Tag Archives: radio

NGÀNH MAI – thông tín viên RFA: Đài phát thanh và những danh ca không hề thấy mặt


Đài phát thanh và những danh ca không hề thấy mặt

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-04-26
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
Danh ca Thành Công được mời về Đài phát thanh Quốc Gia làm trưởng ban Thành Công và  là danh ca Đài phát thanh Sài Gòn suốt mấy thập niên...

Danh ca Thành Công được mời về Đài phát thanh Quốc Gia làm trưởng ban Thành Công và là danh ca Đài phát thanh Sài Gòn suốt mấy thập niên…

Files photos
 

Nghe bài này

Khi xưa, thời thập niên 1940 có nhiều danh ca cổ nhạc lẫn tân nhạc, chuyên ca đài phát thanh, được thính giả biết tên, nghe tiếng ca là biết ca sĩ nào. Thế nhưng, hiếm ai thấy được những ca sĩ này, mà chỉ hình dung một cách tưởng tượng.

Sở dĩ người ta không thấy mặt mà lại biết tên là do đài phát thanh đã đưa tiếng hát của các ca sĩ vào tận vùng thôn quê, là nơi mà người dân ít có dịp đi ra tỉnh thành. Riêng tôi từng nghe không biết bao nhiêu lần những giọng ca cổ nhạc của các danh ca Thành Công, Chín Sớm, Sáu Thoàng, Bạch Huệ v.v… Vậy mà cho tới giờ này cũng chưa một lần thấy mặt các ca sĩ chuyên môn ca đài nói trên.

Còn về phần tân nhạc thì ở miền Nam những năm đầu thập niên 1940, đại đa số người dân thôn quê chẳng hề biết tân nhạc là chi, dù rằng loại nhạc này đã xuất hiện ở miền Bắc từ những năm trước đó, đồng thời người ta cũng chẳng biết cái radio là gì nữa. Thiên hạ chỉ biết thưởng thức cổ nhạc qua các buổi sinh hoạt đờn ca tài tử, và nghe “đờn thổi” tức dàn nhạc ở các đám ma, vừa có kèn thổi vừa có đờn. Mãi đến khoảng 1946 người ta mới bắt đầu biết đến tân nhạc (lúc bấy giờ gọi là “nhạc mới” chứ chưa có danh từ tân nhạc như sau này. Đó là thời kỳ sau ngày quân đội Đồng Minh giải giới quân đôi Nhựt, Pháp trở lại Đông Dương thành lập Đài phát thanh Pháp Á ở đường Boulevard de La Somme, Sài Gòn (đường Hàm Nghi sau này). Đài phát thanh Pháp Á hằng ngày ngoài việc phát đi những bài ca cổ nhạc, cũng đồng thời phát thanh những bản tân nhạc, chừng đó người ta mới bắt đầu thưởng thức giọng ca của những Giáng Hương, Tâm Vấn, Khánh Ngọc, Minh Nguyệt, Minh Tân, Mỹ Hoa, Hoàng Yến v.v…

Nhưng rồi thính giả cũng ít khi thấy mặt những ca sĩ này, trừ phi vài người họ có hình lên báo. Riêng Khánh Ngọc thì về sau nhờ làm tài tử đóng vai chính trong cuốn phim Ánh Sáng Miền Nam nên người ta mới biết nhiều. Lúc bấy giờ có những người ở tận Bà Chiểu, Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, Bình Lợi đã đi xe ngựa đến Đài phát thanh Pháp Á để chờ xem dung nhan thần tượng của mình mập hay ốm, cao hay thấp, mặt mày có tươi sáng, đẹp đẽ, hoặc hình dạng có đẩy đà, cân đối…

Cuối thập niên 1940, bộ dĩa đầu tiên được thu thanh là “Bóng Người Kỵ Sĩ” do chính danh ca sáng tác
Cuối thập niên 1940, bộ dĩa đầu tiên được thu thanh là “Bóng Người Kỵ Sĩ” do chính danh ca Thành Công sáng tác

Đây cũng là một thiệt thòi cho những ca sĩ thời ấy, đã không có dịp trình diện dung nhan của mình trước khán giả như sau này khi có truyền hình. Trong số những danh ca cổ nhạc không biết mặt ấy có danh ca Thành Công, với bài vọng cổ “Ngân Bình Sơn cúc rũ thu tàn”. Thật ra thì bài vọng cổ ấy do danh ca Thành Công trình bày được thu thanh trong dĩa hát Asia vào năm 1948 có tên là “Bóng Người Kỵ Sĩ”, nhưng do bởi rất nhiều người trong giới đờn ca tài tử đã lấy câu hát mở đầu Ngân Bình Sơn cúc rũ thu tàn, để gọi là bài Ngân Bình Sơn, rồi dần dà mang tên ấy luôn, thậm chí có nhiều người họ còn không biết bài ca có tên “Bóng Người Kỵ Sĩ.”

Những người yêu mến cổ nhạc thuộc lớp tuổi trung niên trở lên, chắc chẳng một ai mà không nghe qua làn hơi ca vọng cổ rặt lối ca tài tử của Thành Công. Làn hơi ca được hàng vạn người mến mộ, nhưng Thành Công chỉ ca đài phát thanh và thu thanh dĩa hát, chớ không có lên sân khấu, do đó mà dù rằng tiếng ca nổi tiếng lẫy lừng, lại rất ít ai thấy được con người bằng xương bằng thịt của Thành Công, kể cả hình ảnh của ông cũng hiếm khi phổ biến trên bao chí nên rất ít người thấy. Riêng tôi, tham gia nhiều nhóm đờn ca tài tử từ năm 1955, đã thuộc lòng bài “Bóng Người Kỵ Sĩ” và từng đi ca ở các đám tiệc, cũng chưa một lần gặp mặt hay nhìn thấy danh ca Thành Công. Cũng nhờ sưu tầm nên có được duy nhứt một tấm hình của ông chụp vào thập niên 1950, và tôi đăng trong mục cổ nhạc nhựt báo Người Việt. Danh ca Thành Công tên thật là Phạm Thành Công, sinh năm 1923, người gốc ở Phong Điền, Cần Thơ. Vốn là một công tử ở miền sông nước Hậu Giang, và cũng như trăm ngàn cậu công tử thời bình ôm mớ chữ nghĩa để chuyên đờn ca làm thú tiêu khiển.

Chiến tranh nổi lên, dân tình loạn lạc, Thành Công lìa bỏ Cần Thơ lên Sài Gòn và sống những ngày khổ cực nhứt đời giữa Hòn Ngọc Viễn Đông. Sau đó thì đi ca hát và bắt đầu nổi tiếng từ khi Việt Nam có đài phát thanh Pháp Á. Tiếng ca mùi rệu của Thành Công đã thu hút hằng bao thính giả nghe đài này vào mỗi buổi trưa. Lúc bấy giờ nhà có radio rất hiếm, nên bà con cư ngụ quanh khu vực chợ Bến Thành, họ thường đổ ra bùng binh trước chợ, ngồi trên băng đá nghe tiếng ca Thành Công phát ra từ chiếc loa gắn trên tàn cây của công viên quanh bùng binh. Làn hơi ca ấy đã cuốn hát bao phái nữ đổ lệ, làm xao xuyến lòng người, lời ca tựa hồ lời than vản của một tâm hồn đa tình vướng khổ lụy. Về sau đài Pháp Á không còn, danh ca Thành Công được mời về Đài phát thanh Quốc Gia làm trưởng ban Thành Công và nghiễm nhiên là danh ca Đài phát thanh Sài Gòn suốt mấy thập niên.

Ca sĩ Khánh Ngọc tài tử đóng vai chính trong cuốn phim Ánh Sáng Miền Nam. Files photos
Ca sĩ Khánh Ngọc tài tử đóng vai chính trong cuốn phim Ánh Sáng Miền Nam. Files photos

Khoàng 1957 – 1958 tờ báo Tiếng Dội mở cuộc bầu chọn và Thành Công được bầu “đệ nhứt danh ca đài phát thanh.” Khác với Út Trà Ôn đệ nhứt danh ca, do thiên hạ gọi riết rồi thành danh chớ không có bầu chọn. Thành Công nổi tiếng một phần lớn là do thu dĩa hát, cuối thập niên 1940 nhạc sĩ Hai Long giới thiệu Thành Công với ông Năm Mạnh, giám đốc hãng dĩa Asia ở đường mé sông Chợ Quán, Và bộ dĩa đầu tiên được thu thanh là “Bóng Người Kỵ Sĩ” do chính danh ca sáng tác. Cũng trong bộ dĩa này Thành công đề nghị cắt bớt bài vọng cổ từ 20 câu còn 16 câu… Bộ dĩa “Bóng Người Kỵ Sĩ” ra đời được phổ biến khắp cùng ba miền đất nước, người ta sang Nam Vang bên đất Miên cũng nghe, lên Vạn Tượng trên Lào cũng nghe.

Song song với dĩa hát, cuốn bài ca “Bóng Người Kỵ Sĩ” được phát hành bán khắp các chợ ở thôn quê, thành thử ra dân đờn ca tài tử thời ấy rất nhiều người đã thuộc lòng và đi ca ở các nơi đình đám. Sau bộ dĩa nói trên, Thành Công tiếp tục vô nhiều bộ dĩa khác như: Thoại Khanh Châu Tuấn, Tuyệt Vọng, Tình Ghen Đảo Chúa… và bộ dĩa mà các nhà có giàn máy hát quay dây thiều được bà con yêu cầu hát nhiều lần là bộ dĩa có nhãn tròn màu đỏ mang tên Nguyệt Thu Nga. Người ta rất khó quên đoạn cuối bản Giang Tô do nữ danh ca Ngọc Ánh ca gối đầu để Thành Công vô vọng cổ: Vào nghiệp cầm ca, danh ca Thành Công đã đóng góp cho kho tang cổ nhạc nước nhà những bài vọng cổ quí giá, để đời. Sau 1975 có lẽ do già yếu người ta không nghe thấy Thành Công hoạt động ca hát gì cả. Và ông qua đời năm 1992 tại Sài Gòn.

Những phút còn lại của chương trình tôi nói thêm về tình hình cuốn “100 Năm Cải Lương Việt Nam” vừa phát hành.

Hôm Thứ Bảy tuần trước nhựt báo Người Việt loan tin chính thức phát hành “100 Năm Cải Lương Việt Nam”. Đồng thời cũng chiều ngày hôm ấy ở miền Nam California, người ta nghe được đài Á Châu Tự Do phát đi từ Washington D.C. do các đài địa phương thu rồi phát lại. Tạp chí cổ nhạc đã nói về quyển sách 100 năm cải lương Việt Nam do nhà xuất bản Người Việt vừa phát hành. Do cả hai cơ sở truyền thông có nhiều người nghe, người đọc cùng lúc loan tin nên rất nhiều người biết, và không ít người đã đến các tiệm sách hỏi mua. Một nữ độc giả ở vùng Orange County xem báo thấy hình nữ nghệ sĩ Thanh Nga, bà khen đẹp quá (bức hình này có in trên bìa quyển sách). Bà liền đi ngay vào tiệm sách hỏi mua, thì người trong tiệm lắc đầu: Ở đây chưa có cuốn sách đó! Bà đi đến tiệm sách khác cũng được trả lời như vậy.

Đường Hàm Nghi - Sài Gòn 1967 - Photo by Donald Jellema
Đường Hàm Nghi – Sài Gòn 1967 – Photo by Donald Jellema

Theo lời cô chủ nhà sách thì mấy ngày qua khá nhiều người vào tiệm hỏi mua quyển “100 Năm Cải Lương Việt Nam” nhưng đâu có sách để mà bán. Quyển sách nói trên do nhà xuất bản Người Việt phát hành, nhưng về phần in ấn là do hệ thống Amazon với kỹ thuật tân kỳ của Mỹ. Nhà xuất bản Người Việt nhận sách từ Amazon, do đó mà việc phân phối sách chậm mất gần một tuần. Và hôm nay thì quyển sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam” đã có tại tòa soạn nhựt báo Người Việt. Cũng do xưa giờ chưa có cuốn sách nào nói về lịch sử cải lương, giờ đây sách cải lương xuất bản nên mới có hiện tượng bà con đi mua trước khi sách có ở tiệm.

