THU HẰNG , RFI PHÁP : Trương Vĩnh Ký : Chiếc cầu nối Đông-Tây


TẠP CHÍ VĂN HÓA

Phát Thứ sáu, ngày 20 tháng ba năm 2015
Trương Vĩnh Ký : Chiếc cầu nối Đông-Tây
 

Pétrus KýDR

  • print
    « Nhà văn Việt Nam. Sáng lập ra ngành báo chí tại Việt Nam, ông cũng là tác giả của nhiều tác phẩm lịch sử, giảng dạy, ngôn ngữ và dịch thuật các tác phẩm Tầu » . Đây là lời giới thiệu về Jean-Baptiste Pétrus Trương Vĩnh Ký (06/12/1837-01/09/1898) của từ điển các danh nhân của Larousse. Ông cũng được giới học thuật châu Âu thế kỷ XIX liệt vào một trong « Thế giới Thập bát văn hào » , đồng thời đứng trong hàng những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới nhờ thông thạo 10 ngoại ngữ và nắm sơ một số khác.

Cuộc đời và sự nghiệp của ông nhận nhiều ý kiến trái chiều. Một số người nhìn nhận ông như tay sai của thực dân Pháp. Một số khác thì ghi nhận ông như người đặt nền móng cho nhiều lĩnh vực chưa từng được biết đến tại Việt Nam trong giai đoạn đó, như dịch thuật, báo chí và viết văn.

Sinh tại ấp Cái Mơn, huyện Vĩnh Thành, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre), Trương Vĩnh Ký, còn được biết tới dưới các bút hiệu « Sĩ Tải » hay « Nam Trung ân sĩ », nổi tiếng với học thức uyên bác, am tường nhiều lĩnh vực và khả năng ngoại ngữ siêu phàm. Ngay từ nhỏ, nhờ trí thông minh, nhanh nhẹn, ông được linh mục Long đưa vào trường dòng học chữ la tinh ở Cái Nhum (thuộc tỉnh Vĩnh Long ngày nay). Từ đó, ông được bôn ba du học tại nhiều nước trong khu vực, từ Cam-bốt tới Cao Miên hay Pinang (Malaysia). Tại mỗi nơi, được gặp gỡ bạn đồng môn quốc tế, ông vận dụng khiếu ngoại ngữ để học tiếng nói của họ. Tới năm 1858, khi quay về quê chịu tang mẹ, ông đã thành thạo khoảng chục ngoại ngữ và am tường văn chương, khoa học, triết học. Năm đó, ông mới 21 tuổi.

Năm 1860, dưới sự chỉ huy của Đô đốc Bonard, người theo chủ trương tôn trọng ngôn ngữ và phong tục bản địa, quân đội Pháp chuẩn bị tấn công Sài Gòn và cần một thông dịch để tránh mắc sai lầm về chính trị. Linh mục Lefèbvre trông coi địa phận Nam Kỳ đã giới thiệu Trương Vĩnh Ký. Bắt đầu từ công việc thông dịch, dần dần ông tham gia nhiều lĩnh vực khác, đặc biệt phải kể đến báo chí và xuất bản, trước khi tham gia chính trị để rồi cuối đời gần như về ở ẩn và viết sách do bị cả chính phủ thuộc địa Pháp và triều đình nhà Nguyễn nghi kị.

Cầu nối Đông-Tây ?

Vai trò cầu nối Đông-Tây của Trương Vĩnh Ký có thể được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, trong đó phải kể tới dạy học, dịch thuật và làm báo.

Theo nhận xét của Nguyễn Cao Kim trong bài « Thân thế và sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký » , « ông giữ thái độ đặc biệt không đi quá trớn. Sau khi được đô đốc Bonard mời ra giúp việc, ông đã chấp thuận với ý định tạo nên bầu không khí giao hảo giữa Pháp và Việt Nam. Cũng vì nghĩ như vậy nên lúc làm thông ngôn (20-12-1860), hay lúc làm Đốc học trường thông ngôn Sài Gòn, ông vẫn chủ trương giúp cả hai nước mà chẳng nhị tâm ».

Phải chăng, Trương Vĩnh Ký chỉ muốn tận dụng cơ hội và vị trí của mình để xoa dịu những mất mát của người dân do chiến tranh gây ra và sau đó là cổ xúy cho tân trào ?

Năm 1861, đô đốc Charner, người kế nhiệm và đi ngược với chính sách bị coi là « mị dân »của đô đốc Bonard, cho phá đồn Chí Hòa (Kỳ Hòa). Hiểu rõ nỗi thống khổ của người dân, Pétrus Ký muốn làm dịu vết thương chiến tranh bằng cách đứng ra làm gạch nối cho sự giao hảo Pháp-Việt. Có lẽ vừa do phẩm chất, vừa do trình độ, nên nhiều lần, ông được cử làm thông ngôn cho sứ bộ hai bên, trong đó phải kể tới chuyến sang châu Âu của phái đoàn Phan Thanh Giản (06/1863-03/1864) đàm phán với triều đình Pháp và Tây Ban Nha việc chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường).

Trong thời gian lưu lại châu Âu, Trương Vĩnh Ký đã khám phá tinh hoa của nước Pháp và tìm hiểu tại sao người Pháp có thể tới đánh chiếm một nước xa xôi như Việt Nam. Ngược lại, ông cũng đã khiến triều đình Pháp thán phục trước sự thông tường chữ la tinh. Để thử tài của ông, một Bộ trưởng Pháp, trong lúc đón phái đoàn, đã để ông nói chuyện với một chuyên gia chữ la tinh hàng đầu của chính phủ.

Trong cuốn Impressions d’un Japonais en France, suivies des impressions des Annamites en Europe (Ấn tượng của một người Nhật tại Pháp, tiếp theo là ấn tượng của người An Nam tại châu Âu, 1864), Richard Cortembert miêu tả cuộc đối thoại giữa Pétrus Ký và nhà la tinh học lỗi lạc của Pháp thời bấy giờ như sau :

« … Đôi khi, nhà bác học Pháp phải chờ đợi vài giây trước khi kết thúc đoạn hội thoại của mình và dường như phải quanh co để không bị đuối. Trái lại, chàng phiên dịch An Nam lại cứ thoải mái nói hơn bao giờ hết ; cứ như từng giây một, cậu ta lại có thêm sinh lực mới… Những lời giải thích của cậu trở nên chính xác, rõ ràng hơn, trong khi đó, đối thủ của cậu luẩn quẩn trong cách nói dài dòng và không chính xác. Có lúc, như đuối sức, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng phương Tây trả lời luôn bằng tiếng Pháp trước câu hỏi bằng tiếng la tinh của Pétrus ; chàng thanh niên An Nam phản lại bằng tiếng la tinh, và người ta lại trả lời bằng tiếng Pháp… »

Từ năm 1866 tới 1879, ông lần lượt được đề cử làm Giám đốc dạy tiếng Đông phương ở trường Thông ngôn (Collège des Interprètes (1866-1868)), rồi Giám đốc Trường sư phạm (Ecole normale, 01/01/1872-31/12/1873) và cuối cùng là Giáo sư sinh ngữ (tiếng Việt và Hán tự) tại trường Tham biện Hậu bổ (Ecole des Administrateurs stagiaires, 01/01/1874-1879).

Đây là khoảng thời gian mà ông soạn nhiều sách và giáo trình để phục vụ cho công việc giảng dạy. Đối với người Pháp là giáo trình dạy chữ Hán và quốc ngữ, địa lý và lịch sử Việt Nam. Đối với người Việt, phần lớn cũng là sách dạy chữ quốc ngữ và tiếng Pháp. Ngoài ra, nhận thấy người Pháp mở trường tiểu học nhưng « quên » soạn và in sách, ông đã biên soạn nhiều sách giáo khoa, đồng thời luôn có những lời khuyên răn đạo đức cho trò nhỏ mà có thể thấy trong cuốn Sơ học vấn tân quốc ngữ diễn ca (1877) :

« Sách Sơ học vấn tân nghĩa là kẻ mới học hỏi bền là sách Annam làm cho con-nít học cũng như bên Tàu Tam-tự-kinh vậy. Sách nầy tóm cả truyện bên Trung-quốc cả truyện bên nước Nam ta nữa ; lại có kể ra phép học, bài thi, khuyên gắng công học cho chuyên.

Vậy nay âm ra ba thứ tiếng để cho con-trẻ học mà phá ngu, cùng tập lần cho biết cho dễ học sách cao đến sau ; đã có chữ có nghĩa lại có tiếng phangsa một bên, học một mà biết ba thì cũng tiện lắm.

Học thì chẳng phải là học cho biết viết chữ, cho thuộc tiếng nói mà-thôi, mà lại phải học nghĩa-lý phép-tắc, lễ-nghi, cang-thường luân-lý, là giềng-mối mà xử-trí trong việc ăn-ở trong đời với thiên-hạ. Ấy là lịch ấy là thanh. Nên phải do cựu tùng tân mới là phải, chẳng nên mới chuộng cũ vong mà mang lấy tiếng « yểm cựu nghinh tân ». Vì « vật hữu bổn mạt, sự hữu thỉ chung ; tri sở tiên hậu tắc cận đạo hỉ ». »

Tại thời điểm đó, tác giả không phải bận tậm việc phân phối sách nhờ trợ cấp của chính phủ và thường viết theo « đặt hàng ». Vì không phải lo lắng tới việc phân phối và nhuận bút, nên tác giả hoàn toàn có thể chuyên tâm vào việc nghiên cứu để tác phẩm có chất lượng tốt. Hoặc nếu nhận thấy một tác phẩm có ích, nhà nước sẽ xét duyệt ngân sách để mua và phân phối tới các trường học, thư viện hay các phòng ban hành chính.

Cũng trong giai đoạn này, ngoài sách dạy học, ông cũng chuyên tâm dịch các bộ sách cổ của Tầu, như Tứ Thư (1876) (Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh Tử). Một số ý kiến cho rằng, dù theo Công giáo, nhưng ông vẫn giữ truyền thống nho giáo phương Đông và muốn duy trì những tư tưởng này cho thế hệ sau.

Tư tưởng này cũng nổi bật rõ nét trong những câu chuyện mà ông biên soạn sau khi từ giã quan trường lui về ở ẩn. ông chuyển thể sang chữ Quốc ngữ những chuyện thơ dân gian, hay viết những câu chuyện đơn giản, dễ hiểu đầy ngôn từ địa phương. Ví dụ có thể kể đến các cuốn : Bất cượng chớ cượng làm chi (1882), Nữ tắc (1882), Thơ mẹ dạy con (1882), Thơ dạy làm dâu (1882), Thạch suy bỉ thới phú (1883), Học trò khó phú (1883), Phú bần truyện diễn ca, Cờ bạc nha phiến (1884)… Trong lời tựa của mỗi cuốn sách, ông đều tìm cách giải thích cho người đọc ý nghĩa câu chuyện, bài học đạo đức và giải thích phong tục tập quán. Như trong cuốn Thạnh, suy, bỉ, thới có những dòng tâm sự sau :

« Phú nầy nói về làm con người ở đời thì có sự thạnh, sự suy, sự bỉ, sự thới. Lúc thạnh thì khiến cho được giàu-có sang-trọng. Của-cải bạc-tiền, ngọc ngà châu báu chẳng thiếu vật chi. Đã giàu mà lại thêm sang, tôi-mọi hầu-hạ trong ngoài, khách kẻ tới người lui chật nhà chật cửa. Đến lúc suy cũng như hùm mạnh sa cơ, nhà-cửa xích-xác, trống trước trống sau, cũng như Vương-khải với Thạch-sùng khi nghiên-nghèo sánh lại với buổi giàu-sang, xa cách nhau biết là bao nhiêu ? Khi bỉ thì khốn-khó lút đầu lút óc, trí phải khó-nhọc buồn-rầu, xác phải nhọc-nhằn công lên việc xuống ; ăn bữa no bữa đói, đi thất-thơ thất-lạc. Đến khi gặp hồi thới lai, thì lại ra tử-tế, nên giàu nên sang, quan yên dân chuộng kẻ đưa người rước ; việc gì việc nấy đều may-mắn cả, phỉ-chí toại lòng.

Vậy mới biết việc đời xây-vần dời-đổi. Nên dầu nghèo dầu giàu cũng chẳng nên lo ; hễ hết thạnh thì tới suy, suy rồi lại thạnh ; hễ có qua cực rối lại sướng, sướng rồi lại tới cực đắp-đổi nhau. Có vậy mới từng mùi đời, mới biết thạnh suy bỉ thới ».

Nhìn vào danh sách tác phẩm của Trương Vĩnh Ký, có thể nhận thấy rằng ngoài kiến thức siêu phàm, phải có tâm huyết cao, ông mới có thể soạn ra các tác phẩm với những chủ đề đa dạng như vậy.

Nhà trí thức vì tân trào

Mong muốn duy tân đất nước của ông được thể hiện rõ ràng ngay trong chuyến công du lần đầu tới nước Pháp. Cũng như nhiều quan lại trong phái bộ, ông ý thức rằng văn minh, nông nghiệp và công nghệ châu Âu đã tiến xa rất nhiều so với phương Đông. ông nuối tiếc nêu những điểm yếu của Việt Nam trong bức thư gửi Richard Cortembert :

« Ở An Nam, đất đai rất mầu mỡ ; nhưng không được tiếp xúc với nhu cầu lao động nên tâm trí luôn trong trạng thái « ăn không ngồi rồi »… Đối với những người đứng đầu nhà nước, vấn đề không phải là phải thay đổi An Nam, mà là phải đấu tranh chống sự trây ì… Và có bao nhiêu điều mê tín phải loại bỏ, bao nhiều phong tục phải cải tổ lại, bao nhiêu định kiến phải tiêu diệt, bao nhiêu tính kiêu căng sẽ bị động chạm tới trong chiến dịch tổng cải tổ này ! »

ông chỉ trích quan lại Việt Nam quá cố hữu trong những chuẩn tắc của chính mình. Dù có trình lên những gì « mắt thấy tai nghe » tại châu Âu, hay có đưa ra những đề xuất gì, chưa chắc phái bộ Phan Thanh Giản đã thuyết phục được triều đình thay đổi ý kiến. ông cũng lo lắng vì quan lại không nghĩ tới dân, mà chỉ muốn làm vui lòng vua nhà Nguyễn với những tin tức hay sự kiện vui vẻ. Trong khi đó, họ giấu nhẹm những tai ương, đói khổ mà người dân cam chịu.

