Tag Archives: nguyễn lê tuyên

Release of a new CD : DAWN OF THE MOUNTAIN FOREST – Nguyễn Lê Tuyên & Salil Sachdev, 2015


Bình minh núi rừng

16/01/2015 – 06:03 AM
guihangtar dawn of the mountain forest nguyen le tuyen
Album nhạc sĩ người Úc gốc Việt, phát minh ra kỹ thuật “đồng song âm họa ba ngắt” cho đàn guitar Nguyễn Lê Tuyên, cùng đồng nghiệp của mình, nghệ sĩ trống Hang người Mỹ gốc Ấn Salil Sachdev mới ra mắt album mang tên Bình minh Núi rừng đậm âm hưởng nhạc Việt Nam (ảnh).

10 bản nhạc được hai nghệ sĩ đã sáng tác dựa trên âm hưởng nhạc dân ca Việt Nam và âm thanh cồng chiêng Tây Nguyên, dành cho nhạc cụ gồm đàn ghitar và các bộ gõ cùng trống Hang.

Album này cũng có một số bản nhạc từng được hai nghệ sĩ trình diễn trong hai chuyến lưu diễn gần đây nhất tại TP.HCM, nhưng chưa thu âm.

Ngoài nỗ lực thể hiện tình cảm của người nghệ sĩ trong việc bảo vệ môi trường sống là rừng và động vật hoang dã được chuyển tải trong tác phẩm, nghệ sĩ Lê Tuyên cho biết, đây còn là nỗ lực của ông trong việc quốc tế hóa những tinh hoa âm nhạc Việt, mang những âm hưởng của nhạc Việt đến gần với bạn nghe nhạc thế giới hơn.   

Album được thu âm tại Úc và sử lý hậu kỳ tại Mỹ, hiện phát hành tại Mỹ và Úc. Tuy không phát hành tại Việt Nam, những người yêu thích những bản nhạc của hai nghệ sĩ có thể mua trên Amazon.  

CD available from Guihangtar official website:

http://www.guihangtar.net/#!buy/c2250

guiHANGtar3.indd

Paris 1900, Cleo de merode, Tai Tu, Vietnamese Dance and Music, reconstitution


Published on Dec 11, 2013
A brief look at history being recreated. Indo Chinese dance performed in Paris by Cleo de Merode.

Nguyễn Lê Tuyên (author & researcher)
Hiệp Nguyễn (researcher & scientist)
Huy Moeller (Vietnamese-Danish film director)
Geraldine Balcazar (dancer , choreographer)

Photos:

PHƯƠNG KHANH : Vũ khúc Đông dương – Lãng mạn và éo le của đờn ca tài tử


Vũ khúc Đông dương – Lãng mạn và éo le của đờn ca tài tử

Đăng lúc: Thứ sáu – 22/11/2013 10:26

 
Tôi gặp nhạc sĩ Nguyễn Lê Tuyên khi anh về biểu diễn âm nhạc cách đây hơn một năm. Khi ấy, ý tưởng về một bộ phim về nghệ thuật đờn ca tài tử (ĐCTT) mới chỉ đang manh nha và tư liệu Nguyễn Tống Triều vẫn chưa rõ nét.
 

Sau hơn một năm, cuốn sách “Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương” của anh đã ra đời, dự án Nhà hát Đông dương cùng nội dung bộ phim đã được phác thảo với cái tên “Vũ khúc Đông dương”. Có thể thấy năm qua, toàn bộ tâm huyết cũng như quyết tâm theo đuổi đề tài nghiên cứu của anh trong năm qua.

Nhân duyên một trăm năm trong cuốn sách nghiên cứu lịch sử

Nguyễn Tống Triều, một tài tử đờn kìm và ông bầu ban nhạc ĐCTT đầu tiên được mời sang Pháp biểu diễn. Việc xuất ngoại biểu diễn ngày nay không khó nhưng các nghệ sĩ trước mỗi lần “xuất quân” hẳn vẫn sẽ vô cùng nôn nao, vinh hạnh. Huống chi việc xuất ngoại biểu diễn trăm năm trước. Chắc chắn việc ban nhạc đờn ca tài tử của ông Nguyễn Tống Triều xuất ngoại biểu diễn Pháp là một sự kiến chấn động giới nghệ thuật thời đó. Liệu ông Triều có nghĩ trăm năm sau, sự kiện lớn đến vậy của ông lại làm khó quá trình tìm hiểu của hậu thế đến vậy.

Ai là người quyết định hoặt góp phần đưa ban nhạc Nguyễn Tống Triều sang Pháp biểu diễn? tại sao bức hình buổi biểu diễn của ban nhạc ĐCTT Nguyễn Tống Triều lại có cô vũ công mặc trang phục Khmer? Ban nhạc ĐCTT đã trình diễn bản nhạc nào trong chương trình này? Tất cả được trả lời khá chi tiết trong cuốn sách “Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương” của tác giả Nguyễn Lê Tuyên và Nguyễn Đức Hiệp. Đây là tư liệu quý cho bộ môn nghệ thuật ĐCTT trước dịp chuẩn bị được UNESCO xét duyệt là di sản văn hóa vào tháng 12/2013.

Từ những tư liệu thu thập, nhóm tác giả quyết định tổ chức thực hiện bộ phim về ban nhạc ĐCTT Nguyễn Tống Triều. Bản nhạc được ban nhạc ĐCTT trình bày trong Hội chợ và điệu múa của Cleo De Merode là chi tiết quan trọng của câu chuyện, giúp cho bộ phim phản ảnh giai đoạn lịch sử của ĐCTT một cách sống động nhất.

Nhạc sĩ Nguyên Lê Tuyên chia sẻ: Tuy tôi là người tìm lại được bản ký âm đầu tiên “Vũ khúc Đông Dương” (Danse de Indo-chine) được ban nhạc ĐCTT Nguyễn Tống Triều biểu diễn năm 1906 do nhà nhạc học Julien Tiersot thực hiện năm 1900. Nhưng người có công lớn giúp phục dựng bản nhạc này lại là nhờ nhà nghiên cứu Bùi Trong Hiền giúp chuyển bản ký âm ra chữ Đàn.

Tư liệu thú vị trong sách, cũng như sẽ trong phim, là vũ công múa minh họa cho ban nhạc khi đó là Cleo De Merode, một nữ nghệ sĩ múa nổi tiếng về tài năng cũng như “scan-dan mù trời” của thời đó. Nghệ sĩ Trác Thúy Miêu là người tái hiện lại vũ khúc Đông dương lịch sử của Cleo De Merode năm xưa. Lạ một điều, ngày sinh của nghệ sĩ Cleo De Merode và Trác Thúy Miêu lại cách nhau đúng 1 trăm lẻ một ngày.


