Tag Archives: radio rfa

NGÀNH MAI / phóng viên RFA : Tổ cải lương là ai và thờ Tổ từ bao giờ?


Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-09-05
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ Sân Khấu Hải Ngoại Tổ Chức Lễ Giỗ Tổ

Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ Sân Khấu Hải Ngoại Tổ Chức Lễ Giỗ Tổ

Hằng năm ngành sân khấu Việt Nam có lệ tổ chức lễ Giỗ Tổ (còn gọi là Cúng Ông) để tưởng nhớ đến tiền nhân khai sáng nghề nghiệp, và truyền thống này vẫn được duy trì, lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Cúng Tổ cũng là cơ hội để cho giới nghệ sĩ họp mặt nhau những bạn hữu xa gần sau một năm dài làm nghệ thuật phục vụ bà con hâm mộ cải lương.

Thời kỳ trước 1975, hằng năm hễ đến ngày 11 Tháng Tám Âm Lịch thì tại nhà Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ở đường Cô Bắc, anh chị em đào kép các gánh tụ tập về đây để tổ chức cúng Tổ chung một bữa, để ngày hôm sau 12 Tháng Tám, ai nấy đều trở về gánh mình lo cúng Tổ riêng tại đoàn.

Trong những năm mà cải lương còn hưng thịnh thì ngày cúng Tổ tại nhà Hội rất linh đình, nhưng những năm từ sau

Tết Mậu Thân, cải lương quá kiệt quệ thì lễ cúng Tổ cũng quá sơ sài, khiếm khuyết, nhưng dầu sơ sài hay linh đình gì thì nghi thức cúng lễ vẫn gồm có mấy việc: Tắm Tổ và thay quần áo, chít khăn mới.

Giờ cử hành chánh lễ thì một vị cao niên nhứt trong ban chấp hành của Hội được bầu làm chủ tế. Một nhạc sĩ lỗi lạc nhứt được giao phó cho chức “trưởng nhạc lễ”. Sau khi vị chủ tế nguyện hương xong thì lần lượt từ lớn đến nhỏ, nghệ sĩ dâng hương, lạy Tổ, cầu mong Tổ ban cho duyên dáng nghề nghiệp và kết cuộc là hưởng lộc Tổ, tức ăn nhậu thả ga…

Thế nhưng, cúng Tổ thì cúng, chớ như ai đó hỏi người trong giới rằng Tổ là ai và thờ Tổ từ bao giờ thì phần đông đã không có câu trả lời, hoặc trả lời một cách lờ mờ. Đó là do bởi họ chỉ lo hát, lo làm nghệ thuật, chớ ít ai chịu khó tìm hiểu để nắm vững vấn đề, hầu trả lời một cách thống nhứt với thiên hạ.

Thời kỳ trước 1975, hằng năm hễ đến ngày 11 Tháng Tám Âm Lịch thì tại nhà Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ở đường Cô Bắc, anh chị em đào kép các gánh tụ tập về đây để tổ chức cúng Tổ chung một bữa, để ngày hôm sau 12 Tháng Tám, ai nấy đều trở về gánh mình lo cúng Tổ riêng tại đoàn

Nhân ngày cúng Tổ cải lương hằng năm, tôi xin nói qua về những huyền thoại, mà tôi đã tìm hiểu, ghi lại và hôm nay xin trình bày nhiều chi tiết liên quan đến lễ giỗ Tổ cải lương.

Tổ cải lương là ai? Thọat tiên cải lương không hề có Tổ, bởi bộ môn nghệ thuật này không bắt nguồn từ hát bội,

như một số người cho rằng thế, mà lại là một hình thành của phong trào cầm ca tâm điệu, do những người có chút Tây học đề xướng và được giới tư sản thành thị ủng hộ.

Ngày xưa thập niên 1920 những gánh hát ThầyNăm Tú, gánh Thầy Thận (Sađéc Amis), gánh Đồng Nữ Ban… đều không thấy có khánh thờ Tổ, cũng không cúng kiếng chỉ cả. Mãi cho đến khi đoàn Tập Ích Ban của một người Triều Châu ở Thốt Nốt lập nên, người ta mới thấy có việc thờ Tổ, do bởi gánh Tập Ích Ban tổ chức sân khấu giống hệt như hát Tiều, để rồi từ đó các gánh khác thành lập sau mới bắt chước thờ Tổ.

Cho đến mấy lúc sau này hầu hết các khánh thờ Tổ, cốt Tổ đều được đặt đóng tại Thốt Nốt, bởi người ta nghĩ rằng gốc gác Tổ phát sinh ở đó (nghệ sĩ tiền phong Bảy Nhiêu là người ở Thốt Nốt. Năm 20 tuổibắt đầu gia nhập gánh hát Tập Ích Ban này).

Giới cải lương nói Tổ kỵ kim khí, nên làm khánh thờ Tổ thì tuyệt đối không dùng đinh đóng mà chỉ ráp bằng mộng mà thôi, cốt Tổ thì tiện bằng cây vông, bởi vậy nên đào kép không được phép đi guốc vông. Tổ thì thấy rất nhiều, có nơi thì 9, nơi 12, có nơi thì 6, nhưng đứng hàng đầu chỉ có ba vị gọi là Tam Vị Thánh Tổ: Vị ngồi giữa mặc áo vàng, chít khăn vàng, vị bên trái mặc áo đỏ chít khăn đỏ, và vị bên phải mặc áo xanh chít khăn xanh. Đấy ba vị Đại Thánh Tổ, còn những ông khác có thể là tiên hiền, hậu hiền…

Một kiểu bàn thờ Tổ Nghiệp
Một kiểu bàn thờ Tổ Nghiệp

Cứ theo truyền thuyết thì vị mặc áo vàng ấy là một vị hoàng tử đời nhà Tấn (có lẽ thời Đông Châu) có óc phóng đãng, không thích nghi lễ triều đình nên tìm cách trốn ra khỏi hoàng thành để nhập thân vào dân chúng, sống bằng cách kể lại cho dân chúng nghe bí mật thâm cung hầu kiếm cơm. Ông Hoàng rất có duyên nên đi đếnđâu cũng được thiên hạ mến mộ cuồng nhiệt, cho đến một ngày nọ triều đình hay được tin đó, mới truyền ra cho quan quân tìm bắt vị hoàng tử nghịch ngợm này về hài tội.

Tổ thì thấy rất nhiều, có nơi thì 9, nơi 12, có nơi thì 6, nhưng đứng hàng đầu chỉ có ba vị gọi là Tam Vị Thánh Tổ: Vị ngồi giữa mặc áo vàng, chít khăn vàng, vị bên trái mặc áo đỏ chít khăn đỏ, và vị bên phải mặc áo xanh chít khăn xanh. Đấy ba vị Đại Thánh Tổ, còn những ông khác có thể là tiên hiền, hậu hiền…

Khi vòng vây quân binh siết chặt, ông Hoàngsợ quá leo lên cây vông trốn trên đó, quan quân mang võng đến buộc ông Hoàng nhảy xuống, nhưng ông nhứt định cố thủ để chết khô trêncây vông, do đó bây giờ cốt Tổ được tiện bằngcây vông. Nghệ sĩ cử đi guốc vông và sân khấu cũng kiêng kỵ mắc võng ở hậu trường, hoặc dùng võng trong tuồng hát.

Ông Tổ chánh như thể là một nghệ sĩ chánh cống, quyết tử vì nghệ thuật. Vị tổ mặc áo đỏ, chít khăn đỏ là Hồng Tào

Xạc, một tướng cướp biển vào thời ấy bị triều đình lùng bắt nêncải dạng trốn tránh. Khi đến một ngôi chợ nọ thấy người ta đông đảo bao quanh vị hoàng tử để nghe ông ta kể chuyện thâm cung thì thích thú quá,xin tình nguyện nhập phe với vị hoàng tử để bảo vệ ông này trên đường đi đây đi đó. Nếu có kẻ muốn hiếp đáp hoàng tử hoặc nghe kể chuyện mà không chịu thù lao tiền bạc, cơm nước thì… Hồng Tào Xạc cũng dám ra tay, dùng bạo lực với những kẻ không biết phải. Do đó mà vị hoàngtử được người người mến mộ, nhưng người ta cũng ngán họ Hồng. Cứ theo thuyết này thì ăn cướp không bao giờ dám ăn hàng cải lương, bởi ông Tổ của họ vẫn là em út của Tổ cải lương vậy.

Vào giữa thập niên 1950 trên quốc lộ đi miền Đông, một toán cướp võ trang xuất hiện, chận cướp xe đò xe hàng, tới xe gánh hát thấy khánh thờ Tổ cải lương để phía trước. Tức thì tên đầu đảng ra lệnh cho đàn em không được cướp. Nhờ “cùng chung một Tổ” nên xe gánh hát thoát nạn.

Người ta còn nhớ năm nọ kỳ nữ Kim Cương trong lúc đi ngang qua đường để lấy xe, bị một tên cướp cạn chộp ngay vào cổ, lấy mất sợi dây chuyền bằng cẩm thạch rất “quí giá” vừa tinh thần lẫn vật chất. Vì đó là kỷ vật của một người bạn thân. Phản ứng đầu tiên của Kim Cương là run rẩy và cười. Chẳng hiểu tại sao lại cười? Và còn nói thêm một câu: – Rồi… giựt mất tiêu rồi! Khách qua đường dừng lại rất đông, họ nhìn Kim Cương vừa thương, vừa tò mò xem thái độ của cô đối với sự việc mới xảy ra.

Thời gian không lâu, một người tới và trả lại cho Kim Cương sợi dây chuyển cẩm thạch với lời lẽ rất đáng ghi nhớ:

– Bọn đàn em nó ngu lắm. Nó nhè nữ nghệ sĩ Kim Cương mà giựt dây chuyền. Xin lỗi cô. Hãy tha thứ cho tụi nó.

Rồi anh ta mất dạng.

Kim Cương giựt mình nói vói theo: – Anh ơi, Tổ của mấy anh cũng là một trong tam vị Thánh tổ của sân khấu cải lương. Nghệ sĩ coi “rần rần” như vậy chớ nghèo lắm!

Người ta thường bảo ở cải lương vốn có chất ăn mày, nhưng lại cũng có chất ăn cướp, mặc dầu bản thân họ rất ư là nghệ sĩ. Ít có dân ăn mày nào xin tiền đào kép hát, cũng như đào kép hát kiêng kỵ cho tiền ăn mày, vì họ nhìn nhận hai giới họ cũng là một Tổ

Đến ông Tổ áo xanh là ông Quách Di, một người ăn mày chính cống, khi thấy vị hoàng tử nói chuyện và tự nguyện không lấy tiền ai. Để tùy hỉ ai muốn cho gì cũng lấy thì vị ăn mày tên Quách Di bèn xin theo hoàng tử. Hễ ông này kể chuyện ở đâu thì họ Quách ngửa nón xin bà con cô bác trả tiền giùm cái sự nghe chuyện lạ ấy, để lấy tiền đó cho toán ba người độ nhựt. Nếu ai không đóng góp tiền, cứ nghe cọp mà thôi thì đã có Hồng Tào Xạc ra tay dùng biện pháp mạnh. Người ta thường bảo ở cải lương vốn có chất ăn mày, nhưng lại cũng có chất ăn cướp, mặc dầu bản thân họ rất ư là nghệ sĩ. Ít có dân ăn mày nào xin tiền đào kép hát, cũng như đào kép hát kiêng kỵ cho tiền ăn mày, vì họ nhìn nhận hai giới họ cũng là một Tổ.

