Tag Archives: khái niệm về ca huế

KHÁI NIỆM VỀ CA HUẾ


KHÁI NIỆM VỀ CA HUẾ 05-12-2013

Nếu kinh đô Thăng Long xưa từ trong cung phủ đã có một lối hát cửa quyền có nguồn gốc dân gian – Hát cửa đình, phát tán thành một thành phần cổ truyền chuyên nghiệp là hát Ả đào vẫn thịnh đạt dưới thời vua Lê chúa Trịnh,thì kinh đô Phú Xuân sau này, hoặc là đã từ trong dinh phủ của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong phát tán thành một lối gọi là Ca Huế (gồm cả cađàn).

   Vậy cũng có thể gọi Ca Huế là một lối hát Ả đào của người Huế, một lối chơi của các ông hoàng bà chúa xét trên quan điểm tiếp biến trong tiến trình của một lối hát truyền thống và tiến trình lịch sử từ Thăng Long đến Phú Xuân-Huế. Tất nhiên, ở đây chỉ đề cập trên phương diện cái tương đồng; ít nhất là trong lối chơi: văn chương, tri âm tri kỷ, sự trau chuốt của giọng hát, ngón đàn, nhạc cụ (đàn Nam cầm và đàn Đáy); không gian sinh hoạt (nhạc phòng: tư thất, dinh phủ). 

      Về Nam cầm – đàn Nam, tương truyền là một nhạc khí dùng trong Ca Huế tồn tại chưa đầy một trăm năm đã mất tích. Theo nhà nghiên cứu Bửu Cầm – Giáo sư Viện Đại học Sài Gòn trước năm 1975 – người chế tác ra nhạc khí này là là Nguyễn Phúc Dục, một vị hoàng thân đời Nguyễn chúa Diệu Tông (1765 – 1777). “Dục rất tinh nhạc lý, xét nghiệm âm điệu tiết tấu chẳng bao giờ sai lầm. Thường hiềm vì điệu nam rất cao, đàn xưa nhấn nhịp không đúng, Dục mới chế ra cây nam cầm. Đàn có tám dây, thùng dày và vuông, cần đàn dài ba thước mộc, hợp đàn cầm, đàn sắt và đàn tỳ bà làm một; tiếng rất thanh, lấn cả đàn tranh, đàn nguyệt”. Đẩu nương, một nữ danh cầm ở An Cựu là người nổi tiếng đánh nam cầm nhưng sau khi chồng mất đã bỏ hẳn không theo nghiệp cầm ca. Chính vì mấy điệu đàn nam cầm ai oán và số phận truân chuyên của một tài sắc Đẩu nương mà Tuy Lý Vương Miên Trinh (1820 – 1897), con thứ 11 của vua Minh Mạng – một “Ông hoàng thơ” trong Tùng Vân thi xã thời Tự Đức – đã cảm khái viết nên bài thơ “Nam cầm khúc” trong bộ “Vỹ Dạ hợp tập” của ông. Đàn nam cầm đã thất truyền và đã vắng bóng trong nhạc thính phòng Huế, cùng với nữ danh cầm của nó là Đẩu nương…×Ads By minibar

Ca Huế, cũng như Ca trù và Đờn ca Tài tử là loại nhạc thính phòng thuộc dòng cổ truyền chuyên nghiệp của Việt Nam. (Chúng tôi không phân chia theo kiểu Âm nhạc dân gian và Âm nhạc cổ truyền, chuyên nghiệp bác học, mà đều xếp vào loại nhạc cổ truyền Việt Nam, trong đó có: cổ truyền chuyên nghiệp và cổ truyền dân gian). Trong âm nhạc cổ truyền xứ Huế, Ca Huế thuộc thành phần cổ truyền chuyên nghiệp, mang sắc thái địa phương rõ nét bởi nó gắn chặt với đặc điểm ngữ âm ngữ điệu của giọng nói Xứ Huế, hoặc nói một cách khác mang tính hệ quả là do mối quan hệ gắn bó với thành phần cổ truyền dân gian – dân ca xứ Huế. Đây là một đặc điểm trong tiến trình phát triển của Ca Huế và cũng là một đặc điểm của nền âm nhạc cổ truyền xứ Huế; nơi mà hai thành phần âm nhạc cổ truyền chuyên nghiệp (nhạc Cung đình, Ca Huế), thành phần cổ truyền dân gian (dân ca: Hò, vè, lý…) thường xuyên tác động qua lại, gắn bó, thâm nhập, thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình phát triển.

