Tag Archives: phạm duy

BBC RADIO : Trần Văn Khê kể nhờ Phạm Duy thoát chết


Trần Văn Khê kể nhờ Phạm Duy thoát chết

pham duy tran van khe

Giáo sư, Tiến sỹ Trần Văn Khê đã có cuộc phỏng vấn dài với BBC về Phạm Duy và kể lại sự kiện năm 1947 trong đó nhờ có sách của Phạm Duy mà ông không bị xử bắn.

Ông Khê nói Phạm Duy là một trong ba người bạn thân nhất của ông và đã có nhiều kỷ niệm từ thập niên 1940.

Giáo sư Khê, người cũng về Việt Nam sinh sống sau nhiều thập niên sống ở nước ngoài, là người đọc điếu văn duy nhất tại tang lễ người bạn của ông.

Nói chuyện với Nguyễn Hùng của BBC hôm 1/2, hai ngày trước khi an táng nhạc sỹ Phạm Duy, ông Khê nói ông cũng đang viết sách về người cùng thời “vận nước nổi trôi”.

Thu thanh lời nói của GS Trần Văn Khê  nói về Phạm Duy

PHẠM NGỌC LÂN : Con Đường Cái Quan #3/3 miền Nam


mời quý anh chị và quý bạn nghe lại trường ca Con Đường Cái Quan của Phạm Duy (11 bài trên tổng số 19), được chia làm 3 phần Bắc, Trung, Nam với hai giọng ca của Phan Thanh Hằng và Phạm Ngọc Lân. Giới thiệu: Quản Mỹ Lan. Hình ảnh và trình bày: Phạm Bạch Yến.

Ajoutée le 4 janv. 2014

* CĐCQ – #1 miền Bắc :http://www.youtube.com/watch?v=XsHg5v…
* CĐCQ – #2 miền Trung : http://www.youtube.com/watch?v=Fa9C4P…

PHẠM NGỌC LÂN : Con Đường Cái Quan #2/3 miền Trung


mời quý anh chị và quý bạn nghe lại trường ca Con Đường Cái Quan của Phạm Duy (11 bài trên tổng số 19), được chia làm 3 phần Bắc, Trung, Nam với hai giọng ca của Phan Thanh Hằng và Phạm Ngọc Lân. Giới thiệu: Quản Mỹ Lan. Hình ảnh và trình bày: Phạm Bạch Yến.

Ajoutée le 4 janv. 2014

* CĐCQ – #1 miền Bắc :http://www.youtube.com/watch?v=XsHg5v…
* CĐCQ – #3 miền Nam : http://www.youtube.com/watch?v=KFlPau…

PHẠM NGỌC LÂN : Con Đường Cái Quan #1/3 miền Bắc


mời quý anh chị và quý bạn nghe lại trường ca Con Đường Cái Quan của Phạm Duy (11 bài trên tổng số 19), được chia làm 3 phần Bắc, Trung, Nam với hai giọng ca của Phan Thanh Hằng và Phạm Ngọc Lân. Giới thiệu: Quản Mỹ Lan. Hình ảnh và trình bày: Phạm Bạch Yến.

Ajoutée le 4 janv. 2014

* CĐCQ – #2 miền Trung : http://www.youtube.com/watch?v=Fa9C4P…
* CĐCQ – #3 miền Nam : http://www.youtube.com/watch?v=KFlPau…

GS TRẦN VĂN KHÊ, NHẠC SƯ VĨNH BẢO, NHẠC SĨ PHẠM DUY : BA CÂY ĐẠI THỤ ÂM NHẠC VIỆT NAM tại CARBONDALE, SOUTHERN ILLINOIS, HOA KỲ năm 1971


Tài liệu rất quý cho thấy tình bạn giữa ba cây đại thụ của âm nhạc Việt Nam : GS Trần Văn Khê, Nhạc sư Vĩnh Bảo và nhạc sĩ Phạm Duy .

 
GS Nguyễn Đình Hoà - anh Vĩnh Bảo - anh Phạm Duy
Anh Vĩnh Bảo - Trần Văn Khê - anh Nguyễn Đình Hoà
Anh Vĩnh Bảo - Trần Văn Khê - Anh Nguyễn Đình Hoà
Photo de Tran Truongca.
Phạm Duy & anh Vĩnh Bảo
Tran Truongca a ajouté 18 nouvelles photos.

Đây là những hình ảnh ghi lại thời kỳ mà anh Vĩnh Bảo – anh Phạm Duy và tôi được mời sang Mỹ để thuyết giảng về Âm nhạc Việt Nam (kể cả cổ nhạc & tân nhạc). 3 người chúng tôi được Giáo sư Nguyễn Đình Hoà (trưởng khoa Việt học của trường Đại học Carbondale – Southern Illinois) đứng ra liên hệ để Ban giám hiệu của trường Đại học có thơ chánh thức mời chúng tôi sang Mỹ làm việc. Lúc đó tôi đang làm Giáo sư nhạc học tại trường Đại học Sorbonne Paris IV và Giáo sư chỉ đạo nghiên cứu cho Trung tâm nghiên cứu Khoa học Pháp (CNRS) nên tôi chỉ nhận sang Mỹ trong thời gian 2 tháng. Anh Phạm Duy ở lại 3 tháng. Chỉ có anh Vĩnh Bảo là ở lâu hơn vì ngoài môn “Thuyết giảng về cách biểu diễn – dạy đờn theo phong cách Đờn ca tài tử”, anh lại còn giảng thêm về cách lựa gỗ & đóng đờn thế nào cho cây đờn kêu to. Sau thời gian anh Vĩnh Bảo xong nhiệm kỳ tại Mỹ, trước khi về VN ghé lại Paris, ở lại nhà tôi trong 2 tháng, tôi có dịp mời bạn tôi đến biểu diễn & thuyết trình về các hơi – điệu trong nhạc tài tử cho học trò lớp cử nhơn của trường Đại học Sorbonne Paris IV, cùng nhiều buổi hội họp của người Việt tại Pháp nghe. Nhân dịp đó có nhiều chuyên gia ở đài phát thanh trong cơ quan OCORA (Office Co-oporation avec la radio) mời tôi và anh Vĩnh Bảo ghi âm một dĩa hát Đờn ca tài tử (số hiệu OCR 68), và năm 1993 dĩa hát 33 vòng này (đường kính 30cm) được chuyển ra thành dĩa CD. Tạp chí Diapasan ghi lại số dĩa được khách hàng mua trong mỗi năm thì năm 1994, dĩa hát của anh Vĩnh Bảo và tôi được bán nhiều nhứt nên tạp chí có gởi tặng cho chúng tôi danh hiệu Diapasan D’or (tương tợ như là huy chương vàng của những dĩa được khách hàng ưa chuộng mua nhiều nhứt).

Trong thời gian ở tại Mỹ, tôi được mời giảng về “Lịch sử & lý thuyết của các môn Âm nhạc truyền thống Việt Nam”, có minh hoạ bằng dĩa hát dương bản & chính anh Vĩnh Bảo với tôi thường hoà chung đờn trước mặt học trò. Nhạc sư Vĩnh Bảo được mời thuyết trình về “Cách biểu diễn âm nhạc – cách dạy đờn trong truyền thống VN” và đặc biệt nhứt là cách đóng đờn mà chỉ có anh Vĩnh Bảo mới có đủ khả năng để dạy môn này. Anh Phạm Duy thì chuyên nói chuyện về dân ca: từ dân ca cổ trong truyền thống Việt Nam, đến những bài dân ca mà Phạm Duy cho là “dân ca mới”. Phạm Duy cũng có dịch 1 số bài dân ca từ tiếng Việt sang tiếng Anh (Qua cầu gió bay…). Khi sang Pháp, tôi có tạo điều kiện cho anh Vĩnh Bảo gặp Giáo sư khoa Thanh học (Acoustique) là Giáo sư Émile Leipp. Ông này rất ngạc nhiên khi thấy những sáng tạo của anh Vĩnh Bảo trong khi đặt “cầu vồng” trong cây đờn Tranh, biết tìm cách làm cho diện tích những nơi âm thanh đến đó dội lại để tạo nên tiếng đờn rất vang từ trầm đến cao. Giáo sư Émile Leipp hỏi thăm anh Vĩnh Bảo đã học trường dạy về thanh học nào, thì anh Vĩnh Bảo cười mà trả lời: “Đó là những suy tư và sáng tạo của tôi”.

Tôi rất hãnh diện mà có một người bạn không những biết rất rành về lịch sử của Đờn ca tài tử từ lúc xa xưa đến ngày nay, biết phân biệt và giải thích rành rẽ các hơi và các điệu, lại có những cách đóng đờn làm cho những chuyên gia Châu Âu phải thán phục. Anh lại có thể thuyết giảng bằng tiếng Anh và tiếng Pháp mà không cần thông dịch. Tôi rất sung sướng mà có được một bạn đồng hành như thế.

Hôm nay soạn lại những tấm hình cũ, thấy có 1 số ảnh kỷ niệm của mấy anh em nên muốn chia sẻ tới các bạn, đồng thời cũng để ghi nhớ lại 1 giai đoạn lịch sử trong sự giới thiệu âm nhạc truyền thống ra nước ngoài của các nhạc sư, nhạc sĩ Việt Nam.