Nghệ sĩ múa Trác Thúy Miêu đang biểu diễn lại Vũ điệu Đông dương

NS Trách Thúy Miêu chia sẻ: Trong khi Ban nhạc ĐCTT Nam bộ đã phục dựng Vũ điệu Đông dương trung thành tuyệt đối thì biên đạo múa và tôi lại quyết định không thể hiện chính xác từ điệu múa cho đến phục trang của Cleo De Merode. Theo quan điểm cá nhân của mình, với tư cách một nghệ sĩ múa, tôi cho rằng khi một di sản văn hóa được đối xử như một tài sản văn hóa thì ta tiếp tục phát triển nó, tiếp tục tạo nên những dị bản là cách duy nhất để di sản văn hóa giữ nguyên sức sống, không bị xếp vào bảo tàng.

Lãng mạn và éo le của Vũ khúc Đông dương

Nhà nghiên cứu Nguyễn Lê Tuyên chia sẻ: Sách “Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương” là tư liệu lịch sử những năm cuối thể kỷ 19 đầu thế kỷ 20 của nghệ thuật hát bội, đờn ca tải tử và cải lương mà chúng tôi tìm được từ các tư liệu lưu trữ tại các thư viên của Pháp… Còn Vũ khúc Đông dương giới thiệu nghệ thuật ĐCTT dựa trên tư liệu nhưng sẽ là câu chuyện lãng mạn và éo le từ câu chuyện xuất ngoại của ban nhạc Nguyễn Tống Triều. Kịch bản phim dựa trên sự kiện lịch sử âm nhạc có thật ở Mỹ Tho – miền Nam Việt Nam những năm 1900. Phim xoay quanh cuộc đời của tài tử Nguyễn Tống Triều. Tiếng đàn của ông làm lay động trái tim rất nhiều người, từ đó ban nhạc ông lập được mời qua Pháp tham dự Hội chợ Thuộc địa năm 1906 ở Marseille.


Nhóm dự án Nhà hát Đông dương và ban nhạc ĐCTT Nam bộ

Dự án được thực hiện bởi nhóm gồm: nhà nghiên cứu Nguyễn Lê Tuyên (Đại học Quốc gia Úc), nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp (Úc), GS. Yves Defrance (Đại học Rennes, Pháp), nhà văn – biên kịch Ngô Thị Hạnh (Phương Nam Corp – VN), đạo diễn Huy Moeller (Trường Điện ảnh quốc tế Sài Gòn)

Biên kịch Ngô Thị Hạnh chia sẻ: Những nghiên cứu của nhạc sĩ Lê Tuyên và Nguyễn Đức Hiệp về Đờn ca tài tử là từ ngoài nhìn vào, những quan điểm của nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu nước ngoài đánh giá về đời sống đờn ca tài tử cuối thế kỉ 19 – đầu thế kỉ 20. Với tư cách là một nhà văn, nhà biên kịch sống ở miền Nam, yêu và tìm hiểu về đời sống nội tại của Đờn ca tài tử tại bản địa, tôi sẽ đóng góp về mặt đời sống tinh thần của người dân An Nam trong giai đoạn Pháp thuộc đó thông qua chân dung tài tử Nguyễn Tống Triều – Một tài tử đờn giỏi đờn kìm sống trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ – nơi Mỹ Tho – trung tâm giao thương giữa Sài Gòn Gia định xưa và các tỉnh miền Tây.

 
Tác giả bài viết: PHƯƠNG KHANH
Nguồn tin: http://nongnghiep.vn

HIỀN HOÀ : Đờn ca tài tử Nam bộ: một thế kỷ nội địa hoá và phổ thông hoá – cuốn Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20


Ngày 20.09.2013, 07:39 (GMT+7)
 

Đờn ca tài tử Nam bộ: một thế kỷ nội địa hoá và phổ thông hoá

SGTT.VN – Ngày 27.9, cuốn Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 (Phương Nam Book & NXB Văn Hoá – Văn Nghệ TP.HCM, 2013) của Nguyễn Lê Tuyên – Nguyễn Đức Hiệp sẽ được phát hành.

Lấy ngày sinh của nữ nghệ sĩ balê Cléo de Mérode (27.9.1875 – 17.10.1966) làm cột mốc phát hành sách về nghệ thuật bản địa Việt tất phải có duyên cớ đặc biệt. Bởi nhờ điệu múa của nữ minh tinh này tại hội chợ thế giới Paris năm 1900 mà đờn ca tài tử Nam bộ mở được đường ra quốc tế từ rất sớm.

 

 

Đờn ca tài tử là đứa con nội sinh của văn hoá Nam bộ nửa cuối thế kỷ 19, được cho là kết quả cuộc hôn phối giữa nhã nhạc – nhạc tài tử cung Huế với âm nhạc dân gian – dân ca Trung bộ, Nam bộ.

Nếu nhã nhạc – nhạc tài tử cung Huế chuộng tính hàn lâm, thính phòng, với chủ đề thanh lịch, trang nghiêm, bay bướm… thì đờn ca tài tử Nam bộ lại chuộng yếu tố bình dân, trần trụi, đại chúng, với chủ đề thiên về nỗi lòng, sự giãi bày và tình cảm đời thường. Chơi đờn ca tài tử có thể ba, bốn, năm nhạc công, mà ít hơn hay nhiều hơn cũng chả sao; nhạc công có thể cởi trần, ngồi bờ ruộng, gốc cây và say sưa tuý luý! Ban đầu chỉ có đờn, thường song tấu, tam tấu và cả hoà tấu nhóm, sau kết hợp thêm ca nên gọi là “đờn ca”. Còn “tài tử” là từ chỉ những người có tài riêng, mà thường là về biểu diễn cổ nhạc, về văn hoá văn nghệ.

Các định nghĩa trong vài từ điển gần cùng thời như Đại Nam quấc âm tự vị (in năm 1895 và 1896) của Huình Tịnh Paulus Của, Hán – Việt từ điển giản yếu (thập niên 1930) của Đào Duy Anh, Việt Nam tự điển của hội Khai trí Tiến đức… đều định nghĩa xoay quanh “người có tài”. Trước đó, Nguyễn Du cũng viết “dập dìu tài tử giai nhân”, Nguyễn Công Trứ thì “tài tử với giai nhân tế ngộ nan”…

Nửa cuối thế kỷ 19, Nam bộ vẫn đất rộng người thưa, giang hồ tứ xứ đến đây gác kiếm làm ăn, nên âm nhạc cũng phải thoải mái, dễ dàng, bài bản cứng nhắc quá e không hợp. Hơn nữa, trong hành trình về phương Nam, bên cạnh việc mở đất và chung sống, đây cũng là cuộc chung đụng về văn hoá, tâm linh và cả tự tình, triết lý. Có vài sử liệu cho rằng đờn ca tài tử do các nhạc sư gốc Trung kỳ sáng tạo nên hồi cuối thế kỷ 19, với mục đích chơi cho hợp bối cảnh sống mới. Họ gồm Nguyễn Quang Đại (tức Ba Đợi, một quan về âm nhạc của triều Nguyễn), Lê Tài Khị (tức Nhạc Khị) và Trần Quang Quờn (tức thầy ký Quờn).

