Tag Archives: ngành mai

NGÀNH MAI /thông tín viên RFA: Điền Tử Lang, người ca sĩ đài phát thanh của hai chế độ


Điền Tử Lang, người ca sĩ đài phát thanh của hai chế độ

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2015-08-01
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

hinhminhhoa-622.jpg

Ca sĩ Điền Tử Lang.

Courtesy photo

Your browser does not support the audio element.

Sự hữu hiệu của đài phát thanh

Đài phát thanh là một cơ quan truyền thông mà dù ở chế độ nào cũng đặt nặng, do bởi hiệu năng hoạt động của cơ sở kỹ thuật này rất cao.

Ở đây tôi không đề cập đến những lãnh vực khác mà đài phát thanh mang lại sự hữu hiệu, mà trong buổi nói chuyện này tôi chỉ nói về mặt văn nghệ, nói riêng về cổ nhạc cải lương có liên quan đến đài phát thanh mà thôi. Một tuồng cải lương hát ở rạp thì số người đi coi chỉ vài trăm, nếu như tuồng hay, rạp lớn, đào kép tên tuổi, thì cũng chỉ trên dưới một ngàn khán giả là cùng. Nhưng nếu hôm đó chuyên viên kỹ thuật đài phát thanh mang máy móc đến làm việc, cho trực tiếp truyền thanh thì có hàng triệu người mộ điệu trong cả nước được thưởng thức. Do vậy mà người ca sĩ cổ nhạc cộng tác với đài phát thanh thì quá nhiều người biết đến tên, dù rằng họ chưa một lần gặp mặt, như trường hợp danh ca cổ nhạc Điền Tử Lang.

Người hâm mộ cổ nhạc cải lương của hai ba thế hệ, có ai mà không biết cái tên Điền Tử Lang. Nếu nói về tài nghệ, về làn hơi ca của Điền Tử Lang thì không thể sánh được với nhiều giọng ca quá hay của nghệ sĩ sân khấu. Nói rõ hơn nếu người nghệ sĩ mà quanh năm suốt tháng chỉ hát ở sân khấu, dù rằng ca hay diễn giỏi thì con số người biết đến tên cũng bị giới hạn, còn Điền Tử Lang thì trên cả nước đều biết đến tên tuổi, do bởi anh ta cộng tác với đài phát thanh cả hai thời kỳ trước và sau 1975.

Điều đáng nói ở đây là Điền Tử Lang đã phục vụ thính giả của đài phát thanh Sài Gòn thời kỳ trước 1975 (khoảng 10 năm) và hát trên đài Tiếng Nói Nhân Dân Thành Phố, tức đài phát thanh Sài Gòn cũ được đổi tên (khoảng gần 20 năm). Có nghĩa là Điền Tử Lang đã phục vụ thính giả đài phát thanh cả hai chế độ, và hai thời gian cộng lại gần 30 năm.

Sau 1975 các ban văn nghệ, ca sĩ đài Sài Gòn đã bị cho nghỉ việc, đại đa số phải rời khỏi đài, để cho ca sĩ khác vào thay thế. Nhưng riêng Điền Tử Lang thì ở lại tiếp tục làm việc, mà lại còn làm lâu hơn, gấp đôi thời gian trước 1975. Lý do vì sao thì tự ai nấy biết, tùy theo hoàn cảnh của mỗi người. Có điều tôi muốn nói thêm ở đây là ca sĩ cộng tác với đài phát thanh tuy không nhiều tiền như đi hát, nhưng hưởng lương căn bản, chắc ăn, không có cái chuyện bị giựt tiền lương, bị lãnh đờ mi v.v… do vậy mà Điền Tử Lang kể như may mắn hơn nhiều người khác bị thất nghiệp.

Nhưng ngược lại thì ca đài phát thanh rất nguy hiểm, nghệ sĩ quen hát “cương” phải thận trọng, nếu hát cương (tức lời ca tiếng hát không có trong kịch bản, trong bài ca) mà vô tình phát ra câu hát “phạm chính trị” thì lãnh đủ thôi! Đây, tôi xin kể lại một câu chuyện từng xảy ra trên đài phát thanh Sài Gòn, thời kỳ những năm đầu Đệ Nhứt Cộng Hòa.

Lúc bấy giờ thì Đài Pháp Á đã đóng cửa, đa số ca sĩ ở đài này chạy sang đài phát thanh quốc gia, tức đài Sài Gòn, trong số có ca sĩ Văn Chung, tức hề Văn Chung mà hiện nay đang định cư ở Hoa Kỳ, miền Nam California. Văn Chung lúc ấy là danh ca, dù rằng giọng ca chẳng mấy hay, và ông cũng chưa đi hát, sau này mới cùng vợ là đào Thanh Hương thành lập gánh hát lấy bảng hiệu Thanh Hương – Văn Chung. Lúc bấy giờ Văn Chung tham gia Ban Lệ Liễu, là một ban cổ nhạc có khá nhiều thính giả của đài phát thanh Sài Gòn.

Thời này các ban cổ nhạc của đài phát thanh được lệnh phải soạn bài ca đề cao chế độ thì mới được hát. Ngày nọ khoảng 1957 – 1958 Lệ Liễu (cô cũng là soạn giả) đã viết bài trao cho Văn Chung ca theo điệu Xàng Xê với câu mở đầu “Nước Việt Nam ta dưới chế độ Cộng Hòa”. Nhưng bữa đó Văn Chung lại mở đầu bằng câu ca “Nước Việt Nam ta dưới chế độ Dân Chủ Cộng Hòa”. Văn Chung tự thêm 2 chữ “dân chủ” vào mà hại hết cả đám, kể cả ông luôn, vì đó là chế độ miền Bắc. Người ta nói do miệng ăn mắm ăn muối rồi thần khẩu hại xác phàm hay sao?

Đài kiểm thính của mật vụ Phủ Tổng Thống nghe được, và giám đốc đài phát thanh Sài Gòn bị kêu vô Đinh Độc Lập gặp ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Rồi thì khi ra vẻ với vẽ mặt hầm hầm, ông liền ra quyết định ngưng cho Ban Lệ Liễu cộng tác. Đồng thời làm văn thư gởi Nha Cảnh Sát Công An Đô Thành. Thế là Lệ Liễu và Văn Chung bị điều tra, nhưng nhờ Văn Chung từng là cựu nhân viên cảnh sát đô thành nên được thông cảm, chỉ bị cấm hát trên đài mà thôi.

Như mọi người đều thấy đó, chỉ có 2 chữ “dân chủ” thêm vào bài ca mà giám đốc đài phát thanh bị khiển trách, xém mất chức. Ban Lệ Liễu thì mất chỗ đứng, gây thất nghiệp cho số người trong toàn ban, và Văn Chung thì mất chỗ làm khá lâu, bởi đâu có ban nào dám mời Văn Chung cộng tác lúc đó.

Làn hơi ca mang âm hưởng riêng biệt

rap-long-van-250.jpg
Rạp hát cải lương Long Vân ở Ngã Bảy, Sài Gòn. Photo courtesy of BlogNắngẤm.

Giờ đây xin trở lại vấn đê Điền Tử Lang, danh ca này từng cộng tác với đài phát thanh Sài Gòn trước 1975, trong chương trình “Tiếng Chim Gọi Đàn” của Bộ Chiêu Hồi, thường phát thanh khoảng sau 10 giờ đêm. Thính giả của đài phát thanh Sài Gòn khi xưa, đặc biệt là những người hâm mộ cổ nhạc, chắc không lạ gì 2 giọng ca mùi rệu của đôi nam nữ Điền Tử Lang – Trang Mỹ Hường. Chương trình văn nghệ không những chỉ nhằm đem lại cho giới mộ điệu ở ngoài thành, mà mục tiêu là nhắm vào vùng đồng ruộng xa xôi, nơi thâm sơn cùng cốc. Nói chung dù ở tận

nơi đâu trong rừng rậm mật khu, thì tiếng ca cũng được đem đến, nếu như có chiếc radio nhỏ mang theo.

Làn hơi ca của Điền Tử Lang có âm hưởng riêng biệt, không chạy theo ai hết, không giống với giọng ca nào trên sân khấu hoặc là trong dĩa hát. Còn giọng ca Trang Mỹ Hường thì trầm ấm ngọt ngào, đi sâu vào tình cảm những ai có tâm sự gì đó mà khó bộc lộ ra. Thanh âm ấy cất lên tựa hồ lời than thở của người thiếu phụ trông chồng trong đêm khuya thanh vắng.

Thiên hạ thời ấy nói rằng, ban chương trình văn nghệ chiêu hồi đã khéo tuyển lựa 2 giọng ca nghe sao mà não nuột, tê tái tận cõi lòng, đã đi theo làn sóng phát thanh vào bưng biền, tận nơi rừng sâu núi thẳm. Nếu như người cán binh cộng sản nghe được thì làm sao khỏi nhớ mái ấm gia đình ở quê nhà, nhớ vợ con đang mòn mỏi đợi trông, thì một lúc nào đó có cơ hội là họ sẽ về chiêu hồi.

Người ta không biết rõ hai giọng ca Điền Tử Lang và Trang Mỹ Hường đã làm nản lòng bao nhiêu cán binh, bao nhiêu người về hồi chánh, nhưng chắc ít nhiều gì cũng có tác dụng, nên cả hai mới cộng tác lâu dài ở chương trình văn nghệ chiêu hồi này. Sau ngày 30 – 4 – 75 có lẽ nghĩ rằng ca hát ở cơ quan chiêu hồi là có tội, nên Điền Tử Lang “rét” quá, lánh mặt ở đâu đó một thời gian. Nhưng rồi thấy các nghệ sĩ ở Sài Gòn lần lượt trước sau đi hát trở lại, mà trong đó có Ngọc Đan Thanh cũng từng hát trong ban văn nghệ chiêu hồi với mình, mà chẳng bị lôi thôi gì hết.

Thế là Điền Tử Lang ra trình diện ở đài phát thanh, được cho làm việc trở lại, và được kể là một trong những con chim đầu đàn hưởng ứng nhiệt tình chương trình văn nghệ của đài tiếng nói nhân dân thành phố (tức đài Sài Gòn trước đó). Lúc này thì nội dung lời hát quay ngược 180 độ, lời ca đề cao người bộ đội về thành, chớ không kêu gọi chiêu hồi như lúc trước.

Lúc ấy có người nói rằng Điền Tử Lang hát chiêu hồi hay quá, cán binh cộng sản không phải về hồi chánh lẻ tẻ vài ba người, mà đồng loạt về tràn ngập đi đầy đường ở Sài Gòn…

Điền Tử Lang nói:

– Thôi tội nghiệp mà, đừng phá tôi mà các anh em!

Hát đài phát thanh gần 3 thập niên mà không bị chuyện gì rắc rốilớn lao, kể ra thì Điền Tử Lang cũng tốt số vậy. Thời gian sau thì Điền Tử Lang theo đoàn cải lương Văn Công Thành Phố, lưu diễn miền Trung miền Tây, và anh không muốn ai nói đến dĩ vảng, nhắc tới việc mình từng hát chương trình chiêu hồi. Có người thắc mắc về cái tên Điền Tử Lang sao nghe giống như là kiếm sĩ đất Phù Tang vậy? Điền Tử Lang nói rằng cái tên của anh là do soạn giả Thể Hà Vân đặt cho, lúc mới đi hát ở đoàn Thủ Đô năm 1964.

Hình như Điền Tử Lang chỉ ca cổ nhạc thuần túy, tôi chưa từng nghe anh ta ca tân cổ giao duyên, tức vọng cổ có chen lẫn tân nhạc. Hiện nay danh ca nầy thường hay lẩn quẩn ở các tụ điểm có ca cổ nhạc ở các vùng thuộc tỉnh Gia Định cũ, có ai kêu thì hát cho đỡ nhớ cái nghiệp cầm ca, và cũng để kiếm tiền sống đấp đổi phụ thêm cho một việc

làm nào đó ngoài nghề. Riêng Trang Mỹ Hường thì sau 1975 nghe nói cũng có đi vài đoàn hát nhỏ, lưu diễn nhiều nơi nên rất khó mà biết có thành công hay không. Rồi đến khoảng 1994 đoàn cải lương Sông Hậu ở miền Tây, diễn tuồng Thoại Khanh Châu Tuấn, thì người ta thấy Trang Mỹ Hường đóng đào mụ, trong vai bà mẹ chồng. Thế nhưng, anh kép đóng vai “thần hổ”, thay vì chỉ nói vài lời rồi cỏng mẹ con Thoại Khanh chạy ra khỏi rừng thì hạ màn. Nhưng bữa nay bởi lý do nào đó không biết, anh kép đóng vai cọp lại… ca vọng cổ (tuồng không có lớp ca này).

Trước sự việc “cọp”… ca vọng cổ, bà con khán giả cười như vở chợ. Có người nói: Cha. Đêm nay đoàn chế ra lớp này coi cũng được chứ! Tay đóng vai cọp này ca nghe cũng mùi lắm. Còn nghệ sĩ Trang Mỹ Hường trong vai mẹ chồng của Thoại Khanh mắt đang mù, quá bất ngờ trước giọng ca ngọt ngào của… con cọp, cô ta mở bừng to đôi mắt, quên mất mình đang đóng vai mù. Trang Mỹ Hường cười bò lăn bò càng, té từ trên lưng cọp xuống sàn mà cũng chưa hết cười. Nhiều khán giả đùa: “Hay quá, nhờ có cọp ca vọng cổ mà mắt mẹ chồng Thoại Khanh sáng lại…”

Giai thoại “cọp… ca vọng cổ” ở miền Tây, cũng góp phần làm phong phú thêm cho những câu chuyện bên lề của hoạt động sân khấu cải lương vậy. Và thời gian gần 20 năm qua không biết Trang Mỹ Hường có còn ca hát gì nữa không. Ở đâu?