Ngoài ra, hơn ai hết, ông cũng hiểu được những khó khăn trong việc phổ biến học thuật mới bằng chữ Tầu. ông băn khoăn tự hỏi : « Làm thế nào để có thể truyền bá kiến thức với loại chữ tượng hình với hàng loạt kí tự khó này ? Tôi không phủ nhận rằng người ta có thể tiếp nhận khoa học với loại chữ này. Nhưng chỉ toàn bất tiện và khó khăn mà thôi. Để có thể đọc và hiểu được tốt những gì loại chữ này thể hiện, một người phải mất ít nhất cả tuổi thanh xuân của mình ; anh ta chẳng bao giờ có đủ thời gian để bắt tay nghiên cứu những công trình khoa học.

Đồng hương của tôi tạo thành một dân tộc dễ sai khiến, hay bắt chước, nhưng lại hoàn toàn trây ì ; tôi thấy rằng, ở đây, lỗi chủ yếu là do nhà nước. Họ không chú tâm vào khích lệ hay thức tỉnh dân tộc » .

Chính vì thế, ngoài viết sách, báo chí cũng là công cụ hữu hiệu để ông thử nghiệm việc truyền bá học thuật bằng chữ quốc ngữ. Trước khi ông được bổ nhiệm làm « chánh tổng tài »(rédacteur en chef), Gia-định báo chỉ đơn thuần là một tờ công báo của chính phủ Pháp tại Nam Kỳ. Tờ báo dịch đăng những thông tin bằng tiếng Pháp của tờ Le Courrier de Saigon. Tờ công báo này có nội dung nghèo nàn và ngôn từ khô khan với hai phần : « Phần Công vụ » với những thông tư, văn bản mới được công bố và « Phần Tạp vở » với những thông tin thuyên chuyển, bổ nhiệm hay giá cả một số mặt hàng.

Làm chánh tổng tài từ số 20 (24/09/1869), ông đã biến tờ báo thành một cơ quan phong phú, đa dạng hơn. ông khuyến khích viên chức nhà nước, giáo viên tham gia viết bài về bất kì chủ đề gì, từ cuộc sống đời thường tới những bài học khuyên răn đạo đức, từ dịch chuyện hay viết văn bằng chữ quốc ngữ… Ngoài các cơ quan nhà nước và địa phương, tờ báo cũng được « phát không tới các trường học để học sinh khá trong các làng mạc có thể đọc được » (Le Courrier de Saigon, số 7, 05/04/1865).

Chính vì thế, Gia-định báo giữ hai chức năng chủ đạo. Thứ nhất, là chiếc cầu nối nhằm tránh những hiểu lầm giữa chính phủ và người dân. Mục đích này được ông viết trong lời tựa số 20 :

« Những thầy trường quốc ngữ thì trễ nải, hoặc chẳng đọc nhựt trình cho học trò hay là người làng nghe, hoặc có khi chẳng hiểu cho rõ, kẻ hay chữ thì chẳng hay cắt nghĩa cho người ta biết với. Quan Nguyên-Soái người muốn cho người ta đừng có làm như vậy nữa, thì người phú cho ta việc đặt nhựt trình nầy kẻo người ta nói đặng rằng không hiểu, cũng là cho người ta biết những điều viết trong nhựt trình là đều thật và có ích.

Nhựt trình nầy có ích cho mọi người vì trong ấy có đủ mọi đều về dân sự, lịnh quan Nguyên Soái dạy, ý người về sau làm sao cùng là cách thế người làm. Trong ấy người ta biết được các tin tức buôn bán. Ở trên Châu-Đốc Hà-Tiên đều biết được giá hàng tại Saigon Chợ-Lớn. Mà ngồi một chỗ khỏi đi đâu, nên muốn mua muốn bán cũng gặp chầu, lại biết cho đến giá riêng đồ các chợ lớn ở các nơi. » (Gia-định báo, số 20, 24/09/1869).

Mặt khác, trong một thời gian dài, Gia-định báo được dùng làm sách dạy đọc chữ quốc ngữ tại các trường học ở nông thôn. Trên thực tế, chính phủ Pháp lập trường nhưng lại không tập trung soạn sách giáo khoa. ông hiểu rằng nhắm tới học sinh nhỏ, sẽ tác động được tới cha mẹ của các em. Vì các em thường kể những gì mình học được và nghe được cho gia đình.

Từ một tờ công báo đơn thuần, ông đã biến Gia-định báo thành một cơ quan truyền bá với ba mục đích chính : truyền bá chữ quốc ngữ, cổ động tân học và khuyến học trong dân. Các mục mới như khảo cứu, nghị luận, gồm các bài dịch thuật, sưu tầm, khảo cứu, sáng tác thơ, văn, lịch sử, truyện cổ tích lần lượt được mở với sự tham gia của các cộng tác viên là trí thức, giáo viên hay công chức… Gia-định báo đã mở đường cho các thể loại văn xuôi Việt Nam in bằng chữ Quốc ngữ, đặt nền móng cho sự hình thành báo chí Việt Nam.

Dù cổ vũ tân trào, Trương Vĩnh Ký luôn giữ những giá trị truyền thống phương Đông, đặc biệt là trang phục áo dài, khăn xếp. Chính cách ăn mặc giản dị, cũng như thần thái khoan dung của một nhà nho học, lúc đó mới có 25 tuổi, đã khiến Richard Cortembert ngỡ ngàng khi tiếp xúc tại Paris. ông viết : « Diện mạo của cậu ta (Trương Vĩnh Ký) khác hoàn toàn với những người khác cùng đoàn ; – tuy sắc mặt có vẻ xanh xao hơn, mũi tẹt hơn ; đôi môi thì dầy, còn gò má thì cao, nhưng vầng trán thì rất rộng làm nổi rõ tính cách quân tử. Trang phục của cậu ta, vô cùng giản dị, gồm một kiểu như váy đen khiến liên tưởng tới váy trùm của thầy tu. Một dải băng dài màu xám cuốn xung quanh đầu và để hé vài sợi tóc đen phía sau…

Tôi nhanh chóng nhận thấy sự thông minh nổi trội và những phẩm chất thanh cao của chàng phiên dịch trẻ, mà giọng nói nhẹ nhàng đầy thiện cảm đã cuốn hút tôi ngay lập tức… Rất dễ để nhận thấy rằng chuyên môn ưa thích của cậu ta là thần học. Cậu ta nói chuyện về chủ đề này, không hề tự phụ, với một cách dẫn giải khó lòng cưỡng lại được. Cậu ta ở đúng bộ môn mình ưa thích, lĩnh vực mà cậu đã trau dồi từ lâu và thấu hiểu tường tận : cậu ta mới chỉ có 25 tuổi ! »

Chênh vênh ở thế giữa, ông chọn làm cầu nối trung gian giữa hai nền văn minh Đông và Tây : hai thái cực mà một bên ông ngưỡng mộ, còn bên kia, ông thương yêu gắn bó. ông tìm cách phổ biến những gì tiên tiến tốt đẹp của phương Tây mà Việt Nam chưa có. Đồng thời, ông vẫn bảo tồn và quảng bá những truyền thống của người Á đông. Gần 200 tác phẩm ông để lại, gồm đủ các loại tiếng, giúp chúng ta phần nào đánh giá được sự nghiệp và lương tâm nghề nghiệp của ông.

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150320-truong-vinh-ky-chiec-cau-noi-dong-tay/

THU HẰNG , RFI PHÁP :Trương Vĩnh Ký và những nỗ lực phổ biến chữ quốc ngữ cuối thế kỷ XIX


CHÍ VĂN HÓA

Trương Vĩnh Ký và những nỗ lực phổ biến chữ quốc ngữ cuối thế kỷ XIX

Phát Thứ sáu, ngày 27 tháng ba năm 2015
Trương Vĩnh Ký và những nỗ lực phổ biến chữ quốc ngữ cuối thế kỷ XIX
 

Pétrus Ký và các học trò.@historicvietnam.com/tim-doling/

Trong suốt cuối thế kỷ XVI và nửa đầu thế kỷ XIX, chữ quốc chỉ được dùng trong mục đích truyền giáo. Đây là loại kí tự dùng chữ cái La tinh để ghi lại tiếng nói của người Việt. Công trình này lần lượt được các nhà truyền giáo dòng Tên khởi nguồn và hoàn thiện, từ Gaspard d’Amaral và Antonio Barbosa, hai giáo sĩ dòng Tên người Bồ Đào Nha, cho tới Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ) hay Pigneaux de Béhaine (cha Bá Đa Lộc), người Pháp.

Khi mới đặt chân tới Tourane (Đà Nẵng) vào năm 1624, cha Đắc Lộ đã không khỏi ngạc nhiên khi nghe người bản địa, đặc biệt là phụ nữ, nói như “chim hót” và đã từng nghĩ không thể nào học được tiếng nói này. Sau này, chính ông là người đã hệ thống hóa và phổ biến loại chữ viết La tinh, vừa dễ học vừa nhanh hơn so với chữ Hán và chữ Nôm. Tuy nhiên, chữ quốc ngữ được hoàn thiện như ngày nay là nhờ vào công sức của cha Bá Đa Lộc trong khoảng cuối thế kỷ XVIII-đầu thế kỷ XIX.

Sau khi chiếm được Sài Gòn và bắt đầu công cuộc khai thác, chữ quốc ngữ trở thành công cụ hữu ích cho chính sách đô hộ. Chính quyền Pháp muốn sử dụng loại chữ viết này để cắt hẳn mọi liên hệ giữa người dân Nam Kỳ, giờ đây nằm dưới sự cai trị của người Pháp, với nền văn minh Trung Hoa, tiếp theo là phổ biến học thuật Pháp và đồng hoá dân bản địa.

Trong thư văn đề ngày 15/01/1866 gởi cho thống đốc Sài Gòn, giám đốc nội vụ Paulin Vial có viết : « Từ những ngày đầu người ta (Pháp) đã hiểu rằng chữ Hán còn là một ngăn trở giữa chúng ta và người bản xứ ; sự giáo dục bằng thứ chữ tượng hình khó hiểu làm chúng ta rơi tuột hoàn toàn ; lối viết này chỉ tổ khó cho việc truyền đạt đến dân chúng những điều tạp sự cần thiết có liên quan tới khung cảnh của nền cai trị mới cũng như cho việc thương mại… Chúng ta bắt buộc phải theo truyền thống nền giáo dục riêng của chúng ta ; đó là cách duy nhất khiến chúng ta có thể gần gũi người An Nam thuộc địa hơn, ghi vào tâm não họ những manh mối của nền văn minh Âu châu đồng thời cô lập họ khỏi ảnh hưởng đối nghịch của các lân quốc của chúng ta ».

Tuy nhiên, các đô đốc Pháp nhanh chóng hiểu rằng rất khó thay đổi được một đất nước chịu ảnh hưởng của Khổng giáo và lòng trung thành sâu sắc của người dân đối với triều đình. Họ chú ý tăng cường ảnh hưởng của Pháp tới đời sống và phong tục của người Nam Kỳ. Để thực hiện thành công chính sách cai trị và “mị dân”, các “quan” Pháp được khuyến khích học chữ hán, chữ quốc ngữ, nghiên cứu phong tục tập quán, ngôn ngữ và lịch sử của Việt Nam. Chính vì thế, rất nhiều tài liệu bằng tiếng Pháp và tiếng Việt mang tính chuyên môn cao được các“học giả” quân sự dịch và soạn thảo trong giai đoạn này.

Mặt khác, họ đưa chữ quốc ngữ ra khỏi khuôn khổ của Giáo Hội để phổ biến trong dân. Ngay từ năm 1864, các trường tiểu học quốc ngữ được thành lập tại các trung tâm quan trọng nhất và các làng công giáo. Mục đích chính là nhằm đào tạo một thế hệ công chức tương lai tận tâm với nước Pháp, đồng thời cắt đứt ảnh hưởng của Nho giáo. Bắt đầu từ năm 1882, chữ quốc ngữ được dùng là văn tự chính thức trong giao dịch, giấy tờ hành chính, tư pháp và thương mại của nhà cầm quyền thuộc địa. Các quan địa phương phải học chữ quốc ngữ và chỉ được thăng chức hay giảm thuế nếu biết đọc, biết viết loại văn tự này.

Biên soạn giáo trình dạy chữ quốc ngữ

Về phần mình, từ khi được bổ nhiệm làm chánh tổng tài tờ Gia-định báo (16/09/1869), Trương Vĩnh Ký có cơ hội để phát triển sự nghiệp dịch thuật và viết văn. Đây cũng là vị trí và công cụ giúp ông phổ biến rộng rãi hơn chữ quốc ngữ. Thái độ ủng hộ việc truyền bá học thuật bằng kí tự La tinh này đã được ông thể hiện với Richard Cortembert ngay từ chuyến công du sang Pháp.

Sau này, lợi ích và vai trò của nó còn được ông nhấn mạnh trong cuốn Manuel des écoles primaires (Giáo trình cho các trường tiểu học, 1876) như sau : « Chữ quốc ngữ phải trở thành chữ viết của nước nhà. Cần phải nắm vững nó cho điều tốt đẹp và cho sự tiến bộ. Vì thế, chúng ta phải tìm mọi cách để phổ biến chữ viết này ». Ông cho rằng loại chữ viết đơn giản, dễ học này sẽ là phương tiện hiệu quả để tiếp thu những kiến thức mới vì ba lý do : Thứ nhất, do nạn mù chữ đại trà trong dân, tiếp theo là chữ hán sẽ không còn có ích một khi người Pháp cai trị Nam Kỳ và cuối cùng, chỉ cần ba tháng là có thể biết đọc và viết chữ quốc ngữ.

