Tag Archives: lê văn khoa

HÀ BẮC và NGỌC BỘI viết về SỰ NGHIỆP ÂM NHẠC , NHIẾP ẢNH của GS LÊ VĂN KHOA và tác phẩm LÊ VĂN KHOA/ MỘT NGƯỜI VIỆT NAM/ chương trình giới thiệu sách LÊ VĂN KHOA /MỘT NGƯỜI VIỆT NAM , 19.09.2015 tại SAIGON 9 RESTAURANT , GARDEN GROVE , CA92840



le van khoa giới thiệu sách calif sept 2015
GIỚI THIỆU SÁCH

LÊ VĂN KHOA / MỘT NGƯỜI VIỆT NAM

chương trình tổ chức ngày thứ bảy 19.09.2015

Địa điểm: SAIGON 9 RESTAURANT, 2801 HARBOR BLVD , GARDEN GROVE, CA 92840

CHƯƠNG TRÌNH :

Tiếp tân: 11:00am – 11:30 am

Khai mạc: 11:30am – 12:30pm

MC giới thiệu chương trình

Diễn giả : Nhà văn PHẠM XUÂN ĐÀI

chủ đề : LÊ VĂN KHOA , MỘT NGƯỜI VIỆT NAM

Diễn giả : Nhà văn TRỊNH Y THƯ

Chủ đề : LÊ VĂN KHOA và Âm nhạc

MC giới thiệu nhạc sĩ LÊ VĂN KHOA

Phần âm nhạc: ca sĩ góp mặt : NGỌC HÀ, VƯƠNG LAN, NHƯ AN

Chụp hình và ký tên sách lưu niệm với NS LÊ VĂN KHOA

Tiệc trưa : 12:30pm – 1:30pm (mỗi phần ăn $ 15.00)

Sách được bán : $ 50.00 cho bìa thường , $ 70.00 cho bía cứng

Liện lạc : TRẦN VIỆT HẢI  (818) 451-5157

TRẦN MẠNH CHI (310) 628-7499

LƯU ANH TUẤN  (619) 203-9118

LÝ TỒNG TÔN (661) 733-1602

NHÂN ẢNH TÂN VĂN trân trọng kính mời

 
Nhạc Giao Hưởng Việt: Hiện Tượng LÊ VĂN KHOA
 
gs-le-van-khoa-hoa-binh-resized
Nhạc Sư Lê Văn Khoa và Tổng Quản Trị Việt Báo Hòa Bình
(VietBao photo)


HÀ BẮC

Theo đề nghị của trưởng ban tổ chức, Tiến sĩ Nguyễn Kim Quý, bài này được viết để nhận xét – thay vì phân tích vì tác giả không phải nhạc sĩ – về dòng nhạc giao hưởng “tân lãng mạn” đồ sộ lẫy lừng của Nhạc Sư Lê Văn Khoa, về nỗ lực của ông đưa dân ca Việt ra thế giới và về chính hiện tượng Lê Văn Khoa của dòng nhạc không lời này. Ông không chỉ là cây đại thụ nhạc giao hưởng Việt, ông còn là nhà khai phá thành đạt, người soạn hòa âm giao hưởng phá kỷ lục của Việt Nam Cộng Hòa, nhà giáo, nhiếp ảnh gia và nhà tranh đấu cho nhân quyền, tự do, dân chủ không mệt mỏi.

Khi mới nhận được năm dĩa audio tặng phẩm của tác giả qua ban tổ chức, kẻ viết bài này đã để trong tủ nhạc Việt một cách tự nhiên theo thói quen để chờ đưa tuần tự vào máy; và sau khi thưởng thức xong toàn bộ các giai tác này – nhiều lần – thì mới nhận chân ra nội dung “áo bà ba” của các bài dân ca không còn “đóng phèn” nữa; mà đã óng ánh những sợi kim tuyến mang nét chấm phá nghệ thuật thích nghi với thính thị của mọi dân tộc từ Âu sang Úc; từ Mỹ sang Á châu; và đặt chúng vào tủ nhạc giao hưởng quốc tế.

Chiều hướng đem dân ca Việt vào dòng nhạc giao hưởng phương Tây; cụ thể là dòng nhạc giao hưởng Mỹ đã khiến Nhạc Sư Lê Văn Khoa phải bỏ ra nhiều nỗ lực để khán thính giả bản xứ quên đi trong chốc lát “khẩu vị” quen thuộc cố hữu của họ để (bước đầu) thưởng thức cái “hương vị” xa lạ đến từ nửa vòng trái đất qua người tỵ nạn cộng sản; để có ngày nào đó sẽ trở nên “khoái khẩu” không thể thiếu vắng trong “dạ tiệc” tại các nhạc viện và hý viện. Khán thính giả bản xứ sẽ thấy ngạc nhiên và thú vị khi thưởng thức một giai tác của ông mà nghe như của Frederic Chopin (1810-1849) và các đại nhạc sư khác; nghe như “Nocturne” ở Áo, ở Đức, ở Pháp mà tựa đề lại là “A Night in Vietnam” (11:51 phút) trong dĩa “Piano Solo”!

Trong dịp trình tấu ở Washington D.C. năm 2010, Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa than “cô đơn” trong nỗ lực quốc tế hóa dân ca Việt; quả không sai! Thiện chí đến Việt Nam tìm kiếm và nhiệt tình tìm hiểu âm nhạc Việt của các bạn hữu Hoa Kỳ của ông đã trở nên vô ích vì gặp trở ngại lớn từ các “đỉnh cao trí tuệ”và chủ trương “hồng hơn chuyên” của đảng Cộng Sản Việt Nam cầm quyền; điển hình là trường hợp Tiến sĩ Giáo Sư Deborah Rosen của Irvine Valley College, đã tốn công tốn của đến “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” để nghiên cứu và rồi trở về với thành quả là mớ nhạc tuyên truyền rẻ tiền của chế độ; không thể dùng làm luận án được!

Nhạc Lê Văn Khoa không phải chỉ để hợp xướng; nó cũng được dùng để đơn ca và song ca; độc tấu và song tấu từ thời văn hóa khởi sắc Việt Nam Cộng Hòa; và sau này ở hải ngoại. Nó được hòa tấu tại các hý viện tráng lệ ở Mỹ, Âu và Úc Châu. Hơn thế nữa, nó còn được dùng để đấu tranh chống chế độ cộng sản phi nhân bản và phi dân tộc ở Việt Nam hiện nay; điển hình là “Trường Ca Việt Nam Quê Hương Mến Yêu” đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa; rồi “Trường Ca Khóc Đi Em, Trên Biển Cả, Ca Ngợi Tự Do, v. v…” và bằng cả lãnh vực nhiếp ảnh nữa trước 1975! Khúc giao hưởng “Symphony Việt Nam 1975” hoàn thành ở hải ngoại là tác phẩm lớn nổi tiếng nhất về mặt này; được đánh giá như một sử ký viết bằng âm nhạc, một “legacy” của tác giả. Nó là tấu khúc Việt đầu tiên được trình diễn ở Melbourne ngày 22/10/2005 bởi The Royal Melbourne Philharmonic Orchestra trong lịch sử 150 năm của dàn nhạc này.

Tên gọi “Symphony Việt Nam 1975” đã được tác giả đặt theo kiểu “Overture 1812” và “Symphony 1997” (đánh dấu hai biến cố chính trị bi tráng ở Nga và HongKong) để ôn lại từng thời kỳ lịch sử bi ai của dân tộc Việt. Trong buổi trình diễn ở Úc, chính nhạc trưởng Andrew Wailes đã hát bài “The Last Time” (6:32 ’ dĩa Souvenir của Lê Văn Khoa); câu cuối “goodbye” nghe chẳng khác gì lối trình bày của Julie Andrews trong “The Sound of Music” của bà. Đàn tranh trong “Full Moon” đã quyện với các nhạc cụ phương Tây thật nhịp nhàng. Bản “The Rice Drum” (4:19’) trong dĩa “Souvenir” đã được độc tấu bằng chiếc đàn bandura, một nhạc cụ khiến người Nga, nhất là bạo chúa Staline phải sợ hãi đến độ tiêu hủy hết, giết hết nhạc công và cấm tuyệt để ngăn ngừa lòng ái quốc của dân Ukraine.

Có thể nói mỗi tác phẩm giao hưởng của ông là một giai tác. Nhạc Lê Văn Khoa “quen” vì nghe biết ngay là dân ca; là “lý”; là “hò”; là “Chopin, Beethoven, Strauss, Berlioz, Mozart, Haydn v. v…”; nhưng cũng “lạ” vì có các nhạc cụ cổ truyền Việt và Ukraine cùng hòa tấu với nhạc khí Tây phương; vì nhiều nốt “lạ” không dễ xoay trở ngón đàn. Âm thanh thì bàn tay phải có lúc phải với nốt “lá” ở bậc cao; bỗng bàn tay trái phải lặn sâu nốt “là” ở bậc thấp như trong bài “In The Pond” (4:50’) của dĩa “Piano Solo” do Giáo Sư Lyudmila Chichuk độc tấu. Bè thì có khi bổng khi trầm, vắt ngang vắt chéo, vắt ngược vắt xuôi (Hymn to Freedom 5:43’); cung thì chuyển từ mineur sang majeur; tiết nhịp thì khi đột ngột, thoăn thoắt, lúc lại khoan thai; hiện tượng “lạ”, bốn bàn tay cùng lướt trên phím đàn piano (Song of The Black Horse 1:49’); nghe như vó ngựa dập dồn chỉ có ở nhạc của ông.

Lê Văn Khoa là cây đại thụ nhạc giao hưởng Việt bởi khuynh hướng và thành quả. Từ tiểu khúc đến bản giao hưởng đều diễn tả được nỗi lòng của tác giả. Ba mặt sáng tác, trình tấu và thưởng thức đã hội tụ như góc tam giác, như kiềng ba chân nên đã giúp cả ba được cộng hưởng. Nhạc giao hưởng của ông tựa cấu trúc căn nhà lầu ba tầng; trong đó đại gia đình đông đảo leo lên xuống không ngừng; kẻ chậm rãi, người thoăn thoắt tùy đặc tính và vai trò của họ. Nhạc ngũ cung không chỉ dùng trong dòng nhạc Lê Văn Khoa, nó thoáng hiện trong hầu hết các tác phẩm của các soạn giả trứ danh phương Tây; ẩn tàng tung tích một cách kín đáo. Hòa âm cho giao hưởng còn xa lạ thời Việt Nam Cộng Hòa. Nó là sản phẩm đặc thù của châu Âu có mặt muộn màng ở Đông Dương thời Pháp thuộc. Dòng nhạc giao hưởng của ông tựa như mưa tưới cánh đồng khô hạn của nhánh nhạc này trong nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa. Trong nhạc giao hưởng Lê Văn Khoa, từng nốt nhạc được trình tấu bằng từng nhạc cụ khác nhau. Âm nhạc của ông đủ ước lệ mà không cần ca từ; do đó, đã không cần sinh ngữ vì âm nhạc là sinh ngữ quốc tế phi biên cương. Ông đánh thức tâm khảm Việt bằng kho tàng âm nhạc ngũ cung; đem chuông ngũ cung tiềm ẩn đi đánh vào tâm tư xứ người bằng nhạc khí của chính họ. Chủ trương dùng nhạc cụ Tây để đánh nhạc Ta của ông thật là một ý tưởng cách mạng về âm nhạc; khác với chủ trương bảo thủ khép kín của các nhạc sư Nguyễn Hữu Ba, Trần Văn Khê và các nhà văn hóa khác.