Bình Thạnh 07.10.2014
Trần Văn Khê

(Hình ảnh tư liệu của TVK chụp tại Mỹ 1971 khi giảng dạy tại Đại học Carbondale – Southern Illinois)

TRỊNH THANH THỦY : Những bức tranh xã hội trong nhạc phẩm Phạm Duy


Những bức tranh xã hội trong ca khúc của Phạm Duy

Trịnh Thanh Thủy

 pham duy

 

Có lẽ chưa bao giờ cộng đồng người Việt hải ngoại lại bị giằng xé giữa những cảm xúc khinh, yêu, giận, ghét, lẫn lộn khi nghe nhắc đến tên nhạc sĩ Phạm Duy. Tình cảm mâu thuẫn này cũng đồng dạng với phản ứng của cộng đồng hải ngoại đồi với sự quay lưng của nhiều ca nhạc sĩ trước kia đã từng được thương mến và giờ đây họ lại chọn lựa trở về Việt Nam để trình diễn, kiếm sống, hay ngụ cư. Dư luận phê phán và lên án những kẻ bị cho là trở cờ, phản bội lại cộng đồng, phản bội lại lý tưởng tự do mà ngày xưa chính họ đã liều chết, vượt biển đi tìm. Trong bối cảnh xã hội xao xác lòng người như vậy, sự ra đi mãi mãi vào lòng đất của một Phạm Duy vẫn không khiến những người lỡ ghét ông nguôi cơn giận.

Nếu ngồi tính sổ và nhìn lại trong kho tàng âm nhạc Miền Nam Việt Nam từ thời tiền chiến khoảng 1945 cho tới nay, chúng ta còn lại bao nhiêu nhạc sĩ nổi danh còn sống và bao nhiêu người đã mất đi? Phần lớn những đại thụ trong lĩnh vực ca khúc đã ngã xuống, kể cả Trịnh Công Sơn và Phạm Duy. Theo tôi sự mất mát to lớn của những bậc tài danh ấy chưa có những tài hoa nổi trội trong cộng đồng hải ngoại nào thay thế, hoặc nếu có thì rất ít, hoặc nếu lớp trẻ nổi lên thành danh thì đã hoà nhập vào dòng chính âm nhạc của quốc gia họ đang cư ngụ.

Hơn nữa, tôi thấy chúng ta không nên mang mối quan hệ đạo đức và chính kiến ra mà hoà trộn cùng những ca khúc của Phạm Duy để bình luận. Tuy con người và tác phẩm có liên quan với nhau, nhưng đời sống tình cảm hay chính kiến của cá nhân không phải là mục tiêu của lý luận hay phê bình đối với tác phẩm. Ngược lại, nếu vì mất cảm tình với con người ông mà phủ định mọi thành quả của ông, thì có lẽ đó là một đối xử bất công với chính chúng ta hơn là với ông. Chúng ta sẽ vô tình để mất một gia tài âm nhạc quý báu đã đánh dấu một mốc lịch sử trong nền âm nhạc phong phú của miền nam Việt Nam trước thập niên 1975. Ngoài ra, Phạm Duy chỉ là một nhạc sĩ, một nghệ sĩ chứ không phải là một chính khách, một nhà giáo hay một nhà đạo đức. Chúng ta không nên trông đợi thái quá ở ông như một con người đứng đắn, mô phạm hoặc một tấm gương sáng cho người sau phải noi theo. Trong hồi ký ông để lại, ông cũng chỉ mong mọi người xem ông là một người hát rong qua thời đại. Ông không giấu giếm những sự kiện trong quá khứ; ông đã sống một cuộc sống rày đây mai đó theo chân những gánh hát rong; ông đã sống hồn nhiên với đào hát, với những thiếu nữ ái mộ, cũng như thoả mãn các thú vui nhục dục, phóng túng, đã đến và đi, cùng các cuộc tình ngắn, dài, như cơn gió thoảng. Được trời phú và đãi ngộ cho những tài hoa, đến đâu ông cũng được phụ nữ yêu chiều, ông thẳng thắn xưng tội trong nhật ký “Trót là một nghệ sĩ chỉ biết xưng tụng tình yêu, không bao giờ tôi trốn tránh tình yêu cả. Vì cầm tinh con bướm, tôi có thể là một người tình lang chạ, bao giờ cũng biết yêu, biết quý từng cuộc tình một, nhưng tôi không thờ chủ nghĩa đa thê”. Ông cũng khẳng định ông không đứng về một phe phái, chính kiến nào. Là một nghệ sĩ thấy chiến tranh mang tang tóc, chết chóc cho người dân, ông phản kháng, ông chỉ trung thành với âm nhạc. Như vậy chúng ta nên ngầm hiểu con người Phạm Duy không có một lập trường chính trị, chính kiến nào rõ rệt. Bản chất nghệ sĩ chuồn chuồn phóng túng của ông khiến ông không thích ràng buộc bởi nề nếp, luật lệ, đảng phái. Tại sao chúng ta phải mong đợi sự trung thành ở một lý tưởng hay một chủ thuyết nào mà ông không bao giờ đi theo?

Khi ráng chiều đã ngả, con người Phạm Duy đã khuất bóng, xin những hệ lụy trần gian của ông theo đó mà về, mà lắng xuống với tro bụi thời gian. Và tại sao chúng ta không đánh giá và xem lại những sáng tác và các đứa con tinh thần mà Phạm Duy đã đóng góp cho kho tàng âm nhạc Việt Nam từ đó tới nay để ôm ấp chúng hơn là ruồng bỏ chúng?

Nhìn vào gia tài âm nhạc đồ sộ của Phạm Duy để lại, tôi giật mình. Tổng cộng vượt quá con số ngàn. Những đứa con tinh thần của ông được nuôi lớn qua từng biến cố lịch sử và giai đoạn sống. Chúng trưởng thành nhờ những trải nghiệm đầy thương yêu, nhiệt tâm cũng như hùng tâm trên từng bước chân rong ruổi của người nghệ sĩ nuôi mộng viễn du. Vạn lời ca, ngàn cánh nhạc ghép lại, các tác phẩm của ông trông như tấm tranh collage (cắt, dán), đa diện, đa thể, đầy màu sắc. Nào là bé ca, bình ca, rong ca, ngục ca, tâm ca, đạo ca, hương ca, v.v…, đúng là vườn hoa muôn vẻ. Ngồi ngắm bức tranh khổng lồ này, tôi gắp ra những mảnh nhỏ mà tôi cho là lân tinh lấp lánh hợp với nhãn quan của tôi, để thưởng thức, để khoe với độc giả. Đó là những bản nhạc như bức tranh xã hội trong nhạc Phạm Duy.

Ông sinh ra trong một gia đình dòng dõi, bố là nhà văn chuyên về tả chân và phê bình xã hội. Có lẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp từ bố nên ông đã viết nhiều bài hát có nội dung như những bức tranh xã hội thời đại. Ông viết trong hồi ký “Những lúc tôi soạn loại bài hát phê bình xã hội như tâm ca hay tục ca tôi, đều liên tưởng tới việc làm của một người bố tuy không gần gũi mà hoá ra thân thiết.” Ông cũng từng say mê hội hoạ, theo học trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, và là bạn đồng môn của Võ Lăng, Bùi Xuân Phái… Do đấy, ta sẽ không ngạc nhiên, hội hoạ và cái đẹp đã góp sức tô màu, vẽ nét vào các bức tranh trong nhạc Phạm Duy. Hãy xem vài bức tranh sắc màu trong các sáng tác của ông vào thập niên 1948-1958, là thời gian sức sáng tác của ông sung mãn nhất, cùng bầu nhiệt huyết thanh niên đầy ắp trong lứa tuổi của 27 đến 37. Những bài hùng ca, kháng chiến ca, dân ca, tình ca quê hương đã lần lượt ra đời.

 

Bức hoạ đồng quê

Trước khi có biến cố chia cắt đất nước năm 1954, Phạm Duy đã lên đường vào Nam tìm tự do từ năm 1951. Người dân sông nước Miền Nam trước năm 1954 đã biết đến ông nhờ các cuộc lưu diễn, giờ có thêm cơ hội được nghe vang vang những khúc tình ca. Nhắc đến “Tình Ca” (1953), có lẽ người dân Miền Nam không ai không từng nghe qua một lần. Bài hát này đã làm vang lừng tên tuổi ông. Có người còn gọi bài hát này là “Tiếng nước tôi”. Vì chỉ cần một tiếng nói Việt Nam cất lên, bất cứ ở đâu đó, cái tình yêu quê liền bừng dậy. Quê hương là sông, là suối, biển, hồ, tường vôi, mái ngói, đất ẩm, mưa ngâu. Ông đã thâu tóm được cả quê hương một cách khéo léo trong một bài hát nhỏ. Rồi đến “Tình hoài hương” và những lời ca hoài quê, nhớ nước, nhớ vòm tre non, nhớ làn khói ấm, nhớ cả dòng Hương. Và còn nữa, những bức tranh vẽ uốn theo tấm bản đồ chữ S đi từ Ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mau bằng khúc “Trường ca con đường cái quan”. Yêu quá là yêu những bài tụng ca cho quê hương.

