Tag Archives: người làm rạng rỡ âm nhạc việt

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 11: Bóng hồng đầu đời và người tình một đêm


Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 11: Bóng hồng đầu đời và người tình một đêm

Cuộc đời của GS-TS Trần Văn Khê mẫu mực, trong sáng nhưng đã là nghệ sĩ thì ít ra cũng có những giây phút “phiêu bồng”…
Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt - Kỳ 11: Bóng hồng đầu đời và người tình một đêm - ảnh 1GS-TS Trần Văn Khê
Nụ hôn đầu đời trong mưa
Dạo đó (khoảng đầu năm 1938), cô Ba Viện (người nuôi dưỡng anh em Trần Văn Khê) thường tổ chức những buổi tối hòa đàn tại nhà, thắp đèn măng xông sáng trưng. Nhạc công toàn là bà con trong dòng họ, ngồi trên bộ ngựa, còn bà con chòm xóm trong làng thì ngồi trên những băng ghế dài bằng gỗ, trong số đó có Sáu. Sáu là cô gái quê, thuộc hạng đẹp trong làng Vĩnh Kim (Mỹ Tho). Da cô trắng, môi son, thân hình mảnh mai, mặt trái xoan với đôi mắt mơ màng. Mẹ mất sớm, cha tục huyền, Sáu sống không nổi với mẹ kế nên về ở với bà nội. Sáu học hết lớp ba trường làng thì bà nội không cho học nữa. “Con gái học chi nhiều, chỉ cần biết mặt chữ, ở nhà học may vá, nấu nướng để lấy chồng!”, bà thường nói vậy.
Trần Văn Khê để ý tới cô gái làng hay ngồi ở một góc tối. Anh lân la đến hỏi thăm: “Em thích bản nhạc nào?”.“Em chỉ thích những bản buồn!”. “Tại sao?”. “Anh dư biết mà, người ta được sống với cha mẹ còn em sống với bà nội, cũng như anh sống với cô Ba… Nhiều khi thèm vòng tay ôm của mẹ, cái nhìn trìu mến của cha”… Từ lúc đó, Trần Văn Khê thường nghĩ về người con gái đồng cảnh ngộ, nhưng chỉ dám thương trộm nhớ thầm vì cô Ba Viện rất nghiêm, đi đâu cũng phải xin phép, nói rõ lý do và phải về đúng giờ. Sáu dễ qua chơi nhà cô Ba Viện hơn vì là bạn thân của Ngọc Sương, em gái út của Khê.
Nói về cách nghiêm huấn của cô mình, Trần Văn Khê kể: “Một hôm, em Sáu và bà chị đến chơi lúc cô tôi đi chợ. Khi về, cô hỏi thăm ba của em có khỏe không và vui cười như không có chuyện gì. Nhưng khi 2 người khách về rồi, cô gọi tôi lại, nói: “Bạn gái của em con đến chơi mà con không đàng hoàng. Khi bạn gái ngồi chơi trên võng với em, con phải nhắc ghế ngồi xa chớ không được đứng dựa vào đầu võng. Con đừng để con gái người ta mang tiếng vì con…”. Những ngày chuẩn bị lên Sài Gòn học bậc tú tài, Khê chạy xẹt qua nhà Sáu, gửi mấy câu thơ: “Em Sáu ơi!/Chẳng biết bao giờ em đến nhà?/Dẫu rằng đây đó có bao xa/Chiều trông, sáng đợi em nào thấu/Một mảnh tình riêng ta với ta” (câu cuối Khê “thuổng” của Bà Huyện Thanh Quan). Ngày Khê sắp đi, Sáu đến chơi với Ngọc Sương. Khi ra về, cô giúi vào tay một gói giấy nhỏ, bên trong là chiếc khăn tay thêu chữ K, Khê không bao giờ xài chiếc khăn này, chỉ để ngắm.
Một hôm Trần Văn Trạch (em kế Khê) có chuyện buồn giận cô Ba nên bứt hết những dây của các cây đờn tranh, đờn tỳ bà trong nhà, rồi bỏ trốn lên Mỹ Tho. Khê đạp xe đi tìm em nhưng cũng kịp ghé vào nhà Sáu cho nàng biết sự tình.
Tìm được Trần Văn Trạch, 2 anh em chở nhau về, còn cách làng khoảng 3 km thì trời đổ mưa, ướt như chuột lột. Lúc đó khoảng 9 giờ tối, Khê đang đạp xe thì nghe tiếng người gọi tên mình. Ngừng xe lại, trong bóng tối, dưới gốc cây bên đường, Sáu đang dầm mưa đứng đợi. Cô bảo: “Em đợi anh từ 7 giờ tối. Đoán chừng giờ anh về để hỏi có gặp được em Trạch không. Giờ em an lòng rồi…”. Khê xúc động ôm nàng vào lòng. Nước mưa ướt sũng cả hai người nhưng họ thấy vô cùng ấm áp. Hai đứa trẻ lần đầu tiên hôn nhau trong đêm mưa…