Dĩa “Lullaby” có hai bài điệu Valse. Các bài “Dawn of My Country” (5:57’), và “Dream of My Homeand” (5:20’) có lời ca, nghe hùng hồn nhịp quân hành. Bản “Memory” (5:10’) có lời nghe như Tiếng Tơ Đồng trước 1975. Bài “Serenade” (5:31’) do Nhạc Sĩ Semchuck độc tấu violon nghe thật duyên dáng, yêu kiều đến lạ lùng! Trong dĩa “Souvenir”, bản “The Last Time” (6:32’) giọng Ngọc Hà đơn ca bộc bạch; thổ lộ lời ca trau chuốt hợp soạn của hai người đậm nỗi hợp tan của loại tình yêu đôi lứa. Bản “Welcome Spring” (1:57’) điệu Polka ngắn ngủi nhưng rộn ràng, tươi vui tạo lạc quan. “Autumn Evening” (5:43’) lạ vì đệm giọng ngân soprano và đàn guitar; “Wondrous Love” (5:32’) đơn ca nam giọng tenor đệm bằng nhiều bè trôi nổi; nghe như nửa nhạc yêu nước, nửa thánh ca. “The Rice Drum” (4:19’) dân ca Việt Nam nghe bi tráng với dàn orchestra; lạ tai với nhạc khí truyền thống Bandura của dân Ukraine. Trong dĩa “Memories”, bài “Nocturne” (4:57’) của ông với solo violon và piano phụ họa đã không miên man trầm lắng như các Nocturne khác; mà lại có lúc vui tươi, nhộn nhịp; kết quả việc đổi âm giai thứ ra trưởng. Nếu đã có “Nocturne” ở châu Âu của Schubert, Chopin . . . thì nay người Việt hãnh diện vì cũng có “Nocturne” của ta! Bản “In the Moonlight” (6:36 ’) có tiếng flute của Kalitovky nghe như tiếng sáo lớn. Dĩa “Piano Solo” kết thúc với bài số 7 “A Night in Vietnam” (11:51’) tuy chỉ độc tấu nhưng nghe như có lời vì thính giả Việt ai cũng thuộc các bài dân ca Nam bộ. Bài số 5 “Cut the Tree” có âm thanh nghe như hồn nước hiện về; thật cảm động! Bài số 7 trong dĩa legacy “Symphony Việt Nam 1975” tuy dùng tiết nhịp của bài dân ca “Lý Chim Quyên” nhưng với ban hợp ca nam nữ nghe hùng hồn, bi tráng; không mộc mạc như “Lý Chim Quyên” dùng nhạc cụ dân tộc.

Giới hạn của bài này không cho phép đề cập đến phạm vi nghệ thuật nhiếp ảnh của ông. Tuy nhiên có một kỷ niệm liên quan khá đẹp và khó quên: Trước Tết Mậu Thân 1968, khi đài Truyền Hình Việt Nam băng tần số 9 mới được quân đội Mỹ giúp thành lập được mấy năm, Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa đã có chương trình dạy nhạc định kỳ và hợp xướng bất định kỳ trên màn ảnh đài này. Trong một chương trình đặc biệt, ông đã mời Hoa Hậu đài Truyền Hình Việt Nam và hai Á Hậu; trong đó có người nhà của kẻ viết bài này, Á Hậu Hoàng Tô Châu xuất hiện trong chương trình. Chân dung của họ cũng được hân hạnh lọt vào ống kính nghệ thuật của nhà soạn nhạc kiêm nhiếp ảnh gia đa tài này để rồi lần lượt được xuất hiện trên bìa các tuần báo phụ nữ tại thủ đô Saigon của Việt Nam Cộng Hòa thời đó. Trước 1975 ít ai nhắc đến ông vì nhiều nguyên do; chẳng hạn họ không có TV, không thưởng thức nhạc giao hưởng hoặc không có nhạc giao hưởng để thưởng thức và nhất là vì ông rất khiêm tốn.

Ngoài mấy lần phải trích đoạn thay vì được trình diễn nguyên bài vì thời lượng hạn chế hoặc phải viết lại để thích ứng với tình huống thay đổi nhạc cụ và số lượng nhạc công trình tấu bất ngờ xảy ra không tiên liệu được, đã không có lời bình bác nào về dòng nhạc của ông. Nhưng chắc hẳn Việt Cộng, Việt gian và vài kẻ tị hiềm nào đó có thể chỉ trích vì không lợi dụng được ông và vì đố kỵ. Nhà văn Pháp Octave Mirbeau (1848-1917) đã chẳng có câu “Jamais la critique n’a su discerner un ouvrage remarquable, trouver un artiste, faire surgir un nom glorieux!” (Phẩm bình không bao giờ biện bác được một giai tác, nhận chân được một nghệ sĩ và nêu bật được một tên tuổi lẫy lừng); vả lại, bi kịch gia Philippe “Néricault” Destouches (1680-1754) trong bi hài kịch về phong hóa “Le Glorieux” đã có câu “La critique est aisée, et l’art est difficile!” (bình bác thì dễ, nghệ thuật mới khó). Cũng là đại thụ như Trần Văn Khê, Phạm Duy nhưng Lê Văn Khoa không bị “hòa hợp” (hòa hoãn hợp tác) bởi chế độ phi nhân Cộng Sản Việt Nam. Trái lại, ông đã không để cho kẻ thù núp bóng lâu đài âm nhạc đồ sộ lẫy lừng của mình để lợi dụng tuyên truyền lừa bịp. Ông hòa nhã nhưng bất khuất; tựa Gloria Estefan của Cuba vậy.

Vì nhạc giao hưởng kén thính giả (quần chúng Việt phần lớn quen nghe boléros và cải lương) và vì ông Lê Văn Khoa không chủ trương kinh doanh nghệ thuật, việc thực hiện một compact disc nhạc loại này để phổ biến bằng một ban hòa tấu tiêu chuẩn 60 nhạc công trở lên và một hý viện tráng lệ; chi phí ắt không phải là trung bình. Tình trạng này chắc hẳn phải khiến việc phát hành các CD nhạc không lời của ông – đôi khi có bài có lời (lyrics) – rốt cuộc chẳng CD nào có lời (interests) cả! Tuy nhiên, cổ ngữ Latin có câu “bis vivit qui bene” (kẻ sống gấp đôi người khác thì sống mạnh mẽ); nhạc sư Lê Văn Khoa chính là típ người này để mà tự hào! Cũng tựa Hoa Hậu không chỉ bởi cái đẹp thể chất, thiên tài không chỉ bởi bản thân cái tài mà còn phải có cái đức nữa. Ông có cái đức của người quốc gia chân chính; của nhà giáo, nhà tranh đấu cho nhân quyền, tự do và dân chủ. Và bởi những thành quả vô song mà ông đã nhiều thập niên tạo dựng. Có nhìn và nghe thấy những Kateryna Myronyuk (Ukraine) độc tấu bandura bài “Trống Cơm”, Suzuki Hitoshi (Nhật) độc tấu cello bản “Memory”, Phương Oanh (Pháp) độc tấu đàn tranh “Hát Hội Trăng Rằm”, nhạc trưởng Andrew Wailes (Úc) hát “The Last Time“ (Lần Cuối) mới thấy được bức tranh “Thế Giới Đại Đồng” với bản sắc dân tộc khác nhau quấn quít trong tình người và nghệ thuật; không phải thứ thế giới đại đồng ảo vun xới bằng dối trá, bạo lực và xác hàng triệu dân vô tội mà cái đuôi mãng xà Cộng Sản Việt Nam, dù đầu đã bị đập nát từ 1989 vẫn đang mù quáng toan tính áp đặt!

Nếu gọi các tay vĩ cầm là “vĩ” nhân thì Lê Văn Khoa không phải vĩ nhân trong số đó; bằng không, ông chính là vĩ nhân nhạc giao hưởng Việt của nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa và trên trường quốc tế hiện nay. Nếu gọi thiên “tài” là tiền từ trời rơi xuống thì ông chưa có thiên tài; bằng không, với lứa tuổi từ thượng thọ đến đại thọ và với “legacy” đã có, ông chính là thiên tài về âm nhạc của Việt Nam Cộng Hòa và của cộng đồng Việt tỵ nạn cộng sản khắp nơi; chưa kể nhận xét đồng tình của các nhạc sư bản xứ các nước. Có thể nói dòng nhạc giao hưởng Lê Văn Khoa là một hiện tượng đặc thù đáng để trân quý và thưởng ngoạn. Nói theo văn phong của Đại Tướng Douglas McArthur kết thúc 52 năm binh nghiệp, trong diễn văn giã biệt trước Quốc Hội lưỡng viện Hoa-kỳ hôm 19/4/1951, kết thúc bằng câu “Old soldiers never die, they just fade away” thì composer Lê Văn Khoa, một ngày nào đó buông viết cũng sẽ phải nói như lời của một nhân vật mà tôi quên tên. Ông nói: “Old composers never die, they just decompose!”.

HÀ BẮC

*****************************************************************************
 
LÊ VĂN KHOA LÀ MỘT TRONG BA NHẠC SĨ TRÊN THẾ GIỚI
viết nhạc cho đàn BANDURA của xứ UKRAINE.
sach bandura ukrainele van khoa
Một tin quan trọng đến vừa đúng ngày kỷ niệm tháng Tư Ðen, đánh dấu 40 năm ly hương
của người Việt tị nạn cộng sản: Nhạc sĩ Lê Văn Khoa được vinh danh là một trong ba nhạc sĩ
trên thế giới viết nhạc cho đàn Bandura độc tấu với dàn nhạc giao hưởng.
Một quyển sách bằn;g tiếng Ukraine với tên khá dài “NGHỆ THUẬT VÀ SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA ÐÀN BANDURA UKRAINA TRONG THẾ KỶ 20 VÀ ÐẦU THẾ KỶ 21”,
do trường  đại  học “Vasyl Stefanyk Precarpathian National University và Ivana-Frankivsk
Regional Organization of Ukrainian Kobzars National Union thuộc viện Cao Học Quốc Gia
Ukraine mới  ấn hành, vừa được gửi đến Nhạc sĩ Lê Văn Khoa từ Kiev, Ukraine.
Giáo sư Tiến sĩ Violetta Dutchak là tác giả, dành nhiều trang trong chương thứ sáu để viết về Nhạc sĩ
Lê Văn Khoa, về sự đóng góp của ông trong việc phát triển đàn Bandura bằng cách viết nhạc cho cây
đàn dân tộc của Ukraine. Bài viết có phần nhận xét kỹ thuật viết nhạc của ông cho đàn này. Tác giả xác
nhận Lê Văn Khoa là một trong ba nhạc sĩ trên toàn thế giới, đã viết nhạc cho đàn Bandura trình tấu với
dàn nhạc giao hưởng.
Ðiểm quan trọng cần được nhấn mạnh ở đây là Nhạc sĩ Lê Văn Khoa dùng nhạc dân tộc Việt, bài dân ca
Trống Cơm và Se Chỉ Luổn Kim, viết lại cho nhạc sĩ Ukraine đàn trên cây đàn dân tộc của họ, một hình
thức đưa văn hóa của hai dân tộc đến với nhau qua âm nhạc độc đáo của cả hai bên. Ý niệm đó đã được
tác giả Tiến sĩ Violetta Dutchak nhận thấy và ghi trong lời đề tặng như sau:
“With regards to the Composer Lê Văn Khoa with great respect and gratitude for the development of cultural contacts between countries and peoples.
Professor Violetta Dutchak
Sự thành công lớn của một người tị nạn cộng sản được ghi nhận đúng vào ngày Quốc Hận thứ 40 mang một ý nghĩa sâu đậm cho mọi người Việt Nam.
Phụ lục:2 videos Trống Cơm và Se Chỉ Luồn Kim do nữ nhạc sĩ Kateryna Myronyuk trình t ấu  đàn Bandura  với dàn nhạc giao hưởng Ukraine.( HoaThịnh Đốn, năm 2010)

1/ https://youtu.be/LA3sBhxxB1Q ( Trống Cơm)
2/ https://youtu.be/2s4Bwo4ezQQ ( Se Chỉ Luồn Kim)
 
Nhạc Giao Hưởng Việt: Hiện Tượng LÊ VĂN KHOA
 
gs-le-van-khoa-hoa-binh-resized
Nhạc Sư Lê Văn Khoa Tổng Quản Trị Việt Báo Hòa Bình
(VietBao photo)
SỰ NGHỆP ÂM NHẠC VÀ NHIẾP ẢNH LỪNG LẪY của Giáo sư, Nhạc trưởng Lê Văn Khoa, và tác phẩm: LÊ VĂN KHOA/ MỘT NGƯỜI VIỆT NAM.
 