Do đâu mà cả 100 năm không có người viết về lịch sử cải lương? Đó là do bởi cải lương hoạt động cùng khắp, ba miền đất nước từ thành thị đến thôn quê đâu đâu cũng có, nước ngoài cũng có, và cả trong khu kháng chiến cũng có cải lương. Nếu như không theo dõi cải lương hoạt động khắp nơi, thì lấy gì để viết. Mà tập trung hằng bao sự kiện thì vô cùng khó khăn, thành thử ra không có người viết về lịch sử cải lương là vậy.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/radio-n-singer-04262014061710.html

NGÀNH MAI – thông tín viên RFA : Hát bội ở Miền Nam Việt Nam ngày xưa


Hát bội ở Miền Nam Việt Nam ngày xưa

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-06-29
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
Một cảnh trong vở tuồng  "Cánh tay Vương Tá" năm 2011 tại Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TPHCM

Một cảnh trong vở tuồng “Cánh tay Vương Tá” năm 2011 tại Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TPHCM

Nguồn sankhau3mien.com
 

 

Thời phong kiến quân chủ ngành hát bội được trình diễn trong phạm vi nhỏ hẹp của quần thần, vua chúa. Vì vậy sân khấu hát bội lúc bấy giờ chỉ có những người trong triều đình, quan lại hay hoàng thân quốc thích mới được thưởng thức.

Nói rõ hơn hát bội khi xưa chỉ dành riêng cho kẻ quí tộc trên dùng làm thú tiêu khiển mà thôi.

Hát bội

Hát bội cũng có nghĩa chỉ các y trang, phục sức của con hát lẫn người xem thời bấy giờ (khi xưa người ta gọi nghệ sĩ đào kép là con hát). Những người coi hát, nếu là quan văn, thì y phục của triều đình tượng trưng nơi thắt lưng, ấy là mang đai ngọchay là “Ngọc Bội”, nếu là quan võ thì nơi hong có mang thanh kiếm hay thanh gươm, tức “Bội Đao”.

Ngoài ra, các phi tần, cung nữ mang vàng xuyến, ngọc trai để trang sức và các trang sức ấy được gọi là “Bội Hoàn”.Những con hát khi diễn tuồng, cũng mang bao nhiêu thứ y trang như các văn võ phi tần vậy, nên người thời xưa gọi đấy là Hát Bội. Về sau, mãi sau nầy bộ môn hát bội được phổ biến rộng rãi trong dân chúng, và lối hát ấy được mang ra để làm thú tiêu khiển trong những khi nhàn rỗi và được nâng lên, với tánh cách trọng đại là làm vui cho thần thánh sau cuộc cúng tế ở đình làng.

Bắt đầu từ đó có lẽ môn hát bội được cảithiện nhiều hơn, và mãi đến đời nhà Nguyễn môn hát này tuy cũng còn mang lốt “độc quyền” cho riêng các ông chúa, quan lại, nhưng giới bìnhdân giờ đây vẫn được thưởng thức. và có khi còn học hỏi lối diễn xuất trên để làm thú tiêu khiển ở bất cứ lúc nào rỗi rảnh. Và “Hát Bội” có lẽ từ đó đã mang dấu hiệu “thoái trào” là chẳng riêng gì cho kẻ có mang Bội Hoàn, Ngọc Bội, Bội Đao xem thưởng thức, mà người dân thường vẫn hỉ hả vỗ tay tán thưởng mỗi khi xem hát như… ai vậy.

Và tiếp đây tôi xin nói về lệ thưởng đánh trống chầu, quăng quạt giấy. Hát bội thời xưa có thông lệ thưởng bằng cách đánh trống chầu, và người cầm chầu thường là viên chức trong BanHội Tề của làng xã, được coi như đại diện khán giả buổi hát đó. Lớp tuồng nào hát hay, diễn đúng là đánh trống, có nhiều khi trống được đánh liên tục, khiến cho diễn viên lên tinh thần, lại càng hát hay hơn.

Về phía khán giả thưởng tiền cho đào kép đang hát bằng cách kẹp tiền vào chiếc quạt giấy liệng lên sân khấu. Diễn viên khi hết lớp tuồng thì lượm tiền, cám ơn xong mới đi vô. Vào thời xa xưa ấy đâu có điện thì làm gì có quạt máy, thành ra quạt giấy rất cần thiết và trước rạp hát nào cũng có bán nhiều quạt giấy. Những năm hát bội còn thịnh hành thì đào kép đêm hát ngày tập tuồng, dù rằng họ thuộc lòng từng chữ từng câu, từ điệu bộ cho đến đối thoại họ rành như ăn cơm bữa vậy. Thế mà họ lại siêng tập tuồng, họ tập những lớp diễn mà thường hay được thưởng trống chầu và cây quạt giấy kẹp tiền liệng lên sân khấu. Đây là hai hình thức khen thưởng thực tế về tinh thần lẫn vật chất đã có từ lâu đời mà các đào kép hát bội rất hoan nghinh.

Ông Bầu Cung

Thời thập niên 1940, dài cho đến những năm đầu của thập niên 1950 gánh hát bội Tấn Thành Ban, một trong những đoàn danh tiếng thời bấy giờ do ông Huyện Trần Khiêm Cung làm bầu gánh (Ông Bầu Cung là một trong những người đứng ra xin giấy phép thành lập Hội Nghệ Sĩ Ai Hữu và là hội trưởng đầu tiên năm 1948). Vào thời ấy hằng năm cứ sau Tết Nguyên Đán từ Tháng Hai Âm Lịch trở đi là gánh hát bội của ông Bầu Cung liên tục bán giàn, được mời đi hát cúng Kỳ Yên ở các đình làng quanh tỉnh Gia Định, và đôi khi cũng đi hát ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một, hoặc quê hương của ông ở Cần Đước, Long An. Khi hết lễ cúng Kỳ Yên rồi thì gánh Bầu Cung đi hát quanh quẩn vùng Chợ Lớn, Tân Định, Bà Chiểu… và thường hay về nằm ở tại đình Cầu Muối ở đường Cô Giang. Tuy khán giả không đông đảo như hát ở đình làng, nhưng đêm nào cũng có số khán giả muavé, nếu không lời thì cũng đủ sở hụi chi phí trả lương đào kép, công nhân.

Một đoàn hát bội năm 1906
Một đoàn hát bội năm 1906. files photos

Theo lời ông bầu gánh Trần Khiêm Cung thì lớp tuồng thường hay được vị cầm chầu đánh trống khen tặng, cũng như quạt giấy được quăng lên nhiều nhứt là lớp Khương Linh Tá và Đỗng Kim Lân trong tuồng San Hậu. Trong tuồng có lớp linh hồn Khương Linh Tá đưa Đỗng Kim Lân qua núi. Kim Lân và Linh Tá phò trợ Hoàng Tử TềBang đi lánh nạn. Bọn xoán ngôi là anh em Tạ Ôn Đình, Lôi Nhược đuổi theo tìm bắt. Khương Linh Tá chặn đường giặc, Kim Lân ôm hoàng tử thoát thân.

Lớp diễn mà khán giả hồi hộp, tán thưởng nhiều nhứt, cũng như trống chầu đánh liên tục, quạt giấy quăng lên sân khấu không ngớt là lúc Tạ Ôn Đình chém Khương Linh Tá rụng đầu, nhưng khi chúng nhìn thấy Linh Tá mò mẫm tìm kiếm chiếc đầu rơi chụp gắn vào cổ, chúng sợ quá lui binh không dám đuổi theo Đổng Kim Lân. Hồn nghĩa sĩ Khương Linh Tá thương bạn Kim Lân, bèn hóa thành ngọn đèn hồng, đưa đường Kim Lân và hoàng tử qua núi trước khi trời rạng sáng. Đây là một trong những nét đặc trưng của sân khấu hát bội, đã đem lại sức suy tưởng phong phú đầy thú vị cho khán giả.

Và đây cũng câu chuyện quạt giấy được quăng lên sân khấu.

Khoảng đầu thập niên 1970 đoàn hát bội của ông bầu Ba Luông hát tại Lăng Ông Thủy Tướng, thuộc xã Thắng Nhì(Vũng Tàu), và do hát cúng không bán vé, bà con đi coi đông đảo. Đêm ấy đoàn trình diễn vở tuồng “Triệu Hường Lan Đả Hổ”, có lớp bà mẹ chồng cùng nàng dâu đi xin ăn, sau đó bà mẹ chồng chết dọc đường bỏ lại nàng dâu bơ vơ.

Trong vai mẹ chồng do đào mụ là bà Tám Ngàn thủ diễn, bà hát mấy câu Nam, bi ai thảm thiết làm khán giả xúc động, họ ném tiền lên ào ạt thưởng cho bà. Thế nhưng, bà Tám Ngàn chưa kịp lấy tiền, mới vừa hát dứt câu Nam chót, thì bà trợn mắt rồi… nín thở luôn.

Cô đào đóng vai nàng dâu kinh hoàng kêu thét lên:

– Mẹ! Mẹ chết… thiệt sao mẹ?

Khán giả đâu có biết tưởng lớp tuồng là như vậy, hay quá, nên cứ tiếp tục quăng quạt lên thưởng, cho tới khi cô đào la lên bài hãi:

– Ông bầu ơi, bà Tám chết rồi nè! Mọi người giựt mình trở về thực tại, bàng hoàng trước cái chết thật của một nữ nghệ sĩ già, lẽ ra chỉ làm bộ chết mà thôi.

Ban Vân Hạc

Và giờ đây tôi xin nói về hát bội Ban Vân Hạc của đài phát thanh Sài Gòn thời kỳ trước 1975. Từ trước năm 1940 trong chương trình phát thanh tiếng Việt của đài phát thanh Sài Gòn (thời Pháp) đã có những xuất hát của “Ban Nghệ Thuật Hát Bội Sài Gòn” với các nữ nghệ sĩ Huỳnh Hoa, Ba Út, Sáu Hương, và các nam nghệ sĩ Hữu Thoại, Tám Mẹo, Ba Đính.

Đó là những xuất hát không định kỳ, mỗi tháng có đôi ba lần do nhạc sĩ Sáu Vững phụ trách. Do ảnh hưởng cuộc Thế Chiến Thứ Hai, các cuộc cui chơi giải trí bị đình chỉ suốt thời gian dài. Đến năm 1948 đài phát thanh Sài Gòn mới phục hồi lại chương trình hát bội. Ban Vân Hạc của nhạc sĩ Sáu Vững chính thức thành lập với những tay nghề từ gánh Bầu Thắng, là gánh hát bội đóng trụ hát thường trực ở Đình Cầu Quan, ở gần bờ tường rào nhà ga xe lửa.

Theo yêu cầu của đài phát thanh, trình diễn phải có kịch bản đưa trước rồi mới được hát, chứ đào kép không được cương. Vấn đề khó khăn trước mắt là lúc bấy giờ dễ gì kiếm cho ra những vở tuồng có kịch bản văn học hoàn chỉnh, đầy đủ các vai từ chánh đếnphụ. Cũng may, kép Thành Tôn từ tỉnh lên Sài Gòn, vốn là người có ăn học lại có óc cầu tiến, từng sao chép được nhiều tuồng xưa, lại thêm thông hiểu cấu trúc hành văn, đã nghiễm nhiên trở thành soạn giả thường trựccủa Ban Vân Hạc.

Vấn đề khó khăn thứ hai là thu nhận đào kép, bởi diễn viên thời đó rất nhiều người có tài, hát hay diễn giỏi, ngặt nỗi hiếm ai đọc được chữ Quốc ngữ. Chọn mãi rồi cũng phải có, do sáu đào kép bắt đầu học quốc ngữ, và sáu người này trở thành nòng cốt của Ban Vân Hạc suốt thời gian dài, đó là các nghệ sĩ: Ba Út, Hai Nhỏ, Ba Sáng, Chín Luông, Hữu Thoại, Thành Tôn là những diễn viên tài giỏi, năng động, yêu nghề có duyên với sân khấu nên dễ dàng thành công khi diễn trên đài phát thanh.

Cái hay của Ban Vân Hạc là tại phòng thu thanh của đài, các nghệ sĩ chỉ hát trước máy theo tiếng nhạc của đờn, trống, kèn… tức là ngồi một chỗchứ đâu có ra bộ tịch, đi đứng múa may như trên sân khấu, cũng không co áo mão, cờ quạt gì hết. Vậy mà thính giả nghe Radio họ vẫn hình dung được nhân vật ấy ở sân khấu với trang phụcvà đang làm gì, có nghĩa là họ vẫn hiểu được câu chuyện, xúc động với từng sự kiện, dù chỉ nghe thôi.

