Tag Archives: rfa

NGÀNH MAI /thông tín viên RFA: Điền Tử Lang, người ca sĩ đài phát thanh của hai chế độ


Điền Tử Lang, người ca sĩ đài phát thanh của hai chế độ

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2015-08-01
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

hinhminhhoa-622.jpg

Ca sĩ Điền Tử Lang.

Courtesy photo

Your browser does not support the audio element.

Sự hữu hiệu của đài phát thanh

Đài phát thanh là một cơ quan truyền thông mà dù ở chế độ nào cũng đặt nặng, do bởi hiệu năng hoạt động của cơ sở kỹ thuật này rất cao.

Ở đây tôi không đề cập đến những lãnh vực khác mà đài phát thanh mang lại sự hữu hiệu, mà trong buổi nói chuyện này tôi chỉ nói về mặt văn nghệ, nói riêng về cổ nhạc cải lương có liên quan đến đài phát thanh mà thôi. Một tuồng cải lương hát ở rạp thì số người đi coi chỉ vài trăm, nếu như tuồng hay, rạp lớn, đào kép tên tuổi, thì cũng chỉ trên dưới một ngàn khán giả là cùng. Nhưng nếu hôm đó chuyên viên kỹ thuật đài phát thanh mang máy móc đến làm việc, cho trực tiếp truyền thanh thì có hàng triệu người mộ điệu trong cả nước được thưởng thức. Do vậy mà người ca sĩ cổ nhạc cộng tác với đài phát thanh thì quá nhiều người biết đến tên, dù rằng họ chưa một lần gặp mặt, như trường hợp danh ca cổ nhạc Điền Tử Lang.

Người hâm mộ cổ nhạc cải lương của hai ba thế hệ, có ai mà không biết cái tên Điền Tử Lang. Nếu nói về tài nghệ, về làn hơi ca của Điền Tử Lang thì không thể sánh được với nhiều giọng ca quá hay của nghệ sĩ sân khấu. Nói rõ hơn nếu người nghệ sĩ mà quanh năm suốt tháng chỉ hát ở sân khấu, dù rằng ca hay diễn giỏi thì con số người biết đến tên cũng bị giới hạn, còn Điền Tử Lang thì trên cả nước đều biết đến tên tuổi, do bởi anh ta cộng tác với đài phát thanh cả hai thời kỳ trước và sau 1975.

Điều đáng nói ở đây là Điền Tử Lang đã phục vụ thính giả của đài phát thanh Sài Gòn thời kỳ trước 1975 (khoảng 10 năm) và hát trên đài Tiếng Nói Nhân Dân Thành Phố, tức đài phát thanh Sài Gòn cũ được đổi tên (khoảng gần 20 năm). Có nghĩa là Điền Tử Lang đã phục vụ thính giả đài phát thanh cả hai chế độ, và hai thời gian cộng lại gần 30 năm.

Sau 1975 các ban văn nghệ, ca sĩ đài Sài Gòn đã bị cho nghỉ việc, đại đa số phải rời khỏi đài, để cho ca sĩ khác vào thay thế. Nhưng riêng Điền Tử Lang thì ở lại tiếp tục làm việc, mà lại còn làm lâu hơn, gấp đôi thời gian trước 1975. Lý do vì sao thì tự ai nấy biết, tùy theo hoàn cảnh của mỗi người. Có điều tôi muốn nói thêm ở đây là ca sĩ cộng tác với đài phát thanh tuy không nhiều tiền như đi hát, nhưng hưởng lương căn bản, chắc ăn, không có cái chuyện bị giựt tiền lương, bị lãnh đờ mi v.v… do vậy mà Điền Tử Lang kể như may mắn hơn nhiều người khác bị thất nghiệp.

Nhưng ngược lại thì ca đài phát thanh rất nguy hiểm, nghệ sĩ quen hát “cương” phải thận trọng, nếu hát cương (tức lời ca tiếng hát không có trong kịch bản, trong bài ca) mà vô tình phát ra câu hát “phạm chính trị” thì lãnh đủ thôi! Đây, tôi xin kể lại một câu chuyện từng xảy ra trên đài phát thanh Sài Gòn, thời kỳ những năm đầu Đệ Nhứt Cộng Hòa.

Lúc bấy giờ thì Đài Pháp Á đã đóng cửa, đa số ca sĩ ở đài này chạy sang đài phát thanh quốc gia, tức đài Sài Gòn, trong số có ca sĩ Văn Chung, tức hề Văn Chung mà hiện nay đang định cư ở Hoa Kỳ, miền Nam California. Văn Chung lúc ấy là danh ca, dù rằng giọng ca chẳng mấy hay, và ông cũng chưa đi hát, sau này mới cùng vợ là đào Thanh Hương thành lập gánh hát lấy bảng hiệu Thanh Hương – Văn Chung. Lúc bấy giờ Văn Chung tham gia Ban Lệ Liễu, là một ban cổ nhạc có khá nhiều thính giả của đài phát thanh Sài Gòn.

Thời này các ban cổ nhạc của đài phát thanh được lệnh phải soạn bài ca đề cao chế độ thì mới được hát. Ngày nọ khoảng 1957 – 1958 Lệ Liễu (cô cũng là soạn giả) đã viết bài trao cho Văn Chung ca theo điệu Xàng Xê với câu mở đầu “Nước Việt Nam ta dưới chế độ Cộng Hòa”. Nhưng bữa đó Văn Chung lại mở đầu bằng câu ca “Nước Việt Nam ta dưới chế độ Dân Chủ Cộng Hòa”. Văn Chung tự thêm 2 chữ “dân chủ” vào mà hại hết cả đám, kể cả ông luôn, vì đó là chế độ miền Bắc. Người ta nói do miệng ăn mắm ăn muối rồi thần khẩu hại xác phàm hay sao?

Đài kiểm thính của mật vụ Phủ Tổng Thống nghe được, và giám đốc đài phát thanh Sài Gòn bị kêu vô Đinh Độc Lập gặp ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Rồi thì khi ra vẻ với vẽ mặt hầm hầm, ông liền ra quyết định ngưng cho Ban Lệ Liễu cộng tác. Đồng thời làm văn thư gởi Nha Cảnh Sát Công An Đô Thành. Thế là Lệ Liễu và Văn Chung bị điều tra, nhưng nhờ Văn Chung từng là cựu nhân viên cảnh sát đô thành nên được thông cảm, chỉ bị cấm hát trên đài mà thôi.

Như mọi người đều thấy đó, chỉ có 2 chữ “dân chủ” thêm vào bài ca mà giám đốc đài phát thanh bị khiển trách, xém mất chức. Ban Lệ Liễu thì mất chỗ đứng, gây thất nghiệp cho số người trong toàn ban, và Văn Chung thì mất chỗ làm khá lâu, bởi đâu có ban nào dám mời Văn Chung cộng tác lúc đó.

Làn hơi ca mang âm hưởng riêng biệt

rap-long-van-250.jpg
Rạp hát cải lương Long Vân ở Ngã Bảy, Sài Gòn. Photo courtesy of BlogNắngẤm.

Giờ đây xin trở lại vấn đê Điền Tử Lang, danh ca này từng cộng tác với đài phát thanh Sài Gòn trước 1975, trong chương trình “Tiếng Chim Gọi Đàn” của Bộ Chiêu Hồi, thường phát thanh khoảng sau 10 giờ đêm. Thính giả của đài phát thanh Sài Gòn khi xưa, đặc biệt là những người hâm mộ cổ nhạc, chắc không lạ gì 2 giọng ca mùi rệu của đôi nam nữ Điền Tử Lang – Trang Mỹ Hường. Chương trình văn nghệ không những chỉ nhằm đem lại cho giới mộ điệu ở ngoài thành, mà mục tiêu là nhắm vào vùng đồng ruộng xa xôi, nơi thâm sơn cùng cốc. Nói chung dù ở tận

nơi đâu trong rừng rậm mật khu, thì tiếng ca cũng được đem đến, nếu như có chiếc radio nhỏ mang theo.

Làn hơi ca của Điền Tử Lang có âm hưởng riêng biệt, không chạy theo ai hết, không giống với giọng ca nào trên sân khấu hoặc là trong dĩa hát. Còn giọng ca Trang Mỹ Hường thì trầm ấm ngọt ngào, đi sâu vào tình cảm những ai có tâm sự gì đó mà khó bộc lộ ra. Thanh âm ấy cất lên tựa hồ lời than thở của người thiếu phụ trông chồng trong đêm khuya thanh vắng.

Thiên hạ thời ấy nói rằng, ban chương trình văn nghệ chiêu hồi đã khéo tuyển lựa 2 giọng ca nghe sao mà não nuột, tê tái tận cõi lòng, đã đi theo làn sóng phát thanh vào bưng biền, tận nơi rừng sâu núi thẳm. Nếu như người cán binh cộng sản nghe được thì làm sao khỏi nhớ mái ấm gia đình ở quê nhà, nhớ vợ con đang mòn mỏi đợi trông, thì một lúc nào đó có cơ hội là họ sẽ về chiêu hồi.