Năm 1939, máy bay Pháp dội bom liên tục ở miền quê Vĩnh Kim, gia đình Sáu phải sơ tán lên Mỹ Tho, họ được một thanh niên làm ở Tòa Bố (Tòa hành chánh tỉnh) giúp đỡ tận tình. Sau khi họ hồi cư, anh thanh niên này nhờ người đến xin cưới Sáu. Sáu khóc với Khê một lần sau cuối rồi lấy chồng để trả ơn.
Trần Văn Khê và những phụ nữ Pháp - Ảnh: tư liệuTrần Văn Khê và những phụ nữ Pháp – Ảnh: tư liệu
Người tình một đêm
Tháng 5.1949, Trần Văn Khê sang Pháp. Đất khách quê người và phải “tự thân vận động” mọi khoản chi tiêu ăn ở, học phí… Trần Văn Khê lấy tên là Sơn Ca, đi hát ở tiệm Bồng Lai của một người Việt. Trong tiệm còn có Madona – một cô gái Pháp rất đẹp làm nghề vũ thoát y.
Một hôm, sau khi biểu diễn xong, Madona vẫn để ngực trần chạy vào cánh gà, bất ngờ vấp phải người hầu bàn đang bưng hai tô phở đi ra. Phở đổ hết lên người khiến cô ấy rất đau đớn… Từng là sinh viên Trường Thuốc nên Trần Văn Khê đã chữa trị cho cô đúng cách không để lại vết thẹo. Từ đó hai người trở nên thân thiết hơn.
Nhân Trường Chính trị Paris – nơi Trần Văn Khê đang theo học – có tổ chức dạ hội khiêu vũ, các sinh viên được mời bạn nhảy nên Trần Văn Khê dắt cô Tây này theo. Anh thuê một bộ áo đuôi tôm, thắt nơ trắng còn Michèle (tên thật của cô gái) thì lộng lẫy trong lớp áo dạ hội hở ngực (cô có bộ ngực rất đẹp, nhờ vậy mới được các nơi mời vũ thoát y). Tóc cô như suối chảy hai bên vai, chân đi giày cao gót nhung đen, mặt luôn tươi cười. Ai cũng phải ngẩn ngơ trước sắc đẹp và xuýt xoa trước những bước nhảy bay bướm của cô ấy (thực ra, đó là “nghề của nàng” mà!).
Họ nhảy đến 2 giờ sáng rồi Michèle mời chàng về nhà mình uống rượu. Họ nghe Sonate Ánh trăng của Beethoven bên rượu sâm banh… Uống say, cô gái nói: “Tôi muốn mời anh ở lại đêm nay để chia sẻ cùng tôi suốt một đêm dài. Tôi có cảm tình với anh từ lúc anh chữa phỏng cho tôi. Khi đó anh nhìn tôi với ánh mắt của người thầy thuốc chứ không là ánh mắt thèm muốn như bao gã đàn ông khác mà tôi từng gặp. Điều đó làm tôi xúc động. Trong đêm khiêu vũ này, anh cũng luôn tôn trọng tôi và làm cho người khác cũng tôn trọng tôi. Tôi muốn anh ở lại với tôi đêm nay. Anh đã biết tôi là gái điếm nên tôi xin đưa sổ khám bệnh của tôi”.
Cuốn sổ (khám cách đó hai hôm) ghi rõ cô ấy không mắc bệnh nhưng để anh yên tâm hơn, cô tiếp: “Nếu anh còn lo lắng, tôi còn những thứ để anh dùng bảo vệ bản thân, miễn là đêm nay chúng ta có nhau thật trọn vẹn”. “Nhưng tôi không mang theo đồ ngủ?”. “Không sao anh à!”. Cô gái cởi đồ cho Trần Văn Khê, lấy chiếc áo ngủ thật đẹp khoác cho chàng, dìu chàng vào phòng tắm: “Anh tắm đi rồi chúng mình tiếp tục nói chuyện”.
Đêm đó, Sơn Ca và cô gái trải qua một đêm tình thật tuyệt vời…
“Anh, mình có gặp nhau nữa không?”. Im lặng trong vài phút tôi xúc động và trả lời: “Theo tôi nghĩ chúng ta không nên gặp nhau nữa. Không thể nào tìm lại được tâm trạng của chúng ta và không khí như đêm vừa qua. Mộng đẹp không bao giờ trở lại hai lần trong đời. Tốt hơn chúng ta xem những gì xảy ra đêm qua như một câu chuyện thần tiên và kỷ niệm đẹp ấy sẽ còn mãi mãi trong lòng chúng ta. Thôi, vĩnh biệt em!”. Michèle thẫn thờ gật đầu chấp nhận mà hai mắt đẫm lệ…
Tôi và Michèle xiết chặt tay nhau, lặng nhìn nhau trong giây lát rồi chia tay. Từ đó chúng tôi không bao giờ còn gặp lại nhau nữa…” (trích Hồi ký Trần Văn Khê).