Chương trình hát bội Ban Vân Hạc có đều hàngtuần trên đài phát thanh Sài Gòn, có lúc mỗi tuần có đến 2, 3 suất hát đài vẫn không ế. Về tuồng tích hầu hết được viết theo truyện Tàu: Thuyết Đường, Tiết Đinh San chinh Tây, Phàn Lê Huê, La Thông tảo Bắc, Phản Đường, Tam Quốc, Chung Vô Diệm, Tiền Tống, Hậu Tống…

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/soht-vn-old-opera-06292014071247.html

NGÀNH MAI – thông tín viên RFA : Hát bội Miền Nam và thêm hát bội Bình Định


Hát bội Miền Nam và thêm hát bội Bình Định

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-07-06
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
Hát Bội ở Miền Nam khi xưa

Hát Bội ở Miền Nam là một loại văn nghệ trình diễn cổ truyền ở Việt Nam.

(files photos)
 

Từ trước năm 1930 ở miền Nam nước Việt chỉ có hát bội là nghệ thuật sân khấu duy nhứt để cung ứng cho nhu cầu giải trí của các tầng lớp dân chúng. Hát bội dùng vào các lễ cúng Kỳ Yên cho đình thần mỗi làng, cho các tiệc tùng đăng quan tiến chức, ngay cả các cuộc cầu siêu lớn tại chùa chiềng.

Hát bội là nghệ thuật do phong kiến đẻ ra bởi giai cấp quan lại, cựu trào cho nên nội dung nó cũng phải phục vụ cho phong kiến là lẽ dĩ nhiên. Đức Tả Quân Lê văn Duyệt không thích gì hơn là hát bội và đá gà. Cụ Bùi Hữu Nghĩa lúc bị đày đi làm đốc quân trấn vùng biên giới Việt Miên cũng không giải trí bằng gì hơn là hát bội. Từ Đức Tả Quân cho đến cụ Bùi Hữu Nghĩa đều biết soạn tuồng. Soạn tuồng cho lính hát cho dân xem. Dân thấy quan quân thích hát bội nên cũng tập tành dựng lên những đoàn hát bội đi hát đó đây. Quan trên khích lệ, thì bộ môn nghệ thuật ấy sống dễ dàng. Hát bội được phổ biến sâu rộng trong dân chúng một thời là vì vậy.

Theo một tài liệu trong lịch sử, hát bội có từ thời vua Lê Ngọa Triều, tính đến nay khoảng gần 1000 năm. Đầu tiên có một phường chèo người Tống tên Lâm Thủ Tiên sang nước ta vào hầu vua Lê, dạy cung nữ hát tuồng. Đến đời Nhà Trần, Đức Hưng Đạo Vương thắng quân Nguyên bắt được Lý Nguyên Cát, một nghệ sĩ trứ danh về lối hát cổ.

Theo một tài liệu trong lịch sử, hát bội có từ thời vua Lê Ngọa Triều, tính đến nay khoảng gần 1000 năm. Đầu tiên có một phường chèo người Tống tên Lâm Thủ Tiên sang nước ta vào hầu vua Lê, dạy cung nữ hát tuồng

Lý Nguyên Cát được lưu lại làm thầy tuồng, dạy con quan và dân hát. Đến đời Trần Dụ Tôn ngài tỏ ra ham thích môn hát bội, bắt các vương hầu thi nhau soạn tuồng. Những tuồng hay ngoài việc được đưa ra trình diễn ở hội đình, người viết còn được ban thưởng.

Về hát bội có câu: “Có chồng say như trong chay ngoài bội. Ngó vô nhà như hội Tầm Dương”. Dư luận cũng tỏ ra khắt khe với nghề hát nên có câu: “Trồng trầu trồng lộn dây tiêu. Con theo hát bội mẹ liều con hư”. Cũng vì thành kiến xướng ca vô loại trên mà Đào Duy Từ, thời Lê Trịnh truất đi khi ông ra Bắc thi đậu thủ khoa. Lấy cớ ông là con nhà hát bội.

Hát bội là một bộ môn nghệ thuật cổ điển có tánh cách văn chương, mỗi giọng hát được soạn ra theo một thể văn, hoặc lục bát, hoặc song thất lục bát, hoặc tứ tuyệt, cho đến lối nói thường cũng phải đối và vần. Nghệ sĩ khi ra sân khấu vừa chú ý đến điệu bộ diễn xuất, lại vừa chú ý đến câu hát cho đúng với bổn tuồng. Lỡ sai một chữ hoặc sơ xuất trong cử chỉ nào đó, gặp phải người cầm chầu sành sỏi, họ sẽ đánh trống để hỏi cho ra lẽ. Diễn viên hát bội vì thế đòi hỏi nhiều công phu trong lúc tập luyện. Từ lối đi đứng, lối cầm một cây roi ngựa cho đến giọng hát, nhất cử nhất động đều phải phù hợp. Ngày xưa, các diễn viên vào nghề phải gia công học tập ít ra cũng vài ba năm mới mong thành thục được.

Một màn hát bội trong thời kỳ phục hồi
Một màn hát bội trong thời kỳ phục hồi

Hát bội là một bộ môn nghệ thuật cổ điển có tánh cách văn chương, mỗi giọng hát được soạn ra theo một thể văn, hoặc lục bát, hoặc song thất lục bát, hoặc tứ tuyệt, cho đến lối nói thường cũng phải đối và vần. Nghệ sĩ khi ra sân khấu vừa chú ý đến điệu bộ diễn xuất, lại vừa chú ý đến câu hát cho đúng với bổn tuồng

Nói tới hát bội thì người ta nghĩ ngay đến các cốt truyện trong truyện Tàu, và khán giả bộ môn nghệ thuật cổ truyền này đã quá quen thuộc với các nhân vật. Lưu Kim Đính, Phàn Lê Huê, Chung Vô Diệm, Điêu Thuyền, Tiết Ứng Luông, La Thông v.v… Nhưng cũng có soạn giả đã đưa nhân vật lịch sử Việt Nam lên sân khấu hát bội: Soạn giả Đinh Bằng Phi với vở tuồng Phạm Ngũ Lão tùng chinh. Soạn giả Thành Tôn và Hồ Văn Lang với vở tuồng Nguyễn Huệ bình Thăng Long. Đây là một sự cải tiến mạnh mẽ và hợp lý hợp thời của sân khấu cổ mà ai nấy đều phải hoan nghinh. Vào năm 1962 vở hát bội Nguyễn Huệ bình Thăng Long được trình diễn cúng Kỳ Yên tại Đình Nam Chơn, Đa Kao, khán giả đi coi chật đình, và khen ngợi từng diễn viên như sau:

Trước tiên là kép Thành Tôn và cô đào Ba Út thật xuất sắc trong vai vợ chồng tướng Ngô Văn Sở. Vì Thành Tôn là một trong hai soạn giả của tuồng nầy nên thuộc rành lớp lang và lột tả một cách rất điệu nghệ vai Ngô Văn Sở. Còn cô Ba Út chỉ diễn tuồng nầy đâu có một vài lần, mà cũng làm tròn vai một cách đáng khen. Đến kép Mười Sự từng vang danh với những vai tướng trung như Quan Công, thì hôm đó diễn vai anh hung Nguyễn Huệ nghiêm chỉnh và sắc bén vô cùng. Còn cô Năm Đồ làm say sưa khán giả với vai Ngọc Hân Công Chúa, trong lớp anh hùng ngộ thuyền quyên, ai ai cũng tán thưởng. Quạt giấy bay lên sân khấu như bướm luyện vườn Xuân. Hội Khuyến Lệ Cổ Ca hân hoan khi thấy vở hát thành công ngoài sức tưởng tượng, càng thấy sự lo lắng duy trì nền cổ kịch phải được xúc tiến mạnh mẽ hơn.

Tuy khán giả đông đảo và khen đáo để, mà không biết tại sao hát bội ngày càng tàn lụn!

Khi xưa ở trong Nam có hát bội Nam Phần, với những đoàn hát bội chuyên hát cúng đình cúng miễu, và hàng tuần trên đài phát thanh, đài truyền hình cũng có chương trình hát bội Đinh Bằng Phi, hát bội Ban Vân Hạc. Song song đó thì ở ngoài Trung cũng có nghệ thuật hát bội mà người ta gọi nôm na là “Hát Bội Bình Định”, đã một thời được khán giả mến chuộng.

Nhắc đến Bình Định mà quên nói đến hát bội thực là một thiếu sót to lớn. Nếu miền Nam nổi tiếng với môn cải lương, miền Bắc với chèo cổ, thì Bình Định có hát bội góp mặt. Hát bội Bình Định nổi tiếng nhờ hai yếu tố: Tuồng tích giá trị và diễn viên điêu luyện. Nếu như ở trong Nam có những nghệ sĩ hát bội vang bóng một thời như kép Thành Tôn, đào Ba Út, Năm Đồ, Năm Nhỏ… thì hát bội Bình Định cũng có đào kép lừng danh là đào Ngọc Cầm, Thu An, và kép Long Trọng…Thế nhưng, thời kỳ cải lương xuống dốc thì hát bội Nam Phần lẫn hát bội Bình Định cũng xuống theo, mà còn trầm trọng hơn nhiều, gần như tê liệt.

Một hành động cụ thể khác cũng nhằm bảo tồn bộ môn nghệ thuật hát bội của chính quyền thời đó, là khuyến thích việc đào tạo mầm non bằng cách trợ cấp tiền hàng tháng cho học viên, nhưng rồi cũng chẳng đạt được bao nhiêu, nếu không nói là thất bại

Chính quyền thời kỳ trước 1975 đã có nhiều biện pháp nhằm cứu vãn hai thành phần hát bội này để không sớm bị mai một, mà cụ thể là vào khoảng đầu năm 1972 Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa, đã tổ chức 3 đêm trình diễn hát bội tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, gọi là “đối chiếu nghệ thuật hát bội hai miền Nam và miền Trung”. Đêm đầu là vở hát “Ngũ Hổ Bình Tây” do nghệ sĩ Bình Định, kịch đoàn Tây Sơn, Hội Khổng Học trình diễn. Đêm thứ hai cũng vở hát “Ngũ Hổ Bình Tây” do nghệ sĩ Miền Nam, và đêm thứ ba Hội Khuyến Lệ Cổ Ca trình diễn vở tuồng “Tiết Cương tế Thiết Khưu Phần”.

Khán giả trong lúc xem một số người nói hát bội Bình Định rất dễ nghe, nhưng thiếu phần huê dạng như hát bội Nam Phần. Nhờ cái hôm trình diễn đối chiếu hát bội Nam – Trung này, người ta mới gặp lại cặp tài danh hát bội Bình Định là Long Trọng – Thu An (đào hát bội Thu An chớ không phải soạn giả Thu An của cải lương). Hỏi dạo này “Ý Hiệp Ban”, tức ban hát bội nổi tiếng một thời ngoài Trung có còn hoạt động hay không, thì Long Trọng lắc đầu chán nản đáp: “Dạo này hát khó sống cho nên vợ chồng tôi đây đã mở quán cà phê hủ tiếu để kiếm ăn, thỉnh thoảng có lễ hội mời thì vợ chồng tôi mới hát thôi”! Người ta lại hỏi thăm cô đào tài sắc của miền Trung là Ngọc Cầm thì cặp Long Trọng – Thu An cho biết cũng mở quán phở như vợ chồng anh thôi. Rõ ràng là nghệ thuật không nuôi sống nổi con người chuyên nghiệp.

Ai đã làm cho sân khấu cổ truyền sụp đổ như vậy? Một hành động cụ thể khác cũng nhằm bảo tồn bộ môn nghệ thuật hát bội của chính quyền thời đó, là khuyến thích việc đào tạo mầm non bằng cách trợ cấp tiền hàng tháng cho học viên, nhưng rồi cũng chẳng đạt được bao nhiêu, nếu không nói là thất bại.

Năm 1969 lớp dạy hát bội của trường Quốc Gia Âm Nhạc Kịch Nghệ, lúc đầu ghi tên 15 người, nhưng hôm khai giảng chỉ có 10 học viên. Dạy được một thời gian người ta nhìn lại thì con số 10 người đã nghỉ học hết 7 còn lại 3. Thêm thời gian nữa thì nghỉ hết 2 còn 1 (như trong câu sấm Trạng Trình). Vậy mà lớp vẫn còn y nguyên, các giáo sư vẫn tiếp tục dạy như thường. Có người hỏi Giáo Sư Đinh Bằng Phi rằng lớp chỉ còn có một ngoe thì dạy cái nỗi gì chớ! Giáo sư trả lời: “Còn người học thì còn dạy chớ sao”!

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/vn-opera-binh-dinh-07062014070848.html

NGÀNH MAI – thông tín viên RFA : “100 Năm Cải Lương Việt Nam”


“100 Năm Cải Lương Việt Nam”

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-04-18
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
100-nam-cai-luong-305

Cuốn “100 Năm Cải Lương Việt Nam” của tác giả Ngành Mai đã hoàn thành, do nhà xuất bản Người Việt phát hành.