Ngọc Bội
                                                             
Nói đến Âm nhạc, Nhiếp ảnh, cũng như Hội họa là nói đến nghệ thuật, nói đến sự rung động của tâm hồn. Và tất nhiên, còn tùy ở tâm cảm, và tâm cảnh của người thưởng thức. Chúng tôi không đủ tư cách phê bình, chỉ xin nêu lên những điều Giáo sư, Nhạc trưởng Lê Văn Khoa đã nói, cũng như thành tích mà ông đã lập được dưới mắt của một độc giả, không chuyên môn, nhưng có lòng trân quý, và cảm phục đến tác giả và tác phẩm. Cho dẫu có sự am tường nào, ngôn bất tận ý, cá nhân chúng tôi cũng không thể nói hết được những lời hay, ý đẹp của tác giả.
Nhắc đến đây chúng tôi chợt nghĩ đến những lời ví von: “Việt Nam là suối nhạc sông thơ. Tâm hồn người Việt Nam là tâm hồn của thi sĩ v.v…” Vậy âm vang truyền thống dòng suối nhạc đó từ đâu? Nếu không phải là tiếng ru cùa mẹ Việt Nam tự ngàn đời, từ lúc con còn là cái bào thai, cho đến khi lọt lòng mẹ, được mẹ ôm con vào lòng, qua những điệu ru ca dao:
À ơi, hay ầu ơ, ví dầu,
 
Cái cò xung chát khế chua
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru…
 
CHÂN DUNG TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM.
 
1- TÁC GIẢ.
– Giáo sư, Nhạc trưởng Lê Văn Khoa là một soạn nhạc gia quốc tế lừng danh, một nhiếp ảnh gia tài ba, một nhà Văn hóa, Giáo dục và Nghệ thuật v.v… Ông chào đời năm 1933, tại Cần Thơ, Tây Đô của miền nam Việt Nam, cái nôi của nền văn minh miệt vườn, sông nước Cửu Long Giang. Và là trung tâm của miền gạo trắng, trăng thanh, đất lành, người lành, đất của cổ nhạc miền Nam mê say, mang đậm tình văn hóa dân tộc.
Nhắc đến niên tuế, Giáo sư Nhạc trưởng Lê Văn Khoa đã vượt Bát Tuần Khánh Thọ, trân quý biết bao, “Ngũ phúc, thọ vi tiên”. Chúng tôi, cùng quý vị quan khách xin trân trọng chúc mừng đến ông và tác phẩm.
 
2- TÁC PHẨM: LÊ VĂN KHOA/ MỘT NGƯỜI VIỆT NAM.
– Nói về cuốn sách của ông (đang có trước mặt chúng ta), đã được hình thành qua một ban biên tập và ban thực hiện hết sức công phu. Chúng tôi thật sự choáng ngợp, cuốn hút lạ thường, khi cầm trong tay một tác phẩm đồ sộ với tựa đề: Lê Văn Khoa/ Một người Việt Nam. Một đề tựa thật khiêm nhường và cũng thật cao thượng! Sự cuốn hút không chỉ vì vẻ đẹp về hình thức, mà còn ở nội dung vô cùng phong phú, tập hợp được hàng trăm các cây viết văn nghệ sĩ, nhà giáo, nhà bình luận, nhà ngoại giao, từ khắp nơi trên thế giới, kể cả các người thế hệ trẻ, và người ngoại quốc. Chính đề tựa của cuốn sách, cho chúng ta biết về nội dung, không phải là những bản nhạc của ông được in thành tuyển tập mà là những bài do ông viết, qua kiến thức, nghiên cứu, những khám phá, và những nhận định hết sức sâu sắc về âm nhạc, và về nhiếp ảnh, kể cả những truyện ngắn đặc sắc. Và cùng các thân hữu của ông, đã đóng góp những bài viết giá trị về văn hóa và nghệ thuật, nói về ông, một thiên tài xuất chúng.
Sách khổ lớn, bìa cứng, hiện đại, là chân dung Giáo Sư Lê Văn Khoa bằng tranh sơn dầu của Họa sĩ Trương Vũ/ Trương Hồng Sơn, với số trang đáng nể, 700 trang, được chia làm ba phần: Âm nhạc, Nhiếp ảnh, và phần Anh Ngữ. Người đọc sẽ được thấy ở đó, thật nhiều điều kỳ thú bất ngờ, những hạt ngọc của tư tưởng, và rất nhiều hình ảnh màu sắc đẹp mắt, được in ấn trang nhã, sáng láng, và đáng yêu vô cùng.
 
3- SỨC MẠNH CỦA ÂM NHẠC.
– Ông chia sẻ: “Âm nhạc là một nghệ thuật rộng lớn vô biên, là nghệ thuật hòa hợp âm thanh để diễn tả tình cảm. Có thể nói,  âm nhạc ảnh hưởng đến vạn vật, và âm nhạc là sức mạnh đáng sợ. Âm thanh khác hơn tiếng động, vì trong âm thanh ta đo được “chiều cao” và “chiều dài”, hay không gian và thời gian, và là cung bậc, trương độ của âm thanh.
Âm nhạc ảnh hưởng đến tâm trí con người, là hơi thở của tâm hồn, khi niềm vui cũng như nỗi đau dâng lên cao ngút. Nhạc kích động quần chúng, kích động chiến sĩ, là vũ khí tuyên truyền vô cùng quan trọng trong cuộc chiến tranh tâm lý. Nên rất cần nghiên cứu nhạc cặn kẽ, để hiểu rõ tác động của nó mà sự lợi hại sẽ không thể lường được!”.
Chúng tôi chỉ xin nêu lên hai ví dụ:
– “Stalin và Đảng Cộng sản Nga rất sợ những người hát ca khúc ái quốc và tôn giáo ca ngợi lịch sử Ukraine của các nhạc sĩ mù (kobzari) đi hát rong khắp nơi, với tiếng đàn Bandura, nhạc cụ dân tộc của Ukraine. Họ đã lùng bắt khắp nơi, cho giam tập chung, và hành quyết tập thể, con số 300 người nhạc sĩ mù này, cùng với những người khác vào thập niên 1930.” (LVK/MNVN, tr.111).
-Một nhận xét sâu sắc khác về âm nhạc của Kim Thanh, (Tiến Sĩ Nguyễn Kim Quý) trong một bài viết về Platon Và Khung Trời Của Ý (Oregon Thời Báo): “Tôi nghĩ, một người nếu thật sự đã nghe Sonate Appassionata của Beethoven một lần, rồi sẽ không còn muốn oán thù ai nữa. Và tôi đọc ở đâu đó, Lenine có nói rằng, nếu cứ tiếp tục nghe bản nhạc này, ông ta sẽ không hoàn thành nổi cuộc cách mạng vô sản.” (ORTB, 5/15/2014, số: 626, tr.24).
 
4-NHỮNG SÁNG TÁC PHẨM VỀ ÂM NHẠC VÀ NHIẾP ẢNH.
– Những sáng tác phẩm của ông thật nhiều trên cả hai lãnh vực âm nhạc và nhiếp ảnh, mang sắc hồn dân tộc.
Âm nhạc và nhiếp ảnh vẫn luôn gắn liền với nhau trong con người của ông, nên có đôi khi, “người nghe sẽ thấy được hình ảnh trong âm nhạc của ông hay ngược lại…”
Ông đã từng chiếm được rất nhiều những giải thưởng về âm nhạc và nhiếp ảnh, kể cả huy chương cao quý về giáo dục.Trong giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 1969 của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ông đã được thắng giải cùng với các nhạc sĩ hoà âm thời danh Vũ Thành, và Nghiêm Phú Phi.
Ông là người khai phá đầu tiên, nâng tầm thưởng thức nhạc giao hưởng trong cộng đồng người Việt, và đưa dòng nhạc Việt giao hưởng ra khắp thế giới qua các sáng tác của ông từ nhiều thập niên qua, làm vẻ vang cho người Việt chúng ta.
Các nhạc phẩm giao hưởng này đã do ông hòa âm, phối khí cho dàn nhạc danh tiếng Kyiv Symphony Orchestra với hàng trăm các nhạc sĩ thượng thặng của Ukraine trình tấu.
-Ai cũng hiểu rằng: “ Đối với Tây phương, nhạc giao hưởng thuần túy mà không cần lời diễn giải, như đã quen thuộc với họ, và hẳn nhiên còn quá mới mẻ đối với nhiều người trong chúng ta”. Tuy thế, khi được thưởng thức dòng nhạc giao hưởng của Soạn Nhạc Gia Lê Văn Khoa, dường như, người nghe không thấy đơn điệu, còn cảm được cái thần của nó trong tiếng đàn, tiếng ca nhiều bè, âm vực vang lên tuyệt vời, trong không gian có bề ngang, và cả bề dầy.
-Tác phẩm Symphony Vietnam 1975 của ông, mang đầy âm hưởng ngũ cung Việt Nam. Tác giả Thanh Hằng cho rằng: “Những bản nhạc Symphony Việt Nam 1975, Memoríes, Souvenir của Lê Văn Khoa là tiếng khóc nức nở của một người Việt đối diện với lịch sử trong những giai đoạn đen tối nhất.” (LVK/MNVN, tr.406).
-Symphony Việt Nam 1975 “vang dội” trời Úc, qua dàn nhạc The Royal Melbourne Philhamonic Orchestra trình diễn năm 2005 và đã được tàng trữ tại Bảo Tàng Viện Quốc Gia Úc Đại Lợi, mở rộng cho các nhà nghiên cứu tham khảo. Ông Trịnh Y Thư nhận định: “Đại tấu khúc giao hưởng Việt Nam 1975 đã trở thành gia sản văn hóa của nhân loại.”
 
5- NHẠC NGŨ CUNG.
Nhạc sĩ Anh Bằng và Hoàng Nam chia sẻ: “Việt Nam là một nước gồm nhiều sắc dân hòa nhịp theo dòng lịch sử lập quốc và với một nền văn hóa lâu đời, cho nên dân ca Việt rất phong phú và đa dạng. Kho tàng dân ca VN gồm nhiều vùng, nhiều miền, nhiều thể loại: Dân ca Nam phần, dân ca Huế, quan họ Bắc Ninh, dân ca Cao nguyên, và dân ca Miền núi.” (tr.415). 
Nhạc trưởng Lê Văn Khoa cho biết thêm: “Nhạc cổ truyền VN có Tam cung, Tứ cung, Ngũ cung, và Lục cung. Nhưng phổ thông hơn hết là Ngũ cung (tức có thang âm năm nốt nhạc). Khác với nhạc Tây phương có Thất cung (bẩy nốt nhạc) như quý vị đã biết. Mỗi cung có màu sắc khác nhau, gây xúc động khác nhau, dùng diễn tả tâm tình khác nhau. Nhạc Ngũ cung không phải là nghèo. Nguồn gốc nhạc Việt ảnh hưởng đến với thế giới gần như không được nói đến, và người Việt cứ nghĩ mình chịu ảnh hưởng của Âu tây mà thôi. “Thật đáng tiếc!”. Một số bản nhạc của Hoa Kỳ, và các nước khác cũng đã viết hoàn toàn bằng ngũ cung, như bản nhạc Auld Lang Syne của Tô Cách Lan (Scottish) tức bài Chia Tay của Hướng Đạo, còn gọi là bài Tiễn Đưa Năm Cũ, được nhiều người biết đến là một ví dụ.”
-Ngoài ra, theo thiển ý, ta thử đọc lại câu thơ Kiều, tả “khúc đoạn trường”, qua tiếng đàn Nguyệt (Cầm trăng). Đàn Nguyệt và Đàn Tỳ Bà, nguyên thủy có 4 dây. Chỉ thuần tiếng đàn, dây vũ (dây to), dây văn (dây nhỏ) mà mang nét nghệ thuật và hấp lực cao:
“Trong như tiếng hạc bay qua
 Đục như nước suối mới sa nửa vời
 Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
 Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.”
        (Truyện Thúy Kiều/Nguyễn Du)
 
Và:
“Bốn dây như khóc như than
 Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng!”
        (Truyện Thúy Kiều/Nguyễn Du)
 
