VÂN TRƯỜNG : Mỹ Tho – Tiếng đờn câu hát trăm năm – Kỳ 1: Ban nhạc tài tử Mỹ Tho đi Tây


Mỹ Tho – Tiếng đờn câu hát trăm năm – Kỳ 1:

Ban nhạc tài tử Mỹ Tho đi Tây

05/03/2014 10:35 (GMT + 7)
 
 
TT – Theo GS.TS Trần Văn Khê, cải lương được sinh ra từ ca ra bộ, mà ca ra bộ được hình thành từ nghệ thuật đờn ca tài tử. Có một câu chuyện thú vị là ca ra bộ chỉ ra đời sau khi ban nhạc tài tử đầu tiên của VN được mời sang Pháp biểu diễn cách đây hơn 100 năm.

Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) được xem là nơi khai sinh nghệ thuật cải lương. Ngày 15-3-1918, tức cách đây tròn 96 năm, vở cải lương đầu tiên đã trình làng. Và cũng ở vùng đất cây lành trái ngọt đã sinh ra rất nhiều nghệ sĩ tài danh cho sân khấu cải lương. Tìm về quá khứ, chúng tôi phát hiện thêm nhiều câu chuyện thú vị mà có lẽ chưa nhiều người biết.

 

Ban nhạc tài tử Tư Triều tại Marseille năm 1906 – Ảnh: tư liệu

 

Bước ngoặt Marseille

Những năm đầu thập niên 1900 ở Mỹ Tho có ban nhạc tài tử của ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) rất nổi tiếng khắp Nam kỳ lục tỉnh. Tiếng đờn kìm Tư Triều càng ngày càng hay. Ông Diệp Văn Cương – một trí thức có tiếng thời ấy – đã dùng những mỹ từ để nói về Tư Triều: “Sau khi tôi nghe Tư Triều đờn kìm và tiếng đờn tì bà của ông Năm Diệm thì tôi không muốn nghe bất kỳ tiếng đờn của ai khác”. Ông Pierre Châu Văn Tú (còn gọi là thầy Năm Tú) là chủ rạp chiếu bóng ở Mỹ Tho mời ban nhạc của ông Tư Triều cộng tác, đờn ca tài tử trước khi chiếu phim nhằm mục đích câu khách. Cũng vì sự nổi tiếng này mà ban nhạc tài tử của ông Tư Triều được mời đi Pháp biểu diễn.

Trong quá trình tìm hiểu về sự kiện này, chúng tôi đã tiếp cận khá nhiều tư liệu. Phần lớn đều viết ban nhạc tài tử của ông Tư Triều đi Pháp năm 1910 hoặc 1911. Còn điểm đến ở Pháp là thủ đô Paris. Với những tư liệu chúng tôi có được, những chi tiết đó không chính xác.

Tại hội thảo về cải lương tổ chức ở Tiền Giang ngày 18-1, TS Mai Mỹ Duyên cũng khẳng định các tư liệu hình ảnh mới tìm thấy đã “đính chính” thời điểm ban nhạc tài tử của ông Tư Triều sang Pháp: năm 1906. Ban nhạc này biểu diễn tại hội chợ đấu xảo cho các nước thuộc địa tổ chức ở TP cảng Marseille từ ngày 15-4 đến 15-11-1906. Hình ảnh chụp gần 100 năm nhưng vẫn rất rõ nét cho thấy ban nhạc đứng bên căn nhà gỗ được mang từ VN sang Pháp lắp đặt.

Ban nhạc có 16 người gồm một người phụ trách, tám tài tử nam, năm tài tử nữ và hai em nhỏ. Nhạc cụ gồm bảy đờn tranh, một đờn kìm, một đờn đoản, một đờn cò, một đờn bầu, một đờn tì bà, một đờn tam, một thanh la và một trống cái. Ban nhạc tài tử của ông Tư Triều đi Pháp biểu diễn với các nhạc sĩ chính gồm: Tư Triều đờn kìm, Chín Hoán đờn độc huyền, Bảy Võ đờn cò, cô Hai Nhiễu (con ông Tư Triều) đờn tranh, còn cô Ba Đắc là tài tử ca. Điểm đặc biệt của ban nhạc tài tử Tư Triều trong thời gian ở Pháp là được nhà tổ chức đưa lên sân khấu biểu diễn cho khán giả xem chứ không phải ngồi dưới sân khấu đờn hát cho khán giả nghe như ở VN.