RFA files
 

Nghe bài này /

Hôm nay thì quyển sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam” của tác giả Ngành Mai đã hoàn thành, do nhà xuất bản Người Việt phát hành hôm đầu tuần, và đã phổ biến khắp trên thế giới qua hệ thống sách Amazon.

Quyển sách ra đời, ra mắt bạn đọc cùng thân hữu gần xa, đã đáp ứng được sự mong đợi của nhiều người, nhiều giới vốn hằng quan tâm đến việc lưu lại cho các thế hệ sau, những tài liệu quí giá của môn nghệ thuật xuất phát từ trong nhân gian với tên gọi “cải lương”, một cái tên dễ kêu dễ gọi được người đời mặc nhiên chấp nhận.

Thưa quí vị, trong nhân gian người ta nói cái “tôi” là cái đáng ghét, do vậy mà gần 3 năm nay hàng tuần đến với quí vị thính giả trên làn song phát thanh của đài Á Châu Tự Do – RFA, tôi đã tránh nói về cái “tôi”. Do vậy mà rất nhiều thính giả thắc mắc không biết Ngành Mai là ai? Có phải là nghệ sĩ cải lương không mà lại biết nhiều như vậy?

Thế nhưng, hôm nay trong buổi nói chuyện nầy, nếu không nói về cái “tôi” thì không có gì để nói, thành thử ra tôi có lời xin lỗi trước.

Vậy trước khi nói về quyển sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam” tôi xin giới thiệu lướt qua về tiểu sử của Ngành Mai.

Bìa cuốn “100 Năm Cải Lương Việt Nam” của tác giả  Nghành Mai
Bìa cuốn “100 Năm Cải Lương Việt Nam” của tác giả Nghành Mai

Tác giả Ngành Mai gia nhập Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, xuất thân trường Sĩ Quan Thủ Đức, phục vụ ngành truyền tin và huấn luyện ở các Tiểu Khu Gò Công – Hậu Nghĩa – Tây Ninh. Sau 1975 qua các trại cải tạo Trãng Lớn – Phú Quốc – Long Giao – Phước Long. Định cư tại Hoa Kỳ cuối năm 1990 trong chương trình HO.

Là tác giả các tiểu thuyết:

– Cá Bóng Kèo Kho Tộ 1995.

– Cô Gái Việt Và Người Chiến Binh Mỹ 1996, tác phẩm này được được Giáo sư Lê Tú Vinh dịch sang Anh Ngữ với tên A Vietnamese Girl and an American Soldier, và nhà xuất bản Dorrance Publishing ở Pennsylvania phát hành.

cuốn “50 Năm Mê Hát” của nhà khảo cổ Vương Hồng Sển…với hình thức “hồi ký” ghi lại những sự kiện có liên hệ đến “cuộc đời mê hát” của ông. Cụ Vương mê hát đến đỗi từ Sóc Trăng lên học ở Sài Gòn, nhà trọ ở đường Bonard gần chợ Bến Thành, mà đi bộ vô tới Chợ Lớn coi hát, hoặc có lúc thì cũng đi bộ vô Bà Chiểu, Gia Định coi cải lương

– Quyển thứ 3 Tình sử cải lương Cuộc Đời Thanh Nga 2005.

– Sáng lập Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại và giữ chức vụ Hội trưởng từ năm 2000 đến nay. Hàng năm tổ chức thi cổ nhạc Giải Phụng Hoàng.

– Phụ trách trang Cổ Nhạc Kịch Trường hàng tuần trên Nhựt Báo Người Việt.

-Phụ trách tạp chí cổ nhạc Đài Á Châu Tự Do (Radio Free Asia) gần 3 năm nay, mà quí vị đang nghe đây.

Tôi không phải là nghệ sĩ cải lương, nhưng thời còn trẻ rất thường tham gia đờn ca tài tử. Hiện nay tôi là nhà văn, nhà báo. Thế thôi! Thưa quí vị, nghệ thuật sân khấu cải lương từ buổi hình thành, tính đến nay đã 100 năm với bao nhiêu thăng trầm, biến chuyển. Trong quá trình hoạt động đã diễn ra hằng bao sự kiện, đã xảy ra không biết bao nhiêu là câu chuyện liên hệ từ sân khấu đến hậu trường, liên quan đến nghệ thuật, đến con người làm nghệ thuật.

Thế nhưng, cho tới bây giờ người ta chưa thấy cuốn sách nào nói về sự ra đời cùng diễn tiến của hoạt động cải lương một cách tương đối rõ ràng. Ngoại trừ cuốn “50 Năm Mê Hát” của nhà khảo cổ Vương Hồng Sển, được in ấn cách đây gần nửa thế kỷ, xuất bản năm Mậu Thân (1968), với hình thức “hồi ký” ghi lại những sự kiện có liên hệ đến “cuộc đời mê hát” của ông. Cụ Vương mê hát đến đỗi từ Sóc Trăng lên học ở Sài Gòn, nhà trọ ở đường Bonard gần chợ Bến Thành, mà đi bộ vô tới Chợ Lớn coi hát, hoặc có lúc thì cũng đi bộ vô Bà Chiểu, Gia Định coi cải lương.

Với cuốn hồi ký 50 năm mê hát ấy, ông “nhớ gì viết nấy, nghe sao ghi vậy” chớ không có tính cách sưu tầm sâu rộng về lịch sử cải lương, thành thử ra có những sự kiện, cụ Vương đã viết không chính xác, chẳng hạn như khi nói về soạn giả Trần Hữu Trang – Tư Trang, người soạn vở hát Lan và Điệp – Đời Cô Lựu…, soạn giả Tư Trang qua đời tại vùng biên giới Việt – Miên, thì ông lại ghi là mất ở miền Bắc. Và điều này chính ông cũng nhìn nhận bằng mấy giòng chữ: “Và cũng không thấy ai chịu viết nên tôi đánh bạo vọc vạch mấy hàng, không dè đếm được trên trăm trang, trong ấy biết bao là sai lạc vì có khi chỉ nghe lóm…”

Hồi Ký 50 Năm Mê Hát - Năm Mươi Năm Cải Lương của cụ Vương Hồng Sển
Hồi Ký 50 Năm Mê Hát – Năm Mươi Năm Cải Lương của cụ Vương Hồng Sển

Ông nói đúng, không ai chịu viết nên ông đánh bạo vọc vạch mấy hàng, và nghe lóm thì đâu chính xác.

Tóm lại là cuốn “50 Năm Mê Hát” của cụ Vương Hồng Sển cũng cho người ta biết được một số sự kiện trong hoạt động cải lương của thời xa xưa, nhưng thu hẹp trong phạm vi nghệ thuật được thể hiện quanh ông mà thôi, trong tầm mắt của một người mê hát như tựa đề cuốn sách vậy.

Riêng tôi, Ngành Mai tác giả quyển “100 Năm Cải Lương Việt Nam”, thì do hoàn cảnh cuộc sống đã vô tình giúp tôi có được cơ hội, cùng điều kiện thuận lợi để tìm hiểu. Và cũng do yêu thích môn nghệ thuật đặc thù này nên đã lưu giữ được rất nhiều chứng liệu, hình ảnh về cải lương

Và cũng kể từ ngày cuốn sách “50 Năm Mê Hát” của cụ Vương Hồng Sển ra đời đã gần nửa thế kỷ nay, mà cũng chưa thấy ai viết cuốn nào khác, dù rằng cải lương vẫn tiếp tục hoạt động. Tuy rằng khi thăng lúc trầm, nhưng chung quy cải lương vẫn tồn tại, vẫn được nhiều người hâm mộ. Dù cải lương sân khấu có yếu ớt, tê liệt, nhưng cải lương truyền hình vẫn có mỗi ngày. Các kênh truyền hình trong nước và hải ngoại đều có cải lương. Như vậy cải lương vẫn sống với một hình thức khác, đó là chưa nói đến băng dĩa tràn ngập đầy dẫy khắp nơi.

Vậy do đâu mà không có người viết về cải lương? Theo tôi thì do bởi cải lương không phải chỉ hoạt động hạn hẹp ở một vài nơi, nào đó, mà môn nghệ thuật này sau khi hình thành ở Nam Kỳ Lục Tỉnh đã tỏa rộng đi khắp 3 miền đất nước. Cải lương không dừng lại ở trong nước, mà đã theo chân người Việt đi Miên đi Lèo phục vụ đồng bào xa xứ. Tiếp đó thì đi Pháp cùng các nước Âu Châu, và từ năm 1975 thì cải lương hiện diện ở Hoa Kỳ.

Do cải lương hoạt động cùng khắp, thì cái khó khăn của vấn đề là làm thế nào tập trung hằng bao sự kiện, diễn ra ở mọi nơi để đưa vào một bộ sách. Công việc ấy đòi hỏi người thực hiện phải liên tục sưu tầm suốt thời gian dài, nếu không muốn nói là suốt một đời người bỏ công tìm tòi và ghi lại.

Thời gian qua nhiều vị thức giả, độc giả bốn phương của nhựt báo Người Việt, là tờ báo lớn nhứt ở hải ngoại đã khuyến khích tôi nên sớm hoàn thành quyển sách nói về cải lương. Bởi theo như quí vị thì những bài viết về cải lương, được đăng hàng tuần trên tờ báo Người Việt, rất có giá trị về mặt văn hóa, mà kho tàng văn học nghệ thuật nước nhà không thể bỏ sót.

Riêng tôi, Ngành Mai tác giả quyển “100 Năm Cải Lương Việt Nam”, thì do hoàn cảnh cuộc sống đã vô tình giúp tôi có được cơ hội, cùng điều kiện thuận lợi để tìm hiểu. Và cũng do yêu thích môn nghệ thuật đặc thù này nên đã lưu giữ được rất nhiều chứng liệu, hình ảnh về cải lương. Trong nhiều thập niên theo dõi hoạt động sân khấu, tôi đã thu thập khá nhiều sự kiện, đồng thời với sự khuyến khích của nhiều người, do đó là động lực cho tôi thực hiện bộ sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam”. Ngay chương 1 mở đầu, tôi đề cập đến nguồn gốc phát sinh nghệ thuật cải lương xuất hiện ở Nam Kỳ Lục Tỉnh. Từ ngữ “Cải Lương” có từ bao giờ, ai là người đã “chế” ra hai chữ cải lương, được coi như đại diện cho loại hình văn hóa nghệ thuật dân tộc?

Sang qua chương 2 của quyển sách, tôi nói về vở hát “Tây Thi gái nước Việt” được gánh Năm Châu đưa lên sân khấu từ mấy năm đầu thập niên 1950. Có nhiều bí ẩn quanh việc ra đời của vở hát lừng danh này, mà trong quyển sách tôi trình bày nhiều chi tiết. Các chương kế tiếp của quyển sách tôi đã đề cập:

– Cải lương trong khu kháng chiến hoạt động song song với cải lương ngoài thành. Các đoàn hát ở khu kháng chiến miền Đông, miền Tây Nam Việt hát xướng ra sao trong thời chiến. Các nam nữ nghệ sĩ ở trong mật khu gồm những ai? Thời gian có Hòa Đàm Ba Lê đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp, thì trước đó các nghệ sĩ cải lương ở miền Bắc đã có mặt trình diễn các rạp ở Paris rồi.

– Soạn giả Trần Hữu Trang – Tư Trang đã dựa vào tác phẩm “Tắt Lửa Lòng” của nhà văn Giáo sư Nguyễn Công Hoan để soạn thành kịch bản “Lan và Điệp”, vở hát được coi như sống mãi với thời gian. Cuốn bài ca Hoa Rơi Cửa Phật được sao chép lại đầy đủ trong quyển sách. Từ lâu nay đại đa số khán giả cải lương đâu có biết rằng cô Lan, cậu Điệp là người Bắc. Ngôi chùa Lan đi tu là chùa Phương Thành thuộc tỉnh Bắc Giang nằm cách Ga Kép độ 5 cây số.

– Năm 1961 soạn giả Trần Hữu Trang rời Sài Gòn, vào mật khu hoạt động văn nghệ, với chức vụ chủ tịch Hội Văn Nghệ Giải Phóng. Trong bài nói về soạn giả Trần Hữu Trang, tôi có đề cập đến trận dội bom rải thảm của pháo đài bay B. 52 đầu Xuân Bính Ngọ 1966.