Hà Đình Nguyên

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/nguoi-lam-rang-ro-am-nhac-viet-ky-11-bong-hong-dau-doi-va-nguoi-tinh-mot-dem-576220.html

>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 10: ‘Tài tử xi nê’ Trần Văn Khê
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 9: Thầm lặng cho một tài hoa bay xa
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 8: Chiếc bóng bên đời người nhạc sĩ tài hoa
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 7: Không mặc áo dài thì không biểu diễn
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 6: Đem hồn dân tộc ra thế giới
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 5: 50 năm ‘chim Việt nhớ cành nam’

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 10: ‘Tài tử xi nê’ Trần Văn Khê


Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 10: ‘Tài tử xi nê’ Trần Văn Khê

 

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 9: Thầm lặng cho một tài hoa bay xa


Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 9: Thầm lặng cho một tài hoa bay xa

Qua bài viết Chiếc bóng bên đời người nhạc sĩ tài hoa (Thanh Niên ngày 18.6), rất nhiều bạn đọc hết sức đồng cảm với sự hy sinh lặng thầm của bà Nguyễn Thị Sương. Đặc biệt, chúng tôi đã nhận được những phản hồi từ người con và học trò của bà Sương…

Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt - Kỳ 9:  Thầm lặng cho một tài hoa bay xa - ảnh 1Điêu khắc gia Phạm Văn Hạng dưới chân dung thầy Khê và cô Sương
Về những người con của GS-TS Trần Văn Khê
Vợ chồng GS-TS Trần Văn Khê có 4 người con. Sau khi ông sang Pháp du học, bà Sương ở lại VN tần tảo nuôi con… Rồi vợ chồng họ ly dị (năm 1960). Những người con của họ, khi trưởng thành đều công thành danh toại là nhờ vào sự hy sinh, bươn chải nuôi dạy của người mẹ. Đặc biệt, người con trai trưởng Trần Quang Hải (hiện ở Pháp) là người nối nghiệp cha và cũng rỡ ràng không kém. Ông có học vị GS-TS âm nhạc học như cha mình, cũng nghiên cứu chuyên sâu về âm nhạc dân tộc. Ngoài ra ông còn sáng tạo ra kỹ thuật hát Đồng song thanh; được xưng tụng là “vua muỗng”, “vua đàn môi VN”. Người con trai thứ là KTS Trần Quang Minh ở TP.HCM, 2 con gái: Trần Thị Thủy Tiên hiện sống ở Paris (Pháp) và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh, hiện làm việc cho Ban Nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris.
Mẹ, trong mắt “đứa con được chọn lựa”
KTS Trần Quang Minh nói về người mẹ thân yêu của mình: “Tôi là đứa con được chọn lựa, sống cùng mẹ từ khi sinh ra cho đến khi người trở về với cát bụi. Mẹ tôi là một cô giáo suốt đời tận tụy với nghề nghiệp, được đồng nghiệp quý và học trò yêu thương”.
KTS Minh cho biết mẹ anh lập gia đình với ba anh lúc 22 tuổi, 6 năm sau phải chia tay chồng để ông du học nước ngoài, thực hiện ước mơ của mình… Mẹ anh bụng mang dạ chửa, dắt díu 3 con về quê ngoại với mảnh bằng tú tài Pháp, xin làm cô giáo dạy Pháp văn tại Trường College Vĩnh Long và Tư thục Long Hồ.
“Năm 1954, Pháp rút khỏi VN, mẹ tôi chuyển hai đứa con đầu từ trường Tây sang trường Việt, rồi lên Sài Gòn tìm đất sống. Sau khi được Trường nữ trung học Gia Long nhận vô dạy môn Anh văn, bà phải học thêm tiếng Anh ban đêm, ban ngày dạy học. Với bản chất thông minh, vài năm sau, bà là giáo viên có uy tín, được chọn làm MC trong các buổi phát thưởng cuối năm, phải đọc song ngữ, vì có khách nước ngoài… Bà còn được chính quyền mời làm thông dịch viên, tiếp các phái đoàn nước ngoài và thông dịch cho phái đoàn bà Ngô Đình Nhu khi đi làm việc ở Philippines…”, KTS Minh tự hào kể về mẹ.
Khi bà và GS-TS Trần Văn Khê chia tay, bà vừa làm cha, vừa làm mẹ, vừa làm thầy, vừa bươn chải nuôi dạy các con ăn học nên người… Năm 1962, bà gửi Trần Quang Hải sang Pháp, tới năm 1967 lại gửi Thủy Tiên qua Paris ở với ông Khê. Bà chọn KTS Minh và con gái út (Thủy Ngọc) ở lại VN với bà.
“Tôi hãnh diện được mẹ chọn trường (Đại học Kiến trúc, 1965) và lựa vợ (1971) cho tôi chung sống đến bây giờ. Năm 1973, bà làm MC phiên dịch những câu giới thiệu cho người em chồng là “quái kiệt” Trần Văn Trạch trong các show tại những club Mỹ trong sân bay Tân Sơn Nhất. Sau năm 1975 bà nghỉ hưu, về làm gia sư tiếng Anh cho tướng Trần Văn Trà… Quá tuổi 80, bà còn mở lớp tiếng Anh trong xóm cho trẻ em, đặc biệt trong lớp học này có điêu khắc gia Phạm Văn Hạng cũng tới học… Cuộc sống bình yên thanh thản… Cuối cùng bà ra đi an lành năm 2014 ở tuổi 94”, KTS Trần Quang Minh hồi tưởng.
Phút chạnh lòng của điêu khắc gia Phạm Văn Hạng
Người viết với điêu khắc gia Phạm Văn Hạng là chỗ thân quen, nhân đọc loạt bài về GS-TS Trần Văn Khê, anh có tiết lộ mình vốn là chỗ hàng xóm láng giềng với thầy Khê và nhận mình là học trò của cô Sương. Anh gửi email cho người viết nêu suy nghĩ của mình về những con người đáng kính này:
“Cảm kích từ những năm 1977, khi gặp người không nhận danh xưng giáo sư mà buộc người đối diện phải gọi nhau là anh em hồn hậu, bởi chúng tôi là hàng xóm, cô Sương là người dẫn dắt chữ nghĩa… Cả hai đều có hình hài cao trọng trí thức nhưng lại không cùng một hình ảnh, cùng bóng, dù bóng lớn, bóng mờ, bóng đè, bóng dựa…
Người đời vẫn nói “một nửa sự thành đạt của người đàn ông là của bạn đời”. Thành tựu của anh Khê chính là sự bẩm sinh thiên phú, ngay từ khi còn trong bào thai của mẹ – trước khi cất tiếng khóc chào đời đã thẩm thấu âm thanh của đất trời, của loài vật…
Còn cô Sương phải gắng học trường ta, trường Tây để thông thái chữ nghĩa, được sự giáo dục chăm chút của cha mẹ, của trường đời quyết trở thành một nhà giáo mẫu mực, thành một người phụ nữ gương mẫu thời đại, thành người vợ thủy chung, thành người mẹ thầm lặng nuôi con để anh Khê chu du tứ xứ, thi thố tài năng đưa hồn Việt nhạc đến tận cùng đường xa ngõ lạ.
Hơn nửa thế kỷ qua ít ai biết được, trong sự nghiệp của người đàn ông mang tên Trần Văn Khê thì cô Sương tuyệt nhiên không nhận một nửa phần đó thuộc về mình…
Trong phút giây chạnh lòng, gợi lên ý niệm nghĩ suy thầm kín và kính trọng…”.

