HOÀNG NGUYỄN : NS PHẠM DUY TRẢI LÒNG SAU KHI DUY QUANG QUA ĐỜI


ImageNS PHẠM DUY TRẢI LÒNG

SAU KHI DUY QUANG QUA ĐỜI

NHỮNG ĐIỀU XẢY RA TRƯỚC KHI DUY QUANG RA ĐỜI

– Người tình cuối của tôi (PD) trước khi tôi lấy Thái Hằng là cô Xuân Huơng, bởi vậy mới có bài bài hát : … khoan khoan hò ơi, thuyền về tới bến mê rồi… thật ra là : Xuân Huơng nàng ơi, thuyền về tới bến mê rồi…

Nàng Xuân Huơng không thể so bì với Thái Hằng được, tôi sẽ cho quý bạn đọc biết tôi phải tốn bao công sức mới làm xiêu lòng Thái Hằng, nhưng tôi phải cám ơn Xuân Huơng vì nhờ nàng mà tôi đã không hăm hở theo đuổi tán cô Thái Hằng như các anh Văn Cao v.v…

Nếu tôi cũng hùa theo các anh kia thì tôi cũng bị người đẹp cho ra rìa, vì tôi không thể so sánh với anh Văn Cao, huynh trưởng của tôi. Văn Cao cho tôi biết : sở dĩ Thái Hằng không chỊu lấy ai cả vì nàng đang ôm 1 mối tình với 1 người đã hy sinh vì dân tộc, anh ta đã bỊ quân Nhật bắn chết ngay khi anh dẫn đầu 1 nhóm chiến sĩ xung phong tấn công 1 đồn bót kem-pei-tai (dữ dằn như Guestapo của Hitler).

Tôi biết điều bí mật này, nên tôi sáng tác lời của vài bản nhạc Âu Tây Cổ, serenata v.v. trong đó tôi viết những câu như : “chiều nay hát cho xanh câu yêu đời, cho người thôi hết thuơng đau, cho tình yêu đên bên tôi” (ý’ tôi muốn Thái Hằng ngưng thuong đau vì su hy sinh của anh kia) Thái Hằng đã chỊu hát những ca khúc đó, và dần dần nàng cảm phục tôi, vì thời điểm đó tôi được người ta biết đến như 1 ca sĩ, chứ không phải 1 nhạc sĩ như thời nay.

Khi tình đã lên ngôi, tôi lại nhận được công tác đi cùng với 1 đoàn chiến sĩ vào miền Trung. Điều này càng làm cho mối tình của hai đứa tôi thêm lãng mạn vì yêu nhau rồi, mà phải sống trong mong nhớ xa nhau.

Thế là các bài nhạc sau đây được ra đời : Quê Nghèo với lời ca nguyên thủy : bao giờ anh lấy được đồn Tây hỡi anh, để cho cô con gái không buồn vì lính Tây (ngày nào các cô cũng bị lính Tây hãm hiếp)

ImageSau khi tôi về với Bảo Đại, thì bài nay được sửa là : bao giờ cho lúa về đầy sân hỡi ai, để cho cô con gái không buồn vì gió Đông.

Sau đó là bài : Bà Mẹ Gio Linh có câu : mẹ mưng con giết nhiều Tây ra công tưới vun cày cấy…. Đặc biệt bài : Về Miên Trung có 1 đoạn vui lắm : về đây với lúa với nàng, thay bao nỗi khổ tiếng đàn tôi mừng reo…

Vâng, đám cưới cỦa chúng tôi rất vui, nhưng chỉ có thể đãi mỗi vỊ khách 1 bát phở vì quán phở Thăng Long của ông bố vợ tôi hồi này vắng khách rồi. Phòng hoa trúc của chúng tôi chính là cái quán phở, và cái giường hạnh phúc chính là các cái ghế dài cho khách kê lại sát nhau rồi trải chiếu lên. Mà nào chúng tôi có được ở đó lâu. tôi được mời lên vùng Việt Bắc mà họp đại hội các văn nghệ sĩ nghe bác Tố Hữu tuyên bố đường lối chính trỊ phải theo, khi sáng tác văn thơ và nhạc.

ImageThái Hằng đòi đi theo, tôi phải chiều người vợ mới toanh này, nhưng đi bộ được 1/2 quãng đường từ Thanh Hóa đến Việt Bắc thì nàng bỊ tắt kinh, ghé trạm y tế thì được biết nàng có thai.

Tôi mừng lắm hẹn với nàng rằng : nếu nó là con trai thì sẽ đặt tên nó là thằng Quảng (ai dè cô thư ký ghi vào khai sinh lại thiếu dấu hỏi) thế là cái tên Phạm Duy Quang theo nó suớt đời.

Có lẽ các bài như Quê Nghèo , Bà Mẹ Gio Linh, Về Miền Trung được nhiều ông to nghe và yêu thích, nên tôi được HCM gọi vào văn phòng (chỉ là 1 cái nhà tranh vách đất) cho biết tôi đã được Đảng cho đi du học về nhạc tận Mát Kơ Va. Tôi không dám từ chối ngay, mà ra ngoài nói với Tố Hữu : nhà tôi đang ốm nghén con đầu lòng, tôi lo lắm, nên xin hoãn sau khi con tôi đầy tháng.