Theo GS.TS Trần Văn Khê, đờn ca tài tử Nam bộ đã được giới thiệu với UNESCO từ những năm đầu thập niên 1960. Chính UNESCO Collection đã phát hành đĩa nhạc theo thể loại đờn ca tài tử Nam bộ, gồm 11 bài, với tựa Viet Nam – Traditions of the South… Cuốn sách Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cũng đã chỉ ra cho thấy loại hình âm nhạc đại chúng này đã thu hút người Pháp từ đầu thế kỷ 20. Ngay tại hội chợ thế giới Paris năm 1900, lúc tài tử Nguyễn Tống Triều cùng ban nhạc tài tử được mời sang biểu diễn và hoà tấu cho Cléo de Mérode múa, nhà nhạc học Julien Tiersot đã ký âm Vũ khúc Đông Dương – được xem là bản ký âm đầu tiên của đờn ca tài tử trên năm dòng kẻ theo kỹ thuật thanh nhạc Tây phương. Chính sự kiện này đã thu hút vài nhà soạn nhạc lớn, ví dụ Claude Debussy (1862 – 1918), người có nhiều tác phẩm chịu ảnh hưởng bởi hát bội, đờn ca tài tử.

Nếu mọi việc suôn sẻ, đầu tháng 12 tới UNESCO sẽ công nhận đờn ca tài tử là di sản văn hoá phi vật thể nhân loại. Vậy là sau hơn một thế kỷ nội sinh và phát triển, chính việc phổ thông hoá nhạc bác học, hàn lâm mà đờn ca tài tử phổ biến rộng rãi trong đời sống bình dân của người Nam bộ.

HIỀN HOÀ

 

Bạn đọc có quan tâm đến cuốn sách và đờn ca tài tử, vào lúc 10 giờ 30 ngày 27.9 đến Càphê Thứ Bảy (19B Phạm Ngọc Thạch, Q.3, TP.HCM) để giao lưu với nhà nghiên cứu Nguyễn Lê Tuyên về cuốn Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Buổi giao lưu cũng sẽ phục hiện bản ký âm Vũ khúc Đông Dương qua sự trình tấu của sáu tài tử gồm Út Tỵ, NSƯT Hải Phượng, Trường Giang, Văn Môn, Huỳnh Tuấn và Duy Kim.

http://sgtt.vn/Van-hoa/183355/Don-ca-tai-tu-Nam-bo-mot-the-ky-noi-dia-hoa-va-pho-thong-hoa.html

 

 
 

NGUYỄN LÊ TUYÊN & NGUYỄN ĐỨC HIỆP : NGHIÊN CỨU & PHÊ BÌNH về bài ký âm của ông Julien Tiersot


NGHIÊN CỨU VÀ PHÊ BÌNH

Nguyễn Lê-Tuyên – Nguyễn Đức Hiệp

Lời giới thiệu

 

Chúng tôi nhận được bài phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Thuyết Phong Thử “giải mã” câu chuyện “Vũ khúc Đông dương”, do nhà nhạc học Trần Quang Hải gửi đến.  Chúng tôi nhận thấy có lẽ GS Phong đã không đọc hoặc bỏ qua các chi tiết trong bài viết nghiên cứu Hát bội, Đờn ca Tài tử và sự hình thành Cải lương cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 đã đăng trong Tạp chí Nghiên cứu Phát triển số 1 và số 2 năm 2013.  Trong bài viết phản hồi này, chúng tôi phải trình bày lại bài viết nghiên cứu, việc phát hiện sự kiện Cleo de Merode múa với ban nhạc Việt Nam tại Hội chợ thế giới Paris 1900 và việc bổ túc bản ký âm Vũ khúc Đông dương do nhà nhạc học người Pháp Julien Tiersot ghi lại.  

 

 

SỰ THẬT và HỌC THUẬT 

 

Đầu tiên, chúng tôi nhận thấy trái lại với lời tuyên bố của chính ông trong việc đi tìm “sự thật” và tranh luận “học thuật”, GS Phong có lẽ đã không tham khảo kiểm chứng trước khi trả lời phỏng vấn.  Bài viết nghiên cứu  Hát bội, Đờn ca Tài tử và sự hình thành Cải lương cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 của Tạp chí Nghiên cứu Phát triển cũng được đăng lại trên rất nhiều trang mạng khác như : Diễn Đàn (Pháp), Đờn ca tài tử, Văn chương Việt, Nam kỳ lục tỉnh, Cổ nhạc Việt Nam, vv.  Bài nghiên cứu có từ tháng 1 năm 2013, nhưng lại không tạo ra sự “báo động”,  “choáng ngợp đến độ sửng sốt” cho GS Phong.  Nói chung, bài phỏng vấn của ông dựa theo chi tiết của phương tiện thông tin đại chúng, không tham khảo trích dẫn từ bài nghiên cứu mà lại phê bình về “học thuật” của chúng tôi.  Đây là một điều phản khoa học và rất khó hiểu !

NGHIÊM TÚC, TRÁCH NHIỆM VÀ TÔN TRỌNG

 

Chúng tôi có bài nghiên cứu nghiêm túc từ trước với nhiều tư liệu bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, việc gán ép chúng tôi “trợ lực” và “mượn danh” là không hợp lý và không nên.  Thông tin về bản ký âm Vũ khúc Đông dương được đăng trên nhiều cơ quan truyền thông khác nhau, trong đó có việc chúng tôi đã thông báo cho một số chuyên gia trước khi công bố báo chí. Vấn đề bài báo Vietnam News là một sự hiểu lầm ngoài ý muốn.  Phóng viên đã có thư khẳng định với những cá nhân có liên hệ rằng chúng tôi và cả Vietnam News không hề có mục đích như GS Phong đã nêu ra.  Bài báo cũng được chỉnh sửa lập tức.  Đây là thái độ có trách nhiệm của chúng tôi và Ban biên tập của Vietnam News.  Chúng ta đang sống ở thế kỷ 21, mọi sự thật đều được đưa ra ánh sáng.  Không biết tại sao GS đưa ra cách suy diễn về “trợ lực” và “mượn danh” vào bài phỏng vấn có tính cách học thuật?  Nếu cố ý để gây ra thiệt hại danh dự người khác là một thái độ phản khoa học, thiếu tôn trọng và phải có trách nhiệm chỉnh sửa.

 

GS Phong có nhắc đến việc Nguyễn Lê Tuyên là một “nhạc sỹ guitar Rock”.  Chúng tôi cũng không biết GS đưa vào tranh luận học thuật với mục đích gì ?  Dù sao, điều này cũng chứng tỏ GS đã không kiểm chứng thông tin.  Lê Tuyên là giảng viên âm nhạc chính quy, đã từng giữ chức vụ Uỷ viên Ban Sáng tạo Nghệ thuật và Phó Giám đốc Nghệ thuật của Liên hoan Âm nhạc Gillawarna của Bộ Giáo dục New South Wales Australia.  Lê Tuyên hiện nay là Teaching Fellow của Đại học Quốc gia Úc. Nguyễn Đức Hiệp là nhà khoa học Bộ Môi trường New South Wales và đã có nhiều bài nghiên cứu về khoa học và văn hoá Việt Nam.  Chúng tôi đến với âm nhạc cổ truyền Việt Nam bằng một niềm say mê, nghiêm túc và trân trọng.  Chúng tôi giữ tôn trọng và yêu cầu GS cũng có thái độ nghiêm túc và tôn trọng !      