Người ta không biết rõ hai giọng ca Điền Tử Lang và Trang Mỹ Hường đã làm nản lòng bao nhiêu cán binh, bao nhiêu người về hồi chánh, nhưng chắc ít nhiều gì cũng có tác dụng, nên cả hai mới cộng tác lâu dài ở chương trình văn nghệ chiêu hồi này. Sau ngày 30 – 4 – 75 có lẽ nghĩ rằng ca hát ở cơ quan chiêu hồi là có tội, nên Điền Tử Lang “rét” quá, lánh mặt ở đâu đó một thời gian. Nhưng rồi thấy các nghệ sĩ ở Sài Gòn lần lượt trước sau đi hát trở lại, mà trong đó có Ngọc Đan Thanh cũng từng hát trong ban văn nghệ chiêu hồi với mình, mà chẳng bị lôi thôi gì hết.

Thế là Điền Tử Lang ra trình diện ở đài phát thanh, được cho làm việc trở lại, và được kể là một trong những con chim đầu đàn hưởng ứng nhiệt tình chương trình văn nghệ của đài tiếng nói nhân dân thành phố (tức đài Sài Gòn trước đó). Lúc này thì nội dung lời hát quay ngược 180 độ, lời ca đề cao người bộ đội về thành, chớ không kêu gọi chiêu hồi như lúc trước.

Lúc ấy có người nói rằng Điền Tử Lang hát chiêu hồi hay quá, cán binh cộng sản không phải về hồi chánh lẻ tẻ vài ba người, mà đồng loạt về tràn ngập đi đầy đường ở Sài Gòn…

Điền Tử Lang nói:

– Thôi tội nghiệp mà, đừng phá tôi mà các anh em!

Hát đài phát thanh gần 3 thập niên mà không bị chuyện gì rắc rốilớn lao, kể ra thì Điền Tử Lang cũng tốt số vậy. Thời gian sau thì Điền Tử Lang theo đoàn cải lương Văn Công Thành Phố, lưu diễn miền Trung miền Tây, và anh không muốn ai nói đến dĩ vảng, nhắc tới việc mình từng hát chương trình chiêu hồi. Có người thắc mắc về cái tên Điền Tử Lang sao nghe giống như là kiếm sĩ đất Phù Tang vậy? Điền Tử Lang nói rằng cái tên của anh là do soạn giả Thể Hà Vân đặt cho, lúc mới đi hát ở đoàn Thủ Đô năm 1964.

Hình như Điền Tử Lang chỉ ca cổ nhạc thuần túy, tôi chưa từng nghe anh ta ca tân cổ giao duyên, tức vọng cổ có chen lẫn tân nhạc. Hiện nay danh ca nầy thường hay lẩn quẩn ở các tụ điểm có ca cổ nhạc ở các vùng thuộc tỉnh Gia Định cũ, có ai kêu thì hát cho đỡ nhớ cái nghiệp cầm ca, và cũng để kiếm tiền sống đấp đổi phụ thêm cho một việc

làm nào đó ngoài nghề. Riêng Trang Mỹ Hường thì sau 1975 nghe nói cũng có đi vài đoàn hát nhỏ, lưu diễn nhiều nơi nên rất khó mà biết có thành công hay không. Rồi đến khoảng 1994 đoàn cải lương Sông Hậu ở miền Tây, diễn tuồng Thoại Khanh Châu Tuấn, thì người ta thấy Trang Mỹ Hường đóng đào mụ, trong vai bà mẹ chồng. Thế nhưng, anh kép đóng vai “thần hổ”, thay vì chỉ nói vài lời rồi cỏng mẹ con Thoại Khanh chạy ra khỏi rừng thì hạ màn. Nhưng bữa nay bởi lý do nào đó không biết, anh kép đóng vai cọp lại… ca vọng cổ (tuồng không có lớp ca này).

Trước sự việc “cọp”… ca vọng cổ, bà con khán giả cười như vở chợ. Có người nói: Cha. Đêm nay đoàn chế ra lớp này coi cũng được chứ! Tay đóng vai cọp này ca nghe cũng mùi lắm. Còn nghệ sĩ Trang Mỹ Hường trong vai mẹ chồng của Thoại Khanh mắt đang mù, quá bất ngờ trước giọng ca ngọt ngào của… con cọp, cô ta mở bừng to đôi mắt, quên mất mình đang đóng vai mù. Trang Mỹ Hường cười bò lăn bò càng, té từ trên lưng cọp xuống sàn mà cũng chưa hết cười. Nhiều khán giả đùa: “Hay quá, nhờ có cọp ca vọng cổ mà mắt mẹ chồng Thoại Khanh sáng lại…”

Giai thoại “cọp… ca vọng cổ” ở miền Tây, cũng góp phần làm phong phú thêm cho những câu chuyện bên lề của hoạt động sân khấu cải lương vậy. Và thời gian gần 20 năm qua không biết Trang Mỹ Hường có còn ca hát gì nữa không. Ở đâu?

THY NGA / RFA: Nhạc sĩ Nguyễn Đức với trên nửa thế kỷ đào tạo ca sĩ từ Việt Nam ra tới hải ngoại


Nhạc sĩ Nguyễn Đức với trên nửa thế kỷ đào tạo ca sĩ từ Việt Nam ra tới hải ngoại

 
 

Thy Nga, phóng viên đài RFA

Kỳ này, Thy Nga xin gởi đến quý thính giả một câu chuyện về âm nhạc để quý vị thư giãn thêm vào cuối tuần nhé …

NguyenDuc150.jpg
Nhạc sĩ Nguyễn Đức. Hình của Nhạc sĩ Nguyễn Ðức.

Hôm nọ, cũng ngẫu nhiên thôi, Thy Nga có dịp điện đàm với nhạc sĩ Nguyễn Đức. Quý vị cao niên hoặc trung niên chắc còn nhớ thời trước 1975, ông là người chuyên đào tạo ca sĩ.

Ra hải ngoại năm 1991, định cư tại Toronto, Canada, chưa đầy hai năm sau, nhạc sĩ Nguyễn Đức lại bắt tay vào việc mở lớp dạy nhạc. Từ đầu giây kia, giọng ông nói chuyện vẫn tươi vui, dù là nhạc sĩ Nguyễn Đức cho biết năm nay đã 75 tuổi.

Trả lời câu hỏi của Thy Nga về ban ca nhạc mà ông thành lập đầu tiên, nhạc sĩ Nguyễn Đức nói

Những ca sĩ mà nghệ danh khởi đầu bằng Phương, rồi mới đến hai tên ghép, như Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Ngọc, … đều xuất phát từ lớp nhạc Nguyễn Đức.

Các em được phụ huynh cho đến đó học ca hát từ khi còn bé nên khán thính giả ưu ái thường gọi lớp ca sĩ ấy là từ “lò Nguyễn Đức” sản xuất ra.

“Nỗi lòng người đi” Kim Loan hát …

Và giọng hát sau đây của Phương Hoài Tâm chắc gợi nhớ cho nhiều quý vị lắm về thời xa xôi ấy.

“Tống biệt” …

“Thoi tơ” Thanh Lan hát …

“Mưa trên phố Huế” Hoàng Oanh ca …

Nhạc sĩ Nguyễn Đức nói chuyện rất vui. Phương Diễm Hạnh được nhạc sĩ Nguyễn Đức hướng dẫn về ca hát từ năm 1999. Đến đầu năm 2001 thì được ông giới thiệu với Trung tâm Thúy Nga.

“Nhớ nhau hoài” của Anh Việt Thu – Thiên Hà …

Ca khúc “Nhớ nhau hoài” qua giọng hát Phương Diễm Hạnh kết thúc chương trình về nhạc sĩ Nguyễn Đức.

Thy Nga thân mến chào tạm biệt quý thính giả.

NGÀNH MAI, thông tín viên : Đàn tranh với nghệ sĩ Việt Nam


Đàn tranh với nghệ sĩ Việt Nam

Nghệ sĩ Võ Vân Ánh biểu diễn đàn tranh

Nghệ sĩ Võ Vân Ánh biểu diễn đàn tranh.

Courtesy photo

Cây đờn tranh cũng gọi là đờn thập lục (do bởi 16 dây), đặc tính là tiếng đờn tranh trong trẻo, ngọt ngào. Đờn tranh có tác dụng phục vụ cho nhiều bộ môn như nhạc tài tử, cải lương, dân ca và các điệu ngâm, hò lý. Nhưng tuyệt đối không áp dụng cho nhạc lễ, cũng không có trong hát bội vì môi trường không thích hợp cho loại đờn này.

Nhiều người sử dụng thành thạo

Không biết rõ đờn tranh có từ thời nào, xuất xứ từ đâu, ở Trung Hoa hay ở quốc gia nào du nhập vào nước ta, mà hiện nay giới nữ rất nhiều người sử dụng cây đờn này rất thành thạo.

Người ta không biết khi xưa Nhạc Cung Đình ở Huế có nữ nhạc sĩ đờn tranh hay không, chớ riêng về cải lương và đờn ca tài tử thì từ thập niên 1950 trở về trước, các tỉnh Nam Việt, từ miền Đông đến miền Tây, mà xưa kia gọi là Nam Kỳ Lục Tỉnh đã không thấy nữ nhạc sĩ đờn tranh ở những nơi sinh hoạt đình đám. Nếu có chăng thì cũng rất ít ở đâu đó mà thôi, không thấy xuất hiện sinh hoạt rộng rãi nên kể như không có vậy. Vì thế mà người ta hiểu rằng thời đó chỉ có nam nhân là nhạc sĩ đờn tranh mà thôi.