Những kiêng kỵ khác của cải lương, bất cứ một bàn Tổ nào của cải lương cũng đều có phái người canh giữ cẩn thận, người đó gọi là ông Từ, ông Từ hay bà Từ có bổn phận lo hương đăng trà quả trên bàn Tổ và cấm không cho người lạ mặt xúc phạm đến Tổ nghiệp. Điều cấm ngặt là không ai có quyền mang trái thị chín đi ngang bàn Tổ, bởi người ta tin rằng như thế tam vị Thánh Tổ sẽ đi theo trái thị và bỏ đoàn hát mất.

Cũng không ai được mang đồ dơ đến gần bàn Tổ, vì Tổ kỵ nhơ uế rất có thể tránh xa, và nếu một ai đóng đinh bàn Tổ, nhét kim khí dưới lư hương của bàn Tổ tức phá hoại cho gánh hát xào xáo, và muốn cho gánh hát đó tan rã hoặc trù ếm cho bầu gánh chết cũng nên. Đèn trên bàn thờ Tổ không ai được dùng đó mà đốt thuốc vì vậy sẽ xúc phạm đến Tổ nghiệp.

Trên đây là những điều đại khái về Tổ cải lương dựa theo lời truyền khẩu trong giới này. Tuy là huyền thoại, nhưng từ trước đến nay ai làm cải lương cũng đều rất tin tưởng vậy. Những năm có tiền cúng Tổ rất lớn, nhưng cũng có năm gặp khó khăn trong việc cúng Tổ.

Người ta còn nhớ vào năm 1965 cải lương đangthịnh thời mà giới nghệ sĩ đã không góp sức, chung đậu để cho Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ngặt nghèo trong việc cúng Tổ hằng năm. Lúc bấy giờ khoảng giữa Tháng Bảy Âm Lịch,ban chấp hành Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu đã họp để bàn nhiều việc…bi đát. Nói bi đát vì qua buổi họp ấy, người ta được biết Hội không còn tiền, mà không tiền thì những việc cần xài tiền đã dồn ban chấp hành Hộivào… ngõ bí.

Đầu tiên là Giỗ Tổ. Đang không tiền, mà lại chuẩn bị Giỗ Tổ khiến cho Ban Chấp Hành Hội lúng túng, vì không thể

không Giỗ Tổ tại hội quán, như từ trước đến giờ.

Kêu gọi cứu trợ thất bại, Hội nghèo quá không làm gì ra tiền, mà hơn một năm qua Hội không thu được tiền đóng

nguyệt liễm của hội viên, nên không có một ngân quỹ tối thiểu. Hội chủ trương đi xin tiền, và đã gởi thơ đến các tòa đại sứ, lãnh sự quán của các nước bạn ở Sài Gòn để nhờ trợ giúp. Hội cũng có gởi thơ đến chánh phủ để xin tiền…

Thế nhưng, chỉ duy nhứt có Tòa Đại Sứ Phi Luật Tân trả lời: Tiếc rằng chưa có tiền để giúp Hội. Tùy viên văn hóa Phi thay mặt Tòa Đại Sứ Phi nói rằng đến khi nào quỹ văn hóa được khá, thì… sẽ nghĩ đến Hội. Còn tất cả các tòa đại sứ, lãnh sự quán khác đều không trả lời.

Riêng chánh phủ trung ương chuyển thơ gởi xintiền của Hội đến ông giám đốc đài phát thanh Sài Gòn. Nghệ sĩ Duy Lân tổng thơ ký của Hội được mời đến đài, ông giám đốc nói rằng Hội lãnh đạo được giới cải lương trong việc tích cực chống Cộng thì chánhphủ sẽ giúp Hội rất mạnh…

Nghệ sĩ Duy Lân nói rằng hồi đó đến giờ Hội chỉ hoạt động trong việc ái hữu tương tế, thì không biết phải làm sao đây? Chắc chắn Hội không hứa với chánh phủ công việc có tánh cách chánh trị ấy, vì Hội không thể hoạt động ngoài phạm vi của Hội. Thật là đen tối…, chưa bao giờ Hội Nghệ Sĩ lâm cuộc khủng hoảng như thời kỳ nầy.

Lúc bấy giờ ông hội trưởng Trần Viết Long, tức ông bầu Long của gánh Kim Chung đang ở Pháp, và Hội chờ ông về nước để có biện pháp hay ho như thế nào, mà vấn đề chánh chỉ là tiền.

Nghe nói thì năm đó ông bầu Long bỏ tiền túi cho Hội cúng Tổ.

CÁT LINH / phóng viên RFA : 50 NĂM PHONG TRÀO NHẠC TRẺ, radio RFA, USA


50 năm phong trào nhạc trẻ

Cát Linh, phóng viên RFA
2015-08-30
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Ban nhạc CBC đã bắt đầu hoạt động từ tháng Bảy năm 1963

Ban nhạc CBC đã bắt đầu hoạt động từ tháng Bảy năm 1963

File photo

Nếu lấy mốc thời gian của thập niên 60-70s thì đã 50 năm từ ngày phong trào nhạc ngoại quốc, nhạc ngoại quốc lời Việt, mà gọi chung là nhạc trẻ du nhập vào Việt Nam. Những chàng hippy tóc dài, quần ống loe ngày xưa giờ đây có người đã trở thành thiên cổ, có người tóc đã trắng như vôi. Thế nhưng, có lẽ chưa bao giờ trong tâm hồn của họ quên đi được thời kỳ hưng thịnh nhất của nền nhạc trẻ Việt Nam.

Nhân dịp “Cuộc hội ngộ 50 năm nhạc trẻ” sẽ tổ chức ở Nam California sắp đến, Cát Linh xin mời quí vị cùng quay về thập niên 60-70s, gặp lại những người đã khởi xướng nên ngọn lửa âm nhạc đã trở thành lịch sử của một thế hệ thanh niên 50 năm trước.

“Tôi đã từng sống trong thời kỳ đó, là một người thanh niên, họ rất hoang mang trong cuộc sống và về cuộc chiến tranh, người ta rất hoang mang. Giới trẻ ngày đó người ta nghĩ rằng không biết sống chết ngày nào. Có một phong trào hippy, gọi là big music du nhập vào. Giới trẻ say đắm vào dòng nhạc cuồng loạn để vơi bớt những tâm trạng, những buồn chán, lo lắng của giới trẻ bấy giờ.”

Đó là lời tâm tình của nghệ sĩ Kỳ Phát, một trong những chàng trai hippy đã tạo nên phong trào “Việt hoá nhạc trẻ Việt Nam” khi ông nói về nguyên nhân vì sao những thanh niên thế hệ ấy tìm đến và say mê dòng nhạc trẻ.

Thập niên 60, 70s là thời gian mà cuộc chiến và sự chia lìa là đề tài được nhắc đến nhiều nhất trong các tác phẩm văn thơ, âm nhạc. Thế nhưng, bên cạnh những bài ca về lính, những ca khúc chinh chiến đau thương, thì nhạc trẻ xuất hiện như một cơn gió thổi bùng ngọn lửa cuồng nhiệt trong tâm hồn của người thanh niên. Nghệ sĩ Kỳ Phát nói rằng trong một khung cảnh xã hội như thế, nhạc trẻ như một liều thuốc phiện đánh tan nỗi hoang mang, lo lắng về cuộc sống chết nay sống mai.

Với nghệ sĩ/nhạc sĩ Nam Lộc, người đã viết nhiều ca khúc ngoại quốc lời Việt trong những năm đó thì ông cho rằng, nhạc trẻ, đơn giản là dành cho người trẻ.

“Đã gọi là giới trẻ thì khi lớn lên, rất tự nhiên, họ thích gì thì họ làm đó. Họ không bị ảnh hưởng nhiều bên ngoài, nghĩa là dù đất nước bị chinh chiến, có chiến tranh nhưng không phải lúc nào họ cũng bị cô lập trong cái chinh chiến đó mà họ vẫn phát triển ý thích của họ.”

Thời điểm đó, đầu những năm 60s, nhạc trẻ đến từ những bản nhạc Rock n Roll của Pháp, cũng như của Anh, Mỹ và du nhập vào Việt Nam, được giới thanh niên thuộc gia đình giàu có thời ấy ưa chuộng. Bên cạnh những bài tình ca, những ca khúc học trò như nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác phổ từ thơ Nguyễn Tất Nhiên, hay những giai điệu nhẹ nhàng mà ban nhạc Phượng Hoàng trình diễn thì nhạc trẻ được phổ biến một cách rất tự nhiên.

Những điệu nhạc nhanh, cuồng nhiệt nhanh chóng được giới trẻ đón nhận như một nơi quay về sau những hiện thực mất mát từ cuộc chiến.

Trường Kỳ, Tùng Giang, Nam Lộc, Kỳ Phát
Trường Kỳ, Tùng Giang, Nam Lộc, Kỳ Phát

“Vẫn có những cuộc vui xảy ra hàng đêm. Những người lính khi trở về, thay 1 bộ đồ trận, trở về thì sà vào những cuộc vui, 1 phần là sở thích của họ, 1 phần là quên đi những khổ đau vất vả của chiến trường. Tuổi trẻ là như vậy. Nhớ đấy rồi quên đấy. Vui đấy rồi cười  đấy rồi khóc đấy. Nên tôi cho rằng đó nó phản ảnh cái tuổi trẻ trung thực, lúc vui lúc buồn, lúc khổ đau lúc sung sướng. Tuổi trẻ là như vậy.”

Người khởi xướng đầu tiên phong trao nhạc trẻ giai đoạn này là nhạc sĩ Trường Kỳ, người được gọi là ông vua nhạc trẻ, ông vua hippy.

“Trường Kỳ là người tổ chức nhạc trẻ, viết về nhạc trẻ. Khi phong trào hippy phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, về vóc dáng của Trường Kỳ thì anh để tóc dài, để râu giống như những tay hippy ở Mỹ nên người ta gọi anh là vua hippy, vua nhạc trẻ Trường Kỳ.”

Nhạc trẻ được du nhập và được đón nhận như bản năng tự nhiên. Thì cũng như một quy luật, sau khi bị cấm một thời gian ngắn, nhạc trẻ được cho phép hoạt động trở lại. Khi đó, người nghe và người chơi nhạc như thiếu liều thuốc nghiện lâu ngày được thoả mãn sự mong mỏi, thèm muốn với những điệu nhảy và âm thanh cuồng nhiệt. Đó cũng là thời điểm phát triển mạnh nhất của nhạc trẻ.

“Năm 63 là năm đảo chánh tổng thống Ngô Đình Diệm, thì trước khi đảo chánh, tổng thống cấm tất cả những cuộc vui, cuộc ăn chơi, những tụ họp nhảy đầm của giới trẻ. Khi bị cấm như vậy thì khi mở cửa ra vào tháng 11/1963 cho phép hoạt động trở lại thì như một phong trào bùng nổ mạnh mẽ.”