“SỰ QUA LOA VÀ MÙ MỜ VỀ KIẾN THỨC TOÀN DIỆN CỦA PARIS EXPOSITION UNIVERSELLE”?

GS Phong đã cho rằng chúng tôi “chưa đọc”, “không biết”, “cũng không biết”, “qua loa và mù mờ về kiến thức toàn diện của các sự kiện Exposition Universelle”.  Rất khó hiểu GS dựa vào đâu để nói như vậy.  Những phát biểu này của GS Phong là sai sự thật, có lẽ vì không tìm hiểu bài nghiên cứu của chúng tôi.   Sự thật là chúng tôi đã trích dẫn rất nhiều tài liệu về Exposition 1889, 1900, 1906, vv, trong bài nghiên cứu Hát bội, Đờn ca Tài tử và sự hình thành Cải lương cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 !  Chúng tôi đã trình bày một số đoạn ký âm nhạc Hát bội của Tiersot tại Hội chợ Thế giới Paris năm 1889 ;  cùng với việc nhạc sỹ Debussy thưởng lãm và sử dụng nhạc Hát bội Việt Nam trong một số sáng tác cho Piano.   Đây là vài thí dụ trích từ bài nghiên cứu :  

  1. “…Debussy và một số nhạc sĩ, nhà phê bình, ký giả, đã so sánh tuồng Roi de Duong với vở opera Ring des Nibelungen của Wagner và nhạc hát bội chói tai với tiếng trống kinh hoàng với nhạc Wagner, hay là Esclarmonde của Massenet trong thời điểm lúc đó đã và đang diễn ở Pháp. ”

 

  1. “Tiersot đã ký âm các giai điệu của đàn gáo mà Debussy đã thưởng thức tại buổi trình diễn…

 

 

Hình 1: Giai điệu đàn Cò

  1. “…Michael Schmitz đã minh họa những ảnh hưởng của nhạc Hát Bội trong tác phẩm Pour les Quatres viết cho đàn Piano.  Sự đối thoại tiết tấu giữa tay phải và tay trái trong tác phẩm này tương tự như phong cách song tấu của nhạc cụ Việt Nam mà Debussy đã nghe tại Exposition 1889…”

 

  1. “Schmitz cho rằng sự thay đổi đột ngột về âm sắc và tốc độ âm nhạc để thể hiện các yếu tố tình tiết thay đổi trong Hát Bội cũng đã được Debussy sử dụng ngay trong phần đầu tác phẩm. Tiết tấu của trống và giai điệu của Đàn Gáo được giới thiệu vào khoảng khuôn nhịp 20-57. Schmitz tin rằng Debussy cũng có cảm hứng từ các bộ điệu của Hát Bội khi sáng tác tác phẩm này..”

 

CLEO DE MERODE VÀ BAN NHẠC VIỆT NAM TẠI HỘI CHỢ PARIS 1900

 

 

Hình 2: Cảnh cô Cléo de Mérode nhảy vũ điệu Cam Bốt dựa theo câu truyện truyền thuyết ‘Chiếc nhẫn kỳ diệu theo tiếng ca và nhạc tài tử ở Nhà hát Đông Dương.   (Nguồn : Le Panorama, nouvelle série, n° 20. RV-936986)

Nếu không có bằng chứng, chúng tôi sẽ rất tán thành “việc gán ép múa Cao Miên với nhạc Việt là không có cơ sở” ; cũng sẽ có sự suy luận giống như của GS Phong rằng hình chụp chung trên sân khấu “có thể hiểu là phô trương tất cả nghệ sĩ Đông dương tham gia Hội chợ”.  Tuy nhiên, chúng tôi đã có bằng chứng để công bố việc Cleo de Merode múa với ban nhạc Việt Nam tại Hội chợ Thế giới Paris 1900 trong bài nghiên cứu từ tháng 1 năm 2013.  Chúng tôi xin trích lại từ bài nghiên cứu :

 

  1. Nhà báo và nhà phê bình nghệ thuật, ông Arthur Pougin, đã đến Théâtre Indochinois (Nhà hát Đông Dương) ở Trocadéro trong khuôn viên của Hội chợ thế giới Paris 1900 để xem một xuất trình diễn và ông đã mô tả như sau:[1] 

 

Cléo de Mérodemặc dầu cô ta đẹp, cô ta chỉ là một người An Nam nhuộm giả tạo, một người An Nam hàng lậu, mà sự kỳ lạ ngoại lai chỉ có thể cho một ảo tưởng tương đối…Sáu thiếu nữ và mười thanh niên vào và yên lặng ngồi xuống đất, đối mặt với khán giả, làm thành hai hàng, hàng đầu là các thiếu nữ, và thanh niên ở hàng sau. Tất cả đều có dụng cụ âm nhạc, mà tất cả họ vừa chơi vừa hát, hợp thành một bản hòa tấu.”

 

  1. Maurice Talmeyr đã viết chi tiết hơn về ban nhạc tài tử trong buổi trình diễn ở Nhà Hát Đông Dương:[2]

 

“…Ánh sáng đèn điện phủ khắp đoàn vũ công, những đồ trang sức vàng mạ, những đồ sơn mài, đồ trang trí, những gương mắt đánh sáp mơ ảo của các nhạc công ngồi xổm, với âm nhạc nhè nhẹ, lanh lảnh, và hơi nhôn nhốt chua, vang âm, lên, cuồn cuộn theo điệu múa, cuộn lẫn nhau như một họa tiết Joli (vignette Joli), có một chút tính chất trẻ con. Toàn bộ tập hợp này rất dễ chịu. Nhưng minh tinh Cam Bốt nào mà tôi thấy nhảy múa trước mắt tôi trong cảnh trí Đông Dương này?… Cô Cléo de Mérode!

 

  1. Báo Sân khấu Nghệ thuật Le Monde Artiste ngày 14/10/1900 cho biết như sau:

 

     “Ở nhà hát Đông Dương – Do đoàn hát người An Nam ở Nhà hát Đông Dương là đoàn duy nhất không muốn rời Hội chợ trước khi bế mạc, đó hiển nhiên tại vì đoàn thu hút khán giả nhiều nhất. Đúng thật là ở nhà hát này và với âm nhạc lanh lảnh của ban nhạc này, cô Cléo de Mérode đã nhảy theo tiếng nhạc qua các bước chân của cô một cách chậm rãi mơ mộng”[3]

 

  1. Với tư cách là một nhà nhạc học, Tiersot đã không nhắc gì đến cô Cleo de Merode, có lẽ vì điều này đã được nhắc đến ở rất nhiều nơi khác.  Tuy nhiên, Tiersot đã ghi chép về sự kết hợp giữa nhạc cụ, giọng ca và điệu múa : (phần này trích Đờn ca tài tử tại Hội chợ Thế giới Paris 1900 của Nguyễn Lê Tuyên và Nguyễn Đức Hiệp, sẽ đăng vào tháng 10)

 

Các nhạc cụ này cùng nhau đệm cho điệu múa một cách đồng nhất, mà vẫn giữ sự độc lập của từng nhạc cụ.