Người được coi như đứng đầu sử dụng cây đờn tranh là nhạc trưởng Hai Biểu, ông từng có mặt trong các nhóm đờn ca tài tử từ thập niên 1930, được hãng dĩa Asia mời thu trong bộ dĩa Gươm Lục Yểm. Ai nghe qua bộ dĩa này cũng đều nhận thấy ngón đờn tranh tuyệt diệu của ông.

Đáng phục nhứt là lúc Đắc Kỷ (danh ca Tư Bé đóng vai Đắc Kỷ) thất trận bị Dương Tiển rượt đuổi nà. Đắc Kỷ thét lên “kìa kìa Dương Tiển như mây bay gió cuốn…” Tức thì tiếng đờn tranh của Hai Biểu cũng réo rắc dồn dập giống như rượt đuổi theo vậy. Và bắt đầu Đắc Kỷ ca bài Kim Tiền Bản…

Cũng như lúc Đắc Kỷ bị trói ở pháp trường, Dương Tiển vâng lệnh Nguyên Soái Khương Tử Nha ra hành hình, thì Đắc Kỷ cất tiếng than. Lúc ấy tiếng đờn tranh chậm rãi dạo lên với âm điệu trầm lặng, não nề, ai nghe mà không xót xa ở cảnh này chớ. Dù cho ai đó có thù ghét Hồ Ly Tinh bao nhiêu chăng nữa, mà hiện thân là Đắc Kỷ, thì lúc đó cũng cảm thương nàng mà xóa bỏ tội cho nàng. Tóm lại theo giới đờn ca tài tử thời đó thì bộ dĩa Gươm Lục Yểm nếu không có tiếng đờn tranh của Hai Biểu thì không có hay đến thế. Và từ đó về sau chẳng nhạc sĩ đờn tranh nào sánh được với Hai Biểu, bất cứ buổi sinh hoạt đờn ca nào người ta cũng gọi Hai Biểu là nhạc trưởng.

Đến đầu thập niên 1960 trường Quốc Gia Âm Nhạc có lớp dạy đờn tranh, nữ khóa sinh theo học rất nhiều, cứ hết lớp này ra trường, lại tiếp tục đào tạo lớp kế tiếp. Và từ đó trong nhân gian rất nhiều nữ nhạc sĩ đờn tranh xuất hiện.

Những chuỗi âm thanh kỳ ảo

Năm 1992 ở trong nước có mở cuộc thi dành riêng cho nữ nhạc sĩ đờn tranh, với gần 300 cô gái trẻ tham dự. Mười cô được vào chung kết, và kết quả sau cùng 3 cô trúng giải tính từ cao xuống thấp:

Cô giáo Vương Hạnh trong một buổi biểu diễn đàn tranh.
Cô giáo Vương Hạnh trong một buổi biểu diễn đàn tranh.

Cô Nguyễn Hải Phượng ở Sài Gòn trúng giải nhất; cô Đặng Tố Như ở Hà Nội trúng giải nhì; cô Đặng Ngọc Tố Trinh ở Sài Gòn trúng giải ba. Cuộc thi khá lớn này, nữ nhạc sĩ đờn tranh tài hoa đất Thăng Long, cô Nguyễn Hòa Bình đã bỏ chuyến đi biểu diễn ở Thái Lan, cô vào Nam tham gia Hội Đồng Giám Khảo.

Trong đêm khai mạc cuộc thi, cô giám khảo Nguyễn Hòa Bình trong chiếc áo dài màu đen thêu bông vàng, óng ánh kim tuyến. Với dáng vấp đài các, cô xuất hiện với cây đàn tranh trông đẹp như bức tranh Tố Nữ. Dưới bàn tay uyển chuyển bay bướm, lã lướt trên dây dàn, buông ra những chuỗi âm thanh kỳ ảo, làm xao xuyến người nghe. Và tiếp sau đây xin nói sơ qua về thành tích, sự nghiệp cầm ca của 3 nữ thí sinh trúng giải.

Trước hết nói về nữ thí sinh đờn tranh trúng giải nhì là cô gái Hà Nội tên Đặng Tố Như. Cô theo học đàn tranh từ năm lên 9 tuổi, từ trước chưa từng tham gia bất cứ cuộc thi nào.

Tố Như cũng thường theo mẹ dự lễ Hội Truyền Thống, và tham gia vào các giàn nhạc lễ Văn Miếu, Quốc Tử Giám, tại Hội Lim (hát quan họ); tại Đền Hùng. Từ đó tiếng đàn tranh của Tố Như có dịp xâm nhập vào thực tế. Trong cuộc thi tài năng trẻ, Tố Như lọt vào vòng chung kết, sau hai vòng thi khá hồi hợp. Đêm chung kết Tố Như đờn 3 bài: Điệu chèo cổ, điệu dân ca (rặng tre trước gió) và bài dân ca Hoa Anh Đào.

Nữ thí sinh đờn tranh trúng giải ba Nguyễn Ngọc Tố Trinh. Tiếng đàn tuyệt vời của Tố Trinh như bay bổng, như thiết tha gợi nhớ. Tố Trinh từng tham gia vào Lễ Hội Việt Nam tổ chức tại Vương Quốc Thái Lan.

Với tiếng đàn trong sáng vui tươi, hồn nhiên, có lúc trầm lắng miên man, đậm đà tình tự dân tộc. Tố Trinh luôn được sự tán thưởng nồng nhiệt. Báo chí Thái Lan đã dành cột báo lớn giới thiệu tài năng Tố Trinh.

Với chiếc đàn tranh sở trường, Tố Trinh đã mang lại cho khán giả Thái Lan 10 buổi say sưa theo những khúc nhạc dân ca cổ truyền của 3 miền đất nước Việt Nam.

Nhất là khúc nhạc biến tấu điệu Lý Ngựa Ô, một tác phẩm khí nhạc đầy sáng tạo của nhạc sĩ Ngọc Châu qua tài biểu diễn của Tố Trinh. Nhiều tràng pháo tay cổ võ nổ ra liên tục, khi tiếng nhạc ngựa dồn dập phát ra từ đôi tay mang vòng lục lạc, hài hòa với tiếng đàn chập chùng, vó câu muôn dặm, tạo ra bởi các thế đập dây, kéo dây khỏi thành đàn hết sức độc đáo, gây thú vị cho người xem.

Và tiếp đây nói về nữ nhạc sĩ trúng giải nhứt Nguyễn Hải Phượng. Hơn một năm sau, được nhiều hội đoàn mời sang Pháp, phối hợp cùng Giáo Sư Trần Văn Khê biểu diễn nhạc truyền thống Việt Nam tại Paris và các tỉnh lớn.

Sau phần giới thiệu nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng, Giáo Sư Trần Văn Khê nói qua về nguồn gốc, công dụng của nhạc khí dân tộc Việt Nam, đặc điểm một số làn điệu trong nhạc Việt.

Mở đầu chương trình, Giáo Sư Trần Văn Khê và Hải Phượng, tuổi đời cách nhau nửa thế kỷ, một chững chạc hùng hồn, một e lệ khép nép đã chung dòng chảy âm thanh về nguồn cội truyền thống Việt Nam, song tấu đàn kìm và tranh các bài: Lưu Thủy Trường, Xang Xừ Líu, Ngũ Đối Hạ; liên khúc Nam Xuân, Nam Ai, Đảo Ngũ Cung và 3 câu Vọng Cổ.

Tiếp đến, riêng phần Hải Phượng, với các ngón đờn độc đáo điêu luyện, đã mê hoặc người nghe vào âm thanh áo nảo của lớp đầu bài Tứ Đại Oán.

Sau phần nhạc truyền thống là các sáng tác mang âm hưởng dân tộc dành cho đờn tranh mang tên “Tình Ca Quê Hương” của Phạm Thúy Hoan, đã được Hải Phượng thể hiện hết sức tinh tế, đậm đà bản sắc dân tộc. Sau đêm nhạc truyền thống Việt Nam, nhiều khán giả Pháp đã nói rằng họ không ngỡ ngàng xa lạ, mà rất thích thú khi nghe nhạc cổ điển Việt Nam. Số thính giả Việt Kiều sành điệu ca cầm, không ngớt ngợi khen. Bên cạnh đó, giới văn nghệ Pháp còn cho rằng Hải Phượng, với tuổi trẻ đó, tài nghệ đó, thực xứng đáng là “tiếng đờn” đại diện cho thế hệ tài năng trẻ Việt Nam.

Riêng ở hải ngoại nhiều năm nay cũng có các lớp dạy đờn tranh liên tục. Miền Bắc California có lớp của Giáo Sư Ngọc Dung đào tạo khá nhiều nữ học viên, và ở miền Nam California cũng có lớp dạy của Giáo Sư Nguyễn Châu. Đồng thời cũng nghe nói các Tiểu Bang khác, Âu Châu, Canada, Úc Châu cũng có lớp đào tạo nhạc sĩ đờn tranh.

Mặt khác các nữ nhạc sĩ tốt nghiệp ra trường lại mở lớp dạy tại nhà, mà học viên gần như hầu hết là nữ. Do vậy mà càng về sau nữ nhạc sĩ đờn tranh càng nhiều hơn. Có thể nói là quá nhiều, “hằng hà sa số” ở đâu cũng có vậy.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-04110-nm-04102015221049.html

NGÀNH MAI, thông tín viên RFA: CÔ ĐÀO THANH VÂN ĐÓNG VAI MA LẠI….SỢ MA !