Khi về nước, ông Tư Triều kể lại sự việc ban nhạc của ông được người Pháp cho xuất hiện trước công chúng một cách rất trịnh trọng và được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt. Thầy Năm Tú thấy có thể áp dụng cách này được bèn đưa hẳn ban nhạc đờn ca tài tử lên sân khấu của rạp chiếu bóng của mình trình diễn. Cái màn bạc dùng làm phông, giữa sân khấu có lót một bộ ván. Đến lượt ai ca thì người đó đứng trên bộ ván, trình diễn một bài ca và có ra điệu bộ để minh họa. Vì có thêm yếu tố diễn xuất nên các bài ca thu hút thêm người xem hơn trước. Hồi ký của cụ Vương Hồng Sển xác nhận việc này như sau: “Trước năm 1915, chưa có tỉnh nào dám đưa đờn ca lên diễn trên sân khấu công khai. Tỉnh khởi đầu việc này có lẽ là tỉnh Mỹ Tho, vì danh tiếng không thua Sài Gòn. Và dàn đờn tài tử ra đờn cho công chúng đi xem hát bóng thưởng thức chờ quay phim, y như giáo đầu tuồng bên hát bội, là dàn đờn của ông Tư Triều ở Mỹ Tho”.

 

Một ban nhạc tài tử ở Mỹ Tho đầu thế kỷ 20 – Ảnh tư liệu

 

Ca ra bộ

Hồi ký 50 năm mê hát của cụ Vương Hồng Sển và quyển Sân khấu VN của học giả Trần Văn Khải đều đề cập chuyện sau khi đi Pháp về, ông Tư Triều có nhận lời mời của ông chủ khách sạn Minh Tân (nằm cạnh ga xe lửa Mỹ Tho, bây giờ là khu vực công viên Lạc Hồng, TP Mỹ Tho) và thầy Năm Hộ (chủ rạp chiếu bóng Casino ở Mỹ Tho) đưa ban nhạc tài tử đến biểu diễn hằng tuần. Ở khách sạn Minh Tân diễn cho khách thưởng thức, còn ở rạp Casino diễn trước khi chiếu phim.

Học giả Trần Văn Khải kể về thời kỳ đầu của đờn ca tài tử được đưa lên sâu khấu từ “hiệu ứng Marseille” thế này: “Lúc bấy giờ, lối năm 1912, chúng tôi tòng học tại tỉnh Mỹ Tho, có đến xem. Cách chưng dọn sân khấu còn đơn sơ. Cái màn bạc dùng làm tấm phông, kế đó có lót một bộ ván, trước bộ ván để một cái bàn chưn cheo. Hai bên sân khấu có để cây kiểng xem rậm đám và khán giả có cảm giác đứng trước một cái phòng khách hạng trung lưu. Các tài tử đều ngồi trên bộ ván và mặc quốc phục xem nghiêm trang”. Tuy nhiên với ban nhạc tài tử của ông Tư Triều thì khác.

Cô Ba Đắc ca bài Tứ đại oán nhan đề Bùi Kiệm-Nguyệt Nga một mình cô diễn xuất vai của ba nhân vật: Bùi Kiệm, Bùi Ông và Nguyệt Nga rất duyên dáng: “Kiệm từ khi thi rớt trở về/ Bùi Ông mắng nhiếc nhún trề/ Cũng tại mầy ham bề vui chơi/ Kiệm thưa: Tài bất thắng thời/ Con dễ nào không lo bề công danh/ Tuổi con còn xuân xanh/ Ơn cha mẹ chưa đền/ Bùi Ông nghe/ Tiếng nỉ non vuốt ve khuyên Kiệm/ Thôi con ở nhà, đặng khuya sớm với cha”. TS Mai Mỹ Duyên cho rằng ban nhạc tài tử của ông Tư Triều đi Pháp biểu diễn đã học hỏi được phong cách trình diễn âm nhạc mới mẻ, tiến bộ của các nước trên thế giới. Khi về VN, ban nhạc này áp dụng theo nên đã làm thay đổi phong cách biểu diễn, với cách thức trình diễn gần gũi với công chúng hơn.

