quý vị từ các tỉnh, thành đến với tôi. Tôi có cảm nhận là cuộc đời tôi cứ mỗi năm tôi lại vui thêm lên, nhân rộng lên, do là tôi được đi ra ngoài, tôi biết ứng xử quan họ, tôi cũng biết cách hát quan họ với du khách. Từ đó du khách thân thiện với mình hơn. Cứ lệ làng là các du khách đều hứa hẹn, hẹn hò sẽ về quê hương của chúng tôi. Thứ nhất là để biết cảnh hội, thứ hai là để tìm hiểu cái nét văn hóa ẩm thực nơi đây.

Ông Ngô Công Hiển

06/03/2013

Tôi cũng rất tự hào là xung quanh hàng xóm, hoặc dân làng cứ ca ngợi là tôi được đi ra ngoài lắm bạn bè về, cũng chẳng phải học cùng, chẳng phải họ hàng gì cả, mà cứ ngày hội là đông chật ních hết cả nhà. Nhưng mà người ta chỉ biết là tôi chơi rộng và quan hệ thôi, nhưng mọi người cũng chưa biết cái sâu sắc của người chơi quan họ như thế nào. Cứ một năm đi trẩy hội là tăng thêm bạn bè lên, rồi các du khách từ xa đến nhiều hơn, từ đó tôi nghĩ là mình càng phải phát huy, làm sao càng phải tìm hiểu, phát huy được cái lối chơi càng nhiều hơn nữa.

Vì đi ra ngoài, tôi ít gặp được các bậc tiền bối có cái lề lối chơi như ngày xưa. Bây giờ các bậc tiền bối hầu như đã mất rồi. Những bậc từ 80 trở lên còn rất ít. Được gặp thì tôi cũng hay hỏi, hay lân la tìm hiểu các cụ ngày xưa chơi quan họ như thế nào, những lời văn nào hay hay, thì mình lại tiếp thu. Tôi tâm huyết là giữ được những lời văn như thế, để truyền cho thế hệ sau.

Dịch vụ quan họ trong thời hiện đại

Các tỉnh cũng có những ngày lễ, ngày hội, người ta nhờ về xây dựng cho một buổi tối vui liên hoan văn nghệ cho dân làng, hoặc chương trình chúc thọ, người ta cũng muốn nghe những làn điệu dân ca quan họ, rồi đám cưới, rồi tân gia, nhà mới, khách sạn… Nói chung họ đều sử dụng dòng nhạc dân ca này. Thì chúng tôi gặp chương trình nào, thì chúng tôi dàn dựng theo đề nghị của khách hàng.

RFI : Còn cái lối chơi quan họ, thì nó có thể hiện qua các chương trình này không ?

Anh hai Hiển : Không. Nếu lối chơi quan họ cổ mà mang ra các tỉnh bạn, thì họ không hiểu, họ chưa hiểu, thì mình cảm giác như là bị « cô đọng lại ». Cái lối chơi cổ tôi chỉ mong gìn giữ được ở vùng quê Kinh Bắc thôi. Thời hiện đại này, mình… những bài cổ thì họ có hiểu đâu, mà không hiểu, thì mình mang ra cũng bằng thừa thôi, cho nên nó khác nhau là như thế. Thời hiện đại mình chỉ mang những lời ca mới, cũng theo điệu quan họ, nhưng lời mới là nhiều.

Thật sự là thế này. Bây giờ là thời hiện đại, chúng tôi đi chơi xuân, « làm chương trình », chúng tôi cũng phải có chút hoa hồng mới làm được. Thứ hai là chúng tôi cũng phải bảo đảm cuộc sống gia đình, có đúng không ? Tất nhiên là thời hiện đại, « vấn đề nào » có tiền là bọn tôi làm.