Trong tâm khảm thương yêu của Phạm Duy, ngoài tình yêu quê hương đầy ắp, ông còn yêu phụ nữ rất nhiều, nhất là yêu mẹ. Ông có ba bà mẹ: mẹ ruột, mẹ nuôi và mẹ Việt Nam. Những “Bà Mẹ Gio Linh”, “Bà Mẹ Quê”, “Mẹ Trùng Dương”, “Trường Ca Mẹ Việt Nam”, v.v… đã ra đời như một tri ân đối với những người phụ nữ Việt Nam.

Trong tập hồi ký, ông có nói rằng bài “Bà Mẹ Quê” nguyên thủy có tên là “Bà Mẹ Chiến Sĩ” sáng tác năm 1949 cho tinh thần kháng chiến, sau ông đổi thành “Bà Mẹ Quê”. Những bài hát có màu sắc chính trị giờ lại mang nét xã hội và văn hoá. Ông tâm sự “Thứ bẩy 21 tháng 8, 1999 là ngày lễ an táng Thái Hằng. Trước đó vài ngày, tôi bỏ ra khá nhiều thời gian để tìm tòi trong số trên dưới 1000 cuốn cassettes, một cuốn băng có ghi âm bài Bà Mẹ Quê do Thái Hằng hát trên đĩa 78 tua của Hãng Ðĩa Việt Nam vào năm 1951 mà tôi còn giữ được trải qua biết bao nhiêu cuộc tang thương… Hôm sau, trước khi đậy nắp quan tài, tôi gọi các con ra trước linh cữu để nghe bài ca mẹ hát khi mẹ 23 tuổi… Ðó là một bài hát về tình mẹ. Rồi tôi nói với các con rằng: Không phải tôi chỉ soạn có hai bài nhạc tình cho vợ, mà bất cứ bài ca nào tôi soạn cho tình mẹ đều lấy hứng từ hai người đàn bà thiêng liêng là mẹ tôi và vợ tôi.”

“Vườn rau, vườn rau xanh ngắt một mầu

Có đàn, có đàn gà con nương náu

Mẹ quê, mẹ quê vất vả trăm chiều

Nuôi đàn, nuôi một đàn con chắt chiu.

Bà bà mẹ quê !

Gà gáy trên đầu ngọn tre

Bà bà mẹ quê !

Chợ sớm đi chưa thấy về

Chờ nụ cười son, và đồng quà ngon…”

(“Bà Mẹ Quê” hay “Bà Mẹ Chiến Sĩ”, 1949) – với tiếng hát Thái Hằng

Bài hát khai hoa một bức họa đồng quê tươi sáng với một vườn rau xanh ngắt (Phạm Duy rất yêu màu xanh). Hình ảnh đàn gà con lon ton theo chân gà mẹ tìm mồi tạo nên những vẻ sinh động. Chúng ta có thể hình dung được qua gà mẹ, một bà mẹ quê tất tả ngược xuôi, ra đi từ sớm tờ mờ đất. Trong cái tranh tối tranh sáng của con đường làng, với đôi vai gầy quang gánh, bà mẹ trẻ trong chiếc áo nâu non, ẩn hiện như một bóng ma. Tôi tưởng tượng ra được cảnh chợ quê ồn ã trong tiểu thuyết Xóm Cầu Mới mà Nhất Linh đã tả. Đàn con thì ở nhà thơ thẩn đợi mẹ về, đợi quà, đợi nụ cười hồng của mẹ. Tan chợ, vừa về đến nhà, thấy bầy con, mẹ cười quên cả nhọc nhằn, mở gói quà phân phát cho chúng tấm bánh, củ khoai. Nghe hết bài hát chúng ta có được một góc sinh hoạt bức tranh 3 chiều của bà mẹ hiền: một thân ướt mưa dầm, lo toan việc nhà, việc ruộng nương, phơi lúa, tát nước. Quá là đảm đang.

Tôi sinh ra ở thành thị nhưng mẹ tôi cũng là một bà mẹ quê. Tôi chưa từng sống ở nhà quê bao giờ, nhưng vì đi nhiều, tôi cũng được đặt chân lên những con đường đất trơn trượt men theo cánh đồng lúa mênh mang bát ngát. Chỉ nhìn mẹ, tôi cũng hiểu được sự cần cù, nhẫn nại, đức hy sinh vô biên của những bà mẹ quê như thế nào. Ơi! Hình ảnh các bà mẹ Việt Nam sao mà đẹp.

Có điếc tai vì cái ồn ào phố thị, mới nhớ nếp tịch lặng nông thôn. Có chật chội trong nêm cối phố phường, mới thương sao đồng mạ xanh bát ngát. Chính sách cải cách điền điạ của chính phủ Ngô Đình Diệm đã thay đôi bộ mặt của thôn quê Miền Nam những năm sau 1954 đến 1960. Chính sách này đã khôi phục, bảo vệ quyền dân sự cơ bản là quyền tư hữu, và tôn trọng quyền lợi của chủ đất. Nó giúp nông dân chưa có đất có cơ hội sở hữu một diện tích đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất của họ. Đời sống người dân quê sung túc hơn. Trong bối cảnh xã hội thịnh vượng ấy, đi dạo trên đồng nương, người ta chợt nghe thoảng vọng đâu đó tiếng hát trêu, hát đố, chòng ghẹo nhau của các cặp trai gái. Thú hơn cả là được nghe các câu dân ca khoan hò đối đáp trong những đêm trăng giã gạo. Phạm Duy đã từng sống, làm ruộng, cày sâu cuốc bẫm như một nông dân, nên trong tác phẩm ông đã cảnh quê tả rất thực và bàng bạc. Ông đưa dân ca vào tân nhạc, những luyến láy, nguyên âm “ứ ư, ớ ơ, à ơi” được ông tận dụng cùng giai điệu ngũ cung, khiến người nghe thấy ngay một Đông Phương gần gụi. Bài hát “Vợ Chồng Quê” hạnh phúc mà ông soạn như một biểu trưng lý tưởng cho tình yêu trong sạch và mẫu mực của dân quê từ những năm 1953, giờ mang ra hát lại còn thú vị gì bằng?

“Chàng là thanh niên mạch sống khơi trên luống cầy

Nói năng hiền lành như thóc với khoai

Nàng là con gái nết na trong xóm

Nước da đen giòn với nụ cười son.

Hỡi anh gánh gạo ư ứ trên đường, chàng ơi

Gạo Nam, gạo Bắc ứ ư

Ðòn miền Trung, gánh đừng để rơi

Chàng chàng ơi, gánh đừng để rơi…”

(“Vợ Chồng Quê”, 1953) – với tiếng hát Thái Thanh

Bức tranh sinh động có âm thanh vẽ được hình ảnh người con trai vai mang chiếc đòn gánh Miền Trung, gánh đôi gạo đầy hai thúng Nam Bắc, đi trên đường cái quan, là một hình tượng tuyệt đẹp. Cô thiếu nữ nết na Miền Nam nước da bánh mật, đen giòn đứng cười tươi, nhắn nhủ chàng rằng “Đòn Miền Trung gánh đừng để rơi, chàng chàng ơi gánh đừng để rơi”. Chàng và nàng sống chung hoà thuận, như chim chia mồi, như đũa có đôi. Họ cùng nhau trồng lúa, rẫy khoai, cày sâu cuốc bẫm, học i tờ, nuôi con thơ, tát cạn biển đông.

Hội hoạ Tây Phương có những bức tranh bộ ba (triptych). Phạm Duy cũng có ca khúc bộ ba về con người Việt Nam, mà ông gọi là những bài hát quê hương-dân tộc. Đó là “Bà mẹ quê”-”Vợ chồng quê”-”Em bé quê”. Thời đó, bài “Em bé quê” rất được các em nhi đồng ưa chuộng, hát một cách say sưa vì Phạm Duy đã thi vị hoá cái thú chăn trâu thật ra rất cực nhọc.

“Ai bảo chăn trâu là khổ

Chăn trâu sướng lắm chứ

Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau

Và miệng hát nghêu ngao

Vui thú không quên học đâu

Nằm đồi non gió mát

Cất tiếng theo tiếng lúa đang reo

Em đánh vần thật mau…”

(“Em bé quê”, 1953) – với tiếng hát Hà Phạm Anh Thư

 

Bức tranh đô thị, con người và thân phận

Nói tới Miền Nam Việt Nam thì đồng quê, lúa gạo là cái nôi nuôi nấng con người, nhưng Sài Gòn chính là hòn ngọc tinh hoa tư duy và điều khiển cái nôi quý báu ấy. Phạm Duy đã về thành, đã sống an vui trong hạt gạo châu thổ vào những giai đoạn từ 1951 tới 1975 ở Sài Gòn. Những giai khúc của phố phường, xóm khuya, phòng trà, kiếp nghèo, theo nhau mà trổi lên như một hoạt cảnh xã hội đô thị. Các bài “Tình kỵ nữ”, “Tiếng bước trên đường khuya”,”Phố buồn” được người dân Sài thành đón nhận như đời sống, thân phận hay những mạch máu luân lưu trong tim họ hàng ngày.