Dù Ca Huế mang rõ nét tính chất đặc thù địa phương nhưng nó đã không chỉ bó hẹp trong một xứ Huế. Ngoài yếu tố đặc thù và một số đặc điểm vốn có của mọi thể loại nhạc cổ truyền thì nghệ thuật Ca Huế vẫn là khởi nguyên từ văn hóa nghệ thuật cội nguồn Thăng Long, hội tụ từ truyền thống văn hóa âm nhạc dân tộc. Vì vậy trong giai đoạn thịnh đạt đã lan tỏa trở lại với cội nguồn, thâm nhập và trở thành một thành phần tương hợp trong hầu hết dân ca vùng Trung du và đồng bằng Bắc bộ. Chẳng hạn: hơi Huế, giọng Lý, giọng Kinh ở khối giọng Vặt, giọng Ngoại trong hát Quan họ, hát Xoan, hát Ghẹo, hát Chèo v.v…

Hướng phát triển về phía Nam của Ca Huế thì rõ ràng đã sản sinh ra lối nhạc tài tử như nhà nghiên cứu Gs. Trần Văn Khê nhận xét: “lối “nhạc tài tử” trong Nam là con đẻ của lối “ca Huế” miền Trung”… “Những người học nhạc trong Nam, cũng “đàn Huế” – Ông nội chúng tôi, ông Trần Quang Diệm chuyên đàn tì bà theo lối Huế và cô ruột chúng tôi bà Trần Ngọc Viện cũng thường đàn Cổ bản Huế, kim tiền Huế…”

Một số tài liệu công bố vào nửa đầu thế kỷ XX, Tồn cổ lục [1], cho ta biết Ca Huế có một thời được gọi là Ca lý, Lý kinh: “Lối ca lý thịnh hành trước ở trong Kinh, Quảng, rồi dần dần lan mãi ra ngoài Bắc, lối này phải đặt theo dịp đàn mà hát theo tiếng Kinh, Quảng; Sài Gòn cũng có một lối hát lý giống như lý kinh. Nhưng xét ra lối hát lý thời phần nhiều là những điệu bi ai, thê thảm, hay là giọng huê tình, dễ khiến người ta chau mày mà rơi lụy.”…

Các ấn phẩm tại Hà Nội thời kỳ này cho biết Ca Huế và kể cả nhạc Tài tử được giới cầm ca Hà thành gọi là “Ca lý”. Các tuyển tập lời hát các điệu Ca Huế như “Các bài Ca lý” xuất bản tại Phúc An hiệu 51, 59 phố Hàng Gai, Hà Nội năm 1927 và “Bài hát năm canh”, “Lý giao duyên vọng phu” năm 1929. Tập “Các bài ca lý” được giới thiệu 9 điệu Ca Huế tiêu biểu: Cổ bản (3 bài), Lưu thủy, Hành vân, Nam ai (2 bài), Nam thương, Nam bình, Tứ đại cảnh, Vọng phu và Giao duyên. Qua việc in ấn, kinh doanh, chứng tỏ sự lan tỏa trở lại với cội nguồn của Ca Huế đối với Thăng Long – Đông Đô giai đoạn này là khá sâu rộng.

 

 

 

             

 

 

     Nói là Ca Huế gắn với ngữ âm của giọng nói Xứ Huế, mà giọng Huế thì không chuẩn như Hà Nội trong vấn đề xử lý các dấu giọng, nên với đặc tính “cạn và hẹp” giọng nói Huế đã để lại dấu vết trong đường nét giai điệu Ca Huế một tính chất đặc hữu, khác với dân ca nhạc cổ từ đèo Ngang trở ra và từ Hải Vân trở vào như ý kiến của Ưng Bình Thúc Giạ Thị trong sách Bán buồn mua vui: “Ca mà gọi là ca Huế vì thanh âm người Huế hiệp với điệu ca này, mà phía Bắc xứ Huế như người Quảng Trị với Quảng Bình cũng ca được. Còn từ Linh Giang dĩ Bắc, Hải Vân Quan dĩ Nam, dầu có người ca mà ca giỏi thế nào cũng có hơi trại bẹ. Đó là câu chuyện ai cũng biết rồi”. Tuy vậy một số nhà nghiên cứu còn căn cứ vào sự giao thoa ảnh hưởng của các truyền thống văn hóa khác trong lịch sử văn hóa Việt Nam cho rằng: điệu Nam trong ca Huế do ảnh hưởng nhạc Chăm mà có. Đến nay vấn đề này vẫn đang bỏ ngõ vì thiếu chứng liệu.×Ads By minibar

 

Ca Huế có nguồn gốc từ tế nhạc cung đình và các sáng tác mới của các ông hoàng, bà chúa, văn nhân, nho sĩ, các nhạc công tài năng của Kinh đô Huế. Ca Huế được xây dựng trên 3 điệu chính là:

Điệu Bắc (Khách) với chất nhạc tươi vui, trong sáng, trang trọng bao gồm 10 bản Ngự (10 bài Liên hoàn, 10 bản Tàu) và 3 bài lẻ là Cổ bản, Lộng điệp và Lưu thủy;

Điệu Nam với tính chất buồn thương, bi ai, vương vấn với các bài bản như Nam ai, Nam bình, Quả phụ, Tương tư…;

Điệu Nam xuân (hệ thống lưỡng tính) tính chất pha trộn giữa hai điệu Bắc và Nam, không vui, không buồn, bâng khuâng, mơ hồnhư các bản Nam xuân, Tứ đại, Phú lục,
Hành vân.