Khi về đến Thanh Hóa, thì Đảng không phân cho tôi 1 công tác nào nữa, do đó không có tiền lương… chúng tôi phải chia làm 2 nhóm :

– Nhà tôi (Thái Hằng), Thái Thanh, và bà mẹ vợ đi về Hanoi trước ngày 1 tháng 5

– Tôi, Phạm Đình Chương và ông bố vợ tôi đi vào ngày 1-5 là ngày người CS lăng xăng lo tổ chức mừng Lễ Lao Động thế giới

Tôi gặp lại vợ tại Hanoi (tại nhà 1 người họ hàng), nhưng CS dằn mặt tôi bằng cách cho một anh đang làm gián điệp nội thành đến gặp tôi và khen tôi biết điều, nên đã không tiết lộ bí mẬt quân sự nào cho Pháp. Duy Quang ra đời 1950, ai cũng mừng vì mẹ tròn con vuông.

Image

Sau đó tôi đem tất cả gia đình vào Saigon vì trong Nam người ta chịu chơi hơn ngoài Bắc, lại có đài phát thanh Pháp Á cho các cô ca sĩ Thái Thanh, Thái Hằng trổ tài…(Đỗ Hưng viết theo trí nhớ của PD)

NS PHAM DUY

Image

Theo một số tài liệu, thì sự nghiệp khởi đầu của nhạc sĩ Phạm Duy đi từ gánh hát Đức Huy qua vai trò của một ca sĩ hát “tăng-mo” tức hát chờ những ca sĩ chánh chưa đến kịp. Sau đó ông tham gia Kháng chiến chống Pháp một thời gian trước khi vào Nam hoạt động âm nhạc.

Sau năm 1975 Phạm Duy sang Hoa Kỳ sinh sống; và vào năm 2005, ông về lại quê hương định cư; và có một số ca khúc của ông đã được cho phép phổ biến rộng rãi.

Ông sinh ngày 5/10/1921, tại phố Hàng Cót, Hà Nội. Có tên thật là Phạm Duy Cẩn, ông xuất thân từ một gia đình văn nghiệp. Cha là Phạm Duy Tốn thường được xem như nhà văn xã hội đầu tiên của nền văn học mới đầu thế kỷ 20. Anh ông là Phạm Duy Khiêm, giáo sư thạc sĩ, cựu Đại sứ của chính quyền cũ tại Pháp.

Phạm Duy học vỡ lòng tại trường Hàng Thùng, học tiểu học tại trường Hàng Vôi. Đến năm 13 tuổi (1934) ông vào lớp nhất, trở thành một trong những học sinh ưu tú sau những năm được đánh giá không được xuất sắc. Từ năm này Phạm Duy đã đọc được thơ bằng tiếng Pháp.

Image

Năm 1936, vào học ở trường Thăng Long, thầy dạy có tướng Võ Nguyên Giáp, còn bạn cùng lớp có nhà thơ Quang Dũng. Năm 1940, nghe lời bè bạn Phạm Duy thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học vẽ ỡ thầy Tô Ngọc Vân, chung lớp với Bùi Xuân Phái, Võ Lăng… nhưng ông không có năng khiếu, vì vào thời kỳ này ông thích ca hát và sáng tác nhạc hơn là vẽ tranh. Vì thế vào năm 1942 ông đã có sáng tác phẩm đầu tay là nhạc phẩm “Cô hái mơ” từ bài thơ của Nguyễn Bính.

Năm 1944 đến bài hùng ca Gươm tráng sĩ, là bài hát đầu tiên ông viết cả lời lẫn nhạc.

Năm 1943 – 1945, Phạm Duy trở thành ca sĩ hát tân nhạc trong gánh hát cải lương Đức Huy – Charlot Miều. Gánh hát này đưa ông đi rất nhiều miền trên đất nước, từ Bắc chí Nam, khiến ông mở mang tầm mắt. Vào thời kỳ hát rong, ông gặp gỡ nhiều tên tuổi lớn như thi sĩ Lưu Trọng Lư, nhạc sĩ Lê Thương, Lê Xuân Ái, Văn Đông… và nhất là nhạc sĩ Văn Cao, người sau này trở thành người bạn thân thiết. Ông cũng là người đầu tiên hát nhạc cải cách trên đài Radio Indochine ở Sài Gòn vào năm 1944, mỗi tuần trình bày 2 lần.