“Đường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân em

Bùn lầy không quên bôi thêm lối ngõ không tên

Qua mấy gian không đèn

Những mái tranh im lìm

Đường về nhà em tối đen…”

(“Phố buồn”, 1954) – với tiếng hát Thanh Thúy

Những người nghệ sĩ rất nhạy cảm trước cái hay, cái đẹp, cái thơ. Phạm Duy cũng không khác. Ông rung động trước nhiều bài thơ hay và ông đã phổ nhạc. Phổ nhạc vào thơ là chắp cánh cho thơ bay xa. Nhạc có thơ, nhạc như chứa chan vần điệu, ca từ thêm mượt mà, gợi hình, gợi cảnh. Thơ được phổ nhạc, thơ như giàu có, đầy âm điệu, tiết tấu khiến người nghe, người biết đến nhiều hơn. Khi Phạm Duy đọc được bài thơ “Tương Phản” của Cung Trầm Tưởng ông đã “cảm” ngay lập tức. Ông không chỉ phổ nhạc bài thơ này mà còn phổ nhạc vài bài nữa của thi sĩ Cung Trầm Tưởng, nổi tiếng nhất là bài “Chưa bao giờ buồn thế”. Phạm Duy và Cung Trầm Tưởng cùng du học ở Pháp. Ông ở Pháp 3 năm (1952-1954) còn Cung Trầm Tưởng ở 5 năm(1953-1957). Năm 1958, ông phổ hai bài thơ của Cung Trầm Tưởng và đều đổi nhan đề. Bài “Chưa bao giờ buồn thế” thành “Tiễn Em” và “Tương Phản” thành “Bên ni, bên nớ”. 

“Đêm chớm ngày tàn, theo tiếng xe về, lăn về viễn phố

Em hỡi sương rơi, ngoài song đêm hạ, ôi buồn phố xá

Hoang liêu về chết tha ma, tiếng chân gõ guốc xa xa

Người xa vắng người, người xa vắng người…”

(“Bên ni, bên nớ”, 1958) – với tiếng hát Khánh Ly

Lời bài hát tuy không phải do Phạm Duy viết nhưng, tôi nghĩ, khi phổ bài này ông đã đem hết tâm huyết mình viết nên ca khúc. Bức tranh mở ra hai cảnh đời tương phản của xã hội. Một nghèo, một giàu, một bên thị thành xa hoa, một phía ngoại ô liếp tranh nghèo đói. Tiếng guốc gõ đêm vang vọng nơi này hoang liêu nghĩa địa, dội về nơi kia ồn ã thành đô hoa lệ. Tiếng bi ai ấp úng bên ni, hoà vào tiếng cốc pha lê vỡ và những trận cười giai nhân loã thể thâu đêm suốt sáng bên tê.

Gần đây tôi có duyên gặp gỡ thi sĩ Cung Trầm Tưởng và trong câu chuyện làm quen tôi bỗng tò mò hỏi ông rằng “Cháu hơi ngạc nhiên khi chú là người Bắc, tại sao bài thơ của chú do Phạm Duy phổ nhạc lại có cái nhan đề ‘Bên ni, bên nớ’ là tiếng miền Trung hở chú?” Chú cười và cho tôi biết “Bài thơ có cái nhan đề là “Tương Phản” đã được sửa lại thành “Bên ni, bên nớ”. Nó ra đời ở một nghĩa điạ thuộc phố Đa Kao. Ngày ấy (những năm 1950) Đa Kao còn nhiều bãi đất hoang, phía bên kia là Sài Gòn.”

“Đêm chớp ngày tàn” (trong nguyên tác bài thơ), đèn đêm vừa chớp loé, ngày đã tàn, sương vừa rơi, đêm hạ bắt đầu. Một bóng dạ hành, chân bước theo tiếng xe lăn, ngang chỗ tha ma, đi về viễn phố. Trong vùng tăm tối nhất của đêm, của nghĩa địa, của cuộc đời, tiếng guốc rộn rã vang vọng như tiếng chuông của sự sống, một nối kết của cõi âm với loài người. Hình dáng kẻ ăn xin lên tiếng ấp úng, van xin chút tình thương, chút rộng lượng, chút giao cảm của đồng loại, bi ai như tiếng oan hồn. Bên cái cô liêu, hoang vắng ấy, trong một liếp tranh có đôi bạn nghèo, tuy rất yêu nhau nhưng phải ly tan và đang đợi một bé thơ sắp ra đời. Đêm vẫn chảy trôi, sương vẫn pha muối, ánh lửa trong liếp tranh vẫn ấm áp, người chết nằm yên trong thế giới của mình vẫn hạnh phúc.

Tôi thích bố cục và nội dung của bài thơ khi tác giả bày ra hai cảnh đời mâu thuẫn nhưng vẫn đề cao tình nhân ái, tinh thần tích cực và an vui hạnh phúc của con người dù trong cảnh nghèo. Theo tôi, phải nói Phạm Duy phổ nhạc bài này thật tuyệt vời.

Trong mênh mông của đại dương cuộc sống, thân phận nhỏ nhoi của con người bao giờ cũng là hình ảnh tương phản đáng ghét. Hạnh phúc luôn gắn liền với khổ đau. Sinh thành đi đôi cùng tử vong. Phạm Duy sống cùng, hưởng tận, nhưng ông cũng luôn đối diện với sự ám ảnh của cái chết. Ông bị bệnh tim to và có bướu trong phổi. Cùng trong năm 1958, Phạm Duy đã chạm tới nỗi buồn của những chiếc lá rụng. Suốt cuộc đời trai trẻ ông đã nhìn thấy nhiều cái chết trong thời kháng chiến. Thân phận mỏng manh của con người như chiếc lá, nối tiếp từ màu xanh đến màu vàng và cái chết, đôi khi chỉ trong một sát na. Ông thấy gì trong những đường gân của lá khi ông yêu biết bao màu xanh? Ông sợ gì khi chiều xuống lúc nắng phai, hoàng hôn thở hơi ngắn, đánh dấu ngày hấp hối? Phạm Duy nhìn lá chao nghiêng, đi rưng rưng giữa trời hoa đung đưa. Từng chiếc lá úa, tả tơi trong gió. Tóc sẽ thôi dài, đàn sẽ thôi gảy, mắt lá răm ai thôi lúng liếng, tay gầy ai thôi níu lưng người tình. Hồn ai sẽ rã mềm, lúng búng, uống cháo lú để nổi lên như gò mối, chờ phút đầu thai.

“Chiều rơi trên đường vắng, có ta rơi giữa chiều. 

Hồn ta theo vạt nắng, theo làn gió đìu hiu.

Lá vàng bay ! Lá vàng bay !

Như dĩ vãng gầy, tóc buông dài, bước ra khỏi tình phai

Lá vàng rơi ! Lá vàng rơi !

Như chút hơi người giã ơn đời trên nẻo đường hấp hối…”

(“Đường chiều lá rụng”, 1958) – Lệ Mai hát / Hoàng Ngọc-Tuấn đệm guitar

Bức tranh thân phận của ông đã có hư hao những giọt lệ chia ly dù ông đang yêu và được yêu. Tuy nhiên ông vẫn chấp nhận cuộc đời, chấp nhận thân phận, yêu thương nó như một “Amor fati” (Yêu thương tính mệnh). Ông đã tạ ơn đời trong ca khúc của mình (“Tạ ơn đời”, 1959). Có lẽ đấng thượng đế thiêng liêng cũng trả ơn ông đã sống trọn kiếp con tằm nhả tơ mà ban cho ông một đời sống dài tới 93 tuổi, dài gần cái mốc trăm tuổi ước mơ của con người. Ông cũng hoạ xong các bức hoạt cảnh thời đại qua nhiều giai đoạn. “Nương Chiều”“Gánh Lúa” trong giai đoạn kháng chiến chính là không gian quen thuộc của trường phái hiện thực, đậm vẻ trữ tình. Phạm Duy không quên đi vào ấn tượng với “Chiều Về Trên Sông”, nhục tính với “Cỏ Hồng”, còn “Mẹ Việt Nam” chính là tượng trưng, “Tổ khúc Bầy Chim Bỏ Xứ” là ẩn dụ và “Trường Ca Hàn Mặc Tử” là siêu thực, v.v…

Sau cùng tôi cũng tạ ơn Phạm Duy đã để lại cho chúng tôi, những người Việt Nam, gia tài âm nhạc để đời đầy ắp quê hương và tình tự. Cám ơn sự góp sức của ông cho nền âm nhạc Việt Nam nói chung, Miền Nam nói riêng. Ông cũng mang lại cho kho tàng này một màu sắc đa diện, đa phương, chỉ có được trong một thế giới tự do như ông đã nhận định trong hồi ký:

