Tag Archives: nguyễn tri khương

TRẦN VĂN KHÊ / wikipedia: TIỂU SỬ ÔNG NGUYỄN TRI KHƯƠNG


Nguyễn Tri Khương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
 
 
Ông Nguyễn Tri Khương (1890-1962)Người làng Đông Hoà, không ai là không biết đến ông Cả Năm thổi sáo, em ông Bái Lạc ở làng Vĩnh Kim và con ông Hội đồng Nguyễn Tri Túc, cháu nội ông Nguyễn Tri Phương. Ông Hội đồng là một điền chủ, thiện xạ bắn súng hơi, chụp hình nghệ thuật được bằng danh dự do Hội Nhiếp ảnh chuyên nghiệp bên Pháp trao tặng. Ông Hội đồng nuôi nghệ sĩ tài tử trong nhà để truyền ngón, truyền nghề cho hai người con trai. Ông còn ưa đánh hồ, bắn giàn, ra thai, và thường tổ chức những buổi đờn ca tài tử tại nhà với sự tham gia của những nghệ sĩ tài tử nổi tiếng đến từ Cần Đước, Cần Thơ và nhiều tỉnh xa. Ông là người hào hoa phong nhã, giúp đỡ người nghèo, khắp làng xã, ai ai cũng thương yêu, quí chuộng. Ông Cả Năm, tên tộc là Nguyễn Tri Khương. Thuở nhỏ, cậu bé Năm Khương thông minh đỉnh ngộ, có vốn Nho học và Tây học, văn hay chữ tốt. Khi học võ được thầy khen, đi các đường thảo, côn quyền rất đẹp mắt. Ông Hội đồng dạy con theo lề lối Khổng giáo ngày xưa cho nên tuần tự cho các con phải theo từng môn lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số. Trước hết là nghi lễ trong gia đình phải biết tổ chức những lễ cúng bái, đốt hương, dâng hoa, dâng trà trên bàn thờ ông bà trong những dịp đầu năm, cuối năm, trong những ngày kỵ, giỗ, trong các dịp Tết Nguyên đán, Đoan ngọ, Trung thu.

 Học nhạc thì luôn luôn trong nhà có những người thầy dạy cho hai anh em biết sử dụng những nhạc khí chánh trong đờn tài tử tức là đờn kìm (đờn nguyệt), đờn tranh, đờn cò (đờn nhị), đờn tam, đờn tỳ bà. Ngoài ra phải học thêm xuy tiêu, thổi sáo. Mỗi nhạc khí, cậu bé Năm Khương đều được thầy khen là đờn có "ngón", nhấn có "gân" và đặc biệt nhất là thổi sáo được thiên phú cho có hơi thổi vừa dài, vừa mạnh; lần lượt cậu học hết những nhạc cụ chánh thuộc về phái ty trúc, lại còn học thêm về những nhạc khí thuộc phe võ trong nhạc lễ tức là biết đánh trống văn, trống võ, vỗ bồng và thổi được kèn trung. 
Tuy cậu còn nhỏ mà cha cũng tập cho bắn giàn. Dùng cây cung vừa tầm, vừa sức, dây cung làm bằng mây, ở chính giữa có một ổ nhỏ đặt viên đạn bằng ốc xà cừ vào đó, cách xa chỗ đứng có một bức tường bằng đất, trên đó có treo một bản có vẽ hồng tâm là một lỗ nhỏ chung quanh sơn màu hồng vừa đủ chỗ cho viên đạn lọt qua. Nếu đạn xuyên qua hồng tâm, đụng vách đất sẽ rơi xuống ngay phía dưới có đặt một cỗ trống nhỏ, viên đạn đụng mặt trống vòng lên vòng xuống nhiều lần. Vì vậy khi mà nhắm cho thật kỹ hồng tâm, giương cung bắn đạn nghe tiếng "xạch" và tiếp theo đó nếu đạn xuyên qua hồng tâm thì nghe luôn nhiều tiếng trống "tung….. tung.… tung… tung.. tung…". Ngoài ra cậu còn phải tập bắn bằng tên tre: từ dưới đất, người thiện xạ có thể bắn lên trên cây trúng vào cuống trái cây cho trái cây rơi xuống. Trong cách tập trung cho đôi mắt nhìn chính xác, bàn tay lắp đạn lắp tên đúng chỗ, bắp tay phải đủ mạnh để giương cung đủ sức đưa viên đạn hay mũi tên từ chỗ đứng đến cái đích đã định sẵn thì đứa trẻ không còn cái năng động nhảy nhót mà phải trầm tĩnh kiểm soát từ bắp tay đến hơi thở. 

