Tag Archives: nhạc cổ truyền việt nam

YÊN HÀ : Nhạc cổ-truyền Việt-Nam (1)


Nhạc cổ-truyền Việt-Nam (1)

Đã trót thì cũng phải trét. Đã bàn về dân-ca Việt-Nam thì chúng ta cũng nên nói nốt
về những thể-loại nhạc đặc-trưng khác của dân-tộc.

Dân-tộc nào cũng có một nền âm-nhạc “truyền-thống” hay “cổ-truyền” (musique traditionnelle / traditional music) phản ảnh lịch-sử, văn hoá mình, so với cái gọi là “tân nhạc” ít nhiều chịu ảnh-hưởng các nền văn hoá khác.
Xưa kia âm nhạc cổ truyền đã từng đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của người Việt Nam.
Âm nhạc cổ truyền Việt Nam phong phú bởi sự tích đọng những thể loại thuộc nhiều thời đại khác nhau và bởi cả tính đa sắc tộc.
Nhạc cổ-truyền Việt-Nam chúng ta gồm có:

– Nhạc nghi-lễ,
– Nhạc thính phòng,
– Nhạc sân khấu,
– Nhạc dân ca.

Dưới đây là một bảng tóm-lược những thể loại nhạc cổ-truyền theo 3 miền Bắc, Trung, Nam :

  1. Nhạc nghi lễ
    Nhạc cung đình :

“Âm nhạc cung đình” theo nghĩa thông thường được hiểu là các thể loại ca nhạc, kể cả các thể loại ca nhạc đi kèm với múa và kịch hát, dùng trong các lễ nghi cúng tế và triều chính, các ngày quốc lễ do triều đình tổ chức và sinh hoạt vui chơi giải trí của vua và hoàng tộc.
Nhã nhạc (“nhã” có nghĩa là đẹp, thanh lịch) đã có từ đời Lê, chịu ảnh-hưởng nhạc cung-đình Trung Quốc thời nhà Minh (thế-kỷ 14-17).

Nhã Nhạc Huế đã có giá trị rất cao về phương diện lịch sử lẫn nghệ thuật. Tuy được sử dụng ở chốn cung đình, nhưng việc sáng tạo và biểu diễn hầu hết đều do những nhạc sĩ, nghệ sĩ xuất thân từ trong dân gian, nhờ có tay nghề cao mà được sung vào cung để phục vụ cho triều đình.

Nhã nhạc được dùng với những nội hàm khác nhau: khi để chỉ âm nhạc cung đình nói chung, lễ nhạc cung đình nói riêng, khi để chỉ một tổ chức âm nhạc, thậm chí một dàn nhạc cụ thể.
Xưa kia nhạc cung đình Huế bao gồm nhiều thể loại: Giao nhạc dùng trong lễ Tế Giao, Miếu nhạc dùng trong các lễ tế miếu, Ngũ tự nhạc dùng trong các cuộc tế lễ Thần Nông, Thành Hoàng, Xã Tắc, Đại triều nhạc dùng trong những dịp lễ lớn hoặc đón tiếp sứ thần các nước, Thường triều nhạc dùng trong các lễ thường triều, Yến nhạc dùng trong các cuộc yến tiệc lớn trong cung đình, Cung nhạc (Cung Trung Chi Nhạc) phục vụ trong nội cung.

Nhã nhạc cung đình Huế đưọc tôn vinh là kiệt tác văn hóa phi vật thể của nhân loại do UNESCO phong tặng vào năm 2003.

Xin mời các bạn nghe :
Âm nhạc Cung Đình Huế – Thập thủ liên hoàn  https://www.youtube.com/watch?v=mKG9nM0bO6E

Nhã Nhạc Cung Đình Huế – Lưu thủy Kim tiền Xuân phong Long hổ – Nhạc hòa tấu  https://www.youtube.com/watch?v=-xI0V7QLYbM

Nhạc nghi lễ, tế tự : hát văn thờ, văn hầu, chầu văn hay là hát bóng phục vụ cho việc lên đồng, nhạc đám ma,  …,

Nhạc tôn-giáo :
Nhạc Phật giáo với các phương-thức Đọc, Niệm, Tụng, Tán.
Nhạc Cao-Đài dựa nhiều vào các điệu Nam Xuân, Nam Ai của cổ nhạc miền Nam.
Nhạc Hòa Hảo cũng tương tự như nhạc Cao Đài.

  1. Nhạc thính phòng
    : nhạc chuyên nghiệp dân gian có nhạc cụ phối hợp với giọng hát: Hát Ả Đào, còn gọi là Ca Trù ở miền Bắc, Ca Huế ở miền Trung, và Đàn/Ca Tài Tử ở miền Nam.
    – Ca trù (Bắc bộ)

(Ca trù, Wikipedia,  http://vi.wikipedia.org/wiki/Ca_tr%C3%B9)

Ca trù (lúc trước gọi là Hát Ả Đào hoặc Hát cô Đầu hoặc Hát nhà trò) là một loại nhạc thính phòng, bộ-môn nghệ-thuật truyền-thống miền Bắc, kết hợp hát cùng một số nhạc cụ dân tộc. Thịnh hành từ thế-kỷ 15, từ một loại ca trong cung đình và được giới quý tộc và trí-thức yêu thích, dần dần thể loại này tách ra để trở thành lối hát thính phòng rất được ưa thích của người Việt ở phía bắc.

Ca trù là một sự phối hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc. Dạng nghệ thuật âm nhạc thính-phòng dùng nhiều thể văn chương như thể phú, thể truyện, thể ngâm, nhưng thể văn chương phổ biến nhất là hát nói, hát thơ.

Ngày 1 tháng 10 năm 2009, ca trù đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Thành phần trình-diễn gồm có:

Một nữ ca sĩ (gọi là đào hay ca nương) sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp,

Một nhạc công nam giới (gọi là kép) chơi đàn đáy (hay Vô đề cầm) phụ họa theo tiếng hát,

Người thưởng ngoạn (gọi là quan viên, thường là tác giả bài hát) đánh trống chầu (hay trống đế) chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống.
Xin mời các bạn nghe:

– Tỳ Bà Hành   https://www.youtube.com/watch?v=X0bl3RV08Iw

– Tiếng dương tranh
https://www.youtube.com/watch?v=N8rjPKqO8UU

– Hồng hồng tuyết tuyết

https://www.youtube.com/watch?v=GtWs4E0f_qE

– Ca Huế (Trung bộ)

Bên cạnh giòng âm nhạc dân gian, Huế còn một giòng ca nhạc cung đình đầy tính trang trọng như giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc, yến nhạc…

Ca Huế nằm giữa hai giòng nhạc đó, có những đặc trưng riêng với chất trữ tình sâu lắng làm xao động lòng người, chất chứa đủ bao niềm cảm xúc người dân Cố đô.

Là nhạc thính phòng, ca Huế, ở nhiều phương diện, khá gần gũi với hát ả đào của miền Bắc.

Ca Huế không phải lối giải trí xô bồ mà nó thường kén người nghe. Một đêm ca Huế có thể được tổ chức trong một thính phòng nho nhỏ nhưng thi vị và hấp dẫn hơn cả là được nghe ca Huế trong một đêm trăng lên trên dòng Hương Giang thơ mộng. Lúc đó tâm hồn của người nghe và cả ca sĩ cùng dàn nhạc dường như được siêu thoát trong một bầu không khí như được thăng hoa cùng trời mây, sông nước.

Hệ thống bài bản phong phú của ca Huế gồm khoảng 60 tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc theo hai điệu thức lớn là điệu Bắc, điệu Nam và một hệ thống “hơi” diễn tả nhiều sắc thái tình cảm đặc trưng. Điệu Bắc gồm những bài ca mang âm điệu tươi tắn, trang trọng. Điệu Nam là những bài âm điệu buồn, nỉ non, ai oán.

Bài bản Ca Huế có cấu trúc chặt chẽ, nghiêm ngặt, trải qua quá trình phát triển lâu dài đã trở thành nhạc cổ điển hoàn chỉnh, mang nhiều yếu tố “chuyên nghiệp” bác học về cấu trúc, ca từ và phong cách biểu diễn. Đi liền với ca Huế là dàn nhạc Huế với bộ ngũ tuyệt “Tranh, Tỳ, Nhị, Nguyệt, Tam”, xen với Bầu, Sáo và bộ gõ trống Huế, sanh loan, sanh tiền.

Xin mời các bạn nghe:

Tiếng Hương Bình Tứ Đại cảnh   https://www.youtube.com/watch?v=tfn2bRS1Fhs

Nam xuân https://www.youtube.com/watch?v=z-Af3Tvdsuk

– Đờn ca tài-tử (Nam Bộ)

Đờn ca tài tử Nam bộ là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ Việt-Nam, đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2013.
Đờn ca tài tử hình thành và phát triển từ cuối thế-kỷ 19, bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế, pha lẫn âm nhạc từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi.
Đây là một loại hình nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, thanh niên nam nữ nông thôn thường trình diễn trong phạm vi tương đối nhỏ như trong gia đình, tại đám cưới, đám giỗ, sinh nhật, trong các lễ hội, sau khi thu hoạch mùa vụ, thường được biểu diễn vào những đêm trăng sáng ở xóm làng. Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau. Họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về trang phục.