6- HAI NGUỒN VĂN HÓA ĐÔNG TÂY:
– Những âm điệu dân gian Việt Nam, qua các bài dân nhạc truyền thống, bằng lời ca dao đầy trữ tình, và bản sắc dân tộc, đem đến những cảm giác thăng hoa cho đời sống, như: “Se chỉ luồn kim”, “Trống Cơm”, “Ru Con”, “Lý Ngựa Ô”, “Lý Cây Đa” v.v…được ông phối khí, hòa âm, hợp ca nhiều bè, cho dàn nhạc giao hưởng Tây phương, xen lẫn tài tình những tiếng đàn tranh, đàn bầu, như rót vào hồn người để quảng bá đến người ngoại quốc biết về những nét đẹp của văn hóa Việt Nam.
– Nếu âm nhạc là “sinh ngữ”, việc mở ra một cánh cửa cho nhạc cổ truyền dân tộc Việt đi xa, hòa nhịp trong muôn sắc màu thắm tươi của ta, và của thế giới, thay vì còn mãi trong một khung trời hạn hẹp, quen thuộc, thì đó là một phương cách để bảo lưu được truyền thống dân nhạc Việt Nam? Và ta mới thấy ông đã có những đóng góp, nhìn xa, trông rộng, đem sự hòa hợp cái đẹp của âm nhạc cổ truyền Việt Nam với âm nhạc Tây phương qua các dàn nhạc giao hưởng đại hòa tấu. Sự thành công đến nỗi Tiến sĩ Nhạc trưởng Edward Cumming của Harford Symphony Orchestra tại Connecticut, Hoa Kỳ, đã phát biểu rằng:
 “Khi Đàn bầu, Sáo và Khánh quyện lại với dàn nhạc giao hưởng, tôi thấy nhạc Việt và nhạc Tây phương ôm choàng lấy nhau, gắn bó nhau. Đó là cái ôm siết chặt của hai nguồn văn hóa Đông, Tây”.
Mặt khác, ngay cả đến những nhạc sĩ lừng danh thế giới như Franz Liszt, Chopin, Lully, Mozart, Beethoven, Schubert, và Tchaikowsky v.v…cũng điểm thêm nhạc ngũ cung cho dòng nhạc cổ điển quen thuộc của họ có một thoáng hương xa, như ông đã nói.
– Giáo Sư Lê Văn Khoa luôn kêu gọi, nhắc nhở anh em, trong lãnh vực âm nhạc cũng như nhiếp ảnh: 
“Đừng quên yếu tố DÂN TỘC, tìm cái đẹp, tạo cái mới, HƯỚNG VỀ QUÊ HƯƠNG, CHỐNG CỘNG, làm VÌ DANH DỰ TẬP THỂ và DÂN TỘC hơn là vinh hiển cá nhân!” (tr.498). Còn lời chân tình nào cao đẹp hơn, đã được in thành văn sách, và cảm phục biết bao đến lời nói khí thế, và chính trực này.
 
7- NHIẾP ẢNH.
– Một bộ môn nghệ thuật đặc sắc, trong sự nghiệp đa dạng của Giáo sư Nhiếp ảnh gia đại tài Lê Văn Khoa.
Trong những bài Khảo luận về tư tưởng đạo đức và nghệ thuật nhiếp ảnh của ông đem thích thú và hữu ích đến với người đọc, nhất là cho những người yêu nghệ thuật nhiếp ảnh:
– “ Luật 1/3, tức ý niệm cân đối đã có từ thời tiền sử. Sự cân đối này đã nằm trong thiên nhiên mà con người đã quan sát tìm thấy, và ứng dụng trong nghệ thuật từ ngàn xưa, cho đến ngày nay và sẽ còn rất lâu trong tương lai.
– Người ảnh (sử dụng) phải có khóe nhìn của một họa sĩ, một điêu khắc gia, và tâm hồn rung động của một thi, văn, nhạc sĩ. 
Nhiếp ảnh là đẹp, vì ảnh không làm cho sự việc có vẻ thật hơn mà chính nó là sự thật, (nói lên cả ngàn lời). Song, trong nghệ thuật, ta có thể biến sự thật trở nên mơ hồ, tạo một hình ảnh khác biệt, như câu nói của danh họa Pablo Picasso:“ Nghệ thuật là sự giả dối để làm cho chúng ta nhận thức sự thật.” (Art is a lie that make us realize the truth)”.
Giáo sư Nhiếp ảnh gia Lê Văn Khoa cho ra đời một trường phái:“DO YOU SEE WHAT I SEE?” Tạm dịch: “Bạn có nhìn thấy, điều tôi nhìn thấy không?”.
Ông là người đầy óc sáng tạo, đi trước thời đại, đã thành công đưa cảm nhận của mình đến với người xem, đưa cái mơ hồ vào cái thật, rất thật hầu thỏa mãn cái chiều kích vô biên của con người!
Có hai vị Nhiếp Ảnh Gia viết về ông, thổ lộ:
– NAG Gia Trung nói: “Nhờ có Ô. Khoa mà tôi có được huy chương vàng của Hội Photographic Society of New York, năm 2000, qua tác phẩm Đóa Hoa Sen. (tr.523)
– Và NAG Duy Anh, hiện ở Việt Nam, viết thư biết ơn thày, chỉ vì đã được học qua sách của thày Lê Văn Khoa mà ông đoạt được nhiều giải Huy Chương Vàng Quốc Tế tại VN, (2000-2005). (tr.527).
-Hiện nay, có 7 tác phẩm nhiếp ảnh của GS/ NAG Lê Văn Khoa được trưng bầy tại Bảo Tàng Viện Baltimore, Maryland, Hoa Kỳ. Một số khác hiện có tại Thư Viện của Trường Đại Học Boston, Hoa Kỳ để giảng dạy v.v…
 
8- CON NGƯỜI LÝ TƯỞNG.
– Giáo sư, Nhạc trưởng Lê Văn Khoa, một thiên tài xuất chúng, một người “làm việc toát mồ hôi”, rất hiếm người sánh kịp. Và là một người quốc gia yêu nước mãnh liệt, đã cống hiến một đời, những giá trị sâu sắc về văn hóa nhân bản và nghệ thuật cho tha nhân, như đã nói ở trên. Đặc biệt với sáng kiến hòa âm, phối khí, dành cho ban quân nhạc Tổng Thống Phủ Ukraine/ Kyiv trình bầy bản quốc thiều VNCH một cách xuất sắc, hào hùng, gửi đến cộng đồng quốc tế như một di sản văn hóa của VNCH, nói lên sự hiện diện lá cờ vàng sáng ngời của người Việt tự do trên toàn thế giới. Và cũng là việc làm tâm linh đến với mọi con dân VN, hãy nhớ đến  Lá Cờ Vàng Quốc Gia (Cờ vàng, ba sọc đỏ) mang hồn thiêng sông núi. Một tụ điểm sống còn, đã được tô thắm bằng những giọt máu đào của người chiến sĩ VNCH, cũng như bao chiến sĩ vô danh vẫn còn đang âm thầm tiếp tục xả thân cho đại nghĩa. Cùng với bài Mặc niệm/ Hồn Tử Sĩ, tưởng nhớ đến các anh hồn tử sĩ đã nằm xuống cho chúng ta, cho đất nước được trường tồn, thì đây là việc làm lịch sử, là tiếng trống Mê Linh, là tiếng trống trận Tây Sơn, là chất keo sơn gắn bó người Việt tự do khắp năm châu, còn quan tâm đến đất nước và dân tộc, trước hiểm họa mất nước do bọn ngoại xâm và nội xâm Việt Cộng và Tàu Cộng tàn ác phi nhân gây nên. Việc làm của ông, đáng lẽ phải ở tầm vóc một quốc gia, trong lúc chỉ có mình ông cùng một nhóm người rất ít ỏi có lòng cùng với ông, mang tâm huyết ra “gánh vác” lấy, như chúng ta thấy trong tác phẩm của ông! Ông xứng đáng được tất cả chúng ta kính trọng, đón tiếp, ngưỡng mộ và tôn vinh.
– Chúng ta nguyện xin Hồn Thiêng Sông Núi, mong niềm tin vào Dân Tộc Tính, mọi sợi dây Truyền Thống Bất Tuyệt, nối quá khứ với hiện tại, và tương lai mai sau:
“Mai sau dù có bao giờ
 Đốt lò hương ấy so tơ phím này.”
  (Truyện Thúy Kiều/Nguyễn Du)
Câu thơ Kiều của cụ Nguyễn Du, cho phép chúng tôi được khép lại bài giới thiệu ở đây.
Sự nghiệp lừng lẫy về Văn Hóa, Nghệ Thuật của ông và Tác phẩm Lê Văn Khoa/ Một Người Việt Nam sẽ là niềm hãnh diện vô bờ cho ông, cũng như cho chúng ta. Chắc chắn, nhiều thế hệ con cháu, sẽ tôn quý ông và yêu mến tác phẩm.
 
NGỌC BỘI
Portland, Oregon.
24/5/2014.
 
-Nhận xét của Nhà văn Hà Bắc trên Oregon Thời Báo số 628
ngày 29/5/2014:
“Đề tài “Sự nghiệp âm nhạc lẫy lừng của Nhạc trưởng Lê Văn Khoa”
đã được Nhà thơ Ngọc Bội trình bầy lúc 1:45pm tại Hội trường Hollywood
Senior Center một cách mạch lạc và nhuận sắc; dù với thời gian qui định 
20 phút hạn hẹp vẫn phác họa được một tổng thể thấu đáo mà không để 
thiếu những tình tiết dẫn chứng độc đáo”.
 
-Nhà thơ Ngọc Bội
Tên thật là Trịnh Đình Bội
Nguyên Giáo Sư Trung Học tại Saigòn trước 1975.
Nguyên Thiếu Tá Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị/ Quân Lực VNCH.
Tu nghiệp Báo Chí tại Indiana, Hoa Kỳ năm 1969.
Tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ 1975.
Từng tham gia những sinh hoạt Văn hóa, Chính trị, Xã hội và Văn nghệ
trong Cộng đồng người Việt hải ngoại từ nhiều thập niên qua. 
 


.


__,_._,___

NHẠC SĨ LÊ VĂN KHOA : MỘT SỐ SÁNG TÁC TIÊU BIỂU , thực hiện TRẦN NĂNG PHÙNG


https://www.youtube.com/playlist?list=PLNBxCTIUVE72EI_33mOuJoV0j-MKXM_sE

NHẠC SĨ LÊ VĂN KHOA : MỘT SỐ SÁNG TÁC TIÊU BIỂU , thực hiện TRẦN NĂNG PHÙNG

the content of this playlist will be changed every week
Play all Share Save

LÊ VĂN KHOA LÀ MỘT TRONG BA NHẠC SĨ TRÊN THẾ GIỚI viết nhạc cho đàn BANDURA của xứ UKRAINE


LÊ VĂN KHOA LÀ MỘT TRONG BA NHẠC SĨ TRÊN THẾ GIỚI viết nhạc cho đàn BANDURA của xứ UKRAINE.

le van khoa

Một tin quan trọng đến vừa đúng ngày kỷ niệm tháng Tư Ðen, đánh dấu 40 năm ly hương
của người Việt tị nạn cộng sản: Nhạc sĩ Lê Văn Khoa được vinh danh là một trong ba nhạc sĩ
trên thế giới viết nhạc cho đàn Bandura độc tấu với dàn nhạc giao hưởng.
sach bandura ukraine
Một quyển sách bằn;g tiếng Ukraine với tên khá dài “NGHỆ THUẬT VÀ SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA ÐÀN BANDURA UKRAINA TRONG THẾ KỶ 20 VÀ ÐẦU THẾ KỶ 21”,
do trường  đại  học “Vasyl Stefanyk Precarpathian National University và Ivana-Frankivsk
Regional Organization of Ukrainian Kobzars National Union thuộc viện Cao Học Quốc Gia
Ukraine mới  ấn hành, vừa được gửi đến Nhạc sĩ Lê Văn Khoa từ Kiev, Ukraine.

Giáo sư Tiến sĩ Violetta Dutchak là tác giả, dành nhiều trang trong chương thứ sáu để viết về Nhạc sĩ
Lê Văn Khoa, về sự đóng góp của ông trong việc phát triển đàn Bandura bằng cách viết nhạc cho cây
đàn dân tộc của Ukraine. Bài viết có phần nhận xét kỹ thuật viết nhạc của ông cho đàn này. Tác giả xác
nhận Lê Văn Khoa là một trong ba nhạc sĩ trên toàn thế giới, đã viết nhạc cho đàn Bandura trình tấu với
dàn nhạc giao hưởng.

Ðiểm quan trọng cần được nhấn mạnh ở đây là Nhạc sĩ Lê Văn Khoa dùng nhạc dân tộc Việt, bài dân ca
Trống Cơm và Se Chỉ Luổn Kim, viết lại cho nhạc sĩ Ukraine đàn trên cây đàn dân tộc của họ, một hình
thức đưa văn hóa của hai dân tộc đến với nhau qua âm nhạc độc đáo của cả hai bên. Ý niệm đó đã được
tác giả Tiến sĩ Violetta Dutchak nhận thấy và ghi trong lời đề tặng như sau:

“With regards to the Composer Lê Văn Khoa with great respect and gratitude for the development of cultural contacts between countries and peoples.