Thời ấy người ở các tỉnh miền Tây như Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Thơ, Bạc Liêu, Rạch Giá… muốn đi Sài Gòn đều phải ghé ga xe lửa Mỹ Tho nghỉ một đêm rồi sáng hôm sau đi xe lửa lên Sài Gòn. Trong số du khách ấy có ông Tống Hữu Định (còn gọi là Phó Mười Hai) ở Vĩnh Long, là người rất hâm mộ cầm ca. Khi ghé Mỹ Tho nghỉ chân, ông đi xem hát và được nghe cô Ba Đắc ca bài Tứ đại oán nói trên. Lúc này cô không ngồi chung dàn nhạc ca như trước mà đứng riêng. Sau khi trở về Vĩnh Long, ông Tống Hữu Định nảy ra ý tưởng cho các tài tử ca ở nhà mình đứng trên bộ ván ca và có ra điệu bộ minh họa. Thay vì một tài tử ca đóng vai ba nhân vật Bùi Ông, Bùi Kiệm, Nguyệt Nga trong lớp Tứ đại oán Bùi Kiệm-Nguyệt Nga như ban nhạc tài tử của ông Tư Triều làm ở Mỹ Tho, ông Tống Hữu Định phân vai cho mỗi người ca và diễn xuất một nhân vật. Điệu ca ra bộ phát sinh từ đó, khoảng năm 1915-1916.

Bài Tứ đại oán Bùi Kiệm-Nguyệt Nga là tác phẩm ca ra bộ đầu tiên của ông Trương Duy Toản. Nó khơi nguồn cho các soạn giả đặt những bài ca có đối đáp – một yếu tố cho điệu cải lương sau này. Ông Trương Duy Toản có bút danh là Mạnh Tử (1885-1957), từng bôn ba ở nước Pháp, là cây bút tài hoa về văn chương, báo chí, về sau là tác giả của những vở cải lương đầu tiên như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên, Trang Châu mộng hồ điệp, Lưu Yến Ngọc cứu cha. Từ lớp Tứ đại oán ca ra bộ mà một số nơi đã thử nghiệm, ông Toản phát triển thêm bài bản và lời ca đối đáp cho từng nhân vật.

Năm 1916 Lê Văn Thận (André Thận, chủ hãng tàu người Sa Đéc) đã thành lập gánh xiếc và ca nhạc Tân Nam Việt (Cirque Jeune Annam) chính thức trưng biển quảng cáo ca ra bộ như sau: “Gánh hát Thầy Thận. Ca ra bộ. Các diễn viên của gánh gồm có Bảy Thông, Tám Cang, Tư Hương, Hai Cúc, Năm Thoàng, Hai Biểu, Ba Vui ca toàn những bài lớn như sáu bài Bắc: Lưu thủy, Phú lục, Bình bán, Xuân tình, Tây Thi, Cổ bản và ba bài Nam: Đảo ngũ cung, Nam xuân, Nam ai”. Hình thức ca ra bộ dần đạt đến đỉnh cao, nhiều người ca diễn gọi là hát chập. Đây mới là tiết mục sân khấu, là sự thai nghén chuẩn bị cho sự ra đời của sân khấu cải lương.

VÂN TRƯỜNG

___________

Kỳ tới: Rạp thầy Năm Tú và vở diễn đầu tiên

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/596463/ban-nhac-tai-tu-my-tho-di-tay.html

NGUỒN GỐC “CA RA BỘ”


3. Văn hóa tinh thầnĐặc điểm của người dân Nam Bộ, trong đó có miền Tây là yêu nước nồng nàn, bất khuất, chống áp bức, bất công, trọng nghĩa, khinh tài, khẳng khái, khoáng đạt, thủy chung, yêu chuộng cái mới. Nhà Bác học Lê Quý Đôn còn cho rằng: Cởi mở, bộc trực, chân thật, dễ tin người, hào hiệp và mến khách, năng động và dám làm ăn lớn(1).

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí cũng viết: Người Nam Bộ, thói thường, chuộng khí tiết, trọng nghĩa, khinh tài, sĩ phu ham đọc sách. Thường lấy việc mình lí làm đầu, nhưng vụng về lời văn. Nông dân siêng năng, khi khởi công gieo cấy, sau lại ít hay bòn xới gì, cứ để tùy theo Trời mà mùa được hoặc mất. Bá công kĩ nghệ còn thô sơ, đồ dùng thì mộc mạc mà bền. Khách buôn bán lớn đều từ ngoài đến, người địa phương chỉ buôn bán nhỏ, chuyển từ chỗ nhiều đến chỗ ít, giúp vào cuộc sống hằng ngày mà thôi. Đất nhiều sông rạch, ai cũng biết bơi lội. Người đủ 4 phương, mỗi nhà có tập tục riêng(1).