Cô đào Thanh Vân đóng vai ma lại… sợ ma!

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2015-04-04
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
090602114531-49-622.jpg

Cô đào Thanh Vân

Courtesy photo

Những “con ma nữ” gây ấn tượng

Xưa nay sân khấu kịch, cải lương hay phim ảnh, tuồng ma thường là ăn khách, kịch bản ma thời nào cũng thu hút khán giả, mà lại không lỗi thời. Do vậy mà trong lịch sử cải lương, đã có những “con ma nữ” gây ấn tượng cho người xem, kể cả chỉ nghe trong dĩa hát thôi mà người ta cũng hình dung được để rồi… sợ.

Còn riêng các cô đào thì sau khi đóng vai ma rồi thì lại sợ ma nhiều hơn, như trường hợp cô đào Thanh Vân đóng vai người vợ ma, trong vở kịch cũng mang tên “Người Vợ Ma” của sân khấu Phú Nhuận. Nhờ vở kịch hay và diễn xuất cũng hay, nên cô đào trẻ Thanh Vân đã làm người vợ ma hơn 300 xuất hát.

Thời đầu thập niên 1960 chỉ có đoàn Thủ Đô của ông bầu Ba Bản cho đào Ngọc Hương bước xuống sân khấu, đi ngang qua khán giả ngồi ở hàng ghế đầu, chớ chưa có đoàn hát nào cho đào kép bước xuống khán giả.

Nhưng bây giờ thời đại canh tân, diễn viên đôi khi đi xuống “giao lưu” với khán giả, và lại cũng có lúc diễn viên từ ngoài cửa đi vào, dọc theo hai bên dảy ghế, tức từ sau lưng khán giả đi tới bước lên sân khấu. Trong vở kịch “Người Vợ Ma” đào Thanh Vân trang phục hóa trang “con ma nữ” xuất hiện bất ngờ, từ sau hàng ghế khán giả, nên làm họ giựt mình hoảng sợ. Và theo phản xạ tự nhiên nên họ đã xô đẩy hoặc co chân đạp cô nàng. Có một số khán giả bị vở diễn lôi cuốn, nhập tâm đến độ nhầm lẫn giữa nhân vật và diễn viên nên đã “dị ứng” và rất sợ người con gái “ma”.

Nhớ đóng vai ma, Thanh Vân trở nên sáng giá, cô luôn bận rộn với các sô diễn. Nhà báo muốn gặp phỏng vấn cũng khó, và phải canh giờ mới gặp được “ma” trên mạng.

Tiếp xúc với nhà báo, Thanh Vân dùng từ ngữ rặt “Nam Kỳ”, chữ “tui” được cô sử dụng liên tục. Nghe mà có cảm tưởng như đang đọc tiểu thuyết “Chú Tư Cầu” hay “Rặng Trâm Bầu” của nhà văn Lê Xuyên vậy!

Nhà báo hỏi:

– Thanh Vân có sợ ma không?

– Úi! Không thể nói là sợ, mà phải nói là tui “cực kỳ” sợ ma.

– Vậy mà nhận lời đóng “ma”?

– Có thể nói vở diễn “Người Vợ Ma” là một cơ hội tốt hiếm có đối với diễn viên trẻ như tui, và nó có ảnh hưởng rất lớn đối với tui từ quan niệm cuộc sống cho đến nghề nghiệp.

Thanh Vân nói tiếp, nhà tui ở có rất nhiều gương, cầu thang nhà bằng gỗ, cánh cửa thì mỗi khi đóng mở, lại có tiếng kêu y hệt như tiếng cánh cửa trong vở kịch… Do đó nhiều khi đi diễn về cả nhà đã ngủ hết, hễ liên tưởng đến tình tiết trong vở kịch vừa diễn là tui thiếu điều vừa đi vừa chạy và không dám nhìn vô gương.

Bây giờ tui cũng vẫn còn sợ ma nhưng đỡ hơn hồi xưa rất nhiều, vì sau khi đóng “Người Vợ Ma” tui ngộ ra rằng: Thế giới tâm linh có thể là có tồn tại, song phần ma quỷ trong con người còn đáng sợ hơn nhiều! Vở diễn ăn khách nên tui được khán giả biết đến nhiều hơn, “đánh” nhiều hơn và thậm chí có nhiều người còn rất “sợ” tui!

Riêng tui thì có thêm cái tật… trợn mắt mỗi khi muốn vòi vĩnh gia đình và người thân chiều theo ý mình; một phần là nhớ lại cảnh khán giả rất sợ mỗi khi tui diễn như vậy, phần khác là tui muốn đùa cho vui.

Thanh Vân rất thích “Người Vợ Ma” diễn tại Đà Lạt, không khí se se lạnh, gió thổi vi vu với rừng thông bạt ngàn âm u trong bóng tối, nhìn khung cảnh thôi là đã sợ ma rồi, huống chi là xem và diễn kịch ma!

Có một dạo khoảng giữa thập niên  1960 bỗng nhiên sân khấu cải lương đã đồng loạt diễn tuồng ma, các rạp Sài Gòn đêm nào cũng có ma hiện lên gây kinh sợ cho khán giả yếu bóng vía. Các rạp ở tỉnh cũng hằng đêm có ma, và ngay cả các gánh hát bầu tèo ở nông thôn cũng đưa ma lên sân khấu, tóm lại khán giả cải lương thời ấy đi đâu cũng gặp ma.

Thời ấy có người hỏi cô đào đóng vai ma rằng cô có sợ ma không vậy?

Cô đào trả lời ngay:

– Em sợ ma hơn ai hết!

– Có bao giờ cô đi đêm gặp ma không?

– Chưa có! Rủi nửa đêm gặp ma chắc em chết mất!

– Thế tại sao cô lại đóng vai ma làm cho các cô gái sợ, trẻ nít sợ?

– Nếu không chịu làm ma, thì sẽ có cô đào khác đóng vai, mình thất nghiệp, đi hát mà không được phân vai thì khổ lắm.

Thì ra thì do nghề nghiệp mà các cô đào phải nhận vai trò, nhưng cũng có sự đền bù thỏa đáng, như trường hợp cô đào Thanh Vân nhờ đóng vai ma trong vở “Người Vợ Ma” mà cô nổi tiếng luôn.

“Ma nữ” thì mới bán vé được?

Khi xưa ở thôn quê, nhà có máy hát dĩa mỗi tối bà con lối xóm tụ hợp lại nghe. Có những đêm trời tối đen nghe dĩa hát Phạm Công Cúc Hoa. Tới lúc tiếng tiêu nổi lên một hồi, bà Cúc Hoa hiện về kêu 2 con đang ngủ ở ngôi mộ của mình. Lũ trẻ nít nghe sợ quá, rút lại chùm nhum với nhau. Mấy cô, mấy chị cũng sợ nên rủ những người nhà gần cùng về chung cho đỡ sợ.

204027-VHNT-150306-ThanhVan-400.jpg
Cô đào Thanh Vân. Courtesy photo.

Trong nhân gian thiên hạ thường hay nói người nữ sợ ma nhiều hơn nam giới. Các ông bà già xưa cũng nói, nếu như ban đêm có việc gì cần phải ra khỏi nhà thì sai bảo người con trai, chớ con gái thì hiếm khi, chỉ trừ trường hợp đặc biệt lắm, mà không có người nam thì mới đến các cô. Một phần cũng để bảo vệ các cô, sợ rằng có chuyện không may xảy ra.

Thế nhưng, đối với các soạn giả cải lương thì lại khác, khi đặt bút viết tuồng “ma”, thì các ông nghĩ ngay đến một con ma nữ nào đó, và khi vở hát hoàn thành thì con ma nữ đã có chỗ đứng trong kịch bản, mà phần lớn là vai chánh xuất hiện nhiều. Chớ như mấy chàng kép thì không thể cho làm ma được, do vậy mà khán giả cải lương chỉ thấy toàn là ma nữ.

Cũng không ít người hỏi thẳng soạn giả viết tuồng ma, rằng tại sao giới nữ sợ ma mà lại cho làm ma, trong khi đó nam giới gan dạ hơn lại không cho vai trò ấy.

Các ông chỉ cười “bí mật” chứ đâu trả lời làm chi cho mất công giải thích, mà đôi khi người ta cũng không đồng ý với sự giải thích đó. Nhưng cũng có soạn giả nói trắng ra luôn, rằng ma nữ thì mới bán vé được, chớ nếu cho kép làm ma thì khi mở màn, rạp hát trống trơn, ai trả tiền bản quyền cho soạn giả chứ!

Do các soạn giả cùng một nhận xét nên hầu hết ma cải lương là ma nữ.

Đào kép cải lương hết thời không còn sợ ma

Lúc còn đương thời đứng trên sân khấu, tiền lãnh hằng đêm thì sợ ma, nhưng khi cải lương bị khủng hoảng, không còn hát xướng được, tức là hết lãnh lương, thì các nghệ sĩ đào kép nhà ta đã không còn sợ ma, mà còn vô nghĩa địa sống với ma, thế mới lạ lùng chớ!

Bà con ở ấp Thuận Quang, xã Tân Thới Nhứt, thuộc vùng Bà Điểm, Hốc Môn, thỉnh thoảng nửa đêm lại nghe có tiếng đờn, tiếng hát trỗi lên từ bãi tha ma ở gần đó, ma quỷ chăng? Không! Đó là tiếng đờn, tiếng hát của anh chị em nghệ sĩ ở tỉnh giải nghệ về đây lập nghiệp, nhưng vì không có đất dung thân nên anh chị em ra ngay nghĩa địa che chắn ở tạm.

