Lễ đón nhận bằng UNESCO công nhận Dân ca Ví, Giặm là DSVH phi vật thể của nhân loại


Published on Jan 31, 2015

Lễ đón nhận bằng UNESCO công nhận Dân ca Ví, Giặm là DSVH phi vật thể của nhân loại.
Tối 31/1, tại Quảng trường Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa Thể thao và du lịch, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh long trọng tổ chức lễ vinh danh dân và đón nhận bằng của UNESCO công nhận dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Điểm nhấn của lễ vinh danh dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là chương trình nghệ thuật có chủ đề “Về miền ví giặm” với những tiết mục dân ca đặc sắc và sự tham gia của các ca sĩ, nghệ sĩ hàng đầu cùng các câu lạc bộ, nghệ nhân dân gian ở hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh.

QUANG ĐẠI : PGS Ninh Viết Giao, sâu nặng tình yêu với văn hóa xứ Nghệ


PGS Ninh Viết Giao, sâu nặng tình yêu với văn hóa xứ Nghệ
 
Thứ năm, 20/03/2014 – 05:19 PM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định    
 
 
GS Ninh Viết Giao trò chuyện với các học trò trường Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: Internet.
 
 
GS Ninh Viết Giao trò chuyện với các học trò trường Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: Internet.
 

NDĐT – Nhà nghiên cứu văn hóa, PGS Ninh Viết Giao vừa ra đi ở tuổi 82, để lại khoảng trống lớn trong đời sống văn hóa xứ Nghệ. Nghĩ về ông, chúng tôi liên tưởng đến hình ảnh dòng sông miệt mài ngày đêm bồi lắng phù sa cho đời, dù trải qua bao ghềnh thác gian nan.

 

Chàng trai xứ Thanh “bén duyên” với văn hóa xứ Nghệ

Quê ở Hoằng Hóa -Thanh Hóa, tuổi thơ đắm mình trong dòng sữa ngọt mát của văn hóa dân gian và văn chương cổ điển từ truyền thống gia đình và quê hương, tốt nghiệp khoa Văn trường ĐHSP Hà Nội, chàng sinh viên trẻ Ninh Viết Giao được phân công về giảng dạy tại trường cấp III Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ An.

Trường Huỳnh Thúc Kháng là một trong những vườn ươm nhân tài của xứ Nghệ, mảnh đất nổi tiếng với truyền thống hiếu học. Đặc biệt, những vỉa tầng văn hóa dân gian, bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng giàu có và quý giá của xứ Nghệ đã “hút hồn” người thầy giáo trẻ quê xứ Thanh.

Với vốn văn hóa có được từ những tháng năm miệt mài tích lũy từ ghế nhà trường phổ thông và đại học, thầy Ninh Viết Giao say mê đọc sách báo, tư liệu, tìm hiểu qua các nhà nghiên cứu trong và ngoài tỉnh, đi điền dã sưu tầm các “hạt ngọc” văn hóa dân gian nơi thôn dã hay thâm sơn cùng cốc, từ các nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian hay những người lao động bình thường. Bước chân của người thầy giáo đã “trải khắp trên ngàn dưới sông”, không quản xa xôi, mưa nắng, khó khăn.

Mấy chục năm cuối đời, dù tuổi già, lại mắc bệnh hiểm nghèo, ông vẫn không chùn bước, dù bước chân đã chậm hơn, ánh mắt không còn tinh tường như trước, nhưng vẫn tiếp tục hành trình chắt lọc những tinh hoa của nền văn hóa dân gian xứ Nghệ, chạy đua với thời gian, với sự hữu hạn của đời người. Những người dân chân lấm tay bùn, những nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian xứ Nghệ quen ông, biết ông, quý ông, sẵn lòng cởi mở cùng ông, hát, thổi khèn, sáo cho ông nghe, múa cho ông xem, tin tưởng gửi gắm cho ông những hạt vàng mười của văn hóa dân gian xứ Nghệ.

Một điều kiện thuận lợi đối với thầy Ninh Viết Giao là ông có rất nhiều “cộng tác viên” tích cực, vô tư và hết lòng tận tụy. Đó là các thế hệ học trò của ông, từ tình yêu văn chương, yêu thầy, kính thầy đã say mê đồng hành với thầy trên hành trình sưu tầm, ghi chép, lưu giữ những lời ca, điệu hát, những câu chuyện…từ các thôn làng của quê hương xứ Nghệ. Trong tác phẩm viết về hát ví giặm Nghệ Tĩnh, thầy Giao kể lại và tri ân những đóng góp của các học trò vào gia tài văn hóa dân gian của mình.

Trước tác đẳng thân

Những vất vả, gian nan, lao tâm khổ tứ, những giọt mồ hôi nhỏ xuống trên khắp mảnh đất xứ Nghệ của thầy Ninh Viết Giao đã kết tinh thành những hạt vàng mười quí giá cho kho tàng nghiên cứu, sưu tầm về văn hóa dân gian xứ Nghệ.

Ngày 20-5-2013, Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam đã trân trọng trao tặng ông chứng nhận kỷ lục “Người có nhiều công trình nghiên cứu nhất về văn hóa dân gian xứ Nghệ” với hơn 50 đầu sách nghiên cứu, phê bình, sưu tầm bao quát hầu hết các lĩnh vực văn hóa dân gian xứ Nghệ, từ lịch sử, địa chí, di sản vật thể và phi vật thể.