Tình cảm, tâm lí của con người ở đồng bằng sông Cửu Long thường diễn ra hằng ngày, trên mọi mặt hoạt động của xã hội. Đó là:

– Tình cảm kết bạn xóm làng với nhau, thân thiết như người nhà, không phân biết từ đâu đến hay dân tộc nào, chỉ biết sống gần nhau, sớm tối có nhau.

– Tâm lí quý khách, trọng tình nghĩa, trọng học vấn, đùm bọc người cùng địa phương là một nét chung của các dân tộc ở đây.

– Cung cách ứng xử bộc trực, thẳng thắn, dễ dãi, chí tình và những tác phong nóng nảy, không chịu khuất phục trước đàn áp và bất công, tinh thần xả thân bảo vệ người dân và lẽ phải.

Đó là những đặc trưng tâm lí xã hội chung rõ rét của người dân Tây Nam Bộ, bất luận dân tộc nào.

Tuy nhiên, từng khu vực riêng, với những đặc thù về kinh tế, xã hội, tâm lí, tình cảm cụ thể cũng có những điểm riêng. Nông dân vùng rừng và biển, tuy học vấn còn thấp, nhưng nặng nghĩa tình, hết mình vì bạn bè và người tin cậy, dứt khoát với kẻ thù (thà sống bất hợp pháp, không thích sống hợp pháp với quân thù). Nông dân vùng ruộng cũng giống như vùng rừng, biển “ăn đứng, thua nằm”, quyết sống chết với quân thù. Nông dân vườn, học thức, hiểu biết có khá hơn, sinh hoạt như tiểu tư sản thành thị; trong đấu tranh chống địch, khả năng đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp rất thích hợp.

Văn hóa dân gian

Những truyền thống tốt đẹp đó được giữ vững và phát huy cao, sau khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, biểu hiện nổi nhất trong các cuộc đấu tranh khởi nghĩa chống áp bức, bóc lột trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ.

Những hoạt động văn nghệ ở đây có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển và vui chơi giải trí lành mạnh trong những ngày thường, nhất là các ngày lễ hội. Văn nghệ dân gian đã sớm phát triển, ngay từ lúc người dân đặt chân lên vùng đất mới. Đó là các điệu dân ca đậm đà bàn sắc Nam Bộ, như hò chèo, ghe, hò xay lúa, hò đối đáp… Các điệu lí, nói thơ Lục Vân Tiên. Người Khơme thì đua ghe ngo, đua bò, thả đèn gió…

Ngoài ra, còn có phong trào đờn ca tài tử trong xóm, ấp. Các loại hình sân khẩu như: hát Dù Kê của người Khơme, hát Tiều, hát Quảng của người Hoa, hát Bội của người Việt đều được nhân dân ưa thích.

Trước đây ở Gia Định thành, có gánh hát bội của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Đến năm 1932, sau khi Lê Văn Duyệt mất, tại Bạc Liêu có gánh hát Bội của bầu An (tức Lê Bình An, 1817 – 1887).

Hát Bội Nam Bội đã một thời làm rạng rỡ các bảng hiệu truyền thống Việt Nam, từ gánh hát bầu Lê Văn Duyệt, rồi bầu An, đến sau này bầu Bòn, bầu Thắng… với những vở hát Bội nổi tiếng, như: Sơn Hậu, Kim Thạch Kì duyên (của Bùi Hữu Nghĩa).

Sau đó, cổ nhạc truyền thống Nam Bộ lại bộc phát một loạt bài bản mới sáng tác, như Sáu Bắc, Bảy Bài, rồi Ba Nam và Bốn Oán rất được ưa thích, không chỉ ở Nam Bộ mà phổ biến trong cả nước.

Nhạc sư Lê Tài Khị (tức Nhạc Khị, 1862-1924) là người Bạc Liêu, con ông Lê Bình An (bầu An). Nhạc Khị là bậc thầy, được giới cổ nhạc tôn là Hậu Tổ của nhạc truyền thống Nam Bộ.

Học trò của Nhạc Khị là:

– Cao Văn Lầu (Sáu Lầu), tác giả “Dạ cổ hoài lang”.