Hà Đình Nguyên

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/nguoi-lam-rang-ro-am-nhac-viet-ky-9-tham-lang-cho-mot-tai-hoa-bay-xa-575626.html

>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 8: Chiếc bóng bên đời người nhạc sĩ tài hoa
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 7: Không mặc áo dài thì không biểu diễn

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 8: Chiếc bóng bên đời người nhạc sĩ tài hoa


Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 8: Chiếc bóng bên đời người nhạc sĩ tài hoa

Người đời thường nói “Đằng sau một người đàn ông thành đạt luôn có bóng dáng của người phụ nữ”. Bên cạnh sự nghiệp hiển hách của GS-TS Trần Văn Khê có một người phụ nữ đã lẳng lặng nhận lấy mọi “gánh nặng cơm áo”.

Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt - Kỳ 7: Chiếc bóng bên đời người nhạc sĩ tài hoaNụ hôn sau 55 năm – Ảnh: KTS Trần Quang Minh
Sau khi đậu bằng thành chung (thời Pháp thuộc, phải có bằng này mới được theo học ban Tú tài) năm 1938, Trần Văn Khê được học bổng vào học trường nam Petrus Ký ở Sài Gòn (Trường Lê Hồng Phong ngày nay). Tuy là trường nam nhưng 4 năm sau, trường này nhận thêm bốn nữ sinh từ Trường Áo Tím (tiền thân của Trường Gia Long, Nguyễn Thị Minh Khai bây giờ). Đó là các cô Diệp Thị Năm, Hồ Thị Tường Vân, Nguyễn Thị Sương và Lê Thị Hàn. Trần Văn Khê chơi rất thân với 3 cô Hàn, Tường Vân và Sương.
Lấy vợ để có người nối dõi
Trần Văn Khê mồ côi cha mẹ từ lúc 10 tuổi nên Khê và 2 em (Trần Văn Trạch và Ngọc Sương) được người cô ruột là bà Ba Viện nuôi nấng, lo cho ăn học. Đó là cái ơn trời biển. Cho nên năm 22 tuổi (năm 1943, đang học Trường Thuốc ở Hà Nội) Trần Văn Khê đã không dám cãi lời cô Ba Viện khi bà gọi về quê “ra lệnh” cưới vợ để dòng họ Trần có người nối dõi. Bà Ba đã “nhắm” cho cháu mình một cô gái trong làng nhưng Khê xin cô cho phép mình được lấy vợ “tự chọn” vì cô gái kia lớn hơn anh 2 tuổi. Được bà cô đồng ý, Trần Văn Khê bèn tìm đến 3 cô bạn học cũ, lần lượt ướm lời với từng cô: “Nếu một người cần cưới vợ để có con nối dõi, nhưng cưới xong người vợ phải ở lại nhà làm dâu, còn người chồng thì đi học xa, 5 – 6 năm sau mới trở về, liệu có người con gái nào chịu lấy anh ta không?”. Cả 2 cô Tường Vân và Hàn đều từ chối, riêng cô Sương vì trong nhà có chuyện buồn nên trả lời: “Nếu ở nhà người chồng tương lai mà vui hơn ở nhà mình thì có thể chấp nhận. Hơn nữa đã thương nhau thật tình thì việc chờ đợi 5 – 6 năm cũng không ảnh hưởng gì lắm!”. Được lời như cởi tấm lòng, Trần Văn Khê về thưa với cô Ba Viện nhờ người sang hỏi cưới cô Sương.