Ngoài ra ông Hội đồng còn dạy con đánh hồ, một cái hồ bằng gỗ, bụng phình ra đặt trên một cỗ trống. Cổ hồ là một ống dài hơn năm tấc, miệng hồ mở rộng, đường kính độ sáu phân. Hồ để cách xa người đánh hồ lối ba thước, giữa hồ và chỗ đứng có đặt một cái mõ nhỏ bằng gỗ cứng (như trắc hay gõ) hình tròn. Thẻ dùng đánh hồ dài khoảng bảy tấc, một đầu chạm hình bông sen búp và đầu kia chuốt dẹp để hai ngón tay có thể cầm thẻ khi bắt đầu vào cuộc. Tay trái ôm từ 5 đến 10 thẻ, đầu bông sen trong lòng bàn tay trái và thẻ dựa trên vai trái. Tay mặt lấy một thẻ, nắm ngay đầu chuốt dẹp, đưa bàn tay mặt ra trước mặt, mắt nhắm vào cái mõ, tay mặt ném thẻ gỗ cho đầu búp sen đụng cái mõ nghe tiếng “cóc”. Thẻ xoay vòng đi thẳng đến miệng hồ vừa đúng tầm đúng cỡ thì thẻ gỗ từ trên cao rơi xuống chính giữa miệng hồ. Thẻ đi từ trên miệng xuống đáy hồ thì gặp ngay mặt trống. Tiếng thẻ vòng lên vòng xuống nghe “tùng tùng”. Nếu người đánh hồ trong các động tác vừa khéo dùng sức và điều khiển hướng đi bằng hai ngón tay cầm thẻ thì người đứng xem sẽ nghe một tiếng cóc, tiếp theo đó là tiếng trống “tùng, tùng, tùng, tùng”. Nếu không điều chỉnh đúng hướng thì sau tiếng “cóc”, thẻ gỗ rơi ngoài miệng hồ thì chỉ nghe tiếng “cóc, xẹt”. Đó là những trò chơi để tập cho người đánh hồ kiểm soát được các động tác của mình.

  Hết lễ, nhạc, xạ thì đến ngự tức là cưỡi ngựa. Ông Hội đồng có một chuồng ngựa để dùng di chuyển từ nhà đến vườn, từ vườn đến chợ hay là đi bắn chim. Mỗi người con trai đều có một con ngựa riêng, được thầy dạy cách đặt yên lên ngựa và biết điều khiển cho con ngựa khi đi chậm, lúc sải mau mà lúc nào cũng phải ngồi vững trên yên. 