Trong thời kỳ kháng chiến (1945–1946) nhạc sĩ Phạm Duy có những nhạc phẩm hùng ca như các ca khúc Gươm tráng sĩ, Chinh phụ ca, Thu chiến trường, Chiến sĩ vô danh, Nợ xương máu… Bên cạnh đó còn có nhạc phẩm tình ca lãng mạn, nhiều bài đã giúp ông trở nên nổi tiếng như Cây đàn bỏ quên, Khối tình Trương Chi, Tình kỹ nữ, Tiếng bước trên đường khuya…

Image

Năm 1947, Phạm Duy bắt đầu sáng tác nhạc âm hưởng dân ca với mong muốn xâm nhập sâu vào giới bình dân và các vùng nông thôn, từ đó ông cho ra đời nhiều bài hát được cho gọi là “Dân ca mới”, được đông đảo mọi người yêu thích, các bài Nhớ người thương binh, Dặn dò, Ru con, Mùa đông chiến sĩ, Nhớ người ra đi, Người lính bên tê, Tiếng hát sông Lô, Nương chiều… là những ca khúc điển hình. Qua nét nhạc dùng âm giai ngũ cung nhưng ông áp dụng nhịp điệu thuật chuyển làm cho giai điệu không nằm chết trong một ngũ cung nào đó như trong dân ca cổ, mà chạy dài trên nhiều hệ thống ngũ cung khác nhau. Và thường lời ca nằm trong thể thơ lục bát nhưng có nhiều biến thể, do tiết điệu âm nhạc phải được linh động cho phù hợp với sự thưởng thức của đa số người thưởng ngoạn.

Tuy nhiên sau đó có những bài hát tuy được mọi người yêu thích, nhưng do nói về sự bi ai, thống khổ mà nhạc sĩ Phạm Duy bắt đầu bị chỉ trích, vì thế ông xuôi xuống Nam để sáng tác. Năm 1952, bài Tình hoài hương ra đời, khởi xướng cho xu hướng sáng tác “Tình ca quê hương”, sau đó là các bài Tình ca. Tiếp đó ông lại trở về với thể loại dân ca mới như những bài Đố ai, Nụ tầm xuân, Ngày trở về, Người về, Tình nghèo… Năm 1954, ông chuyển từ nhạc tình ca quê hương sang tự tình dân tộc, gồm những sáng tác Bà mẹ quê, Em bé quê, Vợ chồng… trong đó Em bé quê với những câu đầu lấy trong sách giáo khoa Quốc Văn, được thiếu niên nhi đồng thuộc như bài đồng dao.

Năm 1945 xảy ra nạn đói, Phạm Duy bỏ đi lang thang nhiều nơi, sau đó theo kháng chiến. Trong thời Chiến tranh Đông Dương, ông trở thành cán bộ văn nghệ và là một trong những nhạc sĩ thành công lúc đó. Sau những năm đi kháng chiến ông trở về Hà Nội, năm 1949 lập gia đình với nữ ca sĩ Thái Hằng tức Phạm Thị Quang Thái, chị ruột của nhạc sĩ Phạm Đình Chương (tức ca sĩ Hoài Bắc) trong Ban hợp ca Thăng Long.

Image

Sống với Thái Hằng, hiện giờ nhạc sĩ Phạm Duy đã có con cháu đầy đàn. Con ruột là những ca nhạc sĩ gồm Duy Quang, Thái Hiền, Thái Thảo, Duy Cường. Duy Minh. Ngoài ra có thể kể đến những anh chị em ca nghệ sĩ trong gia đình bên ngoại có nữ ca sĩ Thái Thanh tức Phạm Thị Băng Thanh (em gái Thái Hằng), cháu gái là ca sĩ Ý Lan (con gái Thái Thanh với nam tài tử Lê Quỳnh); nhạc sĩ Phạm Đình Chương (em của Thái Hằng tức ca sĩ Hoài Bắc), nghệ sĩ Phạm Đình Sỹ, Phạm Đình Viêm tức ca sĩ Hoài Trung (anh cùng cha khác mẹ với Thái Hằng); nữ kịch sĩ Kiều Hạnh (vợ Phạm Đình Sỹ), ca sĩ Mai Hương (trước đây có tên Phương Mai trong ban thiếu nhi Tuổi Xanh của Kiều Hạnh, con gái vợ chồng Phạm Đình Sỹ); con rể là ca sĩ Tuấn Ngọc chồng của Thái Thảo.

Năm 1951, Phạm Duy đưa gia đình vào Sài Gòn, và năm 1953, ông qua Pháp học về âm nhạc, tại đây quen với giáo sư Trần Văn Khê. Về lại miền Nam, ông tiếp tục sáng tác và biểu diễn trong Ban hợp ca Thăng Long. Lúc này ông còn là một nhà nghiên cứu âm nhạc, từng giữ chức giáo sư nhạc ngữ tại trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn.

TÍNH CÁCH LÃNG MẠN CỦA NGƯỜI NHẠC SĨ

Image

Nhạc Phạm Duy được phổ biến rất rộng rãi ở miền Nam từ giữa thập niên 1950, thời gian này ông còn có những hoạt động trong ngành điện ảnh, chính thế đã gây nên một vụ tai tiếng lớn khắp từ Nam ra Bắc khi ngoại tình với em dâu là ca sĩ Khánh Ngọc còn là tài tử điện ảnh, vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương, người gọi ông bằng anh rể.