Kỳ Phát và Trường Kỳ
Kỳ Phát và Trường Kỳ


Khi đó, nhạc trẻ không còn đơn thuần chỉ là nhạc Pháp của các học sinh trường Tây, mà đã có sự gia nhập của nhạc Mỹ, nhạc Anh như Elvis Presley, The Beattles, Bee Gee…và cho đến năm 1965 thì nhạc trẻ ngoại quốc đã ở thời kỳ thịnh hành nhất, đã trở thành một loại thời trang không thể thiếu trong cuộc sống của thanh niên thời đó.

Adieu jolie Candy C’est à Orly Que finissent Les vacances à Paris Adieu jolie Candy Une voix t’appelle C’est l’heure Déjà de t’en aller Dans cet avion Qui t’emmène vers Angleterre

Từ nay cách xa nghìn trùng Người em bé bỏng Anh tiễn em ra mãi tới nơi phi trường. Còn anh khó quên mùa hè Gặp em, tóc thề Anh đã yêu người em tuổi say mê…(Nhạc: Tiễn em nơi phi trường, nhạc Pháp, lời Việt: nhạc sĩ Phạm Duy)

“Đến năm 65, khi những người lính Mỹ đổ bộ vào Việt Nam, họ đem theo luôn cả âm nhạc. Và như vậy, phong trào còn phát triển mạnh nữa. Nào là Mama, Papa…đồng thời các club của người Hoa Kỳ, những người lính Mỹ bắt đầu thuê những ban nhạc của người Việt Nam. Lúc đó ban nhạc trẻ không còn chỉ là thuần tuý trình diễn nhạc trẻ theo ý thích của mình nữa mà bắt đầu có tiền đi phục vụ tại các tụ điểm của người Mỹ, người lính Hoa Kỳ tại Việt Nam.”

Và rồi cũng lại là quy luật. Khi cái gì vượt quá tầm kiểm soát thì sẽ có những phản ứng ngược, mà theo nhạc sĩ Nam Lộc nói rằng:

“Khi phát triển như vậy thì chúng tôi, anh Trường Kỳ và những người bạn khác cảm thấy là đã đến lúc mình cần phải báo động nếu không thì mình sẽ mất giới trẻ đi theo nhạc ngoại quốc mà không đói hoài gì đến nhạc Việt Nam.”

Sự báo động đó là nguyên nhân ra đời của phong trào “Việt hoá nhạc trẻ Việt Nam.”

“Tim em chưa nghe rung qua một lần

Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần

Tình trần mong manh như lá me xanh

Ngơ ngác rơi nhanh…” (Trưng Vương khung cửa mùa thu – Lời Việt: Nam Lộc)

Từ lúc này, những ca khúc ngoại quốc lời Việt như Trưng Vương khung cửa mùa thu, Chỉ còn là giấc mơ qua do nhạc sĩ Nam Lộc viết lời Việt và các ca khúc nhạc trẻ khác của Lê Hựu Hà do nhóm Phượng Hoàng trình bày như một cách dung hoà giữa nhạc ngoại quốc và ngôn ngữ, văn hoá của Việt Nam.

Ban nhạc Blacks Caps với Paolo Doan là ca sĩ
Ban nhạc Blacks Caps với Paolo Doan là ca sĩ

“Chiều buồn nhẹ xuống đời

Người tình tìm đến người

Thấy run run trong chiều phai.

Vẻ sầu của đoá cười

Tình bền của lứa đôi

Thoáng hương trong chiều rơi…” (Chiều Buồn – Serenade – Lời Việt: Phạm Duy)

Một chi tiết rất thú vị được kể lại từ những chàng trai hippy của thời ấy, đó là trong nhóm nhạc trẻ, đứng đầu là nhạc sĩ Phạm Duy. Ông là người có nhiều ca khúc ngoại quốc chuyển lời Việt nhiều nhất thời ấy. Nghệ sĩ Kỳ Phát nhớ lại rằng

“Tuy ông là một nhạc sĩ cao niên, lớn tuổi nhưng ông rất hoà đồng với loại nhạc trẻ và ông dịch rất nhiều nhạc phẩm nổi tiếng.”

“Làm sao có em để ấm giường êm trong một đêm mềm

Ðể ta ngất ngây một giấc mộng ngoan mơ màng ảo huyền.

Một vòng tay ấm, một ngàn nụ hôn

Ðể ta chết đi rồi tái sinh trong kiếp sống cuồng điên.

Cấu xé lớp da, tấm thân ngọc ngà

Làn tóc bơ phờ, là đó: tình ta…” (Làm sao có anh –The God Father I, lời Việt của Phạm Duy)

Chúng ta ai cũng có một kỷ niệm riêng, một quá khứ riêng cho mình để nhớ về. Nhưng có lẽ tất cả những ai đã lớn lên trong thời loạn ly  chinh chiến đó, thì chắc chắn sẽ có cùng một trời kỷ niệm mỗi khi hát lại những bài hát đó. Những bài hát của phong trào nhạc trẻ sẽ mãi mãi ở sâu trong tiềm thức của những người muôn năm cũ, được họ trân quý cất riêng trong một chiếc vali đặc biệt giữa rất nhiều chiếc vali đã đi cùng họ trong cuộc đời.

CÁT LINH / phóng viên RFA : Người Nghệ sĩ và Mẹ – Phía sau hào quang sân khấu


Người Nghệ sĩ và Mẹ – Phía sau hào quang sân khấu

Một bông hồng cho Mẹ

Một bông hồng cho Mẹ

Photo: RFA

<Trong dân gian, người ta tương truyền rằng ngày rằm tháng Bảy là ngày Xá tội vong nhân, hiểu theo theo phong tục Á Đông. Đây là ngày dành cho các linh hồn còn vất vưởng nơi dương gian được siêu thoát. Và ngược lại, cũng là ngày Quỷ Môn Quan mở cửa để ma quỷ được tự do về dương thế.

Bên cạnh đó, trong Phật giáo, ngày rằm tháng Bảy còn có một ý nghĩa khác từ sự tích Mục Kiều Liên cứu mẹ. Do đó, ngày này, người ta còn gọi là ngày Lễ Vu Lan, tức ngày báo hiếu.

Cát Linh xin mời quí vị cùng với Cát Linh nghe những chia sẽ gần gũi nhất, đời thường nhất, giản dị nhất, của người nghệ sĩ dành cho đấng sinh thành, sau ánh hào quang sân khấu. Đặc biệt, chương trình hôm nay có những lời gửi gắm của thế hệ nghệ sĩ trước 1975 dành cho thế hệ trẻ sau này.

Tình yêu vô điều kiện

Nhạc: Bông hồng cài áo

(Một bông hồng cho anh, một bông hồng cho em và một bông hồng cho những ai, cho những ai đang còn mẹ, đang còn mẹ để lòng vui sướng hơn.

Rủi mai này mẹ hiền có mất đi như đóa hoa không mặt trời, như trẻ thơ không nụ cười, ngỡ đời mình không lớn khôn thêm, như bầu trời thiếu ánh…. sao đêm….)

Chỉ là một bông hồng nhỏ nhoi, nhưng nếu ai được mang trên ngực đoá hoa màu hồng trong ngày Vu Lan mới cảm nhận được hết niềm tự hào thiêng liêng của người còn mẹ. Niềm tự hào ấy không màu, không mùi, không vị. Cũng như tình yêu của người mẹ, không cầu kỳ, không rực rỡ, và vô điều kiện. Tình yêu ấy sâu thẳm và bất tận, cho dù…

“Khi mà em sinh ra đó, thì không có nhìn thấy nên được mẹ rất là yêu thương. Mẹ cũng là người rất gần gũi, ấp yêu em từ nhỏ. Cho nên cái tình cảm đó luôn luôn in đậm trong ký ức của em. Mỗi lần hát về mẹ hay là làm 1 cái gì đó liên quan đến hình ảnh của mẹ thì em đều xúc động.”

Từ cuộc đời và số phận của chính mình, Hà Chương, người ca nhạc sĩ khiếm thị đã nhìn thấu được sâu trong trái tim đỏ thắm của người mẹ ấy là một nỗi niềm…

“Nói về mẹ thì người mẹ nào cũng vĩ đại hết. Nhưng những người mẹ mà có những người con bị khuyết tật thì đó là những người mẹ phải hy sinh rất nhiều, phải có rất nhiều sự kiềm nén trong tâm hồn, trong nỗi đau. Và Chương là 1 người con như vậy nên Chương cảm nhận được điều đó.”

Rồi chúng ta, như một chú chim nhỏ cất cánh bay vào trời rộng sau khi đủ lông đủ cánh. Đoạn đường bay với biết bao gập ghềnh, hiểm nguy. Có lẽ, nếu được lựa chọn, sẽ không có người mẹ nào muốn đứa con bé nhỏ ngày xưa rời xa vòng tay của mình.

Hãy nghe tâm tình của một người mẹ rất bình thường như bao người mẹ khác trên thế gian: “Không sự hy sinh nào của mẹ khó khăn bằng việc chịu để con đi xa mình, có thể là luôn (sau này chỉ về thăm thôi) để nó có được một tương lai tốt đẹp hơn, tự quyết định cho số phận của nó!”

Người mẹ của Hà Chương cũng thế.

“Tuy ba mẹ Chương chỉ là những người làm nông rất bình thường, không được học hành nhiều. Nhưng khi Chương được 12 tuổi thì lúc đó, đối với những người khác nếu thương con như thế thì sẽ không để cho con đi học xa nhà như vậy. Lúc đó, ba mẹ Chương thương nhưng rất sáng suốt là bằng mọi cách cho Chương đi học. sau này Chương biết là mẹ đã khóc rất nhiều với quyết định đó.”

Giờ đây, cũng đã trở thành đấng sinh thành của một cuộc đời bé nhỏ, Hà Chương tự nhận rằng mình càng hiểu hơn tấm lòng của mẹ. Đó cũng chính là tâm trạng Chương đặt vào bài hát mà anh dành tặng cho mẹ của mình:

“Cõng mẹ đi chơi. Đây là bài hát viết về mẹ rất hay. Mà nó hơi buồn 1 chút xíu tuy nhiên khi hát lên thì nhắc nhớ mọi người là tình cảm mẫu tử là 1 tình cảm rất thiêng liêng. Các bạn hãy thể hiện tình cảm khi mà còn mẹ trên đời. Đừng để tình trạng khi mẹ mất rồi, mình nhớ lại thì mình sẽ ân hận vì 1 điều gì đó. Chương nghĩ là Chương sẽ dành tặng cho mẹ bài hát này trong ngày lễ Vu Lan.”

Mặc dù người xưa hay nói “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính” nhưng không thể phủ nhận rằng, trong sự trưởng thành của chúng ta, nhiều hoặc ít đều có sự ảnh hưởng từ cha mẹ. Trong đó, không ít những người chọn hướng đi cho cuộc đời mình chính vì ảnh hưởng từ mẹ. Câu chuyện của Đình Bảo là như thế. Bảo hạnh phúc vì anh đã thay mẹ, thực hiện được niềm đam mê âm nhạc. Với anh, mẹ có một sự ảnh hưởng rất lớn trong sự nghiệp ca hát của mình.