Sau các môn đó rồi mới tới đọc thư. Một ông thầy đồ được nuôi trong nhà dạy các con ông hội đồng đọc chữ Hán và theo phong cách xưa là dạy cho biết mặt chữ, sau rồi mới đọc những sách loại tứ thơ, ngũ kinh. Sau cùng khi học số tức là những phép toán thì ông Hội đồng cho các con học cách đánh “bàn toán” của người Trung Quốc. Tuy không phải định cho con làm thương mãi mà ông Hội đồng cũng nhờ các thương gia Trung Quốc dạy cho con trong nhà biết dùng bàn toán mà làm các phép tính thông thường. Cạnh bên các người thầy dạy lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số, còn có một võ sư chuyên dạy võ Bình Định truyền lại những bài quyền, những đường thảo, tập múa thương, côn, đao, kích để đi lần đến thập bát bang võ nghệ (mười tám binh khí được dùng để dạy võ ngày xưa). Khi cậu bé Năm Khương sắp đến tuổi trưởng thành, có được cái vốn văn chương nghệ thuật và võ thuật như thế thì cậu lại được đi học theo trường làng, biết đọc và viết chữ quốc ngữ. Từ mười tuổi cậu đã bắt đầu học nói tiếng Pháp. Với vốn hiểu biết đó, chàng trai Năm Khương còn có khiếu truyền nghề dạy học. Cậu không muốn giữ cho mình cái vốn hiểu biết mà thường dạy cho các cậu bé nhỏ trong xóm, trong làng. Gần đến tuổi hai mươi thì cậu đi học để làm thầy giáo. Trong làng ai có con cũng đều thích gởi cho thầy giáo Năm dạy vỡ lòng vì thầy giảng nghĩa rất rõ, biết nhiều kinh điển lại có cách dạy học vừa rõ ràng mà vui vẻ khiến học trò không có cảm giác bị bó buộc. Các em đến học với thầy giáo Năm nghe giảng bài mà như nghe kể chuyện đời xưa. Đến năm 1920, khi em gái thứ tám của ông giáo Năm đang mang thai thì ông lại có một ý nghĩ làm sao để cho đứa con của em mình trở thành một nhạc sĩ nối tiếp truyền thống của hai gia đình Trần Nguyễn. Được biết rằng nhà phía bên chồng của em mình ở gần một lò heo, đêm đêm cứ 3 giờ khuya lại nghe tiếng la hét của con heo bị thọc tiết mà giật mình, ông giáo Năm mới đi xin gặp Ông Năm Diệm là cha chồng của em gái mình và nói: “Kính thưa bác, sách sử còn ghi lại mẹ thầy Mạnh Tử vì nhà ở gần một lò heo thì đã không ngần ngại bán căn nhà đó để đi tìm chỗ khác ở gần trường học để cho con mình luôn luôn nghe được kinh sách từ tuổi còn thơ, nhờ đó mà thầy Mạnh Tử sau này trở thành một người môn sinh nối tiếp chí của thầy mình là Khổng Tử. Cháu thấy nhà này ở gần một lò heo, cháu e sợ bào thai bị tiếng heo la mỗi đêm sẽ bị ảnh hưởng không tốt. Cháu đến đây xin phép bác cho cháu rước em của cháu về cất nhà ở một nơi yên tĩnh và ngày ngày cháu sẽ thổi sáo để cho đứa bé trong bụng mẹ nghe được tiếng nhạc dân tộc trong tiềm thức nó. Bao giờ đứa bé sanh ra cứng cáp, cháu sẽ đem mẹ con về ở lại đây để hầu bác”. Ông Năm Diệm nghe lời nói hữu lý nên đã bằng lòng cho con dâu mình trở về với cha mẹ ruột. Ông giáo Năm cất một cái chái nhỏ cạnh nhà mình, có giường cho mẹ nằm, có chỗ để nôi cho em bé. Trước cửa nhà, ông giáo Năm trồng hai loại bông, vạn thọ và móng tay. Vạn thọ để chúc cho đứa bé được sống lâu. Bông móng tay để chúc cho đứa bé có ngón tay như hoa để đàn cho hay. Ông giáo Năm thích nuôi gà chọi, nhưng ông phải dẹp đi xa tất cả các chuồng gà. Mỗi ngày hai lần, ông đến thổi sáo cho đứa nhỏ trong bào thai được nghe. Ông lại lấy những sách như Luận ngữ, Nhị thập tứ hiếu, Cổ học tinh hoa để đọc và giảng cho em gái nghe mỗi ngày, không cho em đi nghe hát bội mà trong nhà chỉ treo những bức tranh có phong cảnh và con người đẹp. Nhờ sự giáo thai đó mà đứa bé sanh ra lớn lên trở thành một người đem cả đời phụng sự âm nhạc dân tộc là Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê.

