NGÀNH MAI /RFA : Nghệ thuật cải lương trong cơ chế thị trường, RADIO RFA, USA


Nghệ thuật cải lương trong cơ chế thị trường

con-gai-chi-hang-305.jpg

Từ trái sang: Thanh Nga – Hữu Phước – Thành Được trong vở Con Gái Chị Hằng.

Photo courtesy of conhacvietnam.com.

Chi phối cuộc sống giới cải lương

Hoạt động cải lương ở trong nước khoảng 1990 từ chế độ bao cấp được chuyển sang cơ chế thị trường đã chi phối toàn bộ cuộc sống của giới cải lương.

Lúc đầu mới nghe qua rất nhiều người đã không biết “cơ chế thị trường” là gì, nên xôn xao bàn tán, hỏi han lẫn nhau. Nói chung mọi người trong giới đều lo lắng, và rồi thì ai cũng tự an ủi: “Người ta sao thì mình vậy, chớ lo quá thì cũng chẳng làm sao hơn”!

Riêng đối với những người đang giữ chức vụ trưởng đoàn của các đoàn hát thì do đã có đi hội họp nên biết rõ và rất lo sợ, có nghĩa là kể từ đây họ không còn dựa vào chế độ bao cấp để mà sống, để mà chỉ huy một đoàn nghệ thuật, vừa có quyền hành, lại vừa hưởng quyền lợi cao hơn mọi người. Tóm lại là từ đây họ phải có tài thực sự, biết tính toán làm ăn thì mới mong ở lại với chức vụ, chớ không thôi thì sẽ bị ra rìa là cái chắc.

Thật ra thì cơ chế thị trường chỉ xa lạ với các nghệ sĩ ở miền Bắc, bởi suốt hơn 3 thập niên làm văn nghệ họ được bao cấp, có nghĩa là đời sống nghệ sĩ, nhạc sĩ, bầu gánh (tức trưởng đoàn), hậu đài, chuyên viên kỹ thuật âm thanh, ánh sáng v.v… tất cả đều được hưởng lương mà không sợ thất nghiệp. Mở màn hát dù có khán giả hay không cũng được lãnh lương, khỏi sợ đói, bởi mọi thứ đều có cơ quan nhà nước lo cho tất cả rồi. Rồi bỗng nhiên cơ chế thị trường giáng xuống, họ không còn được hưởng quyền lợi như nhiều năm qua, mà phải có khả năng, có tài thực sự

thì mới sống được trong cái cơ chế thị trường.

Cơ chế thị trường đã từng sát cánh với cải lương miền Nam từ thời xa xưa, chỉ chấm dứt từ năm 1975. Bởi sau ngày ấy nghệ thuật sân khấu chế độ bao cấp ở miền Bắc, đã đồng hóa luôn nghệ thuật ở miền Nam. Do đó mà cải lương miền Nam dù muốn dù không cũng bị “cuốn theo chiều gió” nếu như còn tiếp tục hành nghề. Dù vậy, chế độ bao cấp trùm phủ nghệ thuật sân khấu trong Nam, cũng có kẻ vui người buồn. Vui là những đào kép không tên tuổi, giờ đây lãnh lương cũng chẳng kém bao nhiêu so với đào kép chánh, họ vui là phải. Còn buồn là đào kép nổi danh, đang hưởng quyền lợi gấp cả mấy chục lần người ta. Rồi giờ đây lương bổng chẳng cao hơn bao nhiêu, ai lại không buồn.

Đó là nói về tình trạng nghệ sĩ, còn bầu gánh thì bi đát hơn nhiều, chẳng hạn như bà Bầu Thơ chủ gánh Thanh Minh. Sau 1975 gánh Thanh Minh được cho hoạt động trở lại, nhưng nhà nước quản lý, cán bộ văn hóa điều hành và quyết định mọi việc. Tuy rằng vẫn mang danh nghĩa bầu gánh, nhưng bà Bầu Thơ chẳng quyền hành gì cả, đến nỗi Bảo Quốc con của bà muốn kiếm một vai hề để diễn mà vẫn không được. Thanh Nga phải xin cho nhiều lần, cán bộ quản lý mới cho Bảo Quốc vai Đinh Lăng, vai hề trong tuồng Tiếng Trống Mê Linh.

Đối với những người hoạt động cải lương của miền Nam thì cơ chế thị trường rất quen thuộc, bởi lẽ từ 1975 trở về trước cuộc sống ở đây nằm trọn vẹn trong cơ chế thị trường của chế độ tư bản. Cải lương cũng vậy thôi, phải cạnh tranh ác liệt mới tồn tại. “Mạnh được yếu thua” là quy luật, tất cả các sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, đều đồng loạt biến thành hàng hóa được bày bán trên thị trường.

Nghệ thuật sân khấu cũng như các loại hình nghệ thuật khác, cũng đều bị đặt vào khuôn khổ. Một vở diễn bao gồm kịch bản, diễn viên và bộ phận kỹ thuật, nghệ thuật yểm trợ để tạo thành những xuất hát, và xuất hát chính là thứ hàng hóa được bày bán trong cái “chợ” riêng của nó, tức là rạp hát. Và chủ nhân của món hàng ấy không phải là những người tạo ra nó, mà chính là người bỏ tiền ra mua nó theo định luật, người chi tiền là người chỉ huy và quyết định.

Tìm phương thế khác sinh sống

cailuong305
Hình ảnh một bữa ăn cơm hội cải lương của đoàn hát nhỏ.

Giới cải lương thời ấy đã vận dụng các quy luật của nó để tồn tại. Nó đã tự nâng cao, tự tạo một sinh khí đặc biệt, trong một nguồn sống hoàn toàn tùy thuộc vào vé mua của khán giả. Người mua vé đi coi hát hàng đêm đã liên tiếp nuôi dưỡng cải lương suốt 3, 4 thập niên vậy. Chính cơ chế thị trường cũ, và bao nhiêu cam go gian khổ đã nuôi sống, và làm lớn mạnh nghệ thuật cải lương, mặc dù quy luật của nó rất nghiệt ngã và tàn bạo. Lực lượng nghệ thuật này đã thấu biết điều ấy, nhưng không lẽ sợ nó, mà đã quyết tâm vận dụng các quy luật của nó để tồn tại, và chiến thắng bằng sức mạnh tâm hồn, trí tuệ, thể xác của chính mình, chớ không bằng một sự chi viện hay bao cấp nào cả.