“Đình Bảo ngày xưa không biết mình có khả năng hát đâu. Chỉ thích hát và thích nghe mẹ hát. Thường mẹ hay làm công việc nhà, nấu cơm cũng hay hát. Mẹ hát những bài nhạc xưa, nhạc Lê Uyên Phương. Mẹ rất thích 1 bài của nhạc sĩ Lê Uyên Phương, ‘Tình khúc cho em’”

Kể lại niềm đam mê âm nhạc ngày xưa của mẹ, Đình Bảo cho biết vì quan niệm xã hội lúc đó mà bà không đi theo con đường ca hát. Chính vì thế:

“Cho nên mẹ rất là ủng hộ. Trong nhà có Đình Bảo và Thuỵ Vũ là hai người sau này đi theo công việc ca hát thì mẹ rất là ủng hộ. Mẹ rất là vui khi thấy niềm đam mê của mẹ mà sau này con thực hiện được.”

Ca nhạc sĩ khiếm thị Hà Chương đang nâng niu những đóa hoa ...
Ca nhạc sĩ khiếm thị Hà Chương đang nâng niu những đóa hoa …


Và anh hạnh phúc khi trong sự nghiệp ca hát của mình, mẹ luôn đứng phía sau, dõi theo từng bước và cho anh những lời góp ý chân thật nhất.

Tác phẩm đầu tiên anh thực hiện khi đến Mỹ là CD Cánh Gió, trong đó, ca khúc Tình khúc cho em là món quà anh gửi đến mẹ của mình.

Còn Thiên Tôn, chàng ca sĩ có gương mặt baby, quán quân cuộc thi Vstar 2012 thì cho biết anh chọn dòng nhạc trữ tình, nhẹ nhàng là cũng vì ngay từ nhỏ, anh đã được mẹ cho nghe những bài nhạc ấy.

‘Con dù lớn vẫn là con của mẹ. Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con’

Khi bước lên sân khấu, đó là những nghệ sĩ của khán giả. Nhưng khi quay trở về, họ vẫn là những đứa bé chưa lớn trong vòng tay của người mẹ. Điều này là một chân lý không chỉ cho người nghệ sĩ thế hệ trẻ, mà cũng không sai đối với những nghệ sĩ đã bước qua nửa đời người. Hãy nghe ca sĩ Lê Uyên kể về những kỷ niệm với mẹ của mình.

“Tôi với mẹ tôi thì đặc biệt là chúng tôi đã sống với nhau từ lúc nhỏ cho đến ngày mẹ tôi qua đời. Tôi được may mắn được sống gần mẹ và chăm sóc mẹ cho đến ngày cuối cùng. ”

Ca sĩ Lê Uyên nhớ lại đầu năm 1970, cùng Lê Uyên Phương, hai người từ Đà Lạt trở về Sài Gòn để đón Xuân, đó cũng là ngày đầu tiên mẹ của cô nhìn thấy con gái mình hát trên sân khấu, phía dưới là hàng ngàn sinh viên

“Về thì gặp ông Đỗ Ngọc Yến. Ông bắt đi hát ngay buổi chiều hôm đó. Xong qua đến ngày mai hát văn khoa, ngày mốt hát luật khoa, ngày kia hát Vạn Hạnh. Hát hết 19 buổi. Bà đi xem hết 19 buổi thì bà sung sướng như trên trời rớt xuống vậy.”

“Vô cùng ngạc nhiên. Ủng hộ thì bà vẫn ủng hộ lúc tôi còn bé. Lúc đó mình hát nghêu ngao vì mình thích hát. Nhưng đến khi hát thật sự trước công chúng thì mẹ tôi là người ngạc nhiên đầu tiên, vô cùng ngạc nhiên, vô cùng thích thú và vui mừng.”

Lê Uyên cho biết chính mẹ của mình là người chụp lại cho đôi song ca Lê Uyên và Phương những tấm hình kỷ niệm khi hai người đang trình diễn trên sân khấu.

Trái tim người mẹ ấy lúc bấy giờ, có lẽ đã vỡ oà trong trong hãnh diện và sung sướng.

“Chắc chắn như thế, đúng như vậy. Mẹ tôi hãnh diện lắm và vô cùng sung sướng khi mà thấy con mình được mọi người yêu thương, ngưỡng mộ. Đối với mẹ tôi thì Lê Uyên Phương vẫn là 1 người làm nhạc hay nhất, đánh đàn  hay nhất, và dĩ nhiên là con gái mình hát hay nhất.”

Chính vì thế mà ca sĩ Lê Uyên nói rằng nếu được gửi một bài hát đến cho mẹ của mình thì:

“Tôi xin gửi mẹ tôi tất cả những bài hát của Lê Uyên Phương. Vì đó là những bài hát đã làm cho mẹ tôi rất hạnh phúc trong thời gian đầu đi hát. Mẹ tôi đôi khi vẫn hát với tôi bài Tình khúc cho em. Và riêng tôi ngày hôm nay, khi nhắc đến mẹ thì tôi sẽ hát thêm cho mẹ tôi bài ‘Bông hồng cài áo’ tỏ lòng kính yêu đến mẹ tôi.”

Và bây giờ, Cát Linh xin mời quí vị nghe lời tâm tình của một người ca sĩ mà tiếng hát đã đi vào lòng của bao thế hệ. Cô nói rằng những lời chia sẻ của cô ngày hôm nay đặc biệt dành cho thế hệ trẻ. Đó là ca sĩ Khánh Ly.

“Cô là người có rất ít kỷ niệm với mẹ. Vì cô rời gia đình từ rất sớm. Mẹ cô không muốn cô theo nghề ca hát, mà muốn cô học hành tử tế, và có gia đình như mọi người. Cô thì ở với bà nội, không ở với mẹ nhiều. Cho nên sau này khi không còn mẹ nữa, thì cô mới thương mẹ, cô mới biết là mẹ cũng thương cô. Cô rất ân hận là cô đã không hiểu ra điều đó sớm hơn. Cô ân hận nhiều vì cô không làm được điều mà mẹ cô muốn khi  bà còn sống. Chính vì những điều như thế mà cô cố gắng thế nào để các con của cô gần cô hơn, không rơi vào tình trạng như cô ngày xưa. Mẹ nào cũng thương con cả. Mỗi đứa con chỉ có một bà mẹ. Chúa cũng có 1 người mẹ. Phật cũng có 1 người mẹ. Những người trẻ, những người già cũng có 1 người mẹ. Và dù mình ở lứa tuổi nào mình cũng chỉ là 1 đứa trẻ. Vì lòng mẹ thương con không nói hết được. Cô muốn nói với những người trẻ tuổi, những người ở thế hệ con mình, cháu mình, là mỗi người chỉ có 1 người mẹ. Đừng sống để rồi mình ân hận mãi, giống như cô đã ân hận. Làm được cái gì cho mẹ thì làm đi. Bởi sau này mình không có dịp nữa đâu, nỗi ân hận sẽ kéo dài cho đến hết đời của mình nữa.”

Kết thúc chương trình âm nhạc cuối tuần hôm nay, mời quí vị nghe tiếng hát của một chàng trai trẻ. Cậu không phải là ca sĩ. Cậu sống một mình, xa mẹ, xa gia đình. Nhân ngày lễ Vu Lan, cậu gửi đến người mẹ nơi xa của mình ca khúc mang tên Mẹ tôi của nhạc sĩ Trần Tiến. Mời quí vị cùng nghe tiếng hát của Anh Minh, một thính giả của Đài Á Châu Tự Do.

Nhạc: Mẹ tôi

(Ngày xưa chị hát vu vơ những câu ca cổ cho em em làm thơ

Ngày xưa mẹ đắp cho con tấm khăn quàng cổ ấm ơi mẹ tôi

Ngày xưa bên giường cha nằm mẹ buồn xa vắng.

Nhìn cha, thương cha chí lớn không thành.

Trèo lên dãy núi thiên thai ối a mẹ ngồi trông áng mây vàng

Mẹ ơi hãy dắt con theo ối a để con mãi mãi bên mẹ.

Mẹ ơi thế giới mênh mông, mênh mông không bằng nhà mình.

Dù cho phú quý vinh quang, vinh quang không bằng có mẹ. …)

CÁT LINH , phóng viên RFA: Thành tựu âm nhạc Việt nam 40 năm qua đối với người Việt trong và ngoài nước


Thành tựu âm nhạc Việt nam 40 năm qua đối với người Việt trong và ngoài nước

Cát Linh, phóng viên RFA
2015-05-03
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

Đĩa DVD của Trung tâm Thúy Nga ra tháng Tư năm 2015

Đĩa DVD của Trung tâm Thúy Nga ra tháng Tư năm 2015

Người Việt phải bỏ nước ra đi từ năm 1975. Khi đến ngự cư trên đất người, ngoài nhu cầu mưu sinh hằng ngày, họ vẫn luôn hướng về cội nguồn với những sinh hoạt tinh thần, cụ thể nghe lại những âm điệu quê nhà.

Trong suốt 40 năm qua, một số trung tâm ca nhạc ra đời để đáp ứng nhu cầu đó. Rồi từ đó góp phần không nhỏ trong việc gìn giữ  và bảo tồn bản sắc dân tộc của cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Tạp chí âm nhạc cuối tuần lần này xin gửi đến quí vị những chia sẻ của hai trung tâm ca nhạc Việt Nam ở hải ngoại ,Thuy Nga PBN và Trung tâm Asia, cũng như cùng lắng nghe sự tiếp nhận của các khán thính giả của họ trong và ngoài nước.

Gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc

Sau 30 tháng 4 năm 1975, ngay tại Việt Nam không những một nền văn học đồ sộ của miền Nam Việt Nam bị chối bỏ, mà hầu như những bài nhạc trữ tình, tiền chiến bị gọi là ‘nhạc vàng’ và bị cấm lưu hành như ở miền Bắc trước đó.

Đối với những người Việt ở nước ngoài, họ không bị cảnh như đồng bào trong nước. Tuy nhiên, thời gian đầu tại xứ người họ không có được nhiều những băng đĩa cũ để nghe sau những giờ lao động mệt nhọc. Một trung tâm ca nhạc nhìn thấy nhu cầu đó của người Việt và tiên trong việc gìn giữ những bài nhạc xưa- Trung tâm Thuý Nga. Giám đốc Tô Ngọc Thủy của trung tâm này hãnh diện cho biết trung tâm của bà là một tủ nhạc có đầy đủ các ca khúc nhạc vàng và cả những hình ảnh tư liệu về những cố nhạc sĩ nổi tiếng như Hoàng Thi Thơ, Phạm Duy, Châu Kỳ, Nguyễn Hiền…

Bà cho biết:

“Trung tâm Thuý Nga là một trong những trung tâm thu âm rất nhiều những bài hát từ nhạc lính đến nhạc tiền chiến, nhạc vàng, nhạc thính phòng với tiếng hát của thế hệ ca sĩ lúc đầu như Ái Vân, Hương Lan, Lệ Thu, Elvis Phương qua đến thế hệ Như Quỳnh, Minh Tuyết và gần đây là Mai Tiến Dũng, Tóc Tiên..”