Professor Violetta Dutchak

Sự thành công lớn của một người tị nạn cộng sản được ghi nhận đúng vào ngày Quốc Hận thứ 40 mang một ý nghĩa sâu đậm cho mọi người Việt Nam.

Phụ lục:2 videos Trống Cơm và Se Chỉ Luồn Kim do nữ nhạc sĩ Kateryna Myronyuk trình t ấu  đàn Bandura  với dàn nhạc giao hưởng Ukraine.( HoaThịnh Đốn, năm 2010)

1/ https://youtu.be/LA3sBhxxB1Q ( Trống Cơm)
2/ https://youtu.be/2s4Bwo4ezQQ ( Se Chỉ Luồn Kim)

NHẠC SĨ LÊ VĂN KHOA sáng tác nhạc phẩm “HẸN MỘT NGÀY VỀ” do Vũ Anh, Mai Hương và Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi trình bày


ban nhac ngàn khơi

Sau đây là links nhạc phẩm “Hẹn Một Ngày Về”, lời nhạc do nhạc sĩ Lê Văn Khoa sáng tác và nhạc vang lên trong air hòa quyện của nét nhạc giao hưởng với tiết tấu thăng trầm khi êm ái khi hùng tráng, trong sự phối âm do chính nhạc sĩ biên soạn, “Hẹn một ngày về” trên quê hương thanh bình, tô đắp lại non sông phú cường, một quê hương thịnh vượng… Hãy nghe:

Bài Hát “Hẹn Một Ngày Về”, NS. Lê Văn Khoa:

http://www.videovietmoi.com/videohSapkMqNTHk/hen-mot-ngay-ve-le-van-khoa.html

https://www.youtube.com/embed/hSapkMqNTHk“>

VAP* Chorus Đồng Ca “Hẹn Một ngày Về”:

http://www.videovietmoi.com/videomVfj-xi3aZs/vap-chorus-dong-ca-hen-mot-ngay-ve.html

* VAP: Vietnamese American Philharmonic (Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ).

“Ta về dựng lại quê hương mình

Đem khí lực, đem ân tình

Đắp tô lại non sông sáng ngời

Người được từ nay thơ thới

Quyết xây Việt Nam Ta phú cường”

Viêt Nam oai hùng khi khắp từ ruộng đồng cùng phố phường nơi nơi vang ca khúc hát thanh bình. Đón chào Việt Nam quê hương ngày mới, Việt Nam rực rỡ ngập trời phất phới ngọn cờ dân chủ sáng ngời…

“Việt Nam thân yêu oai dũng

Việt Nam minh châu sáng ngời nơi nơi

Việt Nam muôn đời rực rỡ ngập trời

Tươi ngọn cờ dân chủ sáng ngời

Ôi! quê hương ! Bao yêu thương! tình mặn nồng quá…”

(VHLA)

Lê Hữu Mục, nhạc sĩ
– Lê Văn Khoa –
Một người thành công trong nhiều mặt rất khó khi người ta muốn đề cập đến cho đầy đủ. Vì vậy tôi chỉ dám nói đến một khía cạnh rất nhỏ của một lãnh vực riêng biệt, trong nhiều lãnh vực hoạt động của học giả, giáo sư, nhạc sĩ Lê Hữu Mục, là âm nhạc.
Người ta nói giáo sư Lê Hữu Mục và Lê Văn Khoa có họ hàng nhau. Họ thì có, cả hai cùng họ Lê, nhưng hàng thì không. Nhưng chúng tôi trở thành họ hàng nhờ một người khác họ. Giáo sư Lê Hữu Mục là chú họ của Phan Ngọc Hà, nhà tôi, vì vậy trở thành chú họ của tôi luôn.
Lần đầu tôi gặp giáo sư Lê Hữu Mục là tại Montreal, Canada. Hôm đó sau buổi thuyết trình của tôi về âm nhạc có chiếu video tại trường đại học Montréal, do Cộng Đồng Người Việt với bà chủ tịch Bác sĩ Lâm Thu Vân tổ chức, khi ra ngoài tôi gặp giáo sư Mục. Ông cười và nói: “Này nhé, hai chú cháu đều có bài nhạc trùng tên nhau.” Vì không biết nhiều về giáo sư từ trước, tôi hỏi lại: “Thưa chú bài trùng tên nhau là bài nào vậy?” Giáo sư Mục cười, giọng nhẹ nhàng nói: “Bài Hẹn Một Ngày Về chứ bài nào. Tuy nhiên nội dung khác nhau.” Tôi nhớ lại hồi còn trẻ, khi chơi với ban nhạc trên đài phát thanh Sài-gòn, chúng tôi có hát bài “Hẹn Một Ngày Về” của nhạc sĩ Lê Hữu Mục. Không ngờ bây giờ tôi gặp chính tác giả và là người tôi gọi bằng chú.
Sự khác nhau giữa hai bài nhạc này là “Hẹn Một Ngày Về” của giáo sư Lê Hữu Mục, khi về Bắc nghỉ hè, hẹn sẽ trở lại Huế để dạy học tiếp. Còn “Hẹn Một Ngày Về” của Lê Văn Khoa là tâm tình của người vì biến cố Tháng Tư 1975 phải xa xứ, hẹn trở về quang phục quê hương. Thật ra giáo sư Mục có một bài Hẹn Một Ngày Về thứ hai, tên là Hẹn Một Ngày Về Vinh Quang với câu:
Quê Hương ơi, em hãy chờ ta trở về . . .
Hẹn một ngày về Việt Nam, cùng sông núi, chúng ta về vinh quang.
Hẹn một ngày về Việt Nam cùng tổ quốc,chúng ta về hiên ngang . . .
Đất là đất của ta, Nước là nước của ta . . .”
Giáo sư Lê Hữu Mục có một quá trình hoạt động âm nhạc đáng kể, nhưng ít ai nhắc tới. Những người sinh hoạt hướng đạo chắc chắn có hát bài của nhạc sĩ Lê Hữu Mục nhưng họ có thể không biết tên và không biết mặt tác giả. Đó là một tệ trạng trong sinh hoạt âm nhạc Việt Nam. Người ta biết tên bài hát và tên ca sĩ nhưng ít ai biết tác giả của ca khúc ấy. Quý vị còn nhớ bài Con Sáo Đá, bản dịch của bài Alouette, những bài Con Voi, Chèo Đi Bơi Đi, Ta Cùng Đi, Trên Đường Xa, Lý Con Mèo và nhiều bài Lý khác, tức quý vị đã nghe, hoặc đã hát bài của nhạc sĩ Lê Hữu Mục.
Những ngày còn trai trẻ là những ngày giáo sư Mục say mê hoạt động âm nhạc, có lẽ chịu ảnh hưởng của người anh là nhạc trưởng Lê Như Khôi, chỉ huy trưởng quân nhạc Việt Nam. Ông có một người em là nhạc sĩ Lê Ngọc Linh.
Nhạc sĩ Lê Hữu Mục chơi giỏi kèn clarinette và saxophone nên được cử làm nhạc trưởng ban nhạc trong những sinh hoạt âm nhạc cuối thập niên 40. Sau ông được mời làm nhạc trưởng ban nhạc Bảo An Việt Nam. Chưa nhậm chức thì ông lại bị đề nghị xuống làm phó nhạc trưởng, để nhạc sĩ Vũ Thành làm nhạc trưởng. Ông từ chối lời mời và tự ý chấm dứt sinh hoạt âm nhạc năm 1951 để vào Huế dạy học.
Tiếng là nói chấm dứt sinh hoạt âm nhạc, nhưng cái nghiệp vẫn đeo đuổi ông. Những buổi hòa nhạc mà Lê Hữu Mục thủ dương cầm và Tôn Thất Niệm lãnh phần ca hát vẫn thu hút giới trẻ thời đó. Đến khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm về Việt Nam lập chính phủ, người quốc gia cần có quốc ca. Lúc đó bài Đăng Đàn Cung được giới thiệu với lời ca không hợp với nhạc lắm. Nhạc sĩ Lê Hữu Mục được đề nghị để viết lời cho bản quốc ca đầu tiên của Việt Nam. Đăng Đàn Cung trở thành “Tiếng Gọi Non Sông” với câu “Bên núi non hùng vĩ Việt Nam v.v…” được mọi người thời đó ưa thích. Ông cũng được Tổng Thống Diệm chỉ định ông vào quốc hội đầu tiên.
Vào giai đoạn căng thẳng của chiến cuộc Việt Pháp, ngày 14-7-1953 nhạc sĩ Lê Hữu Mục tổ chức nhạc hội tại Hà Nội với ban nhạc Hoàng Trọng.
Tôi đã đề cập đến những bài nhạc ngắn và nhỏ của nhạc sĩ Lê Hữu Mục, nhưng thật ra ông cũng có viết bài nhạc lớn: “Bảy Chặng Đường Thương Khó” của Chúa Jêsus, dựa theo bài thơ của một thi sĩ lớn người Pháp. Đây là một loại Oratorio có đơn ca, hợp ca với phần đệm của piano và dàn nhạc. Rất tiếc tác phẩm này đang được chuẩn bị trình diễn thì vị linh mục phụ trách bị đổi đi nơi khác nên việc thực hiện bất thành và tác phẩm hiện không biết ở đâu.
Ở trên tôi có nhắc đến bài “Hẹn Một Ngày Về” và tôi xin phép in ra đây để làm tài liệu chung. Khi bài nhạc được phát thanh trên đài phát thanh Huế thì giáo sư Mục được điện thoại của nhà xuất bản Tinh Hoa ở Huế. Họ đề nghị xuất bản bài hát này. Điều kiện của giáo sư Mục rất dễ dàng: Một vé máy bay khứ hồi Huế – Hà Nội. Nhờ đó giáo sư đã “hẹn” và “trở về” Huế theo lời hẹn.
Với bài “Hẹn Một Ngày Về” này tôi có một nhận xét nho nhỏ và chỉ xin nói về điểm nhận xét này chứ không phê bình nhạc căn cứ nơi lời ca theo lối thông thường của các nhà phê bình nhạc. Tôi cũng không nói đến kỹ thuật sáng tác, nghệ thuật cấu tạo âm thanh, cũng không nói đến thể loại của bài ca v v . . . Vì nhận xét âm nhạc nên tôi có một thắc mắc. Tôi hỏi giáo sư Mục điểm này hôm đầu tháng Bảy năm nay (2007) tại California. Tôi rào đón: “Thưa chú, cháu có một thắc mắc mà chỉ có chú mới giải tỏa được. Cháu nghĩ có lẽ không ai để ý đến điểm này, nhưng cháu thấy rất lạ. Trong bài “Hẹn Một Ngày Về” của chú, chú đã dùng quá nhiều nốt láy để tô điểm câu nhạc. Phải chăng chú chịu ảnh hưởng của các linh mục Tây Ban Nha, hoặc họ cho chú nghe nhiều nhạc flamenco nên khi viết nhạc chú áp dụng lối láy của kỹ thuật “canto jondo”, một lối hát flamenco của vùng Bắc Tây Ban Nha?” (Đây là kỹ thuật dùng nốt huê dạng từ nốt nhạc chính láy nhanh lên hoặc láy xuống một hoặc hai nốt rồi trở lại liền. Ông dùng đến 18 lần trong một ca khúc ngắn.) Giáo sư Lê Hữu Mục mỉm cười thú vị, không phủ nhận cũng không xác nhận. Ông ôn tồn nói: “Khoa cứ viết điều đó ra đi.”
Những lần gặp nhau từ nhiều năm qua, trong câu chuyện trao đổi âm nhạc giữa giáo sư Lê Hữu Mục và tôi, chúng tôi có rất nhiều điểm đồng ý với nhau. Ông cũng dặn tôi ghi lời xác nhận này.
Vì vậy tôi ghi ra đây theo lời dặn dò gần đây nhất của ông.

 

LÊ VĂN KHOA : KATERYNA MYRONYUK giới thiệu dân ca Việt


Kateryna Myronyuk giới thiệu dân ca Việt

  • Lê Văn Khoa

Cuối tháng Giêng năm 2005 tôi đến Kyiv. Thủ đô của Ukraine đang phủ đầy tuyết trắng, mặt sông đã đóng đá từ lâu, thuyền bè không di chuyển trên sông được nữa. Trong thời tiết đó, tôi đến Ukraine để thu thanh Symphony Việt Nam 1975 cho kịp ngày đánh dấu 30 năm ly hương 30-4-2005. Trong ba tuần lễ lưu lại Kyiv để làm việc, tôi ở trọ trong nhà (apartment) của Nhạc trưởng Taras và Kateryna Myronyuk. Vợ của Taras, cô Kateryna là một cô gái trẻ đẹp, dịu dàng, hiếu khách. Cô tốt nghiệp âm nhạc từ Nhạc viện Tchaikowsky, năm 2005.