Lề lối xưa mộc mạc, nhưng mà ngấm

Nhưng mà tôi rất thích và mong muốn giữ được lề lối chơi quan họ ngày xưa, để giữ và phát huy được lối chơi cổ : Ăn quan họ, nói quan họ, rồi cười quan họ… đủ kiểu mới gọi là chơi quan họ. Chứ không phải (chỉ) là biết hát quan họ, mà đã vào chơi. Mình nghĩ là làm sao giữ được các lề lối, lấy những ngôn ngữ, lời văn, ý hay ngày xưa, tuy rằng rất mộc mạc, nhưng mà chứa đựng được rất chi là nhiều cái tình trong cái lời nói đó. Thì mới có cái ngấm.

Còn hiện đại bây giờ, theo nhạc, theo mix. Do cái trào lưu, thì cái dòng dân ca quan họ này rất phát triển và lan tỏa, cho nên là, nếu như không có nhạc, không có mix, thì ra không gian rộng, thì cũng không tỏa được hết.

Tôi mong các quý vị bên ấy, làm sao có cái thông điệp tôn vinh, có những cái tạo điều kiện, về vùng quê Kinh Bắc. Hát quan họ thì đã đành rồi, nhưng xây dựng được cái lối chơi quan họ mới là cái điểm nhấn. Tại sao bây giờ chúng tôi đi, kể cả các du khách mời chúng tôi đến các nhà hàng, khách sạn, chúng tôi cũng phải nói những lời của các cụ ngày xưa, có khi các du khách cũng chưa được nghe bao giờ.

Thật ra là, nếu (thế hệ) chúng tôi mà không (tiếp nối) nữa, thì may ra chỉ có ngọn, còn gốc không biết ở đâu, trôi đến đâu. Tôi chỉ lo là do điều kiện, do xã hội nó đưa đẩy, do họ không để ý nữa, thì… Mong phải có những gì để giữ gìn, phát huy, bảo tồn… cho thế hệ sau này mới còn cái gốc. Lo là thế thôi, nhưng chúng tôi vẫn còn ở đây, thì cái lối chơi vẫn có, vẫn còn.

Cách tân nghệ thuật truyền thống : mâu thuẫn giữa nhà nghiên cứu và nhà quản lý

Khép lại chương trình là tiếng nói của nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan từ Hà Nội. Ông Đặng Hoàng Loan giới thiệu hai quan điểm đối lập nhau về vấn đề tiếp nối truyền thống quan họ, cũng như nhiều môn nghệ thuật cổ truyền khác, tại Việt Nam. Không phải nghệ thuật cổ truyền nào cũng sẵn sàng cho việc cách tân. Trong thời gian gần đây, có nhiều thử nghiệm cách tân di sản nghệ thuật cổ truyền đến từ chính bản thân những người lưu truyền di sản, đặc biệt trong một số môn nghệ thuật mang tính tín ngưỡng như : hát văn, hát then…

Ông Đặng Hoành Loan : Cách nhìn của tôi cũng tương đối thống nhất với một số học giả ở Việt Nam hiện nay, thế nhưng nó lại không thống nhất lắm với các nhà quản lý văn hóa, đặc biệt những nhà gọi là « văn hóa quần chúng ». Thực hiện cái « văn hóa quần chúng » hiện nay, thì có hai ý kiến khác nhau. Cái ý kiến thứ nhất, nói rằng là phải giữ nó trong không gian văn hóa truyền thống, và tất cả các sinh hoạt của nó là phải theo phương thức truyền thống. Thì cái đó nó căn cứ theo yêu cầu của Unesco là, cái hiện tượng văn hóa ấy nó phải là tập tục sinh hoạt có từ thời xưa và được bảo tồn trong đời sống cộng đồng cho đến ngày nay, vì thế gọi là nó có « gốc gác » và nó có tính truyền thống của nó. Cái thứ hai nữa là, cùng với tính truyền thống đấy, (vấn đề là) con người Việt Nam hiện nay còn yêu thích nó không và thích sinh hoạt theo lối đó không, thì cái hồ sơ quốc gia phải trả lời rất minh bạch. Thì đấy là cái quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam, mà tôi cho rằng rất chính xác. Năm ngoái, có một cuộc hát quan họ với sự tham gia của hàng nghìn người, thì người ta cho rằng đấy là « phi truyền thống » và làm mất đi cái tính nghệ thuật, tính âm nhạc của chính bản thân quan họ.