NGÀNH MAI , thông tín viên RFA : THÀNH ĐƯỢC ĐI HÁT TỪ LÚC NHỎ, Radio RFA, USA


Thành Được đi hát từ lúc nhỏ

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2015-05-16
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
td-305.jpg

Nghệ sĩ Thành Được, ảnh chụp trước đây.

File photo

Nghệ sĩ Thành Được từ năm 14 tuổi đã đi theo gánh hát Thanh Cần của người chú, và do còn nhỏ được giao đóng vai Quách Hải Thọ trong tuồng Bao Công Xử Án Quách Hòe.

Không được lãnh lương

Tuy rằng có vai trò, nhưng vì là cháu của bầu gánh nên Thành Được không được lãnh lương như bao nhiêu đào kép khác, mà chỉ có tiền cà phê cà pháo và tiền của khán giả cho. Nhờ vai trò “đi ăn xin” được khán giả thương tình cho tiền (có lẽ nhập vai giống ăn xin quá).

Thời đó gánh hát di chuyển bằng ghe, có đò máy vòng và ông Hai Sang chủ đò máy cũng đồng thời là người bán vé hát, ông đã giúp Thành Được bằng cách chen lẫn trong hàng khán giả, tới màn Quách Hải Thọ đi xin ăn, đờn rao buồn, Thành Được ca bản Hoài Tình thì ông làm “cò mồi” quăng một cắc bạc lên sân khấu. Thấy vậy mấy bà già cũng bắt chước quăng lên và mỗi đêm ít nhứt cũng được 15 đồng.

Thời còn xài tiền xu tiền cắc mà được 15 đồng thì thật là quý, hèn gì không được lãnh lương cũng đúng thôi! Lúc đó Thành Được ca vọng cổ chẳng ai khen, mà được hoan nghinh nhờ bản Hoài Tình, bản này mà dùng cho đi ăn xin thì tuyệt, với câu mở đầu thường là: “Ba con cô bác làm ơn, bố thí cho tôi một chén cơm thừa…”

Nghệ sĩ Thành Được có một kỷ niệm cũng rất vui, ai nghe qua cũng tức cười, và anh rất khó quên mỗi khi đoàn về hát ở xứ dừa Bến Tre.

Số là thời Đại tá Tây lai Le Roy còn làm chúa tể ở Bến Tre thì Thành Được đang đi hát cho đoàn Thanh Cần, một gánh hát nghèo nàn mỗi khi di chuyển phải dùng xuồng dùng ghe.

Năm ấy gánh hát Thanh Cần đến một vùng thuộc quận Bình Đại, Bến Tre và hát ở một nhà chợ nhỏ. Thành Được thủ vai vua Tống Nhân Tôn, áo mão chỉnh tề.

Trống, chiêng, đờn ca đang đến lúc xôm tụ và con cô bác cũng đang say sưa theo dõi, thi bỗng nghe tiếng nổ: Ầm! Ầm! Đèn tắt tối thui, nhưng lại sáng rực ánh lửa vì nhà chợ bị bốc cháy. Mấy ổng (tiếng “ổng” ở đây là Việt Minh) về bắn phá, khán giả chạy bán mạng, nghệ sĩ thì cũng mạnh ai nấy chạy. Thành Được quýnh quá, bận nguyên áo mão nhà vua, nhảy tõm xuống sông và loi ngoi lội qua bên kia sông. Bỗng nghe có tiếng quát:

– Tóm cổ mấy thằng kép hát cho tao hỏi thăm chút coi!

Thành Được ớn xương sống, vội cởi áo mão nhà vua chôn xuống sình, rồi bốc mớ sình đen thui trét khắp mặt.

Vậy mà chàng ta mới leo lên bờ đã nghe có tiếng la:

– Nó đó! Nó đó!

Nghệ sĩ Thành Được và Út Bạch Lan năm 1960
Nghệ sĩ Thành Được và Út Bạch Lan năm 1960. Ảnh tư liệu của NSND Viễn châu

Không biết kẻ kia thấy chàng thật, hay la hoảng, nhưng Thành Được cũng chạy như điên. Cuối cùng, quýnh quá, chàng chui tọt vô một bụi xương rồng. Gai nhọn cào rách da, xể mặt mà chàng cũng không thấy đau vì sợ quá. Khi ấy toàn thân chỉ còn một cái quần xà lỏn mà gai xương rồng cũng đã cào tét.

Đến khi mấy “ổng” đã đi tồi, anh em đổ ra kiếm nhau, họ kêu:

– Được ơi! Được ơi!

Thành Được nghe rõ, nhưng chun ra không được! Lúc quá sợ, chui vào bụi gai thì được, nhưng khi cơn sợ đã qua mới cảm thấy ớn cái bụi gai. Thành Được kêu vang:

– Tui bị kẹt! Cứu tui với!

Anh em đổ xô đến, cười ngất, và khi lôi Thành Được ra khỏi bụi xương rồng thì chàng tét da chảy máu cùng mình.

Trên đường lưu diễn suốt quãng đời nghệ sĩ đã qua, tuy Thành Được có nhiều kỷ niệm, nhưng chàng nhớ nhứt là cái kỷ niệm một năm bị kẹt trong bụi xương rồng.

Nhiều kỷ niệm

Và sau đây là thêm một câu chuyện kỷ niệm khác của nghệ sĩ Thành Được:

Vào tháng 2, 1975 tức chỉ còn 2 tháng nữa là 30 – 4 – 75. Lúc ấy tình hình chiến sự chưa thấy gì nặng nề, nên đoàn cải lương Việt Nam của kép Minh Vương đi lưu diễn miền Trung (có Thanh Nga tăng cường) và tỉnh nào cũng khả quan về tài chánh. Cũng thời điểm đó, đoán Tiếng Hát Dân Tộc được nhóm người chuyên khai thác văn nghệ ở miền Trung, mua giàn 12 đêm để diễn qua các nơi: Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế… Đào kép ai nấy có vẻ lên tinh thần, vì mỗi người đều được giám đốc đoàn cho mượn trước chút ít. Riêng Thành Được, Mộng Tuyền vì chủ giàn mời tăng cường nên cũng được ứng trước vài chục xấp.

Thành Được là dân chơi xe hơi có tiếng, nhưng mấy năm qua hát xướng ế ẩm, nên xe cộ gì cũng bay hết, và dịp này thì có một người đẹp cho mượn xe nên anh tự lái đi hát miền Trung.

Tất cả đều ra đến Qui Nhơn đúng với chương trình dự định của chủ giàn. Hát tại Qui Nhơn xong, đoàn dọn ra Đà Nẵng, kế đến là Huế. Lượt về đoàn sẽ ghé Quảng Ngãi, nhưng xe chở đào kép vừa qua khỏi đèo Hải Vân đã phải dừng lại vì lửa đạn đã nổ rền, hỏa tiễn nổ chát chúa bên tai, mạnh ai nấy chạy tìm chỗ nấp.

Chiến sự miền Trung bắt đầu sôi động, đường sá mất an ninh, Quốc Lộ 1 bị cắt đứt nhiều nơi đâu có xe nào dám chạy. Bên đoàn Việt Nam thì Thanh Nga và ông Đổng Lân đi máy bay về Sài Gòn ăn toàn. Lẽ ra thì Thành Được đã về Sài Gòn cùng một lượt với Hoàng Long, nhưng anh này còn kẹt cái xe hơi của người đẹp nên phải ở lại tử thủ. Chiếc xe hơi lúc này là một gánh nặng, giờ đây chỉ lo cho tánh mạng mà thôi, và Thành Được đã gởi xe lại cho người nào đó ở Qui Nhơn. Nhưng rồi Qui Nhơn cũng di tản, mọi người đều lo chạy hết nên có ai đâu giữ xe cho anh, coi như bỏ xe hơi chạy lấy người vậy.

Người ta không rõ Thành Được về Sài Gòn bằng cách nào, cũng không biết tình trạng chiếc xe hơi mượn của người đẹp ra sao khi chiến sự tới Qui Nhơn. Nhưng đây có lẽ là lần đi xe hơi riêng cuối cùng của Thành Được ở trong nước, bởi hai tháng sau là 30 tháng 4, 1975 đâu có đào kép nào lái xe riêng đi hát như thời kỳ vàng son của cải lương trước đó.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-051615-nm-05142015083051.html

NGÀNH MAI , thông tín viên RFA : GIÀN NHẠC TÀI TỬ CẢI LƯƠNG HIẾM THẤY NỮ NHẠC SĨ ĐỜN KÌM


Giàn nhạc tài tử cải lương hiếm thấy nữ nhạc sĩ đờn Kìm

cailuong-ab-622.jpg

Gánh hát rong nghèo ở Việt Nam, thập niên 1930-1940, ảnh minh họa.

File photo

Đờn Kìm hay đờn nguyệt

Từ lâu lắm rồi, kể từ khi đờn ca tài tử xuất hiện mang lại giòng nhạc độc đáo cho người dân đi khẩn hoang lập ấp, thì cây đờn Kìm cũng đã hiện diện từ những buổi đờn ca đầu tiên ấy.

Theo như truyền khẩu trong giới đờn ca tài tử, thì từ thời xa xưa, sau một ngày vất vả cơ cực, mưa nắng giãi dầu với mảnh vườn thửa ruộng, mà thời gian qua họ đã đổ mồ hôi bỏ công khai phá.

Rồi sau mỗi buổi cơm chiều, khi màn đêm buông xuống, hoặc những hôm mưa dầm gió bấc, tầm tả suốt ngày không thể ra nương rẫy được, thì những người đồng điệu ở các mái chòi tranh lân cận nhau, họ hội tụ lại bên chung rượu chén trà, giải sầu bằng tiếng đờn câu ca, và cây đờn Kìm luôn đồng hành sát cánh với họ từ lúc vùng đất còn hoang sơ dẫy đầy nguy hiểm ấy.

Đờn Kìm còn gọi là đờn nguyệt, hay nguyệt cầm cũng thế, có lẽ do hình dáng tròn như mặt trăng. Trải qua bao nhiêu biến đổi thăng trầm, cây đờn Kìm vẫn được trọng dụng, vẫn đứng đầu trong dàn nhạc tài tử hay cải lương. Cây đờn Kìm được coi như là thầy của các loại đờn khác, nên nhạc sĩ thủ cây đờn Kìm luôn giữ song lang (có nơi gọi là song loan, không biết chữ nào đúng). Nó còn được đánh giá uy tín qua tuổi tác của người đờn, ví dụ như trong một cuộc chơi, có nhiều người biết đờn Kìm thì các người trẻ phải trân trọng trao cây Kìm cho người cao tuổi nhứt ở cuộc chơi đó.

Vị trí của cây đờn Kìm quan trọng như thế nào trong giới đều đã rõ, thế nhưng, có một thời gian khá dài cây đờn Kìm bị lu mờ trước cây lục huyền cầm, tức cây đờn guitar phím lõm. Có lẽ đây là thời kỳ mà danh cầm Văn Vỹ, với ngón đờn lục huyền cầm quá bay bướm, tung hoành làng cổ nhạc, nên đa số người học đờn đã chạy theo cây lục huyền cầm, mà không nhìn thấy được âm điệu kỳ diệu tiềm ẩn của cây đờn Kìm. Người ta có thể nói trong suốt gần 5 thập niên, từ 1940 đến 1990 nếu như 10 người học đờn thì đã có đến 8, 9 người học cây lục huyền cầm. Số còn lại nếu tính tỷ lệ thì chưa được 1 người học đờn Kìm. Thành thử ra các danh cầm đờn Kìm lão luyện đã thua buồn, rút lui vào bóng tối, trừ một số ít vì cuộc sống nên bám lấy giàn nhạc cải lương, hoặc thỉnh thoảng mới có mặt trong các nhóm đờn ca tài tử do nể nang nào đó.

Nhạc sĩ Ba Tu có lúc than rằng “không thấy tay đờn Kìm nào cho ngon hoặc trẻ có triển vọng, còn lại mấy ông già ngón cũng lụt rồi”! Và ông cũng lo cho tương lai, sự tồn tại của đờn Kìm: “Lâu rồi không ai chịu học đờn Kìm, bây giờ lớp trẻ cứ chạy theo nhạc trẻ, còn cổ nhạc thì cứ guitar phím lõm và sến, khi lớp tụi tôi qua đời rồi không biết ai là kế thừa”.

Tuy vậy, từ hơn hai thập niên nay phong trào đờn ca tài tử dấy lên, nở rộ ở khắp các tỉnh từ miền Tây đến miền Đông, con số người trẻ tham gia nhiều hơn, thì cây đờn Kìm được chú trọng. Các câu lạc bộ, những nhóm đờn ca tài tử đã mời các nhạc sĩ đờn kìm “lão làng” từ lâu nay ẩn dật cùng tham gia.

dan-tranh
Nghệ sĩ Võ Vân Ánh biểu diễn đàn tranh.

Được mời trịnh trọng, các vị cũng vui vẻ xuất hiện giữ song lang như truyền thống xưa giờ. Có nghĩa người thủ cây đờn Kìm luôn là nhạc trưởng, điều khiển giàn nhạc, dẫn dắt các nhạc sĩ khác tuân theo, vì đó là “luật bất thành văn”. Do đó có thêm nhiều người trẻ học đờn Kìm, mà lại có cả giới nữ gia nhập vào giòng nhạc với cây đờn Kìm.