Ca trù hát và người ca (bài hát truyền thống từ miền Bắc và miền Trung) là phụ nữ, trong khi đờn ca tài tử bao gồm các ca sĩ nam nữ và họ có vai trò bình đẳng.

Loại hình diễn tấu này có ban nhạc gồm 4 loại  (gọi là tứ tuyệt) là đàn kìm (2 dây), đàn cò (2 dây), đàn tranh và đàn bầu (1 dây), đôi khi có thêm đàn tam (3 dây), sau này, có cách tân bằng cách thay thế độc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm. Phụ họa thêm là tiếng sáo thường là sáo bảy lỗ.

Xin mời các bạn nghe:

Đàn ca tài tử Nam bộ   https://www.youtube.com/watch?v=jAGrxXGcGIk&list=PLkUvvQYAB9x4x3OYJj0sBa5pye8LzIqvV&index=1

Duyên kỳ ngộ

https://www.youtube.com/watch?v=LxDauZvZgPw

Như vậy, so với dân ca, nhạc thính phòng đã bước vào mức chuyên-nghiệp (ít ra là bán chuyên nghiệp) và không còn thuộc văn-học dân-gian nữa.
Yên Hà

Tháng 1, 2015

Xin đón đọc trong số tiếp: Nhạc cổ-truyền (2) / Nhạc sân-khấu


Tài-liệu nguồn
:

Nhạc cung-đình – theo dòng lịch-sử

http://www.dulichvietnam.com.vn/nhac-cung-dinh-theo-dong-lich-su.html

Ca trù, Wikipedia

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ca_tr%C3%B9

Ca trù
http://www.dulichvietnam.com.vn/ca-tru.html

Ca Huế

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ca_Hu%E1%BA%BF

Âm sắc Huế

http://www1.thuathienhue.gov.vn/portal_af/Views/ArticleDetail.aspx?CMID=25&TLID=159

Đờn ca tài tử Nam bộ, Wikipedia
http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%9Dn_ca_t%C3%A0i_t%E1%BB%AD_Nam_B%E1%BB%99

Posted by Thanh Tuyền and Ngọc Phú at 9:20 AM No comments:

Email ThisBlogThis!Share to TwitterShare to FacebookShare to Pinterest

Labels: Tham Khảo

Reactions:

Thursday, December 18, 2014

Tiếng nước tôi: Văn học dân-gian (4.4) / Dân ca Việt-Nam

4.1 Dân ca Bắc bộ
4.2 Dân ca Trung bộ
4.3 Dân ca Nam bộ

4.4 Dân ca Việt-Nam

Trong dân ca, tất cả các thể loại -hò, lý, hát hội, …- đều có ở 3 miền, nhưng mỗi vùng có sở-trường riêng của mình nên mới có câu “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”. Nhưng đứng trên phương-diện dân ca, tôi sẽ nói: “Nam lý, Bắc hát hội (nhất là Quan Họ), Huế hò“.
Dân ca Tây nguyên

Chúng ta đã nói về dân ca của nhóm người Kinh (87% dân số) nhưng nếu bàn về dân ca Việt Nam, chúng ta không thể quên nền dân ca của các sắc tộc khác, phần lớn tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên (trừ người Hoa, người Chăm và người Khmer).

So với dân ca của người Kinh, có lẽ người Tây nguyên chú trọng nhiều nơi nhạc khí và những điệu múa-dân vũ (?)

Một nhà nghiên cứu âm nhạc Tây Nguyên đã nhận xét rằng: “Dân ca của các dân tộc Tây Nguyên là những điệu hát huyền thoại được kết dệt từ ngàn xưa và lưu truyền từ đời này sang đời khác. Nó mô phỏng tiếng vang vọng của núi rừng, tiếng gió lách qua chòm lá, tiếng chim hót, tiếng suối reo, tiếng thác đổ ào ào… Vì vậy, âm điệu của những bài ca nghe thì thầm, nhè nhẹ như gió thoảng, lá rơi, như tiếng thì thầm của tâm hồn con người trên miền cao nguyên huyền thoại“.
Dân ca Tây Nguyên cũng có nhiều hình thức như: hát đơn, hát tập thể, hát kể chuyện trường ca (Khan của người Ê-Đê, Hơ-ri Jơrai, Hơ-mon Bahnar ), hát múa, hát đợi chờ, hát giao duyên (đối đáp), hát ru, hát đồng dao (hát trò chơi con trẻ), v.v…

Nội dung dân ca chứa đựng rất nhiều yếu tố của cuộc sống đời thường như tình yêu đôi lứa, ca ngợi buôn làng, ca ngợi những chàng trai anh dũng, có sức khỏe phi thường chiến đấu chống lại cái ác để bảo vệ buôn làng, ca ngợi thiên nhiên tươi đẹp. Có bài còn dùng để khẩn cầu các thần linh làm cho mưa gió thuận hòa, mùa màng bội thu, con người thoát khỏi bệnh dịch… Nội dung nói trên biểu hiện qua nhiều thể loại dân ca lao động, dân ca phong tục tập quán, dân ca nghi lễ tín ngưỡng, …
Nếu xét về thang âm, điệu thức thì dân ca Tây Nguyên có đủ các thể từ thang 3 bậc âm đến 4, 5, 6 và 7 bậc âm. Tuy nhiên dân ca Tây Nguyên chủ yếu dùng điệu thức 5 bậc âm (có hoặc không có bản âm tùy theo từng dân tộc).

Các nhạc cụ dân gian Tây Nguyên có nhiều và rất độc đáo. Nhạc khí Tây Nguyên thuộc nhiều loại, nhiều nhóm và được chế tác bằng nhiều chất liệu khác nhau.
Loại đầu tiên được chế tác hoàn toàn bằng chất liệu thiên nhiên như tre, nứa, gỗ, đá, vỏ bầu, dây rừng, sừng trâu, bò…;
loại thứ hai được chế tác kết hợp giữa chất liệu thiên nhiên với kim loại;
loại thứ ba là hoàn toàn bằng kim loại như: đồng, gang, chì, sắt…

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại  vào ngày 15 tháng 11, 2005. Sau Nhã nhạc cung đình Huế, đây là di sản thứ hai của Việt-Nam được nhận danh hiệu này.
Thân mời các bạn nghe

Dân ca Tây Nguyên: Đứa con của rừng  https://www.youtube.com/watch?v=cTo1xhIl9_U

Các sắc tộc Việt Bắc (Dao, H’Mong, Tày, Thái, Nùng, Mường…) cũng có vẻ riêng của mình : người Thái có có hát lượn, người Tày có hát then , cũng là loại hát đối đáp, người H’mong có hát đối đáp với khèn, kèn lá, hay đàn môi, …

Thân mời các bạn nghe Dân Ca H’Mông – Đỉnh Núi Có Hoa Chân Núi Thơm (Bản tiếng Trung)

https://www.youtube.com/watch?v=YKvrV7il5Ik
Hát ru con

Còn một thể loại dân ca đơn giản nhất mà nơi nào cũng có, thời đại nào cũng có, một loại nhạc “thính phòng” mà ca sĩ là người mẹ và thính-giả duy nhất và yêu quí nhất là người con. Đó là Hát ru ru (miền Bắc), còn gọi là hát đưa em (miền Trung) hay hát ầu ơ hay là ầu ơ ví dầu (miền Nam).

Hát ru con là những bài hát nhẹ nhàng đơn giản giúp trẻ con ngủ. Phần lớn các câu trong bài hát ru con lấy từ ca dao, đồng dao hay trích từ các loại thơ hoặc hò dân gian, hoặc là lời than vãn của chính mình, được truyền miệng từ bà xuống mẹ, thế hệ trước sang thế hệ sau. Do đó, những bài hát này rất đa dạng, mang tính chất địa phương, gần như mỗi gia đình có một cách hát riêng biệt.
Thang âm của hát ru (do re fa sol la, thuộc loại ngũ cung). Thang âm của hát đưa em miền Trung (do fa sol sib thuộc loặi tứ cung) và thang âm của ầu ơ miền Nam (do mib fa sol la thuộc loại ngũ cung).

Trong hát ru thường chỉ chú ý đến lời (ca từ) còn giai điệu (nhạc lý) thì mỗi bà mẹ có một giọng trữ tình riêng nhưng vẫn gây ấn tượng sâu sắc trong suốt cả cuộc đời người con.
Miền Trung

Ạ ơi., chứ mang nặng đẻ dau, cưu mang chín tháng, nghĩa mẹ tay trời trong cạn nuôi con
Ạ ời đói cơm sách áo ruột mẹ héo hon, khi con no ấm lòng mẹ vẫn chưa trọn mà thảnh thơi.
Ạ ơi…

(Hát ru Huế  http://dancavietnam.net/Play/1955/Hat-Ru-Hue.dcv)

Hoặc

Hạ ơ….ai về mà nhắn với bạn nguồn, chứ mít non gởi xuống chứ cá chuồn gởi lên.
Chuột kêu chút chít trong rương, anh đi cho khéo cái đụng giường mẹ la,
chớ khi xa thì chỗ ngõ cũng xa, …
(Hát Quảng Nam http://dancavietnam.net/Play/1953/Hat-Ru-Quang-Nam.dcv)

Miền Nam, có những câu ru như :

Ầu ơ Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẩm tay bồng
Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng bông.