Bà con địa phương gọi đây là xóm “nghệ sĩ sân khấu ma”, do cả xóm cất nhà tạm trên một bãi tha ma, có nghĩa là đêm về ma nằm dưới, người ta nằm ngủ ở trên. Do nhớ nghề nên đêm đêm anh chị em lại tổ chức đờn ca, vang lên tiếng đàn, tiếng hát của các nghệ sĩ tha phương về tụ lại, nên người ta đặt tên cho xóm như vậy.

Xóm này chỉ mới xuất hiện từ năm 1994, ban đầu chỉ có nghệ sĩ Vương Phụng là dân của địa phương, sau nhiều năm đi hát đã giải nghệ về quê lập nghiệp. Sau đó, Vương Phụng có giới thiệu một vài người bạn là diễn viên, gặp hoàn cảnh rất khó khăn, không đủ sức theo đuổi sân khấu nữa, vì hát bây giờ lương không đủ sống, xin được che chắn mái lá ở bãi tha ma để tạm trú cho gia đình, trong lúc chuyển nghề tạo lập cuộc sống mới.

Một thời gian sau lại có vài bạn khác đến xin ở nhờ, và cứ thế mà đã hình thành cả “xóm nghệ sĩ ma”, độ khoảng 10 nóc gia với trên dưới 50 nhân khẩu, nhưng đời sống của xóm này khá phức tạp, hầu hết anh chị em đã chuyển nghề. Một số vẫn còn bám nghề tổ, nhưng hoạt động theo dạng thời vụ: Mùa khô đi hát, mùa mưa về nhà làm công việc khác hoặc hát theo “đơn đặt hàng” cho các đình, miễu, đám tiệc đám cưới…

Mùa khô thì nắng cháy da, mùa mưa thì lầy lội, và cái thiếu vẫn là nước uống. Ở nghĩa địa thì không thể đào được giếng vì sợ nguồn nước không trong lành, nên cả xóm này phải nhờ nguồn nước của dân địa phương. Cứ hai ba hôm họ lại bơm nước cho xài một lần. Tất cả các vật dụng từ lu, khạp, thau, chậu, nồi… đều được trưng dụng mới đủ dùng nhưng hết sức tiết kiệm. Hầu hết mọi thứ ở đây đều là tạm bợ và rất bấp bênh.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-040415-nm-04032015113631.html

NGÀNH MAI , thông tín viên RFA : Hát bội với Lễ Hội Kỳ Yên ở đình làng


Hát bội với Lễ Hội Kỳ Yên ở đình làng

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2015-02-21
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
hat-boi-622

Đại Lễ Kỳ Yên ở Đình Thần Tân Thới – Tỉnh Bình Dương. (Ảnh minh họa chụp trước đây)

File photo


Hằng năm cứ đến giữa tháng 11 Âm Lịch, tức khoảng hơn 1 tháng nữa mới đến Tết, là người ta đã thấy các nghệ sĩ hát bội đã chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho nghề nghiệp (trang phục, đo hát và tập dượt) để sau khi ăn Tết xong, đến khoảng Rằm tháng Giêng là họ tổng dượt, để đến cuối tháng Giêng là bắt đầu ra mắt khán giả yêu thích bộ môn nghệ thuật này, trong dịp các làng xã cúng Lễ Hội Kỳ Yên, mà có rước hát bội về trình diễn.

Lễ cầu an, cúng tế linh thần

Khắp miền Nam nước Việt, làng nào cũng có một ngôi đình thờ thần hoàng bổn cảnh, và thông thường thì các làng xã nào mà dân chúng làm ăn khá, trúng mùa thì mỗi năm Lễ Hội Kỳ Yên đều có rước hát bội về, như trường hợp xã Thắng Nhì ở Bến Đình, Vũng Tàu chẳng hạn. Sở dĩ xã Thắng Nhì tổ chức hát bội hằng năm là do dân ở đây với nghề đi biển đánh cá, được coi như làm ăn khá hơn các làng xã khác.

Mấy năm gần đây, nhiều địa phương có điều kiện tổ chức lớn Lễ Hội Kỳ Yên, vì có kiều bào ở nước ngoài yểm trợ tài chánh, nên đa số đều có chầu hát bội.

Cứ đến mùa này là có một số nghệ sĩ hát bội, đứng ra lãnh chầu:

Thuê đồ hát, thuê âm thanh, ánh sáng, gom diễn viên, nhạc sĩ, hình thành một ban để ký hợp đồng trình diễn. Để phục vụ cho mùa lễ hội thì bắt đầu từ tháng 11 âm lịch là anh chị em nghệ sĩ hát bội từ khắp nơi trong thành phố cũng như ở các tỉnh xa lại kéo về tụ tap tại nhà nghệ sĩ Ngọc Khanh (con gái cô Ba Út nổi danh tài sắc một thời), lấy đó làm điểm hẹn cũng như nơi xuất phát cho những chuyến đi xa.

Mỗi năm thông thường là vào tháng 2, tháng 3 Âm Lịch, trăng tròn, tiết trời quang tạnh, rất nhiều nơi tổ chức lễ cầu an, cúng tế linh thần. Người dân vui lễ hội, mừng thắng lợi sau mùa thu hoạch nông nghiệp, ngư nghiệp, cầu phước lành cho cả năm, cho mọi người, mọi nhà.

Lễ Hội Kỳ Yên tháng Giêng hằng năm là lễ hội được tổ chức lớn nhất, trong đại nhất. Lễ hội cầu phúc cho thế giới hòa bình, cầu cho quốc thái dân an, cầu cho mưa thuận gió hòa, cầu cho sự an khang thịnh vượng của thập phương bá tánh…

hat-boi-305
Hát bội ở đình làng, một hình thức thưởng thức nghệ thuật ở nông thôn Việt Nam. (Ảnh minh họa)

Lễ Kỳ Yên cũng như bao nhiêu lễ hội trên đất nước chúng ta, là dịp để người dân địa phương biểu lộ lòng tôn kính và biết ơn các vị anh hùng, các bậc tiền nhân đã góp phần tạo dựng, và có nhiều công lao với quê hương, với dân tộc. Đó là những ngày làm song lại thật sự một quá khứ xa xưa, được biểu hiện như một đặc trưng truyền thống trong lịch sử văn hóa Việt Nam.

Gắn liền với lễ cúng tế thần linh là chầu hát bội. Nơi nào mà đáo lệ, Ban Quí Tế Hội Đình không tổ chức được chầu hát bội thì ai ai cũng tiếc. Bởi chính hát bội đã mang lại không khí tưng bừng cho lễ hội, niềm phấn khởi rạng rỡ cho mọi người, từ các bậc phụ lão đến thanh niên phụ nữ trẻ con. Mỗi năm một lần, ngày hội cúng đình có nơi còn vui hơn ngày Tết.

Đông chật khán giả

Trong những buổi cúng đình, hát bội thường diễn liên tục, vậy mà xuất diễn nào cũng đông chật khán giả. Càng ở những vở diễn sau càng thu hút được số lượng người xem nhiều hơn. Cái không khí vừa tưng bừng vừa trang trọng đó, cứ diễn đi diễn lại, năm này sang năm khác, với những con người nối tiếp đi qua, từ đời ông cha, đến đời con cháu. Ngót hai thế kỷ đã qua, tập tục tốt đẹp ấy vẫn tiếp nối duy trì, có ai dám bảo là mê tín dị đoan hay hủ tục làm mất thời giờ vô ích, mà phải coi đó là một hình thứctín ngưỡng ăn sâu vào đầu óc dân quê, không có gì phá bỏ được. Cũng có những xã vài ba năm mới có hát bội, còn những làng xã nghèo quá thì cả chục năm vẫn không có hát bội.

Thông thường một chầu hát bội gồm có 5 hay 6 tuồng diễn ra trong 2, 3 ngày tùy theo yêu cầu từng địa phương. Một tuồng thường trình diễn trong 6 hoặc 8 tiếng đồng hồ. Các nhóm và các đoàn họ nhận ít nhất là hai chầu và nhiều nhất là tám chầu. Nhưng vẫn không đủ! Vì thiếu đào kép, một số diễn viên chính phải “chạy sô”, sáng nơi này, chiều nơi nọ, tối nơi khác. Do số lượng diễn viên và nhạc công rất ít chỉ hơn 30 người nên hầu như xuất diễn nào diễn viên cũng có vai. Không thiếu trường hợp sau những xuất diễn thứ 2, thứ 3, trong lúc trên sân khấu rộn rã tiếng đờn ca, thì nơi hậu trường đã có vài diễn viên đang ngồi cạo gió cho nhau… Có người phải hát ba xuất cho một ngày, hát hết các đợt chầu, đa số các diễn viên đều bị tắt tiếng, nói không ra hơi.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-022115-nm-02202015164716.html

NGÀNH MAI, thông tín viên RFA: Những thăng trầm của đoàn kịch nói Kim Cương


Ngành Mai, thông tín viên RFA
2015-03-07
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
8scan0072_7a199-622.jpg

NS Kim Cương và Mẹ NS Bảy Nam, cùng các nghệ sĩ Đoàn Kịch nói Kim Cương năm 2001.