1. Kateryna Myronyuk - Photo by Dung Vu

Nhạc sĩ Kateryna Myronyuk và

cây đàn Bandura

Kateryna tiếp đón tôi rất ân cần, lo thức ăn sáng mỗi ngày, lúc nào cũng muốn tôi ăn thật nhiều những món ăn cô dọn cho tôi và Taras. Mỗi sáng chúng tôi ba người ngồi ăn với nhau trong một nhà bếp thật nhỏ. Kateryna không biết tiếng Anh. Cô chỉ nói tiếng Ukraine, có thể biết ít nhiều tiếng Nga. Tôi hoàn toàn mù tịt hai thứ tiếng này, nên chúng tôi dùng dấu hiệu bằng tay thay lời nói.

Ðêm cuối ở Kyiv, vợ chồng Taras dành cho tôi một món quà đặc biệt. Họ mời tôi vào phòng khách nhỏ bé của họ. Ðây cũng là phòng làm việc của Taras và là phòng ngủ của tôi trong ba tuần lễ ở Ukraine. Taras mời tôi ngồi xuống ghế rồi gọi Kateryna bên phòng ngủ bước qua. Tôi nghĩ họ muốn làm màn trình diễn thời trang để giới thiệu quốc phục Ukraine, nhưng không phải. Kateryna bước vào phòng với cây đàn Bandura trên tay. Họ nói tôi là người viết nhạc nên chỉ có quà âm nhạc mới xứng đáng tiễn bước chân tôi. Kateryna ngồi xuống một chiếc ghế rồi đàn và hát cho tôi nghe mấy bài hát Ukraine và nhạc cổ điển Tây Phương. Tôi rất ngạc nhiên đồng thời rất thích thú với các màn trình diễn này.

Bandura tân thời là cây đàn có trên 60 dây, âm thanh thánh thót tương tự như tiếng đàn tranh của Việt Nam ta, nhưng âm thanh theo âm giai Tây Phương với tất cả các bán âm chứ không theo hệ thống ngũ cung như nhạc cổ truyền của ta. Ðàn có âm vực rất rộng, người đánh đàn một lúc vừa đàn giai điệu, vừa đàn tiếng đệm của bè trầm, vừa vỗ thùng đàn để thêm phần nhịp của tiếng trống ở những chỗ cần thiết, giống như đàn guitar. Người đàn giữ đàn đứng chứ không để nằm như đàn tranh. Kateryna có giọng hát soprano cao vút và rất trong. Không thể nói hết ngạc nhiên của tôi với món quà âm nhạc này.

Sau màn trình diễn, tôi hỏi Kateryna một số câu hỏi về kỹ thuật của đàn này. Xong, tôi nói: “Tôi sẽ viết nhạc cho cô đàn nhạc Việt Nam.” Họ cám ơn nhưng có vẻ không tin. Tôi nghĩ đây là cơ hội tốt để đưa nhạc Việt ra khỏi biên giới Việt Nam, việc mà tôi hằng ấp ủ từ lúc biết viết nhạc đầu thập niên 50. Tôi có ý nghĩ rất đơn sơ, muốn người ta chơi nhạc Việt, mình phải viết nhạc để người ta có thể đàn được bằng nhạc cụ của họ chứ không phải yêu cầu họ học nhạc cụ của mình để đàn nhạc Việt. Tôi cảm thấy lý thú khi người Ukraine gọi Bandura là đàn dân tộc của họ chứ không gọi là đàn cổ truyền.

Trong chuyến đi Ukraine lần thứ hai, năm 2007, tôi giữ lời hứa đem tặng vợ chồng Taras bản nhạc Trống Cơm, dân ca Việt Nam mà tôi đã viết lại cho đàn Bandura với phần đệm của dàn nhạc giao hưởng. Kateryna tỏ vẽ ngạc nhiên, liền lấy Bandura ra đàn thử. Vì là lần đầu nhìn thấy bài nhạc này, Kateryna đàn còn ngập ngừng. Ðó là việc tự nhiên cho người phải đàn bài nhạc lạ mà không dễ chơi. Cô nói cô sẽ tập thêm.  Tôi chỉ nghĩ bài nhạc này là món quà lưu niệm cho gia đình Taras nhưng không ngờ từ đó nhạc Việt đi xa hơn.

Cũng trong năm 2007, một chương trình nhạc Lê Văn Khoa với tiếng hát Ngọc Hà đươc trình diễn ở Kyiv, Ukraine. Vì Kateryna không có mặt ở thủ đô thời điểm đó nên Giáo sư Taras Yanytsky, một Giáo sư Bandura của nhiều nhạc viện và là người chiếm nhiều giải thưởng về thi tài và trình tấu đàn Bandura trên nhiều quốc gia, được  chọn độc tấu bài Trống Cơm với dàn nhạc thính phòng của Kyiv. Khán giả Ukraine được nghe một bài dân nhạc từ Việt Nam, lần đầu trình diễn với cây đàn dân tộc của họ.

2. Kateryna and Bandura - hình do gia đình cung cấp

Kateryna Myronyuk với đàn Bandura

Năm 2008 trong chương trình vinh danh nhạc sĩ Lê Văn Khoa “Người Viết Lịch Sử Bằng Âm Nhạc” do Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ tổ chức ở Carpenter Theater, Long Beach, California, Kateryna được mời trình diễn bài Trống Cơm bằng đàn Bandura với dàn nhạc giao hưởng của Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ, dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng.  Khán giả Việt Nam rất thích thú với cây đàn lạ mắt do một cô gái da trắng trẻ, đẹp, trình diễn điệu nghệ một bài dân ca Việt Nam quen thuộc và họ đã vổ tay tán thưởng rất lâu. Ðây là hình ảnh chưa từng thấy trên bất cứ sân khấu âm nhạc Việt nào từ trước đến nay.

3. Kateryna đàn Trong Com (2008) by Khoi Turner

Kateryna Myronyuk trình diễn Trống Cơm với dàn nhạc Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ năm 2008.

Nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng

 

 

 

Năm 2009, trong khi đang thu thanh trong National Radio and Television Studio ở Kyiv, Ukraine, tôi được báo là tối về có tin rất quan trọng. Cả vợ chồng Taras đều rất vui, giọng nói gấp rút, dành nhau để nói với tôi. Họ báo tin là Kateryna đi trình sơ bộ luận án tiến sĩ của cô và bảo vệ nó trước sự khảo sát của hội đồng duyệt xét. Trong ban hội đồng thẩm xét, có Giáo sư Tiến sĩ Duchat Violetta, là người chuyên về nhạc dân tộc và đàn Bandura. Bà cũng là cây viết rất được kính nể về đàn dân tộc Ukraine này. Khi nghe Kateryna nói về việc trình diễn bài dân ca Việt Nam do một nhạc sĩ Việt Nam viết cho đàn Bandura, cả hội đồng đều ngạc nhiên. Họ cho đây là một khám phá mới, một ứng dụng mới của cây đàn dân tộc của họ mà từ trước họ chưa nghĩ tới. Vì vậy Hội Ðồng Duyệt Xét Luận Án Tiến Sĩ Ukraine đã tuyên bố nhạc sĩ Lê Văn Khoa là người đầu tiên đưa hai nguồn văn hóa đến với nhau bằng âm nhạc dân tộc của cả hai quốc gia, là dân ca Việt Nam (Á Châu) và đàn dân tộc Ukraine (Âu Châu). Họ yêu cầu Kateryna xin ảnh chân dung của tôi để họ phóng lớn và treo trong viện Khoa Học của Ukraine.

Ðàn Bandura đã từng được dùng để trình tấu nhạc của Chopin, Listz, Bach, Mozart v.v. . . từ xa xưa rồi, người Ukraine cũng có hội Bandura lớn ở New York, tại sao Lê Văn Khoa được nhận là người đầu tiên đem hai nguồn văn hóa đến với nhau bằng âm nhạc?

Từ trước nhạc sĩ Ukraine dùng nhạc nghệ thuật của các nhạc sĩ cổ điển danh tiếng khuất bóng đã lâu, từ các quốc gia khác (Âu Châu). Nhạc của những nhạc sĩ ấy do một nhạc sĩ Ukraine viết lại cho đàn Bandura trình tấu. Ở đây một nhà soạn nhạc Việt Nam, trực tiếp chuyển bài dân ca phổ thông của Việt Nam cho tiết tấu độc đáo của đàn dân tộc Ukraine, để hai bên “nói chuyện” và “hòa hợp” được bằng âm thanh đặc thù riêng của dân tộc mình mà không qua người trung gian. Theo yêu cầu, tôi viết điện thư về Mỹ, nhờ gia đình gửi ảnh chân dung của tôi qua gấp. Tôi không theo dõi việc treo ảnh này, nhưng chỉ với lời xác nhận của họ đủ làm cho tôi mát lòng mà thấy mục đích đưa nhạc Việt vào thế giới đã đạt được một phần đáng kể.

Giáo sư Duchat Violetta sau đó viết bài Rethink the Timber of the Bandura. Với tựa bài “Nghĩ Lại” hay “Xét Lại Âm Sắc Của Ðàn Bandura” đủ thấy sự giao thoa của đàn này với dân ca Việt Nam là cái gì đáng để nhạc sĩ Ukraine quan tâm và “xét lại” gía trị đích thực của chính cây đàn dân tộc họ. Ðiều đó cũng cho ta thấy cây đàn này cùng chung số phận với những nhạc cụ cổ truyền của ta, có thể sẽ bị mờ nhạt dần vào quên lãng của thời gian. Bandura đã trải qua biết bao chìm nổi theo vận nước, có biết bao nhiêu người Ukraine đã hy sinh mạng sống với nó, vì nó, và bây giờ họ bỗng thấy cây đàn ấy có cơ hội vươn tới xa hơn để đi vào thế giới. Bài viết của Giáo sư được in lại nơi trang 674-678 trong quyển sách “Lê Văn Khoa, Một Người Việt Nam”. Giáo sư Duchat Violetta phân tích hai bài dân ca Việt Nam là Trống Cơm và Se Chỉ Luồn Kim của tôi viết cho đàn Bandura độc tấu với dàn nhạc giao hưởng. Giáo sư xác nhận cô Kateryna là người đầu tiên chơi hai bài này năm 2008 ở Long Beach Center of the Arts và năm 2010 ở trường Ðại Học Cộng Ðồng Bắc Virginia.

Sau khi phân tách kỹ thuật viết nhạc bài Trống Cơm cho đàn Bandura, bà kết: “Tiếng đàn thánh thót, âm vực rộng, có những kỹ thuật độc đáo và kỹ thuật trình diễn đặc biệt của nhạc cụ độc tấu, như rung reo (tremolo) và rải dài (glissando), đều được Lê Văn Khoa sử dụng trọn vẹn. . . Nhìn chung, bài nhạc cho ta hình ảnh của món kim hoàn sắc sảo, trong sáng, với những nét chạm trổ tinh vi, thật đẹp và hấp dẫn chứ không hời hợt.”

4. Kateryna đàn Se Chỉ Luồn Kim_ảnh Thái Dắc Nhã

Kateryna và Kyiv Symphony Orchestra trình diễn Se Chỉ Luồn Kim, Washington D.C. 2010.

Nhạc trưởng Lê Văn Khoa

 

Với bài Se Chỉ Luồn Kim, Tiến sĩ Duchat Violetta nhận xét: “Trong bài Se Chỉ Luồn Kim, Nhạc sĩ Lê Văn Khoa cũng viết với phong cách tương tự. Nhạc cũng mang bản chất nhẹ nhàng, vui tươi, tung tăng. . . Hòa âm có phong phú hơn, phối khí có hiệu năng hơn. Trong bài này tác giả dùng những nốt quãng tám kép song hành của những bộ nhạc cụ khác nhau, giúp cho tác phẩm “rộng lớn” và “bao la” hơn. Tiết nhịp của tác phẩm vận dụng bộ gõ có trống nhỏ, timpani, và âm điệu tái diễn chuyển tiếp đặc thù giữa các nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng, gợi hình ảnh các tầng lớp chỉ màu khác nhau chồng lên qua mũi kim thêu”.  