Hoặc

Ầu ơ… ví dầu
Cầu ván đóng đinh
Cầu treo lắc lẻo
Gập ghềnh khó qua…
Ầu ơ…
Khó qua mẹ dắt con qua…
Con đi trường học
Mẹ đi trường đời…

Nói về miền Bắc thì riêng tôi có được diễm phúc ru con tôi ngủ mỗi tối cho đến khi nó 4 tuổi. Tôi ru lại cho nó những bài tôi nghe được của mẹ tôi lúc trước như:

   À ơi…  Con cò mày đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm Lộn cổ xuống ao  À ơi…
Ông ơi, ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng  À ơi…
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục  Đau lòng cò con…

Hoặc mấy câu như:

   Ðồng Ðăng có phố Kỳ Lừa 

   Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em…

Những bài này, tôi cũng có hát tiếp cho thằng cháu ngoại. Hy vọng con cháu tôi sẽ tiếp tục hát ru tiếp cho cháu chắt tôi…
GS-TS Trần Văn Khê (năm nay đã mừng sinh-nhật thứ 94), một người cống hiến cả đời cho nền âm nhạc dân tộc VN, từng nhắc lại những kỷ niệm của ông về kỹ thuật hát ru mà từ xa xưa ông có dịp nghe tại quê nhà: “Hồi xưa lúc còn nhỏ thì tất cả trong làng tôi đều ru như thế này:
À… ơi…. Mẹ ru cái lẽ ở đời, Sữa nuôi phần xác, Hát nuôi phần hồn,
À… ơi… Bà ru mẹ, mẹ ru con, Liệu mai xa cách con còn nhớ chăng
Ạ ời… Ạ… ơi, Con ơi muốn nên thân người, Lắng tai nghe lấy những lời mẹ ru
”.
Thân mời các bạn nghe:
Hát ru Bắc bộ    https://www.youtube.com/watch?v=D7z8y8i8bmo
Hát ru Trung bộ   https://www.youtube.com/watch?v=E7OUa7O0W6o

Hát ru Nam bộ   https://www.youtube.com/watch?v=jyH2EewEx2A

Trở về với dân ca

Từ ngày đi du học, nhớ nhà nên tôi đã nghe dân ca, tôi đã hát dân ca trong những buổi sinh-hoạt văn-nghệ sinh-viên và tôi đã càng ngày càng yêu dân ca, sản phẩm tinh thần quý giá của cha ông để lại. Bao năm nay, quê-hương càng xa vời, tôi lại càng thiết tha với cội-nguồn, với văn-hoá dân-tộc mình.

Tôi chỉ buồn là giờ đây, muốn đi nghe dân ca cũng chả có ai tổ-chức văn-nghệ mà đi nghe, tôi muốn hát dân ca cũng chả ai muốn nghe.

Còn ai thương dân ca? Tôi hy vọng rằng còn nhiều lắm.

Yên Hà, tháng 12, 2014
Tài-liệu tham khảo
Dạo một vòng trên đôi cánh âm nhac Tây nguyên, Đào Huy Quyền

http://tailieu.vn/doc/dao-mot-vong-tren-doi-canh-am-nhac-tay-nguyen-73680.html
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, Wikipedia

http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%B4ng_gian_v%C4%83n_h%C3%B3a_C%E1%BB%93ng_Chi%C3%AAng_T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn
Hát ru (Wikipedia)

http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A1t_ru

Posted by Thanh Tuyền and Ngọc Phú at 9:54 AM No comments:

Email ThisBlogThis!Share to TwitterShare to FacebookShare to Pinterest

Labels: Tham Khảo

Reactions:

Monday, November 17, 2014

Tiếng nước tôi : Văn-học dân-gian (4.3) / Dân ca / Nam bộ

  1. Dân ca
    4.1 Dân ca Bắc bộ
    4.2 Dân ca Trung bộ 

4.3 Dân ca Nam bộ

Lùi vào quá khứ, ba trăm năm trước, khoảng cuối thế kỷ 17, khi người Việt đặt chân xuống đồng bằng Cửu Long khai sơn phá thạch để lập nghiệp cũng là lúc họ phát huy bản lĩnh, khí phách của dân tộc Việt Nam có truyền thống văn hiến lâu đời. Trước khi gieo hạt giống làm nảy nở mùa màng, họ đã gieo tục ngữ ca dao, tiếng hò, điệu hát.
Trong lịch sử Nam tiến của dân tộc, Nam bộ là một vùng đất mới. Văn hóa nghệ thuật Nam bộ, do đó không hẳn xuất phát trực tiếp từ cội nguồn miền Bắc mà thông qua trạm trung chuyển là Thuận Hóa xưa, là địa danh hành chính cũ của vùng Bình-Trị-Thiên, nguyên là đất các châu của Chiêm Thành xưa.
Cho nên hai thể loại dân ca tiêu biểu của xứ Huế là Lý và Hò đã phát triển rất mạnh mẽ và đa dạng, nổi trội ở dân ca Nam Bộ.

4.3.1 Lý Nam bộ

Nói về những đặc-điểm của dân ca ba miền thì người xưa có câu “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”. Ông Trương Vĩnh Ký giải thích trong “Giáo trình Hát, lý, hò An Nam” (1886): “Người trong Nam (từ Đồng Nai ra tới Quảng Nam) thì hát lý hay hơn cả; còn ca, phú, thơ, vịnh thì người miền Bắc; còn về việc hò thì tại nơi kinh kỳ (Huế)”.
Ngoài ra, ở miền Nam xưa, các nghệ sĩ xếp đứng đầu trong các điệu hát: “Nhứt lý, nhị ngâm, tam nam, tứ oán…”.
Cho nên lý có ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam, nhưng có lẽ lý phát triển mạnh nhất ở Nam bộ.

4.3.1.1 Đặc tính Lý Nam Bộ

 là những khúc hát ngắn gọn, vui tươi, dí dỏm, mang tính chất lạc quan yêu đời rõ nét với các nhịp điệu phong phú và sinh động.
Lý là quê mùa, là điệu hát mà ca từ chính là những câu phong dao, ca dao được đệm lót thêm một số nhóm từ, cụm từ, tuy là “hư từ”, sáo rỗng và vô nghĩa nhưng lại rất cần để ngâm nga, đẩy đưa, hỗ trợ làn hơi, đồng thời nghệ nhân cũng hát xen những tiếng láy, điệp ngữ – chính là điệp khúc… làm cho tiết điệu thêm mượt mà, khúc chiết, khi thì tình tứ thiết tha, khi thì buồn thảm não nùng, khi thì nhẹ nhàng phấn khởi…

Lý Nam bộ không chỉ phong phú về số lượng mà cả về đề tài, nội dung cũng như đặc tính âm nhạc. Lý Nam bộ đề cập đến các sinh hoạt, các công việc và tâm trạng, tâm hồn của người dân và thực sự là một thể loại phản ảnh cuộc sống, cách suy nghĩ và tính cách của người Việt ở Nam bộ.
Mặc dầu ở Lý Nam bộ có đủ mọi sắc thái, nhưng có lẽ những nét buồn là sâu đậm hơn, đồng thời lại hồn nhiên mộc mạc và hóm hỉnh ngộ nghĩnh.

Mỗi điệu lý có một nội dung rõ rệt, hoặc phổ biến những kinh nghiệm sản xuất (như Lý đất dòng chẳng hạn), hoặc ca ngợi những đức tính tốt trong cuộc sống (như Lý Ba Tri), cái đẹp trong thiên nhiên (Lý cây xanh) hoặc oán trách nhau (như Lý lu là) hoặc mỉa mai, châm biếm bọn lý trưởng, cường hào (như Lý con chuột, Lý bình vôi, Lý con sam). Các chủ đề nhạc trong các điệu lý rất nhiều vẻ, dưới những hình thức rất độc đáo, nhưng lại rất quen thuộc với phong vị cổ truyền của quần chúng từ lâu đời.
Chính nhờ đề tài và nội dung phản ánh mọi hiện tượng xảy ra trong sinh hoạt đời thường của ca dao, nói được những góc cạnh tình cảm trong cuộc sống, và cũng nhờ ca từ giản dị tươi vui, dí dỏm nên lý dễ đi vào lòng người, rất được người bình dân ưa chuộng.

Nói về cách đặt tên cho nhiều điệu lý, theo Lư Nhất Vũ – Lê Giang tác giả “Tìm hiểu dân ca Nam Bộ” thì, cũng như ở Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ, ông bà ta ở Nam Bộ có mấy, đại thể:

  1. a) Lấy nội dung lời hát (ca dao) mà đặt: lý con cúm núm, lý con sáo, lý ngựa ô, lý cây bần, lý cây gòn, lý trái bắp, lý trái mướp, lý chúc rượu, lý qua cầu, lý cấy, lý cảnh chùa, lý vọng phu v.v.
  2. b) Lấy mấy chữ đầu câu hát mà đặt: lý con chuột, lý con mèo, lý chim chi, lý chim sắc, lý trồng hường, lý chẻ tre, lý chiếu bông, lý chiều chiều, lý bánh canh, lý dĩa bánh bò, lý ông hương, lý nàng dâu, lý ba xa kéo chỉ, v.v.
  3. c) Lấy tiếng đệm lót hoặc tiếng láy đưa hơi mà đặt: lý í a, lý băng rù, lý bằng rằng, lý cống xê xang, lý giọng ứ, lý hố khoan, lý hố mơi, lý kỳ hợi, lý lu là, lý tú lý tiên, lý rường ơ, lý tang tình, lý ợ, v.v.