Cô Nguyễn Thị Sương sinh ngày 19.9.1921 (cùng tuổi với chồng) là một cô gái thùy mị, đằm thắm. Thời học ở Petrus Ký, Sương học giỏi nhất trong 4 cô gái, cô có bài viết được đọc trên Đài phát thanh Pháp Á. Cô là con gái đầu lòng của ông Nguyễn Văn Hanh – giáo viên tại Sai Gòn và sau đó làm đốc học tại Thủ Đức. Năm 1943, cô Sương vừa đậu tú tài. Dạo đó, con gái học cao rất hiếm nên khi nghe vợ tương lai của Khê là một “cô tú”, những người trong gia đình Khê có vẻ e dè, nhưng khi đi “coi mắt”, Sương ra chào đàng trai, mặt để tự nhiên không trang điểm, đi chân không bước ra nhẹ nhàng, rót nước mời mọi người rồi rón rén ngồi quạt cho cô Ba Viện khiến cô hết sức hài lòng. Tháng 7.1943, đám cưới của Khê – Sương được tổ chức tại đình Tân An (Đa Kao). Cưới xong, “cô tú” rời Sài Gòn về quê chồng tận Vĩnh Kim (Mỹ Tho) làm dâu, còn Trần Văn Khê lại ra Hà Nội học tiếp…
Nụ hôn sau… 55 năm ly dị
Khi Trần Văn Khê sang Pháp du học (1949), vợ chồng họ đã có 3 người con (Trần Quang Hải, Trần Quang Minh, Trần Thị Thủy Tiên) và một đứa còn trong bụng mẹ (Trần Thị Thủy Ngọc). Bà Sương ở lại VN, bà được nhận vào dạy Anh văn và Pháp văn tại Trường trung học Vĩnh Long (Collège de Vinh Long), vừa dạy học vừa nuôi dạy con cái. Sau Hiệp định Genève (1954) bà cũng dạy tiếng Anh và tiếng Pháp tại Trường nữ trung học Gia Long (cho tới năm 1976 thì về hưu). Năm 1955, bà được tuyển làm thông dịch viên cho phái đoàn VNCH sang Philippines và Hàn Quốc để thiết lập ngoại giao với hai xứ này thông qua chương trình giới thiệu nhạc VN do ông Nguyễn Phụng, cựu giám đốc nhạc viện đầu tiên của Trường quốc gia Âm nhạc Sài Gòn và bà nhạc sĩ dương cầm Louise Nguyễn Văn Tỵ dàn dựng. Năm 1959, bà Sương sang tu nghiệp khóa thực tập Anh văn ở Mỹ. Về nước, bà chuyên dạy Anh văn ở Trường Gia Long và ở Hội Việt Mỹ.
Năm 1960, bà và ông Trần Văn Khê ly dị. Lúc đó, ông Khê vừa đậu tiến sĩ âm nhạc ở Trường đại học Sorbonne (Pháp). Ông viết trong hồi ký: “Quả thật tôi đã không làm tròn phận sự người chủ gia đình, để gánh nặng cơm áo trút lên vai vợ tôi… Vì thời gian xa nhau quá lâu, vợ tôi có một số lý do riêng để xin ly dị…”… Một năm sau, Trần Quang Hải (trưởng nam) sang Pháp, tới năm 1969 đến lượt Thủy Ngọc (con gái út) sang Pháp ở với cha. Còn Trần Quang Minh và Thủy Tiên ở lại VN, sống với mẹ.
Mặc dù ly dị nhưng ông Khê và bà Sương vẫn thường liên lạc với nhau như hai người bạn. Khi ông chính thức về sống tại VN (năm 2006), mỗi tháng hai người vẫn thường gặp nhau hoặc tại nhà của bà ở số 8 Trúc Đường (Q.2, TP.HCM) hoặc ở nhà của ông Khê (32 Huỳnh Đình Hai, Q.Bình Thạnh, TP.HCM).
Lần gặp nhau sau cùng giữa hai người là dịp GS-TS Trần Quang Hải về VN, ghé thăm gia đình (tháng 5.2014). Họ đã trao cho nhau một nụ hôn sau 55 năm ly dị.
Bà Sương từ giã cõi trần tại tư gia ngày 20.7.2014, thọ 94 tuổi.