   Sau này, ông lại tiếp tục lo cho đứa em sau của cậu bé Trần Văn Khê là bé Trần Văn Trạch. Ông luôn luôn chăm sóc sự học cho hai cháu và mỗi lần hai cháu được vào ở trong nhà của cậu Năm là những buổi hai chú bé rất thích. 
   Đến năm 1926, khi gánh hát Đồng nữ ban của bà Trần Ngọc Viện được thành lập thì ông giáo Năm được mời viết  vở tuồng mới chuyển thể quyển tiểu thuyết " Giọt máu chung tình" ra thành  vở cải lương mang tên là "Giọt lệ chung tình", đồng thời ông được mời tham gia vào dàn nhạc của gánh cải lương vì chẳng những ông thổi sáo hay, ông lại còn biết sử dụng đờn cò, đờn kìm và kể cả đánh trống. Kịch bản "Giọt lệ chung tình" rất đặc biệt, tuy bản nhạc mở đầu theo thường lệ lúc đó là đào kép đứng hết trên sân khấu đồng ca bài La Madelon, nhưng khi hết tuồng các gánh hát khác phải đồng ca bài La Marseillaise thì ông đặt cho gánh Đồng nữ ban một bài ca cảm ơn khán giả và hẹn gặp trong đêm sau, viết theo bản Long hổ hội. Tất cả lời đối thoại trong tuồng đều mang tính chất văn chương rõ rệt. Các câu nói lối Xuân, lối Ai đều viết theo lối văn biền ngẫu, nội dung nhiều đoạn rất mạnh, nói lên tâm tư của dân tộc Việt Nam lúc đó đang có tinh thần chống chánh sách đô hộ thuộc địa như đoạn Võ Đông Sơ đánh bại kẻ cướp rồi thì khi đạp trên mình kẻ cướp đã chỉ mặt nó mà hỏi: 

“Tại sao nhà ngươi

Đem cường quyền đạp công lý, 
       Mượn võ lực dốc tung hoành?

Nhà ngươi phải biết rằng: Hễ phạm tự do thì xã hội dám hy sinh Còn đạp công lý thì quốc dân đành xả mạng”. Trong lúc thành lập gánh hát, ông giáo Năm luôn luôn theo dõi những buổi tập tuồng, có khi sửa những câu nói lối hay bài hát để cho những diễn viên của gánh hát đồng nữ dễ nói, dễ ca, có thần hơn. Khi gánh hát đi diễn các nơi khác thì ông giáo Năm cùng bà giáo đi theo ghe chài của gánh hát trong một chiếc ghe tam bản có đủ chỗ ăn, chỗ ngủ cho hai vợ chồng. Mỗi đêm hát ông giáo Năm thổi sáo cho dàn nhạc. Đến khi gánh hát tan rã, ông giáo Năm trở về làng Đông Hoà và lo trồng lúa trong vùng đồng phèn, trồng cây ăn trái trong khu vườn xung quanh nhà và tiếp tục dạy học cho những đứa trẻ có khiếu trong làng. Đặc biệt ông dạy cho hai đứa cháu ruột là hai chú bé Khê và Trạch biết làm những câu đối, biết sử dụng những cây đàn dân tộc. Dạy cho chú bé Trần Văn Khê biết đờn cò, những bài khó như bài hạ, đờn theo bốn cách lên dây, dây thuận, dây nghịch, dây nguyệt đìu và dây chẩn. Về kỷ niệm những câu đối, chúng tôi ghi lại đây mấy câu sau này: Thường thường khi người ra câu đối là trời thì mình phải đáp là đất. Đông Tây thì đối Nam Bắc, trời cao đối với đất rộng… Một hôm ông giáo Năm đố hai cháu làm sao đối được câu: “Cưỡi máy bay, bay vòng Đông Tây Nam Bắc” thì mấy cháu lắc đầu không thể đối được. Ông giáo Năm đề nghị câu đối như sau: “Đi tàu lặn, lặn mãn Xuân Hạ Thu Đông”. Có điều hơi lạ là thuở đó chưa có tàu lặn nào lặn lâu được như vậy mà chỉ lặn trong khoảng hai, ba tiếng đồng hồ rồi phải trồi lên mặt biển, nhưng mà ở thời điểm ngày nay, tàu lặn có thể lặn dưới mặt nước suốt năm này tháng nọ. Dường như ông đã tiên đoán việc nầy !!!! Ông lại còn đưa ra những câu đối rất khó đáp như câu: “Thằng đàng thổ nằm dưới đất, ăn thục địa”. (Thổ là đất mà địa cũng là đất mà lại thêm nằm dưới đất nữa, tức là phải dùng ba chữ khác nhau mà cùng một nghĩa là đất) Bạn bè, con cháu không ai đối được, ông giáo Năm đề nghị câu: “Chà Châu Giang lội qua sông hái bạc hà” (Giang và hà đều chỉ sông mà thục địa và bạc hà đều là hai vị thuốc) Câu đối rất chỉnh, người đối với người, vị thuốc đối với vị thuốc, động tác đối với động tác ăn đối với hái. Cảnh thiên nhiên thì đất đối với sông, Một hôm trong giờ học, một con chó mực chạy ngang qua đụng cái bàn làm đổ bình mực. Trạch lúc đó mới có 9 tuổi mà đã xuất khẩu: “Cậu Năm ơi! Hôm nay con xin ra một câu đối: “Chó mực làm đổ bình mực, mực đổ trên mình chó mực”. Cậu Năm suy nghĩ rồi nói: “Giỏi quá, cậu chưa có thể đối ngay được câu này”. Trạch lấy làm thích thú được cậu Năm khen và nghĩ rằng mình ra câu đối đến cậu Năm mà còn không đối được. Nhưng đến trưa, quãng 11 giờ, sau khi cậu Năm ra vườn tưới nước trồng cây trở vô nhà, cậu hào hứng gọi hai đứa cháu ra: “Hai con Khê anh, Khê em ơi, cậu đối được rồi !”: “Gà bông bươi ngã bụi bông, bông rơi trên cánh gà bông”. Cùng một chữ mực mà một chữ chỉ vật dụng, còn một chữ chỉ màu đen, đối lại chữ bông vừa chỉ đoá hoa mà khi đem ra dùng tính từ thì thành ra màu lông con gà, thật là tuyệt !