– Ông Ba Bản bầu gánh hát Thủ Đô, sau 1975 định cư ở Hoa Kỳ, ông có đi Pháp gặp Cựu Hoàng Bảo Đại. Cựu Hoàng có hỏi ông về gánh hát, thì ông Ba Bản nói rằng, ông từng cứu mạng sống soạn giả Thu An, lại còn giúp cho làm giàu. Vậy mà Thu An đã phản, dẫn cô đào chánh Ngọc Hương ra đi, khiến cho gánh hát suy sụp và rồi thì rã gánh. Phải ai đó phản thì chẳng nói làm gì, Thu An phản nên ông nhớ hoài…

Nghe xong Cựu Hoàng nói:

– Thôi bỏ qua đi ông ơi! Thằng Thu An phản, ông chỉ bị tiêu mất có một gánh hát hát. Còn Ngô Đình Diệm phản tôi, tiêu tan cả một cơ đồ Nhà Nguyễn, thế mà tôi vẫn còn ngồi đây. Ông nhớ lâu dài thằng Thu An phản làm chi cho tổn thọ.

Câu chuyện này ông Ba Bản nói lại với tôi, lúc đến thăm ông ở San Diego miền Nam California Hoa Kỳ.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/book-100yrs-cailuong-04182014075839.html

NGÀNH MAI – thông tín viên RFA : Bài vọng cổ “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”


Bài vọng cổ “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-08-07
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
Bản Dạ Cổ Hoài Lang do ông Cao Văn Lầu, tức nhạc sĩ Sáu Lầu ở Bạc Liêu cho ra đời từ năm 1918

Bản Dạ Cổ Hoài Lang do ông Cao Văn Lầu, tức nhạc sĩ Sáu Lầu ở Bạc Liêu cho ra đời từ năm 1918

RFA files
 

Bản Dạ Cổ Hoài Lang do ông Cao Văn Lầu, tức nhạc sĩ Sáu Lầu ở Bạc Liêu cho ra đời từ năm 1918, được rất nhiều tay ca tài tử học thuộc lòng và ca trong các buổi sinh hoạt, tiệc tùng, hội hè, đình đám. Đến khoảng giữa thập niên 1930 thì bản nhạc thịnh hành, lan rộng nhiều nơi vùng đất Nam Kỳ Lục Tỉnh. Thời điểm đó bài Dạ Cổ Hoài Lang nhịp 4 được rất nhiều người ca, và trong số có Năm Nghĩa.

Năm Nghĩa tên thật là Lư Hòa Nghĩa, người Bạc Liêu, lúc đó còn là tay ca tài tử chứ chưa đi hát, và cũng chưa lên Sài Gòn. Giới mộ điệu cổ nhạc hầu như ai cũng nhận thấy Năm Nghĩa có làn hơi ca đặc biệt, ru hồn người nghe, độc đáo là tiếng hơ hơ hơ cuối câu ca, đã làm cho bài vọng cổ thêm du dương, mùi mẫn.

Thế nhưng, bài Dạ Cổ Hoài Lang lúc ấy còn nhịp 4 quá ngắn, khiến cho làn hơi ca thiên phú của Năm Nghĩa bị ngăn chận lai, mất đi sự truyền cảm, nói rõ hơn là nhịp 4 đã không đủ thời gian cho Năm Nghĩa trổ hết tài năng cùng giọng ca độc đáo. Do vậy mà nhiều đêm Năm Nghĩa trằn trọc không ngủ được, suy tính làm sao cho bài Dạ Cổ Hoài Lang dài ra, chữ đờn nhiều gấp đôi mới đáp ứng được làn hơi ca trời cho của ông.

Trong một đêm nọ (1934) Năm Nghĩa chơi đờn ca tại nhà người bạn ở gần chùa Vĩnh Phước, gặp phải cơn mưa tầm tã không dứt nên ngủ luôn tại đây. Đêm khuya thanh vắng, giữa không gian âm u tỉnh mịch, bỗng tiếng chuông chùa vọng lại từng hồi. Năm Nghĩa giựt mình thức giấc, và không biết đang mang tâm trạng gì mà chỗi dậy viết ngay bài ca theo điệu Dạ Cổ Hoài Lang dài ra. Năm Nghĩa xuất thần viết một loạt 20 câu, với câu mở đầu “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”, và đặt tên bài ca là “Vì Tiền Lỗi Đạo”.

Sáng hôm sau Năm Nghĩa đến nhà thầy là ông Sáu Lầu, ca cho ông nghe thử bài ca vừa sáng tác, cũng theo điệu Dạ Cổ Hoài Lang. Đồng thời đề nghị với thầy là thêm chữ đờn vào mỗi câu, có nghĩa là kéo dài ra gấp đôi cho hợp với bài ca mới viết ấy.

Nhận thấy có lý, và cũng cảm nhận được giọng ca mùi của Năm Nghĩa cùng tiếng hơ hơ hơ thì mỗi câu phải dài hơn mới hay. Thế là nhạc sĩ Sáu Lầu mời thêm 2 ông thầy đờn khác là nhạc sĩ Ba Chột và nhạc sĩ Mười Khói đến bàn luận. Cả ba ông hội ý thêm chữ đờn kéo dài bài Dạ Cổ Hoài Lang tăng lên nhịp 8, tức gấp đôi để đủ thì giờ cho Năm Nghĩa hát thoải mái bài 20 câu “Vì Tiền Lỗi Đạo” do Năm Nghĩa mới sáng tác.

Thời gian gần một năm sau bài Dạ Cổ Hoài Lang nhịp 8 mang tên “Vì Tiền Lỗi Đạo” phổ biến lên Sài Gòn, giới đờn ca tài tử ở Hòn Ngọc Viễn Đông hân hoan chào đón, đưa vào sinh hoạt và giới hâm mộ hoan nghinh, gọi là bài “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa” và cũng kể từ đó thì cái tên “Dạ Cổ” cũng được người ở Sài Gòn gọi trại là “Vọng Cổ” luôn cho tới bây giờ.

Ông Cao Văn Lầu, tức nhạc sĩ Sáu Lầu ở Bạc Liêu sinh năm 1892 mất năm 1976.
Ông Cao Văn Lầu, tức nhạc sĩ Sáu Lầu ở Bạc Liêu sinh năm 1892 mất năm 1976.

Thuở ấy hãng dĩa hát Asia của ông Ngô Văn Mạnh, mà thiên hạ thường kêu là Thầy Năm Mạnh thành lập trước đó chẳng bao lâu. Nhận thấy bài vọng cổ “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa” rất được giới mộ điệu ưa thích nên cho người liên hệ với Năm Nghĩa để thu thanh dĩa hát.

Tài liệu liên quan bộ dĩa “Vì Tiền Lỗi Đạo”

Liên quan đến vấn đề này, ký giả kịch trường Thiện Mộc Lan người gốc ở Sa Đéc đã trao cho tôi một tài liệu như sau:

Một nhà báo khi viết về Năm Nghĩa trong những ngày đầu tiên đến với Asia đã ghi: “… có một chàng trai trẻ,

độ 20 tuổi người xứ Bạc Liêu. Anh mặc bộ đồ lụa ngà, mang đôi guốc vông, ăn nói chậm rãi. Thầy Năm Mạnh nghe giọng ca, ưng ý, tuyển chọn anh ca ngay bộ dĩa đầu tiên cho hãng. Đó là bản vọng cổ nhịp 8, 20 câu “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”. Giọng ca của anh thật đặc nét, nghe buồn não nuột ở những chữ ngân dài cuối câu hơ… hơ… miên man sầu thảm.”

Vào năm 1958, ký giả Tô Yến Châu (báo Tiếng Chuông) có mời một số anh em văn nghệ sĩ Sài Gòn về quê ông ở Cần Giuộc (Long An) dự đám giỗ thân phụ. Chuyến đi ấy có nghệ sĩ Năm Nghĩa (đang là bầu gánh đoàn Thanh Minh). Trong bữa tiệc vui, đông – đảo anh em có mặt hôm đó đồng thanh đề nghị anh Năm ca lại bản vọng cổ “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”.

Anh Năm liền đứng lên, lặng người trong phút giây rồi nói chậm rãi:

– “Các anh, các chị, các bạn, hôm nay tôi vui quá nên uống nhiều. Uống nhiều thì hơi say, mà hơi say thì nói hơi

nhiều. Nói nhiều vì có nhiều tri âm tri kỷ hiểu mình và từng thương nhau, ôm nhau trên sân cỏ hay trong hậu trường sân khấu. Sao tôi thích ăn nói chớ không thích ca trong khung cảnh này. Mấy chục năm qua rồi, Năm Nghĩa hồi đó và Năm Nghĩa bây giờ đã trải qua bao nhiêu bước thăng trầm. Tuổi đời đã cướp dần tiếng ca. Tôi ca dở hơn hồi nhỏ tôi sẽ buồn, nhưng tôi vẫn ca mặc dù tôi biết tôi sẽ buồn.”

Một tràng pháo tay nổi lên tán thưởng câu nói ấy. Mọi người đều im lặng để lắng nghe “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”. Trong lúc ca, anh Năm có vẽ mặt buồn khác lạ. Khi vừa ca xong ba câu thì anh “thở ra” rồi nói:

– Xin lỗi các anh, các chị, các bạn, tôi hơi mệt nên chỉ ca ba câu và hứa năm tới sẽ ca nguyên bản… Lần đám giỗ sau (có lẽ năm 1960) tại Cần Giuộc, cũng đông đảo những người thân của ký giả Tô Yến Châu nhưng vắng bóng nghệ sĩ Năm Nghĩa, vì ông đã vĩnh viễn giã từ sân khấu và bạn bè tri âm tri kỷ vào cuối năm 1959.

Kể từ ngày bộ dĩa “Vì Tiền Lỗi Đạo” được phát hành phổ biến cùng khắp cả Đông Dương, thiên hạ đã lấy câu mở đầu “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa” để gọi, rồi dần dần trở thành tên của bài ca luôn

Ngoài tài liệu trên, anh Thiện Mộc Lan cũng trao cho tôi bộ dĩa hát “Vì Tiền Lỗi Đạo” gồm 2 dĩa mà thiên hạ đã gọi “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”. Bộ dĩa lịch sử vọng cổ nhịp 8 đầu tiên kia, tính đến nay đã 80 năm rồi, tôi nghĩ rằng chẳng mấy ai còn lưu giữ được, nếu không muốn nói là không còn thêm một bộ dĩa nào nữa mang tên“Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”.

Tôi cũng nói thêm ký giả kịch trường Thiện Mộc Lan khi xưa cộng tác với tờ báo Đuốc Nhà Nam của ông Trần Tấn Quốc. Trong buổi nói chuyện ngày hôm nay, tôi nhờ làn sóng đài Á Châu Tự Do chuyển về lời chân thành cám ơn ký giả Thiện Mộc Lan ở SaĐéc.

Và bây giờ xin mời quí vị nghe một đoạn mở đầu dĩa hát “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa” với giọng ca Năm Nghĩa. Do dĩa quá lâu, mà kỹ thuật thu thanh thời xa xưa ấy lại quá kém cỏi, quí vị ráng nghe vậy.

Bộ dĩa “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”, nghệ sĩ Năm Nghĩa ca do hãng dĩa Asia phát hành năm 1934 gồm 2 dĩa. Quí vị vừa nghe 1 mặt dĩa, tức 1 phần tư bài vọng cổ. Đây là bộ dĩa hát vọng cổ lịch sử, tôi đang giữ gìn, với ước muốn sau này nó được có mặt trong bảo tàng văn hóa nghệ thuật nước nhà.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/trad-music-08072014-08072014113559.html

NGÀNH MAI, thông tín viên RFA : Hát bội bị bỏ quên trên màn ảnh truyền hình


Hát bội bị bỏ quên trên màn ảnh truyền hình

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-08-30
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
Một gánh hát bội trình diễn ở miền Nam

Một gánh hát bội trình diễn ở miền Nam

Văn nghệ tiền Giang
 

Cách đây không lâu trên làn sóng phát thanh này, tôi có nói về hát bội miền Nam, hát bội miền Trung, tức hát bội Bình Định. Sau đó thì giáo sư Đinh Bằng Phi nhà ở Sài Gòn, có liên lạc với tôi nói chuyện về hát bội, và ông gởi cho tôi dĩa hát bội thu thanh từ thời thập niên 1960.

Người ta còn nhớ từ thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, bộ môn hát bội Ban Vân Hạc đã thường xuyên có trên đài phát thanh Sài Gòn. Đến khi truyền hình ra đời thì hát bội cũng vẫn có chỗ đứng, khán giả yêu thích vẫn còn được thưởng thức trên màn ảnh nhỏ, với chương trình hát bội Đinh Bằng Phi được bà con yêu mến bộ môn nghệ thuật này đón coi.