Ngoài ra, ông còn khuyên nhủ người học như sau :

« Sách nầy là sách rút tóm lại những đều đại-cái người ta phải học, để cho con trẻ mới vô trường, học những đều đại lược mà phá ngu, cho đặng đến sau khi vào trường chung nghe dạy nghe giải rộng các đều ấy thì mau hiểu hơn là một ; hai nữa là để mà tập coi, tập đọc tập viết tiếng Annam trong chữ quốc-ngữ cho trúng tiếng, cho nhằm giọng, phân biệt ra cho rõ-ràng.

Khuyên các trò hãy bớt tính ham chơi, mà chuyên việc học-hành, chữ-nghĩa, văn-chương cho được vào đường công-danh với người-ta cho sớm, trước là cho đặng đẹp mặt nở mày cha mẹ, giúp đời dạy dân, sau là cho mình được công thành danh toại, thơm danh, tốt tiếng ở đời ».

Dù tên sách viết bằng tiếng Pháp nhưng đây là bộ giáo án giành cho giáo viên, gồm hai phần, phần một là « phép học chữ quốc ngữ, lịch sử An Nam và Tàu », và phần hai gồm « các khái niệm khoa học cơ bản ». Trong đó, Trương Vĩnh Ký giải thích cách tổ chức một buổi lên lớp, các hoạt động hay cách đánh giá học sinh.

« Hễ trò nào mới vô thì phóng vở theo đã ra trước nầy, giao cho nó, cấp cho một trò cũ đã biết mà nhác-biểu chỉ-vẽ cho nó.

Phân lớp ra mà dạy cho dễ : Như học-trò đã biết viết, biết đọc thì bát nó viết mò, bát đọc một đoạn sách cho lẹ cho xuôi. Viết mò thì lấy những tuồng, văn, thơ, phú, mà nói cho nó viết, viết rồi thì thầy coi mà sửa lại cho nó, cho chính câu chính chữ.

Còn mỗi bữa học, bát nó kiếm câu hát, câu đối, lời phương ngôn tục ngữ, diêu ngôn vân vân, mà viết ra một đâu câu chẳng hạn, đem tới nộp cho thầy sửa, góp những cái ấy lại, để một nơi.

Dạy toán thì trước hết dạy bốn phép, cộng, trừ, nhơn, chia, cho rõ. Rồi cứ ra bài đố cho nó mần cho quen. Dạy phép đo cũng vậy… Những tập nó học nó viết mỗi bữa học thì thầy sửa rồi đề ngày vô cho nó, cho dễ xét đứa nào trễ-nải, đặng như quan có đòi thì thầy có sẵn mà nộp cho quan ».

Một giáo trình khác được Trương Vĩnh Ký biên soạn nhằm chủ yếu vào giới quan lại địa phương khi có nghị định bắt buộc dùng chữ quốc ngữ trong các văn bản hành chính. L’Alphabet quốc ngữ en treize tableaux avec des exercices de lecture (Vần quốc ngữ thông qua 13 bảng và các bài tập đọc, 1887) giúp các quan học loại chữ viết này trong một thời gian ngắn. Tám bảng đầu dạy học nguyên âm và phụ âm cùng với sáu thanh điệu và cách ghép vần. Các bảng còn lại gồm các bài tập đọc, từ đơn giản tới phức tạp.

Sưu tầm-chuyển ngữ

Song song với việc soạn giáo trình, Trương Vĩnh Ký dùng chữ quốc ngữ ghi lại những cuốn sách Tàu và những tác phẩm được viết bằng chữ nôm. Trên thực tế, hai loại chữ tượng hình trên dần dần bị sao nhãng và ngày càng có ít người sử dụng. Chữ Hán chỉ giành cho một bộ phận nhỏ gồm các nhà nho và quan lại. Trong khi đó, chữ Nôm còn phức tạp hơn do mượn Hán tự. Vì vậy, cần phải biết chữ Hán mới có thể học được loại chữ này.

Hơn nữa, Trương Vĩnh Ký cho rằng văn học Việt Nam mới chỉ có thơ ca với nhiều thể loại khác nhau, song không có văn xuôi và các loại khảo cứu, nghị luận. Dịch thuật là một cách giúp học làm văn và làm giàu từ vựng tiếng Việt. Chính vì thế, không có gì ngạc nhiên khi một phần ba trong tổng số 118 tác phẩm của ông là các công trình dịch thuật.

Vấn đề phiên dịch các tác phẩm Tầu ra thể văn vần chữ quốc ngữ cũng đã được Luro, một thanh tra bản xứ sự vụ, trong bản báo cáo ngày 06/01/1873, đề xuất : « Từ lâu, tôi thỉnh cầu một cách vô hiệu rằng người ta phải phiên dịch, dưới sự chăm sóc của một hội đồng có đủ quyền hành, lịch sử nước An Nam và những sách cao quí triết lý của Trung Hoa. Người dân ít nghe tiếng Quan thoại, họ sẽ rất sung sướng có được những cuốn sách dịch bằng ngôn ngữ thường ngày của họ một cách thanh nhã. Họ sẽ mua, sẽ đọc những cuốn sách đó. Trong số các thừa sai và viên chức của chúng ta, chúng ta có nhiều người có đủ khả năng để hoàn thành những sách dịch thanh nhã từ tiếng Quan thoại ra tiếng nói hàng ngày ».

Như vậy, cả chính phủ Pháp và Trương Vĩnh Ký đều tận dụng thời cơ để phổ biến chữ quốc ngữ. Chính quyền Pháp muốn « mượn tay » những công chức Pháp hóa để tách rời dân chúng khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc. Còn Trương Vĩnh Ký thì hoàn toàn tin vào chính sách khai hóa của nước Pháp. Và, theo ông, công cụ duy nhất để có thể đạt tới trình độ « Học thuật Châu Âu » là chữ quốc ngữ. Chính vì thế, ông tìm mọi cách để loại chữ viết La tinh này được phổ biến rộng rãi tới các tầng lớp dân chúng.

Từ khi chữ quốc ngữ trở thành văn tự chính thức tại Nam Kỳ vào năm 1882, ông chuyển ngữ ngay nền văn chương truyền khẩu bình dân, gồm những áng văn vần và chuyện dân gian rất được ưa chuộng, như : Phép lịch sự Annam (1881), Thơ dạy làm dâu (1882), Thơ mẹ dạy con (1882), Nữ tắc (1882), Thạnh suy bỉ thới phú (1883), Cờ bạc nha phiến (1884), Ngư tiều trường điệu (1884)… Trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã nhận định rất đúng khi viết : « Hồi đó, ông (Trương Vĩnh Ký) cần phải xuất bản như thế, cốt dùng những chuyện phổ thông làm cái lợi khí cho chữ quốc ngữ được lan rộng trong nhân gian… »

Tất cả đều được bán với giá rất hợp lý. Thường những tập dày 7 đến 10 trang, được bán với giá từ 35 đến 50 xu franc và từ 1 đến 2 franc đối với những tập dày trên hai mươi trang.

Viết văn

Thông qua những bản dịch, lần đầu tiên một loại hình văn học mới được đưa vào Việt Nam. Đó là văn xuôi, với nhiều thể loại khác nhau, như tiểu luận, kí sự hay tiểu thuyết. Tại thời kỳ đó, thể loại này còn chưa được ưa chuộng và không được coi là « văn học », vì người ta cho rằng văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ ngang như lời nói. Công bằng mà nói, lời nhận xét khá đúng, vì ngôn từ và cách hành văn trong các tác phẩm thời đó thiếu trau chuốt và tự nhiên như văn của thế hệ sau này.

Bài văn xuôi đầu tiên do Trương Vĩnh Ký biên soạn, dài khoảng bẩy trang, xuất hiện trên tờ Gia-định báo vào năm 1863, dưới tựa đề Ghi về vương quốc Khơ Me (1863). Phải chờ tới năm 1881, Trương Vĩnh Ký viết một tập bút kí khác, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876), công phu hơn và trau chuốt hơn. Tuy nhiên, ông phải mượn rất nhiều từ Hán để có thể miêu tả tỉ mỉ chuyến đi này. Không bàn tới mục đích của chuyến công du Bắc Kỳ của Trương Vĩnh Ký, ở đây chúng ta chỉ quan tâm sau chuyến đi này, ông viết một bản hồi kí ghi lại những kỉ niệm, những điều « mắt thấy tai nghe », vị trí địa lý, lịch sử, những phong tục tập quán của những địa phương nơi ông đi qua.

Ví dụ văn phong trong một đoạn miêu tả « Chợ » ở Bắc Kỳ : « Chợ-búa nội cả tỉnh cũng nhiều lắm. Mà chợ lớn có tiếng và đủ đồ hơn hết tại Bắc-kỳ, thì là những chợ kể trong câu ví nầy : Xứ Nam là chợ Bằng Vồi ; xứ bắc Giâu, Khám, xứ đoài Xuân Canh ; nghĩa là tỉnh Hà-nội, Hưng-yên, Ninh-bình, Nam-định là phía nam, thì có chợ Bằng, chợ Vồi có tiếng hơn hết. Còn bắc là Bắc-ninh, thì có chợ Giâu, chợ Khám ; xứ đoài là trên Sơn-tây thì là chợ Thâm-xuân-canh ».

Một nhà nghiên cứu nhận xét đây là « một trong vài tác phẩm viết bằng chữ quốc ngữ sớm nhất của thế kỷ XIX, Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi để lại nhiều dấu ấn ngôn ngữ với những phương ngữ, tiếng Việt cổ có giá trị về mặt ngôn ngữ. Câu văn khúc chiết, sinh động chứng tỏ năng lực viết văn xuôi quốc ngữ của tác giả trong buổi sơ khai của loại chữ mới mẻ này ».

Tới năm 1918, quốc ngữ trở thành chữ viết bắt buộc tại Bắc Kỳ. Từ giai đoạn này trở đi, các nhà trí thức trẻ không ngừng trau dồi, phát triển và phổ biến nền văn học hiện đại Việt Nam. Năm 1954, quốc ngữ trở thành chữ chính thức của các cơ quan hành chính Việt Nam. Điều này đã khẳng định tiên đoán cũng như mong muốn của Trương Vĩnh Ký vào năm 1876 : « Chữ quốc ngữ phải trở thành chữ viết của nước nhà ».

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150327-truong-vinh-ky-vn/

TRỌNG THÀNH /RFI : VÍ – GIẶM xứ Nghệ được UNESCO vinh danh , chương trình phát thanh ngày 3.12.2014, Paris


TẠP CHÍ XÃ HỘI

Ví-Giặm xứ Nghệ được UNESCO vinh danh

Phát ngày Thứ tư, ngày 03 tháng mười hai năm 2014
Ví-Giặm xứ Nghệ được UNESCO vinh danh
 

Ví-Giặm : hai dân ca ở Nghệ An và Hà Tĩnh – DR

Trọng Thành/RFI

Tối 27/11/2014, trong cuộc họp tại Paris, Pháp, Ủy ban UNESCO đã chính thức công nhận dân ca Ví – Giặm xứ Nghệ là “di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”, cùng với 34 di sản khác của thế giới. Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế nông nghiệp truyền thống – môi trường làm nên sức sống của Ví-Giặm cổ truyền -, ngày càng mai một, nếu không muốn nói là gần như biến mất ở nhiều nơi, hai loại hình dân ca xứ Nghệ đã tìm thấy đất sống trong các sinh hoạt cộng đồng mới. 

Ví-Giặm là di sản văn hóa phi vật thể thứ 9 của Việt Nam được vinh danh, tiếp theo Đờn ca tài tử, Tục thờ Hùng vương Phú Thọ, Hát Xoan Phú Thọ, Hội Gióng Hà Nội, Ca trù, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Nhã nhạc cung đình Huế và Cồng chiêng Tây Nguyên.

Ví-Giặm là hai lối hát dân dã không nhạc đệm được các cộng đồng dân cư ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo và truyền thụ trong các hoạt động sản xuất và sinh hoạt truyền thống. Tên gọi của các làn điệu Ví-Giặm cổ truyền gắn với các hoạt động như : ví phường vải, phường võng, phường nón, phường củi, ví trèo non, ví đò đưa, ví ghẹo, ví mục đồng, giặm ru, giặm kể, giặm xẩm… Hai lối hát nói trên tuy có một số đặc điểm khác nhau, nhưng do từ một số thập niên gần đây thường xuyên được hát đan xen với nhau, nên cũng thường được ghép chung với tên gọi dân ca Ví-Giặm hay Ví-Dặm.

Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế nông nghiệp truyền thống ngày càng mai một, môi trường làm nên sức sống của Ví-Giặm cổ truyền, với các thể thức và quy cách, trước đây bị thu hẹp hết sức rõ rệt, nếu không muốn nói là gần như biến mất, hai loại hình dân ca xứ Nghệ đã tìm thấy đất sống trong các sinh hoạt cộng đồng mới, đặc biệt là các câu lạc bộ, các nhóm nghiệp dư, không nhiều thì ít thường được chính quyền khuyến khích.

Giống như đa số các loại hình dân ca cổ truyền, trừ ca trù trong một thời gian dài, Ví-Giặm được chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sau này khuyến khích phát triển, các làn điệu dân ca Ví-Giặm được giới nghệ sĩ khai thác để phát triển nhiều sáng tác âm nhạc mới mang hơi thở dân ca, chinh phục được trái tim của đông đảo công chúng, trước hết là người dân xứ Nghệ.

Lời ca Ví-Giặm nhìn chung thường dễ hiểu, các làn điệu thường đơn giản, được đông đảo người dân thuộc các lứa tuổi thưởng thức và ứng tác. Khác với Ví-Giặm cổ truyền, ngày càng có nhiều người hát dân ca với sự hỗ trợ của nhạc đệm truyền thống hay hiện đại. Ví-Giặm dưới hai hình thức, cổ truyền và cải biên, được thực hành tại 75 nhóm dân ca, với khoảng 1.500 thành viên, trong đó có hơn 800 nghệ nhân, theo một cuộc điều tra vào năm 2012. Tuy nhiên, số người ít nhiều có hát Ví-Giặm ắt hẳn nhiều hơn con số chính thức nói trên.