Hà Đình Nguyên

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/nguoi-lam-rang-ro-am-nhac-viet-ky-8-chiec-bong-ben-doi-nguoi-nhac-si-tai-hoa-575233.html

>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 7: Không mặc áo dài thì không biểu diễn
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 6: Đem hồn dân tộc ra thế giới
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 5: 50 năm ‘chim Việt nhớ cành nam’
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 4: Ước nguyện cuối đời
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 3: Bản di nguyện
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 2: Ước nguyện của GS-TS Trần Văn Khê
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt: Sinh ra từ nôi ngũ cung

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 7: Không mặc áo dài thì không biểu diễn


Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 7: Không mặc áo dài thì không biểu diễn

17/06/2015 06:1

Tuy sống ở châu Âu hơn nửa thế kỷ, vận âu phục đã là thói quen nhưng mỗi lần biểu diễn âm nhạc truyền thống VN trước công chúng châu Âu, GS-TS Trần Văn Khê lại trịnh trọng mặc áo dài, đội khăn đóng.

Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt - Kỳ 7: Không mặc áo dài thì không biểu diễn - ảnh 1GS Trần Văn Khê mặc áo dài khăn đóng trình diễn nhạc cổ truyền – Ảnh: tư liệu gia đình
Phong kiến là tại cái đầu của mình
GS-TS Trần Văn Khê kể: “Tháng 10.1977, tôi đến Bratislava (Tiệp Khắc) dự hội nghị của Hội đồng quốc tế âm nhạc thuộc UNESCO, có cả anh Lưu Hữu Phước đại diện cho VN tham dự. Tôi được mời trình bày âm nhạc VN. Như thường lệ, tôi mặc áo dài khăn đóng. Anh Lưu Hữu Phước nói nhỏ: “Khê ơi, ở mấy nước tư bản muốn bận sao cũng được chứ ở đây Khê bận như vậy, người ta nói mình phong kiến”. Tôi trả lời nhẹ nhàng: Phong kiến là tại cái đầu của mình chứ không phải tại bộ đồ. Khi nghệ sĩ biểu diễn mặc trang phục áo dài khăn đóng trang trọng, tự nhiên người nghe cũng cảm nhận được tiếng đờn hay hơn. Anh Phước có lý khi nhắc nhở tôi. Tuy nhiên tôi vẫn giữ quan điểm của mình: Hễ nơi nào không cho tôi mặc áo dài khăn đóng là tôi không đờn! Năm 1978, ở Buôn Ma Thuột có tổ chức Đại hội Âm nhạc dân tộc ít người, anh Lưu Hữu Phước mời tôi tham dự. Tôi gặp tất cả các đoàn ca múa dân tộc M’nông,
Ê Đê, Gia Rai… Một hôm, vài người trong đoàn ca múa nói với tôi: “Bảo tao mặc quần thì tao đờn không có hay. Phải mặc khố đánh đờn mới hay!”. Tôi nói anh Phước phải tôn trọng tập tục của người ta, nhất là khi biểu diễn. Anh Phước tán thành. Quả nhiên khi các nhạc công đóng khố trên sân khấu, họ đã biểu diễn rất hay”.
Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt - Kỳ 7: Không mặc áo dài thì không biểu diễn - ảnh 2GS Khê và con gái Thủy Ngọc giới thiệu nhạc VN tại Đại học Sorbonne (Pháp) năm 1968
Bất chấp tất cả những lời phê bình
 
 
Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt - Kỳ 7: Không mặc áo dài thì không biểu diễn - ảnh 3
Anh Phước có lý khi nhắc nhở tôi.
Tuy nhiên tôi vẫn giữ quan điểm của mình: Hễ nơi nào không cho tôi mặc áo dài khăn đóng là tôi không đờn!
Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt - Kỳ 7: Không mặc áo dài thì không biểu diễn - ảnh 4
 
GS-TS Trần Văn Khê
 

Nói về bộ quốc phục truyền thống VN, GS-TS Trần Văn Khê kể tiếp: “Năm 1949, khi mới rời VN qua Pháp, mỗi khi giới thiệu một chương trình âm nhạc truyền thống VN, tôi đều mặc áo dài khăn đóng. Chỉ trừ khi đi đờn ở một hiệu ăn để kiếm tiền theo đuổi việc học thì tôi không mặc quốc phục. Bởi với tôi, lúc này đờn chỉ là mua vui cho thiên hạ. Thuở ấy đa số người VN muốn bỏ hình ảnh của người Việt thời thuộc địa, thấy tôi mặc áo dài, trăm người chỉ có một, hai người tán thành, còn lại thì phản đối… Tôi bất chấp tất cả những lời phê bình trong và ngoài nước, vẫn mặc áo dài khăn đóng mỗi khi biểu diễn nhạc dân tộc. Những lúc tôi biểu diễn cùng các con trai, con gái của tôi thì các con tôi cũng phải mặc quốc phục. Tháng 6.1958 tại thính đường của UNESCO, ban tổ chức giới thiệu nhạc cổ điển Đông – Tây. Trong chương trình có nhạc sư Yehudi Menuhin đờn violon những bài Sonate của J.S Bach, ông mặc lễ phục phương Tây, thắt nơ trắng. Nhạc sư Ấn Độ Ravi Shankar mặc lễ phục Ấn Độ, chơi đờn sitar. Nhạc sư Nhật Bản Yuize Shinichi mặc kimono đen. Hai nhạc sư Ba Tư là Ebadi đờn setar và Malec đờn santour đều mặc lễ phục Ba Tư. Còn tôi được mời biểu diễn âm nhạc truyền thống VN. Nếu tôi không mặc áo dài khăn đóng, bạn có thể tưởng tượng tôi sẽ xấu hổ tới đâu không?”.