5. Lê Văn Khoa và Kateryna

Lê Văn Khoa và Kateryna Myronuyk (2009), hai người đưa dân ca Việt vào thế giới qua ngã Ukraine

Tôi ít được gặp một người Việt Nam nghe nhạc Việt mà hiểu rõ âm nhạc như Giáo sư Tiến sĩ Duchat Violetta, người Ukraine, nghe nhạc Việt Nam. Giáo sư nhận ra được ý tôi muốn diễn tả mà không cần lời giải thích hay gợi ý trước.

Tất cả những kết qủa này đều phát xuất từ món quà âm nhạc của cô Kateryna năm 2005. Nhờ Kateryna Myronyuk mà tôi biết cây đàn Bandura và khả năng của nó. Nhờ Kateryna Myronyuk mà ngày nay có nhiều người Ukraine dùng đàn Bandura để tấu lên dân ca Việt trên vùng đất xa lạ này. Vợ chồng Taras Myronyuk và tôi hứa hẹn nhau sẽ đưa nhạc Việt và đàn Bandura đi xa hơn nữa bằng cách trình diễn ở nhiều nơi với dân nhạc Việt do tôi viết lại cho đàn Bandura. Nhạc sẽ huê dạng hơn và hòa với tiếng hát của Kateryna. Việc này có dễ không? Thưa, không dễ, nhưng thực hiện được và tôi đã lên kế hoạch để thực hiện, tin rằng Kateryna sẽ giúp tôi truyền bá dân nhạc Việt ra thế giới. Việc này cũng như dương cầm thủ Lyudmila Chychuk đã giúp đưa nhạc dương cầm Việt Nam của tôi đến nhiều quốc gia Âu Châu qua các buổi trình diễn của bà.

Gần đây, ngày 16 tháng Giêng 2015, Taras và Kateryna Myronyuk cùng ba con nhỏ bị một tai nạn xe hơi trầm trọng trên dường từ miền quê về thủ đô Kyiv. Xe gặp nạn, lăn nhiều vòng. Một trong ba đứa con trai nhỏ bị văng ra khỏi xe. Tất cả người trong xe đều bất tỉnh. Bác sĩ ở Kyiv, Ukraine đều bận rộn (có thể lo chữa trị thương binh đang trong cuộc chiến chống tay sai của Nga). Sau khi dàn xếp được, xe cứu thương chở tất cả nạn nhân qua Ba Lan điều trị. Taras và ba đứa con trai bị thương nhẹ nên chỉ vài hôm là được cho về. Kateryna bị thương nặng hơn hết, phải nằm nhà thương hơn hai tháng. Cô bị bể cằm, rách mặt nhiều chỗ, phải khâu trên 35 mũi kim. Tin nhận được ngày 15 tháng Ba 2015, Taras cho biết tuy cơn nguy kịch đã qua, hiện vợ chồng ông còn đang ở trong Trung Tâm Phục Hồi tại Ba-Lan. Kateryna đang tập ăn, nói rất khó khăn, tai nghe chưa rõ, mắt còn mờ nhòe. Sẽ còn những cuộc giải phẩu tiếp theo.

Kateryna Myronyuk, một phụ nữ trẻ đẹp, tài giỏi, đạo đức, yêu và có uớc vọng phổ biến dân ca Việt, đang bị hoạn nạn quá lớn. Tương lai cô như thế nào? Không ai nói trước được!

 

LÊ VĂN KHOA : Sức Mạnh Ðáng Sợ Của Âm Nhạc


Sức Mạnh Ðáng Sợ Của Âm Nhạc

le van khoa

Thursday, 26 December 2013 00:40 GS Lê Văn Khoa
Posted by: Cao Minh Hưng
E-mailPrint

Read 90 times.

 


Có thể các nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam trước 1975 đã quên giá trị của trống trận Tây Sơn, hoặc đặt chưa đúng mức chỗ đứng của âm nhạc trong cuộc chiến Quốc-Cộng trên đất nước ta. Có thể phần lớn chúng ta vì quá tôn trọng sự tự do nên ít chú ý đến giá trị và sức mạnh của âm nhạc cần được ứng dụng trong thời chiến. Trong khi chiến cuộc gia tăng cường độ, các đài phát thanh, truyền hình của miền Nam, nhất là các phòng trà mãi rên rỉ về những cuộc tình tan vỡ. Ðến lúc sự ủy mị lan tràn quá mạnh, người có trách nhiệm tỉnh ngộ, ra lệnh cấm các cơ quan truyền thông phát thanh loại nhạc với nhịp điệu boléro, thường đi với ca khúc than khóc, dễ làm nản lòng chiến sĩ. Tôi còn nhớ khoảng năm 1972-1973 khi nộp một chương trình để thu hình cho ca đoàn Trùng Dương trình diễn trên Truyền Hình Việt Nam, trong đó có bài “Mùa Hoa Nở” của nhạc sĩ Cung Tiến. Kiểm duyệt viên của bộ Thông Tin hỏi tôi bài này theo nhịp gì? Tôi trả lời là nhịp boléro. Bài “Mùa Hoa Nở” bị xóa khỏi chương trình, không cho thu hình. Lý do: nhịp điệu boléro. Người ta không cần biết nội dung, không chú ý đến lời ca. Tôi nói với viên chức kiểm duyệt rằng: “Tôi sẽ thu hình bài này mà các ông không cấm được”. Ông ấy hỏi tôi: “Tại sao?” Tôi đáp: “Rồi các ông sẽ thấy”.

NS Kateryna Myronyuk su dung dan bandura

Tôi có lý do để trả lời cứng với người kiểm duyệt vì phần nhạc đệm không phải là ban nhạc loại phòng trà mà là ban Kim Mộc, ban nhạc diễn hành của Hải Quân Việt Nam. Bài nhạc có một đoạn ngắn được viết theo nhịp boléro, ngay sau đó tôi chuyển qua nhịp quân hành.
Vài tuần sau tôi xin kiểm duyệt lại bài “Mùa Hoa Nở”. Lần này tôi ghi bài sẽ được chơi theo nhịp quân hành, thì được cho phép thu hình. Thật ra boléro chơi với dàn hòa tấu Kim Mộc âm hưởng rất khác với ban nhạc loại phòng trà khiêu vũ.

Sau khi thu và phát hình bài “Mùa Hoa Nở” tôi bị khiển trách không phải vì nhịp điệu boléro (họ không chú ý đến boléro vì không thấy nét ủy mị) mà trách rằng: “Tại sao Tướng Kỳ chưa ra lệnh Bắc tiến mà các anh dám đi trước?” Tôi trả lời: “Cần chuẩn bị tinh thần quân dân sẵn sàng để Bắc tiến khi có lệnh! Nếu để xuất quân rồi mới chuẩn bị thì trễ mất rồi.” Lúc đó có dư luận nói quân đội miền Nam chuẩn bị Bắc tiến.

Việc này tôi tin tác giả Cung Tiến không hề biết.
Năm 2005 tôi qua Ukraine để thu thanh CD Symphony “Việt Nam 1975”. Có người trách tôi sao qua Nga để thu thanh. Họ không biết Ukraine đã bị Nga đô hộ suốt 70 năm và đã tách ra khỏi khối Liên Bang Sô Viết năm 1991, khi Nga Sô suy yếu sau vụ sụp đổ bức tường Bá Linh. Tuy hiện nay vẫn có những người thân Nga nhưng nói chung dân chúng Ukraine rất thù Nga. Dường như không có gia đình nào không có người bị Nga hành quyết.

Trong khi ở Ukraine, tôi chú ý đến nhạc cụ dân tộc của họ là cây đàn bandura và tôi có chuyển vài bài dân ca Việt như “Se Chỉ Luồn Kim” và “Trống Cơm” cho độc tấu bandura và dàn nhạc giao hưởng với ý muốn đem truyền bá dân nhạc Việt qua xứ người. Không ngờ việc làm này đã được Tiến Sĩ Nghệ Thuật chuyên về Bandura, bà Violetta Dutchak, thuộc Bộ Khoa Học Nhân Văn và Nghệ Thuật của Ukraine tuyên bố: “Lần đầu có người đưa hai nguồn văn hóa dân tộc (giai điệu dân ca Việt viết cho nhạc cụ quốc gia Ukraine) đến với nhau, qua âm nhạc.”
Khi nghiên cứu nhạc cụ mang tên là nhạc cụ dân tộc của Ukraine (họ không gọi là nhạc cụ cổ truyền), một lần nữa tôi được minh xác là từ trước người ta đã nhận thấy giá trị sâu xa của âm nhạc. Trong trường hợp này, người Đức, Ba Lan và Nga đối với nhạc dân tộc của người Ukraine đã thẳng tay truy diệt người phổ biến loại nhạc này. Ðàn bandura mang tên là “nhạc cụ dân tộc” quả nhiên đã trôi nổi và chịu khổ hạnh với dân tộc Ukraine trong nhiều thế kỷ.

Đàn bandura có thể trình diễn như nhạc cụ độc tấu, nhưng cũng có thể dùng đệm cho giọng ca. Trong thời Ukraine bị Ba Lan đô hộ ở phía Tây, đàn bandura được ưa chuộng trong triều đình Ba Lan cho đến khi cuộc nổi dậy chống Ba Lan năm 1648 thì Bandura bị cấm tuyệt và người chơi đàn này bị giết vì bị liệt kê là rất nguy hiểm. Bên phía Ðông của Ukraine, phần đất thuộc Nga cai trị, đàn bandura được phát triển mạnh cho đến năm 1876 thì đàn này bị cấm, tất cả những gì trình diễn có tính chất dân tộc và ngôn ngữ Ukraine cũng bị cấm luôn. Nhưng đáng sợ hơn hết là Stalin và cộng sản Nga trong thế kỷ 20. Người Nga muốn đồng hóa nguời Ukraine vào dân tộc Nga nên không chấp nhận có một nhạc cụ mang tên Nhạc Cụ Quốc Gia từ Ukraine.

Năm 1933 Nga đã ra tay giết 7 triệu người Ukraine (sau này có tài liệu nói số người chết có thể lên đến trên 10 triệu) trong một năm bằng cách bỏ đói họ. Nga cướp hết những gì có thể ăn được của người Ukraine, kể cả cải muối làm dưa. Họ không cho phép người Ukraine ra nước ngoài, không cho người vùng này qua vùng khác trong xứ để kiếm ăn. Họ muốn biến những người còn sống không còn tinh thần quốc gia mà trở thành người quy phục Nga tuyệt đối.

Nhưng tinh thần quốc gia dân tộc vẫn còn được cổ võ trong dân chúng do những người kobzari. Kobzar là tên đến từ đàn kobza mà kobza là tiền thân của đàn bandura. Người chơi kobza gọi là kobzar, số nhiều là kobzari. Từ xa xưa kobzari đi theo đoàn quân Cossack để ủy lạo chiến sĩ và cầu hồn cho các tử sĩ. Họ dùng bandura để đệm hát những thiên hùng ca dân tộc.

Ai là kobzar? Kobzar là người chơi đàn kobza, nhưng không phải ai chơi đàn kobza cũng đều được gọi là kobzar. Muốn được vào thành phần kobzari, người nhạc sĩ phải bị mù, thường là từ nhỏ, phải có trình độ chơi nhạc rất cao, được trắc nghiệm và chứng nhận, phải có lòng yêu nước, có bổn phận đi loan truyền chân lý và tự do đặt trên căn bản công lý và nhân bản qua âm nhạc. Những trẻ em bị mù từ nhỏ, học đàn kobza không thành đạt thì không được vào hàng kobzari. Chúng chỉ được nhập vào đoàn hành khất có tổ chức và được phép đàn một số bài nhạc của kobzari.

Những người chơi bandura, một số là người trí thức, nhưng phần lớn là nhạc sĩ mù (kobzari) đi hát rong khắp nơi. Họ nêu cao tính khí hào hùng của người Cossack, ca ngợi lịch sử của Ukraine, tôn vinh tinh thần dân tộc chống ngoại xâm. hát ca khúc ái quốc và tôn giáo.
Những người trí thức thường yêu cầu kobzar hát các bài dumy (hùng ca ái quốc). Người bình dân thường yêu cầu họ hát bài ca tôn giáo. Thông thường họ hát bài ca ăn xin zhebranka. Khi được mời vào nhà, họ hát những bài ca do chủ nhà yêu cầu. Lúc ra về họ hát bài ca cám ơn blahoda-rinnia. Những nghệ sĩ mù này thường thuê một đứa bé mồ côi dẫn đường cho họ.