Nhân dịp Ví-Giặm xứ Nghệ được UNESCO vinh danh, nhận lời mời của Tạp chí Xã hội của RFI, Giáo sư Dân tộc nhạc học Trần Quang Hải (Paris), cùng Nhạc sĩ Thanh Lưu và Nghệ nhân Phan Thế Phiệt (Nghệ An) có đôi lời chia sẻ với quý vị thính giả về những cảm nghĩ riêng trước sự kiện này, cũng như một số hiểu biết căn bản về các di sản văn hóa của một vùng đất có một vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam và văn hóa Việt Nam.

Trước hết mới quý vị nghe chia sẻ của Giáo sư Trần Quang Hải, người từng tham gia hỗ trợ hồ sơ Ví-Giặm xứ Nghệ trình UNESCO.

10346515_1017501751609019_5913487171622731672_n.jpg bis

Giáo sư Trần Quang Hải

Tôi có dịp đi về Việt Nam hai năm liên tiếp, tham gia vào chuẩn bị hồ sơ của hát ví dặm Nghệ Tĩnh. Tôi thấy rằng, có sự chuẩn bị rất chu đáo. Có sự đóng góp của tất cả những câu lạc bộ của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Đồng thời Gs Nguyễn Chí Bền dầy công thu góp tất cả những tài liệu lại và làm đúng theo tôn chỉ của UNESCO. Thành ra họ thấy rằng sức sống của hát Ví-Giặm đã được hồi sinh và hy vọng rằng trong tương lai sẽ được tiếp nối và sẽ được quảng bá rộng rãi hơn.”

Giáo sư Trần Quang Hải (Paris) 07/12/2014 nghe

Từ xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, nghệ nhân Phan Tất Thành, một người gắn bó từ hàng chục năm nay với dân ca xứ Nghệ cho biết cảm tưởng của ông trước sự kiện này.

phan thế phiệt nghệ nhân ví giặm

Nghệ nhân Phan Thế Phiệt

Nghệ nhân Phan Thế Phiệt (Nghệ An) 03/12/2014 nghe

Ví là gì ? Giặm là gì ?

Nhạc sĩ Thanh Lưu, nguyên Trưởng đoàn Dân ca Nghệ An, người dầy công sưu tầm dân ca xứ Nghệ và được coi là một “người đặt nền móng cho kịch hát dân ca xứ Nghệ” nhận xét về tính phổ cập của Ví-Giặm (so sánh Ví-Giặm với Quan họ Bắc Ninh của ông có thể gây bàn thảo – ndr).

Ví-Giặm nó có tính phổ cập. Như Quan họ chẳng hạn chỉ có 49 làng Quan họ, và trong những làng ấy, chỉ có một số liền anh, liền chị hát. Và người ta cũng chủ yếu hát ở Hội Lim thôi. Còn Ví-Giặm là hát ở tất cả mọi không gian, mọi thời gian, và già trẻ, trai gái ai cũng có thể hát được. Cái nữa là ta thấy Ví-Giặm có tính biểu cảm đa dùng, tức là một điều Ví-Giặm chẳng hạn chuyển tải được rất nhiều sắc thái tình cảm. Đề cập tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống”.

Nhạc sĩ Thanh Lưu giúp chúng ta phân biệt Ví và Giặm khác nhau như thế nào, và đặc trưng của các làn điệu Ví-Giặm, qua một số giải thích và minh họa. 

nsutThanhLuu

Nhạc sĩ Thanh Lưu

Nhạc sĩ Thanh Lưu (Vinh) 07/12/2014 nghe

Nghệ nhân Phan Tất Thành cho biết thêm về giai đoạn những năm 1970-1980, trong thời gian hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tạm thời sát nhập làm một, nhiều hoạt động truyền bá phát triển, khiến trong một thời gian rất ngắn hát Giặm vốn chỉ phổ biến ở Hà Tĩnh có cơ hội phổ biến mạnh sang Nghệ An.

Từ thời các nhà nho đến dân ca “câu lạc bộ”

Ví-Giặm là sản phẩm của một vùng đất nơi sinh ra nhiều danh nhân thời văn minh Nho giáo. Theo cố Giáo sư Ninh Viết Giao (xem bài “Về ba loại hình dân ca Hò, Ví, Giặm“), người đã dành cả cuộc đời để sưu tầm dân ca xứ Nghệ, trong đó đặc biệt phải kể đến hát ví phường vải, được coi là một đỉnh cao của dân ca Ví một thời. Theo ông, thi hào Nguyễn Du, nhà thơ Nguyễn Huy Tự, ông hoàng ca trù Nguyễn Công Trứ, chí sĩ Phan Bội Châu đã từng “tắm gội” trong nền dân ca quê nhà. “Phải nói hát ví, hát giặm có giá trị như thế nào mời hấp dẫn, mới lôi cuốn các danh sĩ, chí sĩ, nho sĩ tham gia” để rồi “thầm lặng giúp đỡ họ” “sáng tạo nên những tác phẩm bất hủ”. Dòng sông lịch sử không ngừng chuyển động. Ví-Giặm ngày nay có còn giữ được như xưa ? Nhạc sĩ Thanh Lưu kể lại trải nghiệm của ông về những việc đã làm để chuyển giao Ví-Giặm cho thế hệ trẻ :

Trong cuộc hát phường vải, có người ‘bẻ’, có người hỏi, có người đáp, và trong đó có thể có những nhà nho có tên tuổi. Những trí giả này đặt ra những câu đối, câu đáp mang tính rất thâm thúy, làm cho tính bác học trong Ví-Giặm cũng rất sâu sắc. Bây giờ thì khác, môi trường không như ngày xưa nữa. Bây giờ có ai đi quay xa, dệt vải, ai đi tuốt lúa, bây giờ máy móc cả rồi. Mà chúng tôi muốn làm thế nào để bảo tồn cái đó, thì một mặt mình phải đi sưu tập ở các làng quê, rồi các cụ nghệ nhân hát cho mình ghi lại, phục chế lại những cảnh đó thôi, chứ còn những cảnh tự nhiên như ngày xưa bây giờ là không có. Nhưng còn một hình thức khác, đó là các câu lạc bộ phường xã, câu lạc bộ hát dân ca, người ta sử dụng những bài bản cũ. Mặt khác nữa, để phản ánh được hiện thực mới, thì người ta lại lấy cái làn điệu cũ, biên soạn nội dung mới vào, để phản ánh cuộc sống đương đại. Cái hình thức câu lạc bộ không chỉ hát trong thôn xóm, mà cứ định kỳ như thế, có các cuộc liên hoan cấp cơ sở, từ phường xã cho đến cấp tỉnh. Như thế, các câu lạc bộ ở các phường xã cũng đua nhau tham gia các hội diễn, các cuộc liên hoan ấy…. Rồi ở trong trường học chúng tôi cũng phổ cập cho học sinh phổ thông, tập huấn cho tất cả các giáo viên phổ thông trong toàn tỉnh. Song đó rồi, các nhà giáo lại phổ biến cho học sinh của mình trong toàn tỉnh, rồi định kỳ tổ chức cuộc thi cho toàn trường…. Rồi chúng tôi dạy trên sóng phát thanh truyền hình. Rồi còn có việc in các tập nhạc dân ca, in các băng đĩa để trao truyền. Đấy là tôi không nói chuyện sâu khấu hóa. Sân khấu hóa là một chuyện khác”.

Ví là ngâm vịnh, ví von, nhưng đồng thời trong các sinh hoạt cổ truyền Ví cũng là lối hát dân ca hướng đến sự giao hòa : Ví là Với, bên nam hát cùng bên nữ. Hát Ví còn có nghĩa là hát Vói, một bên ở đường, ngoài ngõ “hát vói” vào sân, người ở ruộng này “hát vói” sang ruộng kia, người đi đường “hát vói” với người dưới ruộng… Vói là dùng lời hát để giao tiếp trong một không gian rộng. Giáo sư Trần Quang Hải quan sát thấy một hiện tượng mới trong thực hành hát Ví-Giặm hiện nay :

Tôi có dịp đi xem, thì thấy có những lớp giảng dạy, khuyến khích tất cả những em tập ra những màn hát đối đáp, những người trẻ hai mấy ba chục tuổi, đối lại với bên kia cũng mười mấy hai chục tuổi. Tập họ như thế, rồi họ tự nhiên thấy chuyện đó nó đặc biệt hơn, rồi nó linh động hơn là hát tân nhạc. Thì theo tôi nghĩ đó là một trong những khía cạnh có thể duy trì được truyền thống hát Ví-Giặm ở tại hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.”

Ví-Giặm cũng thể hiện được những kịch tính ghê gớm

Về phần mình, Nghệ nhân Phan Thế Phiệt nhấn mạnh đến sự thu hẹp của không gian dân ca cổ truyền, đổi lại là ảnh hưởng gia tăng của dân ca sân khấu hóa :

Cái không gian Ví-Giặm giao lưu bây giờ có thu hẹp lại. Và bây giờ rầm rộ hơn cả là biểu diễn. Biểu diễn sân khấu làng nào thôn nào cũng có. Nó cũng là một cách đưa đời sống vào dân ca Ví-Giặm…. Theo tôi nghĩ đó cũng là thích hợp, chứ không thể giữ nguyên xi được như hồi trước được đâu.

Trước kia, hát là trao đổi nghề nghiệp tâm tình thế thôi. Nhưng bây giờ, dân ca Nghệ An được lên sân khấu, nó có sức truyền tải, nó (trở thành) có sức chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong xã hội, ví dụ như những ‘tệ nạn xã hội’, như nghiện hút, tham ô, lợi dụng chức quyền, cuộc đấu tranh nẩy lửa giữa cái thiện, cái ác. Dân ca Nghệ Tĩnh vẫn có được những làn điệu, sử dụng được để thể hiện những cung bậc tình cảm như thế. Ví dụ thì có nhiều, như vở ‘Cô gái sông Lam’ (tác phẩm chèo do Nguyễn Trung Phong sáng tác, được chuyển thể sang Ví-Giặm). Nó là vở diễn sân khấu dài hơi, rất phức tạp, kịch tính ghê gớm, nhưng sang dân ca Nghệ Tĩnh vẫn có sức thể hiện được một cuộc đấu tranh giữa cường quyền áp bức, giữa đế quốc, phong kiến, và hoạt động cách mạng rất cam go. Thế mà vẫn truyền tải được”.

RFI : Thưa ông, đấy là chuyện của thời cách đây đã hơn nửa thế kỷ. Còn về những nội dung mà ông nói nhưng gần đây hơn thì có không ?

Gần đây thì rất nhiều… Các tệ nạn ma túy, mãi dâm nó đều thể hiện được cả. Rồi cuộc đấu tranh trong bà con thôn xóm để đi lên xây dựng ‘Nông thôn mới’. Cuộc đấu tranh ngay từ trong gia đình, trong cộng đồng. Xây dựng Nông thôn mới có việc hiến đất cũng rất là cam go…. là xương máu của bà con từ bao đời để lại, bây giờ lại hiến đất cho xã, để mở đường cho rộng, cho làng xóm khang trang. Đó cũng là cuộc đấu tranh rất là nan giải đối với người nông dân. Dân ca Nghệ Tĩnh vẫn cứ lên sân khấu, có rất nhiều vở lên sâu khấu. Gia đình có vở ‘Gian nan một lời hứa’, về chống ma túy có ‘Khoảnh khắc của một đời’, rồi lên án chất độc da cam, có vở  ‘Nhân chứng sống’…”

« Giận mà thương » : khi sáng tác hóa thành di sản

Một số những nhạc sĩ trong một thời gian nào đó đã đi vào nghiên cứu và thấy có những làn điệu. Thí dụ như có bài nổi tiếng bây giờ ai cũng hát. ‘Giận mà thương’’ trở thành làn điệu được hát nhiều. Ngoài ra những lời mới dựa trên cái làn điệu đó được phổ biến khắp nơi rồi. Tôi đã nghe được gần như mười mấy bài tương tự. Nghe lên, mình có thể biết được, định rõ được đó là giai điệu ấy...”

Vừa rồi là nhận xét của Giáo sư Trần Quang Hải về làn điệu « Giận mà thương », một trong những làn điệu phổ biến nhất của dân ca Ví-Giặm, không chỉ trong xứ Nghệ, mà trên toàn quốc. Trong thời gian gần đây, ngày càng phổ biến các thông tin về làn điệu vốn được coi là dân ca cổ truyền, thực ra do một nhà biên kịch, ông Nguyễn Trung Phong sáng tác – trên cơ sở cải biên các làn điệu Ví và Giặm cổ truyền -, trong vở kịch dân ca mang tên « Khi ban đội đi vắng » (năm 1967). « Giận mà thương » hay « Ví giận thương » sau này còn được nhiều nghệ sĩ lấy cảm hứng để sáng tác các ca khúc, như Đỗ Nhuận với bài « Trồng cây lại nhớ đến Người », sau khi lãnh đạo Việt Nam, ông Hồ Chí Minh qua đời, hay Đỗ Quý Doãn/ Trần Hoàn với bài « Giữa Mạc tư khoa nghe câu hò xứ Nghệ » (năm 1981).

Theo nhạc sĩ Thanh Lưu, « [C]ó thể nói dân ca Nghệ Tĩnh là loại hình dân ca có điệu thức đơn giản nhất », và việc tuân thủ một số nguyên tắc, trong đó có việc đưa các làn điệu mới vào kịch dân ca một cách từ từ, là một trong các bí quyết khiến Ví-Giặm có được một sức hấp dẫn qua thời gian (xem bài « Nhạc sỹ Thanh Lưu với các làn điệu cải biên», Trung tâm Bảo tồn phát triển dân ca xứ Nghệ). Tuy nhiên, liệu có phải tất cả những điệu thức cải biên theo hướng này có thể được coi là dân ca xứ Nghệ nữa hay không ? Đây là một câu hỏi hiện còn để ngỏ. Theo một số nhà quan sát, điệu « Tứ Hoa » do nghệ sĩ Đình Bảng sáng tác, chẳng hạn, rõ ràng mang đậm chất vọng cổ – cải lương hơn là dân ca xứ Nghệ.