 Sau này, ông giáo Năm trong ban Hội tề lần lần được lên chức Hương sư rồi Hương cả nên  đoạn chót trong cuộc đời, trong làng thường gọi ông Cả Năm. Tuy lo việc làng và việc trồng lúa, ông Cả Năm cũng thường sáng tác những bài ca và những vở kịch nhỏ như những bài "Tuý tửu lạc ngôn" tức là say rượu và nói bậy, "Hồ điệp xuyên hoa" tức là con bướm vờn hoa, "Non sông một chèo"... Mỗi một bài để dùng trong một mẫu chuyện có liên quan đến công việc truyền bá chữ quốc ngữ. Chẳng hạn như một anh chàng được giấy mời đi dự đám cưới, vì không biết đọc nên nhờ người khác đọc thiệp mời và người khác ghi lại ngày giờ phải có mặt tại đám cưới. Nhưng người đó ghi sai thành ra không đi dự được đám cưới. Cũng vì không biết đọc chữ quốc ngữ và không tự tay mình ghi lại ngày phải dự tiệc.

Mặc dầu tuổi cao nhưng ông Nguyễn Tri Khương đã từng lên Sài Gòn đóng nhiều phim, thường là những vai nông dân già như trong phim “Tình hận” do một người tên là Sáu Hảo bỏ tiền ra quay. Ngoài ra, ông còn đóng phim cho người Trung Quốc. Có nhiều phim ông không đóng vai nào nhưng ông lại thổi ống tiêu làm nhạc nền, có nhiều đoạn ông thổi ống tiêu mà nhạc sĩ Vĩnh Bảo đờn tranh phụ họa. Ít có người nào mà trong cuộc đời có rất nhiều sinh hoạt đa dạng như ông Nguyễn Tri Khương: dạy học, làm thầy giáo làng chuyển sang làm thầy tuồng cho gánh Đồng Nữ, dạy hàm thụ về lịch sử âm nhạc, đặc biệt là các sinh hoạt về âm nhạc tài tử và nhạc lễ trong tỉnh Tiền Giang, giúp cho cháu ruột của mình là Trần Văn Khê hoàn thành luận án Tấn sĩ bằng cách cung cấp tư liệu sống động về lịch sử của âm nhạc tài tử miền Nam. Ngoài ra, ông còn đặt lời ca cho những bản nhạc cổ, sáng tác những bài nhạc mới theo phong cách tài tử cải lương và đóng phim cho những công ty điện ảnh tại Sài Gòn…

Năm 1962, Ông từ giã cõi đời trong khi trí óc còn minh mẫn, để lại sự thương tiếc cho cả gia đình và kể cả những người dân trong làng Đông Hoà.
                                                         GSTS Trần Văn Khê
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Tri_Kh%C6%B0%C6%A1ng