Năm 1979, GS-TS Trần Văn Khê được Trường đại học Perth (Úc) mời thuyết giảng trong suốt 3 tuần về âm nhạc truyền thống VN. Trưởng ban tổ chức là Sir Franck Callaway đề nghị: “Buổi trình diễn đầu tiên sẽ có ban giám hiệu, toàn thể giáo sư và sinh viên của trường đến nghe. Tôi nghĩ, nếu giáo sư mặc quốc phục thì buổi diễn sẽ thêm phần long trọng”. Ông Trần Văn Khê trả lời: “Người Việt chúng tôi có câu Nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục. Tôi đến đây mà ban tổ chức ước ao tôi mặc áo dài khăn đóng, tôi sẽ rất vui thực hiện lời ước đó”. Đúng ngày, cả đại giảng đường im phăng phắc khi Giáo sư Franck Callaway trịnh trọng giới thiệu: “GS-TS Trần Văn Khê thuyết trình về âm nhạc truyền thống VN”. Ông Khê từ hậu trường bước lên sân khấu trong trang phục áo dài khăn đóng, cúi chào cử tọa và sinh viên trong tiếng vỗ tay vang dội… Sau buổi giảng (minh họa bằng đàn kìm, đàn tranh), các giáo sư người Úc đã đến chia vui với GS-TS Trần Văn Khê, họ khen ngợi ông biểu diễn rất hay, trang phục rất “đậm đà bản sắc dân tộc”. Đặc biệt, có 4 người Việt đã đến siết tay GS Khê mà nói: “Thấy một người VN xuất hiện trên sân khấu trong trang phục áo dài khăn đóng, chúng tôi không cầm được nước mắt”.

Hà Đình Nguyên

>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 6: Đem hồn dân tộc ra thế giới
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 5: 50 năm ‘chim Việt nhớ cành nam’
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 4: Ước nguyện cuối đời
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 3: Bản di nguyện
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 2: Ước nguyện của GS-TS Trần Văn Khê
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt: Sinh ra từ nôi ngũ cung

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 6: Đem hồn dân tộc ra thế giới


Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 6: Đem hồn dân tộc ra thế giới

VN hiện đã có 7 loại hình nghệ thuật và 2 loại hình tín ngưỡng dân gian được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. GS-TS Trần Văn Khê đã có công rất lớn trong việc “lên non xuống biển – đãi cát tìm vàng” để có được sự công nhận này.

Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt - Kỳ 6: Đem hồn dân tộc ra thế giới 1Các bà Quách Thị Hồ và Nguyễn Thị Phúc – Ảnh: T.L
Góp phần làm hồi sinh ca trù
Năm 1976, khi đất nước vừa mới thống nhất, GS-TS Trần Văn Khê đã vội về nước theo yêu cầu của Tổ chức UNESCO để ghi âm một loạt những loại hình nghệ thuật ở miền Bắc (quan họ, chèo, ca trù…) mà trước đây cơ quan này chưa bao giờ được biết tới.
Ở Hà Nội, với sự giúp đỡ nhiệt tình của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, ông đã tìm gặp các cụ bà vốn là ca nương ngày xưa như bà Quách Thị Hồ và Nguyễn Thị Phúc (mẹ của nữ nghệ sĩ ngâm thơ Trần Thị Tuyết). Các bà rất xúc động khi có dịp hát lại những bài ca trù xưa như Hồng Hồng Tuyết Tuyết (từ năm 1954 đến 1975 loại hình ca trù, tức “hát ả đào”, “hát cô đầu” không được phép hoạt động tại miền Bắc). Ông đã khen tiếng hát của bà Quách Thị Hồ là tuyệt vời, nhả chữ đổ hột rất nhuyễn, tiếng phách giòn tan… Ở Bắc Ninh, ông Khê ghi âm đêm hát quan họ giữa hai làng kết nghĩa Thị Cầu và Đắc Xá. Ông cũng lặn lội gặp gỡ các đoàn chèo… Không chỉ hoạt động ghi âm ở miền Bắc, ông còn gặp gỡ những nhân vật kỳ cựu của hát bội miền Nam như bà Năm Đồ, cô Ba Út, nghệ sĩ Thành Tôn…
Chuyến về nước này, ông Trần Văn Khê đã ghi âm tổng cộng 50 cuộn băng cassette (loại 90 phút) nộp cho UNESCO. Cơ quan này chia thành 2 đĩa. Một đĩa gồm một mặt là quan họ, mặt kia là ca trù, đĩa còn lại là hát chèo. UNESCO in 2 đĩa này thành 400 bản gửi đi khắp thế giới (trong đó có các trường đại học ở Mỹ và các cơ quan văn hóa lớn của Pháp). Cũng từ đó, ca trù được hồi sinh tại VN.
Năm 1983, tại Liên hoan Âm nhạc quốc tế Bình Nhưỡng (CHDCND Triều Tiên), 1 trong 9 tiết mục xuất sắc nhất liên hoan chính là tiếng hát của cụ Quách Thị Hồ qua tiếng đàn đáy của anh Đinh Khắc Ban và tiếng trống điểm chầu của cụ Trúc Hiền (qua băng ghi âm), được cả hội nghị tán thưởng nhiệt liệt…
Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt - Kỳ 6: Đem hồn dân tộc ra thế giới 2Hát ca trù tại Ý, GS-TS Trần Văn Khê ngồi giữa Chủ tọa đoàn – Ảnh: T.L
Chuyến đi nhớ đời
Không chỉ về nước sưu tầm để giới thiệu nhạc truyền thống VN với thế giới, Trần Văn Khê còn là tác nhân chính để liên kết, làm cầu nối và cổ xúy, khích lệ các nhóm âm nhạc dân tộc VN ở hải ngoại (Pháp, Bỉ, Mỹ, Canada, Úc, Hà Lan, Đức…).
Năm 2006, trong khuôn khổ của Liên hoan Quốc tế nhạc giao hưởng và nhạc jazz tại Torino (Ý) có chương trình Một cái nhìn về châu Á (mỗi năm liên hoan này mời 1 nước châu Á tham dự), đoàn VN được mời và GS-TS Trần Văn Khê là cố vấn cho ban tổ chức. Ông nói: “Lúc đầu người ta cứ nghĩ chỉ có nhạc cung đình và rối nước là đặc trưng của VN. Tôi đã góp ý nên có thêm chèo, ca trù (miền Bắc), cồng chiêng Tây nguyên, đờn ca tài tử và nhạc lễ (miền Nam). Ban tổ chức đã rất bối rối vì sợ không đủ kinh phí để mời bằng ấy đoàn, nhưng tôi đã thuyết phục là sẽ cố gắng tìm được những nghệ sĩ “đa năng”. Phía bắc có gia đình cụ Nguyễn Văn Mùi, cụ vừa cầm chầu (ca trù) lại vừa đánh trống đại cổ (chèo) và phụ họa cho chầu văn. Con gái cụ Mùi là Thúy Hòa là một ca nương rất giỏi mà vẫn khiêm mình làm cô hầu giá (ngồi quạt trong chầu văn), 2 con trai cụ Mùi là Nguyễn Văn Khuê đánh đàn đáy (ca trù) và Nguyễn Văn Tiến đánh đàn nguyệt (chầu văn). Ở phía nam chỉ có 7 người (nòng cốt là nghệ nhân Nhứt Dũng và 2 thạc sĩ âm nhạc Huỳnh Khải và Hải Phượng). Trước các buổi diễn, tôi giới thiệu bằng tiếng Pháp với cử tọa và khán giả. Ông Tổng lãnh sự Ý tại TP.HCM Caro Anzon dịch sang tiếng Ý (ông này đã ở VN 14 năm, nói tiếng Việt rất giỏi và có vợ người Việt). Riêng phần cồng chiêng Tây nguyên, do tôi không nắm rõ nên người giới thiệu là GS Tô Ngọc Thanh… Các bậc thức giả quốc tế ai cũng bày tỏ sự vui mừng, khâm phục và cám ơn VN về chất lượng của chương trình. Riêng tôi, ba bốn chục năm đi khắp thế giới giới thiệu về âm nhạc VN nhưng chỉ toàn “đơn thân, độc mã”, lần này tôi có một đoàn nghệ nhân bên cạnh và ai cũng hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Đây là chuyến đi nhớ đời nhất khi đã vào cuối đời, đó là trời đất thương!”.
Ngoài đóng góp cho sự hồi sinh ca trù, với sự vận động của GS-TS Trần Văn Khê, chính phủ Nhật đã tài trợ trong việc phục hưng Nhã nhạc VN và đã được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (tháng 11.2003). Từ bệ phóng này, qua sự giới thiệu không mệt mỏi của GS-TS Trần Văn Khê (trực tiếp và gián tiếp), UNESCO đã dần dần công nhận những loại hình nghệ thuật sau đây là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên (2005), Dân ca quan họ (2009), Ca trù (2009), Hát xoan (2011), Đờn ca tài tử Nam bộ (2013), Dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh (2014).

Hà Đình Nguyên

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/nguoi-lam-rang-ro-am-nhac-viet-ky-6-dem-hon-dan-toc-ra-the-gioi-574454.html

>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 5: 50 năm ‘chim Việt nhớ cành nam’
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 4: Ước nguyện cuối đời
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 3: Bản di nguyện
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt – Kỳ 2: Ước nguyện của GS-TS Trần Văn Khê
>> Người làm rạng rỡ âm nhạc Việt: Sinh ra từ nôi ngũ cung