Lý biến thể

Một bài Lý vốn tiền thân cùng là một bài ca dao nhưng khi chuyển thể sang hát Lý đã có tới 6, 7 làn điệu, có khi lên đến hàng chục làn điệu với nhiều sắc thái khác nhau.
Dưới đây là vài làn điệu lý “cùng lời khác nhạc” mà các nghệ nhân dân gian đã khéo xử lý những tiếng đệm lót, đệm phụ nghĩa, tiếng lý, tiếng đưa hơi, điệp ngữ… để nhằm hoàn chỉnh cấu trúc âm nhạc. Chúng ta hãy xem qua một số làn điệu bài Lý con sáo.

– Trước tiên là bài được hát với tốc độ nhanh, nhịp điệu “nhát gừng”, khoẻ khoắn:

Ai đem con sáo (ký) qua sông (ký) qua sông
Cho nên con sáo (ơ sáo) sổ lồng (à xa mà) bay xa
Cho nên con sáo (á sáo) sổ lồng (ờ xa mà) bay xa (Ai… xa).

– Bài khác, hát theo giọng “ợ”, xử lý nhóm tiếng đệm “ừ vậy phải đó thê” với cơ cấu giai điệu cũng như cơ cấu điệu thức rất mượt mà, có duyên (do Huỳnh Ngọc Trảng sưu tầm):

Ai đem con sáo (này ơ ợ là sông cái) qua sông (bớ em ôi! Dạ ừ vậy phải đó thê)
Cho nên con sáo sổ lồng bay xa (đồn rằng tang tình bớ mà… bay xa).

– Và một bài nữa với giọng “bằng”, sử dụng cụm từ “ưng ứng ưng” (do Hoàng lê và Trần Kiết Tường ghi):

Ai, ai đem, ai đem bằng chim sáo, ưng ưng ứng ưng ưng.
Sang sang sang sang sang sông ai đem chim sáo sang sông.
Tình bằng sang sông ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.
Tình bằng sang sông ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.
Cho, cho nên, cho nên bằng chim sáo, ưng ưng, ứng ưng ưng.
Sổ sổ sổ sổ sổ lồng cho nên chim sáo sổ lồng.
Tình bằng bay xa, ưng ứng ưng ưng ưng ưng.
Tình bằng bay xa, ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng
.

4.3.1.2 Tiết điệu và âm điệu

Xét về phương diện âm hưởng nói chung toát ra từ các điệu hò và Lý Nam Bộ, chúng ta rút ra được chất tinh khiết, chân thật, tuy mộc mạc, pha lẫn chút ít âm điệu mênh mông của hò, với nhịp điệu sinh động, vui phơi phới đầy tươi mát của các điệu lý.
Đặc biệt về mặt kết cấu, lý cũng có những phân biệt câu cú, khúc, đoạn rõ ràng. Sự trình bày phần âm điệu được mạch lạc, có tính nhất quán toàn bộ, và dễ phát hiện, không cầu kỳ, phức tạp, ngổn ngang.

Cách vận dụng và xử lý các hệ thống điệu thức dân gian 5 cung hoặc 7 cung, hoặc 5 cung có thêm bớt bất thường trong thể loại lý, càng tạo thêm được nhiều sắc thái về giọng điệu, càng làm phong phú thêm, mở rộng ra nhiều khả năng kết hợp chặt chẽ giữa âm điệu và ngôn ngữ.

Hiện nay, các cơ sở nghiên cứu đã sưu tầm và chỉnh lý hơn 40 điệu lý như: Lý con sáo, Lý giao duyên, Lý cây bông, Lý chúc rượu, Lý chia tay, Lý cây gòn, Lý con chuột, Lý bình vôi v.v…

4.3.1.3 Một vài điệu Lý quen thuộc

Lý ngựa ô (Nam Bộ)
https://www.youtube.com/watch?v=V-8EEEgkqSQ
Lý con ngựa… ngựa ô (2 lần)
Anh tra khớp bạc, lục lạc đồng đen
Búp sen lá đậm – Dây cương đầm thấm
Cán roi anh bịt đồng thà…
Lá anh í a đưa nàng… là anh đưa nàng về dinh
Lá anh í a đưa nàng… là anh đưa nàng về dinh…

Lý con sáo (Gò Công)

https://www.youtube.com/watch?v=ud3vdVP0q28

Lý Chiều chiều
https://www.youtube.com/watch?v=H_yE3pmCiGEMột bài Lý giao duyên tâm tình với tiết tấu nhẹ nhàng, với ca từ mộc mạc, với tình cảm nồng nàn, gợi cho người nghe cảm giác buồn man mác:

Chiều chiều ra đứng tây lầu tây
Thấy cô tang tình gánh nước
Tưới cây tưới cây ngô đồng
Xui khiến xui trong lòng, trong lòng tôi thương
Thương cô tưới cây ngô đồng

Lý Quạ kêu https://www.youtube.com/watch?v=ARhWcR0nTms

Khi tiết tấu Lý sôi nổi thì đó cũng là lúc tâm thế con người được thăng hoa nhất:
Kêu cái mà quạ kêu, kêu cái mà quạ kêu.
Quạ kêu nam đáo, lắc đáo nữ phòng, người dưng khác họ, chẳng nọ thời kia.
Nay dìa (về) thời mai ở, ban ngày thời mắc cỡ, tối ở quên dìa.
Rằng a í a ta dìa, lòng thương nhớ thương. 
Rằng a í a ta dìa lòng thương nhớ thương

Lý qua cầu   https://www.youtube.com/watch?v=0kqtxRwruJ8

Lý lu là
https://www.youtube.com/watch?v=h6lY6PAxEiU
Cũng có khi, lý lại được pha lẫn vào chút ít màu sắc trữ tình man mác như bài:

Ai về giòng dứa mà qua truông
Nhắn thăm lu là với bậu ơ bậu ơi!
Bỏ buồn cho nàng ơi! mà cho ai?
Bỏ buồn cho nàng ơi! mà cho anh!

Lý con cua quầy
https://www.youtube.com/watch?v=ikpx_P395Jo
Trong Nam Bộ, hát lý có sức cuốn hút rất mãnh liệt, đến mức:

Con cua quậy ở dưới hang,
Nó nghe giọng lý kềnh càng bò lên!

“Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”. Người xưa quả là không nói ngoa.


4.3.2 Hò Nam bộ

Nguyễn Văn Hầu trong bài nghiên cứu Hò miền Nam cho là Hò từ miền Trung theo đoàn người của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đi khai phá vùng đất mới. Nhưng “tiếng hò ở đây không còn giống hệt tiếng hò ở chân đèo Hải Vân hay trên dòng sông Hương hôm nào nữa. Nó tha thiết não nùng hơn. Giọng hò miền Trung từ ấy vì biến thái địa lý và hoàn cảnh kinh tế, dần dần chuyển hóa, sai chạy…”

Có thể nói thức ăn tinh thần chính của dân Nam Bộ trong buổi đầu là tiếng hò câu hát. Những điệu hò cấy lúa, hò quốc sự, hò lờ, đã làm thổn thức, xao xuyến lòng người từ xưa đến nay vẫn còn văng vẳng bên tai. Những cuộc hò làm bớt nặng nhọc trong lúc cày bừa, sạ tỉa giữa nơi nước mặn, đồng chua, làm phấn khởi tinh thần trước cảnh thiên nhiên, đồng thời là đầu mối cho duyên tình trai gái dẫn tới những cuộc vuông tròn vàng đá trăm năm.

4.3.2.1 Xếp loại những câu hò 

Hò miền Nam gồm có:
– Hò ba lý xuất xứ từ bài Bá Lý Hề của cải lương rất được thông dụng giữa các ca sĩ chuyên nghiệp.
– Hò theo điệu ai oán dùng để kể chuyện.

– A li hò lờ xuất hiện khoảng 50 năm nay thôi, dùng thể thơ lục bát. Hò lô tô, hò cấy, vv…

Trên phương-diện cách sử dụng văn chương, các điệu Hò có thể chia thành ba loại chính: hò mép, hò văn, hò truyện.