Nếu như nữ nhạc sĩ đờn Tranh “hằng hà sa số”, thì nữ nhạc sĩ đờn Kìm lại hiếm thấy! Tôi còn nhớ khi xưa khoảng 1960, ông Hai Can, nhạc sĩ đờn Kìm đã nói một câu rất đáng cho người ta suy nghĩ, ông nói: “Ai đó đốt đuốc đi tìm khắp nơi, khắp chốn, nếu như thấy cô gái nào, chị đàn bà nào ôm cây đờn Kìm trong giàn cổ nhạc, thì thua cái gì ông cũng chịu hết!” Câu nói của ông nếu không đúng hẳn thì cũng gần đúng vậy, bởi từ năm 1960 trở về trước đã không có nữ nhạc sĩ đờn Kìm nào xuất hiện.

Nữ nhạc sĩ đờn Kìm đầu tiên

Nhưng rồi thì cũng có thôi! Giữa thập niên 1980 một cô gái trẻ ở miền Tây học đờn Kìm và đã thành công, có chỗ đứng trong hàng nhạc sĩ. Cô Ngọc Cầm ở Bạc Liêu, năm lên 9 tuổi đã biết ôm cây đờn Kìm so dây nắn phím theo sự chỉ dẫn của người cha, một nhạc sĩ đờn Kìm ở địa phương, và đến năm 15 tuổi thì cô đã rành rẽ 20 bài bản Tổ. Có lần liên hoan đờn ca tài tử Đồng Bằng Sông Cửu Long tổ chức tại Cần Thơ, Ngọc Cầm tham gia độc tấu cây đờn Kìm và đã đoạt giải.

Tài năng được xác định, nữ nhạc sĩ Ngọc Cầm được đoàn cải lương Hương Tràm (Cà Mau) mời thủ cây đờn Kìm trong giàn nhạc của gánh hát. Vài năm sau cô về tỉnh nhà Bạc Liêu, xuất hiện trong giàn cổ nhạc đoàn cải lương Cao Văn Lầu. Điều ấy đã cho thấy tiếng đờn Kìm của người nữ cũng sánh với nam nhân, và thừa kế những danh cầm trong làng cổ nhạc dân tộc.

Theo như người sành điệu thưởng thức làn điệu, âm thanh tiếng đờn, họ có nhận định ngón đờn Kìm của nữ có khác với nam. Thông thường nhạc sĩ nam đờn Kìm thì âm thanh phát ra như dồn dập, âm sắc có lúc như bay bổng, có lúc thì quá chìm sâu. Người nam nhạc sĩ đờn Kìm họ bấm phím mạnh, chắc chắn và nhanh, chữ đờn như liền nhau. Còn nhạc sĩ nữ đờn Kìm (cô Ngọc Cầm) thì chậm rãi, ngón tay lướt nhẹ trên 2 sợi dây đàn một cách dịu dàng. Tiếng tơ phát ra âm điệu thâm trầm, sâu lắng, êm nhẹ truyền cảm như ru hồn người mộ điệu.

Người nữ thứ hai đờn Kìm là cô Kiều My ở Bình Dương, miền Đông, có cha là nhạc sĩ Tư Thía, và ông ngoại là nhạc sĩ Tư Bộ, cả hai ông đều là nhạc sĩ đờn Kìm nổi tiếng ở vùng đất Bình Dương.

Thuở nhỏ Kiều My đã lén lấy cây đờn Kìm của thân phụ và tự khảy theo những động tác mà cô đã nhìn thấy trên phím đàn của cha cô, vừa đờn vừa thả hồn theo tiếng tơ đồng trầm bổng nhặc khoan. Thấy con gái say mê và muốn học đờn, ông đã truyền đạt ngón đờn cho con, và ông ngoại cũng đã truyền những bí quyết cây đờn Kìm, cộng với sự cố công học tập và rèn luyện, nên thời gian vài năm thì Kiều My với tiếng đờn Kìm nỉ non réo rắt từng đêm, từng đêm… đã thực sự đi vào hồn người mộ điệu.

Kiều My được chọn tham dự thi đờn ca tài tử, và đã danh dự nhận giải nhì toàn quốc, và đại diện giới nghệ sĩ Bình Dương đi biểu diễn ở Hà Nội.

Thời gian sau Kiều My là nhạc sĩ đờn Kìm thường trực cho chương trình “Đêm Biển Hẹn” của đài phát thanh, đài truyền hình tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Nữ nhạc sĩ Kiều My đã thành công trên bước đường nghệ thuật vậy.

Tóm lại theo sự tìm hiểu của tôi thì trong làng cổ nhạc miền Nam, tính chung vừa đờn ca tài tử, vừa giàn nhạc cải lương chỉ có 2 nữ nhạc sĩ đờn Kìm: Cô Ngọc Cầm ở Bạc Liêu, miền Tây và cô Kiều My ở Bình Dương, miền Đông. Ngoài 2 cô nói trên, không nghe thấy nữ nhạc sĩ đờn Kìm nào nữa xuất hiện.

Trong giới “cầm kỳ thi họa” xưa nay không biết bao nhiêu là nữ sĩ nổi danh, nhưng riêng ở loại nhạc cụ tài tử cải lương, nữ mà chơi đờn Kìm thì quá hiếm. Cô Ngọc Cầm cũng như Kiều My đều mơ ước có nhiều bạn nữ biết đờn Kìm để các cô có bạn đồng hành, và sẵn sàng truyền nghề cho bất cứ bạn nữ nào yêu thích đờn Kìm.

NGÀNH MAI, thông tín viên : Đàn tranh với nghệ sĩ Việt Nam


Đàn tranh với nghệ sĩ Việt Nam

Nghệ sĩ Võ Vân Ánh biểu diễn đàn tranh

Nghệ sĩ Võ Vân Ánh biểu diễn đàn tranh.

Courtesy photo

Cây đờn tranh cũng gọi là đờn thập lục (do bởi 16 dây), đặc tính là tiếng đờn tranh trong trẻo, ngọt ngào. Đờn tranh có tác dụng phục vụ cho nhiều bộ môn như nhạc tài tử, cải lương, dân ca và các điệu ngâm, hò lý. Nhưng tuyệt đối không áp dụng cho nhạc lễ, cũng không có trong hát bội vì môi trường không thích hợp cho loại đờn này.

Nhiều người sử dụng thành thạo

Không biết rõ đờn tranh có từ thời nào, xuất xứ từ đâu, ở Trung Hoa hay ở quốc gia nào du nhập vào nước ta, mà hiện nay giới nữ rất nhiều người sử dụng cây đờn này rất thành thạo.

Người ta không biết khi xưa Nhạc Cung Đình ở Huế có nữ nhạc sĩ đờn tranh hay không, chớ riêng về cải lương và đờn ca tài tử thì từ thập niên 1950 trở về trước, các tỉnh Nam Việt, từ miền Đông đến miền Tây, mà xưa kia gọi là Nam Kỳ Lục Tỉnh đã không thấy nữ nhạc sĩ đờn tranh ở những nơi sinh hoạt đình đám. Nếu có chăng thì cũng rất ít ở đâu đó mà thôi, không thấy xuất hiện sinh hoạt rộng rãi nên kể như không có vậy. Vì thế mà người ta hiểu rằng thời đó chỉ có nam nhân là nhạc sĩ đờn tranh mà thôi.

Người được coi như đứng đầu sử dụng cây đờn tranh là nhạc trưởng Hai Biểu, ông từng có mặt trong các nhóm đờn ca tài tử từ thập niên 1930, được hãng dĩa Asia mời thu trong bộ dĩa Gươm Lục Yểm. Ai nghe qua bộ dĩa này cũng đều nhận thấy ngón đờn tranh tuyệt diệu của ông.

Đáng phục nhứt là lúc Đắc Kỷ (danh ca Tư Bé đóng vai Đắc Kỷ) thất trận bị Dương Tiển rượt đuổi nà. Đắc Kỷ thét lên “kìa kìa Dương Tiển như mây bay gió cuốn…” Tức thì tiếng đờn tranh của Hai Biểu cũng réo rắc dồn dập giống như rượt đuổi theo vậy. Và bắt đầu Đắc Kỷ ca bài Kim Tiền Bản…

Cũng như lúc Đắc Kỷ bị trói ở pháp trường, Dương Tiển vâng lệnh Nguyên Soái Khương Tử Nha ra hành hình, thì Đắc Kỷ cất tiếng than. Lúc ấy tiếng đờn tranh chậm rãi dạo lên với âm điệu trầm lặng, não nề, ai nghe mà không xót xa ở cảnh này chớ. Dù cho ai đó có thù ghét Hồ Ly Tinh bao nhiêu chăng nữa, mà hiện thân là Đắc Kỷ, thì lúc đó cũng cảm thương nàng mà xóa bỏ tội cho nàng. Tóm lại theo giới đờn ca tài tử thời đó thì bộ dĩa Gươm Lục Yểm nếu không có tiếng đờn tranh của Hai Biểu thì không có hay đến thế. Và từ đó về sau chẳng nhạc sĩ đờn tranh nào sánh được với Hai Biểu, bất cứ buổi sinh hoạt đờn ca nào người ta cũng gọi Hai Biểu là nhạc trưởng.

Đến đầu thập niên 1960 trường Quốc Gia Âm Nhạc có lớp dạy đờn tranh, nữ khóa sinh theo học rất nhiều, cứ hết lớp này ra trường, lại tiếp tục đào tạo lớp kế tiếp. Và từ đó trong nhân gian rất nhiều nữ nhạc sĩ đờn tranh xuất hiện.

Những chuỗi âm thanh kỳ ảo

Năm 1992 ở trong nước có mở cuộc thi dành riêng cho nữ nhạc sĩ đờn tranh, với gần 300 cô gái trẻ tham dự. Mười cô được vào chung kết, và kết quả sau cùng 3 cô trúng giải tính từ cao xuống thấp:

Cô giáo Vương Hạnh trong một buổi biểu diễn đàn tranh.
Cô giáo Vương Hạnh trong một buổi biểu diễn đàn tranh.

Cô Nguyễn Hải Phượng ở Sài Gòn trúng giải nhất; cô Đặng Tố Như ở Hà Nội trúng giải nhì; cô Đặng Ngọc Tố Trinh ở Sài Gòn trúng giải ba. Cuộc thi khá lớn này, nữ nhạc sĩ đờn tranh tài hoa đất Thăng Long, cô Nguyễn Hòa Bình đã bỏ chuyến đi biểu diễn ở Thái Lan, cô vào Nam tham gia Hội Đồng Giám Khảo.

Trong đêm khai mạc cuộc thi, cô giám khảo Nguyễn Hòa Bình trong chiếc áo dài màu đen thêu bông vàng, óng ánh kim tuyến. Với dáng vấp đài các, cô xuất hiện với cây đàn tranh trông đẹp như bức tranh Tố Nữ. Dưới bàn tay uyển chuyển bay bướm, lã lướt trên dây dàn, buông ra những chuỗi âm thanh kỳ ảo, làm xao xuyến người nghe. Và tiếp sau đây xin nói sơ qua về thành tích, sự nghiệp cầm ca của 3 nữ thí sinh trúng giải.

Trước hết nói về nữ thí sinh đờn tranh trúng giải nhì là cô gái Hà Nội tên Đặng Tố Như. Cô theo học đàn tranh từ năm lên 9 tuổi, từ trước chưa từng tham gia bất cứ cuộc thi nào.

Tố Như cũng thường theo mẹ dự lễ Hội Truyền Thống, và tham gia vào các giàn nhạc lễ Văn Miếu, Quốc Tử Giám, tại Hội Lim (hát quan họ); tại Đền Hùng. Từ đó tiếng đàn tranh của Tố Như có dịp xâm nhập vào thực tế. Trong cuộc thi tài năng trẻ, Tố Như lọt vào vòng chung kết, sau hai vòng thi khá hồi hợp. Đêm chung kết Tố Như đờn 3 bài: Điệu chèo cổ, điệu dân ca (rặng tre trước gió) và bài dân ca Hoa Anh Đào.

Nữ thí sinh đờn tranh trúng giải ba Nguyễn Ngọc Tố Trinh. Tiếng đàn tuyệt vời của Tố Trinh như bay bổng, như thiết tha gợi nhớ. Tố Trinh từng tham gia vào Lễ Hội Việt Nam tổ chức tại Vương Quốc Thái Lan.

Với tiếng đàn trong sáng vui tươi, hồn nhiên, có lúc trầm lắng miên man, đậm đà tình tự dân tộc. Tố Trinh luôn được sự tán thưởng nồng nhiệt. Báo chí Thái Lan đã dành cột báo lớn giới thiệu tài năng Tố Trinh.

Với chiếc đàn tranh sở trường, Tố Trinh đã mang lại cho khán giả Thái Lan 10 buổi say sưa theo những khúc nhạc dân ca cổ truyền của 3 miền đất nước Việt Nam.

Nhất là khúc nhạc biến tấu điệu Lý Ngựa Ô, một tác phẩm khí nhạc đầy sáng tạo của nhạc sĩ Ngọc Châu qua tài biểu diễn của Tố Trinh. Nhiều tràng pháo tay cổ võ nổ ra liên tục, khi tiếng nhạc ngựa dồn dập phát ra từ đôi tay mang vòng lục lạc, hài hòa với tiếng đàn chập chùng, vó câu muôn dặm, tạo ra bởi các thế đập dây, kéo dây khỏi thành đàn hết sức độc đáo, gây thú vị cho người xem.

Và tiếp đây nói về nữ nhạc sĩ trúng giải nhứt Nguyễn Hải Phượng. Hơn một năm sau, được nhiều hội đoàn mời sang Pháp, phối hợp cùng Giáo Sư Trần Văn Khê biểu diễn nhạc truyền thống Việt Nam tại Paris và các tỉnh lớn.