Ông Đặng Hoàng Loan

06/03/2013

Thế nhưng các nhà văn hóa quần chúng hiện nay, thì họ cho rằng bây giờ phải làm như thế, thì mới đưa được âm nhạc cổ truyền, nghệ thuật cổ truyền vào đời sống con người hiện đại. Mà muốn đưa được vào đời sống con người hiện đại, thì họ cho rằng phải cách tân. Cách tân tức là cho nó đông người lên, cho nó sinh hoạt với đầy đủ các thiết bị hiện đại. Thứ hai là phải tạo cho nó những sân khấu lớn để nó có thể được trình diễn trên đó. Hiện nay hai việc đó vẫn cứ tồn tại và vẫn có những ý kiến trái ngược. Hiện nay đây là một mắc mớ khó giải quyết ở Việt Nam.

Đối với nghệ nhân, người ta rất thích trở lại cái không gian truyền thống, mà người ta hát nhỏ nhẹ trong nhà, trong các sinh hoạt nhỏ, vì nó vẫn thể hiện được toàn bộ cái tình cảm, cái nội tâm của họ đối với nhau. Vì thực sự ra, chúng ta biết, quan họ sinh ra để hát trong tất cả các tập tục giao tiếp, tình cảm con người ở Kinh Bắc, chứ nó không phải là một trình diễn nghệ thuật, với người thưởng thức và người ca hát. Hiện nay, chính cái điều mà các nhà nghiên cứu không tán thành lắm, tức là quan họ biến thành nghệ thuật trình diễn. Có nhiều ý kiến cho rằng như thế nó không đúng với truyền thống mà bản thân nó có từ xưa đến nay.

Riêng ý kiến của tôi, thì tôi cho rằng, người dân, nghệ nhân dân gian người ta muốn giữ lại tất cả những gì mà họ biết được từ xưa đến giờ. Họ rất thích trong việc họ gìn giữ, biểu diễn những nghệ thuật đấy đúng như thời xưa. Cho nên, phần lớn khi chúng tôi tổ chức gặp gỡ các nghệ nhân, thì các cụ nói, bây giờ làm mới nó đi, thì không biết để làm gì ? Vì nếu mới, so với mới hiện nay, thì không mới được, còn so với cái cũ, thì không cũ được. Thì như thế là, nó nằm ở lưng chừng. Đấy là ý kiến của nghệ nhân.

Chúng ta biết rằng, năm nay các cụ quan họ rất thích tự hát với nhau, để tìm đời sống tinh thần thưở xưa mà nó còn tồn tại lại trong tâm hồn của họ. Thì tôi cho là giữa nghệ nhân, giữa các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý hiện nay đang chưa có được một cái nhìn thống nhất, toàn diện về cổ truyền và cách tân, chính xác là như thế.

Hát văn, hát then : Nghệ nhân tự cách tân để thu hút công chúng

RFI : Vậy trong các môn nghệ thuật cổ truyền khác ở Việt Nam có sự cách tân hay không ?

Ông Đặng Hoành Loan : Những nghệ thuật « tâm linh » (tín ngưỡng) như là hát văn, hát then… thì lại được bảo lưu rất là tốt. Thì người ta lại không cách tân mấy, thì chính là tự các nghệ nhân, những người hành nghề, người ta cách tân, chúng ta thấy hiện tượng tự cách tân rất lớn. Các nghệ thuật ấy, thì bên ngoài không cách tân nó được, nhưng tự nó thay đổi nó, thì thay đổi được. Thí dụ như, hát văn bây giờ, người ta đưa nhạc cụ mới vào, tức là đưa cả đàn organ vào. Nghệ nhân người ta đưa vào thôi, chẳng ai bảo người ta cả. Người ta đưa thêm những bài hát mới vào. Như thế tức là người ta tự vận động, không ai yêu cầu họ cả. Họ tự vận động với mục đích kéo những người yêu thích cái nghệ thuật ấy (và tín ngưỡng ấy) đến gần nghệ thuật ấy hơn, họ làm cho hấp dẫn hơn. Có nhiều nhóm hát văn đã tạo ra nhiều điệu hát, nhiều âm nhạc khác nhau.