Không chỉ là một trong những người đặt nền móng, PGS Ninh Viết Giao là người có công lớn nhất trong việc lưu giữ và làm sáng tỏ các phương diện khác nhau của kho tàng văn hóa dân gian xứ Nghệ. Những công trình như: Câu đố Việt Nam (1958), Hát phường vải (1961), Hát giặm Nghệ Tĩnh (viết chung với Nguyễn Đổng Chi)-1962), Kho tàng truyện cổ dân gian xứ Nghệ (1993-1995), Thơ văn Xô Viết Nghệ Tĩnh (1971),Kho tàng vè xứ Nghệ (9 tập, 1999-2000)…đã trở thành những tài sản vô giá của văn hóa xứ Nghệ, là tài liệu tham khảo quan trọng không thể thiếu đối với bất cứ ai muốn tìm hiểu, nghiên cứu về văn hóa dân gian xứ Nghệ.

Có thể nói những người yêu xứ Nghệ phải chịu ơn ông vì những công lao gìn giữ, kiếm tìm và làm sáng lên những giá trị của văn hóa quê hương. Bao thế hệ học sinh, sinh viên, thanh niên đã hấp thu những giá trị tinh hoa của văn hóa xứ Nghệ từ những trang sách của thầy Giao. Đôi lúc chúng tôi giật mình thảng thốt tự hỏi: “Giá như không có những người như thầy Giao, những công trình của thầy, thì biết bao tài sản vô giá của văn hóa dân gian xứ sở sẽ bị mai một theo thời gian?”.

Đọc sách của thầy Giao, chúng tôi thấy có hai đặc điểm nổi bật: về tư liệu vô cùng phong phú, tỉ mỉ và sâu sắc; còn về văn phong trong các bài nghiên cứu thì trong sáng, đậm chất văn chương, rất hấp dẫn. Thầy Giao có phong cách của một nhà nghiên cứu và một thầy giáo dạy Văn.

Thầy Ninh Viết Giao vinh dự được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt 1 (2001); 23 giải thưởng khác, trong đó 17 giải thưởng của Hội VNDG Việt Nam từ Khuyến khích đến giải nhất; nhận 6 giải thưởng VHNT Hồ Xuân Hương và nhiều Bằng khen của UBND tỉnh Nghệ An, của Hội VNDG Việt Nam. Nhưng có lẽ vinh dự lớn nhất của thầy là tình cảm yêu mến, kính trọng và biết ơn của bao thế hệ những người yêu quê hương và văn hóa Nghệ Tĩnh. Nhà nghiên cứu văn hóa Đào Tam Tỉnh, Giám đốc Thư viện Nghệ An nhận xét: “Kho tàng công trình nghiên cứu của PGS. Ninh Viết Giao về văn hóa dân gian xứ Nghệ là tài sản vô giá của đất nước và địa phương. Đây là nguồn di sản quý giúp cho các nhà nghiên cứu, các nghiên cứu sinh, sinh viên khai thác, phát huy cho các công trình của mình mãi mãi, vô tận…”.

Còn mãi một tình yêu

Nhìn lại những việc PSG Ninh Viết Giao đã làm, giới nghiên cứu văn hóa và độc giả không khỏi ngạc nhiên và khâm phục trước sức làm việc, khả năng sáng tạo phi thường của thầy. Hơn 50 năm gắn bó với xứ Nghệ, hơn 50 đầu sách, cuốn nào cũng công phu, dày dặn, ngồn ngộn tư liệu, có chiều sâu trí tuệ, trung bình mỗi năm thầy viết được một cuốn sách. Mức sống, điều kiện làm việc còn nhiều khó khăn. Bao nhiêu năm làm việc, với những cống hiến lớn lao, nhưng thầy vẫn giữ cho mình một cuộc sống hết sức giản dị, thanh bạch đến nao lòng. Những trang sách được viết lên từ căn nhà tập thể cũ tại khu Quang Trung và hiện nay đang trở thành tài sản đáng giá nhất trong căn phòng mà ông đã sống hơn mấy chục năm qua.

Từ năm 2000, phát hiện bệnh ung thư, thầy vẫn không nản lòng, nhụt chí. Từ đó cho đến khi từ giã cõi đời, ròng rã 15 năm trời, hành trang điền dã của thầy có thêm những viên thuốc chữa bệnh, giúp thầy chống chọi với cơn đau để tiếp tục niềm đam mê của mình. Thầy Giao tâm niệm: “Tôi cố gắng bao nhiêu cũng không đủ vì tình yêu với văn hóa xứ Nghệ. Tôi muốn sống có ích, muốn đóng góp chút công sức cho sự nghiệp bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Nghệ Tĩnh”.

Chính tình yêu đó đã tạo cho thầy niềm đam mê và nghị lực phi thường, vượt qua những gian khó của đời thường, của bệnh tật, sống có ích cho đến hơi thở cuối cùng, trở thành nhà “Nghệ học số một Việt Nam”, được những người yêu xứ Nghệ mãi mãi kính trọng và biết ơn

QUANG ĐẠI

http://www.nhandan.com.vn/vanhoa/chan-dung/item/22653202-pgs-ninh-viet-giao-sau-nang-tinh-yeu-voi-van-hoa-xu-nghe.html

NGUYỄN MAI – NGUYỄN DUY : Vài nét về dân ca của người Thái ở Nghệ An, VIETNAM


  Vài nét về dân ca của người Thái ở Nghệ An

(Dân trí) – Khác với đồng bào Thái ở các vùng miền núi phía Bắc, người Thái ở Nghệ An có tới 4 nhóm địa phương khác nhau, đó là Thái Hàng Tổng, Thái Tày Mười, Thái Mán Thanh và Thái Tày Khăng.

Các nhóm sống tập trung ở các huyện Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong. Riêng người Thái Mán Thanh sống ở các huyện Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, còn người Thái Tày Khăng chỉ sống ở 2 huyện Kỳ Sơn và Tương Dương.