Nhưng càng về sau do sự chèn ép của cải lương, nhứt là hồ quảng thì hát bội lại càng chịu thua thiệt. Mấy năm đầu đài truyền hình mỗi tuần đều có hát bội, nhưng về sau thì lơi dần, hai ba tuần mới có, và đài đã cho phát cải lương hồ quảng thay thế.

Đến khoảng 1974 thì hát bội hầu như bị gạt ra ngoài, trên truyền hình ít khi được chiếu, do đó đã gây bất mãn cho giới yêu thích hát bội, họ gởi thơ lên đài truyền hình, gởi cho báo chí đăng tải nói lên vấn đề. Sau đây là lá thư gay gắt của ông Công Thành, một công chức hồi hưu gởi cho đài truyền hình, cho báo chí vào khoảng 1974, tôi đọc lại để cùng quí vị thấy rằng hát bội bị chèn ép ra sao, và có người đã “mê” hát bội đến cỡ nào.

Và lá thơ có nội dung như sau:

Mấy lúc gần đây, người ta rất lấy làm ngạc nhiên khi thấy bộ môn hát bội vắng bóng trên đài Truyền Hình Việt Nam. Là người có chút ít ưu tư cho nền văn hóa dân tộc, chắc không ai là không lưu tâm đến bộ môn sân khấu cổ truyền đó trước tình thế hiện tại. Hát bội không còn đất sống người ta chỉ còn mong được xem trên khung kiếng truyền hình.

Cái trật tự của ngàn xưa lồng khuôn nền luân lý Khổng Mạnh thể hiện bằng nghệ thuật hát bội. Thế mà bọn già chúng tôi lại bị thất vọng! Không hiểu vô tình hay cố ý, bộ môn hát bội đã bị bỏ quên một cách tệ hai. Này nhé: Cứ cả tháng mới được một lần, chúng tôi phải chờ đợi đến mỏi mắt mãi đến hơn 10 giờ đêm Thứ Tư mới được xem. Bọn khán giả già cố thức để mà xem, nhưng lại không thỏa mãn, vì tuồng quá ngắn, phải xén bớt đi nhiều đoạn hoặc chờ tiếp kỳ sau. Bao nhiêu đó chưa đủ, quý vị còn gạt gẫm chúng tôi loan báo là có hát bội. Thế rồi có hôm chờ mãi, chờ mãi hết tin tức đen phóng sự rồi bình luận, chúng tôi cũng kiên nhẫn ngồi xem cho đến 23 giờ đêm để rồi được quí vị cáo lỗi vì lý do… kỹ thuật, tuồng hát bội hôm nay được thay bằng một chương trình tân nhạc.

Thế thì đành chờ quí vị thương tình trả cho một buổi hát bội trong kỳ tới vậy. Thế rồi, than ôi! Tuần tới giờ giải trí đêm Thứ Tư lại là tuồng cải lương hồ quảng. Không phải vì óc kỳ thị, nhưng chúng tôi sẽ buồn mà thấy quí vị quá

lạm dụng bộ môn cải lương đó. Chúng tôi đã nhiều lần châu mày trước những câu văn rẻ tiền của cái được mệnh danh là cải lương hồ quảng. Xét về nội dung lẫn hình thức, bộ môn này chỉ thỏa mãn được một số đông người bình dân dễ tính.

Thế mà hát bội lại bị hát hồ quảng chèn ép một cách tệ hại. Không thể ngồi yên một cách tiêu cực, chúng tôi cố gắng sức già gióng lên một tiếng chuông kêu cứu, thỉnh cầu quý giới chức có trách nhiệm ở đài Truyền Hình Việt Nam vui lòng xót thương cho một bộ môn nghệ thuật đang bị diệt vong trước làn sóng văn nghệ ngoại lai, mà giúp cho hát bội được góp mặt khá hơn trên quý đài. Chúng tôi cũng thiết tha mong chương trình này được phát hình sớm hơn thường lệ để bọn già chúng tôi đỡ phải mỏi lưng chờ đợi.

Lá thư được chấm dứt tại đây.

Hát bội là một bộ môn nghệ thuật cổ truyền lâu đời, thịnh hành qua nhiều thế hệ và mọi người trong chúng ta có

lẽ  không một ai lại muốn cho nghệ thuật văn hóa dân tộc này bị mai một. Thế nhưng, nói thì nói thế chớ trên thực tế thì trong quá khứ từ thời trước 1975 hát bội đã bị chèn ép một cách thảm hại, và rồi đây không biết có tồn tại được chăng? Giáo Sư Đinh Bằng Phi nguyên là giáo sư dạy tại trường Trung Học Vũng Tàu. Về sau biệt phái về Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa, và dạy môn hát bội tại trường Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch Nghệ Sài Gòn. Ông từng đoạt giải văn học nghệ thuật của Tổng Thống về môn hát bội.

Giáo Sư Đinh Bằng Phi gởi cho tôi dĩa hát bội tuồng Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu với các nghệ sĩ thủ các vai như sau:

– Nữ nghệ sĩ Năm Đồ vai Lưu Kim Đính.

– Nữ nghệ sĩ Ba Út vai Triệu Hoàng Cơ.

– Nghệ sĩ Năm Còn vai Dư Hồng.

– Nghệ sĩ Chín Luông vai Vua Triệu Khuông Dẫn.

– Nghệ sĩ Thành Tôn vai Quân sư.

– Nghệ sĩ Mười Sự vai Cao Quân Bảo.

Với các nhạc sĩ: Sáu Vững (đờn cò). Tư Phúc (kèn). Hai Giác (đánh trống). Văn Vĩ (thổi tiêu). Năm Cơ (kìm).

Tất cả các nghệ sĩ, nhạc sĩ trên đây đều qua đời.

Và bây giờ, trước khi mời quí vị nghe vở tuồng hát bội Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu. Tôi nhờ làn sóng phát thanh này chuyển lời thành thật cám ơn Giáo Sư Đinh Bằng Phi.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-08230-nm-08282014070421.html

NGÀNH MAI , phóng viên RFA : Tổ cải lương là ai và thờ Tổ từ bao giờ?


Tổ cải lương là ai và thờ Tổ từ bao giờ?

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-09-05
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ Sân Khấu Hải Ngoại Tổ Chức Lễ Giỗ Tổ

Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ Sân Khấu Hải Ngoại Tổ Chức Lễ Giỗ Tổ

Cailuongvietnam.vn
 

Hằng năm ngành sân khấu Việt Nam có lệ tổ chức lễ Giỗ Tổ (còn gọi là Cúng Ông) để tưởng nhớ đến tiền nhân khai sáng nghề nghiệp, và truyền thống này vẫn được duy trì, lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Cúng Tổ cũng là cơ hội để cho giới nghệ sĩ họp mặt nhau những bạn hữu xa gần sau một năm dài làm nghệ thuật phục vụ bà con hâm mộ cải lương.

Thời kỳ trước 1975, hằng năm hễ đến ngày 11 Tháng Tám Âm Lịch thì tại nhà Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ở đường Cô Bắc, anh chị em đào kép các gánh tụ tập về đây để tổ chức cúng Tổ chung một bữa, để ngày hôm sau 12 Tháng Tám, ai nấy đều trở về gánh mình lo cúng Tổ riêng tại đoàn.

Trong những năm mà cải lương còn hưng thịnh thì ngày cúng Tổ tại nhà Hội rất linh đình, nhưng những năm từ sau

Tết Mậu Thân, cải lương quá kiệt quệ thì lễ cúng Tổ cũng quá sơ sài, khiếm khuyết, nhưng dầu sơ sài hay linh đình gì thì nghi thức cúng lễ vẫn gồm có mấy việc: Tắm Tổ và thay quần áo, chít khăn mới.

Giờ cử hành chánh lễ thì một vị cao niên nhứt trong ban chấp hành của Hội được bầu làm chủ tế. Một nhạc sĩ lỗi lạc nhứt được giao phó cho chức “trưởng nhạc lễ”. Sau khi vị chủ tế nguyện hương xong thì lần lượt từ lớn đến nhỏ, nghệ sĩ dâng hương, lạy Tổ, cầu mong Tổ ban cho duyên dáng nghề nghiệp và kết cuộc là hưởng lộc Tổ, tức ăn nhậu thả ga…

Thế nhưng, cúng Tổ thì cúng, chớ như ai đó hỏi người trong giới rằng Tổ là ai và thờ Tổ từ bao giờ thì phần đông đã không có câu trả lời, hoặc trả lời một cách lờ mờ. Đó là do bởi họ chỉ lo hát, lo làm nghệ thuật, chớ ít ai chịu khó tìm hiểu để nắm vững vấn đề, hầu trả lời một cách thống nhứt với thiên hạ.

Thời kỳ trước 1975, hằng năm hễ đến ngày 11 Tháng Tám Âm Lịch thì tại nhà Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ở đường Cô Bắc, anh chị em đào kép các gánh tụ tập về đây để tổ chức cúng Tổ chung một bữa, để ngày hôm sau 12 Tháng Tám, ai nấy đều trở về gánh mình lo cúng Tổ riêng tại đoàn

Nhân ngày cúng Tổ cải lương hằng năm, tôi xin nói qua về những huyền thoại, mà tôi đã tìm hiểu, ghi lại và hôm nay xin trình bày nhiều chi tiết liên quan đến lễ giỗ Tổ cải lương.

Tổ cải lương là ai? Thọat tiên cải lương không hề có Tổ, bởi bộ môn nghệ thuật này không bắt nguồn từ hát bội,

như một số người cho rằng thế, mà lại là một hình thành của phong trào cầm ca tâm điệu, do những người có chút Tây học đề xướng và được giới tư sản thành thị ủng hộ.

Ngày xưa thập niên 1920 những gánh hát ThầyNăm Tú, gánh Thầy Thận (Sađéc Amis), gánh Đồng Nữ Ban… đều không thấy có khánh thờ Tổ, cũng không cúng kiếng chỉ cả. Mãi cho đến khi đoàn Tập Ích Ban của một người Triều Châu ở Thốt Nốt lập nên, người ta mới thấy có việc thờ Tổ, do bởi gánh Tập Ích Ban tổ chức sân khấu giống hệt như hát Tiều, để rồi từ đó các gánh khác thành lập sau mới bắt chước thờ Tổ.

Cho đến mấy lúc sau này hầu hết các khánh thờ Tổ, cốt Tổ đều được đặt đóng tại Thốt Nốt, bởi người ta nghĩ rằng gốc gác Tổ phát sinh ở đó (nghệ sĩ tiền phong Bảy Nhiêu là người ở Thốt Nốt. Năm 20 tuổibắt đầu gia nhập gánh hát Tập Ích Ban này).

Giới cải lương nói Tổ kỵ kim khí, nên làm khánh thờ Tổ thì tuyệt đối không dùng đinh đóng mà chỉ ráp bằng mộng mà thôi, cốt Tổ thì tiện bằng cây vông, bởi vậy nên đào kép không được phép đi guốc vông. Tổ thì thấy rất nhiều, có nơi thì 9, nơi 12, có nơi thì 6, nhưng đứng hàng đầu chỉ có ba vị gọi là Tam Vị Thánh Tổ: Vị ngồi giữa mặc áo vàng, chít khăn vàng, vị bên trái mặc áo đỏ chít khăn đỏ, và vị bên phải mặc áo xanh chít khăn xanh. Đấy ba vị Đại Thánh Tổ, còn những ông khác có thể là tiên hiền, hậu hiền…

Một kiểu bàn thờ Tổ Nghiệp
Một kiểu bàn thờ Tổ Nghiệp

Cứ theo truyền thuyết thì vị mặc áo vàng ấy là một vị hoàng tử đời nhà Tấn (có lẽ thời Đông Châu) có óc phóng đãng, không thích nghi lễ triều đình nên tìm cách trốn ra khỏi hoàng thành để nhập thân vào dân chúng, sống bằng cách kể lại cho dân chúng nghe bí mật thâm cung hầu kiếm cơm. Ông Hoàng rất có duyên nên đi đếnđâu cũng được thiên hạ mến mộ cuồng nhiệt, cho đến một ngày nọ triều đình hay được tin đó, mới truyền ra cho quan quân tìm bắt vị hoàng tử nghịch ngợm này về hài tội.