Ngoài 3 điệu chính trên, Ca Huế còn có một cách hát làm thay đổi tính chất của bài bản được gọi là hơi dựng. Nó không có một hệ thống bài bản riêng mà thay đổi cách hát để làm thay đổi tính chất của bài bản như từ Cổ bản điệu Bắc còn gọi là Cổ bản thường sang Cổ bản dựng, hoặc từ Nam bình sang Nam bình dựng.

 

HƠI

         Ca – Đàn Huế bao giờ cũng tồn tại những dị bản, cùng một bài bản nhưng Nghệ nhân diễn mỗi nơi mỗi khác nhau. Nhưng dù khác thế nào, các Nghệ nhân vẫn giữ vững bản nhạc.( Lòng bản ) và Hơi.

         Hơi là các yếu tố diễn đạt của chữ nhạc, làm cho bài nhạc trở thành uyển chuyển, mềm mại mang tính đặc trưng của mỗi vùng, miền. Hơi còn được gọi là Cung hay Điệu.

         Hơi ca – Đàn Huế được chia thành hai hệ thống gồm Hơi Khách và Hơi nam.

 

HƠI KHÁCH

         Thang âm Hơi Khách gồm 7 bậc: Hò, Xự, Y, Xàng, Xê, Cống, Phàn. Các bậc ở bát độ trở lên, chúng có tên khác là: Liu,U.

          Hai bậc Xự và Cống luôn được Nghệ nhân rung khi Đàn cũng như Ca nên có sự chuyển động lớn, làm cho giai điệu bài nhạc trở nên trong sáng, tươi vui. Hai bậc: Xự già và Cống già là bậc cơ bản làm nên Hơi Khách. Các bậc còn lại cao độ luôn cố định, đôi khi Nghệ nhân sử dụng âm lướt, âm thêu, âm luyến cho hai bậc Y và Phàn.

           Hai bậc Xự và Cống luôn hòa quyện cùng các bậc, có khi tách ra rõ ràng. Và một đặc điểm quan trọng khác, khi Đàn hoặc Ca, các Nghệ nhân thường rung sâu, chậm hơn so với Hơi Khách nhạc Tuồng, Hơi Bắc nhạc Tài tử Cải lương Nam bộ. Vì vậy, ba loại hình âm nhạc này được xem là tương đồng.

 

HƠI NAM

           Hơi Nam là Hơi khác biệt, độc lập, chỉ có ở Âm nhạc thính phòng Huế.

           Thang âm Hơi Nam có những đặc điểm sau:

–          Hò, Xự non, Xàng, Xê, Cống non.

( Xự và Cống non )

Như đã trình bày ở trên: Xự và Cống trong thang âm Khách thường già hơn Xự và Cống trong thang âm Nam, Xự và Cống thang âm Khách luôn phải rung ( Già ), trở thành trong sáng…Ngược lại Hơi Nam Xự non và Cống non nên nghe tối, hơn nữa, khi sử dụng, Nghệ nhân rung hai bậc: Hò và Xang. Chính những yếu tố cơ bản này tạo thành Hơi Nam. Ngoài ra khi sử dụng Đàn hoặc Ca, Nghệ nhân thường rung chữ Phàn luyến lên chữ Liu. Đây là điểm riêng biệt của Hơi Nam trong Ca – Đàn Huế.

 

HƠI DỰNG

           Lâu nay, các nhà nghiên cứu luôn đề cập đến Hơi Dựng

                Ca – Đàn Huế có bài: Cổ Bản Khách, chứ không phải Cổ Bản “ thường ”như một số Nghệ sĩ biểu diễn Ca – Đàn Huế thường gọi. Vì có Hơi Khách, nên mới “Biến thể” ra Hơi Dựng. Chúng ta nghe kĩ lại thì hoàn toàn không có Hơi Dựng, mà chỉ có tên bài Cổ Bản Dựng.

             Khi Ca hoặc Đàn bài: Cổ Bản Dựng, Nghệ nhân sử dụng Hơi Nam.

           Thí dụ:

–          Công, Xê Liu Công Xê Xàng Xự ( Câu mở đầu Cổ Bản Dựng )

                                              (Rung Họ (Liu) và Xàng)

Và Cổ Bản Khách.

–          Xê Xàng Công Xê Xàng Xự (Câu mở đầu Cổ Bản Khách)

                              (Rung Xự và Cống)

Với cách sử dụng này, chúng ta có thể khẳng định: Hơi Dựng chính là Hơi Nam.

           Như chúng ta đã biết, ngoài vận dụng phương pháp Ký âm Tây Phương (Do, Re, Mi…) phải kết hợp với Ngũ Cung truyền thống (Hò, Xự, Xang, Xê, Công) để truyền dạy Ca – Đàn Huế, Phương pháp truyền dạy này có ưu điểm nổi bậc là giúp học sinh nắm bắt nhanh “Phần xác”. Nhưng quan trọng là Nghệ nhân. Vì chỉ có truyền khẩu, truyền ngón mới tạo nên “Linh hồn” của bản nhạc.

http://www.cahue.vn/vi/news/code/ca-hue