Sau phần giới thiệu nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng, Giáo Sư Trần Văn Khê nói qua về nguồn gốc, công dụng của nhạc khí dân tộc Việt Nam, đặc điểm một số làn điệu trong nhạc Việt.

Mở đầu chương trình, Giáo Sư Trần Văn Khê và Hải Phượng, tuổi đời cách nhau nửa thế kỷ, một chững chạc hùng hồn, một e lệ khép nép đã chung dòng chảy âm thanh về nguồn cội truyền thống Việt Nam, song tấu đàn kìm và tranh các bài: Lưu Thủy Trường, Xang Xừ Líu, Ngũ Đối Hạ; liên khúc Nam Xuân, Nam Ai, Đảo Ngũ Cung và 3 câu Vọng Cổ.

Tiếp đến, riêng phần Hải Phượng, với các ngón đờn độc đáo điêu luyện, đã mê hoặc người nghe vào âm thanh áo nảo của lớp đầu bài Tứ Đại Oán.

Sau phần nhạc truyền thống là các sáng tác mang âm hưởng dân tộc dành cho đờn tranh mang tên “Tình Ca Quê Hương” của Phạm Thúy Hoan, đã được Hải Phượng thể hiện hết sức tinh tế, đậm đà bản sắc dân tộc. Sau đêm nhạc truyền thống Việt Nam, nhiều khán giả Pháp đã nói rằng họ không ngỡ ngàng xa lạ, mà rất thích thú khi nghe nhạc cổ điển Việt Nam. Số thính giả Việt Kiều sành điệu ca cầm, không ngớt ngợi khen. Bên cạnh đó, giới văn nghệ Pháp còn cho rằng Hải Phượng, với tuổi trẻ đó, tài nghệ đó, thực xứng đáng là “tiếng đờn” đại diện cho thế hệ tài năng trẻ Việt Nam.

Riêng ở hải ngoại nhiều năm nay cũng có các lớp dạy đờn tranh liên tục. Miền Bắc California có lớp của Giáo Sư Ngọc Dung đào tạo khá nhiều nữ học viên, và ở miền Nam California cũng có lớp dạy của Giáo Sư Nguyễn Châu. Đồng thời cũng nghe nói các Tiểu Bang khác, Âu Châu, Canada, Úc Châu cũng có lớp đào tạo nhạc sĩ đờn tranh.

Mặt khác các nữ nhạc sĩ tốt nghiệp ra trường lại mở lớp dạy tại nhà, mà học viên gần như hầu hết là nữ. Do vậy mà càng về sau nữ nhạc sĩ đờn tranh càng nhiều hơn. Có thể nói là quá nhiều, “hằng hà sa số” ở đâu cũng có vậy.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-04110-nm-04102015221049.html

NGÀNH MAI, thông tín viên RFA: CÔ ĐÀO THANH VÂN ĐÓNG VAI MA LẠI….SỢ MA !


Cô đào Thanh Vân đóng vai ma lại… sợ ma!

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2015-04-04
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
090602114531-49-622.jpg

Cô đào Thanh Vân

Courtesy photo

Những “con ma nữ” gây ấn tượng

Xưa nay sân khấu kịch, cải lương hay phim ảnh, tuồng ma thường là ăn khách, kịch bản ma thời nào cũng thu hút khán giả, mà lại không lỗi thời. Do vậy mà trong lịch sử cải lương, đã có những “con ma nữ” gây ấn tượng cho người xem, kể cả chỉ nghe trong dĩa hát thôi mà người ta cũng hình dung được để rồi… sợ.

Còn riêng các cô đào thì sau khi đóng vai ma rồi thì lại sợ ma nhiều hơn, như trường hợp cô đào Thanh Vân đóng vai người vợ ma, trong vở kịch cũng mang tên “Người Vợ Ma” của sân khấu Phú Nhuận. Nhờ vở kịch hay và diễn xuất cũng hay, nên cô đào trẻ Thanh Vân đã làm người vợ ma hơn 300 xuất hát.

Thời đầu thập niên 1960 chỉ có đoàn Thủ Đô của ông bầu Ba Bản cho đào Ngọc Hương bước xuống sân khấu, đi ngang qua khán giả ngồi ở hàng ghế đầu, chớ chưa có đoàn hát nào cho đào kép bước xuống khán giả.

Nhưng bây giờ thời đại canh tân, diễn viên đôi khi đi xuống “giao lưu” với khán giả, và lại cũng có lúc diễn viên từ ngoài cửa đi vào, dọc theo hai bên dảy ghế, tức từ sau lưng khán giả đi tới bước lên sân khấu. Trong vở kịch “Người Vợ Ma” đào Thanh Vân trang phục hóa trang “con ma nữ” xuất hiện bất ngờ, từ sau hàng ghế khán giả, nên làm họ giựt mình hoảng sợ. Và theo phản xạ tự nhiên nên họ đã xô đẩy hoặc co chân đạp cô nàng. Có một số khán giả bị vở diễn lôi cuốn, nhập tâm đến độ nhầm lẫn giữa nhân vật và diễn viên nên đã “dị ứng” và rất sợ người con gái “ma”.

Nhớ đóng vai ma, Thanh Vân trở nên sáng giá, cô luôn bận rộn với các sô diễn. Nhà báo muốn gặp phỏng vấn cũng khó, và phải canh giờ mới gặp được “ma” trên mạng.

Tiếp xúc với nhà báo, Thanh Vân dùng từ ngữ rặt “Nam Kỳ”, chữ “tui” được cô sử dụng liên tục. Nghe mà có cảm tưởng như đang đọc tiểu thuyết “Chú Tư Cầu” hay “Rặng Trâm Bầu” của nhà văn Lê Xuyên vậy!

Nhà báo hỏi:

– Thanh Vân có sợ ma không?

– Úi! Không thể nói là sợ, mà phải nói là tui “cực kỳ” sợ ma.

– Vậy mà nhận lời đóng “ma”?

– Có thể nói vở diễn “Người Vợ Ma” là một cơ hội tốt hiếm có đối với diễn viên trẻ như tui, và nó có ảnh hưởng rất lớn đối với tui từ quan niệm cuộc sống cho đến nghề nghiệp.

Thanh Vân nói tiếp, nhà tui ở có rất nhiều gương, cầu thang nhà bằng gỗ, cánh cửa thì mỗi khi đóng mở, lại có tiếng kêu y hệt như tiếng cánh cửa trong vở kịch… Do đó nhiều khi đi diễn về cả nhà đã ngủ hết, hễ liên tưởng đến tình tiết trong vở kịch vừa diễn là tui thiếu điều vừa đi vừa chạy và không dám nhìn vô gương.

Bây giờ tui cũng vẫn còn sợ ma nhưng đỡ hơn hồi xưa rất nhiều, vì sau khi đóng “Người Vợ Ma” tui ngộ ra rằng: Thế giới tâm linh có thể là có tồn tại, song phần ma quỷ trong con người còn đáng sợ hơn nhiều! Vở diễn ăn khách nên tui được khán giả biết đến nhiều hơn, “đánh” nhiều hơn và thậm chí có nhiều người còn rất “sợ” tui!

Riêng tui thì có thêm cái tật… trợn mắt mỗi khi muốn vòi vĩnh gia đình và người thân chiều theo ý mình; một phần là nhớ lại cảnh khán giả rất sợ mỗi khi tui diễn như vậy, phần khác là tui muốn đùa cho vui.

Thanh Vân rất thích “Người Vợ Ma” diễn tại Đà Lạt, không khí se se lạnh, gió thổi vi vu với rừng thông bạt ngàn âm u trong bóng tối, nhìn khung cảnh thôi là đã sợ ma rồi, huống chi là xem và diễn kịch ma!

Có một dạo khoảng giữa thập niên  1960 bỗng nhiên sân khấu cải lương đã đồng loạt diễn tuồng ma, các rạp Sài Gòn đêm nào cũng có ma hiện lên gây kinh sợ cho khán giả yếu bóng vía. Các rạp ở tỉnh cũng hằng đêm có ma, và ngay cả các gánh hát bầu tèo ở nông thôn cũng đưa ma lên sân khấu, tóm lại khán giả cải lương thời ấy đi đâu cũng gặp ma.

Thời ấy có người hỏi cô đào đóng vai ma rằng cô có sợ ma không vậy?

Cô đào trả lời ngay:

– Em sợ ma hơn ai hết!

– Có bao giờ cô đi đêm gặp ma không?

– Chưa có! Rủi nửa đêm gặp ma chắc em chết mất!

– Thế tại sao cô lại đóng vai ma làm cho các cô gái sợ, trẻ nít sợ?

– Nếu không chịu làm ma, thì sẽ có cô đào khác đóng vai, mình thất nghiệp, đi hát mà không được phân vai thì khổ lắm.

Thì ra thì do nghề nghiệp mà các cô đào phải nhận vai trò, nhưng cũng có sự đền bù thỏa đáng, như trường hợp cô đào Thanh Vân nhờ đóng vai ma trong vở “Người Vợ Ma” mà cô nổi tiếng luôn.

“Ma nữ” thì mới bán vé được?

Khi xưa ở thôn quê, nhà có máy hát dĩa mỗi tối bà con lối xóm tụ hợp lại nghe. Có những đêm trời tối đen nghe dĩa hát Phạm Công Cúc Hoa. Tới lúc tiếng tiêu nổi lên một hồi, bà Cúc Hoa hiện về kêu 2 con đang ngủ ở ngôi mộ của mình. Lũ trẻ nít nghe sợ quá, rút lại chùm nhum với nhau. Mấy cô, mấy chị cũng sợ nên rủ những người nhà gần cùng về chung cho đỡ sợ.

204027-VHNT-150306-ThanhVan-400.jpg
Cô đào Thanh Vân. Courtesy photo.

Trong nhân gian thiên hạ thường hay nói người nữ sợ ma nhiều hơn nam giới. Các ông bà già xưa cũng nói, nếu như ban đêm có việc gì cần phải ra khỏi nhà thì sai bảo người con trai, chớ con gái thì hiếm khi, chỉ trừ trường hợp đặc biệt lắm, mà không có người nam thì mới đến các cô. Một phần cũng để bảo vệ các cô, sợ rằng có chuyện không may xảy ra.

Thế nhưng, đối với các soạn giả cải lương thì lại khác, khi đặt bút viết tuồng “ma”, thì các ông nghĩ ngay đến một con ma nữ nào đó, và khi vở hát hoàn thành thì con ma nữ đã có chỗ đứng trong kịch bản, mà phần lớn là vai chánh xuất hiện nhiều. Chớ như mấy chàng kép thì không thể cho làm ma được, do vậy mà khán giả cải lương chỉ thấy toàn là ma nữ.

Cũng không ít người hỏi thẳng soạn giả viết tuồng ma, rằng tại sao giới nữ sợ ma mà lại cho làm ma, trong khi đó nam giới gan dạ hơn lại không cho vai trò ấy.

Các ông chỉ cười “bí mật” chứ đâu trả lời làm chi cho mất công giải thích, mà đôi khi người ta cũng không đồng ý với sự giải thích đó. Nhưng cũng có soạn giả nói trắng ra luôn, rằng ma nữ thì mới bán vé được, chớ nếu cho kép làm ma thì khi mở màn, rạp hát trống trơn, ai trả tiền bản quyền cho soạn giả chứ!

Do các soạn giả cùng một nhận xét nên hầu hết ma cải lương là ma nữ.

Đào kép cải lương hết thời không còn sợ ma

Lúc còn đương thời đứng trên sân khấu, tiền lãnh hằng đêm thì sợ ma, nhưng khi cải lương bị khủng hoảng, không còn hát xướng được, tức là hết lãnh lương, thì các nghệ sĩ đào kép nhà ta đã không còn sợ ma, mà còn vô nghĩa địa sống với ma, thế mới lạ lùng chớ!

Bà con ở ấp Thuận Quang, xã Tân Thới Nhứt, thuộc vùng Bà Điểm, Hốc Môn, thỉnh thoảng nửa đêm lại nghe có tiếng đờn, tiếng hát trỗi lên từ bãi tha ma ở gần đó, ma quỷ chăng? Không! Đó là tiếng đờn, tiếng hát của anh chị em nghệ sĩ ở tỉnh giải nghệ về đây lập nghiệp, nhưng vì không có đất dung thân nên anh chị em ra ngay nghĩa địa che chắn ở tạm.

Bà con địa phương gọi đây là xóm “nghệ sĩ sân khấu ma”, do cả xóm cất nhà tạm trên một bãi tha ma, có nghĩa là đêm về ma nằm dưới, người ta nằm ngủ ở trên. Do nhớ nghề nên đêm đêm anh chị em lại tổ chức đờn ca, vang lên tiếng đàn, tiếng hát của các nghệ sĩ tha phương về tụ lại, nên người ta đặt tên cho xóm như vậy.

Xóm này chỉ mới xuất hiện từ năm 1994, ban đầu chỉ có nghệ sĩ Vương Phụng là dân của địa phương, sau nhiều năm đi hát đã giải nghệ về quê lập nghiệp. Sau đó, Vương Phụng có giới thiệu một vài người bạn là diễn viên, gặp hoàn cảnh rất khó khăn, không đủ sức theo đuổi sân khấu nữa, vì hát bây giờ lương không đủ sống, xin được che chắn mái lá ở bãi tha ma để tạm trú cho gia đình, trong lúc chuyển nghề tạo lập cuộc sống mới.