Hai mặt của sự tôn vinh

Trong hơn nửa thế kỷ qua, dân ca Ví-Giặm Nghệ Tĩnh đã biến đổi rất nhiều. Có nhà nghiên cứu ghi nhận hai thay đổi rất lớn của hát Ví-Giặm, từ lối hát trao duyên trong các phường nghề chuyển sang lối hát chơi của các nghệ nhân, nghệ sĩ dân gian, rồi tiến đến sự hình thành của một sân khấu hay kịch dân ca Ví-Giặm (xin tham khảo bài nghiên cứu “Những bước chuyển đổi trong dân ca Ví-Dặm” của nhạc sĩ Đặng Hoành Loan). Trong bài viết trên, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan cảnh báo việc đẩy tính kịch trong sân khấu Ví-Dặm lên khiến “điệu hát Ví-Dặm sân khấu không còn giữ tính hồn nhiên trong ca hát, phóng khoáng trong lối chơi của dân ca Ví-Dặm“.

Tác động của sân khấu Ví-Giặm, cũng như các hình thức sinh hoạt Ví-Giặm mang tính Nhà nước – hoặc ít, hoặc nhiều – đến các sinh hoạt dân ca Ví-Giặm được lưu truyền trong cộng đồng như thế nào hiện là một thực tế còn ít được chú ý. Hiện tượng “Giận mà thương”, thường được xem như làn điệu cổ, nhưng thực ra là làn điệu cải biên (được đánh giá là rất thành công), mà gần đây được nói đến nhiều, chỉ là bề nổi của một hiện thực vô cùng phong phú.

Không ít người lo ngại, cũng như trong nhiều lĩnh vực văn hóa, tín ngưỡng khác tại Việt Nam, phong trào tôn vinh di sản dường như mang tính hai mặt. Một mặt, nó cho phép nâng niu trân trọng hơn đối với những gì có giá trị đích thực, nhưng mặt khác, nó cũng có thể dung dưỡng cho sự áp đặt một cách nhìn duy nhất đối với quá khứ, một xu hướng Nhà nước hóa văn nghệ, về lâu dài làm thui chột những sáng tạo đích thực.

Tạp chí Xã hội của RFI xin chân thành cảm ơn Giáo sư Trần Quang Hải, Nhạc sĩ Thanh Lưu và Nghệ nhân Phan Thế Phiệt.

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20141203-unesco-vinh-danh-vi-giam-xu-nghe/

Tin bài liên quan

Vua Tao Đàn Thanh Hải

Tinh túy nhạc cổ truyền Việt Nam tại Paris

Hội Về Nguồn đưa đờn ca tài tử đến Paris

‘‘Đờn ca tài tử’’ : Hồn cốt cổ truyền trước làn sóng hiện đại

TRỌNG THÀNH – phóng viên RFI : Ví-Giặm xứ Nghệ được UNESCO vinh danh, phát thanh ngày 3 tháng 12, 2014


TẠP CHÍ XÃ HỘI

Ví-Giặm xứ Nghệ được UNESCO vinh danh

 

Phát ngày Thứ tư, ngày 03 tháng mười hai năm 2014
Ví-Giặm xứ Nghệ được UNESCO vinh danh
 

Ví-Giặm : hai dân ca ở Nghệ An và Hà Tĩnh – DR

Trọng Thành/RFI

Tối 27/11/2014, trong cuộc họp tại Paris, Pháp, Ủy ban UNESCO đã chính thức công nhận dân ca Ví – Giặm xứ Nghệ là “di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”, cùng với 34 di sản khác của thế giới. Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế nông nghiệp truyền thống – môi trường làm nên sức sống của Ví-Giặm cổ truyền -, ngày càng mai một, nếu không muốn nói là gần như biến mất ở nhiều nơi, hai loại hình dân ca xứ Nghệ đã tìm thấy đất sống trong các sinh hoạt cộng đồng mới. 

Ví-Giặm là di sản văn hóa phi vật thể thứ 9 của Việt Nam được vinh danh, tiếp theo Đờn ca tài tử, Tục thờ Hùng vương Phú Thọ, Hát Xoan Phú Thọ, Hội Gióng Hà Nội, Ca trù, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Nhã nhạc cung đình Huế và Cồng chiêng Tây Nguyên.

Ví-Giặm là hai lối hát dân dã không nhạc đệm được các cộng đồng dân cư ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo và truyền thụ trong các hoạt động sản xuất và sinh hoạt truyền thống. Tên gọi của các làn điệu Ví-Giặm cổ truyền gắn với các hoạt động như : ví phường vải, phường võng, phường nón, phường củi, ví trèo non, ví đò đưa, ví ghẹo, ví mục đồng, giặm ru, giặm kể, giặm xẩm… Hai lối hát nói trên tuy có một số đặc điểm khác nhau, nhưng do từ một số thập niên gần đây thường xuyên được hát đan xen với nhau, nên cũng thường được ghép chung với tên gọi dân ca Ví-Giặm hay Ví-Dặm.

Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế nông nghiệp truyền thống ngày càng mai một, môi trường làm nên sức sống của Ví-Giặm cổ truyền, với các thể thức và quy cách, trước đây bị thu hẹp hết sức rõ rệt, nếu không muốn nói là gần như biến mất, hai loại hình dân ca xứ Nghệ đã tìm thấy đất sống trong các sinh hoạt cộng đồng mới, đặc biệt là các câu lạc bộ, các nhóm nghiệp dư, không nhiều thì ít thường được chính quyền khuyến khích.

Giống như đa số các loại hình dân ca cổ truyền, trừ ca trù trong một thời gian dài, Ví-Giặm được chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sau này khuyến khích phát triển, các làn điệu dân ca Ví-Giặm được giới nghệ sĩ khai thác để phát triển nhiều sáng tác âm nhạc mới mang hơi thở dân ca, chinh phục được trái tim của đông đảo công chúng, trước hết là người dân xứ Nghệ.

Lời ca Ví-Giặm nhìn chung thường dễ hiểu, các làn điệu thường đơn giản, được đông đảo người dân thuộc các lứa tuổi thưởng thức và ứng tác. Khác với Ví-Giặm cổ truyền, ngày càng có nhiều người hát dân ca với sự hỗ trợ của nhạc đệm truyền thống hay hiện đại. Ví-Giặm dưới hai hình thức, cổ truyền và cải biên, được thực hành tại 75 nhóm dân ca, với khoảng 1.500 thành viên, trong đó có hơn 800 nghệ nhân, theo một cuộc điều tra vào năm 2012. Tuy nhiên, số người ít nhiều có hát Ví-Giặm ắt hẳn nhiều hơn con số chính thức nói trên.

Nhân dịp Ví-Giặm xứ Nghệ được UNESCO vinh danh, nhận lời mời của Tạp chí Xã hội của RFI, Giáo sư Dân tộc nhạc học Trần Quang Hải (Paris), cùng Nhạc sĩ Thanh Lưu và Nghệ nhân Phan Thế Phiệt (Nghệ An) có đôi lời chia sẻ với quý vị thính giả về những cảm nghĩ riêng trước sự kiện này, cũng như một số hiểu biết căn bản về các di sản văn hóa của một vùng đất có một vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam và văn hóa Việt Nam.

Trước hết mới quý vị nghe chia sẻ của Giáo sư Trần Quang Hải, người từng tham gia hỗ trợ hồ sơ Ví-Giặm xứ Nghệ trình UNESCO.

cropped-tqh.jpg

GS Trần Quang Hải

Tôi có dịp đi về Việt Nam hai năm liên tiếp, tham gia vào chuẩn bị hồ sơ của hát ví dặm Nghệ Tĩnh. Tôi thấy rằng, có sự chuẩn bị rất chu đáo. Có sự đóng góp của tất cả những câu lạc bộ của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Đồng thời Gs Nguyễn Chí Bền dầy công thu góp tất cả những tài liệu lại và làm đúng theo tôn chỉ của UNESCO. Thành ra họ thấy rằng sức sống của hát Ví-Giặm đã được hồi sinh và hy vọng rằng trong tương lai sẽ được tiếp nối và sẽ được quảng bá rộng rãi hơn.”

Từ xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, nghệ nhân Phan Tất Thành, một người gắn bó từ hàng chục năm nay với dân ca xứ Nghệ cho biết cảm tưởng của ông trước sự kiện này.

Nghệ nhân Phan Thế Phiệt (Nghệ An) 03/12/2014 nghe

Ví là gì ? Giặm là gì ?

phan thế phiệt nghệ nhân ví giặm

Nghệ nhân Phan Thế Phiệt

Nhạc sĩ Thanh Lưu, nguyên Trưởng đoàn Dân ca Nghệ An, người dầy công sưu tầm dân ca xứ Nghệ và được coi là một “người đặt nền móng cho kịch hát dân ca xứ Nghệ” nhận xét về tính phổ cập của Ví-Giặm (so sánh Ví-Giặm với Quan họ Bắc Ninh của ông có thể gây bàn thảo – ndr).

nsutThanhLuu

Nhạc sĩ Thanh Lưu

Ví-Giặm nó có tính phổ cập. Như Quan họ chẳng hạn chỉ có 49 làng Quan họ, và trong những làng ấy, chỉ có một số liền anh, liền chị hát. Và người ta cũng chủ yếu hát ở Hội Lim thôi. Còn Ví-Giặm là hát ở tất cả mọi không gian, mọi thời gian, và già trẻ, trai gái ai cũng có thể hát được. Cái nữa là ta thấy Ví-Giặm có tính biểu cảm đa dùng, tức là một điều Ví-Giặm chẳng hạn chuyển tải được rất nhiều sắc thái tình cảm. Đề cập tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống”.

Nhạc sĩ Thanh Lưu giúp chúng ta phân biệt Ví và Giặm khác nhau như thế nào, và đặc trưng của các làn điệu Ví-Giặm, qua một số giải thích và minh họa. 

Nhạc sĩ Thanh Lưu (Vinh) 03/12/2014 nghe

Nghệ nhân Phan Tất Thành cho biết thêm về giai đoạn những năm 1970-1980, trong thời gian hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tạm thời sát nhập làm một, nhiều hoạt động truyền bá phát triển, khiến trong một thời gian rất ngắn hát Giặm vốn chỉ phổ biến ở Hà Tĩnh có cơ hội phổ biến mạnh sang Nghệ An.

Từ thời các nhà nho đến dân ca “câu lạc bộ”

Ví-Giặm là sản phẩm của một vùng đất nơi sinh ra nhiều danh nhân thời văn minh Nho giáo. Theo cố Giáo sư Ninh Viết Giao (xem bài “Về ba loại hình dân ca Hò, Ví, Giặm“), người đã dành cả cuộc đời để sưu tầm dân ca xứ Nghệ, trong đó đặc biệt phải kể đến hát ví phường vải, được coi là một đỉnh cao của dân ca Ví một thời. Theo ông, thi hào Nguyễn Du, nhà thơ Nguyễn Huy Tự, ông hoàng ca trù Nguyễn Công Trứ, chí sĩ Phan Bội Châu đã từng “tắm gội” trong nền dân ca quê nhà. “Phải nói hát ví, hát giặm có giá trị như thế nào mời hấp dẫn, mới lôi cuốn các danh sĩ, chí sĩ, nho sĩ tham gia” để rồi “thầm lặng giúp đỡ họ” “sáng tạo nên những tác phẩm bất hủ”. Dòng sông lịch sử không ngừng chuyển động. Ví-Giặm ngày nay có còn giữ được như xưa ? Nhạc sĩ Thanh Lưu kể lại trải nghiệm của ông về những việc đã làm để chuyển giao Ví-Giặm cho thế hệ trẻ :

Trong cuộc hát phường vải, có người ‘bẻ’, có người hỏi, có người đáp, và trong đó có thể có những nhà nho có tên tuổi. Những trí giả này đặt ra những câu đối, câu đáp mang tính rất thâm thúy, làm cho tính bác học trong Ví-Giặm cũng rất sâu sắc. Bây giờ thì khác, môi trường không như ngày xưa nữa. Bây giờ có ai đi quay xa, dệt vải, ai đi tuốt lúa, bây giờ máy móc cả rồi. Mà chúng tôi muốn làm thế nào để bảo tồn cái đó, thì một mặt mình phải đi sưu tập ở các làng quê, rồi các cụ nghệ nhân hát cho mình ghi lại, phục chế lại những cảnh đó thôi, chứ còn những cảnh tự nhiên như ngày xưa bây giờ là không có. Nhưng còn một hình thức khác, đó là các câu lạc bộ phường xã, câu lạc bộ hát dân ca, người ta sử dụng những bài bản cũ. Mặt khác nữa, để phản ánh được hiện thực mới, thì người ta lại lấy cái làn điệu cũ, biên soạn nội dung mới vào, để phản ánh cuộc sống đương đại. Cái hình thức câu lạc bộ không chỉ hát trong thôn xóm, mà cứ định kỳ như thế, có các cuộc liên hoan cấp cơ sở, từ phường xã cho đến cấp tỉnh. Như thế, các câu lạc bộ ở các phường xã cũng đua nhau tham gia các hội diễn, các cuộc liên hoan ấy…. Rồi ở trong trường học chúng tôi cũng phổ cập cho học sinh phổ thông, tập huấn cho tất cả các giáo viên phổ thông trong toàn tỉnh. Song đó rồi, các nhà giáo lại phổ biến cho học sinh của mình trong toàn tỉnh, rồi định kỳ tổ chức cuộc thi cho toàn trường…. Rồi chúng tôi dạy trên sóng phát thanh truyền hình. Rồi còn có việc in các tập nhạc dân ca, in các băng đĩa để trao truyền. Đấy là tôi không nói chuyện sâu khấu hóa. Sân khấu hóa là một chuyện khác”.

Ví là ngâm vịnh, ví von, nhưng đồng thời trong các sinh hoạt cổ truyền Ví cũng là lối hát dân ca hướng đến sự giao hòa : Ví là Với, bên nam hát cùng bên nữ. Hát Ví còn có nghĩa là hát Vói, một bên ở đường, ngoài ngõ “hát vói” vào sân, người ở ruộng này “hát vói” sang ruộng kia, người đi đường “hát vói” với người dưới ruộng… Vói là dùng lời hát để giao tiếp trong một không gian rộng. Giáo sư Trần Quang Hải quan sát thấy một hiện tượng mới trong thực hành hát Ví-Giặm hiện nay :

Tôi có dịp đi xem, thì thấy có những lớp giảng dạy, khuyến khích tất cả những em tập ra những màn hát đối đáp, những người trẻ hai mấy ba chục tuổi, đối lại với bên kia cũng mười mấy hai chục tuổi. Tập họ như thế, rồi họ tự nhiên thấy chuyện đó nó đặc biệt hơn, rồi nó linh động hơn là hát tân nhạc. Thì theo tôi nghĩ đó là một trong những khía cạnh có thể duy trì được truyền thống hát Ví-Giặm ở tại hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.”