Chính những nghệ sĩ mù này là những người tuyên truyền rất đắc lực. Những tin tức thu lượm được họ chuyển thành bài ca và đem phổ biến các nơi, giữ vững tinh thần yêu nước trong quần chúng và nuôi giấc mộng tự do trong lòng mọi người. Vì vậy cộng sản Nga quyết tâm diệt trừ nghệ sĩ mù.

Năm 1933 (có tài liệu ghi 1939) Stalin ra lệnh “mời” tất cả kobzari về thủ đô (cũ) là Kharkiv, Ukraine, dự đại hội âm nhạc toàn quốc để ghi chép lại tất cả các bài ca do họ sáng tác và trình diễn dùng lưu truyền cho hậu thế.

Ý tưởng quá đẹp này đã thu hút trên 300 nghệ sĩ mù về Kharkiv dự đại hội âm nhạc. Trên thực tế người Nga tập trung họ lại một chỗ để dễ thanh toán. Quả nhiên tất cả những người này đã bị tàn sát tập thể.

Stalin sợ ảnh hưởng các bài ca của những nhạc sĩ mù được truyền đi các nơi cách nhanh chóng và có hiệu quả lớn trong việc kích động quần chúng chống Nga, nên ra tay giết những kobzari càng nhiều càng tốt.

Stalin cũng đã giết rất nhiều nhạc sĩ chơi bandura khác và tuyên bố họ bị Ðức Quốc Xã hạ sát. Sau này lịch sử chứng minh không phải quân Ðức giết họ. Ðó là chưa kể vô số người bị đày đi Siberia không có ngày về. Nhiều người khác bị giết, nhưng gia đình được thông báo là họ bị lưu đày và gia đình không được phép liên lạc với tội nhân. Trong số họ có nhạc sĩ Sohohub Viktor bị xử bắn ngày 27-11-1937 với 3 đứa con trai, cũng chơi đàn bandura như cha. Nếu quý độc giả muốn có bản danh sách những người bị hành quyết, có thể vào đọc trong trang web http://en.wikipedia.org/wiki/Persecuted_bandurists. Bảng danh sách nhiều trang giấy với ngày tháng mà người ta ghi nhận được. Danh sách còn đang được cập nhật. Thường thường khi bản án đã công bố thì “tội nhân” bị hành quyết trong vài giờ hoặc vài ngày, hay chậm lắm là vài tuần lễ sau.

Ivan Kuchuhura-Kucherenko
(1874-1937)

Án lệnh xử bắn nhạc sĩ mù Ivan Kuchuhura-Kucherenko (1937)

Trong thập niên 1930, nhất là năm 1937-38 rất nhiều toán nhạc sĩ bandura của Ukraine bị Nga hành quyết, mỗi toán đến nhiều chục người bị giết cùng lúc. Trong những người bị giết có một nhạc sĩ mù tên Ivan Kuchuhura-Kucherenko, khá đặc biệt. Ông chào đời ngày7-7-1874, bị mù từ ba tuổi, có năng khiếu nhạc rất cao, khi ông nghe người khác đàn là ông nắm được kỹ thuật ngay. Lớn lên rất có tài, đi trình diễn nhiều nơi. Ông được mời trình diễn 40 buổi ở St. Petersburg, năm 1913, hầu hết ở các cơ sở giáo dục và ở thủ đô Moscow nước Nga năm 1915. Ống là một trong vài người đầu tiên được cấp bằng tuyên dương “Nghệ Sĩ Nhân Dân”, năm 1919 và bằng “Nghệ Sĩ Nhân Dân Ukraine – Liên Sô”, năm 1926. Ông được xem như là người chơi đàn bandura xuất sắc nhất. Bộ tự điển Soviet Encyclopedia của Nga có viết về ông. Họ nói quân Ðức giết ông năm 1943 khi Đức chiếm Ukraine. Trên thực tế, tài liệu của Ủy Ban Nhân Dân Nội An Vụ của Nga Sô được tìm thấy sau này, có bản án ghi rằng ông Ivan Kuchuhura-Kucherenko bị Nga xử bắn ngày 24-11-1937, sau 8 tháng tra tấn, trên vùng đất của KGB ở ngoại ô Kharkiv, Ukraine. Ông bị chôn trong mồ tập thể, nơi 300 nhạc sĩ mù và vô số người khác bị hành quyết. Bên trên là bản sao lệnh xử tử ông, có ghi rõ ngày tháng.

Một trường hợp khác, nhạc sĩ bandura tên Oleksander Borodai có quốc tịch Hoa Kỳ, khi trở về Ukraine năm 1919, liền bị bắt và bị xử bắn.
Đến năm 1960 đảng cộng sản Ukraine hoàn toàn kiểm soát việc sử dụng đàn bandura. Nam sinh không được nhận vào phân khoa bandura trong nhạc viện mà chỉ dành cho nữ sinh.

Những bài hùng ca, ái quốc viết cho nhạc cụ này bị cấm, thay thế bằng những tình ca và nhạc cổ điển Tây phương được chuyển hóa cho nhạc cụ bandura.

Bang Tuong Niem Nguoi Ukraine bi Nga giet

Ðài tưởng niệm hằng nhiều triệu người Ukraine bị Nga giết, được dựng lên ở Edmonton, Canada

Xuyên qua những dữ kiện bên trên ta không ngạc nhiên khi thấy cộng sản Việt Nam ngày trước đã cấm dân chúng đàn và ca vọng cổ, loại nhạc ưa chuộng của người miền Nam.

Bên trên và trong bài “Âm nhạc ảnh hưởng đến vạn vật” chúng ta đã thấy âm nhạc được dùng trong nhiều khía cạnh của sinh hoạt nhân loại. Ở đây ta thấy một khía cạnh khác, người ta dùng âm nhạc để nhục mạ một người, một chế độ hay cả một dân tộc khác. Tuy nhạc không dùng ngôn từ nhưng ý nghĩa của nó rất mạnh. Một sự việc xảy ra gần đây làm ta phải suy nghĩ.

Hôm 19 tháng Giêng 2011, Tổng Thống Barak Obama của Hoa Kỳ mở quốc yến để khoản dải Hồ Cẩm Ðào, nhà lãnh đạo Trung Cộng tại tòa Nhà Trắng, bữa tiệc được gọi là tinh túy của Hoa Kỳ. Trong bữa đại yến, ngoài Hồ Cẩm Ðào còn có khách quý từ nhiều quốc gia, dĩ nhiên có một chương trình nhạc chọn lọc với sự đóng góp tinh hoa của nghệ sĩ từ hai quốc gia chính. Bên Trung Hoa đưa ra một diệu thủ piano tên tuổi là Lang Lang, mà phần lớn cuộc đời trưởng thành của ông là ở Hoa Kỳ,. Sau màn trình diễn chung với cầm thủ Hoa Kỳ Lang Lang tự giới thiệu và sau đó độc tấu bài piano “My Motherland”.

Ðọc tên bài nhạc “Ðất Mẹ” người ta tưởng nó chỉ là bài ca nhớ quê. Tại sao Lang Lang trình diễn trong quốc yến này? Vì nếu chỉ là một giai điệu hay thì Trung Hoa có nhiều bài nhạc rất hấp dẫn.
Thử tìm hiểu sâu hơn ta khám phá ra điều gì?

Ðây là ca khúc được dùng trong phim “Battle on Shangangling Mountain” do Trung Hoa cộng sản sản xuất năm 1956, chuyển trận chiến trên khu tam giác đồi núi Kimhwa, Bắc Triều Tiên năm 1952 thành phim ảnh. Quân Trung Cộng bị thiệt hại nặng, cố cầm chân quân đội Hoa Kỳ để chờ viện binh. Một nữ hộ lý Trung Hoa hát bài ca này để ủy lạo thương binh, trong đó có câu: “Khi bạn thân đến, ta có rượu ngon để mời. Khi sài lang (chó ghẻ Phi Châu) đến, ta có súng săn để giết chúng.” Sài lang ở đây ám chỉ lính Mỹ. Bài ca được dùng như là bài ca tuyên truyền chống Mỹ trong nhiều thập niên và được dạy trong tất cả trường học ở Trung Hoa. Khi trình diễn ở tòa Nhà Trắng, Tổng Thống Obama, phu nhân và mọi người vỗ tay tán thưởng. Truyền hình chiếu khắp thế giới. Người Trung Hoa cộng sản xem, cười hả dạ và nói là bọn Mỹ thật ngu, người ta mắng vào mặt mình không biết nhục mà còn khen hay. Thật đáng thương hại. Người chống cộng thì lắc đầu ngao ngán. Phát ngôn viên tòa Nhà Trắng là Tommy Victor thay vì nhận sự sơ hở của mình lại đi binh vực Lang Lang, nói: “Ý nghĩ cho việc trình diễn nhạc phẩm này để hạ nhục Hoa Kỳ thì rất sai. Nó chỉ là một giai điệu hay chứ không có ý nghĩa gì khác.”

Đối lại lập luận trên, tôi nhớ một nhạc sĩ thuộc nhạc viện Hà Nội đã nói: “Khi trình diển nhạc cổ điển không lời, đàn nhấn mạnh sai chỗ là đã biểu lộ tinh thần phản loạn rồi.”

Lang Lang không xin lỗi mà còn tuyên bố với truyền hình rằng đàn bài nhạc ấy trước những bậc lãnh đạo của thế giới là một hân hạnh và danh dự, làm cho người Trung Hoa kiêu hãnh về mình, cho thấy Trung Hoa là một quốc gia khiếp đảm và người dân Trung Hoa thật sự đoàn kết.

Nếu Tổng Thống Obama cũng như ban nghi lễ của tòa Bạch Ốc không biết bài nhạc này và ý nghĩa của nó, chắc chắn Hồ Cẩm Đào và đoàn tùy tùng biết. Họ để yên, không có ý chận Lang Lang. Cũng có thể họ gài cho Lang Lang chơi để nhục mạ Hoa Kỳ, xem Hoa Kỳ có dám làm gì không. Có thể đây là một đòn dọ dẫm để họ có những hành động táo bạo hơn ở Á Châu và thế giới trong tương lai gần. Thật ra sự việc này có thể đưa đến chiến tranh như chơi, nhưng Obama quá yếu, để cho chìm xuồng luôn mà không đòi hỏi Trung Hoa giải thích.
Khi câu chuyện này được đăng trên Sina Weibo blog, rất nhiều người đáp ứng. Họ chia ra hai phe rõ rệt. Một bên thì ca tụng Lang Lang như vị anh hùng, dám thẳng cánh đâm vào Hoa Kỳ bằng sứ điệp chí tử, ghi sâu hận thù. Một bên thì cho là chọn bài nhạc để dùng không đúng chỗ. Ngày 23 tháng Giêng năm 2011, The Epoch Times ghi thêm đề phụ: “Hoa Kỳ bị hạ nhục trước mắt người Trung Hoa bằng bài ca đã từng được dùng để kích động chống Mỹ.”

Việc này làm tôi nhớ lại câu nói đáng ghi nhớ của nhà danh họa Picasso: “Nghệ thuật là sự giả dối để làm cho chúng ta nhận thức sự thật.” (Art is a lie that make us realize the truth. – Pablo Picasso).

Phải chăng âm nhạc là đề tài đáng cho người nuôi mộng quang phục quê hương nghiên cứu, khai triển và thực hiện?

Tham khảo:
– wikipedia.org/wiki/Persecuted_bandurists
– Kobzari
– Ukrainian-Bandurist-Chorus
– Phỏng vấn riêng
– NY Post
– Christian Science Monitor
– YouTube

http://www.caulacbotinhnghesi.net/index.php?option=com_content&view=article&id=1765

TV NGƯỜI VIỆT : Nhạc sĩ Lê Văn Khoa và đêm nhạc A Lifetime of Music, California, USA


Published on Nov 18, 2013
Chương trình “Câu Chuyện Văn Nghệ Với Quỳnh Giao”
do Nam Phương phỏng vấn.
Được phát hình trên Người-Việt TV
vào mỗi thứ Hai hàng tuần
Đề tài:Nhạc sĩ Lê Văn Khoa
và đêm nhạc Giao Hưởng A Lifetime of Music
Người Việt TV (c) 2013 – http://NGUOIVIETTV.com
Người Việt Online – http://NGUOI-VIET.com