– Mộng Vân (soạn giả nhiều bản cải lương nổi tiếng).

Từ những năm 1910, đờn ca tài tử phát triển nhanh thành phong trào rộng khắp Nam Bộ. Thế là từ ca đến hát, dẫn đến phong trào ca ra bộ (đó là bước quá độ từ biểu diễn âm nhạc, chuyển sang biển diễn sân khấu).

Khoảng năm 1914-1915, ca ra bộ Bùi Kiệm – Nguyệt Nga của tác giả Trương Duy Toản, lần đầu tiên xuất hiện tại Phong Điền (Cần Thơ) rất được ưa thích. Sau đó Trương Duy Toản dựng lên vở hát Lục Vân Tiên (vở cải lương đầu tiên trên sân khấu Thầy Năm Tú – Mĩ Tho năm 1971(3)).

Cùng lúc đó, tại Thốt Nốt (nay thuộc thành phố Cần Thơ, từ một nhóm tài tử ở làng Trung Nhất (thị trấn Thốt Nốt) đờn hát rất hay, có năng khiếu biểu diễn (ca ra bộ) được nhiều người mến mộ, như: Trần Ngọc Đảnh, Tư Bền, Song Hỉ… Trong đó có Huỳnh Năng Nhiêu (kép Bảy Nhiêu) là một trong số những ngôi sao cải lương góp phần cùng Ba Vân, Năm Châu, Tư Trang, Phùng Hà… đưa nghệ thuật sân khẩu cải lương từ buổi non trẻ vào thời kì hưng thịnh.

Từ đó, ông Vương Có (trưởng nam của ông Vương Thiệu, chủ hãng rượu) thích văn nghệ, ca hát tài tử, bỏ tiền ra mua sắm y trang, vẽ cảnh trí, mua nhạc cụ, lập đoàn hát cải lương “Tập ích ban”. Vở diễn đầu tiên ra mắt khán giá tại rạp (thị trấn Thốt Nốt) là “Tình duyên phấn lục” (năm 1916). Tiếp theo hai kịch bản “Cô gái gia huê” (Javet) và “Tình duyên trắc trở” của soạn giả kiêm thầy tuồng Nguyễn Trọng Quyền, bút danh Mộc Quán(4).

Những năm tiếp theo các ban hát lớn tiếp tục ra đời như: Trần Đắc (1930), Hữu Thành, Phước Cương… Ban ca kịch Dân Nam và ban Đồng Tâm đều ở Cần Thơ.

Riêng đại ban Trần Đắc của ông Trần Đắc Nghĩa ở Cân Thơ, thu hút hầu hết đào kép có tên tuổi như: Phùng Há, Tư Chơi, Bảy Nhiêu, Năm Châu… nên biểu diễn được khán giả hoan nghênh, đi trình diễn từ Nam chí Bắc(5).

(1) Nguyễn Công Bình – Lê Xuân Diêm – Mạc Đường: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994.
(2) Đại Nam nhất thống chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1969, t.II, tr.73.
(3) Trương Bỉnh Tông: Đôi nét về lịch sử văn học nghệ thuật Tây Nam Bộ, năm 1913.
(4) Soạn giả Mộc Quán (Nguyễn Trọng Quyền), sinh năm 1876, tại Trung Nhất (Thốt Nốt), làm thư kí hãng rượu của ông Vương Thiệu (cha của Vương Cổ) có Tây Học, Hán Học, ông viết truyện và làm thơ.
Ông sáng tác gần 80 kịch bản cải lương cho các đại ban như: Tập ích ban, Huỳnh Kì, Phụng Hỏa, Tân Tân… Phần lớn kịch bản này được thâu vào đĩa hát. Có vở đã trở thành mẫu mực (cổ điển), dùng để dạy ở các trường nghệ thuật Trung ương, như: Phụng Nghi Đình (1939), Những vai mẫu trong Phụng Nghi Đình đã gắn liền tên tuổi các nghệ sĩ lừng danh của sân khấu cải lương gần ngót một thế kỉ qua, như Phùng Há, út Trà Ôn, Bạch Tuyết, Thanh Nga, Ngọc Giàu…
(5) Ngô Hồng Khanh: Văn hóa nghệ thuật tỉnh Cần Thơ (Huỳnh Minh: Cần Thơ xưa và nay, Cánh Bằng, 1966). 

http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=24971.5;wap2