Photo courtesy of NLĐ

Hoạt động trong chế độ bao cấp

Từ sau 1975 thoại kịch, hay cải lương đều hoạt động trong chế độ bao cấp, thì dĩ nhiên đoàn kịch Kim Cương cũng thế thôi, chỉ có cái là đoàn Kim Cương được bao cấp đến đâu thì chỉ người trong cuộc quản lý điều hành và cơ quan văn hóa thì mới biết rõ. Tuy nhiên về nghệ thuật thì có lẽ do chính kỳ nữ trông coi.

Trong nhiều năm đoàn Kim Cương hoạt động vững mạnh, dù ở Sài Gòn hay đi lưu diễn ở các tỉnh, huyện, vẫn gặt hái khá quan về tài chánh. Nghệ sĩ, diễn viên đi đoàn Kim Cương lãnh cát – xê rất khá, có cuộc sống ổn định dù rằng mùa nắng hay mùa mưa…

Theo như hằng năm thì ở miền Nam từ tháng Năm trở đi là bắt đầu có những trận mưa mùa, cứ chiều đến là trời đổ mưa, kéo dài đến tháng Bảy mưa ngâu ngập đường sá, cho đến tháng Tám trời vẫn mưa tầm tã. Trong khi đó thì ở ngoài Trung nắng ráo, do vậy mà rất nhiều đoàn cải lương di chuyển ra miền Trung tránh mưa trong vài tháng, và đến tháng Chín, tháng Mười miền Trung bắt đầu mưa thì mang đoàn hát về Nam. Và đoàn Kim Cương cũng theo kinh nghiệm này, tức cũng chạy trốn những trận mưa giông.

Có lần lưu diễn miền Trung nếu như đoàn hát nào gặp tình huống này cũng chịu không thấu, nếu không rã gánh, thì cũng ngưng mở màn một thời gian dài, ngắn nào đó chờ nguồn tiền bỏ vô để khôi phục lại mọi mặt thì mới sống trở lại.

Số là năm ấy đầu thập niên 1990, sau khi dàn dựng vở “Bông Hồng Cài Áo” và biểu diễn khá thành công ở Sài Gòn. Đến tháng Năm như thường lệ hằng năm, đoàn Kim Cương bắt đầu chuyến đi lưu diễn miền Trung để trốn những trận mưa giông, mưa tầm tã ở miền Nam. Thế nhưng không ngờ năm đó miền Trung mưa sớm, mưa ở đây thật lạ lùng cứ 6 giờ chiều thì mưa đột ngột đổ xuống, rả rích kéo dài đến gần nửa đêm.

Tại Hội An, Phú Mỹ, các xuất hát của đoàn đã thu hút hàng ngàn khán giả. Xuất diễn bắt đầu từ 8 giờ 30 tối, chưa đến 7 giờ đã có hơn hai ngàn khán giả đến trước chờ đợi. Nhưng rồi trời đột nhiên cứ đổ những trận mưa ào ạt. Mưa như đuổi theo đoàn Kim Cương, hết ở Qui Nhơn đến Quảng Ngãi… Ở Năm Ô, đêm đầu hát, khán giả chưa biết nhiều nên không đông, nhưng đêm sau khán giả kéo đến đông đảo thì trời lại mưa. Sân khấu dựng ngoài trời, đoàn không diễn được đành phải trả vé. Đêm sau lại mưa, đoàn phải đời địa điểm. Trận bão ở Chu Lai năm đó làm bao ghe thuyền đánh cá bị đắm chìm, đoàn Kim Cương vừa đến Chu Lai ổn định để hát, nhưng chiều xuống, mưa bão nổi lên, cảnh trí, phông màn dựng ngoài trời, bay tứ tán, cũng may không ai bị chuyện gì nhưng đoàn cũng bị thiệt hại khá nặng: Cảnh trí, âm thanh bị hư hại phải nghỉ diễn ba, bốn ngày.

Khốn khổ như vậy mà đoàn Kim Cương vấn sống, và mọi người trong đoàn đều tin tưởng ở một Kim Cương, người nghệ sĩ có quá nhiều kinh nghiệm và thành tích nghệ thuật. Giới mộ điệu nghệ thuật sân khấu hoặc trên truyền hình đều khen tặng ban kịch Kim Cương, đêm nào đài phát hình kịch Kim Cương là khan giả đông đảo không thua gì cải lương phát hình tuồng hay, tuồng của Dạ Lý Hương chẳng hạn.

Vì thời cuộc, vì hoàn cảnh, Kim Cương có lúc xoay qua điện ảnh làm phim và cũng thành công hơn hẳn người ta trong lãnh vực này. Nhưng đối với Kim Cương vẫn là tạm bợ, mà sân khấu mới là chính.

Kim Cương có khoảng gần 3 năm ở Pháp vừa theo học nghệ thuật vừa đi làm. Ký giả Tô Yến Châu có lần đi Pháp gặp kỳ nữ ở Paris, thấy Kim Cương ngày ngày mang cặp sách đến rạp Opéra để học nghệ thuật, và mỗi đêm trình diễn một màn vũ điệu ở nhà hàng “Table des Mandarine”. Đồng lương tạm đủ sống, vì cô còn phải nuôi hai người em đang theo học đại học ở Pháp. Cuối năm 1966 Kim Cương về nước, được đông đảo nghệ sĩ ký giả đón tại phi trương: Ký giả kịch trường báo Hòa Bình hỏi:

– Ở Pháp, khán giả Việt kiều ái mộ và yêu cầu Kim Cương ở lại sao Kim lại về.

– Như vậy là anh hiểu lầm tôi quá nhiều. Tôi còn quê hương, nhà cửa, những người thân yêu. Tôi còn bao nhiêu khán giả, đồng bào thương mến ủng bộ tôi.

Quên làm sao được. Xứ sở mình là núm ruột. Ở xứ người chẳng quavì hoàn cảnh, vì một sự vạn bất đắc dĩ đó thôi. Vay mượn cái đẹp cái sang của người để khoát vào mình, cái đó có nghĩa gì.

8scan0103_be558-400.jpg
NS Kim Cương (trái) và nghệ sĩ Uyên Trinh trong vở Đám cưới đầu Xuân. Photo courtesy of NLĐ.

Đến lúc Việt Nam có truyền hình (1967) ban kịch Kim Cương ra đời, xuất hiện trên màn ảnh nhỏ được khán giả hoan nghinh nhiệt liệt. Ban kịch Kim Cương trên truyền hình nổi tiếng được mến mộ không ban kịch nào có thể sánh được, và mỗi khi đài phát hình kịch Kim Cương thì thiên hạ lũ lượt đi coi ở các máy truyền hình công cộng. Bởi thời gian đầu này máy TV chưa có bán rộng rãi ngoài thị trường cho người dân.

Lúc ấy nguyện vọng của Kim Cương là một ngày nào đó không còn chiến tranh, tạo được chiếc xe với một đoàn hát nhỏ, với vài chục kịch sĩ di chuyển khắp toàn quốc để trình diễn cho khán giả từ thành thị đến thôn quê thưởng thức, đâu đâu cũng có người cần đến văn nghệ. Càng cần hơn nữa ở các vùng hẻo lánh xa xôi. Và đúng như nguyện vọng của nàng, sau 1975 đoàn kịch nói Kim Cương hình thành và đi lưu diễn khắp nơi.

Nghệ thuật sân khấu bị khủng hoảng

Thập niên 1980 hầu như ai cũng nghĩ rằng đoàn Kim Cương sẽ sống thọ lâu dài, có người còn nói chỉ trừ trường hợp kỳ nữ đau yếu bệnh tật, không còn khả năng đi đứng hoạt động thì đoàn Kim Cương mới nằm một chỗ, mới giải thể. Chớ như một Kim Cương mạnh cùi cụi, một người đẹp đang sáng chói trên sân khấu, thì đoàn kịch chỉ ngày một thêm vững mạnh hơn mà thôi.

Nhưng rồi gặp lúc nghệ thuật sân khấu bị khủng hoảng, cùng với cơ chế thị trường được áp dụng, thì đoàn Kim Cương cũng điên đảo, cũng xuống dốc như bao nhiều đoàn cải lương khác. Kỳ nữ cố vùng vẫy đề ráng giữ đoàn Kim Cương khỏi bị rã gánh. Nhờ tài ngoại giao, kỳ nữ nghĩ ra phương cách phân phối vé. Kết hợp vừa bán vé tại rạp, vừa hợp đồng vé với các xí nghiệp, công ty, các cơ quan. Nhưng phương cách kết hợp này cũng chỉ cứu vãn đoàn hát một thời gian, bởi xí nghiệp, công ty nào cũng chỉ tiêu thụ vé qua một lần mà thôi, không còn mặn mà gì với sân khấu nữa.

Kim Cương nói có ai biết những tủi nhục của Kim Cương, vì thương anh em, vì thương đoàn Kim Cương mà phải nhắm mắt đi làm… như đi rao bán cao đơn hườn tán. Một người nghệ sĩ như mình mà phải khổ cực cầm từng cọc vé đi xuống từng hang cùng ngõ hẻm để rao bán, để nuôi sống một đoàn Kim Cương.