Rồi thì những khó khăn lớn lao của cơ chế thị trường, đang khiến sân khấu đảo điên, và sự chờ đợi những khoản chi viện vật chất từ khách quan mang đến, để mong thoát ra cảnh khó khăn gần như bế tắc. Khi cơ chế thị trường được áp dụng thì các đoàn hát không có doanh thu, có nghĩa là không bán được vé, không lấy được tiền của khán giả thì sống thế nào được chớ! Sau mấy năm đã loại dần nhiều đoàn cải lương trong cả nước, khiến cho đa số phải bỏ nghề, tìm phương thế khác sinh sống. Riêng ở Sài Gòn đã có hơn phân nửa số đoàn hát không tồn tại. Các đoàn đã tự giải thể, hoặc không còn khả năng hoạt động như: Phước Chung, Hương Mùa Thu, Huỳnh Long, Sài Gòn 2, Trần Hữu Trang 1. Mấy đoàn còn lại được trợ cấp một phần nào nên hoạt động cầm chừng, chớ không thường xuyên, yếu dần, chung cuộc rồi cũng chết. Đến ngày nay đã không còn một đoàn hát nào.

Có người nói rằng nếu như không chuyển qua cơ chế thị trường, thì giờ này chắc chưa có đoàn hát nào chết. Và đoàn nào cũng cho rằng mình hát hay, là tinh hoa của nghệ thuật… Cơ chế thị trường đã ảnh hưởng nặng nề đến các nghệ sĩ mà xưa giờ chỉ hoạt động nhờ bao cấp, như trường hợp cô đào Kim Cúc ở miền Bắc. Năm 1957 mới 12 tuổi đã vào nghề, hoạt động nghệ thuật từ thời bình cho đến hết thời chiến. Hết chiến tranh vẫn tiếp tục làm nghề. Cô được đi Âu Châu tu nghiệp ở quốc gia Bungary 2 lần, được phong tặng danh hiệu nghệ sĩ ưu tú.

Suốt mấy chục năm hoạt động nghệ thuật trong bao cấp, nên ngày một chỉ lên hương thêm mà thôi. Thế nhưng mới vừa chuyển qua cơ chế thị trường, tức thì cô bị chới với ngay, và bất mãn rõ rệt. Năm 1994 Kim Cúc tâm sự với nhà báo Huy Trường, nhà báo hỏi:

Cô nghĩ gì sau nhiều năm hoạt động ở sân khấu?

Đó là câu hỏi được nêu lên với một nghệ sĩ từng trải, có nhiều kinh nghiệm, đã sống hoạt động nghệ thuật qua những giai đoạn đặc biệt của đất nước. Suy tư trong đôi phút, nữ nghệ sĩ Kim Cúc đáp:

Những điều tôi suy nghĩ, quan tâm về sân khấu đều thuộc về dĩ vãng, một dĩ vãng không thể nào quên được sau khi tôi đã ở trong nghề được 37 năm. Tôi đã từng ca hát trong thời chiến, có đêm vừa diễn vừa nhảy xuống hầm tránh bom cả mười mấy, hai mươi lần, gian khổ rất nhiều, nhưng cạnh đó đời sống không phải lo vì được bao cấp mọi mặt, chỉ có việc phải cố gắng diễn cho đạt yêu cầu nghệ thuật, phục vụ đồng báo khan giả. Sau này khi sân khấu chuyển qua cơ chế thị trường, tính chất cao quý của người nghệ sĩ ngày nào dường như mất mát đi nhiều với sự bon chen, lấn áp lẫn nhau, tranh tiếng lớn tiếng nhỏ, lương cao lương thấp… Những điều đó quả tình là tôi không quen, càng không quên tôi lại càng nhớ đến một thời kỳ trong dĩ vãng.

Với nghề nghiệp đạo diễn, khi dàn dựng vở diễn, dĩ vãng luôn luôn hiện về như nhắc nhở tôi về cái quá khứ không nên quên. Nội dung vở diễn kiểu CM khô cứng có lẽ không được khán giả ưa thích lắm. Nhưng ngược lại nội dung vở quá tầm thường, dung tục, rẻ tiền lại như là một điều gì đó đẩy thấp người nghệ sĩ xuống. Tôi nghĩ rằng những hình ảnh về quá khứ oai hùng của dân tộc ta là cội nguồn mà ta không nên quên.

Có những vở chỉ khai thác yêu đương với mối tình tay ba, tay tư, phấn đấu để đạt được một chút tình yêu lặt vặt, có kích thích được lớp trẻ sẵn lòng yêu đương, nhưng kể ra cũng đáng buồn cho việc tạo dựng những mẫu người tốt vì xã hội, vì việc chung của đất nước. Dù đã lớn tuổi, mỗi lần tôi tìm thấy một kịch bản có ý nghĩa là tôi muốn lăn thân vào sân khấu làm bất cứ điều gì. Tôi như có ý muốn tìm cái gì đó cao đẹp ở dĩ vãng. Nhưng tôi tự hỏi chẳng biết mình tìm lại có được không? Vì sao cái gì đó như đã mất đi rồi ở trong lòng người hôm nay?

Sau lần tâm sự với nhà báo nói trên, Kim Cúc ít khi trình diễn. Cô về sống ở Trãng Bom, Biên Hòa và qua đời ở tuổi 56. Xong một kiếp tằm!

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-020715-nm-02072015094621.html

NGÀNH MAI , thông tín viên RFA : Giải cải lương thời Đệ Nhứt và Đệ Nhị Cộng Hòa


Giải cải lương thời Đệ Nhứt và Đệ Nhị Cộng Hòa

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-12-27
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

Thanh Nga nhận HCV giải Thanh Tâm năm 1958 , thời điểm cô đạt đỉnh cao danh vọng Từ trái qua: Thanh Nga - Ngọc Giàu - Lan Chi - Bích Sơn

Thanh Nga nhận HCV giải Thanh Tâm năm 1958 , thời điểm cô đạt đỉnh cao danh vọng Từ trái qua: Thanh Nga – Ngọc Giàu – Lan Chi – Bích Sơn (ảnh minh họa)

RFA files

Nhân dịp ở miền Nam California Hoa Kỳ, Hội CổNhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại vừa phát giải Phụng Hoàng tổ chức thành công tốt đẹp với 1 tuồng cải lương và 3 bài vọng cổ sáng tác trúng giải, mà báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình tường thuật khá nhiều.

Trước sự việc trên, người ta nhớ lại khi xưa thời kỳ trước 1975, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, trong công cuộc bảo tồn văn hóa, đã ban hành nghị định thiết lập giải thưởng, lấy tên “Giải Văn Học Nghệ Thuật của Tổng Thống”, để hàng năm phát cho nhiềubộ môn văn hóa nghệ thuật, mà trong đó có tuồng hát bội và tuồng cải lương.