– Hò mép theo quan niệm chung được coi là xứng đáng tiêu biểu trung thành cho tiếng nói của dân gian trước mọi cảnh. Nôm na, không dùng điển tích và không mang nặng thành ngữ Hán Việt, loại hò mép dễ làm rung cảm người nghe một cách sâu sắc:
   Hò… ơ… ơ… ơ…
Vai mang nóp rách… ơ… ơ… ơ…
Tay xách cổ quai chèo… thương con nhớ vơ…. ơ… ơ… ơ… bởi phận nghèo anh phải đi…       ơ… ơ… ơ… 

– Hò văn là dùng những câu văn trong sách Nho ghép vào câu hò. Hò loại này, các tác giả dân gian dễ phạm vào những sai lầm, những nặng nề của từ ngữ. Tuy vậy, người ta đã hò rất nhiều, và cũng có lắm câu giá trị:
   Hò… ơ… ơ… Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu… ơ… ơ…
Thoại bất đầu cơ bán cú đa…
Miễn cho anh ăn nói thiệt thà… ơ… ơ…
Dẫu cho Hồ Việt một nhà lạ chi… ơ… ơ…?

– Hò truyện, do ảnh hưởng luân lý trong truyện Tàu, truyện Việt gieo rắc vào quần chúng khá lâu, nhất là từ khi có truyện diễn nghĩa bằng quốc văn ra đời, người ta đã dùng điển tích trong truyện xa gần, cao thấp với nhau. Một vài câu hò truyện chứa đựng nhiều việc, nhiều nhân vật trong các truyện xưa nói rõ được tinh thần chuộng lễ nghi, tiết tháo của dân gian:
Hò… ơ… ơ… chẳng thà em chịu đói, chịu rách…
Học theo cách bà Mạnh, bà Khương… ơ… ơ… ơ…
Không thèm như con Võ Hậu đời Đường…
Làm cho bại hoại cang thường hư danh… ơ… ơ… ơ…

… Hò… ơ… ơ… Anh tỷ phận anh… ơ… ơ…
Chẳng thà ở lều tranh như thầy Tăng, thầy Lộ
… Chứ không ham mộ như Vương Khải, Thạch Sùng… ơ… ơ…
Đạo người giữ vẹn cơ cùng sá bao…

Những loại hò kể trên có khi được tổng hợp làm một, có khi lẫn lộn, người giỏi hò tự ý uyển chuyển, xoay sở, miễn làm sao diễn tả được tình cảm chân thật của mình.

4.3.2.2 Hò Đối Đáp Nam Bộ
Hò được gắn liền với sông nước, với khung cảnh êm ả, phẳng lặng. Đặc biệt trong văn hóa dân gian Nam Bộ, sông rạch được xem như một yếu tố đặc trưng của văn hóa dân gian. Có thể nói, chính môi trường sông nước ở đây đã làm nảy sinh những câu hò, điệu hát trên sông.

Hò đối đáp ở Nam Bộ cho ta nghe một làn điệu mênh mông, gợi nhớ những cánh đồng bát ngát, những dòng sông phẳng lặng, dằng dặc.

    Chờ em cho mãn kiếp chờ
Chờ cho rau muống lên bờ trổ bông.

Khi nghe chàng trai cất lên câu hò, cô gái liền bẻ lại:

    Rau muống trổ bông lên bờ nó trổ
Ai biểu anh chờ mà anh kể công ơn.

Chính những câu hò, điệu hát đó đã làm lay động lòng người, giúp con người yêu mến thiên nhiên, cảnh vật, yêu quê hương đất nước và thêm yêu vùng đất thân thương mình đang sống. Và cũng chính những câu giao duyên ấy đã làm nhịp cầu tri âm nối từ trái tim đến trái tim, tình yêu nảy nở cũng từ đó, thật lãng mạn và nên thơ.

Những câu hò vang mãi, truyền tải những tâm tư, nỗi lòng của những người lao động chân chất, hiền hòa. Giọng hò Nam Bộ bay bổng, trải dài trên sông hòa nhịp vào mái chèo khua nước, tạo nên một âm thanh sâu lắng, ngọt ngào.

4.3.2.3 Tiết điệu và âm điệu
Các loại hò thường được ứng khẩu tùy hứng, nhạc thì chỉ có một giai điệu duy nhứt, hay theo một thang âm đặc biệt miền Nam (do-mib-fa-sol-la-do).


Tiết điệu
 trong câu hò biến đổi khá nhiều, nhưng có thể gom trong hai điệu chính:

Hò huê tình, tức là hát chậm và kéo dài ra,
còn hò lăn, tức tiếng hát mau và ngắn lại.
Dù hò huê tình, hò lăn hay hàng chục điệu hò khác biệt của mỗi địa phương Sa Đéc, Tháp Mười, Gò Công, Rạch Giá, Hà Tiên, Cai Lậy, Tiền Giang… người mộ điệu hò bao giờ cũng sành cung đoạn, âm giai. Họ không bao giờ chịu hạn chế lời ca trong một điệu, hò tuỳ hứng mà sáng tác, tuỳ nội dung mà định hình thức của nốt nhạc. Nhưng luôn luôn, họ có cung đoạn riêng để quyết định cho sự hô ứng, cho lúc nghỉ ngừng.

Âm điệu của các thể loại hò ở từng địa phương thường không giống nhau về chi tiết luyến láy, về cách xử lý các “âm điệu” giữa câu, hay có đôi khi cũng khác nhau về kết cấu toàn bộ. Thí dụ như: hò Đồng Tháp thì kết ở một nốt thuộc “át âm”, nhưng trong lúc đây, tuy cùng một điêu thức “xon”, nhưng hò Miền Đông, hò Bạc Liêu, hò Gia Ninh, thì lại dùng nốt chủ âm để kết hoàn toàn.

4.3.2.4 Một vài điệu Hò quen thuộc

Hò đối đáp miền Nam https://www.youtube.com/watch?v=dSL112jAlh8

Hò đối đáp Nam bộ   https://www.youtube.com/watch?v=4WWPHCqhcJY

Giọng hò miền Tây   https://www.youtube.com/watch?v=24hm-n4NLAw

Tiếng hò miền Nam (Hương Lan)   https://www.youtube.com/watch?v=6nSehiUiPrw

Tiếng hò miền Nam (Thái Thanh)  https://www.youtube.com/watch?v=igKvpSHcEAQ

Hò đối đáp (GS Trần Văn Khê)   https://www.youtube.com/watch?v=EbtA0B7T32o
Hò Nam Bộ là khúc dân ca thuần tuý, một thời làm say đắm người nghe. Nó tiêu biểu cho tấm lòng chân thành và đa cảm của người dân Nam Bộ.

Từ hơn 60 năm trở lại đây, tiếng hò đã chìm sâu vào dĩ vãng. Bao nhiêu tiếng hò lơ, hò lờ cụt ngủn hiện nay ở các soạn phẩm cải lương, như muốn biểu diễn cái hấp tấp, tranh sống, tranh còn trung-thực của hiện tại, đã có dịp trổi lên thay cho cái trầm lắng, u hoài tha thiết của tiếng hò, tiếng hát ngày trước. Buồn thay.

Yên Hà, tháng 11, 2014

Tài-liệu nguồn:

Dân ca Việt Nam, Trần Quang Hải
http://vietsciences.free.fr/vietnam/tiengviet/dancavietnam.htm

Sơ lược về dân ca Việt Nam, Trần Quang Hải
http://tranquanghai.info/p566-so-luoc-ve-dan-ca-viet-nam.html

Dân ca Nam Bộ

http://nhaccotruyen.vn/main/CotruyenDangian/DancaNambo/Danca-Nam-bo.htm

Hát Lý Và Những Điệu Lý Nam Bộ, Dr Thuận

http://www.mekongculture.com/?p=4371

Hò Nam Bộ,  Trần Trọng Trí —

http://216.119.90.158/default.asp?id=1755&muc=2

Hò Đối Đáp Nam Bộ, Dr Thuận

http://www.mekongculture.com/?p=2577

Dân ca Nam bộ qua báo chí hậu bán TK 20,  Vĩnh Phúc

http://namkyluctinh.org/a-vhbkhao/vinhphuc-dancanambo.htm

Posted by Thanh Tuyền and Ngọc Phú at 11:03 AM No comments:

Email ThisBlogThis!Share to TwitterShare to FacebookShare to Pinterest

Labels: Tham Khảo

Reactions:

Thursday, October 16, 2014

Tiếng nước tôi : Văn học dân gian (4.2) / Dân ca / Trung Bộ

./.

  1. Dân ca

4.1 Dân ca Bắc Bộ

./.

4.2 Dân ca Trung Bộ

Xin được phép ôn lại địa lý Việt-Nam.
Miền Trung (Trung Kỳ, Trung Bộ hay Annam thời Pháp-thuộc) gồm có :

Bắc Trung Bộ : những tỉnh Thanh (hoá) – Nghệ (an) – (Hà) Tĩnh và (Quảng) Bình – (Quảng) Trị – (Thừa) Thiên ;

Tây Nguyên (phần lớn là miền núi) : Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng ;

Nam Trung Bộ : từ Đà Nẵng xuống Bình Thuận ;

Hai vùng Bắc và Nam Trung Bộ còn được gọi là Duyên hải miền Trung.

(Sự phân-biệt này chỉ có tính cách hành-chánh chứ không bắt buộc phản ảnh văn hoá đặc-trưng của mỗi miền)

4.2.1 Lý

Lý là một thể loại đặc sắc trong dân ca Bình-Trị-Thiên, chính xác hơn là Trị-Thiên.
Lý là những bài hát giao duyên và Lý có nghĩa là hát của giai cấp dân quê (do chữ lý làng mà ra), so với Ca Huế thuộc giai cấp vua chúa, trí thức.
Tất cả điệu lý ba miền được thoát thai từ các bài hát chèo, ca Huế, hát tuồng, và hát cải lương.