Chính những đặc điểm này đã làm cho người Thái ở Nghệ An có nền văn hóa phong phú đa dạng. Và người Thái ở Nghệ An có các làn điệu: Nhuôn, Xuối, Lăm, Khắp.

“Nhuôn” là một điệu hát rất phổ biến của người Thái. Đồng bào thường hát mỗi khi có cuộc vui, uồng rượu cần. “Nhuôn” có 2 loại “Nhuôn cu mún” và “Nhuôn tọ bẹ” để hát đối đáp, giao duyên. Nhạc điệu “Nhuôn” rõ ràng, sôi nổi. Vì vậy các thầy mo hay dùng để gọi vía, đuổi ma. Nhất là khi có tổ chức các lễ hội dân gian như lễ hội “Xăng khan”, hội “Ký xa”, hội “Hấp quái”.
 
Hát lăm - thổi khèn bè.
Hát lăm – thổi khèn bè.

“Xuối” là điệu hát ngâm vịnh phổ biến trong các nhóm người Thái ở Nghệ An, nhất là trong lớp trẻ ở các nhóm hàng Tổng, Tày Mười. Khi hát “Xuối” thường có sáo đệm theo. “Xuối” cũng có nhiều loại như “Xuối hàu lần hầu khẩn” một điệu hát có người kể chuyện giống như hát ví của người Kinh.

Điệu này cũng thường được hát ở các cuộc vui, có đông người tham gia. Trai, gái chia thành 2 phe hát đối đáp thi tài với nhau, có khi kéo dài suốt đêm vẫn không hết chuyện. “Xuối chà làng” là điệu hát ứng tác để kể chuyện cho nhiều người nghe theo kiểu văn chầu như độc tấu, ngâm thơ ở miền xuôi.

Điệu “xuối pay hày”vui nhộn, hồ hởi làm cho mọi người quên đi mệt nhọc khi lao động. Đặc biệt đồng bào còn có điệu “Xăng xáo” là một điệu hát giàu chất trữ tình, nhạc điệu du dương, man mác, thiết tha. Các chàng trai hay cô gái thường thổ lộ tâm tình cho nhau bằng điệu nhạc này.

“Lăm” lại là một điệu hát luôn luôn có khèn đệm theo. Nếu không có người đệm khèn thì người “lăm” phải hát thưa trước vài lời để nói rõ lý do vì sao phải hát chay. “Lăm” cũng có hai loại: “Lăm tền còn” và “Lăm đớt đời”. “Lăm tền còn” phải vừa hát vừa đi nhảy theo nhịp điệu của người thổi khèn. Ngược lại “Lăm đớt đời” là lối hát thong thả khoan thai, tùy hứng và khèn đệm theo cũng phải thổi theo cảm hứng của người “lăm”. Thông thường khi tâm trạng vui thì người ta “lăm” theo điệu “tền còn”, khi buồn người ta lại “lăm” theo điệu “đớt đời”. Riêng người Thái Tày Khăng còn phổ biến điệu “Lăm Lào”.

“Khắp” là điệu hát phổ thông của đồng bào Thái Mán Thanh. Khắp có “Khắp xứ ”, Khắp ối”, “Khắp ọt èo”, “Khắp phá ái”… Khắp xứ là điệu hát kể chuyện vui. Nhạc điệu của “Khắp xứ” êm đềm, tha thiết, mượt mà làm cho người nghe phai xao xuyến.
 
“Khắp xứ” thường được hát trong khung cảnh tĩnh lặng, nhớ nhung, lưu luyến nhau của những cặp nam nữ. “Khắp ọt èo” lại là điệu hát tình ca dành riêng cho thanh niên thổ lộ tâm tình với nhau. Người Thái Mán Thanh lại hát điệu “Khắp ối” mỗi khi đi rừng làm việc một mình.
 
Còn khi người ta uống rượu say, muốn dừng lại họ lại hát điệu “Khắp phá ái” để xin mọi người đừng bắt mình uống nữa…
 
Nguyễn Mai – Nguyễn Duy

THU HƯƠNG : Đêm tháng Năm nghe hát phường vải, VIETNAM


Đêm tháng Năm nghe hát phường vải
(Cập nhật lúc 15:57′  20/5/2013)

 

 

(Baonghean) – Chúng tôi tìm về nhà cụ Nguyễn Thị Sơn (92 tuổi), một nghệ nhân hát ví phường vải Câu lạc bộ xã Xuân Hòa (Nam Đàn). Từ ngoài cổng, đã nghe: “Ơ… chớ hỏi em hỏi cả bạn hiền/ Bác Hồ về lại Kim Liên mấy lần?”; “Ơ… chớ Năm Bảy, Sáu Mốt Bác về/ Năm mươi năm ấy xa quê hương nhà”. Cả  5 cụ sum vầy đối đáp trông thật ấm cúng. Cụ ít tuổi nhất cũng ngoài 65. Cụ Sơn vui vẻ, “Mấy đêm nay chị em ngồi hát đến 1, 2 giờ sáng mới thôi. Đây là món quà dâng lên Bác nhân kỷ niệm sinh nhật Người”.

Trong 5 nghệ nhân: cụ Sơn, cụ Liên, cụ Mão, cụ Tình, cụ Dương, thì cụ Sơn là “cây cổ thụ” hát ví của Xuân Hoà. Cụ trò chuyện với tôi chủ yếu là những lời hát ví nghe thật lắng đọng. Mãi 8 giờ đêm, tôi mới rời nhà cụ.