 

…Các nhạc cụ đàn dây bè trầm gẩy tách tiếng đi theo giọng ca để tạo ra một Chủ âm thay phiên với một Át âm cùng một tiết tấu với bè trên; phần trên này; nó được trình tấu bởi các nhạc cụ trong trẻo, đặc biệt là đàn Cò (violon 2 dây) mà âm thanh có phần chua chát, nhưng lại rất sắc sảo, đã cho tiếng hát một sự rung cảm rất đặc biệt. Cuối vũ điệu, tiếng của các cô hòa chung để tăng gấp đôi giọng ca…[4]

Tóm lại, chúng tôi có bằng chứng bằng hình ảnh, tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau để công bố phát hiện cô minh tinh Cleo de Merode đã múa trên tiếng nhạc của ban nhạc Việt Nam tại Hội chợ 1900.  Thật ra còn rất nhiều tài liệu khác nhắc đến sự kiện này nhưng chúng tôi thấy không cần thiết phải bàn thêm.  Xin nhắc lại, bài nghiên cứu này đã được đăng từ tháng 1 năm 2013, nhưng lại không tạo ra sự “choáng ngợp đến độ sửng sốt”  cho GS Phong.

BAN NHẠC VIỆT NAM Ở PARIS EXPOSITION 1900 LÀ BAN NHẠC GÌ ?

 

GS Phong đã cho rằng tại Hội chợ Triển lãm 1900, “théâtre (ở đây phải hiểu là “hát bội”) là điểm nổi trội hơn hết.”  Chúng tôi đã nêu ra trong bài nghiên cứu rằng ban nhạc Việt Nam tại Hội chợ Paris 1889 đúng là trình diễn Hát bội.  Nhưng tại Hội chợ Paris 1900 có phải cũng trình diễn Hát bội?  (Ở đây, chúng tôi mạn phép chú thích cho độc giả rằng théâtre có nghĩa là sân khấu, nhưng cũng có nghĩa là nhà hát).  Tiersot đã nêu lên sự khác biệt ở Théâtre Annamite (Nhà hát An Nam) năm 1889 và ở Théâtre Indochinois năm 1900 (Nhà hát Đông duơng) như sau:  

 

  1. Sự khác biệt về biên chế của giàn nhạc ở Nhà hát Đông duơng đã được Tiersot mô tả rất chi tiết, ngay cả cách phát âm tiếng Việt cũng được ghi chép cẩn thận  đàn ; Teou (Tiêu); Tranh; Kìm; Houyen (Huyền, Độc huyền cầm, đàn Bầu) :

 

“Nhưng tại đây tôi cũng còn thấy một cây đàn còn khác lạ lý thú hơn nữa. Đó là một nhạc cụ gồm có một thanh rung mà âm thanh thay đổi độ cao tùy theo ấn vào  mạnh hay nhẹ [người dịch : đàn Bầu]…Các nhạc cụ khác của đoàn Hát này, ngoài những đàn violon 2 dây (tên là đàn Cò trong ngôn ngữ của bản xứ), có thêm Sáo (Teou) với các nhạc cụ Bộ đàn dây. Nhạc cụ nầy tương tự như đàn Koto của Nhật bản (dây đàn căng trên thân đàn và lên dây theo điệu âm giai Ngũ cung) được gọi là đàn Tranh (nên nhận xét là cây đàn này rất phổ biến ở vùng Viễn đông, nhưng ở các nước khác có tên khác nhau: chúng ta biết ở Trung Quốc có 2 loại đàn này có tên khác nhau Kín và Chế do sự khác biệt về kích thước. Hai đàn dây khác thuộc bộ Luth, một cái to (Kìm), một cái nhỏ (Tan); còn có đàn harpe một dây (Houyen) [5] (tất cả chữ in đậm là của chúng tôi)

 

  1. Biên chế này cũng được Maurice Talmeyr khẳng định:

 

“…người chơi đàn tranh, hay đàn guitare mười sáu dây, một người chơi đàn kim (kìm), hay đàn guitare bốn dây (xưa là 4 dây, ngày nay đàn kìm chỉ có 2 dây), một người chơi đàn co (cò), hay đàn violon hai dây, hai người chơi đàn doc [n.d: độc huyền cầm/ đàn bầu] hay violon một dây, một người thổi tieu (tiêu) hay sáo, một người chơi đàn ty [người dịch: tỳ bà] hay guitare chơi với móng tay, một người chơi liou (?) hay đàn violon có vĩ dài (grand archet), một người chơi đàn tam (tam) hay mandoline chơi bằng cách bấm ở đầu một phím lõm (corne)” [6]

 

 

  1. Tiersot đã ghi là ấn tượng đầu tiên của ông về Hát bội năm 1889 :

 

…với tiếng la khóc khủng khiếp, kèm theo một âm thanh địa ngục của trống và nồi niêu rạn nứt. Những tiếng động này là gì?… Nhà hát An Nam !   [7]

 

 

 

 

  1. Khác với ấn tượng về Hát bội, Tiersot cho rằng nhạc cụ bộ gõ tại Nhà hát Đông dương năm 1900 là nhẹ nhàng hơn :

 

“…đây là nhóm nhạc cụ it ồn ào và âm thanh nhẹ nhàng hơn là các loại trống ghê gớm của Nhà hát An Nam

 

  1. Thêm vào đó, kỹ thuật hòa tấu và phong cách diễn tấu ngẫu hứng đã được ông Viang trình bày cho Tiersot như sau :

 

Các nhạc cụ này cùng nhau đệm cho điệu múa một cách đồng nhất, mà vẫn giữ sự độc lập của từng nhạc cụ…Các nhạc sĩ của tôi không biểu diễn hoàn toàn giống nhau, miễn là trong tổng thể, mọi người bắt đầu cùng một lúc và ngừng lại chổ chuyển hòa âm, tất cả hoàn hảo, trong khi người nhạc sĩ biến tấu giai điệu tự do theo ý họ. Như vậy trong cách hòa tấu chung vẫn có những ngẫu hứng cá nhân;…Cũng nên thêm vào là các nhạc cụ không chơi cùng một lúc mà theo thứ tư vai trò. ” (phần này trích Đờn ca tài tử tại Hội chợ Thế giới Paris 1900 của Nguyễn Lê Tuyên và Nguyễn Đức Hiệp, sẽ đăng vào tháng 10)