“Hai mươi năm ở miền Nam là thời gian của khói lửa chiến tranh đem lại chết chóc, của ô nhiễm chính trị đem lại mệt mỏi, của tiền bạc và lối sống ngoại nhân đem lại sa đoạ… khiến cho cả xã hội lẫn con người có thể bị tha hoá. Tại sao vẫn còn những người hùng trong trắng, những chiến sĩ vô danh, những phụ nữ kiên trinh, những tuổi thơ ngọt ngào, những người mẹ hiền khô — như mẹ ở đất Phù Sa hay trong Ca Dao Mẹ — trong đám đông thầm lặng ở xã hội này? Tôi trộm nghĩ, nhờ biết qua phúc lợi Kinh Nhạc của Cụ Khổng, xã hội và con người miền Nam đã phần nào được điều hợp bởi hàng trăm ca nhạc sĩ. Hãy tưởng tượng một miền Nam không có nhạc tình hay chỉ có nhạc tuyên truyền như miền Bắc. Hai mươi năm âm nhạc ở miền Nam xưng tụng một cách rất hùng hồn nhiều khiá cạnh cuộc đời (chứ không chỉ có both sides mà thôi) với tất cả hạnh phúc và khổ đau, sự sống và sự chết… để bình thường hoá mọi sự, hoá giải mọi khó khăn. Nói ra bi đát là hết bi đát, tôi nhắc lại một lần nữa câu nói của nhà văn Pháp Albert Camus. Tôi khẳng định: âm nhạc trong giai đoạn chịu đựng của miền Nam có khả năng trị liệu những căn bệnh tinh thần, vì trong đó, TÌNH YÊU và CON NGƯỜI lúc nào cũng được xưng tụng.

 

Sẽ chẳng bao giờ có một diễn đạt phong phú như thế nữa.”

 

Trịnh Thanh Thủy

trinhthanhthuy

 

—————————

Tài liệu tham khảo:

Hồi ký Phạm Duy http://phamduy.com/en/van-nghien-cuu/hoi-ky-1

CON CÒ : CON NGƯỜI THẬT CỦA PHẠM DUY,


CON NGƯỜI THẬT CỦA PHẠM DUY,

 

nghe-lai-thien-ca-pham-duy

 

 

Lời nói đầu

Nghĩa tử là nghĩa tận. Trước một “nhân vật của quần chúng” (a person of the public) vừa nằm xuống, giữ im lặng là thái độ nghiêm chỉnh nhất. Nhưng sự ra đi của Phạm Duy là một ngoại lệ. Nhiều người khen qúa độ. Nhiều người chê qúa lời. Nhiều người muốn khen, chê đúng mức mà không lên tiếng vì e ngại phản ứng của cả đôi bên. Đài BBC cũng tường thuật rất tỉ mỉ về đám tang của ông.

Hãy thử tìm con người đích thực của PD qua tác phẫm, hành động và lời nói của ông để biêt nguyên do của cái dư luận ồn ào sau tin ông qua đời.

A / NHỮNG LÝ DO KHIẾN PD ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI NHẮC TỚI

1/ Ông là một nhạc sĩ được ngưỡng mộ bởi hàng triệu người Việt từ thế hệ trẻ tới thế hệ gìa, từ giới bình dân tới giới trí thức, từ thời chiến tới thời bình, từ chủ nghĩa Cộng Sản tới chủ nghĩa Tự Do, từ chính quyền độc tài tới chính quyền dân chủ, từ trong nước tới hải ngoại.

2/ Cảm tình của quần chúng đối với ông rất phức tạp. Nhiều người khen. Nhiều người chê. Nhiều người vừa khen vừa chê. Nhiều người trước khen nay chê. Nhiều người trước chê nay khen.
Phe Việt Cộng, sau nửa thế kỷ căm thù ông, nay mua chuộc ông để làm mồi cho chiêu bài “Hòa Giải Dân Tộc”.
Phe Tự Do, qua nửa thế kỷ qúy mến ông, nay ruồng bỏ ông vì nghĩ rằng ông bị kẻ thù mua chuộc.
Những biểu lộ ấy (khen-chê, yêu-ghét, mua chuộc-ruồng bỏ) rất thường tình. Thiên hạ không ngẫu nhiên ( mà có lý do thầm kín) gán ghép cho ông. Ông cũng không cố ý gây ra. Lối phát ngôn vụng về và nếp sống buông thả của ông đóng một vai trò quan trọng trong sự phán xét của họ.

3/ Những tác phẩm của ông, từ dân ca, tình ca, quân ca, đạo ca, nhi ca v. v.. đều có gía trị độc đáo: mang âm giai ngủ cung hài hòa của dân tộc và lời ca truyền cảm của ca dao.

4/ Nhạc phổ thơ của ông là một tuyệt kỹ. Giới truyền thông đã liệt ông vào hàng “phù thủy” của loại nhạc này. Dù phổ nguyên văn bài thơ (như Ngậm Ngùi của Huy Cận..) hoặc chỉ lấy ý thơ (như Tiếng Sáo Thiên Thai của Thế Lữ..) ông cũng làm cho thơ tăng thêm gía trị.

5/ Đời tư của ông có một vài tì vết. Ông sống buông thả theo thú vui xác thịt, bất chấp hậu qủa (vụ Khánh Ngọc và Julie Quang) khiến những người đạo đức khinh bỉ và những người đối lập khai thác.

6/ Lòng yêu dân, yêu quê, yêu nước trong những tác phẩm của ông rất hiển hiện. Một người có tình yêu gỉa tạo không thể nào làm được những bài Tình Ca, Tình Hoài Hương, Quê nghèo, Về Miền Trung, Bà Mẹ Gio Linh, Nhớ Người Thương Binh, Vợ Chồng Quê, Em Bé Quê, Ngày Trờ Về, Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam, v.v…

B/ KIỂM ĐIỂM NHỮNG LỜI KHEN

Hầu hết những người khen đều công nhận rằng ông là một “đại thụ” của nền tân nhạc Việt và là một nhạc sĩ có thiên tài, có lòng yêu dân, yêu quê, yêu nước chân thành. Có người đã tặng ông những đức tính mà thực sự ông không có (như khiêm nhượng, cao siêu). Thậm chí, có người còn vinh danh ông là chiến sĩ chống Cộng hoặc nhà tư tưởng thâm thúy. Những nhận xét như vậy chỉ đúng nửa vời:

1/ Qủa thực ông là một đại thụ của nền tân nhạc Việt. Nhưng đại thụ ấy có tỳ vết: ông đã 2 lần vi phạm luân lý Việt ( vụ Khánh Ngọc và Julie Quang).

2/ Ông không khiêm nhượng mà còn háo danh. Một thí dụ: Trong cuốn video Paris By Night 19, ông trả lời ký gỉa Lê Văn của đài BBC: “ Tôi muốn hậu thế nhắc đến tôi như một người Việt Nam”. Khiêm nhượng thay câu trả lời! Nhưng cũng trong cuốn video ấy ông nói: “ Tôi sẽ làm trường ca Hàn Mặc Tử bởi vì tôi đã có 10 bài Đạo Ca cho Phật giáo thì tôi cũng phải có một bài cho Công giáo mới công bằng”. Thế ra ông là người ban phát ân huệ cho 2 tôn giáo này! Nét háo danh đã lộ liễu trong lời nói vụng về ấy.

3/ Ông không phải là một chiến sĩ chống Cộng mà chỉ là một nhạc sĩ muốn được sinh hoạt văn nghệ mà không bị chỉ đạo bởi chính quyền. Ông bỏ Kháng Chiến về Thành không phải vì muốn xả thân cho lý tưởng chống Cộng mà vì muốn gia đình được sống thoải mái trong chính thể Dân Chủ và bản thân được tự do sắng tác theo tiếng nói của con tim.
        Ông đã hưởng trọn vẹn ân huệ của những người đã hy sinh để bảo vệ chế độ dân chủ tự do cho gia đình ông sống yên vui. Bù lại, ông đã đền đáp công ơn của họ bằng vài trăm bài ca bất hủ xưng tụng những thứ cao đẹp mà họ trân qúy. Tuy ông không hy sinh xương máu cho chính nghĩa tự do nhưng ông đã góp phần không ít vào việc tô điểm nó. Tuy ông có nhiều điểm đáng khen nhưng không nên tặng ông cái vinh dự mà ông không xứng (chiến sĩ chống Cộng).

4/ Ông không phải là một nhân vật thâm thúy. Suốt đời, ông chưa nói được một câu nào xứng đáng cho danh hiệu ấy. Một bài nhạc của ông có câu: “Đừng cho không gian đụng thời gian”. Ông mượn ý đó trong thuyết Tương Đối của Albert Einstein (Einstein cho rằng chỉ có không gian, không có thời gian vì thời gian chỉ là phương tiện để đo lường không gian; thí dụ: hai thiên hà cách xa nhau một tỷ năm ánh sáng). Có người đã xin ông giải thích câu đó nhưng ông chỉ trả lời loanh quanh, vô nghĩa, chứng tỏ ông đã không hiểu ông muốn nói gì.
Thật là khôi hài khi một anh chàng văn sĩ VC nói câu này trong đám tang của ông: “ Nhạc PD còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn ”. Hắn nhái câu thậm xưng của Phạm Quỳnh trong thập niên 1930: “ Chuyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn”.
(Cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây để nói rằng đừng vì một câu của một lãnh tụ CS ca ngợi ông mà chụp cái mũ “thân Cộng” cho ông).