Sau sự kiện này, ông lại dính vào một vụ tình cảm khác với Alice, con gái của một người tình cũ hồi năm 1944 tên Hélène. Tuy nhiên, ông khẳng định chuyện này chỉ là chuyện tình cảm trong sáng : “… tôi hãnh diện để nói rằng, nàng vẫn là một trinh nữ khi rời xa tôi để bước chân lên xe hoa về nhà chồng. Là một nghệ sĩ, tôi cần tình yêu để sáng tác, giống như con người cần khí trời để thở. Tôi không cần phải chiếm đoạt ai cả, nhất là chiếm đoạt một người con gái còn ít tuổi. Giữa chúng tôi, không có ràng buộc, trói chặt nhau”.

Ông đã sáng tác khá nhiều nhạc phẩm nhân chuyện tình cảm này như Nụ Tầm Xuân, Thương Tình Ca, Chỉ Chừng Đó Thôi, Tìm Nhau, Cho Nhau…

Từ sau năm 1975, nhạc sĩ Phạm Duy và gia đình cư ngụ tại Quận Cam, California. Năm 1990, ông bắt đầu viết hồi ký. Năm 1999, vợ ông là Thái Hằng qua đời, sự kiện này khiến ông bị cao huyết áp phải đi nằm bệnh viện một thời gian dài. Sau năm này, lần đầu về thăm quê hương sau 25 năm lưu lạc, ông gặp gỡ nhiều bạn cũ ở Việt Nam. Tháng 5/2005, ông trở về Việt Nam mua nhà sống tại quận 11, cùng các con trai Duy Quang, Duy Cường.

Hoàng Nguyễn (tổng hợp)

Lời thêm vào của Trần Quang Hải : 14h30 chiều 27/1/2013,, nhạc sĩ Phạm Duy mất tại bệnh viện 115, TP HCM sau 3 ngày nhập viện cấp cứu

http://cafevannghe.wordpress.com/2013/01/04/ns-pham-duy-cs-bach-yen/

Những tình ca bất hủ của Nhạc Sĩ Phạm Duy [ Full official ]


Published on Dec 29, 2013
Những tình ca bất hủ của Nhạc Sĩ Phạm Duy [ Full official ]
1. Ngày đó chúng mình
2. Còn gì nữa đâu
3. Đường em đi
4. Tôi còn yêu
5. Mùa thu paris
6. Hạ hồng
7. Cánh hoa trắng
8. Nắng chiều rực rỡ
9. Ngày tháng hạ
10. Kỷ vật cho em
11. Ngày xưa hoàng thị
12. Nghìn trùng xa cách
13. Con đường tình ta đi
14. Thà như giọt mưa
15. Cây đàn bỏ quên
Những tình ca bất hủ của nhạc sĩ Phạm Duy

PHẠM DUY “Nương chiều” và “Ngày trở về.”


http://youtu.be/02wQuxegnbc

Published on Jan 31, 2013

PHẠM DUY (1921-2013) Ngày trở về..

Mái nhà sàn thở khói âm u …
Cô nàng về để suối tương tư ……

Ngày trở về …. nắng vàng hoe.
Vườn rau trước hè cười đón người về….

Phạm Duy trong chương trình Rainbow Quest năm 1966 với PETE SEEGER


Published on Feb 28, 2013
Phạm Duy tham gia cùng với Bill Crofut, Steve Addiss và Peter Seeger trong chương trình về nhạc dân ca của Mĩ.
00:00 : Pete giới thiệu các khách mời của chương trình.
02:15 : Pete phỏng vấn Phạm Duy về đàn tranh.
03:55 : Phạm Duy giới thiệu và trình bày bài “Trèo lên quán Giốc” (Full Moon Fair Song).
05:52 : Pete hỏi Phạm Duy về bài hát; các bài hát được trình bày như thế nào và ở những nơi đâu ở Việt Nam.
08:30 : Phạm Duy giới thiệu và Steve Addiss trình bày bài Lý Con Sáo trên đàn tranh
13:18 : Phạm Duy giới thiệu và hát bài “Qua cầu gió bay” (Wind on the bridge). Phạm Duy nói về chủ đề chính trong hầu hết các bài dân ca Việt Nam.
15:48 : Phạm Duy trình bày cùng với Bill Crofut và Steve Addiss bài “Hò lơ”, một bài ca lao động do ông sáng tác.
17:45 : Pete phỏng vấn những khách mời và hỏi về những bài dân ca mới.
19:26 : Phạm Duy và Steve Addiss trình bày bài “Người thương binh” (The wounded soldier)
23:05 : Nói về Tâm phẫn ca (Protest song) và trình bày bài “Nhân danh”.
26:34 : Trình bày bài “Nhân danh” bằng lời tiếng Anh (For my defense)
28:15 : Pete nói về những bài hát với các khách mời.
28:30 : Phạm Duy, Steve Addiss và Bill Crofut trình bày bài “Giọt mưa trên lá” (The rain on the leaves) với phần lời tiếng Việt và tiếng Anh.
34:16 : Phạm Duy giới thiệu và trình bày phần lời Việt do ông viết cho bài Clementine.
©Historic Films Archive

BỒNG SƠN : Cấp phép phổ biến 22 ca khúc Phạm Duy


14/01/2014 07:25

Cấp phép phổ biến 22 ca khúc Phạm Duy

 – Nhân kỷ niệm 1 năm ngày mất của cố nhạc sĩ Phạm Duy (27.1.2013-27.1.2014), Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ VHTTDL) vừa cấp phép phổ biến tại Việt Nam thêm 22 ca khúc trong tổng số hơn 1.000 ca khúc do ông sáng tác và chuyển soạn lời Việt.