Người được trúng giải ngoài phần danh dự được lãnh văn bằng, huy chương, và tiền thưởng khá cao, chỉ nội giải khuyến khích cũng được tiền thưởng 100 ngàn đồng (thời điểm này vàng y khoảng 20 ngàn một lượng).

Thế nhưng, rất hiếm tuồng cải lương tham dự giải, bởi năm đó (1971) chỉ duy nhứt có một tuồng “Thân Gái Dặm Trường” của soạn giả Ngọc Điệp tham dự và được lãnh giải khuyến khích.

Hôm lễ phát giải được tổ chức trọng thể tại phòng khánh tiết Dinh Độc Lập, chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đích thân trao giải cho từng người.

Nghệ sĩ lão thành Năm Châu với tư cách chánh chủ khảo, trong ban giám khảo chấm giải bộ môn cải lương, ông có mặt trong buổi lễ và được Tổng Thống Thiệu hỏi:

– Tại sao cải lương không có nhiều tuồng tham dự?

Nghệ sĩ Năm Châu đáp bằng một câu thật chí lý:

– Thưa Tổng Thống, đào ở đâu cho ra tuồng cải lương hay mà tham dự giải.

– Không có tuồng thì cải lương lấy cái chi để hát?

– Cải lương có bao nhiêu tuồng hay thì giải Thanh Tâm đã chấm điểm hết rồi.

Năm Châu nói rõ hơn là tuồng cải lương được gọi là hay, xuất hiện trong khoảng thời gian từ 1950 đến 1968 (Mậu Thân) chỉ có khoảng hơn 20 tuồng được coi như có ý nghĩa, đạt tiêu chuẩn để chấm điểm, còn bao nhiêu tuồng khác gọi là “hương xa” thì không mang ý nghĩa gì hết, cốt truyện từ đâu đâu chẳng biết của quốc gia nào, mà đa số là dựa vào phim Tàu, phim Nhựt ghép lung tung.

Mấy năm nay các gánh chỉ hát đi hát lại tuồng cũ, hoặc ghép tuồng này sang tuồng nọrồi đổi tên tựa, chớ tuồng mới thực sự thì không có. Những tuồng hay, đạt tiêu chuẩn thì một số lớn đã từng tham dự giải Thanh Tâm, và một số tuồng hay khác thì soạn giả đã vào chiến khu, đâu ai dám đem tuồng đi tham dự giải của Tổng Thống.

Kể từ năm Mậu Thân 1968 cải lương xuống dốc trầm trọng, các soạn giả lớn ngưng viết tuồng. Giờ đây cải

lương chỉ có những tuồng chấp vá loạn xị, hoặc sao chép từ phim Tàu thì córa hồn gì đâu mà tham dự giải.

Còn lý do vì sao mà soạn giả lớn ngưng viếttuồng thì rất dễ hiểu, bởi cải lương xuống dốc, nếu bỏ công sức, tim óc để hoàn thành cho ra đời một vở hát mà không tiêu thụ được. Gánh hát ế, một ngày hát 4, 5 ngày nghỉ, lỗ lã là thường thì đâu có tiền dư trả tiền bản quyền cho soạn giả.

Vậy thì soạn giả lấy gì lo cho cuộc sống để mà tiếp tục viết tuồng. Những soạn giả mà nghiệp dĩ còn mang, ngườita thấy có Thu An thì anh này vốn là thầy tuồng, một thời làm mưalàm gió trên sân khấu đoàn Thủ Đô, từng viết tuồng Tiếng Trống Sang Canh, Con Cò Trắng, Gánh Cỏ Sông Hàn… rồi nhảy ra lập gánh Hương Mùa Thu. Vì là gánh hát nhà buộc lòng phải viết lách lai rai cho Ngọc Hương hát cho vui, chớ chẳng phải là muốn tranh tài với ai nữa cả.

Riêng về hai soạn giả Hà Triều và Hoa Phượng vang danh tên tuổi, có thế đứng mạnh nhứt trong số soạn giả lớn danh, thì đã kẻ trước người sau xa lánh Sài Gòn để tạo cho mình một sân khấu nhỏ sống đắp đổi ngoài Trung, và dĩ nhiên nghiệp dĩ bắt buộc các anh phải viết tuồng cho gánh của các anh hát như Thu An vậy. Thời điểm này liên danh Hà Triều – Hoa Phượng chỉ còn lại trong lòng khán giả như chuyện vang bóng một thời vậy thôi.

Những tuồng cải lương đang diễn hiện nay trên các sân khấu, trên truyền hình là của các soạn giả nhỏ trước đây chỉ sống được với các gánh hạng B, hạng C, nay nghiễm nhiên trở thành trụ cột của các gánh lớn, để rồi chỉ cần đi coi phim kiếm hiệp Tàu rồi cóp lại làm tuồng kiếm hiệp, hoặc xào nấu lại những vở tuồng cũ trên chục năm trước đây cho hát kiếm cơm đắp đổi, thì làm sao có tuồng mới để màtham dự giải.

Lời trần tình của nghệ sĩ Năm Châu trước Tổng Thống Thiệu rất đúng với thực tại của cải lương lúc bấy giờ, đó là cải lương thiếu tuồng tích nên ngày một suy yếu, mà càng suy yếu t

hì lại càng không có tuồng hay. Cái vòng lẩn quẩn đó cứ kéo dài hết năm nầy sang năm nọ, thành thử ra nhiều năm qua cải lương chưa có một tuồng hay nào xuất hiện, thì lấy đâu ra tuồng để tham dự giải.

Vấn đề đã cho thấy rằng ngay cả giải văn học nghệ thuật của Tổng Thống, đầy đủ phương tiện tổ chức, giải thưởng lớn lao cả về tinh thần lẫn vất chất, vậy mà cũng thiếu tuồng cải lươngtham dự, thì các tổ chức sau này đứng ra làm cái công việc trên thì không thể nào mà không gặp khó khăn.

Không phải chỉ thời Tổng Thống Nguyến Văn Thiệu mới có giải văn học nghệ thuật phát cho cải lương, mà trước kia chính phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng có phát giải cho cải lương, và cũng rất ít tuồng tham dự giải. Trước khi nói về giải thưởng cải lương thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, thì phải nói đến các gánh hát trong khu kháng chiến của những năm 1946 – 1947 để rồi dẫn đến câu chuyện này.