Cụ Sơn (áo đen), cụ Mão, cụ Liên và nhiều trẻ em trong xã đến nghe ví phường vải.

nay, cụ Sơn đã bước sang tuổi 92 nhưng cụ có một trí nhớ trời phú. Những kỷ niệm về đêm hội làng, câu hát bên bờ sông Đào, ao sen hay giữa sân đình vằng vặc ánh trăng rằm. “Ơ anh đứng bên ni sông ngóng sang bên tê cầu anh nghe tin em kết ngãi trần châu ai rồi/ Ơ em đứng bên ni sông ngóng sang bên tê hồ trăm năm thiếp có bỏ chàng mô/ Chàng đừng sầu riêng trong dạ mà thiếp héo hon trong lòng/; Ơ anh đến thì mời anh vô nhà/ đứng chi ngoài ngõ mà sương sa lạnh lùng/ Vô nhà anh cũng muốn vô/ Sợ lòng thầy mẹ có đặm đà chi không”…  Giai điệu sâu lắng, người nghe thấy hết được cái hay, cái tài tình trong nghệ thuật hát của các cụ. “Một ngày không hát ví phường vải, tui thấy nhớ vô cùng. Như đã trở thành thói quen, như cơm ăn, nước uống hàng ngày không thể thiếu…” – Cụ Sơn nói với tôi.

Sinh ra trên mảnh đất Xuân Hoà, 10 tuổi cụ Sơn đã mê hát ví, để rồi nài nỉ mẹ, cô bé Sơn xinh xắn thời ấy đêm đêm theo mấy bác trong làng xuôi về làng Sen nghe câu ca ví phường vải. Nhiều đêm trở về nhà trời đã sang canh. Chỉ một thời gian ngắn, cô đã lĩnh hội được rất nhiều những bí quyết hát ví. Những lời khuyên của các cụ già đã làm cô vui, nhưng chưa ấm lòng bởi chưa được theo học một lớp học thật bài bản. Một lần theo mẹ đi chợ Sa Nam, được nghe các cụ, các bác hát ví phường vải, đúng ngày sinh Bác Hồ. Lần ấy, cụ Sơn khăn gói đi học, và câu hát ví theo suốt cụ đến tận giờ. Về hưu, cụ tham gia biểu diễn trong tỉnh, huyện. Một số địa phương mời cụ dạy hát ví phường vải cho lớp trẻ…

Từ ngày có thêm 5 nghệ nhân: là các cụ: Liên, Mão, Sơn, Dương và cụ Tình, cụ Sơn như được tiếp thêm một luồng sinh khí mới. Một tuần, các cụ tổ chức hát một lần vào tối thứ 7. Câu lạc bộ của cụ Sơn vừa là niềm say mê vừa truyền nghề cho những lớp kế tục.

Câu ví phường vải đưa đến cho nhiều lứa đôi yêu nhau nên vợ, nên chồng. Mỗi canh hát cụ Sơn lại nhớ về mối tình thời xuân sắc của cụ và người chồng bên dòng sông Đào thơ mộng hay ngoài bờ dậu râm bụt nhà mình. Từ câu ví phường vải vợ chồng cụ đã nên duyên vợ chồng, sinh ra 3 người con gái cũng đam mê hát phường vải và người con trai liệt sỹ có giọng hát phường vải đi vào lòng người. Cụ Sơn ngừng kể, mắt cụ nhìn ra những ao sen trước nhà mà ngân nga: “Ơ …Hỏi em quê quán nơi mô/ Anh em có mấy cậu cô trong nhà/ Tuổi đời nghề nghiệp mẹ cha/ Mong em nói rõ thì ta chuyện trò/.  Ơ quê em xóm 8 gần bầu/ Gần sông tắm mát gần cầu con giai/ Quê em lắm lúa nhiều khoai/ Gần sông tắm mát hến trai dễ mò…

“Đến một ngày già đi, những lời hát phường vải vẫn sống mãi. Sẽ có lớp người khác thay chúng tôi, níu giữ nguồn gốc, để mỗi tháng Năm về, câu ví phường vải lại ngân lên, mừng ngày sinh của Người!”. Cụ Sơn nói vậy lúc tiễn tôi ra về.

 

Bài, ảnh: Thu Hương

http://baonghean.vn/news_detail.asp?newsid=103587&CatID=4

BÍCH HUỆ : Đau đáu nỗi lòng của nghệ nhân hát ví Phường vải, VIETNAM


Đau đáu nỗi lòng của nghệ nhân hát ví Phường vải

01/05/2012 | 09:53:00
 
EMAILPRINTCỠ CHỮ A A A
 

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)
 
Hát Phường vải là một loại hát ví đặc biệt nhất trong gia tài dân ca của vùng Nghệ Tĩnh. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, hát Phường vải vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. Nhưng trước sự du nhập của văn hóa ngoại lai trong quá trình mở cửa hội nhập, cùng với việc thiếu kinh phí, thiếu nguồn nhân lực, các câu lạc bộ hát Phường vải ở Nghệ An đang đứng trước nguy cơ ngừng hoạt động. 

“Cứ đến mùa lễ hội hay dịp sinh nhật Bác là tôi lại đau đầu lo nghĩ” – ông Hoàng Thế Lựu, Chủ nhiệm câu lạc bộ dân ca Kim Liên mở lời. Đây cũng là điều dễ hiểu bởi mang tiếng là câu lạc bộ nhưng chỉ vẻn vẹn có 10 hội viên, người “trẻ” nhất cũng ở độ tuổi 40, người lớn tuổi thì cũng đã qua ngưỡng 90, khiến việc tập hợp và tập luyện khá vất vả. 