Trung tâm Thuý Nga là một trong những trung tâm thu âm rất nhiều những bài hát từ nhạc lính đến nhạc tiền chiến, nhạc vàng, nhạc thính phòng với tiếng hát của thế hệ ca sĩ lúc đầu như Ái Vân, Hương Lan, Lệ Thu, Elvis Phương qua đến thế hệ Như Quỳnh, Minh Tuyết và gần đây là Mai Tiến Dũng, Tóc Tiên

bà Tô Ngọc Thuỷ

Đối với bà, bà xem đó chính là một thành tích trong 30 năm qua mà trung tâm Thuý Nga đã làm cho tất cả mọi người và được khán thính giả yêu mến.

Cho dù mỗi một chương trình của Thuý Nga Paris By night được xây dựng trên một chủ đề khác nhau. Nhưng trong suốt 114 sản phẩm (tính đến tháng 3 năm nay), tinh thần quê hương đất nước, dân tộc luôn được thể hiện rất rõ nét. Từ đó, khán giả Việt Nam ở hải ngoại và trong nước có được những kiến thức về phong tục tập quán của một nước Việt nghìn năm lịch sử.

Điều  này được bà Tô Ngọc Thuỷ xác nhận là hướng đi chính của trung tâm Thuý Nga và thể hiện rất rõ qua kịch bản mỗi chương trình của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn. Một khán giả ở Texas cho biết qua facebook rằng:

“Tôi trông chờ  chương trình Thuý Nga mới và luôn cho con mình xem những lời giải thích, giới thiệu của nhà văn Nguyễn Ngọc để hiểu rõ hơn, nhiều hơn những câu ca dao, tục ngữ, cũng như những truyền thống của người Việt Nam. Mình đã không có cơ hội biết, nên mình muốn con mình đừng như vậy.”

Bà Tô Ngọc Thuỷ cho biết, nếu để chọn 1 bài hát đánh dấu 40 năm âm nhạc Việt Nam ở hải ngoại, bà sẽ mượn lời bài “Lời cảm ơn” của nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên.

Giữ  hồn tình ca nhạc lính

Nếu Trung tâm Thuý Nga đã mang đến cho người Việt trong và ngoài nước 114 sản phẩm nghệ thuật (và sẽ còn tiếp tục) thì trung tâm Asia, một cái nôi của dòng nhạc lưu vong cũng đã mang đến cho đồng hương mình mấy trăm CDs, 76 DVDs , chưa kể đến rất nhiều những băng cassette, video. Nhạc sĩ Trúc Hồ, giám đốc của trung tâm Asia cho biết:

“Trung tâm Asia có nhiều khán giả trong và ngoài nước. Qua những chương trình của Asia, khán giả trong và ngoài nước đã biết được nhiều nhạc trước 1975, những tình khúc từ thời tiền chiến, đến tình khúc chinh chiến, và những tình khúc lãng mạn, cho đến những năm mất nước 74, 75 là những tác phẩm của anh Ngô Thuỵ Miên. Đó là những gì mà Trung tâm Asia đã làm được trong thời gian 40 năm qua.”

Những tình khúc mà trung tâm Asia mang đến cho khán giả được họ đón nhận và yêu mến với suy nghĩ:

“Sản phẩm của Asia rất ý nghĩa. Âm nhạc ru vào hồn người.”

Không những thế, Quang, một người từng đi lính cho quân đội Mỹ, hiện ở Florida cho biết:

“Nhạc của Asia là nhạc duy trì chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.”

Nếu trung tâm Thuý Nga tự hào về hướng duy trì nhạc vàng, nhạc tiền chiến trong mỗi chương trình, thì trung tâm Asia, bên cạnh nhạc vàng, còn là nơi lưu giữ cho khán thính giả những bài nhạc lính oai hùng, nhưng không kém da diết. Do đó, những người trong nước, đặc biệt là giới trẻ được biết đến dòng nhạc này nhiều hơn.

Đĩa DVD của Trung tâm ASIA ra tháng Tư năm 2015
Đĩa DVD của Trung tâm ASIA ra tháng Tư năm 2015

Qua những chương trình của Asia, khán giả trong và ngoài nước đã biết được nhiều nhạc trước 1975, những tình khúc từ thời tiền chiến, đến tình khúc chinh chiến, và những tình khúc lãng mạn, cho đến những năm mất nước 74, 75 là những tác phẩm của anh Ngô Thuỵ Miên

Trúc Hồ

“Giới trẻ trong nước qua những CD, VCD, DVD, video của Asia….họ đã biết nhiều những tác phẩm trước 75 và nhất là biết nhiều về VNCH và nhất là những tình khúc lính. Không hiểu sao mà trong nước từ Nam ra Bắc khán giả đều thích nhạc lính, nhạc của anh Lam Phương, Trúc Phương, Lê Minh Bằng, Trần Thiện Thanh. Hầu như mọi người trong nước đều biết những dòng nhạc này. Nhờ vậy mà người trong nước đã biết đến dòng nhạc trước 1975 gọi là nhạc vàng. Đó là điều quan trọng nhất mà chúng ta đã làm được.” Nhạc sĩ Trúc Hồ cho biết.

Bên cạnh việc bảo tồn nền văn hoá của người Việt Nam trước 1975, phát triển dòng nhạc lưu vong của những nhạc sĩ Anh Bằng, Lam Phương, Nam Lộc, cố nhạc sĩ Việt Dũng … thì những năm gần đây, trung tâm Asia còn phát triển dòng nhạc đấu tranh cho nhân quyền, dân tộc:

“Sau này chúng ta có tác phẩm của những người trong nước như Việt Khang, phong trào nhạc tranh đấu cho nhân quyền như Triệu con tim, Đáp lới sông núi, Thiên thần trong bong tối, Trả lại cho dân…”

Sự đón nhận của khán thính giả trong và ngoài nước

Không chỉ riêng với người Việt hải ngoại, hướng đi vì dân chủ, tự do nhân quyền của trung tâm Asia nhận được rất nhiều sự đón nhận từ các bạn trẻ trong nước. Nhạc sĩ Trúc Hồ cho biết

“Trong và ngoài nước hiện nay có nhiều sự hợp tác cho những ca khúc chung đó. Gần nhất là ca khúc Việt Nam ơi. Tác phẩm ‘Trả lại cho dân’ là sáng tác của một người tù trong nước gửi sang bên này.”

Hơi khác với trung tâm Aisa, vẫn giữ vững mục tiêu ngày từ ngày đầu thành lập, đó là tạo ra một sản phẩm thuần nghệ thuật, Thuý Nga PBN được sự đón nhận của một số lượng không nhỏ khán giả trên khắp thế giới. Tuy nhiên, vẫn có một số ý kiến của khán giả  trong nước cho rằng:

“Cũng là một cách dàn dựng. sân khấu được cho là hoành tráng, công phu, nhưng mình thấy không có gì cả. Có thể gu thẩm mỹ của mình khác, của người ta khác.”

“Khi mà  tầng lớp thích những xem những băng video (Thuý nga) đó lớn tuổi, không hào hứng xem nữa, thì những tầng lớp trẻ bây giờ không ai quan tâm. Không ai chờ đợi và mua về để xem.”

Họ không hào hứng đón xem hoàn toàn không phải vì họ không yêu thích dòng nhạc xưa. Mà vì:

“Cái gu của một người thì không thể dàn trải từ Linda Trang Đài đến chị Hương Lan, hay từ Khánh Ly đến ca sĩ trẻ trẻ nào đó, hoặc từ Lệ Thu mà bay qua ca sĩ trẻ trẻ hát nhạc Huế được.”

Thuý nga muốn chương trình Thuý Nga là một chương trình tổng hợp, có những bài hát cho người lớn tuổi, người trẻ tuổi,và cả giới trung niên. Cho nên ngoài những ca khúc nhạc vàng, mình cần phải có những bài hát mới, do những nhạc sĩ trong nước gửi đến cho trung tâm

bà Tô Ngọc Thuỷ

Đó là quan điểm của một người yêu chuộng nhạc xưa. Chị cho biết trong đĩa nhạc của chị chỉ toàn những ca khúc tiền chiến do những ca sĩ thế hệ trước 75 thể hiện.

“Đối với mình hiện giờ mình vẫn thích những người đã hát những bài hát đó. Nếu bây giờ giọng hát họ không còn hay thì mình sẽ tìm những đĩa nhạc của họ khi còn trẻ để nghe.”

Tuy vậy, chị không thể nào ngồi xem hết trọn vẹn một chương trình của Thuý Nga bởi vì, với chị như thế là quá phí thời gian:

“Trong một chương trình có quá nhiều style, nhiều cung bậc đối chọi nhau. Nên tôi không xem.”

Cũng vị khán giả nữ ở Florida cho biết về các sản phẩm của Thúy Nga PBN:

“Theo tôi đó là những sản phẩm mang tính thương mại nhiều hơn.”

Để nói về điều này, bà Tô Ngọc Thuỷ cho biết trung tâm Thuý Nga luôn muốn hướng đến nhiều khán giả trẻ trong nước để giới thiệu với họ nhạc Việt Nam.

“Qua những chương trình PBN thì nếu có những loại nhạc đáp ứng được nhu cầu của giới trẻ thì họ mới thích, như thế họ mới tìm đến nhạc Việt Nam. Từ đó, họ yêu thích những bài nhạc trẻ, rồi họ tìm đến những bài nhạc vàng, nhạc quê hương.”

Và chính vì thế, bà và trung tâm Thuý Nga mong muốn:

“Thuý nga muốn chương trình Thuý Nga là một chương trình tổng hợp, có những bài hát cho người lớn tuổi, người trẻ tuổi,và cả giới trung niên. Cho nên ngoài những ca khúc nhạc vàng, mình cần phải có những bài hát mới, do những nhạc sĩ trong nước gửi đến cho trung tâm.”

Cho dù là cung bậc nào, gu thẩm mỹ nào, con đường đi nào thì không thể phủ nhận âm nhạc Việt Nam đã có sức ảnh hưởng không nhỏ đối với đời sống tinh thần của người Việt hải ngoại lẫn trong nước. Mỗi một giai đoạn, dòng nhạc lúc đó đều có những gắn kết cụ thể và có ý nghĩa riêng.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/overse-vn-comm-greed-f-musi-05032015051810.html

NGÀNH MAI , thông tín viên RFA : GIÀN NHẠC TÀI TỬ CẢI LƯƠNG HIẾM THẤY NỮ NHẠC SĨ ĐỜN KÌM


Giàn nhạc tài tử cải lương hiếm thấy nữ nhạc sĩ đờn Kìm

cailuong-ab-622.jpg

Gánh hát rong nghèo ở Việt Nam, thập niên 1930-1940, ảnh minh họa.

File photo

Đờn Kìm hay đờn nguyệt

Từ lâu lắm rồi, kể từ khi đờn ca tài tử xuất hiện mang lại giòng nhạc độc đáo cho người dân đi khẩn hoang lập ấp, thì cây đờn Kìm cũng đã hiện diện từ những buổi đờn ca đầu tiên ấy.

Theo như truyền khẩu trong giới đờn ca tài tử, thì từ thời xa xưa, sau một ngày vất vả cơ cực, mưa nắng giãi dầu với mảnh vườn thửa ruộng, mà thời gian qua họ đã đổ mồ hôi bỏ công khai phá.