Số là thời ấy trong vùng kháng chiến, gánhhát Lam Sơn của nhạc sĩ Chín Điều có vở hát “Chén Cháo Chí Linh” tức

Lam Sơn khởi nghĩa được coi như là tuồng chủ lực. Sau 1954 Chín Điều về thành làm soạn giả lấy bút hiệu là Điêu Huyền, và lúc xảy ra câu chuyện thì ông đang cộng tác với đoàn Hoài Dung – Hoài Mỹ của vợ chồng đào Hoài Dung và soạn giả Nguyễn Huỳnh. Gánh hát do đào Hoài Dung đứngtên làm giám đốc, bởi soạn giả Nguyễn Huỳnh đang là viên chức cảnh sát cấp lớn ở Đô Thành (ông Cò Huỳnh).

Năm 1957, Phủ Tổng Thống có mở ra cuộc thi văn nghệ trình diễn toàn quốc, chú trọng vào hai bộ môn kịch nói và ca kịch. Thông cáo về cuộc thi đó được đưa tới Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu để nhờ hội này phổ biến và khích lệ giới sáng tác ca kịch tham gia. Hội Nghệ Sĩ thấy mình phải làm gương trước hơn ai hết, nên tổng thơ ký của hội lúc đó là soạn giả Duy Lân mới hỏi số anh em soạn giả hiện diện rằng ai có tuồng hát lành mạnh thì nên gởi dự thí.

Lúc bấy giờ soạn giả Điêu Huyền liền thưa thiệt rằng anh có sẵn vở hát “Chén Cháo Chí Linh” mà anh coi ra như có đủ yếu tố dự thi, nhưng ngặt cái là nó được sáng tác hồi còn trongkhu kháng chiến, chẳng biết là có nên gởi dự thi hay không? Tổng thơ ký DuyLân cho rằng chẳng làm sao hết, xin miễn rằng nó chỉ đề cao tinh thần dân tộc chiến đấu mà chẳng có điểm nào tuyên truyền cho cộng sản thì thôi.

Cũng cần nói thêm dù rằng tuồng được hát từ lâu trong khu kháng chiến, nhưng chỉ viết tay trong cuốn tập học trò giống như bản thảo. Nghe vậy soạn giả Điêu Huyền đánh máy vở hát trên giao qua cho Hội Nghệ Sĩ gởi đi dự thi, và sau đó thì vở hát này được trúng giải của Quốc Hội ban phát.

Khi kết quả được công bố và soạn giả nhà ta vừa lãnh giải xong thì oái oăm thay, đài Hà Nội lại cho truyền thanh liền vở hát đó, mà soạn giả Điêu Huyền nào có hay. Cho tới phiên các ông mật vụ ở Phủ Tổng Thống tìm hiểu tại sao có chuyện kỳ cục như vậy thì soạn giả Điêu Huyền mới… phát rét. Tuy nhiên cũng may nhờ bầu gánh Hoài Dung – Hoài Mỹ là soạn giả Nguyễn Huỳnh trần tình giùm cho Điêu Huyền hết mực cho nên anh này mới thoát khỏi tai bay vạ gió. Ai nấy đều hú hồn cho Điêu Huyền!

Thời Đệ Nhứt Công Hòa, cuộc thi đó cũng chỉ có 2 tuồng dự thi, nhưng một tuồng bị loại không cho thi, đó là tuồng “Mắng Việt Gian” của nghệ sĩ Bảy Nam (thân mẫu của kỳ nữ Kim Cương). Không biết nội dung tuồng ấy là nhữnggì mà bị loại. Như vậy chỉ có tuồng “Chén Cháo Chí Linh” tham dự và trúng giải.

Tuồng tích cải lương khó khăn như vậy, nên hiện nay tổ chức nào làm được công việc khuyến khích soạn giả viết tuồng mới, là được giới mộ điệu hoan nghinh cũng đúng thôi.

Vậy nếu như muốn thực hiện công cuộc bảo tồn văn hóa, duy trì bộ môn nghệ thuật độc đáo của dân tộc, phải được sự ủng hộ của nhiều phía, cùng góp tay với Hội Cổ Nhạc, thì mới mong làm được việc.

Về phía tổ chức đứng ra làm, phải đồng tâm hiệp lực, tôn trọng lẫn nhau, ý kiến không tương phản thì công việc mới trôi chảy, mới đưa đến thành công.

Một cô trưởng đoàn nghệ thuật từng nói: Một ban tổ chức phải thực sự có uy tín “nói mà người ta nghe” thì mới hy vọng làm được việc. Lễ phát giải Phụng Hoàng kỳ 7 vừa qua cũngnhờ uy tín mà Hội Cổ

Nhạc tổ chức thành công. Chớ nếu chưa đủ uytín “nói mà người ta chẳng nghe”, thì chuyện nhỏ cũng không xong, chớ đừng nói chi đến chuyện tổ chức phát giải văn học nghệ thuật.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/tradi-vietn-12-26-2014-12262014121116.html

NGÀNH MAI , thông tín viên RFA: Bài ca vọng cổ trúng giải Phụng Hoàng, chương trình radio, USA


Bài ca vọng cổ trúng giải Phụng Hoàng

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-08-02
Van-Lang-1-305.jpg

Một cảnh diễn của đoàn nghệ thuật sân khấu Văn Lang.

Courtesy Ðoàn NTSK Văn Lang
 

 

Soạn giả Vĩnh Hà trúng giải nhứt

Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại và ban tổ chức giải Phụng Hoàng trong phiên họp chiều ngày 23 tháng Bảy 2014 vừa qua tại Santa Ana Miền Nam California, để chung quyết về cuộc thi sáng tác bài ca vọng cổ.

Hội Đồng Thẩm Định (Ban Giám Khảo & Hội Đồng Giám Sát Thi Cử) sau khi thảo luận đã quyết định trao giải Phụng Hoàng cho các soạn giả các bài ca vọng cổ theo thứ hạng có tên sau đây:

1) Bài vọng cổ Yêu Lắm Quê Hương của Vĩnh Hà trúng giải nhứt sẽ được trao văn bằng & huy chương vàng.

2) Bài vọng cổ Tâm Sự Người Thương Binh của Trần Văn Tứ trúng giải nhì sẽ được trao văn bằng & huy chương bạc.

3) Bài vọng cổ Gánh Hàng Rong của Phạm Văn Phúc trúng giải ba sẽ được trao văn bằng.

4) Bài vọng cổ Tháng Ngày Lưu Lạc của Trường Giang sẽ được trao giải khuyến khích.