Tổ thì thấy rất nhiều, có nơi thì 9, nơi 12, có nơi thì 6, nhưng đứng hàng đầu chỉ có ba vị gọi là Tam Vị Thánh Tổ: Vị ngồi giữa mặc áo vàng, chít khăn vàng, vị bên trái mặc áo đỏ chít khăn đỏ, và vị bên phải mặc áo xanh chít khăn xanh. Đấy ba vị Đại Thánh Tổ, còn những ông khác có thể là tiên hiền, hậu hiền…

Khi vòng vây quân binh siết chặt, ông Hoàngsợ quá leo lên cây vông trốn trên đó, quan quân mang võng đến buộc ông Hoàng nhảy xuống, nhưng ông nhứt định cố thủ để chết khô trêncây vông, do đó bây giờ cốt Tổ được tiện bằngcây vông. Nghệ sĩ cử đi guốc vông và sân khấu cũng kiêng kỵ mắc võng ở hậu trường, hoặc dùng võng trong tuồng hát.

Ông Tổ chánh như thể là một nghệ sĩ chánh cống, quyết tử vì nghệ thuật. Vị tổ mặc áo đỏ, chít khăn đỏ là Hồng Tào

Xạc, một tướng cướp biển vào thời ấy bị triều đình lùng bắt nêncải dạng trốn tránh. Khi đến một ngôi chợ nọ thấy người ta đông đảo bao quanh vị hoàng tử để nghe ông ta kể chuyện thâm cung thì thích thú quá,xin tình nguyện nhập phe với vị hoàng tử để bảo vệ ông này trên đường đi đây đi đó. Nếu có kẻ muốn hiếp đáp hoàng tử hoặc nghe kể chuyện mà không chịu thù lao tiền bạc, cơm nước thì… Hồng Tào Xạc cũng dám ra tay, dùng bạo lực với những kẻ không biết phải. Do đó mà vị hoàngtử được người người mến mộ, nhưng người ta cũng ngán họ Hồng. Cứ theo thuyết này thì ăn cướp không bao giờ dám ăn hàng cải lương, bởi ông Tổ của họ vẫn là em út của Tổ cải lương vậy.

Vào giữa thập niên 1950 trên quốc lộ đi miền Đông, một toán cướp võ trang xuất hiện, chận cướp xe đò xe hàng, tới xe gánh hát thấy khánh thờ Tổ cải lương để phía trước. Tức thì tên đầu đảng ra lệnh cho đàn em không được cướp. Nhờ “cùng chung một Tổ” nên xe gánh hát thoát nạn.

Người ta còn nhớ năm nọ kỳ nữ Kim Cương trong lúc đi ngang qua đường để lấy xe, bị một tên cướp cạn chộp ngay vào cổ, lấy mất sợi dây chuyền bằng cẩm thạch rất “quí giá” vừa tinh thần lẫn vật chất. Vì đó là kỷ vật của một người bạn thân. Phản ứng đầu tiên của Kim Cương là run rẩy và cười. Chẳng hiểu tại sao lại cười? Và còn nói thêm một câu: – Rồi… giựt mất tiêu rồi! Khách qua đường dừng lại rất đông, họ nhìn Kim Cương vừa thương, vừa tò mò xem thái độ của cô đối với sự việc mới xảy ra.

Thời gian không lâu, một người tới và trả lại cho Kim Cương sợi dây chuyển cẩm thạch với lời lẽ rất đáng ghi nhớ:

– Bọn đàn em nó ngu lắm. Nó nhè nữ nghệ sĩ Kim Cương mà giựt dây chuyền. Xin lỗi cô. Hãy tha thứ cho tụi nó.

Rồi anh ta mất dạng.

Kim Cương giựt mình nói vói theo: – Anh ơi, Tổ của mấy anh cũng là một trong tam vị Thánh tổ của sân khấu cải lương. Nghệ sĩ coi “rần rần” như vậy chớ nghèo lắm!

Người ta thường bảo ở cải lương vốn có chất ăn mày, nhưng lại cũng có chất ăn cướp, mặc dầu bản thân họ rất ư là nghệ sĩ. Ít có dân ăn mày nào xin tiền đào kép hát, cũng như đào kép hát kiêng kỵ cho tiền ăn mày, vì họ nhìn nhận hai giới họ cũng là một Tổ

Đến ông Tổ áo xanh là ông Quách Di, một người ăn mày chính cống, khi thấy vị hoàng tử nói chuyện và tự nguyện không lấy tiền ai. Để tùy hỉ ai muốn cho gì cũng lấy thì vị ăn mày tên Quách Di bèn xin theo hoàng tử. Hễ ông này kể chuyện ở đâu thì họ Quách ngửa nón xin bà con cô bác trả tiền giùm cái sự nghe chuyện lạ ấy, để lấy tiền đó cho toán ba người độ nhựt. Nếu ai không đóng góp tiền, cứ nghe cọp mà thôi thì đã có Hồng Tào Xạc ra tay dùng biện pháp mạnh. Người ta thường bảo ở cải lương vốn có chất ăn mày, nhưng lại cũng có chất ăn cướp, mặc dầu bản thân họ rất ư là nghệ sĩ. Ít có dân ăn mày nào xin tiền đào kép hát, cũng như đào kép hát kiêng kỵ cho tiền ăn mày, vì họ nhìn nhận hai giới họ cũng là một Tổ.

Những kiêng kỵ khác của cải lương, bất cứ một bàn Tổ nào của cải lương cũng đều có phái người canh giữ cẩn thận, người đó gọi là ông Từ, ông Từ hay bà Từ có bổn phận lo hương đăng trà quả trên bàn Tổ và cấm không cho người lạ mặt xúc phạm đến Tổ nghiệp. Điều cấm ngặt là không ai có quyền mang trái thị chín đi ngang bàn Tổ, bởi người ta tin rằng như thế tam vị Thánh Tổ sẽ đi theo trái thị và bỏ đoàn hát mất.

Cũng không ai được mang đồ dơ đến gần bàn Tổ, vì Tổ kỵ nhơ uế rất có thể tránh xa, và nếu một ai đóng đinh bàn Tổ, nhét kim khí dưới lư hương của bàn Tổ tức phá hoại cho gánh hát xào xáo, và muốn cho gánh hát đó tan rã hoặc trù ếm cho bầu gánh chết cũng nên. Đèn trên bàn thờ Tổ không ai được dùng đó mà đốt thuốc vì vậy sẽ xúc phạm đến Tổ nghiệp.

Trên đây là những điều đại khái về Tổ cải lương dựa theo lời truyền khẩu trong giới này. Tuy là huyền thoại, nhưng từ trước đến nay ai làm cải lương cũng đều rất tin tưởng vậy. Những năm có tiền cúng Tổ rất lớn, nhưng cũng có năm gặp khó khăn trong việc cúng Tổ.

Người ta còn nhớ vào năm 1965 cải lương đangthịnh thời mà giới nghệ sĩ đã không góp sức, chung đậu để cho Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ngặt nghèo trong việc cúng Tổ hằng năm. Lúc bấy giờ khoảng giữa Tháng Bảy Âm Lịch,ban chấp hành Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu đã họp để bàn nhiều việc…bi đát. Nói bi đát vì qua buổi họp ấy, người ta được biết Hội không còn tiền, mà không tiền thì những việc cần xài tiền đã dồn ban chấp hành Hộivào… ngõ bí.

Đầu tiên là Giỗ Tổ. Đang không tiền, mà lại chuẩn bị Giỗ Tổ khiến cho Ban Chấp Hành Hội lúng túng, vì không thể

không Giỗ Tổ tại hội quán, như từ trước đến giờ.

Kêu gọi cứu trợ thất bại, Hội nghèo quá không làm gì ra tiền, mà hơn một năm qua Hội không thu được tiền đóng

nguyệt liễm của hội viên, nên không có một ngân quỹ tối thiểu. Hội chủ trương đi xin tiền, và đã gởi thơ đến các tòa đại sứ, lãnh sự quán của các nước bạn ở Sài Gòn để nhờ trợ giúp. Hội cũng có gởi thơ đến chánh phủ để xin tiền…

Thế nhưng, chỉ duy nhứt có Tòa Đại Sứ Phi Luật Tân trả lời: Tiếc rằng chưa có tiền để giúp Hội. Tùy viên văn hóa Phi thay mặt Tòa Đại Sứ Phi nói rằng đến khi nào quỹ văn hóa được khá, thì… sẽ nghĩ đến Hội. Còn tất cả các tòa đại sứ, lãnh sự quán khác đều không trả lời.

Riêng chánh phủ trung ương chuyển thơ gởi xintiền của Hội đến ông giám đốc đài phát thanh Sài Gòn. Nghệ sĩ Duy Lân tổng thơ ký của Hội được mời đến đài, ông giám đốc nói rằng Hội lãnh đạo được giới cải lương trong việc tích cực chống Cộng thì chánhphủ sẽ giúp Hội rất mạnh…

Nghệ sĩ Duy Lân nói rằng hồi đó đến giờ Hội chỉ hoạt động trong việc ái hữu tương tế, thì không biết phải làm sao đây? Chắc chắn Hội không hứa với chánh phủ công việc có tánh cách chánh trị ấy, vì Hội không thể hoạt động ngoài phạm vi của Hội. Thật là đen tối…, chưa bao giờ Hội Nghệ Sĩ lâm cuộc khủng hoảng như thời kỳ nầy.

Lúc bấy giờ ông hội trưởng Trần Viết Long, tức ông bầu Long của gánh Kim Chung đang ở Pháp, và Hội chờ ông về nước để có biện pháp hay ho như thế nào, mà vấn đề chánh chỉ là tiền.

Nghe nói thì năm đó ông bầu Long bỏ tiền túi cho Hội cúng Tổ.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-09052014-nm-09052014121539.html

NGÀNH MAI – RFA phóng viên : BÀI VỌNG CỔ “KIẾP CON TẰM”


Bài vọng cổ “Kiếp Con Tằm”

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-09-14
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này

Thời cuối thập niên 1940 hãng dĩa hát Việt Nam đã cho ra đời bộ dĩa vọng cổ trọn 20 câu “Kiếp Con Tằm” do nam danh ca Xuân Liễu trình bày đã làm say mê giới mộ điệu thời bấy giờ.

Thời ấy tại trụ sở đài phát thanh Pháp Á ở đường Boulevard de la Somme (đường Hàm Nghi sau này) là nơi rất nhiều ca sĩ tài tử từ các nơi quy tụ về đây, gồm những giọng ca cổ nhạc được giới mộ điệu yêu chuộng, như có cô Năm Cần Thơ, Thành Công, Sáu Thoàng, Minh Chí, Xuân Liễu, Bạch Huệ, Thanh Hương, Văn Chung v.v… (thời này Văn Chung còn là tay ca tài tử chớ chưa làm hề).

Thời đó thiên hạ đồn đãi rằng vườn hoa cổ nhạc ở nơi đài Pháp Á này, nên bà Sáu Liên ở căn phố gần đó (đường Võ Di Nguy) đã có cái nhìn chiến lược của nhà làm thương mại. Bà thành lập hãng dĩa hát lấy tên “Việt Nam” khai thác các giọng ca đang được mến mộ, mà khỏi phải đi tìm kiếm ở đâu xa, vì đài Pháp Á đã chọn sẵn.

Trong số dĩa hát của hãng Việt Nam phát hành thời ấy, có dĩa vọng cổ “Kiếp Con Tằm”. Đặc điểm của bộ dĩa này là nam danh ca Xuân Liễu ca trọn 20 câu vọng cổ, mà tình tiết. Nội dung kể lại một câu chuyện thương tâm đầy tính chất hoang đường, nhưng cũng rất cảm động ăn sâu vào tiềm thức người nghe hằng bao thế hệ.

Câu chuyện không biết xảy ra ở đâu, ở thời kỳ nào, chỉ nghe truyền khẩu trong nhân gian kể lại rằng, có một túp lều tranh bên giòng suối Thạch Tuyền, đây là chốn sơn khê tháng ngày cô quạnh, đêm đêm chim đỗ quyên thắt thẻo gọi canh trường.

Đêm vắng canh tàn mà vẫn còn leo lét ngọn đèn xanh, nàng Mai Nương đang thắp mấy tuần hương van vái cha già sớm được toàn thân phản hồi cố lý. Lão ông, cha nàng ra ngoài quan ải từ lâu, không một tin tức nào, ra đi không hẹn ngày trở lại, khiến cho nàng nơi quê nhà xiết nỗi nhớ thương.

Đường xa vạn lý, bước quan san bốn bề hoa cỏ lạ, sớm gió chiều sương, chẳng biết ngàn dặm ra đi giữa đất trời tuyết sương phong vũ, người cha có được vẹn toàn thân thể, hay là cát bụi giang hồ vùi lấp chí tang bồng.