Mong muốn có tiết mục tham dự năm nay khác đi, mới mẻ hơn, sinh động hơn các năm trước hay tìm cho ra những hạt nhân văn nghệ mới, trẻ trung hơn cho câu lạc bộ quả thực là rất khó. 

Đó là chưa nói đến việc không có kinh phí để trang trải, duy trì hoạt động của câu lạc bộ. “Sau mỗi mùa lễ hội, câu lạc bộ hát Phường vải tạm thời ngừng hoạt động, khi có đợt phát động mới thì chúng tôi tập hợp hội viên lại để tập luyện và đi thi. Khi mới thành lập, câu lạc bộ có đến 30 thành viên, càng về sau lớp già thì mất đi, còn lớp trẻ thì bỏ dần. Giờ đây, câu lạc bộ hát Phường vải chỉ duy trì theo kiểu đối phó” – ông Lựu cho biết thêm. 

Ngay cả câu lạc bộ hát Phường vải Trung tâm Văn hóa thông tin huyện Nam Đàn một năm cũng chỉ sinh hoạt được hai lần. Ông Trịnh Hưng Minh, Chủ nhiệm câu lạc bộ cho biết đến ngày sinh hoạt, các thành viên trao đổi nghiệp vụ, tập những làn điệu mới, bài hát mới, riêng tổ âm nhạc thì tập luyện nhạc cụ. 

May mắn hơn các câu lạc bộ khác, câu lạc bộ của Trung tâm Văn hóa thông tin quy tụ 30 hạt nhân văn nghệ đến từ các trường, các xã trên địa bàn. Song do hoạt động không thường xuyên nên chất lượng và tính phổ quát chưa nhiều.

So với câu lạc bộ hát dân ca thì câu lạc bộ hát Phường vải vừa ít về số lượng (khoảng 10 câu lạc bộ) vừa kém về chất lượng, hoạt động lại cầm chừng. Câu hát Phường vải khá chải chuốt, khá điêu luyện, trải qua một thời gian dài hàng mấy trăm năm, người dân với lối tư duy hình tượng đã đem tâm hồn và trí tuệ của mình tạo nên những câu ca hồn nhiên, trong sáng. 

Nội dung hát Phường vải mang đậm tính trữ tình, song nó khác các loại dân ca khác ở chỗ có sự tham gia của những nhà nho. Cho nên tính chất một số câu hát, quy cách trong khi hát, hình thức câu hát, quá trình của một cuộc hát có phức tạp hơn. 

Để hát đúng với một cuộc hát Phường vải phải hát có lớp lang như hát lơ lửng (hát dạo), hát chào, hát mời, hát hỏi, hát đố, hát tình (hát xe duyên), hát tiễn hẹn trong không gian, môi trường diễn xướng khá chật hẹp là ở sân vườn (hoặc sân đình) và người phụ nữ đang ngồi quay xa, dệt vải. Tuy nhiên, do hát lời cổ, giai điệu trầm buồn, không có nhạc đệm nên khó lôi cuốn người hát lẫn người nghe. 

Nghệ nhân dân gian là những tác giả của những câu hát Phường vải đầu tiên và cũng chính họ là những người bảo lưu, kế thừa và phát huy vốn hát ví mang đậm bản sắc quê hương. Bà Nguyễn Thị Kỳ, xóm 13 xã Hồng Long, Nam Đàn năm nay đã tròn 100 tuổi, nhưng tuổi tác dường như không phải là rào cản niềm đam mê hát ví Phường vải.

Bà tâm sự: “Ngày xưa nam thanh nữ tú trong làng ai ai cũng biết hát Phường vải. Hát Phường vải là một cách trò chuyện, đối đáp thông minh giữa bên nam và bên nữ, họ vừa làm vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động. Cũng từ hát Phường vải mà vợ chồng bà nên duyên.”

Theo bà Kỳ, hát ví thường có những từ đệm như ơ, chứ, thì, rằng, mà… xen kẽ giữa các nhịp, các tiết của lời thơ, lúc mở rộng kéo dài, lúc ngân nga lơ lửng. Bởi thế lớp trẻ ngày nay khó hát và không mấy ai say sưa với câu hát ví này. 

“Lớp người cũ như bà rồi cũng mất đi, các bà đang cố gieo trồng những lớp kế tục để giữ gìn truyền thống ca hát của dân tộc bằng cách ‘già dạy trẻ, trẻ học già’ vào thời gian rỗi. Nhưng làm thế nào để lớp trẻ thẩm thấu và yêu câu hát ví Phường vải, say mê thực sự với nó và muốn nó sống thực sự trong đời sống tinh thần là cả một chặng đường dài,” bà Kỳ đau đáu. 

Theo thống kê, các nghệ nhân dân gian hát Phường vải ở Nghệ An giờ chỉ còn 6 người, tuổi các cụ cũng được xếp vào “xưa nay hiếm.” Các thành viên tham gia câu lạc bộ hát Phường vải cũng xuất phát từ yêu câu hát ví Phường vải mà tham gia. Vì không có kinh phí để hoạt động, họ tự bỏ tiền túi quyên góp lại để duy trì câu lạc bộ. Nhiều gia đình có hai đến ba thế hệ cùng tham gia. 

Khó hát, thiếu nguồn kinh phí, thiếu nhân lực, thiếu sự quan tâm chỉ đạo… những khó khăn ấy có thể khắc phục được nếu chính quyền địa phương có quyết tâm gìn giữ câu hát ví Phường vải của quê hương. 

Thực tế thời gian qua, tỉnh Nghệ An cũng đã thành lập Trung tâm bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ, lập đề án Đưa dân ca vào trường học, huyện Nam Đàn cũng đã có đề án Bảo tồn và phát huy hát ví Phường vải song chưa mang lại hiệu quả.