Tiền thưởng các giải tùy theo mạnh thường quân bảo trợ ban tổ chức sẽ thông báo sau.

Các bài ca vọng cổ trúng giải trên đây sẽ được các ca sĩ hát trong buổi lễ phát giải, và theo như nhận định của những người am tường thì bài ca trúng giải chắc chắn sẽ được giới ca sĩ, nghệ sĩ cổ nhạc hoan nghinh chào đón. Do bởi từ lâu nay họ cứ phải hát đi hát lại mãi các bài cũ gây nhàm chán cho giới mộ điệu.

Điều đáng ghi nhận là bài ca vọng cổ Tâm Sự Người Thương Binh của soạn giả Trần Văn Tứ từ Úc Châu gởi về tham dự. Không biết soạn giả có về Hoa Kỳ để nhận giải hay không? Hội Cổ Nhạc cũng thông báo các soạn giả có bài ca vọng cổ dự thi trúng giải trên đây cần liên lạc với ban tổ chức để biết ngày giờ, địa điểm, cũng như chuẩn bị hoàn tất mọi thủ tục trước khi lãnh giải.

Cũng theo ban tổ chức thì tuồng cải lương “Thu Sầu Nhả Tơ”, của soạn giả Trần Văn Hương trúng giải Phụng Hoàng hồi cuối năm 2013 cũng được trao giải cùng lúc. Tuồng “Thu Sầu Nhả Tơ” tức cuộc đời tình ái của ông Cao Văn Lầu tức nhạc sĩ Sáu Lầu, cha đẻ bài Dạ Cổ Hoài Lang, tiền thân của bản Vọng Cổ ngày nay. Ban tổ chức đã thông báo cho soạn giả Trần Văn Hương, đồng thời gợi ý soạn giả nên cho trình diễn một trích đoạn vở tuồng trong buổi lễ phát giải nói trên. Người ta còn nhớ khi xưa, thời thập niên 1960 các vở tuồng đoạt giải Thanh Tâm thường được hát trong buổi lễ phát giải rất được hoan nghinh. Thì ngày nay ở hải ngoại giải Phụng Hoàng cũng không làm khác hơn người xưa trong vấn đề tổ chức thi cử này.

Soạn giả Trần Văn Hương cho biết là ông đang xúc tiến việc mời nam nữ nghệ sĩ tập dượt vở tuồng “Ông Sáu Lầu” để trình diễn trước quan khách trong buổi lễ.

Sách 100 Năm Cải Lương Việt

100-nam-cai-luong-305
Cuốn “100 Năm Cải Lương Việt Nam” của tác giả Ngành Mai đã hoàn thành, do nhà xuất bản Người Việt phát hành.

Sách 100 Năm Cải Lương Việt Nam của tác giả Ngành Mai phát hành cách đây hơn 3 tháng, và được, khán thính giả các đài phát thanh, đài truyền hình hoan nghinh. Nói chung là những người hâm mộ cổ nhạc cải lương chiếu cố. Theo lời một vị trong ban giám đốc nhựt báo Người Việt, tức cơ sở phát hành quyển sách nói trên tiết lộ, thì đây là một trong những cuốn sách bán chạy nhứt.

Có nhiều câu hỏi của thính giả bốn phương mà tôi ghi nhận, là ai cũng muốn biết rõ nội dung cuốn sách gồm những vấn đề gì? Có vị còn hỏi rằng trong đó có tuồng cải lương này, tuồng cải lương nọ không v.v… Thật rất khó mà kể ra cho hết, bởi quá nhiều đề mục liên quan đến cải lương từ thời mới hình thành (1914) cho đến những lúc sau này. Tóm lại nếu có quyển sách thì cũng giống như quí vị đã theo dõi hoạt động cải lương từ thời xa xưa đến giờ. Có một vị đã có cuốn sách trong tay rồi, tiếp xúc trên điện thoại bà nói rằng rất xúc động, bởi trọn tuồng cải lương Hoa Rơi Cửa Phật được in lại trong quyển sách, kể cả cái bìa. Bà nói thêm rằng cuốn tuồng cải lương khổ nhỏ kia bà từng có từ thời còn con gái, tức từ nửa thế kỷ trước, và luôn cả dĩa hát cũng được nghe nhiều lần. Và bà yêu cầu nếu như nhà văn Ngành Mai còn lưu giữ được dĩa hát Hoa Rơi Cửa Phật thì xin cho được phát thanh trên đài Á Châu Tự Do giờ tạp chí cổ nhạc. Và cũng theo lời bà thì nhiều thính giả cũng rất muốn nghe dĩa hát xưa ấy.

Rất may là tôi còn lưu giữ dĩa hát nói trên. Dĩa được phát hành khoảng 1948 với các danh ca thời ấy như: Năm Nghĩa, Tám Thưa và nữ danh ca Tư Sạng. Và bây giờ mới quí vị nghe lại đoạn cắt đứt dây chuông và đoạn cuối, tức là lúc vị Hòa Thượng cho Điệp mượn chiếc áo cà sa, giả dạng Hòa Thượng vào chốn hậu liêu để cho Lan trao gởi nỗi niềm tâm sự.

Cảnh này theo như trong tuồng được diễn trên sân khấu, thì Lan bịnh đang nằm. Hai chú tiểu đưa Điệp vào (Điệp trong chiếc áo cà sa) và Lan bắt đầu kể về thân thế của nàng bằng bản ca Nam Ai lớp mái. Ca dứt bản Lan mệt nhọc hấp hối. Điệp vội vàng cởi chiếc áo cà sa ném về phía hai chú tiểu, rồi chạy lại ôm Lan trong vòng tay. Lan nói thêm vài tiếng và đi luôn. Màn từ từ hạ, vãn hát khán giả ra về, một số các bà các cô còn lau nước mắt. Và đây là dĩa hát Hoa Rơi Cửa Phật.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/nganh-mai-08022014-08012014150118.html

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/nganh-mai-08022014-08012014150118.html

NGÀNH MAI /thông tín viên RFA: Nhận định về 3 bài vọng cổ trúng giải Phụng Hoàng, chương trình radio,USA


Nhận định về 3 bài vọng cổ trúng giải Phụng Hoàng

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-08-23
192259-coNhac-4-305.jpg

Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại và ban tổ chức giải Phụng Hoàng trong buổi họp quyết định trao giải Phụng Hoàng bài ca vọng cổ.