Ví-Giặm cũng thể hiện được những kịch tính ghê gớm

Về phần mình, Nghệ nhân Phan Thế Phiệt nhấn mạnh đến sự thu hẹp của không gian dân ca cổ truyền, đổi lại là ảnh hưởng gia tăng của dân ca sân khấu hóa :

Cái không gian Ví-Giặm giao lưu bây giờ có thu hẹp lại. Và bây giờ rầm rộ hơn cả là biểu diễn. Biểu diễn sân khấu làng nào thôn nào cũng có. Nó cũng là một cách đưa đời sống vào dân ca Ví-Giặm…. Theo tôi nghĩ đó cũng là thích hợp, chứ không thể giữ nguyên xi được như hồi trước được đâu.

Trước kia, hát là trao đổi nghề nghiệp tâm tình thế thôi. Nhưng bây giờ, dân ca Nghệ An được lên sân khấu, nó có sức truyền tải, nó (trở thành) có sức chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong xã hội, ví dụ như những ‘tệ nạn xã hội’, như nghiện hút, tham ô, lợi dụng chức quyền, cuộc đấu tranh nẩy lửa giữa cái thiện, cái ác. Dân ca Nghệ Tĩnh vẫn có được những làn điệu, sử dụng được để thể hiện những cung bậc tình cảm như thế. Ví dụ thì có nhiều, như vở ‘Cô gái sông Lam’ (tác phẩm chèo do Nguyễn Trung Phong sáng tác, được chuyển thể sang Ví-Giặm). Nó là vở diễn sân khấu dài hơi, rất phức tạp, kịch tính ghê gớm, nhưng sang dân ca Nghệ Tĩnh vẫn có sức thể hiện được một cuộc đấu tranh giữa cường quyền áp bức, giữa đế quốc, phong kiến, và hoạt động cách mạng rất cam go. Thế mà vẫn truyền tải được”.

RFI : Thưa ông, đấy là chuyện của thời cách đây đã hơn nửa thế kỷ. Còn về những nội dung mà ông nói nhưng gần đây hơn thì có không ?

Gần đây thì rất nhiều… Các tệ nạn ma túy, mãi dâm nó đều thể hiện được cả. Rồi cuộc đấu tranh trong bà con thôn xóm để đi lên xây dựng ‘Nông thôn mới’. Cuộc đấu tranh ngay từ trong gia đình, trong cộng đồng. Xây dựng Nông thôn mới có việc hiến đất cũng rất là cam go…. là xương máu của bà con từ bao đời để lại, bây giờ lại hiến đất cho xã, để mở đường cho rộng, cho làng xóm khang trang. Đó cũng là cuộc đấu tranh rất là nan giải đối với người nông dân. Dân ca Nghệ Tĩnh vẫn cứ lên sân khấu, có rất nhiều vở lên sâu khấu. Gia đình có vở ‘Gian nan một lời hứa’, về chống ma túy có ‘Khoảnh khắc của một đời’, rồi lên án chất độc da cam, có vở  ‘Nhân chứng sống’…”

« Giận mà thương » : khi sáng tác hóa thành di sản

Một số những nhạc sĩ trong một thời gian nào đó đã đi vào nghiên cứu và thấy có những làn điệu. Thí dụ như có bài nổi tiếng bây giờ ai cũng hát. ‘Giận mà thương’’ trở thành làn điệu được hát nhiều. Ngoài ra những lời mới dựa trên cái làn điệu đó được phổ biến khắp nơi rồi. Tôi đã nghe được gần như mười mấy bài tương tự. Nghe lên, mình có thể biết được, định rõ được đó là giai điệu ấy...”

Vừa rồi là nhận xét của Giáo sư Trần Quang Hải về làn điệu « Giận mà thương », một trong những làn điệu phổ biến nhất của dân ca Ví-Giặm, không chỉ trong xứ Nghệ, mà trên toàn quốc. Trong thời gian gần đây, ngày càng phổ biến các thông tin về làn điệu vốn được coi là dân ca cổ truyền, thực ra do một nhà biên kịch, ông Nguyễn Trung Phong sáng tác – trên cơ sở cải biên các làn điệu Ví và Giặm cổ truyền -, trong vở kịch dân ca mang tên « Khi ban đội đi vắng » (năm 1967). « Giận mà thương » hay « Ví giận thương » sau này còn được nhiều nghệ sĩ lấy cảm hứng để sáng tác các ca khúc, như Đỗ Nhuận với bài « Trồng cây lại nhớ đến Người », sau khi lãnh đạo Việt Nam, ông Hồ Chí Minh qua đời, hay Đỗ Quý Doãn/ Trần Hoàn với bài « Giữa Mạc tư khoa nghe câu hò xứ Nghệ » (năm 1981).

Hai mặt của sự tôn vinh

Trong hơn nửa thế kỷ qua, dân ca Ví-Giặm Nghệ Tĩnh đã biến đổi rất nhiều. Có nhà nghiên cứu ghi nhận hai thay đổi rất lớn của hát Ví-Giặm, từ lối hát trao duyên trong các phường nghề chuyển sang lối hát chơi của các nghệ nhân, nghệ sĩ dân gian, rồi tiến đến sự hình thành của một sân khấu hay kịch dân ca Ví-Giặm (xin tham khảo bài nghiên cứu “Những bước chuyển đổi trong dân ca Ví-Dặm” của nhạc sĩ Đặng Hoành Loan). Trong bài viết trên, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan cảnh báo việc đẩy tính kịch trong sân khấu Ví-Dặm lên khiến “điệu hát Ví-Dặm sân khấu không còn giữ tính hồn nhiên trong ca hát, phóng khoáng trong lối chơi của dân ca Ví-Dặm“.

Tác động của sân khấu Ví-Giặm, cũng như các hình thức sinh hoạt Ví-Giặm mang tính Nhà nước – hoặc ít, hoặc nhiều – đến các sinh hoạt dân ca Ví-Giặm được lưu truyền trong cộng đồng như thế nào hiện là một thực tế còn ít được chú ý. Hiện tượng “Giận mà thương”, thường được xem như làn điệu cổ, nhưng thực ra là làn điệu cải biên (được đánh giá là rất thành công), mà gần đây được nói đến nhiều, chỉ là bề nổi của một hiện thực vô cùng phong phú.

Không ít người lo ngại, cũng như trong nhiều lĩnh vực văn hóa, tín ngưỡng khác tại Việt Nam, phong trào tôn vinh di sản dường như mang tính hai mặt. Một mặt, nó cho phép nâng niu trân trọng hơn đối với những gì có giá trị đích thực, nhưng mặt khác, nó cũng có thể dung dưỡng cho sự áp đặt một cách nhìn duy nhất đối với quá khứ, một xu hướng Nhà nước hóa văn nghệ, về lâu dài làm thui chột những sáng tạo đích thực.

Tạp chí Xã hội của RFI xin chân thành cảm ơn Giáo sư Trần Quang Hải, Nhạc sĩ Thanh Lưu và Nghệ nhân Phan Thế Phiệt

Tin bài liên quan

Vua Tao Đàn Thanh Hải

Tinh túy nhạc cổ truyền Việt Nam tại Paris

Hội Về Nguồn đưa đờn ca tài tử đến Paris

‘‘Đờn ca tài tử’’ : Hồn cốt cổ truyền trước làn sóng hiện đại

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20141203-unesco-vinh-danh-vi-giam-xu-nghe/

THANH PHƯƠNG RFI : Di sản văn hóa phi vật thể chưa được bảo tồn đúng đắn, phỏng vấn GS Trần Quang Hải, 10.06.2013


THỨ HAI 10 THÁNG SÁU 2013
Di sản văn hóa phi vật thể chưa được bảo tồn đúng đắn
Giáo sư Trần Quang Hải trong studio đài RFI ngày 31/05/2013.

Giáo sư Trần Quang Hải trong studio đài RFI ngày 31/05/2013.

RFI

Hát ví và hát giặm Nghệ Tĩnh đã được Việt Nam đề nghị với tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong danh sách của năm 2014. Trước khi từ Paris về Việt Nam để dự một hội thảo về hồ sơ hát ví và giặm Nghệ Tĩnh chuẩn bị cho hồ sơ nộp UNESCO, giáo sư Trần Quang Hải, nhà dân tộc nhạc học đã dành cho RFI Việt ngữ một cuộc phỏng vấn về nghệ thuật âm nhạc cổ truyền này, cũng như về việc bảo tồn những di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận.
 

THANH HÀ : Cuộc hội ngộ âm nhạc giữa hai nhạc sĩ Trần Quang Hải và Nguyễn Lê Tuyên


THỨ TƯ 06 THÁNG MƯỜI 2010
Cuộc hội ngộ âm nhạc giữa hai nhạc sĩ Trần Quang Hải và Nguyễn Lê Tuyên

Hai nhạc sĩ Trần Quang Hải và Nguyễn Lê Tuyên tại buổi diễn « Tam giác Âm nhạc Úc Pháp Việt ».

Photo: Thanh Hà

 

Kỹ thuật bồi âm của nhạc sĩ Trần Quang Hải tại Paris cộng với tiếng đàn guitare song âm được nhạc sĩ Nguyễn Lê Tuyên mang từ Úc châu đến đã mang đến khung cảnh núi rừng Tây Nguyên của Việt Nam trong khuôn khổ buổi biểu diễn mang tên « Tam giác Âm nhạc Úc Pháp Việt ».Hai ông đã phối hợp những âm giai, tiết tấu của âm nhạc Việt Nam cùng với văn phạm sáng tác của phương Tây để cho ra đời những nhạc khúc như « Giấc Mơ Tây Nguyên », « Tiếng gọi của Núi rừng »,. . .

Nhạc sĩ Trần Quang Hải và Nguyễn Lê Tuyên đã chọn Paris là địa điểm đầu tiên để giới thiệu một thể loại nhạc đương đại mà hai ông vừa phát minh từ một cuộc hội ngộ của phương pháp « đồng song thanh và đồng song âm họa ngắt– staccato harmonic duotone » từ cây đàn guitare.

Mở đầu chương trình, hai nhạc sĩ Việt Nam giới thiệu sáng tác mới của nhạc sĩ Nguyến Lê Tuyên « Giấc mơ Tây Nguyên », đưa khán giả đắm mình vào một vùng Tây Nguyên còn hoang dã, với tiếng gió rì rào, tiếng thú rừng.

Do là cuộc hội ngộ đầu tiên giữa hai phương pháp âm nhạc độc đáo, buổi trình diễn Tam giác Âm nhạc vừa qua tại Paris đã nhận được sự yểm trợ của Đại sứ Úc tại Pháp và của trường đại học New South Wells, Úc. Tên tuổi của nhạc sĩ Trần Quang Hải đã quá quen thuộc đối với đại đa số người Việt chúng ta, nên xin được giới thiệu qua về nhạc sĩ Nguyễn Lê Tuyên : ông hiện là giáo sư của một trường âm nhạc tại Sydney và cũng là người đã tình cờ phát minh ra phương pháp để có thể đánh cùng một dây đàn guitare nhưng phát ra hai âm nốt cùng một lúc. Phương pháp đó gọi là « đồng song âm họa ngắt”. Năm 2007, giáo sư Tuyên đã chính thức công bố kỹ thuật này và giới chuyên môn đánh giá rất cao đóng góp của nhạc sĩ người Úc gốc Việt này.

Trong buổi trình diễn vừa qua tại Paris, nhạc sĩ Nguyễn Lê Tuyên kể lại vì mất ngủ cho nên ông có thói quen gẩy đàn vào đêm khuya nhờ vậy mới phát hiện ra phương pháp đồng song âm. Về phần mình giáo sư Trần Quang Hài thì cũng đã đến với kỹ thuật đồng song thanh một cách hết sức tình cờ, cách đây nhiều chục năm khi ông bị kẹt xe trên đường phố Paris.

Ở hai phương trời khác biệt, nhạc sĩ Trần Quang Hải và Nguyễn Lê Tuyên cùng theo đuổi một con đường, họ cũng nghiên cứu về âm thanh học, về âm sắc … Mãi đến năm ngoái, lại do một sự tình cờ hai nhà nghiên cứu này mới gặp nhau. Từ cuộc hội ngộ âm nhạc đó đã nẩy sinh Tam giác Âm nhạc Úc, Pháp, Việt vừa qua.

Ngay sau buổi trình diễn, trả lời ban Việt ngữ RFI, nhạc sĩ Trần Quang Hải giới thiệu qua về buổi giao lưu giữa hai kỹ thuật « đồng song thanh và đồng song âm »

http://www.viet.rfi.fr/node/28445

TRỌNG THÀNH / RFI : Văn hóa cổ truyền : Làm sao đến được với công chúng ? (phỏng vấn GS Trần Quang Hải, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, nghệ nhân Nguyễn Thị Thềm, nghệ nhân anh Hai Hiển


 

Xuất bản ở RFI (http://www.viet.rfi.fr)


Văn hóa cổ truyền : Làm sao đến được với công chúng ?

By Trọng Thành

Đăng ngày 2013-03-06 03:00

Wed, 2013-03-06 02:00

1

 

Hiện tượng trình diễn đồng ca quan họ bị nhiều chỉ trích tại Việt Nam. Kỷ lục đồng ca với sự tham gia của hơn 3.500 người, tháng 2/2012, tại hội Lim, Bắc Ninh (DR)

Năm 2013 được chọn làm năm văn hóa Pháp – Việt. Trong năm này, sẽ có nhiều chương trình giới thiệu các hoạt động văn hóa nghệ thuật cổ truyền Việt Nam tại Pháp. Trong bối cảnh các di sản nghệ thuật cổ được tôn vinh, cùng lúc với các hoạt động biểu diễn nghệ thuật mang màu sắc cố truyền có xu hướng lan rộng, có nhiều câu hỏi đặt ra là : Nghệ thuật như thế nào xứng đáng được coi là bảo lưu di sản ?