C/ KIỂM ĐIỂM NHỮNG LỜI CHÊ

Những lời chê ông nở rộ trong 2 thời kỳ:

1/ Thời kỳ thứ nhất từ năm 1950 tới 2005:

Khi ông bỏ Kháng Chiến về Thành, VC đã chê ông là phản động.
Ông đã không phản động mà chỉ phản Cộng.
Phản Cộng vì Cộng không thể cung cấp những nhu cầu căn bản (cơm ăn, áo mặc) cho gia đình ông và không cho phép ông phục vụ văn nghệ theo sở trường mà còn buộc ông phải khai tử một bài hát vô tội (innocent): bài Bên Cầu Biên Giới. Giản dị thế thôi.

2/ Thời kỳ thứ hai từ 2005 cho tới nay:
Khi ông quyết định trở về VN để sống nốt tuổi gìa, một số nạn nhân bị CS đày đọa đã chê ông là phản bội những anh hùng chống Cộng.
Công bằng mà xét thì ông không phản bội ai cả. Lý do ông trở về quê bây giờ cũng giản dị như lý do ông về Thành thuở xưa.
Ở Hoa Kỳ, các con của ông không có nghề ngỗng gì ngoài nghề ca hát mà nghề này thì không cung ứng đủ những nhu cầu vật chất cho chúng. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt không bao bọc nổi vài trăm ca nhạc sĩ Việt. Những người lớn tuổi, đã về hưu, gắng gượng mới có tiền dự những buổi đại nhạc hội được tổ chức xuân thu nhị kỳ vì. Giới trẻ trung thì thích nhạc Mỹ vì nó phong phú hơn, sống động hơn, giật gân hơn, hợp nhĩ hơn. Bản quyền sáng tác nhạc không được tôn trọng. Đĩa nhạc được sao chép và bán rẻ rúng công khai trong mọi tiệm nhạc. Sống nhờ trợ cấp xã hội thì không cam lòng. Chìa tay nhận 2000$ để phổ nhạc vài bài thơ “con cóc” của “vô thượng thiền sư” Thanh Hải thì tủi thân cho một nhạc sĩ tài danh như ông.
Giữa lúc nghèo túng thì cơ hội chợt tới: một khế ước trị gía 400 ngàn đô-la trong 4 năm để sưu tầm, hòa âm, trình diễn tất cả những bài ca do ông sáng tác tại VN từ 1945 tới 1975. Khế ước đó không buộc ông phải hòa âm những bản nhạc của VC hoặc sáng tác những bài ca mới cho VC. Thính gỉa của ông sẽ chỉ là những người thích nghe nhạc Phạm Duy bất kể chính kiến. Có thể ông đã biết một cái bẫy vô hình ẩn sau khế ước đó: sách lược“Hòa Giải Dân Tộc” của VC đang ở cao điểm trong thời gian này. Một người có “khí tiết” ắt không chấp thuận. Nhưng Phạm Duy không phải hạng người có khí tiết. Ông không thích sống “gương mẫu” mà thích sống thoải mái, buông thả, sung túc như thường tình.
Thế là ông đưa gia đình về quê hương sống ung dung trong 8 năm cho tới khi ông từ trần. Ông rất thích câu của ai đó nói rằng: “ Về đi thôi! Kiếp sau biết có hay không?”. Tính tình của ông khác đời ở chỗ: rất thích thú khi được khen và rất ít phiền hà khi bị chửi.
Trong 8 năm ấy ông đã gặp đủ hạng người, trong mọi lứa tuổi: ca nhạc sĩ đã quen hoặc chưa quen, thính gỉa yêu nhạc của ông dù đã biết hoặc chưa hề biết tên ông, lãnh tụ CS kể cả những người đã từng cấm hát nhạc của ông như Võ Văn Kiệt, Tố Hữu và Trần Bạch Đằng, người đã tuyên bố một câu vô liêm sỉ năm 1989: “ PD hãy tự sát đi, chúng tôi sẽ cho phổ biến nhạc của ông ta”. Dĩ nhiên ông không thể từ chối gặp mặt những lãnh tụ CS đã mở đường cho ông trở về. Cũng không đáng phàn nàn nếu ông muốn gặp một vài lãnh tụ CS đã chơi thân với ông trong thời kháng chiến chống Pháp. Ông rất dễ tính và vô tư trong việc gặp bạn cũ, chuyện làm qùa chỉ là chuyện tếu hoặc kỷ niệm xưa, không bàn về chính trị. Chả có gì đáng trách cho những cuộc gặp gỡ lấy lệ hoặc xã giao như vậy.
Có một điểm son đáng ghi nhận: ông không hề bợ đỡ một lãnh tụ CS nào và cũng không hề nói súc phạm tới bất cứ ai của chính thể VNCH trong suốt thời gian 8 năm ấy (cựu phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã phạm lỗi này).
Tôi muốn tóm tắt thái độ của Phạm Duy trong một câu sơ sài: Khi sáng tác thì tận tình, khi vui chơi thì tận hưởng, khi nói năng thì thì tận tục. Duyên Anh đã thuật lại rằng PD, trong lúc đùa rỡn với bạn bè, đã nói trong hơi men: “ Ai ngu mới thích nghe nhạc của tôi. Chúng đã được làm trong cầu tiêu”. Có lẽ ông đã làm những bài Tục Ca trong cầu tiêu.

D/ KẾT LUẬN:

Nhạc sĩ tài danh Phạm Duy là một người đáng thương hại nhiều hơn là đáng trách cứ. Cuộc đời của ông trôi nổi qua nhiều vinh nhục, thăng trầm. Ông thích sống buông thả và chỉ có một tham vọng tích cực (productive): sáng tác những bản nhạc có gía trị.
Lối phát ngôn của ông thuộc loại Tú Xương (“Một thày, một cô một chó cái” hoặc “Cao lâu thường ăn quịt, gái đĩ lại chơi lường”). Từ 50 năm nay, chả có ai coi ông như một “qúy nhân”. Họ mến ông vì ông đã cống hiến cho họ nhiều bài ca bất hủ, và đi chung với họ trên một đoạn đường dài nhất của cuôc đời để cùng nhau “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”.
Ông chưa bao giờ là công cụ của CS. Trong 5 năm theo Kháng Chiến chống Pháp, ông chưa hề làm một khúc ca xưng tụng một lãnh tụ CS nào mà chỉ xưng tụng những anh hùng, liệt sĩ chống ngoại xâm. Tới khi cáo hồ ló đuôi thì ông bỏ chúng về Thành.
Ông cũng chưa bao giờ là công cụ của chính quyền độc tài. Trong 25 năm sống trong chính thể Quốc gia, ông chưa hề làm một ca khúc suy tôn lãnh tụ nào. Những bài hát “xây dựng nông thôn” là những bài làm ra bởi một tác gỉa công chức hơn là bởi một nhạc sĩ chuyên nghiệp; chúng đã không thọ lâu.
Khoảng 100 bài ca bất hủ của ông đã đi sâu vào mọi làng xóm của thôn quê, mọi ngõ ngách của thành thị rồi “di tản” ra ngoại quốc để ve vuốt nỗi cô đơn của vài triệu người sống lưu vong.
Cuộc “trở về quê” của ông chỉ tổn thương cho thanh danh của cá nhân ông, không có ảnh hưởng đáng kể tới tinh thần chống cộng của quần chúng. Chả có ai “hòa giải dân tộc” với VC chỉ vì Phạm Duy đã hồi hương. Sự hòa giải ấy sẽ không bao giờ xảy ra. Nói cách khác, chỉ có hòa giải khi nào chính thể CS bị giải thể hoàn toàn. Còn nữa, chỉ có lực lượng của quần chúng ở trong nước mới có khả năng giải thể chúng. Vậy thì chả nên qúa quan tâm tới cái sách lược “Hòa Giải Dân Tộc” của chúng. Nó đã chết ngay sau khi vừa sinh ra. Chả nên chia sớt bớt nỗi căm thù VC rồi xối vào những ca nhạc sĩ như Phạm Duy, Từ Công Phụng, Khánh ly, Lệ Thu, Chế Linh v.v… Có một cái gì “bất đắc dĩ” trong viêc trở về của họ (như đã nói ở trên). Vả lại, họ không đem đô-la về nước để góp thêm ngoại tệ cho VC (như một số thương gia và những kẻ ham du hí) mà còn tiêu bớt ngoại tệ của chúng (lãnh thù lao bằng đô-la). Hãy thông cảm cho họ (thông cảm không có nghĩa là cổ võ cho người khác trở về) miễn là họ chỉ thân thiện với dân, chỉ hát cho dân nghe những bài ca mà chúng ta chấp nhận và không nói lảm nhảm, súc phạm tới tinh thần chống Cộng.
Riêng đối với Phạm Duy, hãy để cho ông yên nghỉ, gọi là đáp lễ những bài ca bất hủ mà ông đã cống hiến trong suốt cuộc đời ông. Nghĩa tử là nghĩa tận. Có cả ngàn người (phần lớn là thường dân) đã tiễn đưa ông tới nơi an nghỉ cuối cùng. Vài nhóm trong số người này vừa khóc vừa đồng ca trước mồ ông một số bài chọn lọc, trong đó có bài Tình Ca và một bài chưa được chính quyền VC cho phép (Những Gì Sẽ Đem Theo Vè Cõi Chết). Từ vạn dặm, chúng ta hãy gửi tới ông một chút thương cảm, một chút ngậm ngùi, một chút vị tha. Người yêu chuộng tự do lúc nào cũng tôn trọng tự do ngôn luận (trong đó có tự do chọn lựa lối sống) hơn bất cứ điều gì trên đời.