“Bảo tồn thì chúng tôi vẫn làm được, song việc phát huy thì ngày càng bế tắc,” ông Trần Xuân Giáp – Giám đốc Trung tâm Văn hóa thông tin huyện Nam Đàn thừa nhận. 

Theo đề nghị của các câu lạc bộ, thời gian tới, huyện Nam Đàn cần cử cử cán bộ văn hóa về cơ sở để tổ chức thực hiện việc bảo tồn và phát huy hát ví Phường vải. Bên cạnh đó, mời các nghệ nhân dân gian và những hạt nhân văn nghệ trẻ đến để truyền lửa theo kiểu “già dạy trẻ, trẻ học già.” Mở rộng thành viên tham gia câu lạc bộ như giáo viên thanh nhạc, các em học sinh trong các nhà trường để đào tạo đội ngũ trẻ. 

Huyện cũng cần có kinh phí trích cho các xã chi cho câu lạc bộ hoạt động thường xuyên để huy động nhân lực. Bên cạnh mở các lớp tập huấn cho cán bộ văn hóa ở cơ sở, các câu lạc bộ, ngành văn hóa phối hợp với ngành giáo dục tăng cường hơn nữa công tác đưa dân ca vào trường học, chính trong môi trường này vừa phát hiện vừa bồi dưỡng lớp trẻ thuận lợi nhất. 

Hát ví Phường vải là phong trào văn hóa văn nghệ xuất phát từ nhân dân và phục vụ nhân dân. Tuy nhiên hiện nay, phong trào này đang trở nên hình thức hóa chỉ mang tính biểu diễn, đua tài giữa câu lạc bộ này với câu lạc bộ khác mà chính người dân lại không có cơ hội được xem, nghe và tham gia. 

Theo các câu lạc bộ, trừ những hội thi, hội diễn lớn mang tầm quốc gia, những hội diễn nhỏ ngành Văn hóa chỉ nên giao cho các địa phương tổ chức thi tại địa phương mình. Cách làm này vừa phù hợp với không gian văn hóa, môi trường diễn xướng của hát ví Phường vải vừa thiết thực phục vụ nhân dân, đến gần với dân hơn./. 

Bích Huệ (TTXVN)

 

 
 

NINH VIẾT GIAO : Thủ tục của một cuộc hát phường vải – lược trích trong “Hát phường vải” của Ninh Viết Giao


  Thủ tục của một cuộc hát phường vải – lược trích trong “Hát phường vải” của Ninh Viết Giao  
     
(13h: 11-07-2010)
Phần I: Hát dạo, hát chào mừng, hát hỏi Chúng ta đã biết, hát phường vải là một loại hát ví “đặc biệt nhất” ở vùng Nghệ Tĩnh. Cần phải nắm được cụ thể diễn biến của một cuộc hát phường vải như thế nào mới thấy rõ tính chất đặc biệt của một cuộc mà không ai gọi là một đêm, vì nếu gọi là một đêm hát phường vải thì trong đêm đó phải có mọi chặng, mọi bước  mà hát hường vải trải qua. Gọi là môt cuộc hát phường vải vì hát phường vải thường kéo dài hai, ba, bốn, có khi năm, sáu đêm mới đủ mọi chặng, mọi bước.

 

Thông thường một cuộc hát phường vải phải qua ba chặng.

 

  • Chặng thứ nhất gồm hát dạo, hát chào mừng và hát hỏi. Chặng này chưa quan trọng lắm. Nội dung câu hát chưa thật phong phú và sâu sắc.
  • Chặng thứ hai chỉ có hát đố, hát đối. Đương nhiên, ở chặng này trai gái chỉ thử th1ch trí thông minh của nhau, chỉ tìm hiểu vốn kiến thức của nhau, nhưng đây là chặng quan trọng, vì hát phường vải là nơi gặp gỡ của “trai tài gái sắc”.
  • Chặng thứ ba gồm hát mời, hát xe kết (hay còn gọi là hát tình nghĩa) và hát tiễn tức là những câu hát lúc ra về, trái gái thổ lộ tình cảm với nhau chủ yếu là ở chặng này. Những câu hát có nhiều gúa trị về nội dung và nghệ thuật đều xuất hiện ở chặng này.

 

Để thấy rõ các bước đi của một cuộc hát, đặng qua đó hiểu thêm về quy cách, tính cách của hát phường vải, xin mời các bạn đi sâu từng chặng một.

 

1. Chặng thứ nhất

a. Hát dạo

Mở đầu cho một cuộc hat phường vải, bao giờ người ta cũng phải hát dạo vài câu. Tối đến, tại một gia đình nào đó, chị em đã tập trung mươi hai người để kéo sợi. Một lúc sau bên nam kéo đến. Để cho bên nữ biết là mình đến hát, từ ngoài đường, ngoài ngõ, bên nam phải hát lên vài câu gọi là hát dạo:

Dừng xa khoan kẹo ơi phường

Hình như có khách viễn phương tới nhà.

Trong câu hát, bên nam thường tỏ vẻ kiêu kỳ, khi thì tỏ ra ngẫu nhiên mình đến hát:

Đi ngang trước cửa nàn Kiều,

Dừng chân đứng lại dặt dìu đôi câu.

Khi thì tỏ ra mình đã nghe tiếng tăm bên nữ, hôm nay đến hát:

Đồn đây có gái hát tài,

Để ta đối địch một vài trống canh…

Đôi khi họ cũng tỏ ra khiêm nhường:

Đi qua nghe tiếng em đàn,

Lá vàng xanh lại, sen tàn trổ hoa.