Tiersot đã ghi lại : Trưởng đoàn, Ông Viang và các nhạc công, từ Saigon đến….  Để tìm hiểu về ban nhạc Việt Nam tại Nhà hát Đông dương năm 1900, chúng tôi đã nhìn lại bối cảnh lịch sử và sự phát triển âm nhạc cổ truyền ở Nam bộ.   Vương Hồng Sển ghi trong Hồi ký 50 năm mê hát là vào thế kỷ 19 tại các điểm Nam kỳ không có dàn đờn cổ nhạc Việt, chỉ có dàn nhạc Lễ.[8]    Theo TS Nguyễn Thị Mỹ Liêm thì Dàn nhạc Lễ gồm hai nhóm nhạc gọi là Phe Văn và Phe Võ, Phe Văn gồm những nhạc cụ dây kéo vào trống lễ …Và, đã dần hình thành một dàn đờn không chỉ dành trong lễ bái trong những dịp quan – hôn – tang tế mà còn chơi trong nhiều dịp khác, đó là  ‘nhóm nhạc đờn cây’.  Nhóm nhạc đờn cây này có thể đã bỏ bớt bộ trống nhạc (của dàn nhạc Lễ), thêm vào những nhạc khí dây gẩy khác như đàn kìm (nguyệt), đàn tranh, ống tiêu….[9]  

 

Cũng theo TS Nguyễn Thị Mỹ Liêm : Đó là khoảng ba thập niên cuối của thế kỷ XIX…những nhóm ‘nhạc đờn cây’ càng lúc càng được ưa chuộng… đã lan tràn, trở thành phổ biển khắp Nam bộ và được những người trong giới gọi là Đờn – ca Tài tử”.  Với sự miêu tả của Tiersot về sự khác biệt ở Nhà hát An Nam 1889 và Nhà hát Đông duơng 1900, cùng với các ghi chép của Pougin va Talmeyr;  cộng vào bối cảnh lịch sử và phát triển âm nhạc ở Nam bộ theo Vương Hồng Sển và TS Nguyễn thị Mỹ Liêm, chúng tôi thấy “phải hiểu théâtre là Hát bội” không thuyết phục.  Chúng tôi đã suy luận đây không thể là ban nhạc Hát bội, nhưng rất phù hợp với sự hình thành của ban nhạc Tài tử ở cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.

BẢN KÝ ÂM CỦA JULIEN TIERSOT

 

 

 

Hình 2: Bản Nhạc tài tử “Danse de L’Indo-chine” (Vũ điệu Đông dương) của Julien Tiersot ký âm (Nguồn : Julien Tersot.  Notes d’Ethnographie Musicale.  Paris: Libraire Fischbachee, 1905)

Chúng tôi phải nhấn mạnh về trọng tâm nghiên cứu là đưa ra một cái nhìn tổng quan về ban nhạc Tài tử trình diễn với Cleo de Merode tại Hội chợ Thế giới 1900. Bản ký âm Vũ khúc Đông duơng của nhà nhạc học Julien Tiersot là hệ quả và sự bổ xung tài liệu để tìm hiểu ban nhạc Tài tử Việt Nam đã trình diễn ra sao.  Tiersot đã ghi lại theo ông Viang, trưởng đoàn nhạc Tài tử: “…giai điệu của bản này là nền tảng cho bài bản âm nhạc ở Nhà hát Đông dương”.  Do đó, bản ký âm có thể cho thấy những giai điệu được ban nhạc Tài tử Việt Nam trình diễn tại Hội chợ 1900.  Trong bài Đờn ca tài tử ở Hội chợ Thế giới Paris 1900 (đã gửi từ tháng 5), chúng tôi có trình bày về bối cảnh lịch sử của Hội chợ ; về sắc lệnh của Toàn quyền Đông dương Paul Doumer, việc xây dựng Nhà hát Đông dương ở Paris; sự quan tâm đến Nhạc Tài tử Việt Nam của các nhà nghiên cứu và dư luận ở Pháp cũng như khán giả quốc tế tham dự Hội chợ Thế giới Paris 1900 ; các ghi chép của Tiersot về buổi gặp gỡ với ông Viang cùng với bản ký âm để độc giả có cái nhìn tổng quan về sự kiện.

 

Theo TS Nguyễn Thị Mỹ Liêm, các sách về nhạc Tài tử được in đầu tiên ở Việt Nam là năm 1907.[10] Nếu xét về niên đại, bản ký âm Vũ khúc Đông dương là sớm hơn hai năm.  Nhưng nếu xét về ký âm Phương Tây thì sớm hơn nhiều.  Chúng tôi không hề cho rằng Vũ khúc Đông duơng là bài Tài tử cổ nhất, chỉ là bản ký âm Phương Tây cổ nhất, được xuất bản năm 1905,  phát hiện vào thời điểm tháng 4 năm 2013.  Chúng tôi ngạc nhiên về suy luận cho đây là bản Tài tử cổ nhất.  Nếu bàn về học thuật, không thể suy luận bài ký âm cổ nhất là bản nhạc Tài tử cổ nhất.  Thí dụ, không thể cho rằng các bài bản trong sách Bản đờn tranh của Phụng Hoàng San xuất bản năm 1907 là xưa hơn các bài bản trong sách Lục tài tử in năm 1911, chỉ là được in trước hoặc sau.  Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng đã thấy tài liệu của bà Judith Gautier in năm 1900 nhưng không có đủ bằng chứng để suy luận nên đã không đưa vào bài viết nghiên cứu.  Chúng tôi mong GS sẽ viết bài nghiên cứu về bản ký âm Gautier.

 

Nhà nhạc học Tiersot tốt nghiệp và giảng dạy ở Conservatoire de Paris.  Ông không chỉ ký âm nhạc Việt Nam mà đã ghi lại nhạc Nhật bản, Trung Quốc, vv.  Công trình của ông về Nhạc dân gian Pháp đã được giải Prix Brodin năm 1845. Bản ký âm của ông còn thô sơ, có rất nhiều thiếu xót sai lac, không thể phản ảnh chính xác bài bản của nhạc Tài tử.  Tuy vậy, tài liệu này cho thấy một số vết tích về nhạc Tài tử và phương pháp ký âm của một nhà nhạc học Tây Phương đầu thế kỷ 20.  Trong bài nghiên cứu, chúng tôi có đặt giả thuyết rằng bản này có thể chứa đựng nhiều giai điệu khác nhau vì Tiersot sử dụng rất nhiều nhóm vạch nhịp kép (||).  Trong đó có thể có những giai điệu đã bị thất truyền.  Đây cũng có thể là một bản sáng tác hay dàn dựng chỉ để phục vụ cho buổi trình diễn tại Nhà hát Đông dương. 