Nếu Hò là loại thể dân ca gắn bó với môi trường lao động, mang đậm yếu tố dân gian, thì Lý, trong âm nhạc cổ truyền “Xứ Huế”, là một gạch nối giữa hai thành phần cổ truyền dân gian và cổ truyền chuyên nghiệp. Lý cũng có nhạc tính cố định hơn hò, câu hát đều đặn, trong khi hò có thể thêm câu dài câu ngắn, tùy người hát.

Một vài bài Lý nổi tiếng của miền Trung :
Lý giao duyên   https://www.youtube.com/watch?v=EDkqZNxtAD8
Lý hoài Nam (Lý chiều chiều)   https://www.youtube.com/watch?v=ag9mGc88MfM
Lý mười thương   https://www.youtube.com/watch?v=STRPeFb0kSE
Lý qua đèo   https://www.youtube.com/watch?v=8QgV90t3Stk
và nhất là Lý con sáo   https://www.youtube.com/watch?v=Jrdcl1hD-xg
Riêng điệu lý con sáo, chỉ với câu ca dao
    Ai đem con sáo sang sông,
Để cho con sáo sổ lồng bay xa,

các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian đã ghi nhận sơ bộ có tới 30 bài, trong đó có 4 bài lý con sáo trung du Bắc Bộ trong hát ghẹo, 3 bài lý con sáo Bắc trong hát quan họ Bắc Ninh và hát trống quân, 1 bài lý con sáo Thanh Hóa, 4 bài lý con sáo Huế (Thừa Thiên – Huế), 2 bài lý con sáo Quảng (Nam Trung Bộ), và hơn 10 bài lý con sáo Nam Bộ.
Ở Thừa Thiên, khi hát bài lý con sáo, thay vì hát đoạn “ơi người ơi”, lại hát “tang tình tang”, cho nên bài lý con sáo còn được gọi là Lý tình tang.

4.2.2 Hò
Miền Trung là nơi tập trung của nhiều loại hò và nhiều giai điệu hơn hai miền Bắc và Nam.

Hò từ chữ “HÔ” mà ra, có nghĩa là làm cho giọng mình manh hơn. Do đó, Hò thường đi đôi với việc làm nặng như kéo gỗ, chèo thuyền, đập đạ, xay lúa, giã gạo… Nhưng hò cũng có thể hát lúc nghỉ ngơi, lúc hội hè, lúc đám tang như hò đưa linh, và có khi dính liền với một vùng nào đó như hò Nghệ An, hò Thanh Hóa, hò Sông Mã, hò Ðồng Tháp.
Hò mang tính chất tập thể, một người xướng (người hò chánh gọi là hò cái) rồi có những người cùng làm việc hò theo (những người phụ họa gọi là hò con).

Có ba loại Hò :
– Hò trong lúc làm việc: tiết điệu ăn khớp với động tác, và thường dùng những chữ như dô ta, rố khoan, hụ là khoan, vv…
– Hò trong lúc nghỉ ngơi: thường là hò đối giữa trai gái có tính cách đùa giỡn, chọc ghẹo hay tỏ tình.
– Hò trong lúc lễ hội: thường là hò đối đáp để tranh giải.
Hò còn được chia làm
Hò dưới nước : Hò sông Mã, Hò mái đẩy, hò rời bến, hò đò ngược, hò đò xuôi, hò mắc cạn, hò cập bến, hò mái xấp, hò mái nhì (điệu hò tiêu biểu cho hò Huế)   https://www.youtube.com/watch?v=ooMjxTBgsgw

Hò trên cạn : Hò nện  https://www.youtube.com/watch?v=O7XLsqFGzSk ,
Hò giã gạo   https://www.youtube.com/watch?v=MRUmi58HGoM,
hò giã đậu, hò giã vôi, hò mài dừa, hò xay lúa,…

Hò Huế
Bình-Trị-Thiên là tên ghép của 3 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế.
Điều kiện lịch sử, địa lý và hành-chính tạo nên tính chất tương-đồng về văn hóa cho vùng này nên miền này còn được gọi là Xứ Huế. Tính chất đồng văn được biểu hiện rõ nhất trong hệ thống dân ca – nhạc cổ của xứ này.
Hò sinh hoạt vui chơi và Hò lao động sản xuất và nghề nghiệp ở Huế khá phong phú hơn các vùng Bắc Bộ, Nghệ Tĩnh và Nam Bộ.

Nội dung phản ánh các câu hò trữ tình ở Huế là tiếng nói thắm thiết, giàu tình nghĩa, kín đáo, thương cảm và hướng nội.

Về hình thức nghệ thuật, ở Huế, thể thơ lục bát vẫn được dùng nhưng phổ biến hơn là thể thơ lục bát biến thể và song thất lục bát biến thể.

Xét kết cấu thi ca, về mặt cấu ý, mỗi câu hò Huế bất kỳ dài ngắn đều gởi gắm ít ra cũng một ý tình trọn vẹn.

Hò Bài chòi – Bài thai – Bài tiệm

Bài chòi một loại hình nghệ-thuật dân ca ghép với trò chơi dân-gian ở miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận (không kể vùng Tây Nguyên).

Hát bài chòi được tổ chức thành một lễ hội, ở làng quê vào dịp Tết Nguyên Đán.
Người ta dựng 9 hoặc 11 chòi, chia thành 2 bên, mỗi bên 5 chòi, mỗi chòi rộng đủ vài ba người ngồi và một chòi trung tâm (chòi mẹ) ở giữa dành cho các vị chức sắc địa phương.
Bộ bài để đánh bài chòi là bộ bài tam cúc cải tiến, gồm 33 lá, với những tên chuyển thành nôm na như: nhứt nọc, nhì nghèo, ông ầm, thằng bí, lá liễu v.v.. vẽ trên giấy, dán vào thẻ tre. Mỗi thẻ tre dán ba con bài, không trùng lặp nhau.

Vào cuộc chơi, anh hiệu (tức người hô thai) xốc ống bài, rút ra một con và xướng tên con bài lên. Để gây thêm sự hồi hộp và bắt người chơi phải suy đoán, anh hiệu hô (hò) lên một câu thai hoặc một câu ca dao có tên con bài. Chòi nào trúng tên con bài thì gõ mõ để anh hiệu mang con bài đến. Trúng ba con bài là chòi đó “tới“, xổ một hồi mõ dài. Khi đó, anh hiệu cầm lá cờ nhỏ, bưng khay rượu tới trao phần thưởng cho người trúng. Lá cờ đuôi nheo bằng giấy cũng được cắm lên chòi để đánh dấu một lần thắng.
Để giúp vui cho cuộc chơi còn có một ban nhạc cổ gồm đờn cò, kèn, sanh, trống hòa tấu lên khi có chòi “tới”.
Hò bài chòi của Huế có nhiều hình thức biến thái, ví dụ như hò bài thai hoặc hò bài tiệm.

   Hò bài thai là trò chơi nhỏ trong các phiên chợ. Người cầm cái có một cái bàn gỗ dán đủ các quân bài của bộ bài tới.Giữa bàn có một cái chén úp, trong đó người cầm cái đặt một quân bài bí mật, rồi hò lên một câu có nội dung gợi liên tưởng đến con bài. Người nghe suy đoán là con bài gì thì đặt tiền vào con bài tương ứng dán trên bàn gỗ. Đợi người chơi đặt xong, người cầm cái mở chén để công bố kết quả và chung tiền cho ai thắng cuộc.

   Hò bài tiệm cũng như hò bài thai, nhưng người ta cho con bài vào một hộp gỗ nhỏ treo trên cây, bên dưới ghi câu hò. Đợi mọi người suy đoán trong một ngày, người cầm cái mới cho mở hộp để phân định hơn thua.

Hát bài chòi sẽ là hồ sơ đề nghị di sản văn hóa phi vật thể cho năm 2015 và do viện âm nhạc Hà nội đảm nhiệm việc thiết lập hồ sơ.

Xin mời các bạn xem/nghe:
Hat hội bài chòi tại Hội An   https://www.youtube.com/watch?v=_JaCzbV_8PY
4.2.3 Ví – Giặm Nghệ Tĩnh
Dân ca Ví, Giặm là hai lối hát dân ca không có nhạc đệm, do cộng đồng hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo, lưu truyền trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt, trong cuộc sống, lúc ru con, khi làm ruộng, chèo thuyền, lúc dệt vải, xay lúa…

Hai lối hát dân ca này thường được hát xen kẽ cùng nhau nên có tên ghép là Dân ca Ví, Giặm.
Ví và Giặm xứ Nghệ có điểm chung là lối hát vừa mang tính ngẫu hứng, vừa có thủ tục và quy cách cụ thể; về thang điệu, điệu thức, tiết tấu, giai điệu và giọng hát, được diễn xướng theo ba hình thức: hát lẻ, hát đối và hát cuộc (thi).

Các cuộc hát nổi bật với lối hát giao duyên, thường có ba chặng: hát dạo, hát đối và hát xe kết. Mỗi bên hát phải có ít nhất hai, ba người, một người hát chính, người còn lại hát theo để đỡ giọng.