Nhưng các chàng trai thường hay mĩ hóa, khách quan hóa cuộc đi hát của mình:

Đi ngang thấy cảnh tưng bừng,

Tay gò cương ngựa, chân dừng bánh xe.

Cũng có khi bên nữ hát dạo trước. Thấy chàng trai bàn tán chộn rộn ngoài đường, các cô không ngại ngùng e lệ, thánh thót cất lên tiếng hát:

Bóng ai thấp thoáng vường hoa,

Hình như Kim Trọng đến nhà Kiều, Vân.

Đôi khi các cô cũng mĩ hóa cái lúc chàng trai đến hát, để thể hiện thái độ hồn nhiên, nhưng phấn khỏi, hồ hởi, trân trọng của mình:

Khoan khoan dóng trống mở cờ,

Hình như nho sĩ tới bờ đào nguyên.

Sau khi đã nghe bên nam hát dạo rồi, nếu là người cũ, các cô tỏ rõ tâm trạng của mình ngay:

Mấy lâu anh mắc (bận) chi nhà,

Để em dệt gấn thêu hoa chịu sầu.

Còn nếu là người mới, chị em cũng đắn đo đôi chút:

Đến đây muốn hát muốn đàn,

Sợ lòng con cậu cháu quan khó chiều.

Những lúc như vậy bên nam phải đả thông để tỏ rằng không phân biệt giàu nghèo, sang hèn mà rất dân chủ,  bình đẳng trong khi hát:

Ở nhà con cậu cháu quan

Đi ra phường vải hát đàn nghe chung.

Nhưng đâu phải tất ả các chàng trai đến hát đều được các cô đón tiếp nhiệt tình. Nhiều chàng trai đã phải bỏ ra về ngay từ phút đầu. Ở Nam Đàn có một chàng trai thường hát những câu nghịch ngược, tất cả các phường vải trong vùng đều chán mặt anh ta. Tại một phường, đêm nào anh ta cũng tới hát lài nhài, một đêm, một cô lên tiếng:

Coi chừng cũng nỏ có màu,

Thuyền tình trở lại cho mau kẻo ghềnh.

Biết có hát nữa cũng vô vị và có thể mua nhục vào mình, cháng trai lẳng lặng bỏ đi sang phường khác. Còn nhiều chàng trai nữa đã mang xấu hổ vào mình, nếu không tỉnh mà cứ cố đấm ăn xôi.

Lại có một số cháng trai đến chỉ để thăm dò trình độ của các cô bên nữ, xem trong đó có thầy gà nào ra trò không, im hơi lặng tiếng để đoán định, khả năng của đối phương. Đối phương biết được lên tiếng chỉ trích:

Đến đây không hát thì hò,

Đâu phải con cò chỉ ngẳng cổ nghe.

Hoặc có chàng đến hát, chỉ qua vài bước dạo thôi đã gặp hát đối rồi, không đối được, không hát được, đứng mãi cũng bị các cô khiêu khích:

Sao mà chuột chạy cùng sào,

Anh đà hết chuyện xuống ao mà rờ.

Ngay cái bước hát dạo cũng đã lôi thôi rồi, đâu phải dễ trót lọt như mọi người tưởng.

Cũng nên nói thêm không phải chỉ trai gái đang thời kỳ thanh xuân mới đi hát, mà đàn ông có vợ, đàn bà có chồng cũng hay đi hát. Để cho các bà vợ, các ông chồng ở nhà được yên tâm, trước khi hát, người ta thường hay xác định thái độ:

Ai có chồng thì nói chồng đừng sợ,

Ai có vợ thì nói vợ đừng ghen,

Đến đây hò hát cho quen,

Rạng ngày ai về nhà nấy,

Há dễ ngọn đèn hai tim.

Trên đây là vài nét về hát dạo, nó có tính chất như phần giáo đầu của một đêm hát chèo, hát tuồng. Hạt dạo xong bên nữ bước qua hát chào mừng.

 

b. Hát chào hát mừng

Các loại hát ví khác không có hoặc ít khí thấy bước này. Hát chào hát mừng tăng tính cách lịch sự của người hát phường vải, tăng vẻ lịch sự cho ngưới hát, ca nam lẫn nữ. Khi bên trai đến hát, bên nữ thường chào mừng bằng những câu khá niềm nở, khá cung kính. Các câu hát chào mừng đó, khi thì e dè bóng gió:

Mấy khi khách tới vườn đào,

Trăm hoa mủm mỉm đón chào đông quân.

Khi thì mạnh dạn tha thiết:

Cau non tiệm chũm lòng đào,

Trầu têm cánh phượng ra chào bạn quen.

Khi thì trang trọng kiểu cách:

Chào chàng bước tới vườn đào,

Sấm ra dưới biển, gió trào trên cây.

Nhưng tất cả đều ngụ tình, đều nói lên lòng mừng rỡ, sung sướng vì được gặp nhau:

Vừa ra gặp bạn giữa đường,

Cũng bằng tiến sĩ trong trường bước ra.

Và đều có tính chất ca ngợi buổi gặp gỡ đó:

Bữa nay ta lại gặp ta,

Giá như lụa hạ thêu hoa vẽ rồng.

Khi bên nữ hát chào mừng rồi thì bên nam cũng phải hát chào mừng lại. Nội dung và tính cách lời chào mừng của bên nam cũng như bên nữ, tức là phải trang nhã, khiêm tốn:

Đến đây mừng cảnh mừng hoa,

Trước mừng lân lý sau ra mừng nường.

—-

Mừng nàng áo vải hồ tơ,

Cửi canh lão luyện, tay đưa mỏng mềm.