 

Nhận định chuyên môn chính xác như là có bài bản gì, điệu gì, hơi gì, kỹ thuật tô điểm âm thanh ra sao, vv,  đương nhiên phải được xác định từ các học giả và nghệ nhân có kinh nghiệm thâm niên và học thuật uyên bác về nhạc Tài tử.  Chúng tôi đã gửi thông báo cho một số nhà nhạc học về sự phát hiện này từ trước cũng vì mục đích đó.  Tuy nhiên, nhận định của họ là sự lựa chọn và chuyên môn của từng cá nhân, không ảnh hưởng đến việc phát hiện bản ký âm.  Nguyễn Lê Tuyên đã cộng tác với nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền để viết bài nghiên cứu Bản ký âm Nhạc tài tử của Tiersot năm 1900 ở Tạp chỉ Âm nhạc của Viện Âm nhạc.  Ông Hiền đã sử dụng phát hiện nầy để chuyển ký âm Phương Tây ra chử Đàn.  Ông cũng đưa ra một số nhận định cá nhân về bản ký âm này.  Chúng ta nên có thái độ tôn trọng với ý kiến chuyên môn của từng cá nhân.

‘’NHÀ NGHIÊN CỨU ĐÚNG NGHĨA’’   

 

Sự tự giác trong nghiên cứu và phê bình phải được thể hiện bằng hành động. Với nhiều bằng chứng, chúng tôi đã và tiếp tục trình bày nghiên cứu trên một tạp chí có đăng ký ISSN để tất cả các học giả Việt Nam và thế giới có thể kiểm chứng.   Đây là vấn đề chính danh và nghiêm túc.  Chúng tôi làm việc mạch lạc và có trình tự rõ ràng.  Nghiên cứu nào cũng có thể có thiếu xót, sơ hở hoặc ngay cả sai lầm.  Chúng tôi cũng không ngọai lệ, có thể được đồng ý, bị phê bình, hay thậm chí bị bác bỏ.  Tuy nhiên, ý kiến trái chiều cũng phải tự giác nghiêm túc với việc tham khảo kiểm chứng, và nên đưa ra những ý kiến xây dựng để làm sáng tỏ vấn đề.  Không nên phê bình chỉ bằng phát biểu tuyên bố với báo chí mà nên phản ảnh bằng bài viết nghiêm túc trước.  Đây là con đường đi tìm sự thật, rất chông gai nhưng đầy thú vị.  Hội đồng Đạo đức Nghiên cứu Nhân văn ở Mỹ và Úc sẽ nghĩ sao về những lời phê bình sai lệch, mà lý do là không tham khảo kiểm chứng, hoặc chỉ dựa vào thông tin của đại chúng ? Thêm vào đó, Hội đồng sẽ nghĩ sao về những điều không liên quan đến học thuật lại được đưa vào bài tranh luận học thuật?

KẾT LUẬN

 

Với hình ảnh và tư liệu, chúng tôi đã công bố phát hiện Cleo de Merode trình diễn với ban Nhạc tài tử ở Hội chợ Thế giới Paris 1900 trong bài Hát bội, Đờn ca Tài tử và sự hình thành Cải lương cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20.  Sau đó, chúng tôi tiếp tục đưa ra một cái nhìn tổng quan hơn về sự kiện này trong bài Đờn ca tài tử tại Hội chợ Thế giới Paris 1900; trong đó chúng tôi bổ xung nhiều tài liệu, có bài Vũ khúc Đông dương do Tiersot ghi chép những giai điệu được ban nhạc Tài tử Việt Nam trình diễn tại Hội chợ 1900.  Đây không phải là bài Tài tử cổ nhất, mà là bản ký âm Phương Tây có niên đại sớm hơn các tài liệu được in ấn trước đây.  Sự phát hiện này vào thời điểm tháng 4 năm 2013.

 

Chúng tôi hy vọng bài viết này đã làm sáng tỏ mọi việc.  Chúng tôi giữ tôn trọng và chỉ tập trung vào vấn đề học thuật.  Tuy nhiên chúng tôi đã phải nêu ra một số điểm không phù hợp và không nên đề cập đến trong giới học thuật.  Sau bài viết này, chúng tôi mong sẽ chỉ tiếp nhận tranh luận bằng bài viết nghiên cứu nghiêm túc ở một nơi thích hợp hơn.

 

Sydney 8/2013

 

 

 

Tài liệu chú thích

 

  1. Arthur Pougin. Le théâtre à l’Exposition universelle de 1889: notes et descriptions, histoire et souvenirs. Fischbacher, Paris, 1890., pp. 89-99
  2. Maurice Talmeyr. La cité du sang: tableaux du siècle passé.  Perrin (Paris), 1901
  3. Le Monde Artiste.  Illustré. Musique – Théâtre – Beaux-Arts, A40, No.41, 14/10/1900, pp. 647
  4. Julien Tiersot, Notes d’Ethnographie Musicale, Libraire Fischbachee, Paris, 1905.
  5. Julien Tiersot, sách đã dẫn.
  6. Maurice Talmeyr. La cité du sang: tableaux du siècle passé.  Perrin (Paris), 1901
  7. Julien Tiersot, Musiques pittoresques. Promenades musicales à l’exposition de 1889.  Paris: Librairie Fischbacher, 33 rue de Seine, 1889, Paris, 117 p. Bibliothèque nationale de France, Tolbiac, 8- V- 21753 
  8. Vương Hồng Sển, Hồi ký 50 năm mê hát, Năm mươi năm cải lương, Nxb Trẻ, 2007.
  9. Nguyễn, Thị Mỹ Liêm. Góp phần nghiên cứu Đờn ca Tài tử. Hà Nội: Nhà xuất bản âm nhạc, 2011. tr 34.

 

  1. Nguyễn, Thị Mỹ Liêm, sách đã dẫn.

[1] Arthur Pougin. Le théâtre à l’Exposition universelle de 1889: notes et descriptions, histoire et souvenirs. Fischbacher, Paris, 1890., pp. 89-99

[2] Maurice Talmeyr. La cité du sang: tableaux du siècle passé.  Perrin (Paris), 1901

[3] Le Monde Artiste.  Illustré. Musique – Théâtre – Beaux-Arts, A40, No.41, 14/10/1900, pp. 647

[4] Julien Tiersot, Notes d’Ethnographie Musicale, Libraire Fischbachee, Paris, 1905.

[5] Julien Tiersot, sách đã dẫn.

[6] Maurice Talmeyr. La cité du sang: tableaux du siècle passé.  Perrin (Paris), 1901

[7] Julien Tiersot, Musiques pittoresques. Promenades musicales à l’exposition de 1889.  Paris: Librairie Fischbacher, 33 rue de Seine, 1889, Paris, 117 p. Bibliothèque nationale de France, Tolbiac, 8- V- 21753  

[8] Vương Hồng Sển, Hồi ký 50 năm mê hát, Năm mươi năm cải lương, Nxb Trẻ, 2007.

[9] Nguyễn, Thị Mỹ Liêm. Góp phần nghiên cứu Đờn ca Tài tử. Hà Nội: Nhà xuất bản âm nhạc, 2011. Tr 34.

 

[10] Nguyễn, Thị Mỹ Liêm, sách đã dẫn.