Courtesy NV
 

 

Mấy tuần qua giới đờn ca tài tử cổ nhạc cũng như giới nghệ sĩ cải lương thuộc lớp trẻ, và những người hâm mộ cổ nhạc ở miền Nam California, Hoa Kỳ đã xôn xao, bàn tán không ít về 3 bài vọng cổ sáng tác vừa trúng giải Phụng Hoàng. Và hầu như ai cũng mong cho đến ngày phát giải để được nghe ca sĩ, nghệ sĩ trình bày.

Chờ đợi ngày phát giải

Hiện giờ giới cổ nhạc cũng như những người ưa thích môn nhạc cổ truyền dân tộc này, họ đang nóng lòng muốn biết ca sĩ nào, nghệ sĩ nào được chọn hát các bài ca trúng giải nói trên, để trình diễn trước quan khách, khán giả trong ngày phát giải Phụng Hoàng vào ngày 5 tháng 10 – 2014 sắp tới đây. Bởi nghe nói có 6 nam nữ ca sĩ đang học thuộc lòng 3 bài ca, có nghĩa là một cặp nam nữ ca sĩ sẽ hát một bài.

Ba bài vọng cổ sáng tác trúng giải có tên như sau:

Giải nhứt: “Yêu Lắm Quê Hương” của tác giả Vĩnh Hà ở Hawaii.

Giải nhì: “Tâm Sự Người Thương Binh” của tác giả Trần Văn Tứ, ở Úc Châu.

Giải ba: “Gánh Hàng Rong” của tác giả Phạm Văn Phúc ở Hawaii.

Từ nhiều năm nay chưa bao giờ giới hâm mộ cổ nhạc cải lương lại hân hoan, rộn rả đón mừng bài ca vọng cổ mới sáng tác như mấy tuần nay. Đó là do bởi từ nhiều năm nay đã không có bài ca mới xuất hiện, nên các ca sĩ cứ hát đi hát lại mãi những bài ca cũ rích, không còn thu hút được người nghe, vì đã quá nhàm chán.

Sau khi kết quả được loan báo thì hầu như ca sĩ nào, nghệ sĩ nào cũng muốn được hát bài ca trúng giải trước quan khách, khán giả. Chẳng hạn như ca sĩ Xuân Mỹ, từng chiếm huy chương vàng giải Phụng Hoàng. Cô rất muốn được hát bài ca trúng giải vừa nói. Thế nhưng, do bởi cô là nữ nghệ sĩ được chọn diễn tuồng cải lương “Ông Sáu Lầu” cũng trình diễn ngày hôm ấy, thành thử ra ban tổ chức đã từ chối lời yêu cầu của cô.

192693-VHNT-nganhmai-400.jpg
Ðỗ Thanh (phải) và Châu Thanh đang hát trong buổi lễ phát giải Phụng Hoàng trước đây. File photo

Là soạn giả thường trực của các đoàn Kim Chung hoạt động mạnh mẽ thời kỳ trước 1975. Yên Lang ngoài việc phát triển bảng hiệu Kim Chung, đã đóng góp vào kho tàng văn hóa nghệ thuật nước nhà những tuồng cải lương giá trị về mặt “ăn khách” mà trong số có các vở hát như: Đêm Lạnh Chùa Hoang, Mùa Thu Trên Bạch Mã Sơn, Tâm Sự Loài Chim Biển, tức Áo Vũ Cơ Hàn… Các nghệ sĩ nổi danh trên sân khấu Kim Chung như Minh Phụng, Lệ Thủy… một phần lớn là nhờ các vở tuồng thuộc loại “hương xa” của Yên Lang.

Hiện giờ giới cổ nhạc đang nô nức chờ đợi ngày phát giải Phụng Hoàng, mà trong đó có 3 bài vọng cổ sáng tác, và một tuồng cải lương trúng giải. Tôi có hỏi Yên Lang cảm tưởng của soạn giả như thế nào trước sự việc mà giới cải lương và người hâm mộ đang mong đợi.

Qua cuộc tiếp xúc với soạn giả Yên Lang, đã cho thấy rằng ông rất quan tâm, và đặt nặng vấn đề giải thưởng cổ nhạc. Đối với những người sành điệu về cổ nhạc cải lương, thì bất cứ bài ca vọng cổ nào, ca sĩ cũng phải học thuộc lòng thì ca mới hay. Điều này ai cũng biết, do vậy mà các nam nữ ca sĩ đang cố gắng học 3 bài ca trúng giải cho thật nhuần nhuyễn thì mới diễn đạt được hết ý nghĩa của bài ca.

Nghệ sĩ phải hát thật

Riêng về tuồng cải lương “Thu Sầu Nhả Tơ” của soạn giả Trần Văn Hương trúng giải Phụng Hoàng cuối năm qua, ông cũng được thông báo lãnh giải kỳ này. Đây là vở tuồng mà tình tiết câu chuyện nói về cuộc đời tình cảm của ông Cao Văn Lầu, tức nhạc sĩ Sáu Lầu, cha đẻ bài Dạ Cổ Hoài Lang, tiền thân của bản Vọng Cổ ngày nay. Theo tôi được biết thì soạn giả Trần Văn Hương đang cho các nghệ sĩ tập dượt thành thạo để hôm đó trình diễn trước quan khách, khán giả. Cái đặc biệt là nghe nói soạn giả buộc các nghệ sĩ phải hát thật, chớ không được “hát nhép”, tức là hát trước thâu sẵn vô băng, rồi ra sân khấu

chỉ nhép miệng ca theo tiếng hát của mình trong băng dĩa. Như vậy cho thấy ai cũng đặt nặng vấn đề trúng giải của bài ca hay là tuồng cải lương.

Ngược giòng thời gian của lịch sử cải lương, người ta thấy khi xưa thời thập niên 1960 có giải Thanh Tâm của nhà báo Trần Tấn Quốc. Sau 1975 ở trong nước có giải Trần Hữu Trang của Hội Sân Khấu. Và bây giờ ở hải ngoại có giải Phụng Hoàng. Cả 3 giải tuy có khác nhau về lề lối tổ chức, nhưng chung mục tiêu là phát triển, và duy trì bộ môn nghệ thuật đặc thù của văn hóa dân tộc, mà ta ai cũng quan tâm.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0823-nm-08222014133438.html

NGÀNH MAI / phóng viên RFA: ÚT HIỀN – BẠCH TUYẾT, chương trình radio, HOA KỲ


Út Hiền – Bạch Tuyết

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-10-25
ut-hien1-305.jpg

Bìa đĩa hát Ngày Sau Sẽ Ra Sao của nghệ sĩ Út Hiền.