Tâm sự với một nhà báo, Kim Cương nói:

– Có lần tôi và nghệ sĩ Minh Hạnh xuống công ty Shell (mà lần đó lại là đi bán vé hát từ thiện). Vừa thấy mặt tôi và Minh Hạnh, một anh cán bộ thanh niên ra nhìn từ đầu đến chân, rồi hất hàm, hỏi “Bộ đói lắm sao mà phải mò tới đây bắt mua vé?…”! Lần đó, Minh Hạnh cứ ôm tôi, khóc và nói “Chị Kim ơi, thôi lần sau thà chịu đói, chớ đừng đi làm những chuyện thế này…”. Nói chung phải có tiền. Bởi nếu không, ngay cả cái tên nghệ sĩ cũng trở thành thứ hàng hóa rao bán.

Kỳ nữ than rằng:

– Kim Cương không có sự chỉ đạo, không có một sư yểm trợ nào của Nhà nước. Trong khi đâu phải là không có tiền, người ta xài tiền theo cảm hứng của cơ chế nhiều hơn tính đến hiệu quả thiết thực. Nhiều lúc tôi đã phải nói với mấy ông có trách nhiệm “Lạ quá, sao mấy ông lãnh đạo cũng bảo ráng giữ đoàn Kim Cương, mấy ông di tản cũng gọi điện về bảo rang giữ đoàn Kim Cương, nhưng chẳng ông nào cho Kim Cương đồng xu cắc bạc nào cả…”

– Thế rồi việc gì đến nó đã đến: Năm 1993 đoàn Kim Cương rã gánh, đào kép nghệ sĩ, công nhân mạnh ai nấy đi. Kỳ nữ “ngồi chơi xơi nước” nhớ lại quảng đời xả thân vì nghệ thuật mà thở dài. Và lâu lâu lại xuất hiện hát một hai sô từ thiện. Có nghĩa là hát giúp cho cơ sở từ thiện nào đó, nếu có thù lao thì cũng tượng trưng thôi.

Hiện nay thì không nghe nói kỳ nữ hoạt động hát xướng gì hết. Vả lại tuổi đời cũng cao, sức khỏe đâu còn cho phép. Các thế hệ sau làm gì có được một người như kỳ nữ Kim Cương.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-030715-nm-03072015072255.html

VŨ HOÀNG / RFA: Phỏng vấn danh ca BẠCH YẾN , radio RFA 03 tháng 9, 2013, USA


https://soundcloud.com/jeffrey-thai-1/danh-ca-bach-yenmp3

Danh ca Bạch Yến

Danh ca Bạch Yến

Danh ca Bạch Yến

Files photos
 

Nghe bài này 

Là một trong 10 người được mệnh danh là “nữ ca sĩ có sức ảnh hưởng nhất Việt Nam”, danh ca Bạch Yến sau hơn 50 đứng trên ánh đèn sân khấu, vẫn với chất giọng trầm thuở nào, bà đã đang và sẽ còn làm mê hoặc nhiều thế hệ người nghe nhạc.

Một tuổi thơ đầy cơ cực

Âm nhạc đã đến với bà từ rất sớm, năm 7 tuổi, bà bắt đầu hát tại rạp Norodome Phnom Penh của Campuchia, đến khi 11 tuổi bà được giải nhất, huy chương vàng của đài phát thanh Pháp Á tổ chức. Và bà chính thức bước vào con đường ca hát năm 14 tuổi.

Có một lần ngang qua phòng trà, liều nhảy lên xin hát đại, lúc đó 14 tuổi, người ta thấy mình hát được vì mình cũng dạn dĩ, chắc mình cũng có duyên gì đó với âm nhạc, thành ra, anh Mạnh Phát và Ngọc Bích thấy mình hát như vậy cũng đồng ý, nói ngày mai quay trở lại và cho hát và như vậy là có chỗ hát là phòng trà Trúc Lâm.

Thế nhưng ít ai biết được bà đã trải qua một tuổi thơ đầy cơ cực, khi cha bà muốn đưa gia đình về sống ở Nam Vang trong khi mẹ của bà lại muốn ở lại Việt Nam để các con không bị mất gốc. Cha mẹ chia tay, bà phải gồng vai phụ giúp mẹ bằng việc gia nhập một gánh xiếc với vai trò người lái mô tô bay.

Rất may mắn là có một người cậu dạy cho đi moto bay, điều này chỉ cần can đảm và chịu khó luyện tập là mình có thể trở thành một nghệ làm xiếc mô tô bay. Nhưng rồi sau khi trình diễn mô tô bay hơn 2 năm, gần 3 năm, lần chót cùng biểu diễn ở Hội chợ Thị Nghè bị té xuống…

Bạch Yến

Hồi mà đi mô tô bay cũng là định mệnh khiến cho mình phải đổi nghề vì lúc đó nhà cửa bị cháy hết, người cha thì đi xa, mẹ thì không muốn trở lại, sống rất eo hẹp, khi mình bị đói, mình làm bất cứ một điều gì để sống. Rất may mắn là có một người cậu dạy cho đi moto bay, điều này chỉ cần can đảm và chịu khó luyện tập là mình có thể trở thành một nghệ làm xiếc mô tô bay. Nhưng rồi sau khi trình diễn mô tô bay hơn 2 năm, gần 3 năm, lần chót cùng biểu diễn ở Hội chợ Thị Nghè bị té xuống, bầm bên màng tang, rồi dập vài cái xương sườn, không ngờ ngày nay, khi mình có tuổi, mắt mình có vết nứt, nên hơi khó khăn một chút, không được thấy rõ một bên.

Thành công

Sau nhiều thăng trầm của cuộc sống, cộng với niềm đam mê ca hát và sự học hỏi trong nghề cầm ca, bà đã có những bước tiến dài trên con đường nghệ thuật. Bà cùng mẹ sang Pháp năm 1961 để học phương pháp hát nhạc Tây Phương, sau khi trở về nước, đến năm 1965, bà được chương trình Ed Sullivan Show nổi tiếng của Mỹ mời để góp mặt khi muốn giới thiệu tiếng hát đặc biệt của bà đến khán giả Hoa Kỳ.

Ca sĩ Bạch Yến (những năm 60). Files photos
Ca sĩ Bạch Yến (những năm 60). Files photos

Thế nhưng chuyến đi 12 ngày ấy của bà đã biến thành một quãng đời dài 12 năm mà bà gắn liền với xứ sở Cờ Hoa sau đó. Trong suốt quãng thời gian từ 1965 đến 1978, bà là nghệ sĩ Việt Nam đầu tiên và cũng là duy nhất có cơ hội đứng chung cùng sân khấu với nhiều nghệ sĩ tên tuổi Hoa Kỳ như Bob Hope, Bing Crosby, Joey Bishop, Mike Douglas… bà cũng hát được 5 thứ tiếng khác nhau: Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Ý hoặc Do Thái cùng với những điệu twist vô cùng độc đáo.

Khi đang ở đỉnh cao sự nghiệp, năm 1978, cơ duyên đến với bà, khi bà gặp giáo sư nghiên cứu âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải, chỉ vẻn vẹn trong một thời gian ngắn, 2 người đã nên nghĩa vợ chồng. Sau bao hào quang của một nghệ sĩ lừng danh tên tuổi, bà đã đánh đổi dòng tân nhạc để chuyển sang hát dòng nhạc dân ca:

Thời gian từ 1965 đến 1978, bà là nghệ sĩ Việt Nam đầu tiên và cũng là duy nhất có cơ hội đứng chung cùng sân khấu với nhiều nghệ sĩ tên tuổi Hoa Kỳ như Bob Hope, Bing Crosby, Joey Bishop, Mike Douglas… bà cũng hát được 5 thứ tiếng khác nhau: Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Ý hoặc Do Thái

Bạch Yến

Điều thứ nhất là cô rất thích được hát nhạc dân ca từ xưa tới nay, mà chưa có cơ hội và kế đó, khi đi diễn với chú thì có vợ, có chồng, chứ nếu cô tiếp tục hát tân nhạc, thì 3 tháng mới được gặp chú một lần, bởi cô làm việc bên Mỹ, còn chú Hải làm việc bên Pháp, dường như lúc nào người phụ nữ cũng phải hi sinh. Ngoài chuyện hi sinh, thì cũng có một phần sở thích trong đó. Nếu nói về tài chính, cô hi sinh rất nhiều, vì đi làm tân nhạc kiếm được nhiều tiền hơn, nhưng cô nghĩ rằng, làm tân nhạc chỉ vui một thời, còn làm nhạc dân ca thì sẽ sống mãi, cuộc sống của tân nhạc rất phù du, không phải tồn tại hoài.

Bà kể rằng, để thay đổi cả một dòng nhạc mà bà vốn theo đuổi bao năm, giờ bắt đầu lại từ đầu, có quá nhiều thách thức:

Rất là khó, rất là khó, cô chỉ hát được những bài thường thôi vì cô quen với tân nhạc rồi, thành ra muốn trở qua làm nhạc dân ca rất khó bởi cách trình bày cũng như cách dùng giọng của mình, rồi những luyến láy đòi hỏi mình phải hát rất Việt Nam, mà cô lại đi từ Tây phương quay trở về, thành ra khó hơn người nào chưa từng hát, nếu ai chưa từng hát, mà đi hát thẳng nhạc dân ca, thì sẽ dễ hơn nhiều lắm.