Dân ca Ví, Giặm đã được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia (2013) và đang làm hồ sơ do Viện nghiên cứu văn hóa và nghệ thuật chủ biên để được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào cuối năm 2014.

Hát Ví

Ví thuộc thể ngâm vịnh, bằng phương pháp phổ thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể…)

PGS. Ninh Viết Giao đã cho rằng, “Ví” là “với”, hát ví là hát với và “ví” là “vói”. Bên nam đứng ngoài ngõ, ngoài đường “hát vói” vào sân, vào nhà với bên nữ; hoặc đám con gái đang cấy lúa ở đỗi ruộng này “hát vói” sang khu ruộng bên cạnh đó với đám con trai đang nhổ mạ. Đó là một ý kiến đáng nghiên cứu.

Hát ví thường là hát tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát có thể co dãn một cách ngẫu hứng. Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tuỳ thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, âm vực của ví thường không quá một quãng 8.

Tính biểu cảm của hát ví tuỳ vào môi trường hoàn cảnh, không gian, thời gian và tâm tính của người hát.
Hát ví hát giao duyên nam nữ được phổ biến vùng Nghệ Tĩnh, các thể kỷ trước dùng để trao đổi tình cảm giữa đôi trai gái.

Các lối hát được gọi tên theo các hình thức lao động và sinh hoạt như: Ví phường vải, Ví phường đan, Ví phường nón, Ví phường củi, Ví trèo non, Ví đò đưa, …

Ví phường vải, thể loại phức tạp nhất vì có sự tham gia của các nhà Nho, các ông đồ Xứ Nghệ, có quy cách và thủ tục hát chặt chẽ hơn cả, thường theo ba chặng:
chặng một có hát dạo, hát chào mừng và hát hỏi;
chặng hai là hát đố hoặc hát đối – yêu cầu đối tượng phải giải và đối;
chặng ba gồm hát mời, hát xe kết và hát tiễn

(tương đương với hát Quan họ Bắc Ninh).
Xin mời các bạn nghe:

Ví phường vải Đêm trăng   https://www.youtube.com/watch?v=yX3qYfOfBek

Ví đò đưa     https://www.youtube.com/watch?v=ZdH1B9m52lg

Hát Giặm

Hát Giặm là thể hát nói có nhịp điệu, tiết tấu rõ ràng, có phách mạnh, phách nhẹ (nhạc cụ thường là phách), thường là nhịp 3/4 và 6/8.
Một bài Giặm thường dựa theo thể thơ ngũ ngôn hay vè (thơ 5 chữ) có nhiều khổ. Loại phổ biến là mỗi khổ có 5 câu, câu 5 điệp lại câu 4 nên được gọi là Giặm.
Quy trình hát Giặm về cơ bản cũng có ba chặng như hát Ví, song các bước thì không chặt chẽ, đầy đủ bằng.

Giặm rất giàu tính tự sự, tự tình, kể lể, khuyên răn, phân trần, bày giải. Cũng có loại giặm dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng và có cả giặm trữ tình giao duyên.

Có nhiều loại Giặm như: Giặm ru, Giặm kể, Giặm khuyên, Giặm nói, Giặm vè, Giặm nam nữ, Giặm cửa quyền, Giặm xẩm,…

Giặm hay Dặm? 
Ý nghĩa của từ Giặm, có hai cách giải thích:
1- trong lúc hát đối đáp, câu của người trả lời phải chấp theo vần ở cuối câu của người hỏi. Sự chắp vần hay hát chắp vào ấy tức là giặm, để láy lại câu cuối;
2- chính vì câu láy ở cuối mỗi khổ, tức là câu nhắc lại ấy được gọi là câu dặm. Vì vậy mà nhân dân gọi thể loại này là hát dặm.
Có người viết ‘giặm”, lại có người viết “dặm” nhưng hình như “Giặm” đã được công-nhận một cách chính-thức.
Xin mời các bạn nghe:
Giặm xẩm thương  https://www.youtube.com/watch?v=N6n0_kPHXO8
Giận mà thương     https://www.youtube.com/watch?v=EmHVzhDWYqk

Yên Hà, Tháng 10, 2014

Xín đón đọc số sau:

Tiếng nước tôi : Văn học dân gian (4) / Dân ca Nam Bộ

Để nghe nhạc cổ truyền Việt Nam, xin mời các bạn ghé vào trang Chim Việt cành Nam   http://chimvie4.free.fr/danca01.htm

Tài-liệu nguồn:

Dân ca Việt Nam, Trần Quang Hải
http://vietsciences.free.fr/vietnam/tiengviet/dancavietnam.htm

Sơ lược về dân ca Việt Nam, Trần Quang Hải
http://tranquanghai.info/p566-so-luoc-ve-dan-ca-viet-nam.html

Cổ nhạc – Dân ca   Chim Việt Cành Nam
http://chimvie4.free.fr/danca01.htm

Cổ nhạc – Dân ca
http://chimvie4.free.fr/danca01.htm


http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_(%C3%A2m_nh%E1%BA%A1c)

Những đặc trưng của hò Huế
http://vietbao.vn/Kham-pha-Viet-Nam/Nhung-dac-trung-cua-ho-Hue/1735228005/148/

Bài chòi   http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A0i_ch%C3%B2i

Hò bài chòi
http://www3.thuathienhue.gov.vn/GeographyBook/Default.aspx?sel=3&id=1241
Dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh
http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_ca_v%C3%AD,_d%E1%BA%B7m_Ngh%E1%BB%87_T%C4%A9nh

Dân ca Nghệ – Tĩnh
http://nhaccotruyen.vn/main/CotruyenDangian/DancaBacTrungBo/DancaBactrungbo.htm
Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ

http://www.dsvh.gov.vn/pages/news/preview.aspx?n=623&c=41

Bảo tồn dân ca Vi, Giặm… Trần Hồng Cơ
https://tranquanghai1944.wordpress.com/2014/09/29/tran-hong-co-bao-ton-dan-ca-vi-giam-qua-thu-thach-cua-thoi-gian/

Hát ví trong dân ca người Việt ở xứ Nghệ, Lê Hàm
http://vanhoanghean.vn/goc-nhin-van-hoa3/nh%E1%BB%AFng-g%C3%B3c-nh%C3%ACn-v%C4%83n-h%C3%B3a/hat-vi-trong-dan-ca-nguoi-viet-o-xu-nghe
Posted by Thanh Tuyền and Ngọc Phú at 10:08 AM No comments:

Email ThisBlogThis!Share to TwitterShare to FacebookShare to Pinterest

Labels: Tham Khảo

Reactions:

Older Posts Home

Subscribe to: Posts (Atom)

Total Pageviews

93890

ARTSHARE

Blog Archive

http://phu-tran.blogspot.fr/search/label/Tham%20Kh%E1%BA%A3o

TRẦN THIỆN TÙNG : GS, TS TRẦN VĂN KHÊ: “Phải biết thương nghệ thuật cha ông”


GS, TS TRẦN VĂN KHÊ:
 
“Phải biết thương nghệ thuật cha ông”
 
Thứ tư, 23/10/2013 – 03:14 PM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định    
 
 
“Phải biết thương nghệ thuật cha ông”
 
 
 
 

Tôi tới căn biệt thự mà chính quyền TP Hồ Chí Minh dành cho GS, TS Trần Văn Khê (trong ảnh) khi ông chính thức trở về Việt Nam sinh sống thì vị Giáo sư nổi tiếng ngoài 90 tuổi, tuy ngồi xe lăn nhưng vẫn miệt mài lên mạng đọc tin tức, gửi email. Ông trăn trở: “Tôi đã nói rất nhiều, viết cũng rất nhiều nhưng dường như không ai quan tâm, trong khi âm nhạc dân tộc đang chìm dần vào quên lãng”.

 

Đó có phải là điều đáng buồn cho nền âm nhạc truyền thống Việt Nam hiện nay, thưa GS?

Đáng sợ, đáng lo chứ không chỉ đáng buồn! Thanh niên xa rời âm nhạc dân tộc vì nhiều lẽ. Thứ nhất là do điều kiện lịch sử, nước ta bị thực dân Pháp đô hộ cả thế kỷ, họ không cấm âm nhạc dân tộc nhưng đẩy lùi âm nhạc Việt Nam vào bóng tối, làm người dân quên vốn quý dân tộc, đổ xô học âm nhạc phương Tây. Suốt hai cuộc chiến tranh, mọi lực lượng đổ xô đánh giặc giữ nước, văn hóa dân tộc gần như bị đứt đoạn. Thứ hai là bởi dân mình chỉ hãnh diện học âm nhạc bác học phương Tây, cầm cây violon thì khoe, học đàn cò thì giấu giếm. Đó là tâm lý mặc cảm của người Việt, coi cái gì của mình cũng thua người ta. Nước nhà thống nhất, Chính phủ phải ưu tiên cơm ăn, áo mặc nên âm nhạc bị sao lãng. Nhạc mới, thậm chí chất lượng kém cũng được trả cả triệu đồng, còn nhạc dân tộc thì vài chục nghìn đồng. Không ai muốn học nhạc dân tộc để rồi chịu cảnh nghèo túng. Dân chúng mải lo làm ăn, không giáo dục con cháu về thẩm mỹ âm nhạc dân tộc, trong khi ngôi sao Hàn Quốc đến thì đổ xô đi đón rần rần, còn âm nhạc dân tộc làm chương trình rất công phu như CLB Tiếng hát Quê hương phát 600 giấy mời nhưng chỉ có chừng 200 người tới. Chính quyền chưa chăm lo đúng mực tới đời sống của nghệ nhân. Trong khi đó, ở những đất nước như Hàn Quốc, người làm nghệ thuật dân tộc luôn được coi như báu vật quốc gia.