Rồi sau mỗi buổi cơm chiều, khi màn đêm buông xuống, hoặc những hôm mưa dầm gió bấc, tầm tả suốt ngày không thể ra nương rẫy được, thì những người đồng điệu ở các mái chòi tranh lân cận nhau, họ hội tụ lại bên chung rượu chén trà, giải sầu bằng tiếng đờn câu ca, và cây đờn Kìm luôn đồng hành sát cánh với họ từ lúc vùng đất còn hoang sơ dẫy đầy nguy hiểm ấy.

Đờn Kìm còn gọi là đờn nguyệt, hay nguyệt cầm cũng thế, có lẽ do hình dáng tròn như mặt trăng. Trải qua bao nhiêu biến đổi thăng trầm, cây đờn Kìm vẫn được trọng dụng, vẫn đứng đầu trong dàn nhạc tài tử hay cải lương. Cây đờn Kìm được coi như là thầy của các loại đờn khác, nên nhạc sĩ thủ cây đờn Kìm luôn giữ song lang (có nơi gọi là song loan, không biết chữ nào đúng). Nó còn được đánh giá uy tín qua tuổi tác của người đờn, ví dụ như trong một cuộc chơi, có nhiều người biết đờn Kìm thì các người trẻ phải trân trọng trao cây Kìm cho người cao tuổi nhứt ở cuộc chơi đó.

Vị trí của cây đờn Kìm quan trọng như thế nào trong giới đều đã rõ, thế nhưng, có một thời gian khá dài cây đờn Kìm bị lu mờ trước cây lục huyền cầm, tức cây đờn guitar phím lõm. Có lẽ đây là thời kỳ mà danh cầm Văn Vỹ, với ngón đờn lục huyền cầm quá bay bướm, tung hoành làng cổ nhạc, nên đa số người học đờn đã chạy theo cây lục huyền cầm, mà không nhìn thấy được âm điệu kỳ diệu tiềm ẩn của cây đờn Kìm. Người ta có thể nói trong suốt gần 5 thập niên, từ 1940 đến 1990 nếu như 10 người học đờn thì đã có đến 8, 9 người học cây lục huyền cầm. Số còn lại nếu tính tỷ lệ thì chưa được 1 người học đờn Kìm. Thành thử ra các danh cầm đờn Kìm lão luyện đã thua buồn, rút lui vào bóng tối, trừ một số ít vì cuộc sống nên bám lấy giàn nhạc cải lương, hoặc thỉnh thoảng mới có mặt trong các nhóm đờn ca tài tử do nể nang nào đó.

Nhạc sĩ Ba Tu có lúc than rằng “không thấy tay đờn Kìm nào cho ngon hoặc trẻ có triển vọng, còn lại mấy ông già ngón cũng lụt rồi”! Và ông cũng lo cho tương lai, sự tồn tại của đờn Kìm: “Lâu rồi không ai chịu học đờn Kìm, bây giờ lớp trẻ cứ chạy theo nhạc trẻ, còn cổ nhạc thì cứ guitar phím lõm và sến, khi lớp tụi tôi qua đời rồi không biết ai là kế thừa”.

Tuy vậy, từ hơn hai thập niên nay phong trào đờn ca tài tử dấy lên, nở rộ ở khắp các tỉnh từ miền Tây đến miền Đông, con số người trẻ tham gia nhiều hơn, thì cây đờn Kìm được chú trọng. Các câu lạc bộ, những nhóm đờn ca tài tử đã mời các nhạc sĩ đờn kìm “lão làng” từ lâu nay ẩn dật cùng tham gia.

dan-tranh
Nghệ sĩ Võ Vân Ánh biểu diễn đàn tranh.

Được mời trịnh trọng, các vị cũng vui vẻ xuất hiện giữ song lang như truyền thống xưa giờ. Có nghĩa người thủ cây đờn Kìm luôn là nhạc trưởng, điều khiển giàn nhạc, dẫn dắt các nhạc sĩ khác tuân theo, vì đó là “luật bất thành văn”. Do đó có thêm nhiều người trẻ học đờn Kìm, mà lại có cả giới nữ gia nhập vào giòng nhạc với cây đờn Kìm.

Nếu như nữ nhạc sĩ đờn Tranh “hằng hà sa số”, thì nữ nhạc sĩ đờn Kìm lại hiếm thấy! Tôi còn nhớ khi xưa khoảng 1960, ông Hai Can, nhạc sĩ đờn Kìm đã nói một câu rất đáng cho người ta suy nghĩ, ông nói: “Ai đó đốt đuốc đi tìm khắp nơi, khắp chốn, nếu như thấy cô gái nào, chị đàn bà nào ôm cây đờn Kìm trong giàn cổ nhạc, thì thua cái gì ông cũng chịu hết!” Câu nói của ông nếu không đúng hẳn thì cũng gần đúng vậy, bởi từ năm 1960 trở về trước đã không có nữ nhạc sĩ đờn Kìm nào xuất hiện.

Nữ nhạc sĩ đờn Kìm đầu tiên

Nhưng rồi thì cũng có thôi! Giữa thập niên 1980 một cô gái trẻ ở miền Tây học đờn Kìm và đã thành công, có chỗ đứng trong hàng nhạc sĩ. Cô Ngọc Cầm ở Bạc Liêu, năm lên 9 tuổi đã biết ôm cây đờn Kìm so dây nắn phím theo sự chỉ dẫn của người cha, một nhạc sĩ đờn Kìm ở địa phương, và đến năm 15 tuổi thì cô đã rành rẽ 20 bài bản Tổ. Có lần liên hoan đờn ca tài tử Đồng Bằng Sông Cửu Long tổ chức tại Cần Thơ, Ngọc Cầm tham gia độc tấu cây đờn Kìm và đã đoạt giải.

Tài năng được xác định, nữ nhạc sĩ Ngọc Cầm được đoàn cải lương Hương Tràm (Cà Mau) mời thủ cây đờn Kìm trong giàn nhạc của gánh hát. Vài năm sau cô về tỉnh nhà Bạc Liêu, xuất hiện trong giàn cổ nhạc đoàn cải lương Cao Văn Lầu. Điều ấy đã cho thấy tiếng đờn Kìm của người nữ cũng sánh với nam nhân, và thừa kế những danh cầm trong làng cổ nhạc dân tộc.

Theo như người sành điệu thưởng thức làn điệu, âm thanh tiếng đờn, họ có nhận định ngón đờn Kìm của nữ có khác với nam. Thông thường nhạc sĩ nam đờn Kìm thì âm thanh phát ra như dồn dập, âm sắc có lúc như bay bổng, có lúc thì quá chìm sâu. Người nam nhạc sĩ đờn Kìm họ bấm phím mạnh, chắc chắn và nhanh, chữ đờn như liền nhau. Còn nhạc sĩ nữ đờn Kìm (cô Ngọc Cầm) thì chậm rãi, ngón tay lướt nhẹ trên 2 sợi dây đàn một cách dịu dàng. Tiếng tơ phát ra âm điệu thâm trầm, sâu lắng, êm nhẹ truyền cảm như ru hồn người mộ điệu.

Người nữ thứ hai đờn Kìm là cô Kiều My ở Bình Dương, miền Đông, có cha là nhạc sĩ Tư Thía, và ông ngoại là nhạc sĩ Tư Bộ, cả hai ông đều là nhạc sĩ đờn Kìm nổi tiếng ở vùng đất Bình Dương.

Thuở nhỏ Kiều My đã lén lấy cây đờn Kìm của thân phụ và tự khảy theo những động tác mà cô đã nhìn thấy trên phím đàn của cha cô, vừa đờn vừa thả hồn theo tiếng tơ đồng trầm bổng nhặc khoan. Thấy con gái say mê và muốn học đờn, ông đã truyền đạt ngón đờn cho con, và ông ngoại cũng đã truyền những bí quyết cây đờn Kìm, cộng với sự cố công học tập và rèn luyện, nên thời gian vài năm thì Kiều My với tiếng đờn Kìm nỉ non réo rắt từng đêm, từng đêm… đã thực sự đi vào hồn người mộ điệu.

Kiều My được chọn tham dự thi đờn ca tài tử, và đã danh dự nhận giải nhì toàn quốc, và đại diện giới nghệ sĩ Bình Dương đi biểu diễn ở Hà Nội.

Thời gian sau Kiều My là nhạc sĩ đờn Kìm thường trực cho chương trình “Đêm Biển Hẹn” của đài phát thanh, đài truyền hình tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Nữ nhạc sĩ Kiều My đã thành công trên bước đường nghệ thuật vậy.

Tóm lại theo sự tìm hiểu của tôi thì trong làng cổ nhạc miền Nam, tính chung vừa đờn ca tài tử, vừa giàn nhạc cải lương chỉ có 2 nữ nhạc sĩ đờn Kìm: Cô Ngọc Cầm ở Bạc Liêu, miền Tây và cô Kiều My ở Bình Dương, miền Đông. Ngoài 2 cô nói trên, không nghe thấy nữ nhạc sĩ đờn Kìm nào nữa xuất hiện.

Trong giới “cầm kỳ thi họa” xưa nay không biết bao nhiêu là nữ sĩ nổi danh, nhưng riêng ở loại nhạc cụ tài tử cải lương, nữ mà chơi đờn Kìm thì quá hiếm. Cô Ngọc Cầm cũng như Kiều My đều mơ ước có nhiều bạn nữ biết đờn Kìm để các cô có bạn đồng hành, và sẵn sàng truyền nghề cho bất cứ bạn nữ nào yêu thích đờn Kìm.

NGÀNH MAI , thông tín viên RFA : Đào Duy Từ và công cuộc phát triển nghệ thuật hát tuồng, hát bội


Đào Duy Từ và công cuộc phát triển nghệ thuật hát tuồng, hát bội

Một cảnh trong vở tuồng  "Cánh tay Vương Tá" năm 2011 tại Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TPHCM

Một cảnh trong vở tuồng “Cánh tay Vương Tá” năm 2011 tại Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TPHCM

Nguồn sankhau3mien.com
 

Hiện nay đang là thời điểm mà hầu hết các đình làng ở Nam Việt đang rộn rịp với Lễ Kỳ Yên. Thiên hạ rộn rả vui mừng, và đặc biệt các đình làng nào có rước hát bội về thì lại càng vui hơn. Do vậy mà trong buổi nói chuyện hôm nay, một lần nữa tôi nói thêm về hát bội.

“Xướng ca vô loại”

Dưới chế độ phong kiến của triều đình Lê, Trịnh ở Đàng Ngoài, nghề đờn ca xướng hát bị bạc đãi, khinh rẻ, bị liệt vào phường “xướng ca vô loại”. Cũng do bởi là con của đào hát, danh sĩ Đào Duy Từ dù tài giỏi văn chương thi phú, vẫn bị cấm không cho vào trường thi. Phẫn chí họ Đào bỏ trốn vào Đàng Trong, được Chúa Nguyễn trọng dụng giao cho việc lớn, ông được Nhà Chúa tin cậy, cử trông coi việc binh cơ ngăn quân Trịnh từ Bắc đánh vào.