Một thời gian sau lại có vài bạn khác đến xin ở nhờ, và cứ thế mà đã hình thành cả “xóm nghệ sĩ ma”, độ khoảng 10 nóc gia với trên dưới 50 nhân khẩu, nhưng đời sống của xóm này khá phức tạp, hầu hết anh chị em đã chuyển nghề. Một số vẫn còn bám nghề tổ, nhưng hoạt động theo dạng thời vụ: Mùa khô đi hát, mùa mưa về nhà làm công việc khác hoặc hát theo “đơn đặt hàng” cho các đình, miễu, đám tiệc đám cưới…

Mùa khô thì nắng cháy da, mùa mưa thì lầy lội, và cái thiếu vẫn là nước uống. Ở nghĩa địa thì không thể đào được giếng vì sợ nguồn nước không trong lành, nên cả xóm này phải nhờ nguồn nước của dân địa phương. Cứ hai ba hôm họ lại bơm nước cho xài một lần. Tất cả các vật dụng từ lu, khạp, thau, chậu, nồi… đều được trưng dụng mới đủ dùng nhưng hết sức tiết kiệm. Hầu hết mọi thứ ở đây đều là tạm bợ và rất bấp bênh.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-040415-nm-04032015113631.html

NGÀNH MAI , thông tín viên RFA : Đào Duy Từ và công cuộc phát triển nghệ thuật hát tuồng, hát bội


Đào Duy Từ và công cuộc phát triển nghệ thuật hát tuồng, hát bội

Một cảnh trong vở tuồng  "Cánh tay Vương Tá" năm 2011 tại Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TPHCM

Một cảnh trong vở tuồng “Cánh tay Vương Tá” năm 2011 tại Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TPHCM

Nguồn sankhau3mien.com
 

Hiện nay đang là thời điểm mà hầu hết các đình làng ở Nam Việt đang rộn rịp với Lễ Kỳ Yên. Thiên hạ rộn rả vui mừng, và đặc biệt các đình làng nào có rước hát bội về thì lại càng vui hơn. Do vậy mà trong buổi nói chuyện hôm nay, một lần nữa tôi nói thêm về hát bội.

“Xướng ca vô loại”

Dưới chế độ phong kiến của triều đình Lê, Trịnh ở Đàng Ngoài, nghề đờn ca xướng hát bị bạc đãi, khinh rẻ, bị liệt vào phường “xướng ca vô loại”. Cũng do bởi là con của đào hát, danh sĩ Đào Duy Từ dù tài giỏi văn chương thi phú, vẫn bị cấm không cho vào trường thi. Phẫn chí họ Đào bỏ trốn vào Đàng Trong, được Chúa Nguyễn trọng dụng giao cho việc lớn, ông được Nhà Chúa tin cậy, cử trông coi việc binh cơ ngăn quân Trịnh từ Bắc đánh vào.

Là một nhà quân sự, chính trị tài ba lỗi lạc, họ Đào giúp Chúa Nguyễn xây dựng bộ máy hành chính, quốc phòng, tổ chức hậu phương, xây thành đấp lũy, tóm lại Đào Duy Từ là bậc khai quốc công thần của Nhà Nguyễn. Đồng thời ông cũng mang vào Đàng Trong một tài sản văn hóa quý giá là nghệ thuật hát tuồng, hát bội và lập ra đội nhã nhạc, đưa nghệ thuật sân khấu vào lễ nhạc cung đình.

Thế nhưng, lúc mới trốn vào Đàng Trong chưa gặp thời vận, Đào Duy Từ phải lang thang phiêu bạt bữa đói bữa no, phải đi chăn trâu cho nhà phú hộ đổi lấy miếng ăn. Lúc ấy nhà phú ông có cô Tâm là con gái út, cô này để ý thầm yêu chàng chăn trâu của nhà mình, nhưng rồi chẳng đi đến đâu hết, bởi phú ông không chấp nhận, nói rằng: “Nó bất quá chỉ là một gã chăn trâu mà chớ, nếu tài ba quán chúng sao không lều chõng trường thi, mà lại đem thân trôi nổi xứ người, chịu làm cái công việc mục đồng chăn trâu như vậy”?

Thời gian sau họ Đào kết duyên với một tiểu thơ con nhà quan, và đường hoạn lộ thênh thang rộng mở. Câu chuyện tình khá lý thú giữa chàng nho sinh Đào Duy Từ với tiểu thơ Trần Kim Nương con gái của quan khâm lý Trần Đức Hòa đã làm cho cha con phú hộ tiếc ngơ tiếc ngẩn.

Trên tờ báo Người Việt Xuân Kỷ Sửu 2009 tôi có viết bài “Mùa Xuân Năm Ấy Với Chàng Chăn Trâu Họ Đào” nói về ông Đào Duy Từ, ông Tổ ngành hát bội. Trong những kỳ tới tôi sẽ có bài nói về câu chuyện chàng chăn trâu họ Đào.

Hát bội có từ bao giờ?

hat-boi-622
Đại Lễ Kỳ Yên ở Đình Thần Tân Thới – Tỉnh Bình Dương. (Ảnh minh họa chụp trước đây)

Trên con đường mở rộng bờ cõi, ông cha của ta di cư từ phương Bắc xuống tận bờ biển phía Nam, mang theo phong tục tập quán, lễ nghi, đạo đức về cách ăn nếp ở, nói chung là văn hóa dân tộc. Âm nhạc và sân khấu, hai bộ môn nghệ thuật gắn liền với những khai hoang, lập ấp từ ngày đầu định canh, định cư hầu mang lại nguồn vui, nguồn an ủi, nối tiếp từ đời này sang đời khác.

Không có sử sách nào ghi chép cụ thể nghệ thuật hát bội đã xuất hiện ở vùng phía Nam đất nước chúng ta vào thời điểm nào, cũng như cách sinh hoạt, biểu diễn tổ chức nhân sự ra sao. Sách sử xưa chép: Vào thời Chúa Nguyễn thứ 8, tức chúa Hiếu Vương, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1739 – 1765), người con trai thứ 9 của chúa tên là Hiển bị bệnh chết. Chúa đau xót cực độ, bèn hạ lệnh cấm dân gian không được hát xướng trăm ngày. Hết thời gian buồn thảm ấy, chúa sai hai quan thị vệ vào đất Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), bắt “con hát” (hát bội) đem về kinh đô Phú Xuân, để biểu diễn cho chúa tiêu khiển. (Khi xưa người ta gọi đào kép là con hát).

Hình như cậy thế cậy quyền, hách dịch là thuộc tính của những kẻ máu mặt dựa kề chúa thượng, cho nên hai tên thị vệ này dùng quyền lực nhà vua áp bức con hát đến thậm tệ. Lúc bấy giờ Đặng Đại Độ làm quan trấn thủ Biên Hòa, nghe tin thị vệ áp bức dân chúng, trước hết là con hát với chứng cớ rành rành, ông căm tức, bèn ra lệnh bắt hai tên thị vệ ấy xử chém tại chợ Biên Hòa. Xử xong, ông bàn giao công việc cho các quan ở lại chăm lo việc nước việc dân. Còn phần ông mặc quần áo bà ba đeo gông cùm, đi chân đất từ Trấn Biên về Kinh Đô Phú Xuân chịu tội. Con ông can rằng:

Chừng nào về đến kinh đô sẽ hay, còn bây giờ cha nên lên võng mà đi, chuyện gì phải hành hạ mình như thế?

Ông trả lời:

Nếu vậy sao gọi rằng có tội?

Thế rồi ông thản nhiên làm theo ý mình. Từ Biên Hòa đến Kinh Đô Phú Xuân, ông phải đi suốt một tháng ròng với thân phận một tội nhân.

May thay, lúc đến kinh đô gặp Chúa Nguyễn Phúc Khoát, ông được nghe chúa phán rằng:

Ông có tội gì đâu mà phải đày đọa mình đến khổ sở như vậy? Chỉ vì ta buồn phiền mệt nhọc, nên mới bảo chúng nó vào tìm đôi đứa con hát về kinh giúp ta tiêu khiển, không dè chúng lại lợi dụng mệnh lệnh của ta mà giở thói làm càn nên ông buộc phải giết chúng là phải.

Chúa bèn hạ lệnh mở trói và mời Đặng Đại Độ hội triều cùng bàn việc dân việc nước.

Qua sự kiện trên, chúng ta thấy sân khấu hát bội truyền bá vào đất Trấn Biên khá sớm. Ngay từ đầu thế kỷ 18, nơi đây đã xuất hiện con hát tài năng, nổi tiếng đến mức chúa Nguyễn Phúc Khoát phải cho thị vệ kêu ra Kinh Đô Phú Xuân (trong lúc kinh kỳ không thiếu tài năng).

Đến năm 1813, Tả Quân Lê Văn Duyệt là người sanh quán tại Định Tường, rất thích hát bội. Lãnh chức Tổng Trấn Gia Định Thành. Hát bội vốn đã đâm chồi nẩy lộc từ trước đó ít lâu, bây giờ như diều gặp gió, phát dương sinh sắc bởi bàn tay chăm sóc của chính quan tổng trấn. Chẳng những tổng trấn có riêng một đội hát bội, mà các quan xa gần thuộc trấn Gia Định đều tranh nhau lập đoàn hát bội, nuôi con hát trong hàng ngũ của quân đội. Thế là nghệ thuật hát bội đã lập cứ địa vững chắc tại Gia Định.

Nghệ thuật hát bội ở đất này có dịp gần gũi với hí kịch Trung Quốc của người Minh Hương, và với nghệ thuật hát của người Cao Miên, lần lần lớn lên và trau chuốt cho mình cái thân ngày nay vậy!

Thời thập niên 1940, dài cho đến những năm đầu của thập niên 1950 gánh hát bội Tấn Thành Ban, một trong những đoàn danh tiếng thời bấy giờ do ông Huyện Trần Khiêm Cung làm bầu gánh. Hằng năm cứ sau Tết Nguyên Đán từ Tháng hai Âm Lịch trở đi là gánh hát bội của ông Bầu Cung liên tục bán giàn, được mời đi hát cúng Kỳ Yên ở các đình làng quanh tỉnh Gia Định, và đôi khi cũng đi hát ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một, hoặc quê hương của ông ở Cần Đước, Long An.

Khi hết lễ cúng Kỳ Yên rồi thì gánh Bầu Cung đi hát quanh quẩn vùng Chợ Lớn, Tân Định, Bà Chiểu… và thường hay về nằm ở tại đình Cầu Muối ở đường Cô Giang. Tuy khán giả không đông đảo như hát ở đình làng, nhưng đêm nào cũng có số khán giả mua vé, nếu không lời thì cũng đủ sở hụi chi phí trả lương đào kép, công nhân.

Thời điểm này khán giả đi coi hát bội còn nhiều, đào kép có thể sống với nghề được. Thế nhưng, đến gần cuối thập niên 1950 thì số người coi hát bội ngày một giảm sút. Và theo như nhận định của những người am tường vấn đề thì số khán giả lớn tuổi lần lượt trước sau qua đời, hoặc già yếu không đến rạp được. Còn khán giả trẻ thì phần lớn đã chuyển sang đi coi cải lương, để thưởng thức tuồng tích mới lạ, thay vì coi hát bội chỉ hát đi hát lại mãi những tuồng dựa theo truyện Tàu.

Về các vở truyền thống trên sân khấu hát bội, các nhân vật nam ít được khán giả quan tâm hơn các nhân vật nữ. Từ hơn hai thập niên nay, người xem không chỉ có tầm nhìn khái quát về nghệ thuật hát bội, mà còn đặc biệt theo dõi diễn tiến của câu chuyện, tài diễn xuất của diễn viên, tính cách của từng vai, số phận của từng nhân vật. Nhân vật được nhiều người chú ý và đề cập đến phải kể là Hồ Nguyệt Cô (tuồng Tiết Giao đoạt ngọc). Một con chồn tu mấy trăm năm đắc đạo thành người (mà là một phụ nữ đẹp), kết duyên cùng tướng Võ Tam Tư. Trong một dịp thay chồng ra trận, nàng say mê một tướng trẻ đẹp trai (Tiết Giao), trao tình cùng hắn rồi bị Tiết Giao đoạt mất ngọc người.

Không còn vật quí giá đó, nàng trở về dinh, vô cùng đau khổ và hối hận khi toàn thân đi vào thoái hóa, để trở về cốt chồn. Võ Tam Tư phát hiện con vật tanh hôi, vung gươm giết chết! Nền luân lý của thời xưa đã khe khắt như thế. Trong đạo phu thê, người vợ bị buộc phải tuyệt đối trung thành với chồng, nếu một phút lỗi lẫm, kể như đánh mất vật quí nhất của mình rồi sẽ bị coi như con vật, không ai thương tiếc. Hồ Nguyệt Cô là một nhân vật tà phái, một người có tội bị trừng phạt, nhưng không ít người xem (nhất là phụ nữ) đã âm thầm xót xa thương cảm cho số phận nàng. Xưa nay, bao nhiêu cô đào hát bội đã thành công qua vai này.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0321-nm-03202015213516.html

Tin, bài liên quan

NGÀNH MAI : Nữ tài tử chiếu bóng Việt Nam đầu tiên là ai?


Nữ tài tử chiếu bóng Việt Nam đầu tiên là ai?

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2015-03-14
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
ky-niem-2-622

Hình Cô Hoàng Thị Thế, con của nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám, tức cụ Đề Thám, trong cuốn hồi ký của Cô.

Courtesy photo

Nếu như lịch sử điện ảnh Việt Nam khởi đầu từ năm 1930, với các tài tử là đào kép cải lương ở rạp Quảng Lạc, Hà Nội, thì trước đó 2 năm (1928) nữ tài tử chiếu bóng Việt Nam đầu tiên xuất hiện trong cuốn phim Pháp là cô Hoàng Thị Thế, con của nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám, tức cụ Đề Thám, khởi nghĩa ở đất Yên Thế miền Bắc.