Nhưng thưa ông, cũng có ý kiến cho rằng, những nước có kinh tế phát triển thì mới có điều kiện đối đãi tốt?

Đây là do tư duy chứ đâu phải tại nghèo hay giàu! Ấn Độ không giàu có nhưng vẫn tôn trọng âm nhạc dân tộc. Trong đời sống xã hội hiện nay có nhiều thay đổi gây bất lợi cho âm nhạc dân tộc. Xưa mẹ ru con, “sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn”.

Nay mẹ không hát ru cho trẻ nhỏ thì khi lớn lên, chúng sẽ không thể nhớ và neo giữ âm nhạc dân tộc. Trước đây, người dân hò hát cho quên mệt nhọc, họ tham gia và là chủ thể tạo nên âm nhạc dân tộc, còn nay thì thường để máy phát thanh thu sẵn, thụ động nghe. Gia đình có điều kiện kinh tế ở thành phố thì cho con trẻ học trường quốc tế. Và còn do cách giáo dục trong nhà trường của chính chúng ta.

Xã hội phát triển như vậy thì sự thay đổi với cách nhìn nhận, thưởng thức âm nhạc dân tộc cũng là điều tất yếu chăng, thưa GS?

Nếu chỉ mất một, hai yếu tố thì không sao, nhưng nay chúng ta đã mất hết, mất cả tư duy lẫn tình yêu với âm nhạc dân tộc. Cần phải xem lại và lập lại tuần tự những điều đưa trẻ em đến gần vốn quý dân tộc như: tiếng hát ru, tổ chức những dàn hò khi làm việc, hát đối ca nam nữ trong lúc nghỉ ngơi…

Cơ quan quản lý nói, văn hóa Việt Nam phải có tính chất dân tộc, khoa học đại chúng, nên sáng tác điệu nhạc phải có tính đương đại mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Nói thì đúng nhưng dân chúng làm việc cực khổ mà chưa có đủ cơm ăn áo mặc, lấy đâu ra tiền mua đàn và trả học phí? Trong các nhạc viện, sinh viên không có tiền mua đàn piano thì có thể luyện tập với cây đàn của trường, còn với nhạc cụ dân tộc, sinh viên phải tự trang bị.

Tức là khi hô hào học nhạc dân tộc, mình không tự đầu tư thì ai sẽ đầu tư cho mình?

Đúng thế, Nhật Bản là nước công nghiệp gấp nghìn lần Việt Nam mà còn coi âm nhạc dân tộc là quốc gia chi bảo. Nếu mình không quan tâm thật sự thì ai có thể làm thay cho mình? Mẹ không biết ru con thì nên có chương trình hát ru để thay thế.

Chính quyền, báo chí cần tôn vinh người làm âm nhạc dân tộc. Muốn tìm lại âm nhạc dân tộc thì phải khuyến khích giá trị dân tộc, mà việc đầu tiên chính quyền phải bỏ kinh phí đào tạo, người thầy cũng không được giấu nghề và trò phải tầm sư học đạo. Học để hiểu, có hiểu mới thương, có thương mới tập luyện rồi mới biểu diễn thì âm nhạc dân tộc mới được hồi sinh, chứ nay thì tàn tạ lắm rồi.

Nhắc lại chuyện cũ, nếu năm 1976, GS không gặp NSND Quách Thị Hồ và ghi âm giọng hát của bà để chuyển tới các cuộc thi âm nhạc dân tộc của nước ngoài thì ca trù sẽ ra sao?

Thì sẽ bị rơi vào quên lãng. Khi tôi ra Hà Nội năm 1976, kiếm tiếng trống chầu còn không có, đờn cũng đờn lén, nay ở nhiều nơi có thể nghe được ca trù. Người Việt Nam thường không nhận ra vốn quý mình đang có, chỉ tới khi thế giới quan tâm tới một bộ môn nào đó thì mới… giật mình.

Chắc ông rất xót xa khi nhiều “báu vật quốc gia” hiện sống trong cảnh thanh bần và gần đây, nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu mất trong nghèo túng?

Thương xót không đủ mà phải đấu tranh cho họ. Khi có dịp, tôi luôn sẵn sàng giới thiệu chân giá trị khoa học và nghệ thuật của các bộ môn âm nhạc dân tộc. Người Việt Nam phải biết thương nghệ thuật của cha ông, thương người làm nghệ thuật.

Hiện nay chúng ta có một số loại hình nghệ thuật dân tộc được thế giới vinh danh. Nhưng đâu phải đợi UNESCO công nhận thì nó mới có giá trị mà đã có giá trị từ trước. Việc đưa ra thế giới để họ công nhận là tốt, vì trước đây vốn không ai để ý thì nay được quan tâm. Nhưng đó vẫn là cái nhìn của người ngoài, chẳng lẽ chính bản thân dân tộc Việt Nam không biết quý trọng vốn liếng cha ông mình?

Thời trai trẻ, được tiếp cận âm nhạc phương Tây, tôi thấy nó mới mẻ nên quyết định phải học. Tuy nhiên, mỗi âm nhạc có ngôn ngữ phù hợp với từng dân tộc. Khi bị đau, nằm ở nhà thương, tôi xoay 180 độ về với âm nhạc cha ông. Tôi chuộc tội với âm nhạc dân tộc bằng việc giới thiệu nó trên khắp thế giới và trong nước. Nhưng làm suốt đời chưa được thành công, mười phần thì cũng mới chỉ được tới năm, sáu.

GS Trần Văn Khê và NSƯT Trần Thị Tuyết tại một buổi thuyết trình biểu diễn nghệ thuật dân tộc ở tư gia.

Thưa GS, tôi cảm thấy sự ngậm ngùi, bất lực của một người tâm huyết trong giọng nói của ông?

Một con chim én không làm nên mùa xuân. Tâm huyết của 100 người trong xã hội không bằng một người có tâm trong cơ quan quản lý, vì quyền lực, tiền bạc nằm trong tay thì mọi yêu cầu sẽ được thực hiện dễ dàng.

Nhiều nếp văn hóa dân tộc, nhất là văn hóa ứng xử trong xã hội xuống cấp ghê gớm. Nhất là trong gia đình, xưa gọi dạ bảo vâng, đi thưa về trình thì nay không còn. Trong trường thì khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” nhưng thực chất thiếu tôn ti, trật tự. Ra ngoài đường không ít người không tôn trọng luật pháp.

Câu chuyện về giao thông cho thấy, người Việt Nam thường tôn trọng sự tự do của mình mà không tôn trọng sự tự do của người khác.

Tuổi cao, sức yếu nhưng ông vẫn miệt mài làm việc không ngừng nghỉ. Có vẻ như cho tới thời điểm này, âm nhạc dân tộc vẫn là nỗi canh cánh lớn nhất của ông?

Hồi nào tới giờ tôi vẫn vậy. Tôi thường đi nói chuyện âm nhạc dân tộc hoặc tổ chức những buổi nói chuyện, biểu diễn âm nhạc Việt Nam tại nhà, nhưng có mấy người trong giới chức quản lý tới nghe. Tôi chỉ mới thấy có chừng mươi người quan tâm thật sự. Tôi luôn ưu tư, nhưng nay ưu tư nhiều hơn nữa. Nhất là khi tuổi tôi đã cao, sức đã cạn mà chưa nhận thấy dấu hiệu gì đáng mừng.

Xin được chia sẻ với mối ưu tư lớn của giáo sư. Trân trọng cảm ơn ông.

“Hiện nay chúng ta có một số loại hình nghệ thuật dân tộc được thế giới vinh danh. Nhưng đâu phải đợi UNESCO công nhận thì nó mới có giá trị mà đã có giá trị từ trước. Nhưng đó vẫn là cái nhìn của người ngoài, chẳng lẽ chính bản thân dân tộc Việt Nam không biết quý trọng vốn liếng cha ông mình?”

* GS, TS Trần Văn Khê là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Ông sinh năm 1921, trong đại gia đình có bề dày hoạt động âm nhạc nên từ nhỏ đã được học cổ nhạc.

Năm 1949, ông sang Pháp du học về âm nhạc, làm luận án tiến sĩ âm nhạc – văn học ở ĐH Sorbonne (Pháp). Từ năm 1963, ông dạy tại Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris .

Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác… Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, ông trở về nước sinh sống, tiếp tục nghiên cứu, giảng dạy âm nhạc dân tộc và đã hiến tặng cho TP Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc, tài liệu âm nhạc.

Ảnh trong bài do nhân vật cung cấp.

 
BÀI VÀ ẢNH: TRẦN THIỆN TÙNG