Sau nay người ta thấy bước hát dạo không được tự nhiên cho lắm, thì hát chào mừng thay cho hát dạo.

 

c. Hát hỏi

Khách đến nhà, chào mừng xong rồi thì phải hỏi quê quán, tên tuổi của khách. Ở đây cũng vậy, bằng câu hát, bên nữ hỏi bên nam quê quán ở đâu:

Bữa ni chàng mới tới nhà,

Hỏi chàng coi thử ở xa hay gần?

Cha mẹ thế nào:

Chữ rằng hải hoác sơn cao,

Xuân thu nay đã bước vào tuần mô?

Anh em được mấy người:

Ơn trên phụ mẫu tại đường,

Hòe dình, Đậu quế phân phương mấy nghành?*

Tại sao biết đây mà đến:

Hỏi chàng khách lạ bóng trăng,

Bỗng đâu mà biết Kim Lăng có chùa?

Tên họ là gì:

Hỏi anh tên họ là chi

Nói cho em biết, mai đi em chào?

Còn bên nam hỏi bên nữ, thường hỏi tuổi bao nhiêu:

Trăng lên khỏi núi trăng tròn,

Xuân xanh em mấy mà dòn rứa em?

Đã có chồng chưa:

Ngó lên trời bạc mây hồng,

Thương em hỏi thật có chồng hay chưa?

Sau mỗi câu hát hỏi thì bên nam hoặ bên nữ lựa ý, lựa lời mà đáp lại. Hát hỏi có tác dụng làm cho hai bên hiểu biết nhau. Bên nữ hỏi bên nam lý lịch từ xa đến gần, ít hỏi có vợ con chưa, vì mặc nhiên coi chàng trai đến hát là đến hỏi vợ rồi. Bên nam chủ động hơn, hỏi bên nữ tuổi tác, chồng con ngay từ câu hát hỏi đầu tiên.

Thời hát phường vải còn mang nhiều tính chất dân gian, bên nam trả lời thế nào không rõ, chứ từ ngày hát đố, hát đối mang nhiều tính chất chữ nghĩa, bên nam ít khi trả lời thật thà tên họ của mình lắm. Chỉ một số người nổi tiếng trong làng hát phường vải mới nói rõ tên họ và quê quán của mình. Như Lê Nguyên Khái ở Trung Cần, đậu cử nhân, một tay “trỗi” về đặt câu hát hay và đối đáp tài tình đã trả lời:

Anh đây cử Khái, Trung Cần,

Con ông quan lớn ở gần bàu Sen.

Còn nói chung ít người nói rõ tên họ và quê quán của mình. Vì nói thật tên họ mà không đối, khống đáp được những câu hát đố, hát đố chặng sau sẽ xâu hổ, xấu hổ không chỉ hôm đó mà còn mang tiếng mãi về sau. Nên các chàng trai thường tìm cách trả lời loanh quanh, chung chung:

Tên anh tên bưởi tên bòng,

Tên cam tên quýt em hòng hỏi chi.

Hoặc trả lời một cách kiêu kỳ mà mơ hồ:

Quê anh vốn ở Hoan Châu,

Họ hoàng, tên giáp xuân thu đôi mười.

Hoan Châu là tên cũ của đất Nghệ Tĩnh. Còn hoàng giáp là những người đậu nhị giáp tiến sĩ (học vị cao hơn tiến sĩ). Có người trả lời một cách nghịch ngược:

Quê anh vốn ở Nam Đàn,

Họ anh là Nguyễn, tên rằng “Lý Mây”.

Nam Đàn có biết bao nhiêu là làng xã, biết anh ta ở làng xã nào. Còn cái tên “Lý Mây” nói lái lại là “lấy mi”.

Sau hát hỏi thường có hát phong cảnh. Các câu hát phong cảnh thường ca ngợi cảnh đẹp nơi mình đến hát, hoặc cảnh đẹp quê hương mình, như những câu:

Nam Đàn gió thổi phi phòng

Vân Sơn mây bá, Phù Long rồng chầu.

—–

Vui thay Gia Lạc, Kim Liên,

Mâu Tài của tốt, bàu Sen hoa nhiều.

—–

Đất yên quả có cảnh Hà,

Nước Hà tĩnh túc, sen Hà thanh tao.

—–

Vui thanh cảnh đẹp vui thay,

Bồng lai có phải chốn này hay không?

Sau này đến chặng hát đố, hát đối, người ta hay lấy cảnh của địa phương mình (tức làng mình hay làng chung quanh) để bẻ câu hát, do đó hát phong cảnh không còn là một bước riêng nữa. Ngay ba trong bốn câu ví dụ trên đã mang tính chất hát đối rồi. Như câu đầu đã mang tính chất chơi chữ: Phi phong là gió thổi, vân là mây, long là rồng.

Ba bước trên trong chặng đầu của một cuộc hát phương vải thời gian không hết bao nhiêu mà dùng trí cũng chưa nhiều. Nó mới là chặng mào đầu đưa chuyện mà thôi, nên giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của câu hát có bị hạn chế phần nào.

 

=============

* Hòe đình, Đậu quế hay môn quế: lấy tích trong câu “Vương thị tam hòe, Đậu yên ngũ quế”, trước sân nhà họ Vương có trồng ba cây hòe sau sinh ba con trai, trước cửa nhà họ Đậu (ở Yên Sơn) có trồng năm cây quế, sau sinh ngũ quý tử. Các con của hai nhà này đều học hành giỏi giang, đỗ đạt, làm nên danh giá.

Phần II: Chặng thứ hai (hát đố, hát đối).

http://vidamdodua.com/index.php?Module=Content&Action=view&id=564&Itemid=678