Ngoài ra, cũng trong dịp này, Phương Nam Phim đã phát hành 2 album những nhạc phẩm của ông đã được cấp phép trước đó: Album “Thà như giọt mưa” gồm 10 ca khúc Phạm Duy sáng tác và phổ thơ do ca sĩ Vũ Khanh thể hiện; album nhạc cổ điển và dân ca quốc tế nổi tiếng và quen thuộc do nhạc sĩ Phạm Duy chuyển soạn lời Việt “Giàn thiên lý đã xa”.

Bồng Sơn

http://danviet.vn/van-hoa/cap-phep-pho-bien-22-ca-khuc-pham-duy/20140113111930347p1c30.htm

LƯU TRỌNG VĂN : Giỗ đầu nhạc sĩ Phạm Duy Con ngựa hoang của thảo nguyên nhạc Việt


Giỗ đầu nhạc sĩ Phạm Duy

Con ngựa hoang của thảo nguyên nhạc Việt

Con ngựa hoang của thảo nguyên nhạc Việt
ĐĂNG BỞI  – 10:27 17-01-2014

 

 Sáng  16.1.2014, đúng kỷ niệm ngày giỗ đầu của nhạc sĩ Phạm Duy, bên mộ của ông cùng mộ vợ ông – ca sĩ Thái Hằng, mộ con trai ông – ca sĩ Duy Quang, rất nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi bạn bè của ông đã đến thăm viếng ông.

Gạch nối của những người đã khuất và bè bạn là nốt khóa sol khổng lồ được ông Nguyễn Văn Thiền chủ Hoa viên- Công viên của người cõi âm, viết bằng cây xanh. Cái khóa sol ấy thay cho biết bao lời tâm tình của cõi này gửi đến cõi kia và ngược lại.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tí 91 tuổi ngồi trên xe lăn, nhạc sĩ Trần Văn Khê 93 tuổi cũng ngồi trên xe lăn thắp nén hương tưởng nhớ Phạm Duy – chiếc xe lăn mà sinh thời Phạm Duy vẫn đùa:“Các ông ấy đi mercedes trong nhà, còn tôi tới chết vẫn… bước. Tôi sẽ chết khi đang bước”. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tí rơm rớm nước mắt nói: “Ông Duy ơi, Thái Hằng ơi, nhớ thời trẻ kháng chiến, khi Thái Hằng xuất hiện, Tí này cũng mê lắm, tính tấn công, ai dè ông Duy đã cầm guitar bên đống rơm hát “trăng ơi… trăng” rồi cuỗm trăng trước”.
Nhạc sĩ Trần Văn Khê rung ngón tay nhịp, miệng say sưa hát  thầm theo bài  “Tình ca” mà Ánh Tuyết đang hát. Nhà thơ Phạm Thiên Thư ở tuổi 77, đạo diễn Lê Dân ở tuổi 87 trầm ngâm khi ca sĩ Quang Linh gửi hồn qua bài “Quê nghèo”  miền Trung của Phạm Duy. Còn, cả khu rừng cao su mùa lá rụng và nhà văn Sơn Nam, đạo diễn Huỳnh Phúc Điền –  những bạn láng giềng của nhạc sĩ Phạm Duy chừng như đang thổn thức cùng ca sĩ Đức Tuấn và ca sĩ Ánh Tuyết ngồi bên mộ nhạc sĩ Phạm Duy – nơi tấm đá khắc dòng chữ “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”, hát bài “Thu buồn” Phạm Duy viết tặng những người bạn khi tiễn biệt.

Chỉ còn vài ngày nữa năm Ngọ gõ cửa, Ánh Tuyết hỏi nhà thơ Phạm Thiên Thư “Ngọ” trong “Em tan trường về” giờ ở đâu? Phạm Thiên Thư cười: Trời Tây mịt mù. Chỉ còn vài ngày nữa năm Ngọ gõ cửa, nhà thơ Hoàng Hưng nghe một ca sĩ trẻ hát “Ngựa hoang” – một ca khúc rất lạ trong kho tàng nhạc Phạm Duy, chợt nhớ đến bài thơ “Ngựa biển” của mình. Hoàng Hưng bảo: “Ngựa biển” của tôi chỉ là một khát vọng và tôi tin “ngựa hoang” của Phạm Duy cũng là một… khát vọng. Khát vọng tung vó, khát vọng tự do.