Người con gái Việt

Và sau đây là câu chuyện kể của kỷ sư Nguyễn Bá Lãng, từng du học ở Pháp về (kỹ sư Nguyễn Bá Lãng là con của quan Tổng Đốc Nguyễn Bá Trác). Câu chuyện một người con gái Việt, từ là đứa con yêu quí của nhà cách mạng trên hai mươi năm vẫy vùng ở nước non Yên Thế, đến một cuộc đời điêu linh nơi đất Pháp, và rồi trở nên một tài tử màn ảnh. Tâm trạng của cô Hoàng Thị Thế là tất cả một sự quay cuồng của hoàn cảnh, mà ai nghe qua rồi cũng khó quên.

Vào năm 1928, tại đất Pháp dư luận sôi nổi lên về cuốn phim “Một Bức Thơ”, mà lúc bấy giờ người Việt ở trong nước, hoặc ngay cả các người Việt đang du học ở Pháp, cũng không ngờ cuốn phim ấy có liên quan đến một cô gái Việt Nam. Dư luận sôi nổi không phải là vì cuốn phim ấy hay nhất của thời đó, mà sôi nổi ở chỗ cuốn phim đã được cái vinh hạnh một có công chúa Trung Hoa đóng tuồng. Họ quảng cáo vị công chúa Trung Hoa này rùm beng lên để gợi cho công chúng sự háo kỳ, để rồi thiên hạ đi coi cuốn phim ấy như đi xem một kỳ quan thứ tám của thế giới.

Vào lúc ấy trong buổi thanh bình, mọi người Âu cũng như Á sống một cuộc đời bình thản, và rồi cái kỳ lạ ấy đã khơi lên trong lòng mọi người một sự nô nức, nhờ đó mà cuốn phim được hoan nghinh, hay nói rõ hơn là được nhiều người coi. Họ tranh nhau coi mặt một vị công chúa Tàu, nhưng có điều là báo chí ở Âu Châu thời ấy lại mù tịch về việc đó, các báo đã không hề cải chánh mà lại còn loan tin thêm, cho nên hãng phim vẫn tiếp tục quảng cáo om sòm để hốt bạc. Ngay cả nhân vật ấy cũng làm thinh không biết là với ý định gì, hoặc là trong hợp đồng đóng phim có cam kết điều gì mà không được nói ra chăng?

Nhưng rồi chẳng bao lâu thì người ta cũng được biết vị công chúa Trung Hoa ấy chính là cô Hoàng Thị Thế, con gái út của nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám, tức cụ Đề Thám. Trong thời gian nổi lên chống Pháp, sau những trận giao tranh gây thiệt hại nhiều cho quân Pháp, cuối cùng thì cụ Hoàng Hoa Thám đã anh dũng nằm xuống tại cứ địa đấu tranh, vùng đất Yên Thế, để các thế hệ sau ghi nhớ và noi gương bất khuất của cụ.

Theo lời kỹ sư Lãng thì sau ngày cụ Hoàng Hoa Thám mất thì mẹ cô Thế bỏ trốn, cô trở thành đứa bé lưu lạc được người nào đó tạm nuôi. Thấy cô có nét mặt thông minh, khả ái nên được một viên sĩ quan cao cấp người Pháp xin đem về làm con nuôi, và để ở Hà Nội hơn một năm ngoài, rồi đem cô về Pháp cho đi học, cho ăn mặc theo Pháp.

Cô Hoàng Thị Thế vốn dòng thông minh, đi học từ năm 12 tuổi và đến năm 21 tuổi thì đậu Tú Tài, cô đang thoải mái nhẹ bước trên đường học vấn thì thương ôi, ông già nuôi mãn phần, anh em người Pháp tranh giành gia tài chia xẻ nhau. Riêng cô Thế là đứa con nuôi mũi tẹt da vàng chỉ được may mắn cho ở, ăn báo hại nơi nhà của người con trưởng của ông già nuôi ấy mà thôi .

Nhưng rồi, tình đời ghẻ lạnh với sự ăn nhờ ở cậy ấy không được bao lâu thì cô Thế chịu không nổi, mới từ giã nhà người anh nuôi mà ra giữa cuộc đời tự lập nơi xứ lạ quê người, với gió bụi và phong sương kiếm nghề thư ký và bán hàng nuôi sống. Tâm trạng của cô trong những ngày phiêu bạt ấy không cần phải nói lại, sự đau khổ đến thế nào…

Tình cờ một ngày kia, vào cuối năm 1928 có một nhà đạo diễn phim vào mua hàng một tiệm buôn nọ, bỗng bất chợt thoáng thấy một cô gái Á Đông rất duyên dáng đang đứng tiếp khách. Nhà đạo diễn lúc bấy giờ đang băn khoăn tìm một người phụ nữ phương Đông đóng vai công chúa Tàu cho cuốn phim “Một Bức Thơ”. Sau khi ướm lời với chủ tiệm thì chủ tiệm bằng lòng nhường lại cô gái bán hàng ấy, và giới thiệu đó là một công chúa Trung Hoa, sau ngai vàng đổ nát của vua cha đã phải lưu vong qua đất địa nước Pháp.

Từ cô bán hàng đến tài tử chiếu bóng

Thế rồi từ cô gái bán hàng với số lương 200 quan mỗi tháng, cô Thế đã nghiễm nhiên thành một tài tử chiếu bóng với số lương 2000 quan mỗi tháng, từ đây với số lương gấp mười, cô sống một cuộc đời tạm gọi sung túc.

De_Tham-400.jpg
Nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám, tức cụ Đề Thám, chụp ảnh bên các cháu của ông. Courtesy wikipedia.

Khi cuốn phim “Một Bức Thơ” ra đời, đi khắp các thành phố đều được thiên hạ đón xem, người ta cố tình xem mặt của vị công chúa Trung Hoa đã lưu vong và trở thành cô đào màn ảnh. Thấy cô đẹp, họ bàn tán xôn xao và một số đông đã yêu cô, vì tuy xem cô đóng vai tuồng giả công chúa Trung Hoa, mọi người nhận thấy ở cô một vì công chúa thật, nhất là với nét mặt u buồn. Trong phim họ đã xét thấy tâm trạng đau khổ của một nàng công chúa, từ bên cạnh một ngai vàng rơi vào trong bụi đời hải ngoại, họ ái ngại và thương yêu cô vì thế.

Và cũng sau cuốn phim ấy thành hình, cô Hoàng Thị Thế đã phải tiếp đón hàng ngày hơn trăm người khách lạ, hoặc tới thăm viếng tặng hoa, hoặc tới phỏng vấn an ủi, hoặc tới mời cô đi dự tiệc, nhất là các công tử và phú gia đều cạnh tranh nhau để được cùng khoác tay đi chơi, hoặc dự tiệc với nàng công chúa ấy.

Trong lúc này đến các du học sinh Việt Nam ở Pháp, mà về sau tốt nghiệp đã về nước như: Bác Sĩ Phạm Ngọc Thạch, kỹ sư Nguyễn Bá Lãng, kỹ sư Thái Thiện Nghĩa v.v… đều có hân hạnh lui tới tặng hoa, thăm viếng, và có khi những tấm chèque to tát được trịnh trọng đem dâng cho nàng để cầu nói chuyện trong giây lát.

Nhưng rồi thì giữa cảnh tiếp đón tấp nập ấy, một thanh niên trí thức người Pháp có thế lực, đã lọt vào mắt xanh cô Hoàng Thị Thế, đôi nam nữ ấy yêu nhau và một đám cưới linh đình đã diễn ra trong năm 1931, giữa sự mến tiếc của những người “hỏng thi”.

Tưởng đâu chiếc thân bèo dạt nhờ cơ hội ấy mà yên cửa nhà, không dè sau một thời gian ân ái, đức lang quân mới hỏi đến gia tài ngày trước. Cô Hoàng Thị Thế mới đem hoàn cảnh sự thật nói cho chồng biết rằng, vào năm 1909 sau khi ông Hoàng Hoa Thám nghị hòa với quân Pháp, thì toàn quyền Paul Doumer có cắt đất Yên Thế, gồm có lối 5 ngàn cây số vuông, giao trọn cho nhà cách mạng, tức ông già vợ của chàng rể và là chủ nhân cô Thế nói trên. Chàng ta mới dùng thế lực của mình kiện chính phủ Đông Dương, lúc áy do toàn quyền Pasquier cầm đầu, để lấy lại đất đai của ông già vợ mình, đất đai thời đó trị giá những 100 triệu phật lăng! Vụ kiện đó kéo dài hai năm, bị bác bỏ.

Không thấy được kết quả, thì bấy giờ cô Thế mới thấy được lòng dạ của chồng, là từ ấy trở đi cơm không lành canh không ngọt, mặc dầu với đức hạnh của một gái Đông phương biết chiều chồng nuôi con, vẫn không an ủi chồng được, và ngày ngày vẫn kiếm chuyện xích mích gây gổ, nào “trái ấu không tròn”, nào là “bồ hòn cũng méo”. Thì ra sau khi biết rõ rằng nàng không phải đúng một vị công chúa Tàu như người ta đồn, mà chỉ là con của một người “phiến loạn” của xứ “An Nam” thì không bao lâu cái gia đình Pháp – Việt ấy tan rã, chặt đứt oan tình.

Thế rồi, cô Hoàng Thị Thế lại sống giữa cô đơn và bụi đời ở nước ngoài, tiền của dần dần cạn sạch, bấy giờ cô mới lục lại danh thiếp của bao kẻ hâm mộ nàng ngày xưa. Và ngày xưa họ đã tìm tới nhà nàng để cầu trịnh trọng được hôn bàn tay, thì lần này chính nàng lại phải kiếm gõ cửa nhà họ để nhắc lại mối cảm tình ngày trước, và cũng xem trong chuyến đò tình sang sông, còn có khách nào mến cây da cũ, con đò xưa chăng?

Thì than ôi! Nàng đâu còn là một gái xuân sắc với cặp mắt huyền mơ của ngày xưa tươi đẹp nữa. Giữa tàn tạ nàng phải sống một cuộc đời tuy không đến nỗi dơ dáng dại hình, song cũng không được xáng lạn cho lắm.

Kỹ sư Nguyễn Bá Lãng kết luận rằng: “Cuộc đời của nàng sau mối tình lang bạt kia nghe qua mà lòng se lại, tôi cũng rất tiếc cho con người tài hoa xinh đẹp ấy, nhiều khi vì sự sống còn ở nước người, đã phải đi gõ cửa từng nhà bạn quen, để giải quyết vấn đề bao tử của ngày ấy!

Từ sau trận đại chiến ở Âu Châu, kiều bào ở Pháp không còn ai gặp lại cô Hoàng Thị Thế nữa, không biết trong loạn lạc lúc ấy nàng có phải làm con thiêu thân cho bom đạn chăng? Nhưng cái ngày chót mà các Việt kiều du học ở Pháp được gặp nàng là vào cuối năm 1939, và cô Thế có cho hay trên một chuyến tàu rằng, nàng sang nước Bỉ. Mấy tháng sau thì quân của Hitler ào ào tràn sang Bỉ mà tiến qua Pháp, đạo binh ấy có quét nàng đi như một hạt bụi, hay như một chiếc lá khô giữa đàng chăng?”

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0313-nm-03132015231914.html

NGÀNH MAI , thông tín viên RFA: Làm sao để đưa đờn ca tài tử vào trường học?, radio RFA, USA


Lần phát thanh cổ nhạc kỳ vừa qua tôi đã trình bày vấn đề đờn ca tài tử được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đồng thời tôi cũng nêu lên việc mới vừa hình thành một câu lạc bộ đờn ca tài tử tại Hà Nội, và bắt đầu hoạt động hàng tuần mỗi Chủ Nhựt. Sự kiện ấy đã cho thấy rằng nghệ thuật dân gian này được nối dài ra miền Bắc.

Phát hiện tài năng trẻ

Trước đó vài hôm ở Sài Gòn cũng có một buổi tọa đàm tại Viện Bảo Tàng, tham dự viên gồm các nghệ nhân, giáo sư từng dạy cổ nhạc ở đại học, và viên chức chính quyền thuộc sở văn hóa, mà chủ yếu là xoay quanh vấn đề làm sao đưa đờn ca tài tử vào trường học.

Có những đề nghị được đưa ra là nên thành lập các câu lạc bộ đờn ca tài tử trong trường học, để các em tự sinh hoạt và sở văn hóa nên hỗ trợ nhạc cụ. Hiện tại thì ở trường trung học Trần Đại Nghĩa đã có nơi sinh hoạt cho các em ham thích đờn ca tài tử, và đã có những em biết ca biết đờn cổ nhạc. Một viên chức Sở Văn Hóa Thông Tin có đến thăm đã nhận thấy cụ thể như vậy, và chỉ đạo các quận, huyện phát hiện tài năng trẻ để có kế hoạch giúp đỡ thiết thực.

Vấn đề quan trọng là dạy cái gì cho các em dễ nắm bắt. Tiến sĩ Mỹ Liên bức xúc: “Trong kho tàng đờn ca tài tử còn biết bao nhiêu bài bản ngắn gọn, dễ thương như Lưu Thủy Hành Vân, Thu Hồ, Phong Ba Đình… sao không dạy mà đã vội bắt các em vô bài bản lớn hoặc dạy tân cổ giao duyên!”. (Có lẽ ở trường trung học Trần Đại Nghĩa hay trường nào đó đã có dạy như vậy).