Nên quảng bá các nghệ thuật truyền thống như thế nào với bạn bè quốc tế ? Và nếu có thể cách tân, thì cách tân như thế nào ?

Từ những năm gần đây, đặc biệt sau khi một số loại hình nghệ thuật cổ truyền Việt Nam như quan họ, nhã nhạc cung đình, cồng chiêng Tây Nguyên… được Unesco tôn vinh làm di sản phi vật thể của nhân loại, việc giới thiệu quảng bá với công chúng Pháp và công chúng phương Tây nói chung ngày càng được chú ý.

Tạp chí Cộng đồng của RFI tuần này đặc biệt giới thiệu với quý vị về văn hóa quan họ, như một ví dụ cho các cách nhìn khác nhau xung quanh vấn đề gìn giữ, phát huy và cách tân các di sản nghệ thuật cổ truyền. Quan họ là một di sản có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Việt Nam, nhất là tại xứ Kinh Bắc, và được Unesco thừa nhận là di sản nhân loại năm 2009, tiếp theo nhã nhạc cung đình Huế và không gian cồng chiêng Tây Nguyên.

Trước hết, mời quý vị theo dõi phần phỏng vấn với nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học Trần Quang Hải (Paris). Để quảng bá tốt các môn nghệ thuật cổ truyền Việt Nam, theo giáo sư Trần Quang Hải, cần phải giới thiệu những gì trung Image

RFI : Xin ông cho một số điều lưu ý để quảng bá tốt nghệ thuật cổ truyền Việt Nam ra bên ngoài.

Ông Trần Quang Hải : Điều thứ nhất là muốn đi quảng bá, thì phải tuyển lựa những nghệ nhân có trình độ cao, và làm đúng theo truyền thống. Đừng có nên, vì cái thị hiếu, muốn vui lòng người Âu Châu, mà pha trộn những khía cạnh gọi là « giao lưu văn hóa », thì sẽ đi đến chỗ làm cho người Pháp sẽ thất vọng. Tại vì, họ muốn tìm hiểu những cái gì gọi là nguyên xi và trung thực với truyền thống, hơn là để làm vui nhộn, theo những hình ảnh múa, theo kiểu vũ đạo, để đệm cho những bài hát.

Theo như tôi thấy, ở Việt Nam bây giờ, có xu hướng những bài hát dân gian, những bài hát dân tộc gọi là « canh tân hóa », thêm vào những tiết mục, thêm vào những điệu hòa âm, phối khí, vũ đạo đệm vào mất đi tính chất nguyên xi của một truyền thống nào đó. Thành ra cái đó rất uổng. Nếu chúng ta hiểu biết được cái đòi hỏi của người Tây phương, thì chúng ta sẽ làm những chương trình đúng theo tiêu chuẩn. Tại vì tôi thấy rằng, các xứ khác, giống như xứ Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc, khi họ đi sang Tây phương, họ trình diễn các tiết mục đúng theo truyền thống, chứ không phải có những màu sắc, màu mè, hay làm cho chương trình nó được hoành tráng.

Nghệ thuật của chúng ta không phải là nghệ thuật sử dụng đa âm, tức là polyphonie, hay là các điệu màu mè, mà chúng ta cần làm những loại nhạc đơn điệu, tức là monodie, chú trọng đặc biệt đến khía cạnh gọi là dịu dàng, tha thiết, và đặc biệt là lồng vào trong loại nhạc ngũ cung và những truyền thống mà chúng ta phải phát triển nhiều hơn.

RFI : Xin ông cho biết một thí dụ cụ thể.

Ông Trần Quang Hải : Ví dụ như trong điệu hát quan họ. Ở xứ Việt Nam, quan họ có ba loại. Thứ nhất là quan họ chay, tức là quan họ làng, hát ở trong làng và hát theo đúng truyền thống, có lễ kết nghĩa, tục ngủ bọn, và hát những kỹ thuật gọi là « vang, rền, nền, nảy ». Phải chú ý, phải học nhiều năm, chứ không phải học vài bài, theo như tôi được nghe ở xứ Việt Nam bây giờ. Thứ hai là có quan họ đoàn, tức là những bài dân ca quan họ, đã được đổi đi một chút, tức là theo điệu thanh nhạc. Cái đó có thể là mới mẻ đối với người Việt Nam. Cũng như hội Lim – một hội rất lớn về quan họ vào dịp Tết, nhưng có điều bây giờ ở Việt Nam lại đưa ra cách gọi là « hát du thuyền ». Tức là người quan họ, ngồi trên thuyền, dùng máy vi âm, hát to lên, rồi đi dọc theo bờ sông, rồi đưa cái nón lá ra, để hứng tiền người ta thảy vào trong đó. Cái đó là hình thức đi xin tiền, giống như hát xẩm ngày xưa, thì cái đó là đi sai đường lối. Hay là, hát thật nhiều giọng với nhau, thì hoàn toàn sai. Vì quan họ là chỉ hát, một cặp nữ đối với một cặp nam. Thành ra, vấn đề chúng ta phải phát triển là làm sao hát không có đệm nhạc, hát mà không có làm rùm beng, mà làm sao cho thấy cái kỹ thuật hát nó đi đến cái chỗ rất đặc biệt, mà bên Châu Âu này không có. Đó là cái mà tôi thấy rằng mình nên thận trọng khi đi biểu diễn ở xứ ngoài.

Cái vốn cổ phải giữ làm căn bản

Mình tự hào về cái vốn cổ của mình, thì mình phải làm sao giữ cho được đúng theo truyền thống, thì tôi thấy là hay nhất, chứ không có gì phải thay đổi hay biến chế, đặng cho nó hợp với thị hiếu của đại đa số quần chúng.

Cái vốn cổ của mình, mình giữ cái đó đi, làm căn bản. Ngoài ra, có những sự phát triển, thì mình để cho phát triển. Cái căn bản mình phải giữ hoài, thì từ đó nó mới đẻ ra nhiều chuyện khác nữa. Chứ bây giờ, mình lo mình phát triển mà quên đi cái nguồn gốc, cái vốn cổ, thì dần dần sẽ mất đi, sẽ không còn là vốn cổ nữa.

Tôi muốn lưu ý rằng, khi muốn đưa một đoàn hát, hay đoàn nghệ thuật sang ngoại quốc, thì chúng ta phải ý thức rằng, làm sao đưa nghệ nhân nào có trình độ cao, và hát đúng theo truyền thống, chứ đừng đưa những người trẻ đẹp, mặc quần áo cho thiệt đẹp, đi lên sân khấu để trình diễn. Đối với mình, cái vấn đề nghệ thuật là căn bản, chứ không phải là màu sắc. Làm sao những nghệ nhân (đi quảng bá) phải là những người có căn bản vững chắc, có thể, khi trình diễn ở hải ngoại, đáp ứng được những cái gì mà người Tây phương chờ đợi, tức là sự trung thực với truyền thống.

Di sản xưa và quan họ hôm nay

Ở trong nước, cũng cùng mối lo ngại với ông Trần Quang Hải, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền (trong bài phỏng vấn « Cần phục hồi nguyên gốc quan họ cổ [1] ») nhấn mạnh đến việc « di sản quan họ đã thực sự mai một từ những năm 60 của thế kỷ trước », mặc dù di sản này vừa được Unesco nhìn nhận. Theo ông Bùi Trọng Hiền, «Thực chất, giá trị của di sản còn lại (…) chỉ là làn điệu âm nhạc và kho tàng lời ca quan họ cổ, còn những phong tục tập quán, những sinh hoạt văn hóa bao chứa trong đó thì không còn nữa », ông khuyến cáo cần tìm cách phục hồi lại di sản này.

Bên cạnh đó cũng có quan điểm rất khác, như của nhà nghiên cứu Trần Minh Chính (trong bài phỏng vấn « Một ‘‘cuộc chiến’’ về văn hóa trong nội bộ vùng Quan họ [2] »), thì cho rằng : Cần phải thừa kế tối đa các tinh túy của di sản, nhưng điều cốt yếu nhất là tạo dựng được « nền văn hóa quan họ của ngày hôm nay ». Theo ông Trần Minh Chính, « con người quan họ, nhất là lớp trẻ, bắt đầu lúng túng với cảnh ‘‘bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước…’’ ».

Những nghệ nhân – người lưu truyền các « di sản sống » – suy nghĩ như thế nào về văn hóa quan họ ngày hôm nay ? Sau đây là một số chia sẻ của chị hai Thềm (Bắc Ninh), một nghệ nhân nổi tiếng xứ Kinh Bắc :

Image

Chị Hai Nguyễn Thị Thềm và GS Trần Quang Hải

Chị hai Thềm : Thật ra trong lối chơi quan họ, phải là những người nào rất tâm huyết mới theo được lối chơi này. Bởi vì, chơi quan họ ngày xưa, người ta ý tứ khiêm nhường, mà người ta lịch sự, tinh tế lắm. Ví dụ như, đi hát cả một buổi tối ở « nhà chứa », thì nam ngồi một bên, một bên nữ ngồi, cái ngọn đèn dầu ở giữa, thì có khi hát cả tối có khi không nhìn thấy mặt nhau. Đấy là những cái tinh tế và những cái rất là khác biệt với những loại hình ca hát khác. Ví dụ như ngày xưa, chơi thì đúng thực là chơi tàn canh, rạng sáng. Hát suốt đêm đến rạng sáng, rồi nghỉ, rồi lại hát tiếp. Nhưng mà đấy là theo như thời ngày xưa, còn theo như bây giờ, thì cũng không hát được như thế, vì xã hội bây giờ, cái công việc nó cũng không cho phép mình được chơi bời như thế. Ví dụ trong khuôn khổ hạn hẹp một đêm thôi. Ví dụ như ngày xưa các cụ chơi, các cụ giữ lề, giữ lối, các anh hai, chị hai, chơi với nhau gọi là tình tứ, tình cảm lắm, yêu vụng, nhớ thầm, chứ không như bây giờ, họ đi chơi bời với nhau, có khi đi tới hôn nhân, nhưng ngày xưa các cụ chơi kết chạ các cụ không như thế đâu.

Bây giờ, chúng tôi ở đây, cốt lõi là mình phải gìn giữ những gì cổ, nhưng đồng thời vẫn dạy cho các em những cái phát triển lên, là nó phải lồng nhạc vào, để nó biểu diễn trên sân khấu, ví dụ như ở trong tỉnh, mở những cái cuộc liên hoan tiếng hát của các em bé chẳng hạn, thì mình phải đưa lên sân khấu, mình phải lồng nhạc. Các em mà cho ngồi hát ê a, như tôi và các cụ, thì các em cũng chưa hát được. Cho nên bây giờ cũng khuyến khích các em phải học quan họ nhiều, thì mình phải có các bài hát của lứa tuổi thiếu nhi hoặc mình sáng tác thêm những lời mới, đưa các em để tham gia sân khấu biểu diễn liên hoan.

Còn đồng thời mình vẫn dạy thêm các em những cái gì của vốn liếng cổ của mình, mình vẫn cứ giữ.

Càng thêm bạn, càng muốn phát huy lối chơi cổ

Tiếp theo đây là tiếng nói của anh hai Hiển (Bắc Ninh), một liền anh được lớn lên trong một gia đình nhiều đời theo quan họ :

Anh hai Hiển : Tôi được đắm mình trong dòng sữa dân ca. Thứ nhất là tôi học lối chơi quan họ, sau là tôi học hát quan họ. Từ đó, tôi đã có sự tâm huyết rồi. Cứ mùa trảy hội, là tôi đi các làng tôi trảy hội, du xuân. Từ đó tôi được kết bạn rất nhiều, các quý vị từ các tỉnh, thành đến với tôi. Tôi có cảm nhận là cuộc đời tôi cứ mỗi năm tôi lại vui thêm lên, nhân rộng lên, do là tôi được đi ra ngoài, tôi biết ứng xử quan họ, tôi cũng biết cách hát quan họ với du khách. Từ đó du khách thân thiện với mình hơn. Cứ lệ làng là các du khách đều hứa hẹn, hẹn hò sẽ về quê hương của chúng tôi. Thứ nhất là để biết cảnh hội, thứ hai là để tìm hiểu cái nét văn hóa ẩm thực nơi đây.

Tôi cũng rất tự hào là xung quanh hàng xóm, hoặc dân làng cứ ca ngợi là tôi được đi ra ngoài lắm bạn bè về, cũng chẳng phải học cùng, chẳng phải họ hàng gì cả, mà cứ ngày hội là đông chật ních hết cả nhà. Nhưng mà người ta chỉ biết là tôi chơi rộng và quan hệ thôi, nhưng mọi người cũng chưa biết cái sâu sắc của người chơi quan họ như thế nào. Cứ một năm đi trẩy hội là tăng thêm bạn bè lên, rồi các du khách từ xa đến nhiều hơn, từ đó tôi nghĩ là mình càng phải phát huy, làm sao càng phải tìm hiểu, phát huy được cái lối chơi càng nhiều hơn nữa.

Vì đi ra ngoài, tôi ít gặp được các bậc tiền bối có cái lề lối chơi như ngày xưa. Bây giờ các bậc tiền bối hầu như đã mất rồi. Những bậc từ 80 trở lên còn rất ít. Được gặp thì tôi cũng hay hỏi, hay lân la tìm hiểu các cụ ngày xưa chơi quan họ như thế nào, những lời văn nào hay hay, thì mình lại tiếp thu. Tôi tâm huyết là giữ được những lời văn như thế, để truyền cho thế hệ sau. Người ta bảo là « ăn nửa miếng, cười nửa nụ, mà hụ cũng chỉ nửa chén thôi ». Bây giờ mà chúng tôi ra ngoài mà nghe được những câu như thế là hiếm lắm. Chúng tôi được nghe và chúng tôi rất thích những lời ấy, và chúng tôi lúc nào cũng để vào trong tâm đắc của chúng tôi. Chúng tôi ra ngoài thỉnh thoảng chúng tôi cũng dùng để chúng tôi nói chuyện, dãi bày các bạn bè. (…)

Dịch vụ quan họ thời hiện đại

Các tỉnh cũng có những ngày lễ, ngày hội, người ta nhờ về xây dựng cho một buổi tối vui liên hoan văn nghệ cho dân làng, hoặc chương trình chúc thọ, người ta cũng muốn nghe những làn điệu dân ca quan họ, rồi đám cưới, rồi tân gia, nhà mới, khách sạn… Nói chung họ đều sử dụng dòng nhạc dân ca này. Thì chúng tôi gặp chương trình nào, thì chúng tôi dàn dựng theo đề nghị của khách hàng.