Tôi cho rằng, để cho nghệ nhân họ tự thay đổi, thì hay hơn tác động (từ bên ngoài), vì thường tác động, thì nó biến đổi theo chiều hướng khác. Để cho các nghệ nhân làm, thì tốt hơn là « chúng ta » tác động và tổ chức, vì thường nó sai lệch đi nhiều.

RFI xin chân thành cảm ơn anh Ngô Đức Hiển, chị Nguyễn Thị Thềm, các nhà nghiên cứu Trần Quang Hải và Đặng Hoành Loan đã dành thời gian cho tạp chí

Đàn Tranh được phổ biến, thịnh hành nhất vào thời gian nào thưa chú? (câu hỏi đặt cho GS Trần Quang Hải)


Đàn Tranh được phổ biến, thịnh hành nhất vào thời gian nào thưa chú?

Thơ Thơ: Đàn Tranh được phổ biến, thịnh hành nhất vào thời gian nào thưa chú?

Music Professor Nguyen Vinh Bao in the south playing the zither
Phạm Thúy Hoan

Trần Quang Hải: Đàn tranh được thịnh hành nhứt từ sau năm 1975 khi người Việt đi tỵ nạn khắp năm châu. Trong xứ, âm nhạc viện Hà Nội và âm nhạc viện TP HCM (Saigon) có nhiều lớp dạy đàn tranh. Học sinh ghi tên học rất đông lên hàng trăm học trò. Nữ nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan ở Saigon đã mở lớp dạy nhạc dân tộc và ban nhạc Tiếng Hát Quê Hương có nhiều em bé đàn tranh rất giỏi. Nữ nhạc sĩ Hải Phượng, con gái của Phạm Thúy Hoan, là người đàn tranh thuộc hạng giỏi nhứt nhì ở Việt Nam. Cô đã từng sang Pháp trình diễn, và được mời đi sang Nhựt, Đại Hàn và nhiều quốc gia khác ở Âu Á. Cô đoạt giải huy chương vàng đàn tranh năm 1992. Nữ nhạc sĩ Thanh Thủy, giảng viên đàn tranh ở âm nhạc viện Hà nội , đoạt huy chương vàng đàn tranh ở Việt Nam và được mời đi trình diễn ở nhiều nước ở Âu và Á . Nhạc sư Vĩnh Bảo tiếp tục làm đàn tranh , kìm , và mở lớp dạy đàn tranh trên mạng cho nhiều người ở hải ngoại học.

Hải Phượng playing the zither
Hải Phượng

Thanh Thủy playing the zither
Thanh Thủy

Trong khi đó ở hải ngoại có rất nhiều nhạc sĩ đàn tranh đã mở lớp dạy đàn tranh và thu hút rất nhiều trẻ em Việt Nam. Ở Pháp có nữ nhạc sĩ Phương Oanh đã mở nhiều lớp đàn tranh tại Paris, ngoại ô Paris từ đầu thập niên 80, và nhiều lớp ở các quốc gia Âu châu như Bỉ, Thụy Sĩ, Na Uy, Hòa Lan, Đức, vv…