Thôi, ngủ nhé những khát vọng, hỡi con ngựa hoang của thảo nguyên nhạc Việt! Nốt sol kia khóa lại hay mở ra một trang mới – một trang tình, đó là tùy theo mỗi người. Còn tôi, tôi tin con ngựa hoang Phạm Duy giờ này đang hí vang trên một hoang cỏ nào đó để lại mỗi dấu chân một nốt nhạc… thương đời.
Gia đình nhạc sĩ Phạm Duy cùng ông Nguyễn Văn Thiền  (bìa phải) – người sáng lập Hoa Viên và nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý-nhạc sĩ Trần Văn Khê-đạo diễn Lê Dân bên mộ PD
Hai người bạn đồng niên, đồng nghiệp Trần Văn Khê, Phạm Duy 
 Khóa sol – gạch nối giữa người cõi bên này và cõi bên kia
 Ánh Tuyết, Đức Tuấn luôn gọi Phạm Duy là bố
 Đức Tuấn – con chào bố!
 Ca sĩ Quang Linh với ca khúc Quê Nghèo của Phạm Duy
 

NGUYỄN ĐẮC XUÂN : Âm nhạc Phạm Duy thức dậy hồn Việt


Âm nhạc Phạm Duy thức dậy hồn Việt

Posted on 29/01 by 
Phát biểu của Nguyễn Đắc Xuân – đại diện Nhóm Bạn Cố Đô Huế phát biểu trong đêm giao lưu âm nhạc “Tôi Yêu Tiếng Nước Tôi” tại Giảng đường ĐHSP Huế, 16-9-2012.

 

Kính thưa Quý lãnh đạo Thừa Thiên Huế,

Kính thưa nhạc sĩ Phạm Duy,

Quý lãnh đạo Đại học Huế, Đại học Sư phạm, Đai học Phú Xuân, lãnh đạo các ban ngành thuộc tỉn Thừa Thiên Huế, lãnh đạo các Trường THPT Quc Học, Hai Bà Trưng, Gia Hội, Nguyễn Huệ;

Kính thưa các anh chị em yêu âm nhạc của Thành phố Huế cùng các bạn học sinh sinh viên các Đại học, các Trung học ở Huế quý mến,

Từ đầu năm 2012 đến nay, quý vị đã nghe đến tên gọi Nhóm Những Người Bạn Cố Đô Huế qua một số hoạt động văn hóa giáo dục như Giới thiệu cuốn sách Nghiên cứu triều Nguyễn và Huế xưa ở XQ Cổ Độ, hỗ trợ 6 em Sinh viên học sinh lập quỹ học bổng “Tiếng nói của bạn” ở trường THCS Quảng Vinh – huyện Quảng Điền; phối hợp và tài trợ cho Liên hiệp các Hội VHNT TTH và Học viện Am nhạc Huế mời NS Phạm Duy và .GSTS Trần Văn Khê ra Huế giới thiệu Trường ca Hàn Mặc Tử của Phạm Duy nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hàn Mặc Tử; kết nối, tài trợ và phối hợp với VTV1 Đài Truyền hình VN và trường Quốc Học thực hiện “Chương trình đối thoại chính sách” chủ đề “Văn hóa học đường” tại sân trường Quốc Hoc, với sự tham gia giao lưu-đối thoại của GS.TS Trần Văn Khê, TS Thái Kim Lan và nhà sử học Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc; hỗ trợ tài chính ban đầu cho Đoàn trường Đại học Huế chuẩn bị cho ra đời Gameshow dành cho Sinh viên Huế tìm hiểu về lịch sử văn hóa Huế.v.v.

GS TS Trần Văn Khê, nhạc sĩ Phạm Duy và các đại biểu trước buổi đối thoại “Văn hóa học đường” tại trường Quốc học Huế

Từ trái qua: GS TS Trần Văn Khê, TS Thái Kim Lan, BTV Quang Minh và GS sử học Dương Trung Quốc tại buổi Đối thoại và chính sách học đường tại trường QH Huế

Nhạc sĩ Phạm Duy tại buổi đối thoại

Sở dĩ hôm nay tôi được đại diện cho Đoàn trường Đại học Huế, Công-ty Văn hóa Phương Nam và Nhóm Những Người Bạn Cố Đô Huế có mấy lời cám ơn nầy là vì gần nửa thế kỷ trước tôi là Sinh viên Văn khoa và Sinh viên Đại học Sư phạm Đại học Huế. Chính trên sân trường nầy tôi đã được nghe nhạc si Phạm Duy giới thiệu Trường ca Con Đường Cái Quan, trường ca Mẹ Việt Nam, nghe giới thiệu Dân nhạc Việt Nam.v.v.tôi đã được nhạc sĩ hun đúc cho cái hồn dân tộc và khát vọng thống nhất đất nước. Cái hồn đó, cái khát vọng đó đã thúc đẩy tôi làm thơ tranh đấu cho hòa bình thống nhất dân tộc và được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc các bài Để lại cho em (Tâm ca số 5), Nhân danh, Chuyện hai người lính, các bài hát ấy dã được sinh viên Huế hát vang trên sân trường nầy. Rồi cũng từ cái hồn đó, cái khát vọng đó dẫn tôi vào các cuộc tranh đấu yêu nước ở các đô thị miền Nam và thoát ly đi theo kháng chiến trên núi rừng Trị  Thiên để đi đến cùng lý tưởng giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước vào 30 tháng tư năm 1975. Từ ấy, bài Tình Ca của Phạm Duy viết từ năm 1953 luôn reo vui hạnh phúc trong lòng tôi với những câu:

Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh
Ruộng đồng vun sóng ra Thái Bình
Nhìn trùng dương hát câu no lành  

Nhưng không ngờ hôm nay, sau gần 40 năm, niềm hạnh phúc của đất nước “bên bờ biển xanh” “vun sóng ra Thái Bình” đột nhiên bị đe dọa xâm lược. Nhiều hải đảo của Việt Nam đã in dấu giày của bọn giặc ngoại từ phương Bắc. Sự thể ấy thức dậy cái hồn nước của cả dân tộc. Trong không khí ấy, Nhóm Bạn Cố đô Huế chúng tôi và Phương Nam film hỗ trợ và phối hợp với Đoàn trường Đại học Huế mời danh ca Đức Tuấn ra Huế cùng Sinh viên Huế giao lưu âm nhạc Việt. Đức Tuấn dù được sinh ra và trưởng thành sau ngày Việt Nam độc lập thống nhất – nhưng anh may mắn được tiếp nhận cái hồn Việt trong âm nhạc của Phạm Duy trực tiếp với nhạc sĩ Phạm Duy. Và vui sao, cuộc giao lưu âm nhạc hôm nay lại có được sự hiện diện của chính nhạc sĩ 92 tuổi Phạm Duy – một đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam.

Nói đến cái hồn Việt trong âm nhạc của Phạm Duy là nói đến tác giả với trên dưới 70 năm sáng tác, có trên một ngàn ca khúc, từ phổ thơ, đặt lời mới cho dân ca, đặt lời Việt cho ca khúc ngoại quốc khác nữa, với đủ các thể loại … và cho đến nay ông vẫn còn làm việc. Sáng tác đầu tay của nhạc sĩ Phạm Duy là bài Cô hái mơ ra đời cách đây đã hơn 70 năm, ông lại vừa phổ xong 10 bài thơ trong Dị khúc của Bích Khê – một nhà thơ quê Quảng Ngãi cùng thời với nhà thơ Hàn Mặc Tử, trong đó có bài  “Huế đa tình” mà các bạn vừa nghe ca sĩ Đức Tuấn hát. Với Phạm Duy, chúng ta có vô số chủ đề để nói. Đối với tôi vấn đề nổi bật nhất là ông đã có một quá trình gắn bó với miền Trung, với Huế. Ông đã đến Huế nhiều lần, đến Huế khi ông còn là một ca sĩ trong Gánh hát Đức Huy Charlot Miều (1944), ông đã vào vùng kháng chiến Bình Trị Thiên Huế (1948), ông đã thân quen với nhiều nhạc sĩ, ca nhân Huế, đã có dịp nghiên cứu âm nhạc truyền thống Huế và miền Trung, ông đã “biết ái tình ở dòng sông Hương”, ông đã vận dụng các làn điệu dân ca Bình Thị Thiên vào nhiều tác phẩm viết về Huế, về miền Trung. Tôi chưa có dịp sưu tầm hết để có một tổng kết, nhưng do nhiều nguồn đưa đến, trong tay tôi đã có trên dưới ba mươi bài về Huế, về miền Trung, mà bài mới nhất ông vừa phổ thơ Bích Khê “Huế đa tình” mà quý vị vừa thưởng thức. Nhắc đến nhạc sĩ Phạm Duy, người Huế, người miền Trung không thể không nhắc đến các nhạc phẩm thời danh Quê nghèo (tức Bao giờ anh lấy được đồn Tây), Bà mẹ Gio Linh, Về miền Trung, Nước non ngàn dặm ra đi, nhiều đoản khúc khác trong Trường ca Con đường cái quan, và Trường ca Mẹ Việt Nam.v.v. Phạm Duy với chừng ấy tác phẩm về Huế và miền Trung, ông xứng đáng là một tác giả lớn của Huế, của mền Trung chúng ta.