Con Cò 

BS NGUYỄN VĂN BẢO (biệt hiệu CON CÒ): CON NGƯỜI THẬT CỦA PHẠM DUY


Image
CON NGƯỜI THẬT CỦA PHẠM DUY Bác sĩ Nguyễn Văn Bảo

Lời nói đầu

Nghĩa tử là nghĩa tận. Trước một “nhân vật của quần chúng” (a person of the public) vừa nằm xuống, giữ im lặng là thái độ nghiêm chỉnh nhất. Nhưng sự ra đi của Phạm Duy là một ngoại lệ. Nhiều người khen qúa độ. Nhiều người chê qúa lời. Nhiều người muốn khen, chê đúng mức mà không lên tiếng vì e ngại phản ứng của cả đôi bên. Đài BBC cũng tường thuật rất tỉ mỉ về đám tang của ông.

Hãy thử tìm con người đích thực của PD qua tác phẫm, hành động và lời nói của ông để biêt nguyên do của cái dư luận ồn ào sau tin ông qua đời.

A / NHỮNG LÝ DO KHIẾN PD ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI NHẮC TỚI

1/ Ông là một nhạc sĩ được ngưỡng mộ bởi hàng triệu người Việt từ thế hệ trẻ tới thế hệ gìa, từ giới bình dân tới giới trí thức, từ thời chiến tới thời bình, từ chủ nghĩa Cộng Sản tới chủ nghĩa Tự Do, từ chính quyền độc tài tới chính quyền dân chủ, từ trong nước tới hải ngoại.

2/ Cảm tình của quần chúng đối với ông rất phức tạp. Nhiều người khen. Nhiều người chê. Nhiều người vừa khen vừa chê. Nhiều người trước khen nay chê. Nhiều người trước chê nay khen.
Phe Việt Cộng, sau nửa thế kỷ căm thù ông, nay mua chuộc ông để làm mồi cho chiêu bài “Hòa Giải Dân Tộc”.
Phe Tự Do, qua nửa thế kỷ qúy mến ông, nay ruồng bỏ ông vì nghĩ rằng ông bị kẻ thù mua chuộc.
Những biểu lộ ấy (khen-chê, yêu-ghét, mua chuộc-ruồng bỏ) rất thường tình. Thiên hạ không ngẫu nhiên ( mà có lý do thầm kín) gán ghép cho ông. Ông cũng không cố ý gây ra. Lối phát ngôn vụng về và nếp sống buông thả của ông đóng một vai trò quan trọng trong sự phán xét của họ.

3/ Những tác phẩm của ông, từ dân ca, tình ca, quân ca, đạo ca, nhi ca v. v.. đều có gía trị độc đáo: mang âm giai ngủ cung hài hòa của dân tộc và lời ca truyền cảm của ca dao.

4/ Nhạc phổ thơ của ông là một tuyệt kỹ. Giới truyền thông đã liệt ông vào hàng “phù thủy” của loại nhạc này. Dù phổ nguyên văn bài thơ (như Ngậm Ngùi của Huy Cận..) hoặc chỉ lấy ý thơ (như Tiếng Sáo Thiên Thai của Thế Lữ..) ông cũng làm cho thơ tăng thêm gía trị.

5/ Đời tư của ông có một vài tì vết. Ông sống buông thả theo thú vui xác thịt, bất chấp hậu qủa (vụ Khánh Ngọc và Julie Quang) khiến những người đạo đức khinh bỉ và những người đối lập khai thác.

6/ Lòng yêu dân, yêu quê, yêu nước trong những tác phẩm của ông rất hiển hiện. Một người có tình yêu gỉa tạo không thể nào làm được những bài Tình Ca, Tình Hoài Hương, Quê nghèo, Về Miền Trung, Bà Mẹ Gio Linh, Nhớ Người Thương Binh, Vợ Chồng Quê, Em Bé Quê, Ngày Trờ Về, Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam, v.v…

B/ KIỂM ĐIỂM NHỮNG LỜI KHEN

Hầu hết những người khen đều công nhận rằng ông là một “đại thụ” của nền tân nhạc Việt và là một nhạc sĩ có thiên tài, có lòng yêu dân, yêu quê, yêu nước chân thành. Có người đã tặng ông những đức tính mà thực sự ông không có (như khiêm nhượng, cao siêu). Thậm chí, có người còn vinh danh ông là chiến sĩ chống Cộng hoặc nhà tư tưởng thâm thúy. Những nhận xét như vậy chỉ đúng nửa vời:
1/ Qủa thực ông là một đại thụ của nền tân nhạc Việt. Nhưng đại thụ ấy có tỳ vết: ông đã 2 lần vi phạm luân lý Việt ( vụ Khánh Ngọc và Julie Quang).

2/ Ông không khiêm nhượng mà còn háo danh. Một thí dụ: Trong cuốn video Paris By Night 19, ông trả lời ký gỉa Lê Văn của đài BBC: “ Tôi muốn hậu thế nhắc đến tôi như một người Việt Nam”. Khiêm nhượng thay câu trả lời! Nhưng cũng trong cuốn video ấy ông nói: “ Tôi sẽ làm trường ca Hàn Mặc Tử bởi vì tôi đã có 10 bài Đạo Ca cho Phật giáo thì tôi cũng phải có một bài cho Công giáo mới công bằng”. Thế ra ông là người ban phát ân huệ cho 2 tôn giáo này! Nét háo danh đã lộ liễu trong lời nói vụng về ấy.
3/ Ông không phải là một chiến sĩ chống Cộng mà chỉ là một nhạc sĩ muốn được sinh hoạt văn nghệ mà không bị chỉ đạo bởi chính quyền. Ông bỏ Kháng Chiến về Thành không phải vì muốn xả thân cho lý tưởng chống Cộng mà vì muốn gia đình được sống thoải mái trong chính thể Dân Chủ và bản thân được tự do sắng tác theo tiếng nói của con tim.
Ông đã hưởng trọn vẹn ân huệ của những người đã hy sinh để bảo vệ chế độ dân chủ tự do cho gia đình ông sống yên vui. Bù lại, ông đã đền đáp công ơn của họ bằng vài trăm bài ca bất hủ xưng tụng những thứ cao đẹp mà họ trân qúy. Tuy ông không hy sinh xương máu cho chính nghĩa tự do nhưng ông đã góp phần không ít vào việc tô điểm nó. Tuy ông có nhiều điểm đáng khen nhưng không nên tặng ông cái vinh dự mà ông không xứng (chiến sĩ chống Cộng).
4/ Ông không phải là một nhân vật thâm thúy. Suốt đời, ông chưa nói được một câu nào xứng đáng cho danh hiệu ấy. Một bài nhạc của ông có câu: “Đừng cho không gian đụng thời gian”. Ông mượn ý đó trong thuyết Tương Đối của Albert Einstein (Einstein cho rằng chỉ có không gian, không có thời gian vì thời gian chỉ là phương tiện để đo lường không gian; thí dụ: hai thiên hà cách xa nhau một tỷ năm ánh sáng). Có người đã xin ông giải thích câu đó nhưng ông chỉ trả lời loanh quanh, vô nghĩa, chứng tỏ ông đã không hiểu ông muốn nói gì.
Thật là khôi hài khi một anh chàng văn sĩ VC nói câu này trong đám tang của ông: “ Nhạc PD còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn ”. Hắn nhái câu thậm xưng của Phạm Quỳnh trong thập niên 1930: “ Chuyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn”.
(Cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây để nói rằng đừng vì một câu của một lãnh tụ CS ca ngợi ông mà chụp cái mũ “thân Cộng” cho ông).

C/ KIỂM ĐIỂM NHỮNG LỜI CHÊ

Những lời chê ông nở rộ trong 2 thời kỳ:

1/ Thời kỳ thứ nhất từ năm 1950 tới 2005:

Khi ông bỏ Kháng Chiến về Thành, VC đã chê ông là phản động.
Ông đã không phản động mà chỉ phản Cộng.
Phản Cộng vì Cộng không thể cung cấp những nhu cầu căn bản (cơm ăn, áo mặc) cho gia đình ông và không cho phép ông phục vụ văn nghệ theo sở trường mà còn buộc ông phải khai tử một bài hát vô tội (innocent): bài Bên Cầu Biên Giới. Giản dị thế thôi.