File photo
 

 

Hồi xa lắm rồi, một cậu giáo làng ở tỉnh Bạc Liêu cảm thấy nghề giáo trầm lặng quá, thiếu chất rung cảm mà tâm hồn cậu thì tha thiết với đờn ca xương hát, nên cậu cương quyết ra đi, lên Sài Gòn để theo cải lương. Cậu giáo đó về sau là kép Út Hiền.

Đệ tử của Út Trà Ôn

Đến đất Sài Gòn đầu thập niên 1960, năm ấy là năm mà danh tiếng đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn vang dội khắp nơi, cậu bị cuốn hút bởi Út Trà Ôn nên đến xin làm đệ tử. Thấy cậu có vẻ hiền, Cậu Mười bèn đặt cho cậu cái biệt danh rất “Nam kỳ” là Út Hiền. Thế là từ đó cậu mang “dòng họ” Út.

Thời gian sau Út Hiền là kép chánh đoàn Hương Mùa Thu đóng cặp với đào Ngọc Hương. Có những màn tình tự, vai kề vai, má kề má, đã làm cho ông xã của nàng là soạn giả Thu An điên tiết lên, và nhứt định phải cho Út Hiền rời khỏi đoàn.

Rồi thì Út Hiền đi làm kép chánh của nhiều đoàn hát khác như ai nấy đều biết. Nhưng trên sân khấu Dạ Lý Hương, anh đành thúc thủ đứng hạng nhì sau kép Hùng Cường. Chuyện rõ ràng là thế, Út Hiền không bao iờ chối cả, cũng như mọi người đều xác nhận như vậy.

Rồi có một lần nọ tại Bạc Liêu, kép Hùng Cường bận về Sài Gòn đi công tác (bởi Hùng Cường là kép lính có lệnh gọi là phải về). Không lẽ vì thiếu một người đoàn hát phải nghỉ? Cũng có thể thay Hùng Cường tạm hát được mà. Thế là Út Hiền “phụng mạng” đứng ra thay thế Hùng Cường để đoàn hát khỏi nghỉ và đào kép khỏi mất đêm lương.

Tưởng vậy là ơn nghĩa, tròn trịa rồi, không dè việc thay thế ấy không làm hài lòng người đóng cặp với mình, tức đào Bạch Tuyết. Do vậy, đang hát nửa chừng, Bạch Tuyết la ó om sòm, cự nự rùm beng trước mặt đông người.

Bị chạm tự ái quá mạnh, Út Hiền không thể dằn được, nhứt là về đến xứ sở quê hương Bạc Liêu của mình. Trước mặt bạn bè mà bị Bạch Tuyết “hạ” cho một đòn chí tử, Út Hiền phản công tới tấp và không quên dùng những lời nặng nề thóa mạ trả đũa đối phương. Thế là đôi bên “sáp chiến”, một trận giặc mồm được diễn ra quyết liệt.

Út Hiền la ó:

“Cô thần tượng với ai chớ với thằng nầy… xê rô (o) biết không?”

Vừa tới đó thì có người can ra, trận chiến tàn lần không thì chưa biết hồi sau kết cuộc thế nào.

Chuyện Bạch Tuyết

covertkw-400.jpg
Bìa đãi hát Lá Sầu Riêng. Nghệ sĩ: Thành Được, Thanh Sang, Út Hiền, Kim Cương, Ngọc Giàu, Bạch Tuyết. File photo.

Và tiếp sau đây là câu chuyện Bạch Tuyết mặc sexy trên sân khấu.

Giai thoại về Bạch Tuyết mặc sexy trên sân khấu Có một dạo trong làng cải lương và khán giả hâm mộ bộ môn nghệ

thuật này, đã bàn tán sôi nổi vấn đề ăn mặc của cải lương chi bảo Bạch Tuyết, sau khi đi xem vở tuồng “Tuyệt Tình Ca” của soạn giả Hoa Phượng Ngọc Điệp trên sân khấu Dạ Lý Hương.

Thật vậy, vở tuồng nói trên Bạch Tuyết với vai Lê Thị Trường An, một cô gái “bao” của mấy ông già háo sắc, nàng mặc quần bó sát, diễn ở Lục Tỉnh làm khán giả nhao nhao lên. Cũng như trong vở hát “Gái Nhảy” Bạch Tuyết thủ vai Sương cũng ăn mặc “hấp dẫn” tương tự, do đó người ta cho rằng trong hầu hết các cô đào cải lương, Bạch Tuyết là nữ nghệ sĩ tiên phuông trong lối ăn mặc táo bạo.

Vấn đề cũng đã lên mặt báo khiến cho dư luận nổi lên với 2 khuynh hướng: Kẻ cho rằng lối diễn xuất nàng sexy xa hơn hiện trạng cải lương, không ngờ Bạch Tuyết lại tiến đến mức “quốc tế” đó! Nhưng ngược lại thì số người khác cho rằng nàng dạn dĩ chỉ vì nghệ thuật, bởi bản chất của Bạch Tuyết là tân tiến, cô không từ chối sự chỉ bảo của đạo diễn, phải khen cô ở điểm đó. Có người nói cải lương, bản thân của nó đã có tính cách sửa đổi không ngừng, việc ăn mặc của Bạch Tuyết trong các vai trò cần thiết là một sự dọ dẫm của cải lương, nhằm để cải hướng nghệ thuật sân khấu. Dù thành dù bại, nhưng lối ăn mặc bạo của Bạch Tuyết cũng là một cách thúc đẩy nền ca kịch cải lương tiến bộ theo nhu cầu cuộc sống.

Về phản ứng của khán giả, theo nhận xét của ký giả kịch trường Kỳ Quân thì ông nói rằng, lúc Bạch Tuyết mặc áo quần “đợt sống mới” bước ra sân khấu, tôi để ý dưới khán giả thấy mấy bà già hỏng chịu, còn mấy cô trẻ thì lặng im chẳng rõ có tán thành hay không. Riêng mấy cậu trai thì ưa lắm…

Hỏi ý kiến vấn đề này, nữ ký giả kịch trường Cẩm Thi nói rằng: Nếu Bạch Tuyết dám bôi đen mặt để đóng vai cô gái lai Tây đen gạch mặt trong vở “Trường Kịch 20 Năm” thì dĩ nhiên Bạch Tuyết không từ chối việc ăn mặc “bạo phổi” trong các đoạn cần yếu cho nhu cầu diễn xuất. Tôi nghĩ lối ăn mặc của vai trò không can hệ với tư cách cá nhân nghệ sĩ. Tuy nhiên khi diễn ở các tỉnh lẻ xa xôi, Bạch Tuyết nên có ý thức cẩn thận hơn lúc diễn ở Sài Gòn, bởi vì một nơi đồng bào chưa quen mắt, còn một nơi khán giả đã từng thấy nhiều cô ăn mặc còn dữ dội hơn.