RFI : Còn cái lối chơi quan họ, thì nó có thể hiện qua các chương trình này không ?

Anh hai Hiển : Không. Nếu lối chơi quan họ cổ mà mang ra các tỉnh bạn, thì họ không hiểu, họ chưa hiểu, thì mình cảm giác như là bị « cô đọng lại ». Cái lối chơi cổ tôi chỉ mong gìn giữ được ở vùng quê Kinh Bắc thôi. Thời hiện đại này, mình… những bài cổ thì họ có hiểu đâu, mà không hiểu, thì mình mang ra cũng bằng thừa thôi, cho nên nó khác nhau là như thế. Thời hiện đại mình chỉ mang những lời ca mới, cũng theo điệu quan họ, nhưng lời mới là nhiều.

Thật sự là thế này. Bây giờ là thời hiện đại, chúng tôi đi chơi xuân, « làm chương trình », chúng tôi cũng phải có chút hoa hồng mới làm được. Thứ hai là chúng tôi cũng phải bảo đảm cuộc sống gia đình, có đúng không ? Tất nhiên là thời hiện đại, « vấn đề nào » có tiền là bọn tôi làm.

Lề lối xưa mộc mạc, nhưng mà ngấm

Nhưng mà tôi rất thích và mong muốn giữ được lề lối chơi quan họ ngày xưa, để giữ và phát huy được lối chơi cổ : Ăn quan họ, nói quan họ, rồi cười quan họ… đủ kiểu mới gọi là chơi quan họ. Chứ không phải (chỉ) là biết hát quan họ, mà đã vào chơi. Mình nghĩ là làm sao giữ được các lề lối, lấy những ngôn ngữ, lời văn, ý hay ngày xưa, tuy rằng rất mộc mạc, nhưng mà chứa đựng được rất chi là nhiều cái tình trong cái lời nói đó. Thì mới có cái ngấm.

Còn hiện đại bây giờ, theo nhạc, theo mix. Do cái trào lưu, thì cái dòng dân ca quan họ này rất phát triển và lan tỏa, cho nên là, nếu như không có nhạc, không có mix, thì ra không gian rộng, thì cũng không tỏa được hết.

Tôi mong các quý vị bên ấy, làm sao có cái thông điệp tôn vinh, có những cái tạo điều kiện, về vùng quê Kinh Bắc. Hát quan họ thì đã đành rồi, nhưng xây dựng được cái lối chơi quan họ mới là cái điểm nhấn. Tại sao bây giờ chúng tôi đi, kể cả các du khách mời chúng tôi đến các nhà hàng, khách sạn, chúng tôi cũng phải nói những lời của các cụ ngày xưa, có khi các du khách cũng chưa được nghe bao giờ.

Thật ra là, nếu (thế hệ) chúng tôi mà không (tiếp nối) nữa, thì may ra chỉ có ngọn, còn gốc không biết ở đâu, trôi đến đâu. Tôi chỉ lo là do điều kiện, do xã hội nó đưa đẩy, do họ không để ý nữa, thì… Mong phải có những gì để giữ gìn, phát huy, bảo tồn… cho thế hệ sau này mới còn cái gốc. Lo là thế thôi, nhưng chúng tôi vẫn còn ở đây, thì cái lối chơi vẫn có, vẫn còn.

Làng Diềm với làng Hoài Thị (Sim), kết nghĩa với nhau hàng mấy trăm năm rồi, là có lối chơi vẫn như thế. Tức là cứ đến mùa là quan họ bên này lại mời quan họ bên kia, và ngược lại, tức là ngày tục lệ, ngày đám của hai làng, thì vẫn mời nhau, thì đến vẫn lề lối, vẫn vào nhà chứa, vẫn hát lề lối. Còn một số bậc tiền bối vẫn đến chào nhau, nói bằng quan họ, ăn cũng bằng quan họ. Tôi nghĩ là, nếu ở khu vực Kinh Bắc này, chỉ còn hai làng này là còn thôi. Các bậc tiền bối hết rồi, thì tôi nghĩ chỉ còn mỗi bà Sang, bà Thềm, là giữ được, vì các bà ấy rất ngấm rồi. Cho đến chúng tôi bây giờ cũng là ngấm. Hiểu biết lề lối và ứng xử quan họ, quan trọng là ứng xử và biết để kết bạn như thế nào.

Cách tân nghệ thuật truyền thống : mâu thuẫn giữa nhà nghiên cứu và nhà quản lý

Image

Khép lại chương trình là tiếng nói của nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan từ Hà Nội. Ông Đặng Hoành Loan giới thiệu hai quan điểm đối lập nhau về vấn đề tiếp nối truyền thống quan họ, cũng như nhiều môn nghệ thuật cổ truyền khác, tại Việt Nam. Không phải nghệ thuật cổ truyền nào cũng sẵn sàng cho việc cách tân. Trong thời gian gần đây, có nhiều thử nghiệm cách tân di sản nghệ thuật cổ truyền đến từ chính bản thân những người lưu truyền di sản, đặc biệt trong một số môn nghệ thuật mang tính tín ngưỡng như : hát văn, hát then…

Ông Đặng Hoành Loan : Cách nhìn của tôi cũng tương đối thống nhất với một số học giả ở Việt Nam hiện nay, thế nhưng nó lại không thống nhất lắm với các nhà quản lý văn hóa, đặc biệt những nhà gọi là « văn hóa quần chúng ». Thực hiện cái « văn hóa quần chúng » hiện nay, thì có hai ý kiến khác nhau. Cái ý kiến thứ nhất, nói rằng là phải giữ nó trong không gian văn hóa truyền thống, và tất cả các sinh hoạt của nó là phải theo phương thức truyền thống. Thì cái đó nó căn cứ theo yêu cầu của Unesco là, cái hiện tượng văn hóa ấy nó phải là tập tục sinh hoạt có từ thời xưa và được bảo tồn trong đời sống cộng đồng cho đến ngày nay, vì thế gọi là nó có « gốc gác » và nó có tính truyền thống của nó. Cái thứ hai nữa là, cùng với tính truyền thống đấy, (vấn đề là) con người Việt Nam hiện nay còn yêu thích nó không và thích sinh hoạt theo lối đó không, thì cái hồ sơ quốc gia phải trả lời rất minh bạch. Thì đấy là cái quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam, mà tôi cho rằng rất chính xác. Năm ngoái, có một cuộc hát quan họ với sự tham gia của hàng nghìn người, thì người ta cho rằng đấy là « phi truyền thống » và làm mất đi cái tính nghệ thuật, tính âm nhạc của chính bản thân quan họ.

Thế nhưng các nhà văn hóa quần chúng hiện nay, thì họ cho rằng bây giờ phải làm như thế, thì mới đưa được âm nhạc cổ truyền, nghệ thuật cổ truyền vào đời sống con người hiện đại. Mà muốn đưa được vào đời sống con người hiện đại, thì họ cho rằng phải cách tân. Cách tân tức là cho nó đông người lên, cho nó sinh hoạt với đầy đủ các thiết bị hiện đại. Thứ hai là phải tạo cho nó những sân khấu lớn để nó có thể được trình diễn trên đó. Hiện nay hai việc đó vẫn cứ tồn tại và vẫn có những ý kiến trái ngược. Hiện nay đây là một mắc mớ khó giải quyết ở Việt Nam.

Đối với nghệ nhân, người ta rất thích trở lại cái không gian truyền thống, mà người ta hát nhỏ nhẹ trong nhà, trong các sinh hoạt nhỏ, vì nó vẫn thể hiện được toàn bộ cái tình cảm, cái nội tâm của họ đối với nhau. Vì thực sự ra, chúng ta biết, quan họ sinh ra để hát trong tất cả các tập tục giao tiếp, tình cảm con người ở Kinh Bắc, chứ nó không phải là một trình diễn nghệ thuật, với người thưởng thức và người ca hát. Hiện nay, chính cái điều mà các nhà nghiên cứu không tán thành lắm, tức là quan họ biến thành nghệ thuật trình diễn. Có nhiều ý kiến cho rằng như thế nó không đúng với truyền thống mà bản thân nó có từ xưa đến nay.

Riêng ý kiến của tôi, thì tôi cho rằng, người dân, nghệ nhân dân gian người ta muốn giữ lại tất cả những gì mà họ biết được từ xưa đến giờ. Họ rất thích trong việc họ gìn giữ, biểu diễn những nghệ thuật đấy đúng như thời xưa. Cho nên, phần lớn khi chúng tôi tổ chức gặp gỡ các nghệ nhân, thì các cụ nói, bây giờ làm mới nó đi, thì không biết để làm gì ? Vì nếu mới, so với mới hiện nay, thì không mới được, còn so với cái cũ, thì không cũ được. Thì như thế là, nó nằm ở lưng chừng. Đấy là ý kiến của nghệ nhân.

Chúng ta biết rằng, năm nay các cụ quan họ rất thích tự hát với nhau, để tìm đời sống tinh thần thưở xưa mà nó còn tồn tại lại trong tâm hồn của họ. Thì tôi cho là giữa nghệ nhân, giữa các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý hiện nay đang chưa có được một cái nhìn thống nhất, toàn diện về cổ truyền và cách tân, chính xác là như thế.

Hát văn, hát then : Nghệ nhân tự cách tân để thu hút công chúng

RFI : Vậy trong các môn nghệ thuật cổ truyền khác ở Việt Nam có sự cách tân hay không ?

Ông Đặng Hoành Loan : Những nghệ thuật « tâm linh » (tín ngưỡng) như là hát văn, hát then… thì lại được bảo lưu rất là tốt. Thì người ta lại không cách tân mấy, thì chính là tự các nghệ nhân, những người hành nghề, người ta cách tân, chúng ta thấy hiện tượng tự cách tân rất lớn. Các nghệ thuật ấy, thì bên ngoài không cách tân nó được, nhưng tự nó thay đổi nó, thì thay đổi được. Thí dụ như, hát văn bây giờ, người ta đưa nhạc cụ mới vào, tức là đưa cả đàn organ vào. Nghệ nhân người ta đưa vào thôi, chẳng ai bảo người ta cả. Người ta đưa thêm những bài hát mới vào. Như thế tức là người ta tự vận động, không ai yêu cầu họ cả. Họ tự vận động với mục đích kéo những người yêu thích cái nghệ thuật ấy (và tín ngưỡng ấy) đến gần nghệ thuật ấy hơn, họ làm cho hấp dẫn hơn. Có nhiều nhóm hát văn đã tạo ra nhiều điệu hát, nhiều âm nhạc khác nhau.

Tôi cho rằng, để cho nghệ nhân họ tự thay đổi, thì hay hơn tác động (từ bên ngoài), vì thường tác động, thì nó biến đổi theo chiều hướng khác. Để cho các nghệ nhân làm, thì tốt hơn là « chúng ta » tác động và tổ chức, vì thường nó sai lệch đi nhiều.

RFI xin chân thành cảm ơn anh Ngô Đức Hiển, chị Nguyễn Thị Thềm, các nhà nghiên cứu Trần Quang Hải và Đặng Hoành Loan đã dành thời gian cho tạp chí

Các bài liên quan

Vẻ đẹp của Quan Họ cổ truyền xứ Kinh Bắc [3]

Ca trù trước ngã ba đường: Phục sinh hay mai một [4]

Lãng du cùng bài vọng cổ “Cô bán đèn hoa giấy” [5]

Điều kỳ diệu của bài vọng cổ [6]

hiên cứu Trần Quang Hải và Đặng Hoành Loan đã dành thời gian cho tạp chí

Nhà nghiên cứu Trần Quang Hải

 

06/03/2013

 

Nghe (02:59)

 

 

 

Kỹ thuật hát nẩy hạt độc đáo của quan họ

RFI : Ông có nói đến kỹ thuật nẩy hạt, thì rất ít có ở các cư dân khác trên thế giới, có đúng không ?

Ông Trần Quang Hải : Đặc trưng của quan họ là kỹ thuật nẩy hạt, tiếng hát ngân lên như là nức nở, tức là nó ngắt đi từng tiếng, từng tiếng. Cái đó là một điều đặc biệt chỉ có ở trong quan họ và ca trù, là có kỹ thuật đó. Tức là mình hát làm sao nó lên giọng mũi, hát bằng giọng mũi, phải ngậm trong miệng, chứ không thoát ra (hát minh họa). Chứ không phải là mình làm cái vibrato (hát minh họa). Cái đó là sai, tức là hát theo kiểu Tây phương, hát theo kiểu bel canto, ngân vang, hay là hát theo kiểu thanh nhạc, được luyện trong các âm nhạc viện. Đó là dùng kỹ thuật sai. Làm như vậy, gọi là đẹp hơn, thì chưa chắc gì đẹp hơn. Tại vì trong giọng nói của tiếng Việt Nam, giọng rất cao, mà khi hát lên, thì lên bằng giọng mũi. Trong ngôn ngữ mình, nó đầy những cái tiếng lên giọng mũi, thành ra quan trọng là phải hát giọng mũi, chứ không phải hát bằng giọng ngực.

RFI : Có lần ông cho biết, ở tại một xứ châu Á, cũng có lối hát nẩy hạt này, thì nó giống và khác như thế nào so với nẩy hạt trong quan họ và ca trù ?

Ông Trần Quang Hải : Ở bên xứ Yakutia ở Tây Bá Lợi Á – Syberia, có một loại hát tức là tayuk, khi hát tiếng ngân dài ra (hát minh họa). Hát tayuk của người Yakutia, thì tiếng ngắt kéo dài hơn, mà giọng nó thoát ra bằng giọng ngực, còn mình tiếng ngắt nó lên giọng mũi, đó là một kỹ thuật khác.