TÀI TỬ revived for Shanghai stage


Tai tu revived for Shanghai stage

Practice makes perfect: Six senior artists rehearse the Indochina Dance and other pieces of tai tu in HCM City a few days before travelling to China, where they will perform at the world conference of the International Council of Traditional Music. — VNS Photo Van Dat

HCM CITY (VNS)— Eight senior Vietnamese artists (six musicians and two singers) yesterday completed rehearsals for performing an old piece of tai tu music at an international event in Shanghai next week.

The artists will also perform some other compositions at the 42nd world conference of the International Council for Traditional Music next Saturday.

The notations for Indochina Dance, a very early tai tu piece performed in France in 1900 on the stage of Indochina Theatre at the Paris International Fair, was accidentally found by Australian- Vietnamese music expert Nguyen Le Tuyen while he was researching the music form at the France National Library last year.

“This is the most ancient piece in the tai tu music history of Viet Nam. It was noted by French researcher Julien Tiersot in 1900. At the performance, famous French ballet dancer Cleo de Merode danced to the music,” Tuyen said.

After finding the music piece, Tuyen announced his discovery to senior traditional musicians in the country, including researcher Bui Trong Hien, who helped him convert the music sheet to the traditional Vietnamese style.

“This surprising discovery is meaningful as Viet Nam is applying for UNESCO regconition of tai tu music as an intangible cultural heritage. It’s surprising that 113 years ago, the music piece was performed in France and now, it will be presented before more than 700 international traditional music experts,” Tuyen told Viet Nam News.

It was also evidence that early in the 20th century, the public and the French colonialists paid attention to tai tu music, a precious Vietnamese asset, Tuyen said.

Tuyen, who lectures at the Australian National University, said his surmise that this was the earliest piece was based on the fact that it was performed 10 years before the earliest book with tai tu compositions was printed in 1909.

Artists Huynh Van Khai, Nguyen Thi Hai Phuong, Vo Vam Kim, Vo Truong Giang, Pham Cong Ty, Phan Minh Duc, Mai Thanh Mai and Pham Van Mon will perform the Indochina Dance as it was done in more than a century ago.

Unchanged melodies

All six artisans agree that the music is not different from what they are playing now, meaning that tai tu has retained its originality for more than a century though its compositions are not written.

“I am proud that the music was introduced in a foreign country 113 years ago. That means tai tu had developed before that for decades,” said Huynh Khai, who has been performing traditional music for 34 years.

He said he was eager to introduce the music again to international experts.

Vu Kim Anh, deputy director of HCM City’s Department of Culture, Sports and Tourism, said UNESCO would take a decision on recognising tai tu in December this year.

“However, pass or fail is not important. This is proof that tai tu music has retained its vitality for a long period of time. For more than 100 years, the music has remained unchanged and developed well,” she said. — VNS

http://vietnamnews.vn/life-style/241721/tai-tu-revived-for-shanghai-stage.html

THANH HÀ : Cuộc hội ngộ âm nhạc giữa hai nhạc sĩ Trần Quang Hải và Nguyễn Lê Tuyên


THỨ TƯ 06 THÁNG MƯỜI 2010
Cuộc hội ngộ âm nhạc giữa hai nhạc sĩ Trần Quang Hải và Nguyễn Lê Tuyên

Hai nhạc sĩ Trần Quang Hải và Nguyễn Lê Tuyên tại buổi diễn « Tam giác Âm nhạc Úc Pháp Việt ».

Photo: Thanh Hà

 

Kỹ thuật bồi âm của nhạc sĩ Trần Quang Hải tại Paris cộng với tiếng đàn guitare song âm được nhạc sĩ Nguyễn Lê Tuyên mang từ Úc châu đến đã mang đến khung cảnh núi rừng Tây Nguyên của Việt Nam trong khuôn khổ buổi biểu diễn mang tên « Tam giác Âm nhạc Úc Pháp Việt ».Hai ông đã phối hợp những âm giai, tiết tấu của âm nhạc Việt Nam cùng với văn phạm sáng tác của phương Tây để cho ra đời những nhạc khúc như « Giấc Mơ Tây Nguyên », « Tiếng gọi của Núi rừng »,. . .

Nhạc sĩ Trần Quang Hải và Nguyễn Lê Tuyên đã chọn Paris là địa điểm đầu tiên để giới thiệu một thể loại nhạc đương đại mà hai ông vừa phát minh từ một cuộc hội ngộ của phương pháp « đồng song thanh và đồng song âm họa ngắt– staccato harmonic duotone » từ cây đàn guitare.

Mở đầu chương trình, hai nhạc sĩ Việt Nam giới thiệu sáng tác mới của nhạc sĩ Nguyến Lê Tuyên « Giấc mơ Tây Nguyên », đưa khán giả đắm mình vào một vùng Tây Nguyên còn hoang dã, với tiếng gió rì rào, tiếng thú rừng.

Do là cuộc hội ngộ đầu tiên giữa hai phương pháp âm nhạc độc đáo, buổi trình diễn Tam giác Âm nhạc vừa qua tại Paris đã nhận được sự yểm trợ của Đại sứ Úc tại Pháp và của trường đại học New South Wells, Úc. Tên tuổi của nhạc sĩ Trần Quang Hải đã quá quen thuộc đối với đại đa số người Việt chúng ta, nên xin được giới thiệu qua về nhạc sĩ Nguyễn Lê Tuyên : ông hiện là giáo sư của một trường âm nhạc tại Sydney và cũng là người đã tình cờ phát minh ra phương pháp để có thể đánh cùng một dây đàn guitare nhưng phát ra hai âm nốt cùng một lúc. Phương pháp đó gọi là « đồng song âm họa ngắt”. Năm 2007, giáo sư Tuyên đã chính thức công bố kỹ thuật này và giới chuyên môn đánh giá rất cao đóng góp của nhạc sĩ người Úc gốc Việt này.

Trong buổi trình diễn vừa qua tại Paris, nhạc sĩ Nguyễn Lê Tuyên kể lại vì mất ngủ cho nên ông có thói quen gẩy đàn vào đêm khuya nhờ vậy mới phát hiện ra phương pháp đồng song âm. Về phần mình giáo sư Trần Quang Hài thì cũng đã đến với kỹ thuật đồng song thanh một cách hết sức tình cờ, cách đây nhiều chục năm khi ông bị kẹt xe trên đường phố Paris.

Ở hai phương trời khác biệt, nhạc sĩ Trần Quang Hải và Nguyễn Lê Tuyên cùng theo đuổi một con đường, họ cũng nghiên cứu về âm thanh học, về âm sắc … Mãi đến năm ngoái, lại do một sự tình cờ hai nhà nghiên cứu này mới gặp nhau. Từ cuộc hội ngộ âm nhạc đó đã nẩy sinh Tam giác Âm nhạc Úc, Pháp, Việt vừa qua.

Ngay sau buổi trình diễn, trả lời ban Việt ngữ RFI, nhạc sĩ Trần Quang Hải giới thiệu qua về buổi giao lưu giữa hai kỹ thuật « đồng song thanh và đồng song âm »

http://www.viet.rfi.fr/node/28445