Là một nhà quân sự, chính trị tài ba lỗi lạc, họ Đào giúp Chúa Nguyễn xây dựng bộ máy hành chính, quốc phòng, tổ chức hậu phương, xây thành đấp lũy, tóm lại Đào Duy Từ là bậc khai quốc công thần của Nhà Nguyễn. Đồng thời ông cũng mang vào Đàng Trong một tài sản văn hóa quý giá là nghệ thuật hát tuồng, hát bội và lập ra đội nhã nhạc, đưa nghệ thuật sân khấu vào lễ nhạc cung đình.

Thế nhưng, lúc mới trốn vào Đàng Trong chưa gặp thời vận, Đào Duy Từ phải lang thang phiêu bạt bữa đói bữa no, phải đi chăn trâu cho nhà phú hộ đổi lấy miếng ăn. Lúc ấy nhà phú ông có cô Tâm là con gái út, cô này để ý thầm yêu chàng chăn trâu của nhà mình, nhưng rồi chẳng đi đến đâu hết, bởi phú ông không chấp nhận, nói rằng: “Nó bất quá chỉ là một gã chăn trâu mà chớ, nếu tài ba quán chúng sao không lều chõng trường thi, mà lại đem thân trôi nổi xứ người, chịu làm cái công việc mục đồng chăn trâu như vậy”?

Thời gian sau họ Đào kết duyên với một tiểu thơ con nhà quan, và đường hoạn lộ thênh thang rộng mở. Câu chuyện tình khá lý thú giữa chàng nho sinh Đào Duy Từ với tiểu thơ Trần Kim Nương con gái của quan khâm lý Trần Đức Hòa đã làm cho cha con phú hộ tiếc ngơ tiếc ngẩn.

Trên tờ báo Người Việt Xuân Kỷ Sửu 2009 tôi có viết bài “Mùa Xuân Năm Ấy Với Chàng Chăn Trâu Họ Đào” nói về ông Đào Duy Từ, ông Tổ ngành hát bội. Trong những kỳ tới tôi sẽ có bài nói về câu chuyện chàng chăn trâu họ Đào.

Hát bội có từ bao giờ?

hat-boi-622
Đại Lễ Kỳ Yên ở Đình Thần Tân Thới – Tỉnh Bình Dương. (Ảnh minh họa chụp trước đây)

Trên con đường mở rộng bờ cõi, ông cha của ta di cư từ phương Bắc xuống tận bờ biển phía Nam, mang theo phong tục tập quán, lễ nghi, đạo đức về cách ăn nếp ở, nói chung là văn hóa dân tộc. Âm nhạc và sân khấu, hai bộ môn nghệ thuật gắn liền với những khai hoang, lập ấp từ ngày đầu định canh, định cư hầu mang lại nguồn vui, nguồn an ủi, nối tiếp từ đời này sang đời khác.

Không có sử sách nào ghi chép cụ thể nghệ thuật hát bội đã xuất hiện ở vùng phía Nam đất nước chúng ta vào thời điểm nào, cũng như cách sinh hoạt, biểu diễn tổ chức nhân sự ra sao. Sách sử xưa chép: Vào thời Chúa Nguyễn thứ 8, tức chúa Hiếu Vương, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1739 – 1765), người con trai thứ 9 của chúa tên là Hiển bị bệnh chết. Chúa đau xót cực độ, bèn hạ lệnh cấm dân gian không được hát xướng trăm ngày. Hết thời gian buồn thảm ấy, chúa sai hai quan thị vệ vào đất Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), bắt “con hát” (hát bội) đem về kinh đô Phú Xuân, để biểu diễn cho chúa tiêu khiển. (Khi xưa người ta gọi đào kép là con hát).

Hình như cậy thế cậy quyền, hách dịch là thuộc tính của những kẻ máu mặt dựa kề chúa thượng, cho nên hai tên thị vệ này dùng quyền lực nhà vua áp bức con hát đến thậm tệ. Lúc bấy giờ Đặng Đại Độ làm quan trấn thủ Biên Hòa, nghe tin thị vệ áp bức dân chúng, trước hết là con hát với chứng cớ rành rành, ông căm tức, bèn ra lệnh bắt hai tên thị vệ ấy xử chém tại chợ Biên Hòa. Xử xong, ông bàn giao công việc cho các quan ở lại chăm lo việc nước việc dân. Còn phần ông mặc quần áo bà ba đeo gông cùm, đi chân đất từ Trấn Biên về Kinh Đô Phú Xuân chịu tội. Con ông can rằng:

Chừng nào về đến kinh đô sẽ hay, còn bây giờ cha nên lên võng mà đi, chuyện gì phải hành hạ mình như thế?

Ông trả lời:

Nếu vậy sao gọi rằng có tội?

Thế rồi ông thản nhiên làm theo ý mình. Từ Biên Hòa đến Kinh Đô Phú Xuân, ông phải đi suốt một tháng ròng với thân phận một tội nhân.

May thay, lúc đến kinh đô gặp Chúa Nguyễn Phúc Khoát, ông được nghe chúa phán rằng:

Ông có tội gì đâu mà phải đày đọa mình đến khổ sở như vậy? Chỉ vì ta buồn phiền mệt nhọc, nên mới bảo chúng nó vào tìm đôi đứa con hát về kinh giúp ta tiêu khiển, không dè chúng lại lợi dụng mệnh lệnh của ta mà giở thói làm càn nên ông buộc phải giết chúng là phải.

Chúa bèn hạ lệnh mở trói và mời Đặng Đại Độ hội triều cùng bàn việc dân việc nước.

Qua sự kiện trên, chúng ta thấy sân khấu hát bội truyền bá vào đất Trấn Biên khá sớm. Ngay từ đầu thế kỷ 18, nơi đây đã xuất hiện con hát tài năng, nổi tiếng đến mức chúa Nguyễn Phúc Khoát phải cho thị vệ kêu ra Kinh Đô Phú Xuân (trong lúc kinh kỳ không thiếu tài năng).

Đến năm 1813, Tả Quân Lê Văn Duyệt là người sanh quán tại Định Tường, rất thích hát bội. Lãnh chức Tổng Trấn Gia Định Thành. Hát bội vốn đã đâm chồi nẩy lộc từ trước đó ít lâu, bây giờ như diều gặp gió, phát dương sinh sắc bởi bàn tay chăm sóc của chính quan tổng trấn. Chẳng những tổng trấn có riêng một đội hát bội, mà các quan xa gần thuộc trấn Gia Định đều tranh nhau lập đoàn hát bội, nuôi con hát trong hàng ngũ của quân đội. Thế là nghệ thuật hát bội đã lập cứ địa vững chắc tại Gia Định.

Nghệ thuật hát bội ở đất này có dịp gần gũi với hí kịch Trung Quốc của người Minh Hương, và với nghệ thuật hát của người Cao Miên, lần lần lớn lên và trau chuốt cho mình cái thân ngày nay vậy!

Thời thập niên 1940, dài cho đến những năm đầu của thập niên 1950 gánh hát bội Tấn Thành Ban, một trong những đoàn danh tiếng thời bấy giờ do ông Huyện Trần Khiêm Cung làm bầu gánh. Hằng năm cứ sau Tết Nguyên Đán từ Tháng hai Âm Lịch trở đi là gánh hát bội của ông Bầu Cung liên tục bán giàn, được mời đi hát cúng Kỳ Yên ở các đình làng quanh tỉnh Gia Định, và đôi khi cũng đi hát ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một, hoặc quê hương của ông ở Cần Đước, Long An.

Khi hết lễ cúng Kỳ Yên rồi thì gánh Bầu Cung đi hát quanh quẩn vùng Chợ Lớn, Tân Định, Bà Chiểu… và thường hay về nằm ở tại đình Cầu Muối ở đường Cô Giang. Tuy khán giả không đông đảo như hát ở đình làng, nhưng đêm nào cũng có số khán giả mua vé, nếu không lời thì cũng đủ sở hụi chi phí trả lương đào kép, công nhân.

Thời điểm này khán giả đi coi hát bội còn nhiều, đào kép có thể sống với nghề được. Thế nhưng, đến gần cuối thập niên 1950 thì số người coi hát bội ngày một giảm sút. Và theo như nhận định của những người am tường vấn đề thì số khán giả lớn tuổi lần lượt trước sau qua đời, hoặc già yếu không đến rạp được. Còn khán giả trẻ thì phần lớn đã chuyển sang đi coi cải lương, để thưởng thức tuồng tích mới lạ, thay vì coi hát bội chỉ hát đi hát lại mãi những tuồng dựa theo truyện Tàu.

Về các vở truyền thống trên sân khấu hát bội, các nhân vật nam ít được khán giả quan tâm hơn các nhân vật nữ. Từ hơn hai thập niên nay, người xem không chỉ có tầm nhìn khái quát về nghệ thuật hát bội, mà còn đặc biệt theo dõi diễn tiến của câu chuyện, tài diễn xuất của diễn viên, tính cách của từng vai, số phận của từng nhân vật. Nhân vật được nhiều người chú ý và đề cập đến phải kể là Hồ Nguyệt Cô (tuồng Tiết Giao đoạt ngọc). Một con chồn tu mấy trăm năm đắc đạo thành người (mà là một phụ nữ đẹp), kết duyên cùng tướng Võ Tam Tư. Trong một dịp thay chồng ra trận, nàng say mê một tướng trẻ đẹp trai (Tiết Giao), trao tình cùng hắn rồi bị Tiết Giao đoạt mất ngọc người.

Không còn vật quí giá đó, nàng trở về dinh, vô cùng đau khổ và hối hận khi toàn thân đi vào thoái hóa, để trở về cốt chồn. Võ Tam Tư phát hiện con vật tanh hôi, vung gươm giết chết! Nền luân lý của thời xưa đã khe khắt như thế. Trong đạo phu thê, người vợ bị buộc phải tuyệt đối trung thành với chồng, nếu một phút lỗi lẫm, kể như đánh mất vật quí nhất của mình rồi sẽ bị coi như con vật, không ai thương tiếc. Hồ Nguyệt Cô là một nhân vật tà phái, một người có tội bị trừng phạt, nhưng không ít người xem (nhất là phụ nữ) đã âm thầm xót xa thương cảm cho số phận nàng. Xưa nay, bao nhiêu cô đào hát bội đã thành công qua vai này.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0321-nm-03202015213516.html

Tin, bài liên quan

NGÀNH MAI : Nữ tài tử chiếu bóng Việt Nam đầu tiên là ai?


Nữ tài tử chiếu bóng Việt Nam đầu tiên là ai?

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2015-03-14
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
ky-niem-2-622

Hình Cô Hoàng Thị Thế, con của nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám, tức cụ Đề Thám, trong cuốn hồi ký của Cô.

Courtesy photo

Nếu như lịch sử điện ảnh Việt Nam khởi đầu từ năm 1930, với các tài tử là đào kép cải lương ở rạp Quảng Lạc, Hà Nội, thì trước đó 2 năm (1928) nữ tài tử chiếu bóng Việt Nam đầu tiên xuất hiện trong cuốn phim Pháp là cô Hoàng Thị Thế, con của nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám, tức cụ Đề Thám, khởi nghĩa ở đất Yên Thế miền Bắc.