Nghệ nhân Thanh Tùng cũng từng đi dạy thường xuyên cho các trường đại học, nhận thấy sinh viên cũng cảm thụ đờn ca tài tử. Soạn giả Ngô Hồng Khanh thì lại lo lắng về chuyện người dạy, ông nói: “Ngoài trường học còn có các lò đào tạo riêng bên ngoài, nhiều người mới học đờn chưa vững nhịp mà đã đi dạy, báo hại học trò mất căn cơ, nguy hiểm quá”. Chính vì vậy, nhạc sĩ Nhất Dũng mong các nghệ nhân trong các câu lạc bộ đờn ca tài tử hỗ trợ giảng dạy cho các trường học, bởi ngay các giáo viên trong trường cũng ít được tiếp xúc đờn ca tài tử.

Vấn đề đưa đờn ca tài tử vào trường học, theo tôi thì rất hay, nếu có như vậy thì rồi đây trên đất nước đâu đâu cũng có đờn ca tài tử, thế hệ trẻ sẽ có cơ hội tham gia. Thế nhưng, đường hướng thực hiện như thế nào để mang lại kết quả cao như sự mong muốn, là điều mà hầu như những ngườiuan tâm đến sự kiện ai cũng thắc mắc.

Đưa đờn ca tài tử vào trường học, để cho các em học sinh nào ưa thích thì tham gia sinh hoạt học hỏi, chớ không bắt buộc phải học. Cũng nên nhớ rằng người tham gia đờn ca tài tử là tự nguyện, thích mà vào, chớ như khuyến khích hoặc hứa hẹn gì đó để lôi kéo các em vào thì sẽ đưa đến tình trạng nhân số báo cáo thì nhiều, mà nhân tài thực sự lại chẳng được bao nhiêu. Có lượng mà không có phẩm, các trường học đừng chạy theo chỉ tiêu để lập báo cáo lấy điểm.

Riêng về người dạy các em phải là nghệ nhân rành rẽ về đờn ca cổ nhạc, từng tham gia đờn ca tài tử thì họ mới nhiệt tình, mới đủ khả năng đảm trách. Điều cũng cần nói rõ thêm là người hướng dẫn phải làm sao cho các em phân biệt được nhạc tài tử và nhạc cải lương, bởi đa số những người hâm mộ cổ nhạc, thích nghe ca vọng cổ, đã vô tình hiểu rằng đờn ca tài tử và hát cải lương giống nhau, tức là không phân biệt được nhạc tài tử và nhạc cải lương. Khi người ta đi coi cải lương, nghe đào kép ca vọng cổ (vì bản vọng cổ không thể thiếu trong tuồng cải lương), ít ai chú ý rằng ca vọng cổ trong tuồng khác với ca vọng cổ ở các nhóm đờn ca tài tử.

IMG_2341-622
Lễ đón nhận bằng của UNESCO vinh danh nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại TPHCM.

Biết rằng giữa nhạc tài tử và nhạc cải lương có mối quan hệ mật thiết với nhau, và cũng chính vì vậy mà có rất nhiều người hiểu lầm nhạc tài tử là nhạc cải lương hoặc ngược lại. Những người sinh hoạt đờn ca tài tử lâu năm, ai cũng rõ biết nghệ thuật này không phân biệt thành phần đẳng cấp trong xã hội, cũng không phân biệt nam, phụ, lão, ấu hay sang hèn, từ lễ hội tôn nghiêm đến các đám tiệc sang trọng và rất dân dã lúc nhàn rỗi “trà dư tửu hậu” ở đồng quê.

Các ban đờn ca tài tử được mời đờn ca giúp vui cho đám cưới, họ không hề ra giá, gia chủ muốn thưởng bao nhiêu tùy ý, mà không có cũng chẳng sao, không ai phàn nàn. Còn ca cải lương thì phân biệt hẳn hòi, đào nhì kép ba không thể ngang hàng với đào kép chánh. Ca cải lương thì người nghe, tức khán giả phải mua vé, người ca trong cải lương thì phải ra tiền họ mới ca, và phải trả đúng số tiền mà họ ra giá. Trong khi đó thì đờn ca tài tử hoàn toàn miễn phí, nếu có chăng chỉ là tốn tiền ly cà phê. Nói rõ hơn tuy cũng xuất thân từ đờn ca tài tử, nhưng sang qua cải lương thì biến thể, biến chất từ phong cách, lời ca cho đến cách phục vụ.

Phong trào đờn ca tài tử lan rộng

Hiện nay phong trào đờn ca tài tử ở trong nước lớn mạnh, lan rộng đều khắp từ thành thị đến nông thôn với một lực lượng hùng hậu, mà trong đó phải kể luôn những nghệ sĩ cải lương về chiều, hoặc còn đang hành nghề. Hiện tình ấy đã cho người ta cái nhìn thực tế rằng, cải lương có kiệt quệ thì đờn ca tài tử chẳng ảnh hưởng gì hết. Bởi trong khi rạp cải lương thưa dần khán giả, mà các nhóm đờn ca tài tử thì ngày một nhiều hơn, mỗi tỉnh ở miền Nam có hơn cả chục nhóm đờn ca tài tử lớn nhỏ hoạt động thường xuyên. Điều ấy có nghĩa là tiếng đờn câu ca vọng cổ vẫn thu hút người nghe, thì dĩ nhiên đờn ca tài tử vẫn tồn tại.

Người chơi đờn ca tài tử càng lớn tuổi càng lâu năm thì càng được lớp đàn em kính trọng nể vì, xem như thầy, như anh, như chị. Còn ca cải lương thì lúc đương thời được người ta trọng vọng, xem là thần tượng nhưng đến khi luống tuổi đã về chiều, ca diễn không còn hấp dẫn, thì hầu như bị thiên hạ xa lánh, bạn bè thân hữu chẳng thấy, và cuối cùng càng về già thì đa số lâm vào hoàn cảnh vô cùng túng thiếu, bệnh hoạn, và chết trong cảnh nghèo.

Được UNESCO công nhận thì chắc rằng sẽ có tài trợ để bảo tồn. Nếu như xài hết ngân khoản mà chẳng đáp ứng được yêu cầu thì sẽ ăn nói làm sao đây với người ta, với tổ chức của Liên Hiệp Quốc. Bởi vậy cần phải nghiên cứu thật kỷ lưởng, phải nhìn lại quá trình hoạt động đờn ca tài tử ở trong Nam để rút kinh nghiệm thì mới hy vọng thành công.

Nói thêm về vấn đề thành lập câu lạc bộ đờn ca tài tử, thì kinh nghiệm trong quá khứ tôi thấy rằng, nếu như ai đó ham thích thì tự động họ tìm đến tham gia, học hỏi, gặp khó khăn mấy cũng cố gắng vượt qua. Còn như không thích thì dù cho thuyết phục, đãi đằng ăn uống, họ cũng thờ ơ, lơ là, chẳng học hỏi gì cả. Cuối cùng thì viện lý do nào đó để rời nhóm. Hoặc nói rằng họ không có năng khiếu nên chờ thời gian khác vậy.

Riêng về phía câu lạc bộ thì phải thể hiện tinh thần “tài tử” như danh xưng, và hiểu rằng đây là nơi sinh hoạt chung của giới mộ điệu. Nếu là câu lạc bộ đờn ca tài tử thì không phải chỉ những người đến đây ca hát thôi, mà phải tính luôn số khán giả đến để nghe nữa. Phải có nhiều người tham gia thì mới tạo được bầu không khí sinh động. Nên tạo sự dễ dãi mới lôi cuốn được giới ham thích, phải cho người ta có cảm tưởng ở đây là nơi thân tình, đón tiếp thực sự. Chớ còn như tạo sự khó khăn, ra điều kiện này nọ thì chẳng ai thèm tham gia cho rắc rối.

Còn một vấn đề nữa tuy nhỏ cũng phải lưu ý, vì nó cũng có thể đưa đến sự thành bại, đó là việc ăn uống trong câu lạc bộ. Phải hiểu rằng người mộ điệu đến với đờn ca tài tử, họ đủ mọi thành phần trong xã hội, nhưng điều kiện đời sống thì không phải ai cũng như ai, có kẻ giàu người nghèo, sang hèn đều có.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0124-nm-01232015220649.html

Nếu như câu lạc bộ lợi dụng chỗ đông người để bán thức ăn nước uống, dầu rằng giá bình dân cũng coi như hạn chế con số người tham gia, rồi dần dà đưa đến thất bại. Người ta đặt ra một thí dụ, nếu như hai người cùng ngồi một bàn, cùng thưởng thức lời ca tiếng hát, mà người có tiền họ kêu thức ăn nước uống. Trong khi đó người không tiền ngồi xem người ta ăn, sẽ tự ái, chưa chắc gì họ đến đây thêm một lần nữa. Có người cho ý kiến nếu như có ngân quỹ, câu lạc bộ nên trích ra một ít phục vụ nước uống, bánh kẹo để mọi người cùng chung hưởng vui vẻ, chứ không bán thêm thức ăn nước uống gì cả. Và tuyệt đối rượu không được mang ra ở đây, trước sau gì cũng gây nên lộn xộn.

Suốt hơn nửa thế kỷ tham gia đờn ca tài tử, tôi chưa thấy chỗ nào mà gia chủ bán đồ ăn đồ uống. Nếu có món gì đó thì mang ra ăn uống chung, hoặc khán giả đi coi cũng có khi mang nầy nọ đến tặng cho buổi sinh hoạt đờn ca. Đến với đờn ca tài tử thì không phân biệt gì hết, có tiền hay không tiền thì cũng vậy thôi, có lẽ nhờ vậy mà đờn ca tài tử phát triển mạnh mẽ ở miền Nam.

NGÀNH MAI , thông tín viên RFA : Hát bội với Lễ Hội Kỳ Yên ở đình làng


Hát bội với Lễ Hội Kỳ Yên ở đình làng

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2015-02-21
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
hat-boi-622

Đại Lễ Kỳ Yên ở Đình Thần Tân Thới – Tỉnh Bình Dương. (Ảnh minh họa chụp trước đây)

File photo


Hằng năm cứ đến giữa tháng 11 Âm Lịch, tức khoảng hơn 1 tháng nữa mới đến Tết, là người ta đã thấy các nghệ sĩ hát bội đã chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho nghề nghiệp (trang phục, đo hát và tập dượt) để sau khi ăn Tết xong, đến khoảng Rằm tháng Giêng là họ tổng dượt, để đến cuối tháng Giêng là bắt đầu ra mắt khán giả yêu thích bộ môn nghệ thuật này, trong dịp các làng xã cúng Lễ Hội Kỳ Yên, mà có rước hát bội về trình diễn.

Lễ cầu an, cúng tế linh thần

Khắp miền Nam nước Việt, làng nào cũng có một ngôi đình thờ thần hoàng bổn cảnh, và thông thường thì các làng xã nào mà dân chúng làm ăn khá, trúng mùa thì mỗi năm Lễ Hội Kỳ Yên đều có rước hát bội về, như trường hợp xã Thắng Nhì ở Bến Đình, Vũng Tàu chẳng hạn. Sở dĩ xã Thắng Nhì tổ chức hát bội hằng năm là do dân ở đây với nghề đi biển đánh cá, được coi như làm ăn khá hơn các làng xã khác.

Mấy năm gần đây, nhiều địa phương có điều kiện tổ chức lớn Lễ Hội Kỳ Yên, vì có kiều bào ở nước ngoài yểm trợ tài chánh, nên đa số đều có chầu hát bội.

Cứ đến mùa này là có một số nghệ sĩ hát bội, đứng ra lãnh chầu:

Thuê đồ hát, thuê âm thanh, ánh sáng, gom diễn viên, nhạc sĩ, hình thành một ban để ký hợp đồng trình diễn. Để phục vụ cho mùa lễ hội thì bắt đầu từ tháng 11 âm lịch là anh chị em nghệ sĩ hát bội từ khắp nơi trong thành phố cũng như ở các tỉnh xa lại kéo về tụ tap tại nhà nghệ sĩ Ngọc Khanh (con gái cô Ba Út nổi danh tài sắc một thời), lấy đó làm điểm hẹn cũng như nơi xuất phát cho những chuyến đi xa.

Mỗi năm thông thường là vào tháng 2, tháng 3 Âm Lịch, trăng tròn, tiết trời quang tạnh, rất nhiều nơi tổ chức lễ cầu an, cúng tế linh thần. Người dân vui lễ hội, mừng thắng lợi sau mùa thu hoạch nông nghiệp, ngư nghiệp, cầu phước lành cho cả năm, cho mọi người, mọi nhà.

Lễ Hội Kỳ Yên tháng Giêng hằng năm là lễ hội được tổ chức lớn nhất, trong đại nhất. Lễ hội cầu phúc cho thế giới hòa bình, cầu cho quốc thái dân an, cầu cho mưa thuận gió hòa, cầu cho sự an khang thịnh vượng của thập phương bá tánh…

hat-boi-305
Hát bội ở đình làng, một hình thức thưởng thức nghệ thuật ở nông thôn Việt Nam. (Ảnh minh họa)

Lễ Kỳ Yên cũng như bao nhiêu lễ hội trên đất nước chúng ta, là dịp để người dân địa phương biểu lộ lòng tôn kính và biết ơn các vị anh hùng, các bậc tiền nhân đã góp phần tạo dựng, và có nhiều công lao với quê hương, với dân tộc. Đó là những ngày làm song lại thật sự một quá khứ xa xưa, được biểu hiện như một đặc trưng truyền thống trong lịch sử văn hóa Việt Nam.

Gắn liền với lễ cúng tế thần linh là chầu hát bội. Nơi nào mà đáo lệ, Ban Quí Tế Hội Đình không tổ chức được chầu hát bội thì ai ai cũng tiếc. Bởi chính hát bội đã mang lại không khí tưng bừng cho lễ hội, niềm phấn khởi rạng rỡ cho mọi người, từ các bậc phụ lão đến thanh niên phụ nữ trẻ con. Mỗi năm một lần, ngày hội cúng đình có nơi còn vui hơn ngày Tết.