Tổ chức đêm ca nhạc và giao lưu “Tôi Yêu Tiếng Nước Tôi” nầy  để Sinh viên Huế ngày nay có dịp biết đến một phần di sản âm nhạc Việt đã từng thịnh hành trong đời sống âm nhạc của Sinh viên Huế trước đây. Đó là một nền âm nhạc cổ vũ cho tình yêu tiếng nói, yêu văn hóa lịch sử dân tộc, yêu đất nước và yêu dân (như Phạm Duy viết trong bài Tình ca mà quý vị và các bạn sắp nghe đây. Tôi yêu tiếng nước tôi, Tôi yêu người nước tôi và tôi yêu đất nước tôi). Qua đó Sinh viên Huế có thể so sánh những giá trị nghệ thuật của âm nhạc đã từng có với thế giới nhạc trẻ chóng qua và chóng quên hiện nay, hòng xây dựng cho mình một nền âm nhạc đậm đà bản sắc dân tộc và hiện đại. Nền âm nhạc đó sẽ góp phần giữ nước và chống ngoại xâm tốt nhất. Nếu Sinh viên Huế thực hiện được niềm tin nầy, Sinh viên Huế sẽ là những người đi đầu Phong trào về nguồn tân nhạc Việt giống như các thế hệ Sinh viên huế đi trước đã đi đầu trong Phong trào đấu tranh đô thị trước năm 1975 ở miền Nam Việt Nam.

Nếu được các Đại học ở Huế ủng hộ, học sinh sinh viên Huế hưởng ứng tích cực, chúng tôi sẽ vận động tài trợ tổ chức các chương trình giao lưu tiếp – không những trong lĩnh vực âm nhạc như âm nhạc mà còn có các buổi giao lưu với các chuyên gia nổi tiếng quốc gia và quốc tế về các vấn đề văn hóa, lịch sử, về Phong trào dấu tranh yêu nước ở các đô thị miền Nam, về kinh tế đối ngoại, ngoại giao hiện nay.v.v. Nhóm Những người bạn của Cô đô Huế mong muốn Sinh viên của Đại học Huế không những là những trí thức có tinh thần dân tộc cao đồng thời là một lớp trẻ cập nhật tri thức hiện đại, giao lưu rộng rãi, xứng đáng với Huế cố đô, với Huế thành phố có hai di sản văn hóa của nhân loại.

Nhạc sĩ Phạm Duy và GS TS Trần Văn Khê tại đêm nhạc “Trường ca Hàn Mạc Tử” tại Huế vào trung tuần tháng 5 – 2012

Kính thưa quý vị và các bạn Sinh viên,

Để có được buổi giao lưu nầy, chúng tôi xin cám ơn quý lãnh đạo Đại học Huế và Đại học Sư phạm Huế,

Cám ơn thầy giáo Phan Hoàng Hải – Bí thư Đoàn Đại học Huế

Cám ơn thầy giáo Nguyễn Anh Dân – Phó Bí thư Đoàn Đại học Sư Phạm Huế

Cám ơn Công-ty Văn hóa Phương Nam,

Cám ơn Nhóm những người bạn Cố đô Huế ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, và Huế đang có mặt ở đây.

Xin cám ơn và cáo lỗi với nhiều bạn yêu nhạc Phạm Duy, vì thính phòng không đủ chỗ phải thưởng thức âm nhạc và giao lưu qua màn hình đặt bên ngoài. Khắc phục khuyết điểm nầy, chúng tôi xin hứa trong những chương trình sau sẽ tỏ chức ở Nhà thi đấu của Tỉnh để có thể đón tiếp được nhiều người hơn;

Tôi xin cảm ơn nhà văn Nguyễn Đông Thức, ca sĩ Đức Tuấn và các bạn sinh viên trong Đội văn nghệ của Đại học Sư Phạm Huế, Học viện Âm nhạc Huế đã giới thiệu, hát, giao lưu tạo nên sự thành công xuát săc của  chương trình hôm nay. Để tỏ lòng biết ơn chúng tôi xin mời ca sĩ Đức Tuấn nhận bó hoa của chúng tôi.

Và, tôi rất hân hạnh được thay mặt cho tất cả những người yêu nhạc dân tộc trong thính phòng nầy, ở Huế, ở trong và ngoài nước xin đặc biệt cám ơn sự có mặt của nhạc sĩ 92 tuổi Phạm Duy – cây đại thụ của nền tân nhạc của dân tộc Việt Nam.[Sau chuyến ra Huế cách đây gần 4 tháng, khi trở về nhà nhạc sĩ Phạm Duy đã bị đột quỵ nhỏ: bị méo miệng, sếch cả mắt.]

Vì vậy hôm nay tôi và tất cả chúng ta đều mong nhạc sĩ Phạm Duy sức khoẻ, tiếp tục yêu đời, yêu người, có thêm nhiều tác phẩm mới nữa, để Huế, miền Trung còn có nhiều dịp được đón nhạc sĩ trong các Chương trình hát về miền Trung, hát Đạo Ca, hát Thiền Ca.v.v. như mọi người đang mong đợi. Xin thay mặt cho những người yêu âm nhạc, tôi và ca sĩ Đức Tuấn rất hân hạnh được kính tặng nhạc sĩ một bó hoa.

Xin kính chào quý vị.

[…]

Huế, Ngày 16 tháng 9 năm 2012

Nguyễn Đắc Xuân (gactholoc.net)

– See more at: http://www.tranvankhe.vn/2013/01/29/am-nh%e1%ba%a1c-ph%e1%ba%a1m-duy-th%e1%bb%a9c-d%e1%ba%ady-h%e1%bb%93n-vi%e1%bb%87t/#sthash.dXBie5eo.dpuf