Người con gái Việt

Và sau đây là câu chuyện kể của kỷ sư Nguyễn Bá Lãng, từng du học ở Pháp về (kỹ sư Nguyễn Bá Lãng là con của quan Tổng Đốc Nguyễn Bá Trác). Câu chuyện một người con gái Việt, từ là đứa con yêu quí của nhà cách mạng trên hai mươi năm vẫy vùng ở nước non Yên Thế, đến một cuộc đời điêu linh nơi đất Pháp, và rồi trở nên một tài tử màn ảnh. Tâm trạng của cô Hoàng Thị Thế là tất cả một sự quay cuồng của hoàn cảnh, mà ai nghe qua rồi cũng khó quên.

Vào năm 1928, tại đất Pháp dư luận sôi nổi lên về cuốn phim “Một Bức Thơ”, mà lúc bấy giờ người Việt ở trong nước, hoặc ngay cả các người Việt đang du học ở Pháp, cũng không ngờ cuốn phim ấy có liên quan đến một cô gái Việt Nam. Dư luận sôi nổi không phải là vì cuốn phim ấy hay nhất của thời đó, mà sôi nổi ở chỗ cuốn phim đã được cái vinh hạnh một có công chúa Trung Hoa đóng tuồng. Họ quảng cáo vị công chúa Trung Hoa này rùm beng lên để gợi cho công chúng sự háo kỳ, để rồi thiên hạ đi coi cuốn phim ấy như đi xem một kỳ quan thứ tám của thế giới.

Vào lúc ấy trong buổi thanh bình, mọi người Âu cũng như Á sống một cuộc đời bình thản, và rồi cái kỳ lạ ấy đã khơi lên trong lòng mọi người một sự nô nức, nhờ đó mà cuốn phim được hoan nghinh, hay nói rõ hơn là được nhiều người coi. Họ tranh nhau coi mặt một vị công chúa Tàu, nhưng có điều là báo chí ở Âu Châu thời ấy lại mù tịch về việc đó, các báo đã không hề cải chánh mà lại còn loan tin thêm, cho nên hãng phim vẫn tiếp tục quảng cáo om sòm để hốt bạc. Ngay cả nhân vật ấy cũng làm thinh không biết là với ý định gì, hoặc là trong hợp đồng đóng phim có cam kết điều gì mà không được nói ra chăng?

Nhưng rồi chẳng bao lâu thì người ta cũng được biết vị công chúa Trung Hoa ấy chính là cô Hoàng Thị Thế, con gái út của nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám, tức cụ Đề Thám. Trong thời gian nổi lên chống Pháp, sau những trận giao tranh gây thiệt hại nhiều cho quân Pháp, cuối cùng thì cụ Hoàng Hoa Thám đã anh dũng nằm xuống tại cứ địa đấu tranh, vùng đất Yên Thế, để các thế hệ sau ghi nhớ và noi gương bất khuất của cụ.

Theo lời kỹ sư Lãng thì sau ngày cụ Hoàng Hoa Thám mất thì mẹ cô Thế bỏ trốn, cô trở thành đứa bé lưu lạc được người nào đó tạm nuôi. Thấy cô có nét mặt thông minh, khả ái nên được một viên sĩ quan cao cấp người Pháp xin đem về làm con nuôi, và để ở Hà Nội hơn một năm ngoài, rồi đem cô về Pháp cho đi học, cho ăn mặc theo Pháp.

Cô Hoàng Thị Thế vốn dòng thông minh, đi học từ năm 12 tuổi và đến năm 21 tuổi thì đậu Tú Tài, cô đang thoải mái nhẹ bước trên đường học vấn thì thương ôi, ông già nuôi mãn phần, anh em người Pháp tranh giành gia tài chia xẻ nhau. Riêng cô Thế là đứa con nuôi mũi tẹt da vàng chỉ được may mắn cho ở, ăn báo hại nơi nhà của người con trưởng của ông già nuôi ấy mà thôi .

Nhưng rồi, tình đời ghẻ lạnh với sự ăn nhờ ở cậy ấy không được bao lâu thì cô Thế chịu không nổi, mới từ giã nhà người anh nuôi mà ra giữa cuộc đời tự lập nơi xứ lạ quê người, với gió bụi và phong sương kiếm nghề thư ký và bán hàng nuôi sống. Tâm trạng của cô trong những ngày phiêu bạt ấy không cần phải nói lại, sự đau khổ đến thế nào…

Tình cờ một ngày kia, vào cuối năm 1928 có một nhà đạo diễn phim vào mua hàng một tiệm buôn nọ, bỗng bất chợt thoáng thấy một cô gái Á Đông rất duyên dáng đang đứng tiếp khách. Nhà đạo diễn lúc bấy giờ đang băn khoăn tìm một người phụ nữ phương Đông đóng vai công chúa Tàu cho cuốn phim “Một Bức Thơ”. Sau khi ướm lời với chủ tiệm thì chủ tiệm bằng lòng nhường lại cô gái bán hàng ấy, và giới thiệu đó là một công chúa Trung Hoa, sau ngai vàng đổ nát của vua cha đã phải lưu vong qua đất địa nước Pháp.

Từ cô bán hàng đến tài tử chiếu bóng

Thế rồi từ cô gái bán hàng với số lương 200 quan mỗi tháng, cô Thế đã nghiễm nhiên thành một tài tử chiếu bóng với số lương 2000 quan mỗi tháng, từ đây với số lương gấp mười, cô sống một cuộc đời tạm gọi sung túc.

De_Tham-400.jpg
Nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám, tức cụ Đề Thám, chụp ảnh bên các cháu của ông. Courtesy wikipedia.

Khi cuốn phim “Một Bức Thơ” ra đời, đi khắp các thành phố đều được thiên hạ đón xem, người ta cố tình xem mặt của vị công chúa Trung Hoa đã lưu vong và trở thành cô đào màn ảnh. Thấy cô đẹp, họ bàn tán xôn xao và một số đông đã yêu cô, vì tuy xem cô đóng vai tuồng giả công chúa Trung Hoa, mọi người nhận thấy ở cô một vì công chúa thật, nhất là với nét mặt u buồn. Trong phim họ đã xét thấy tâm trạng đau khổ của một nàng công chúa, từ bên cạnh một ngai vàng rơi vào trong bụi đời hải ngoại, họ ái ngại và thương yêu cô vì thế.

Và cũng sau cuốn phim ấy thành hình, cô Hoàng Thị Thế đã phải tiếp đón hàng ngày hơn trăm người khách lạ, hoặc tới thăm viếng tặng hoa, hoặc tới phỏng vấn an ủi, hoặc tới mời cô đi dự tiệc, nhất là các công tử và phú gia đều cạnh tranh nhau để được cùng khoác tay đi chơi, hoặc dự tiệc với nàng công chúa ấy.

Trong lúc này đến các du học sinh Việt Nam ở Pháp, mà về sau tốt nghiệp đã về nước như: Bác Sĩ Phạm Ngọc Thạch, kỹ sư Nguyễn Bá Lãng, kỹ sư Thái Thiện Nghĩa v.v… đều có hân hạnh lui tới tặng hoa, thăm viếng, và có khi những tấm chèque to tát được trịnh trọng đem dâng cho nàng để cầu nói chuyện trong giây lát.

Nhưng rồi thì giữa cảnh tiếp đón tấp nập ấy, một thanh niên trí thức người Pháp có thế lực, đã lọt vào mắt xanh cô Hoàng Thị Thế, đôi nam nữ ấy yêu nhau và một đám cưới linh đình đã diễn ra trong năm 1931, giữa sự mến tiếc của những người “hỏng thi”.

Tưởng đâu chiếc thân bèo dạt nhờ cơ hội ấy mà yên cửa nhà, không dè sau một thời gian ân ái, đức lang quân mới hỏi đến gia tài ngày trước. Cô Hoàng Thị Thế mới đem hoàn cảnh sự thật nói cho chồng biết rằng, vào năm 1909 sau khi ông Hoàng Hoa Thám nghị hòa với quân Pháp, thì toàn quyền Paul Doumer có cắt đất Yên Thế, gồm có lối 5 ngàn cây số vuông, giao trọn cho nhà cách mạng, tức ông già vợ của chàng rể và là chủ nhân cô Thế nói trên. Chàng ta mới dùng thế lực của mình kiện chính phủ Đông Dương, lúc áy do toàn quyền Pasquier cầm đầu, để lấy lại đất đai của ông già vợ mình, đất đai thời đó trị giá những 100 triệu phật lăng! Vụ kiện đó kéo dài hai năm, bị bác bỏ.

Không thấy được kết quả, thì bấy giờ cô Thế mới thấy được lòng dạ của chồng, là từ ấy trở đi cơm không lành canh không ngọt, mặc dầu với đức hạnh của một gái Đông phương biết chiều chồng nuôi con, vẫn không an ủi chồng được, và ngày ngày vẫn kiếm chuyện xích mích gây gổ, nào “trái ấu không tròn”, nào là “bồ hòn cũng méo”. Thì ra sau khi biết rõ rằng nàng không phải đúng một vị công chúa Tàu như người ta đồn, mà chỉ là con của một người “phiến loạn” của xứ “An Nam” thì không bao lâu cái gia đình Pháp – Việt ấy tan rã, chặt đứt oan tình.

Thế rồi, cô Hoàng Thị Thế lại sống giữa cô đơn và bụi đời ở nước ngoài, tiền của dần dần cạn sạch, bấy giờ cô mới lục lại danh thiếp của bao kẻ hâm mộ nàng ngày xưa. Và ngày xưa họ đã tìm tới nhà nàng để cầu trịnh trọng được hôn bàn tay, thì lần này chính nàng lại phải kiếm gõ cửa nhà họ để nhắc lại mối cảm tình ngày trước, và cũng xem trong chuyến đò tình sang sông, còn có khách nào mến cây da cũ, con đò xưa chăng?

Thì than ôi! Nàng đâu còn là một gái xuân sắc với cặp mắt huyền mơ của ngày xưa tươi đẹp nữa. Giữa tàn tạ nàng phải sống một cuộc đời tuy không đến nỗi dơ dáng dại hình, song cũng không được xáng lạn cho lắm.

Kỹ sư Nguyễn Bá Lãng kết luận rằng: “Cuộc đời của nàng sau mối tình lang bạt kia nghe qua mà lòng se lại, tôi cũng rất tiếc cho con người tài hoa xinh đẹp ấy, nhiều khi vì sự sống còn ở nước người, đã phải đi gõ cửa từng nhà bạn quen, để giải quyết vấn đề bao tử của ngày ấy!

Từ sau trận đại chiến ở Âu Châu, kiều bào ở Pháp không còn ai gặp lại cô Hoàng Thị Thế nữa, không biết trong loạn lạc lúc ấy nàng có phải làm con thiêu thân cho bom đạn chăng? Nhưng cái ngày chót mà các Việt kiều du học ở Pháp được gặp nàng là vào cuối năm 1939, và cô Thế có cho hay trên một chuyến tàu rằng, nàng sang nước Bỉ. Mấy tháng sau thì quân của Hitler ào ào tràn sang Bỉ mà tiến qua Pháp, đạo binh ấy có quét nàng đi như một hạt bụi, hay như một chiếc lá khô giữa đàng chăng?”

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0313-nm-03132015231914.html