Phương Oanh playing the zither
Phương Oanh

Quỳnh Hạnh playing the zither
Quỳnh Hạnh

Hồ Thụy Trang playing the zither
Hồ Thụy Trang

Ngoài ra nữ nhạc sĩ Quỳnh Hạnh cũng có mở lớp dạy đàn tranh tại Paris. Nữ nhạc sĩ Hồ Thụy Trang tới Pháp năm 2000 cũng có mở lớp dạy đàn tranh ở Pháp và Thụy Sĩ. Cả ba nữ nhạc sĩ đều có trình diễn đàn tranh thường xuyên, đóng góp nhiều cho việc bảo tồn nhạc đàn tranh ở Pháp.Ngoài ra còn có GS Trần Văn Khê là người đã thành lập trường Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương tại Paris từ năm 1960 và đã đào tạo hàng trăm học trò Việt và Âu châu. Tôi đã thực hiện 23 dĩa hát về đàn tranh tại Paris và đã nhận được hai giải thưởng Academie du Disque Charles Cros của Pháp năm 1983 và 1996 với sự đóng góp của Bạch Yến.

A woman (Trần Thị Thủy Ngọc) seated and smiling in a coffee shop
Trần Thị Thủy Ngọc

Em gái tôi, Trần thị Thủy Ngọc, đàn tranh rất đúng truyền thống, đã dạy nhiều năm tại Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông Phương ở Paris và có đàn tranh chung với thân phụ, GS Trần Văn Khê hai dĩa CD xuất bản tại Paris.

Ở Canada có nhạc sĩ Đức Thành sử dụng đàn tranh rất tài tình. Anh đã thực hiện cuốn video dạy đàn tranh hàm thụ. Nhạc sĩ Khắc Chí ở Vancouver (Canada) đàn

tranh và đàn độc huyền rất điêu luyện, đã cùng với nữ nhạc sĩ Ngọc Bích thực hiện hai CD về nhạc Việt trong đó có đàn tranh. Nữ nhạc sĩ Lê Kim Uyên từ Úc sang định cư ở Canada, viết luận đề cao học về nhạc Việt, rất giỏi về đàn tranh, thường trình diễn tại Canada.

Nguyễn Thuyết Phong playing the zither
Nguyễn Thuyết Phong

Tại Hoa Kỳ có GS Nguyễn Thuyết Phong chuyên về nhạc Phật Giáo nhưng rất giỏi về đàn tranh và một số nhạc khí khác. Anh giảng dạy nhạc Việt Nam tại một số trường đại học và trình diễn nhiều nơi tại Hoa Kỳ với đàn tranh, đàn kìm, trống. Bác sĩ Đào Duy Anh rất điêu luyện về đàn tranh, thường trình diễn đàn tranh trước khi trở thành bác sĩ

portrait image of Ngọc Dung
Ngọc Dung

y khoa. Nữ nhạc sĩ Ngọc Dung ở San Jose, Cali, Hoa kỳ, là một người đàn tranh nhà nghề, trước là giáo sư đàn tranh thuộc nhóm Hoa Sim ở Saigon trước 1975. Cô thành lập ban cổ nhạc cải lương ở San Jose và trình diễn tại Hoa Kỳ với đàn tranh hay đàn chung với ban nhạc cải lương.

Lê Tuấn Hùng with his zither smiling at the camera
Lê Tuấn Hùng

Tại Úc châu, có Lê Tuấn Hùng và Đặng Kim Hiền là một cặp nhạc sĩ rất tài danh, đóng góp nhiều cho nhạc Việt Nam tại Úc châu. Tiến sĩ dân tộc nhạc học Lê Tuấn Hùng viết luận án tiến sĩ về đàn tranh, viết một số nhạc phẩm đương đại cho đàn tranh và cũng là nhạc sĩ đàn tranh có nhiều tài năng. Nữ nhạc sĩ Đặng Kim Hiền, huy chương vàng hát dân ca ở Việt Nam, thành hôn với Lê Tuấn Hùng, đàn tranh, đàn độc huyền, đàn kìm và hát dân ca rất giỏi. Hai vợ chồng này đã mang lại cho nhạc Việt Nam những bông hoa âm nhạc hiếm có với tiếng đàn tranh đầy màu sắc mới lạ.