Đông chật khán giả

Trong những buổi cúng đình, hát bội thường diễn liên tục, vậy mà xuất diễn nào cũng đông chật khán giả. Càng ở những vở diễn sau càng thu hút được số lượng người xem nhiều hơn. Cái không khí vừa tưng bừng vừa trang trọng đó, cứ diễn đi diễn lại, năm này sang năm khác, với những con người nối tiếp đi qua, từ đời ông cha, đến đời con cháu. Ngót hai thế kỷ đã qua, tập tục tốt đẹp ấy vẫn tiếp nối duy trì, có ai dám bảo là mê tín dị đoan hay hủ tục làm mất thời giờ vô ích, mà phải coi đó là một hình thứctín ngưỡng ăn sâu vào đầu óc dân quê, không có gì phá bỏ được. Cũng có những xã vài ba năm mới có hát bội, còn những làng xã nghèo quá thì cả chục năm vẫn không có hát bội.

Thông thường một chầu hát bội gồm có 5 hay 6 tuồng diễn ra trong 2, 3 ngày tùy theo yêu cầu từng địa phương. Một tuồng thường trình diễn trong 6 hoặc 8 tiếng đồng hồ. Các nhóm và các đoàn họ nhận ít nhất là hai chầu và nhiều nhất là tám chầu. Nhưng vẫn không đủ! Vì thiếu đào kép, một số diễn viên chính phải “chạy sô”, sáng nơi này, chiều nơi nọ, tối nơi khác. Do số lượng diễn viên và nhạc công rất ít chỉ hơn 30 người nên hầu như xuất diễn nào diễn viên cũng có vai. Không thiếu trường hợp sau những xuất diễn thứ 2, thứ 3, trong lúc trên sân khấu rộn rã tiếng đờn ca, thì nơi hậu trường đã có vài diễn viên đang ngồi cạo gió cho nhau… Có người phải hát ba xuất cho một ngày, hát hết các đợt chầu, đa số các diễn viên đều bị tắt tiếng, nói không ra hơi.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-022115-nm-02202015164716.html

NGÀNH MAI, thông tín viên RFA: Những thăng trầm của đoàn kịch nói Kim Cương


Ngành Mai, thông tín viên RFA
2015-03-07
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
8scan0072_7a199-622.jpg

NS Kim Cương và Mẹ NS Bảy Nam, cùng các nghệ sĩ Đoàn Kịch nói Kim Cương năm 2001.

Photo courtesy of NLĐ

Hoạt động trong chế độ bao cấp

Từ sau 1975 thoại kịch, hay cải lương đều hoạt động trong chế độ bao cấp, thì dĩ nhiên đoàn kịch Kim Cương cũng thế thôi, chỉ có cái là đoàn Kim Cương được bao cấp đến đâu thì chỉ người trong cuộc quản lý điều hành và cơ quan văn hóa thì mới biết rõ. Tuy nhiên về nghệ thuật thì có lẽ do chính kỳ nữ trông coi.

Trong nhiều năm đoàn Kim Cương hoạt động vững mạnh, dù ở Sài Gòn hay đi lưu diễn ở các tỉnh, huyện, vẫn gặt hái khá quan về tài chánh. Nghệ sĩ, diễn viên đi đoàn Kim Cương lãnh cát – xê rất khá, có cuộc sống ổn định dù rằng mùa nắng hay mùa mưa…

Theo như hằng năm thì ở miền Nam từ tháng Năm trở đi là bắt đầu có những trận mưa mùa, cứ chiều đến là trời đổ mưa, kéo dài đến tháng Bảy mưa ngâu ngập đường sá, cho đến tháng Tám trời vẫn mưa tầm tã. Trong khi đó thì ở ngoài Trung nắng ráo, do vậy mà rất nhiều đoàn cải lương di chuyển ra miền Trung tránh mưa trong vài tháng, và đến tháng Chín, tháng Mười miền Trung bắt đầu mưa thì mang đoàn hát về Nam. Và đoàn Kim Cương cũng theo kinh nghiệm này, tức cũng chạy trốn những trận mưa giông.

Có lần lưu diễn miền Trung nếu như đoàn hát nào gặp tình huống này cũng chịu không thấu, nếu không rã gánh, thì cũng ngưng mở màn một thời gian dài, ngắn nào đó chờ nguồn tiền bỏ vô để khôi phục lại mọi mặt thì mới sống trở lại.

Số là năm ấy đầu thập niên 1990, sau khi dàn dựng vở “Bông Hồng Cài Áo” và biểu diễn khá thành công ở Sài Gòn. Đến tháng Năm như thường lệ hằng năm, đoàn Kim Cương bắt đầu chuyến đi lưu diễn miền Trung để trốn những trận mưa giông, mưa tầm tã ở miền Nam. Thế nhưng không ngờ năm đó miền Trung mưa sớm, mưa ở đây thật lạ lùng cứ 6 giờ chiều thì mưa đột ngột đổ xuống, rả rích kéo dài đến gần nửa đêm.

Tại Hội An, Phú Mỹ, các xuất hát của đoàn đã thu hút hàng ngàn khán giả. Xuất diễn bắt đầu từ 8 giờ 30 tối, chưa đến 7 giờ đã có hơn hai ngàn khán giả đến trước chờ đợi. Nhưng rồi trời đột nhiên cứ đổ những trận mưa ào ạt. Mưa như đuổi theo đoàn Kim Cương, hết ở Qui Nhơn đến Quảng Ngãi… Ở Năm Ô, đêm đầu hát, khán giả chưa biết nhiều nên không đông, nhưng đêm sau khán giả kéo đến đông đảo thì trời lại mưa. Sân khấu dựng ngoài trời, đoàn không diễn được đành phải trả vé. Đêm sau lại mưa, đoàn phải đời địa điểm. Trận bão ở Chu Lai năm đó làm bao ghe thuyền đánh cá bị đắm chìm, đoàn Kim Cương vừa đến Chu Lai ổn định để hát, nhưng chiều xuống, mưa bão nổi lên, cảnh trí, phông màn dựng ngoài trời, bay tứ tán, cũng may không ai bị chuyện gì nhưng đoàn cũng bị thiệt hại khá nặng: Cảnh trí, âm thanh bị hư hại phải nghỉ diễn ba, bốn ngày.

Khốn khổ như vậy mà đoàn Kim Cương vấn sống, và mọi người trong đoàn đều tin tưởng ở một Kim Cương, người nghệ sĩ có quá nhiều kinh nghiệm và thành tích nghệ thuật. Giới mộ điệu nghệ thuật sân khấu hoặc trên truyền hình đều khen tặng ban kịch Kim Cương, đêm nào đài phát hình kịch Kim Cương là khan giả đông đảo không thua gì cải lương phát hình tuồng hay, tuồng của Dạ Lý Hương chẳng hạn.

Vì thời cuộc, vì hoàn cảnh, Kim Cương có lúc xoay qua điện ảnh làm phim và cũng thành công hơn hẳn người ta trong lãnh vực này. Nhưng đối với Kim Cương vẫn là tạm bợ, mà sân khấu mới là chính.

Kim Cương có khoảng gần 3 năm ở Pháp vừa theo học nghệ thuật vừa đi làm. Ký giả Tô Yến Châu có lần đi Pháp gặp kỳ nữ ở Paris, thấy Kim Cương ngày ngày mang cặp sách đến rạp Opéra để học nghệ thuật, và mỗi đêm trình diễn một màn vũ điệu ở nhà hàng “Table des Mandarine”. Đồng lương tạm đủ sống, vì cô còn phải nuôi hai người em đang theo học đại học ở Pháp. Cuối năm 1966 Kim Cương về nước, được đông đảo nghệ sĩ ký giả đón tại phi trương: Ký giả kịch trường báo Hòa Bình hỏi:

– Ở Pháp, khán giả Việt kiều ái mộ và yêu cầu Kim Cương ở lại sao Kim lại về.

– Như vậy là anh hiểu lầm tôi quá nhiều. Tôi còn quê hương, nhà cửa, những người thân yêu. Tôi còn bao nhiêu khán giả, đồng bào thương mến ủng bộ tôi.

Quên làm sao được. Xứ sở mình là núm ruột. Ở xứ người chẳng quavì hoàn cảnh, vì một sự vạn bất đắc dĩ đó thôi. Vay mượn cái đẹp cái sang của người để khoát vào mình, cái đó có nghĩa gì.

8scan0103_be558-400.jpg
NS Kim Cương (trái) và nghệ sĩ Uyên Trinh trong vở Đám cưới đầu Xuân. Photo courtesy of NLĐ.

Đến lúc Việt Nam có truyền hình (1967) ban kịch Kim Cương ra đời, xuất hiện trên màn ảnh nhỏ được khán giả hoan nghinh nhiệt liệt. Ban kịch Kim Cương trên truyền hình nổi tiếng được mến mộ không ban kịch nào có thể sánh được, và mỗi khi đài phát hình kịch Kim Cương thì thiên hạ lũ lượt đi coi ở các máy truyền hình công cộng. Bởi thời gian đầu này máy TV chưa có bán rộng rãi ngoài thị trường cho người dân.

Lúc ấy nguyện vọng của Kim Cương là một ngày nào đó không còn chiến tranh, tạo được chiếc xe với một đoàn hát nhỏ, với vài chục kịch sĩ di chuyển khắp toàn quốc để trình diễn cho khán giả từ thành thị đến thôn quê thưởng thức, đâu đâu cũng có người cần đến văn nghệ. Càng cần hơn nữa ở các vùng hẻo lánh xa xôi. Và đúng như nguyện vọng của nàng, sau 1975 đoàn kịch nói Kim Cương hình thành và đi lưu diễn khắp nơi.

Nghệ thuật sân khấu bị khủng hoảng

Thập niên 1980 hầu như ai cũng nghĩ rằng đoàn Kim Cương sẽ sống thọ lâu dài, có người còn nói chỉ trừ trường hợp kỳ nữ đau yếu bệnh tật, không còn khả năng đi đứng hoạt động thì đoàn Kim Cương mới nằm một chỗ, mới giải thể. Chớ như một Kim Cương mạnh cùi cụi, một người đẹp đang sáng chói trên sân khấu, thì đoàn kịch chỉ ngày một thêm vững mạnh hơn mà thôi.

Nhưng rồi gặp lúc nghệ thuật sân khấu bị khủng hoảng, cùng với cơ chế thị trường được áp dụng, thì đoàn Kim Cương cũng điên đảo, cũng xuống dốc như bao nhiều đoàn cải lương khác. Kỳ nữ cố vùng vẫy đề ráng giữ đoàn Kim Cương khỏi bị rã gánh. Nhờ tài ngoại giao, kỳ nữ nghĩ ra phương cách phân phối vé. Kết hợp vừa bán vé tại rạp, vừa hợp đồng vé với các xí nghiệp, công ty, các cơ quan. Nhưng phương cách kết hợp này cũng chỉ cứu vãn đoàn hát một thời gian, bởi xí nghiệp, công ty nào cũng chỉ tiêu thụ vé qua một lần mà thôi, không còn mặn mà gì với sân khấu nữa.

Kim Cương nói có ai biết những tủi nhục của Kim Cương, vì thương anh em, vì thương đoàn Kim Cương mà phải nhắm mắt đi làm… như đi rao bán cao đơn hườn tán. Một người nghệ sĩ như mình mà phải khổ cực cầm từng cọc vé đi xuống từng hang cùng ngõ hẻm để rao bán, để nuôi sống một đoàn Kim Cương.

Tâm sự với một nhà báo, Kim Cương nói:

– Có lần tôi và nghệ sĩ Minh Hạnh xuống công ty Shell (mà lần đó lại là đi bán vé hát từ thiện). Vừa thấy mặt tôi và Minh Hạnh, một anh cán bộ thanh niên ra nhìn từ đầu đến chân, rồi hất hàm, hỏi “Bộ đói lắm sao mà phải mò tới đây bắt mua vé?…”! Lần đó, Minh Hạnh cứ ôm tôi, khóc và nói “Chị Kim ơi, thôi lần sau thà chịu đói, chớ đừng đi làm những chuyện thế này…”. Nói chung phải có tiền. Bởi nếu không, ngay cả cái tên nghệ sĩ cũng trở thành thứ hàng hóa rao bán.

Kỳ nữ than rằng:

– Kim Cương không có sự chỉ đạo, không có một sư yểm trợ nào của Nhà nước. Trong khi đâu phải là không có tiền, người ta xài tiền theo cảm hứng của cơ chế nhiều hơn tính đến hiệu quả thiết thực. Nhiều lúc tôi đã phải nói với mấy ông có trách nhiệm “Lạ quá, sao mấy ông lãnh đạo cũng bảo ráng giữ đoàn Kim Cương, mấy ông di tản cũng gọi điện về bảo rang giữ đoàn Kim Cương, nhưng chẳng ông nào cho Kim Cương đồng xu cắc bạc nào cả…”

– Thế rồi việc gì đến nó đã đến: Năm 1993 đoàn Kim Cương rã gánh, đào kép nghệ sĩ, công nhân mạnh ai nấy đi. Kỳ nữ “ngồi chơi xơi nước” nhớ lại quảng đời xả thân vì nghệ thuật mà thở dài. Và lâu lâu lại xuất hiện hát một hai sô từ thiện. Có nghĩa là hát giúp cho cơ sở từ thiện nào đó, nếu có thù lao thì cũng tượng trưng thôi.

Hiện nay thì không nghe nói kỳ nữ hoạt động hát xướng gì hết. Vả lại tuổi đời cũng cao, sức khỏe đâu còn cho phép. Các thế hệ sau làm gì có được một người như kỳ nữ Kim Cương.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-030715-nm-03072015072255.html