Quê hương trong những ngày mưa Thu nắng Hạ, gió rít từng đêm, bất giác lòng nàng cảm thấy u hoài vô hạn. Nỗi nhớ cha không bớt lệ ưu phiền. Mai Nương rảo bước đến bên than thở với con ngựa thân yêu rằng:

Tuấn mã ôi! Khi xưa cha ta nhờ mi đưa mấy dặm đường xa. Trèo non vượt suối mi cũng vẫn không dời đổi dạ trung thành. Nếu mi có phải là con vật trung tín khôn ngoan, biết mến thương chủ cũ, thì mi hãy đi tìm cho được cha ta đem về nơi cố lý, để cho phụ tử được trùng phùng. Thì ta xin thề với trời cao đất rộng, ta sẽ bằng lòng kết chặt mối lương duyên. Câu chuyện bắt đầu hoang đường – con ngựa nghe được tiếng người.

Tuấn mã nghe qua hí lên mấy tiếng vang trời. Bốn vó cuốn mau trong đám bụi mờ, chạy thẳng ra ngoài hiểm địa quan san. Trước để mong bày tỏ dạ trung thành, sau nữa để cùng ai kia vẹn niềm tơ tóc.

Rồi một buổi sáng tinh sương, Mai Nương còn đang tựa gối trông chờ. Bỗng nghe có tiếng vó câu hiện đều bên ngỏ vắng. Thì ra con ngựa thân yêu đã tìm ra chủ cũ, nên mới đưa lão ông trở về cho cốt nhục đoàn viên.

Thế là nàng Mai Nương đã toại nguyện, cha con được đoàn viên sum vầy. Đây mới là rắc rối, đối với con tuấn mã phải giải quyết làm sao, bởi nàng đã thốt lên câu nói: “Phụ tử được trùng phùng, thì ta xin thề với trời cao đất rộng, ta sẽ bằng lòng kết chặt mối lương duyên.”

Thật là câu chuyện quá hoang đường!

Tình tiết câu chuyện diễn tiến và kết cuộc ra sao, kỳ tới tôi sẽ trình bày tiếp. Bài vọng cổ “Kiếp Con Tằm” thu thanh dĩa hát thời cuối thập niên 1940 với tiếng hát ngọt ngào thu hút người nghe của nghệ sĩ Xuân Liễu. Đây là một trong số rất ít bài ca vọng cổ còn đủ 20 câu, được Xuân Liễu ca theo lối tài tử còn lưu lại được đến ngày nay.

MẶC LÂM / biên tập viên RFA: Đàn tính hát then


Đàn tính hát then

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-05-17
 

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này

05172013-dan-tinh-hat-then.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Nghệ nhân Hà Văn Thuấn (Tuyên Quang) truyền dạy hát Then, múa Then cho các cháu gái của mình.

Nghệ nhân Hà Văn Thuấn (Tuyên Quang) truyền dạy hát Then, múa Then cho các cháu gái.

Ảnh: Hồng Hà/qdnd
 

 Nghe bài này

Chương trình Văn hóa Nghệ thuật tuần này Mặc Lâm xin được giới thiệu một loại hình văn hóa dân gian của người dân tộc Tày Nùng cũng như Thái ở biên giới phía Bắc, đó là “đàn tính hát then”.

Bắt nguồn từ những nghi lễ tín ngưỡng

Loại hình nghệ thuật dân gian này bắt nguồn từ những nghi lễ tín ngưỡng và cầu đảo trong cộng đồng người dân tộc. Nó được phát triển và dần dần dân gian tự sáng tác theo cảm hứng của mình để miêu tả những mảng đời sống xã hội khác trong đó có tình yêu đôi lứa cũng như những câu chuyện thú vị khác xảy ra trong đời sống cộng đồng.

Hát then là loại hình diễn xướng dân gian tổng hợp trong đó có đàn hát, múa, kể chuyện, và thậm chí diễn trò như một chương trình tạp kỹ thu nhỏ. Người hát và đàn không phải là nghệ sĩ nhưng do yêu thích họ tự nguyện cùng quây quần với nhau sáng tác, trình diễn và biến loại hình này thành di sản văn hóa của cộng đồng.

Đàn tính có khi được những người hát sử dụng cùng lúc và làm cho âm thanh trở nên rộng và sâu hơn trong không gian nơi trình diễn. Trang phục của người đàn và hát rất huê dạng, đầy màu sắc hoa văn. Trang phục là nét chính khiến buổi trình diễn hấp dẫn hơn.

Loại hình nghệ thuật dân gian này bắt nguồn từ những nghi lễ tín ngưỡng và cầu đảo trong cộng đồng người dân tộc. Nó được phát triển và dần dần dân gian tự sáng tác theo cảm hứng của mình để miêu tả những mảng đời sống xã hội khác trong đó có tình yêu đôi lứa

Một buổi hát then thường thấy là người hát và người múa ngồi chung với nhau. Động tác múa rất đơn giản chỉ sử dụng đôi tay lập đi lập lại những mô típ rung chuyển và di dộng nhẹ nhàng thường thấy trong các nghi thức tín ngưỡng của người Tày, Nùng tại vùng Việt Bắc.

 

Hát tính, Làm then trừ tà ma của người Tày
Hát tính, Làm then trừ tà ma của người Tày – Ảnh: H.Hương/TT

 

Cũng có những màn hát múa được biên tập và trình diễn bởi những nghệ sĩ chuyên nghiệp của các đoàn văn công, nhưng người ta vẫn thích được ngồi ngắm người nghệ sĩ của bản làng mình hơn là những âm thanh từ loa điện tử cộng với ánh đèn chói chang của sân khấu.

Đàn tính và hát then

Chúng tôi hỏi chuyện với nhạc sĩ Hoàng Quân, người đã đến thành phố Hồ Chí Minh nhiều chục năm qua mang theo cây đàn tính của quê hương Lạng Sơn với ước muốn phổ biến và phát triển loại hình văn hóa dân tộc này cho các bạn trẻ tại thành phố.

Cuối thế kỷ 16 năm 1598 ông Mạc Kinh Cung bị nhà Lê đánh giạt lên Cao Bằng do buồn quá mới cho quan văn kiếm một đoàn các cô gái đẹp làm thành một đoàn hát then, còn một đoàn khác toàn đàn ông thì hát dàn. Sau này hát được rồi thì đem vào cung vua để hát cho vua khuây khỏa. Đây cũng là loại nhạc hát trong cung đình nhưng chỉ trong thời nhà Mạc. Thời kỳ đó nhà Mạc đã bại trận rồi cho nên không mạnh mẽ như trong triều vua nhà Nguyễn ở Huế. Từ đó trở đi mới có từng đoàn từng tốp chia thành hai loại, một loại là tâm linh, một loại là diễn xướng văn nghệ nó cũng giống như nhạc tài tử và nhạc cải lương vậy.

Đàn tính hát then phát triển ở rừng núi phía Bắc Việt Nam như Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Hà Giang. Những tỉnh sát biên giới với Trung Quốc. Hát then thì phải đi liền với cây đàn tính chứ không phải đây là hai thể loại khác nhau. Đàn tính được người ta làm bằng vỏ của trái bầu lớn và nó đi liền với hát then. Nếu mình sử dụng loại đàn khác thì nó sẽ không còn hay nữa cho nên người ta mới gọi là hát then đàn tính. Thế gian này chỉ có một loại âm nhạc này thôi.

 

Nghệ nhân làm đàn tính ở Cao Bằng. Ảnh: Hồng Gấm
Nghệ nhân làm đàn tính ở Cao Bằng. Ảnh: Hồng Gấm/LĐ

 

 

Hát then thì phải đi liền với cây đàn tính chứ không phải đây là hai thể loại khác nhau. Đàn tính được người ta làm bằng vỏ của trái bầu lớn và nó đi liền với hát then. Nếu mình sử dụng loại đàn khác thì nó sẽ không còn hay nữa cho nên người ta mới gọi là hát then đàn tính

Đàn tính thì hiện nay có hai loại, một loại hai giây và một loại ba giây. Hiện nay về hướng Việt Bắc người ta dùng ba giây hết, cón phía Tây Bắc tức đồng bào Thái thì người ta dùng hai giây nó đơn giản hơn nhưng hai giây hay ba giây thì đều như nhau chẳng qua giây giữa là giây sòl còn giây trên là giây sol. Giây sòl thì quảng 8 nó hạ xuống thấp nữa mới hay được

Ngày xưa hát then đàn tính mang tính chất của đời sống tâm linh thí dụ như người ta cầu mùa, vào lễ tân gia, lễ Kỳ Yên vào tháng Giêng người ta cầu cho mùa màng tốt tươi…gia đình sống lâu sống khỏe, gia cầm chăn nuôi thì phát triển, mang tính chất đời sống tâm linh. Khi hòa bình lập lại rồi thì các tỉnh nó mới thành lập các đoàn văn công sau đó người ta mới sáng tác trong từng đoàn và đi biều diễn nhiêu nơi.

Hiện nay hầu hết ở các miền núi từ sau này nó mang tính chất bảo tồn thôi còn hát thì rất ít vì vậy mình đem vào thành phố Hồ Chí Minh để sáng tác và kêu gọi đồng bào người Kinh kể cả Việt kiều cũng học với mình. Có một bà người Pháp cũng học và sau đó mở một “câu lạc bộ Đàn tính hát then”. Đàn tính hát then thì phát triển trong dân tộc Tày, dân tộc Nùng còn dân tộc Thái thì nó chỉ rất ít trong cách sử dụng đàn hai giây thôi. Hiện nay thì thành lập nhưng nói chung nhà nước không làm được bao nhiêu chỉ khuyến khích phát triển thể loại này để làm hồ sơ di sản UNESCO.

Đàn tính hiện nay phát triển ở các vùng phía Bắc còn tôi là người đầu tiên đưa vô Sài Gòn này và bây giờ tôi đang phát triển trong các trường đại học ở Sài Gòn. Vừa rồi đi thi ở các trường đại học thì sinh viên thi môn đàn tính hát then nó được giải nhất. Mình phải mở ra cho tuổi trẻ ở các thành phố lớn thì nó mới lan tỏa được nhiều hiện nay tôi chú ý trong các trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh. Tôi cũng dạy ở một số câu lạc bộ cho người cao tuổi nhưng rất thiếu thốn kinh phí.

Tôi có diều kiện sáng tác và lại là người Tày nữa. Tơi sinh ra và lớn lên ở Lạng Sơn Cao Bằng cho nên vừa sáng tác vừa rành tiếng Tày tiếng Nùng lại vào ở thành phố Hồ Chí Minh nữa cho nên có cơ hội tiếp cận với nền văn hóa hiện đại của Việt Nam và thế giới nhưng tôi thiếu người bạn đồng hành, thiếu tiển nong để giúp cho người họ. Học cái này thì cần cây đàn tính và đồng thời phải mặc quần áo Tày lên sân khấu thì nó mới đúng gout của nó. Sinh viên đã đi học xa rồi mà còn phải mua quần áo thì cũng khó cho các em.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/dan-tinh-hat-then-05172013074520.html

RADIO RFI : GS Trần Quang Hải: “Nhạc Phạm Duy gắn liền với lịch sử Việt Nam” , 28.012013, PARIS


pham duy_0

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Thứ hai 28 Tháng Giêng 2013
GS Trần Quang Hải: “Nhạc Phạm Duy gắn liền với lịch sử Việt Nam”
Nghe (20:27)
Thêm vào danh mục của tôi
Tải về
Embed

Nhạc sĩ Phạm Duy
DR
Thanh Phương

Qua đời ngày 27/01 vừa qua ở tuổi 93, nhạc sĩ Phạm Duy để lại một di sản âm nhạc đồ sộ gồm hơn 1000 bài, trong đó có hàng trăm sáng tác vẫn được lưu truyền cho tới ngày nay, một số đã trở thành bất hủ.

Nhạc của Phạm Duy dễ đi vào lòng người chính là nhờ những sáng tác của ông dựa trên âm hưởng của nhạc dân tộc và những sáng tác đó gắn liền với vận mệnh nổi trôi của đất nước Việt Nam qua mỗi thời kỳ, từ thời kháng chiến, thời nội chiến cho đến thời hòa bình.

Nói chung, nhạc của Phạm Duy xứng đáng là một mẫu mực của thế hệ những người sáng tác nhạc hiện nay. Đó chính là điều mà giáo sư âm nhạc dân tộc học, nhạc sĩ Trần Quang Hải ở Paris nhấn mạnh khi trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ hôm nay. Giáo sư-Nhạc sĩ Trần Quang Hải

28/01/2013

Nghe (13:56)

TỪ KHÓA : Âm nhạc – Tạp chí – Văn hóa – Việt Nam

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20130128-giao-su-tran-quang-hai-“nhac-pham-duy-gan-lien-voi-lich-su-viet-nam”