2/ Thời kỳ thứ hai từ 2005 cho tới nay:
Khi ông quyết định trở về VN để sống nốt tuổi gìa, một số nạn nhân bị CS đày đọa đã chê ông là phản bội những anh hùng chống Cộng.
Công bằng mà xét thì ông không phản bội ai cả. Lý do ông trở về quê bây giờ cũng giản dị như lý do ông về Thành thuở xưa.
Ở Hoa Kỳ, các con của ông không có nghề ngỗng gì ngoài nghề ca hát mà nghề này thì không cung ứng đủ những nhu cầu vật chất cho chúng. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt không bao bọc nổi vài trăm ca nhạc sĩ Việt. Những người lớn tuổi, đã về hưu, gắng gượng mới có tiền dự những buổi đại nhạc hội được tổ chức xuân thu nhị kỳ vì. Giới trẻ trung thì thích nhạc Mỹ vì nó phong phú hơn, sống động hơn, giật gân hơn, hợp nhĩ hơn. Bản quyền sáng tác nhạc không được tôn trọng. Đĩa nhạc được sao chép và bán rẻ rúng công khai trong mọi tiệm nhạc. Sống nhờ trợ cấp xã hội thì không cam lòng. Chìa tay nhận 2000$ để phổ nhạc vài bài thơ “con cóc” của “vô thượng thiền sư” Thanh Hải thì tủi thân cho một nhạc sĩ tài danh như ông.
Giữa lúc nghèo túng thì cơ hội chợt tới: một khế ước trị gía 400 ngàn đô-la trong 4 năm để sưu tầm, hòa âm, trình diễn tất cả những bài ca do ông sáng tác tại VN từ 1945 tới 1975. Khế ước đó không buộc ông phải hòa âm những bản nhạc của VC hoặc sáng tác những bài ca mới cho VC. Thính gỉa của ông sẽ chỉ là những người thích nghe nhạc Phạm Duy bất kể chính kiến. Có thể ông đã biết một cái bẫy vô hình ẩn sau khế ước đó: sách lược“Hòa Giải Dân Tộc” của VC đang ở cao điểm trong thời gian này. Một người có “khí tiết” ắt không chấp thuận. Nhưng Phạm Duy không phải hạng người có khí tiết. Ông không thích sống “gương mẫu” mà thích sống thoải mái, buông thả, sung túc như thường tình.
Thế là ông đưa gia đình về quê hương sống ung dung trong 8 năm cho tới khi ông từ trần. Ông rất thích câu của ai đó nói rằng: “ Về đi thôi! Kiếp sau biết có hay không?”. Tính tình của ông khác đời ở chỗ: rất thích thú khi được khen và rất ít phiền hà khi bị chửi.
Trong 8 năm ấy ông đã gặp đủ hạng người, trong mọi lứa tuổi: ca nhạc sĩ đã quen hoặc chưa quen, thính gỉa yêu nhạc của ông dù đã biết hoặc chưa hề biết tên ông, lãnh tụ CS kể cả những người đã từng cấm hát nhạc của ông như Võ Văn Kiệt, Tố Hữu và Trần Bạch Đằng, người đã tuyên bố một câu vô liêm sỉ năm 1989: “ PD hãy tự sát đi, chúng tôi sẽ cho phổ biến nhạc của ông ta”. Dĩ nhiên ông không thể từ chối gặp mặt những lãnh tụ CS đã mở đường cho ông trở về. Cũng không đáng phàn nàn nếu ông muốn gặp một vài lãnh tụ CS đã chơi thân với ông trong thời kháng chiến chống Pháp. Ông rất dễ tính và vô tư trong việc gặp bạn cũ, chuyện làm qùa chỉ là chuyện tếu hoặc kỷ niệm xưa, không bàn về chính trị. Chả có gì đáng trách cho những cuộc gặp gỡ lấy lệ hoặc xã giao như vậy.
Có một điểm son đáng ghi nhận: ông không hề bợ đỡ một lãnh tụ CS nào và cũng không hề nói súc phạm tới bất cứ ai của chính thể VNCH trong suốt thời gian 8 năm ấy (cựu phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã phạm lỗi này).
Tôi muốn tóm tắt thái độ của Phạm Duy trong một câu sơ sài: Khi sáng tác thì tận tình, khi vui chơi thì tận hưởng, khi nói năng thì thì tận tục. Duyên Anh đã thuật lại rằng PD, trong lúc đùa rỡn với bạn bè, đã nói trong hơi men: “ Ai ngu mới thích nghe nhạc của tôi. Chúng đã được làm trong cầu tiêu”. Có lẽ ông đã làm những bài Tục Ca trong cầu tiêu.

D/ KẾT LUẬN:

Nhạc sĩ tài danh Phạm Duy là một người đáng thương hại nhiều hơn là đáng trách cứ. Cuộc đời của ông trôi nổi qua nhiều vinh nhục, thăng trầm. Ông thích sống buông thả và chỉ có một tham vọng tích cực (productive): sáng tác những bản nhạc có gía trị.
Lối phát ngôn của ông thuộc loại Tú Xương (“Một thày, một cô một chó cái” hoặc “Cao lâu thường ăn quịt, gái đĩ lại chơi lường”). Từ 50 năm nay, chả có ai coi ông như một “qúy nhân”. Họ mến ông vì ông đã cống hiến cho họ nhiều bài ca bất hủ, và đi chung với họ trên một đoạn đường dài nhất của cuôc đời để cùng nhau “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”.
Ông chưa bao giờ là công cụ của CS. Trong 5 năm theo Kháng Chiến chống Pháp, ông chưa hề làm một khúc ca xưng tụng một lãnh tụ CS nào mà chỉ xưng tụng những anh hùng, liệt sĩ chống ngoại xâm. Tới khi cáo hồ ló đuôi thì ông bỏ chúng về Thành.
Ông cũng chưa bao giờ là công cụ của chính quyền độc tài. Trong 25 năm sống trong chính thể Quốc gia, ông chưa hề làm một ca khúc suy tôn lãnh tụ nào. Những bài hát “xây dựng nông thôn” là những bài làm ra bởi một tác gỉa công chức hơn là bởi một nhạc sĩ chuyên nghiệp; chúng đã không thọ lâu.
Khoảng 100 bài ca bất hủ của ông đã đi sâu vào mọi làng xóm của thôn quê, mọi ngõ ngách của thành thị rồi “di tản” ra ngoại quốc để ve vuốt nỗi cô đơn của vài triệu người sống lưu vong.
Cuộc “trở về quê” của ông chỉ tổn thương cho thanh danh của cá nhân ông, không có ảnh hưởng đáng kể tới tinh thần chống cộng của quần chúng. Chả có ai “hòa giải dân tộc” với VC chỉ vì Phạm Duy đã hồi hương. Sự hòa giải ấy sẽ không bao giờ xảy ra. Nói cách khác, chỉ có hòa giải khi nào chính thể CS bị giải thể hoàn toàn. Còn nữa, chỉ có lực lượng của quần chúng ở trong nước mới có khả năng giải thể chúng. Vậy thì chả nên qúa quan tâm tới cái sách lược “Hòa Giải Dân Tộc” của chúng. Nó đã chết ngay sau khi vừa sinh ra. Chả nên chia sớt bớt nỗi căm thù VC rồi xối vào những ca nhạc sĩ như Phạm Duy, Từ Công Phụng, Khánh ly, Lệ Thu, Chế Linh v.v… Có một cái gì “bất đắc dĩ” trong viêc trở về của họ (như đã nói ở trên). Vả lại, họ không đem đô-la về nước để góp thêm ngoại tệ cho VC (như một số thương gia và những kẻ ham du hí) mà còn tiêu bớt ngoại tệ của chúng (lãnh thù lao bằng đô-la). Hãy thông cảm cho họ (thông cảm không có nghĩa là cổ võ cho người khác trở về) miễn là họ chỉ thân thiện với dân, chỉ hát cho dân nghe những bài ca mà chúng ta chấp nhận và không nói lảm nhảm, súc phạm tới tinh thần chống Cộng.
Riêng đối với Phạm Duy, hãy để cho ông yên nghỉ, gọi là đáp lễ những bài ca bất hủ mà ông đã cống hiến trong suốt cuộc đời ông. Nghĩa tử là nghĩa tận. Có cả ngàn người (phần lớn là thường dân) đã tiễn đưa ông tới nơi an nghỉ cuối cùng. Vài nhóm trong số người này vừa khóc vừa đồng ca trước mồ ông một số bài chọn lọc, trong đó có bài Tình Ca và một bài chưa được chính quyền VC cho phép (Những Gì Sẽ Đem Theo Vè Cõi Chết). Từ vạn dặm, chúng ta hãy gửi tới ông một chút thương cảm, một chút ngậm ngùi, một chút vị tha. Người yêu chuộng tự do lúc nào cũng tôn trọng tự do ngôn luận (trong đó có tự do chọn lựa lối sống) hơn bất cứ điều gì trên đời.

Ngày 6-2-2013

Con Cò