Tóm lại vấn đề chẳng đi đến đâu hết, bởi lập luận của 2 khuynh hướng: Kẻ phản đối, người hoan nghinh, nhưng sở dĩ thiên hạ bàn tán là không phải chỉ riêng cá nhân của Bạch Tuyết, mà nó liên quan đến bộ môn văn hóa nghệ thuật nước nhà. Chứ nếu như Bạch Tuyết là một cô gái bình thường như hằng bao người nữ khác, thì chắc chẳng ai bàn tán làm chi, có chăng là chỉ nói một cách chung chung thôi.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1025-nm-10252014071137.html

Ðặc điểm của quyển ‘100 Năm Cải Lương Việt Nam’ là gì? , tác giả Ngành Mai


Ðặc điểm của quyển ‘100 Năm Cải Lương Việt Nam’ là gì? 
Friday, May 09, 2014 3:49:14 PM 

Ngành Mai

Về cuốn sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam” của tác giả Ngành Mai vừa phát hành, có người hỏi trong đó gồm những gì, có đầy đủ không? Thật vậy, nếu như đã gọi là 100 năm cải lương, thì dĩ nhiên những gì liên quan đến hoạt động cải lương trong quãng thời gian dài ấy được tập trung vào, như tên tựa của quyển sách. Vì đó là yêu cầu của người đọc, không ai muốn mình phải đọc trong sự thiếu sót.

 



Hình bìa cuốn sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam”, với hình ảnh các nghệ sĩ lừng danh: Nữ nghệ sĩ tiền phong Phùng Há – Ðệ nhứt danh ca Út Trà Ôn – Vương Hậu cải lương Thanh Nga. (Hình: Sưu tập của Ngành Mai)

 

Cải lương hoạt động cùng khắp từ Nam chí Bắc, từ thành thị đến thôn quê đâu đâu cũng có. Rồi thì cải lương đi sang Miên, qua Lào, bay theo người Việt sang nước Pháp cùng vài nước Châu Âu, đến năm 1975 thì cải lương hiện diện ở Hoa Kỳ. Ðâu có môn nghệ thuật nào mà có cuộc hành trình lớn lao như vậy.

Riêng ở trong nước thì cải lương không chỉ hoạt động ở đô thị tỉnh thành, mà cả khu kháng chiến trong rừng sâu cũng có cải lương. Nếu như chỉ nói cải lương ở ngoài thành mà bỏ đi cải lương trong khu là coi như thiếu sót, lịch sử cải lương sẽ không chấp nhận. Do vậy mà tác giả đã đề cập luôn hoạt động cải lương ở bên kia chiến tuyến, cả hai thời kỳ chiến tranh từ 1945 đến 1975.

Sở dĩ trước đây người ta chỉ nghe nói đến cải lương ở ngoài thành, là do bởi thời kỳ chiến tranh đang diễn ra, các nhà viết sử đã e ngại không dám viết. Lý do là làm sao kiểm chứng đúng hay sai chớ! Kể cả báo chí có trang kịch trường ở Sài Gòn thời trước cũng chỉ nói cải lương ngoài thành mà thôi, chưa có tờ báo nào đề cập cải lương trong mật khu, dù rằng họ có nguồn tin thu thập được. Trường hợp soạn giả Trần Hữu Trang, tức Tư Trang và cô đào Thanh Loan vợ ông Trần Tấn Quốc vào mật khu, rất nhiều người rõ biết nhưng chẳng ai dám nói rằng mình biết. Tại sao vậy chớ? Bởi nếu loan tin ấy chắc chắn sẽ bị lôi thôi phiền phức cho bản thân người viết, sẽ bị điều tra thẩm vấn do đâu lại có tin tin tức này, có liên lạc trong mật khu không? Dù rằng chỉ là tin tức văn nghệ, văn hóa nghệ thuật, chứ không dính dáng gì đến chính trị.

Do vậy mà các nhà viết sử cải lương đã không dám viết, để rồi thời gian vật đổi sao dời họ không còn khả năng, điều kiện. Cải lương hoạt động cùng khắp mà không ai viết sử, kể ra là một thiệt thòi cho lịch sử nghệ thuật cải lương của ta vậy.

Nếu không ai viết thì hằng bao nhiêu sự kiện, chứng liệu quí giá sẽ thất lạc, theo thời gian sẽ dần dần tản mác biến mất đi. Tuy vậy vẫn có người lưu giữ, bảo toàn suốt mấy chục năm, chờ cơ hội viết thành sách. Ðặc điểm của “100 Năm Cải Lương Việt Nam” là vậy.

Trong quyển sách cũng có các bài đề cập đến:

– Cải lương trong khu kháng chiến hoạt động song song với cải lương ngoài thành. Các đoàn hát ở khu kháng chiến miền Ðông, miền Tây Nam Việt hát xướng ra sao trong thời chiến. Các nam nữ nghệ sĩ ở trong mật khu gồm những ai? Thời gian có Hòa Ðàm Ba Le,ạ đoàn Thanh MinhThanh Nga đi Pháp, thì trước đó các nghệ sĩ cải lương ở miền Bắc đã có mặt trình diễn các rạp ở Paris rồi.

– Soạn giả Trần Hữu Trang-Tư Trang đã dựa vào tác phẩm “Tắt Lửa Lòng” của Nhà văn Giáo sư Nguyễn Công Hoan để soạn thành kịch bản “Lan và Ðiệp,” vở hát được coi như sống mãi với thời gian. Từ lâu nay đại đa số khán giả cải lương đâu có biết rằng cô Lan, cậu Ðiệp là người Bắc. Ngôi chùa Lan đi tu là chùa Phương Thành thuộc tỉnh Bắc Giang nằm cách Ga Kép độ 5 cây số. Cuốn bài ca Hoa Rơi Cửa Phật được sao chép lại đầy đủ trong quyển sách.

Năm 1961, soạn giả Trần Hữu Trang rời Sài Gòn, vào mật khu hoạt động văn nghệ, với chức vụ chủ tịch Hội Văn Nghệ Giải Phóng. Trong bài nói về soạn giả Trần Hữu Trang, tôi có đề cập đến trận giội bom rải thảm của pháo đài bay B. 52 đầu Xuân Bính Ngọ 1966.

Quí vị muốn mua sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam” có tại tòa soạn nhựt báo Người Việt.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=187773&zoneid=268#.U5Kzv_l_u8A