Cô đi với chú tính đến nay cũng đã hơn 30 năm rồi. Cô không hát những tác phẩm của chú vì khi làm nhạc dân ca là hát nhạc dân gian, bây giờ cô chuyên hát những bài hát ru, thí dụ như hát bài ầu ơ ví dầu, một điệu hát ru miền Nam thì như thế này…

Cô nghĩ rằng, khán giả đã bỏ thì giờ đến, mua vé đi vô coi mà mình không đáp ứng được sự chờ đợi của khán giả thì điều đó rất bậy, nếu có lỡ đau ốm, cô cũng ra hát đàng hoàng, rồi sau đó, ngã ra chết cũng được…đó là điều mình rất chú trọng…

Bạch Yến

Ngao du vòng quanh thế giới

Sau hơn 30 năm ngao du, biểu diễn trên hơn 70 quốc gia, cùng hàng ngàn xuất diễn, ông đàn bà hát, hai nghệ sĩ đã mang âm nhạc dân tộc Việt Nam đến giới thiệu với bạn bè khắp năm châu bốn bể:

Khi biểu diễn, trình bày nhạc dân ca cho người ngoại quốc nghe, thì (sự góp mặt của cô) cũng là thêm một bóng hồng trong chương trình, cho nó có màu sắc hơn. Khi chú trình bày và biểu diễn những cây đàn, nghe một lúc cũng sẽ hơi nhàm, khi cô xuất hiện, trình bày những bài hát ru xen kẽ, điểm đặc biệt đó là những bài hát không đệm đàn, kiểu acapella nên khán giả rất thích, để trình bày những bài hát ru đúng theo truyền thống, rất mộc mạc.

Giờ đây, khi đã “thất thập cổ lai hi” nhưng nghệ sĩ Bạch Yến vẫn giữ cho mình một thần thái và sắc vóc không tuổi. Bà gìn giữ sức khỏe bằng cách đi bộ 4 cây số mỗi ngày, uống nhiều nước và dù bận thế nào thì bà cũng bỏ ra 30 phút mỗi ngày để tập thanh nhạc. Bà có một niềm đam mê nho nhỏ là hết mực yêu thương chiếc áo dài Việt Nam và đó là trang phục biểu diễn mà bà thường sử dụng khi giới thiệu về văn hóa và âm nhạc dân tộc Việt.

Trước khi chia tay, danh ca Bạch Yến muốn được một lần nữa gửi tới những khán thính giả đã luôn sát cánh bên bà trong hơn nửa thế kỷ qua:

Lúc nào cũng thích gần gũi khán giả và luôn luôn kính trọng khán giả, mỗi lần ra diễn là diễn bằng cả con tim với tất cả hình dáng, vẻ người, vì khi diễn tả một bài hát là mình diễn tả cả tâm hồn, mình muốn khán giả đừng thất vọng. Nhất là bây giờ, khi mình đã đi hát trên 50 năm rồi, lúc nào khán giả đi coi mình cũng chờ đợi lắm, thành ra lúc nào mình cũng muốn để những người tới nghe mình vui lòng. Cô nghĩ rằng, khán giả đã bỏ thì giờ đến, mua vé đi vô coi mà mình không đáp ứng được sự chờ đợi của khán giả thì điều đó rất bậy, nếu có lỡ đau ốm, cô cũng ra hát đàng hoàng, rồi sau đó, ngã ra chết cũng được, mình yêu nghề, mình thích làm cho khán giả được thỏa mãn, được vui, đó là điều mình rất chú trọng…

NGÀNH MAI / phóng viên RFA: ÚT HIỀN – BẠCH TUYẾT, chương trình radio, HOA KỲ


Út Hiền – Bạch Tuyết

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-10-25
ut-hien1-305.jpg

Bìa đĩa hát Ngày Sau Sẽ Ra Sao của nghệ sĩ Út Hiền.

File photo
 

 

Hồi xa lắm rồi, một cậu giáo làng ở tỉnh Bạc Liêu cảm thấy nghề giáo trầm lặng quá, thiếu chất rung cảm mà tâm hồn cậu thì tha thiết với đờn ca xương hát, nên cậu cương quyết ra đi, lên Sài Gòn để theo cải lương. Cậu giáo đó về sau là kép Út Hiền.

Đệ tử của Út Trà Ôn

Đến đất Sài Gòn đầu thập niên 1960, năm ấy là năm mà danh tiếng đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn vang dội khắp nơi, cậu bị cuốn hút bởi Út Trà Ôn nên đến xin làm đệ tử. Thấy cậu có vẻ hiền, Cậu Mười bèn đặt cho cậu cái biệt danh rất “Nam kỳ” là Út Hiền. Thế là từ đó cậu mang “dòng họ” Út.

Thời gian sau Út Hiền là kép chánh đoàn Hương Mùa Thu đóng cặp với đào Ngọc Hương. Có những màn tình tự, vai kề vai, má kề má, đã làm cho ông xã của nàng là soạn giả Thu An điên tiết lên, và nhứt định phải cho Út Hiền rời khỏi đoàn.

Rồi thì Út Hiền đi làm kép chánh của nhiều đoàn hát khác như ai nấy đều biết. Nhưng trên sân khấu Dạ Lý Hương, anh đành thúc thủ đứng hạng nhì sau kép Hùng Cường. Chuyện rõ ràng là thế, Út Hiền không bao iờ chối cả, cũng như mọi người đều xác nhận như vậy.

Rồi có một lần nọ tại Bạc Liêu, kép Hùng Cường bận về Sài Gòn đi công tác (bởi Hùng Cường là kép lính có lệnh gọi là phải về). Không lẽ vì thiếu một người đoàn hát phải nghỉ? Cũng có thể thay Hùng Cường tạm hát được mà. Thế là Út Hiền “phụng mạng” đứng ra thay thế Hùng Cường để đoàn hát khỏi nghỉ và đào kép khỏi mất đêm lương.

Tưởng vậy là ơn nghĩa, tròn trịa rồi, không dè việc thay thế ấy không làm hài lòng người đóng cặp với mình, tức đào Bạch Tuyết. Do vậy, đang hát nửa chừng, Bạch Tuyết la ó om sòm, cự nự rùm beng trước mặt đông người.

Bị chạm tự ái quá mạnh, Út Hiền không thể dằn được, nhứt là về đến xứ sở quê hương Bạc Liêu của mình. Trước mặt bạn bè mà bị Bạch Tuyết “hạ” cho một đòn chí tử, Út Hiền phản công tới tấp và không quên dùng những lời nặng nề thóa mạ trả đũa đối phương. Thế là đôi bên “sáp chiến”, một trận giặc mồm được diễn ra quyết liệt.

Út Hiền la ó:

“Cô thần tượng với ai chớ với thằng nầy… xê rô (o) biết không?”

Vừa tới đó thì có người can ra, trận chiến tàn lần không thì chưa biết hồi sau kết cuộc thế nào.

Chuyện Bạch Tuyết

covertkw-400.jpg
Bìa đãi hát Lá Sầu Riêng. Nghệ sĩ: Thành Được, Thanh Sang, Út Hiền, Kim Cương, Ngọc Giàu, Bạch Tuyết. File photo.

Và tiếp sau đây là câu chuyện Bạch Tuyết mặc sexy trên sân khấu.

Giai thoại về Bạch Tuyết mặc sexy trên sân khấu Có một dạo trong làng cải lương và khán giả hâm mộ bộ môn nghệ

thuật này, đã bàn tán sôi nổi vấn đề ăn mặc của cải lương chi bảo Bạch Tuyết, sau khi đi xem vở tuồng “Tuyệt Tình Ca” của soạn giả Hoa Phượng Ngọc Điệp trên sân khấu Dạ Lý Hương.

Thật vậy, vở tuồng nói trên Bạch Tuyết với vai Lê Thị Trường An, một cô gái “bao” của mấy ông già háo sắc, nàng mặc quần bó sát, diễn ở Lục Tỉnh làm khán giả nhao nhao lên. Cũng như trong vở hát “Gái Nhảy” Bạch Tuyết thủ vai Sương cũng ăn mặc “hấp dẫn” tương tự, do đó người ta cho rằng trong hầu hết các cô đào cải lương, Bạch Tuyết là nữ nghệ sĩ tiên phuông trong lối ăn mặc táo bạo.

Vấn đề cũng đã lên mặt báo khiến cho dư luận nổi lên với 2 khuynh hướng: Kẻ cho rằng lối diễn xuất nàng sexy xa hơn hiện trạng cải lương, không ngờ Bạch Tuyết lại tiến đến mức “quốc tế” đó! Nhưng ngược lại thì số người khác cho rằng nàng dạn dĩ chỉ vì nghệ thuật, bởi bản chất của Bạch Tuyết là tân tiến, cô không từ chối sự chỉ bảo của đạo diễn, phải khen cô ở điểm đó. Có người nói cải lương, bản thân của nó đã có tính cách sửa đổi không ngừng, việc ăn mặc của Bạch Tuyết trong các vai trò cần thiết là một sự dọ dẫm của cải lương, nhằm để cải hướng nghệ thuật sân khấu. Dù thành dù bại, nhưng lối ăn mặc bạo của Bạch Tuyết cũng là một cách thúc đẩy nền ca kịch cải lương tiến bộ theo nhu cầu cuộc sống.

Về phản ứng của khán giả, theo nhận xét của ký giả kịch trường Kỳ Quân thì ông nói rằng, lúc Bạch Tuyết mặc áo quần “đợt sống mới” bước ra sân khấu, tôi để ý dưới khán giả thấy mấy bà già hỏng chịu, còn mấy cô trẻ thì lặng im chẳng rõ có tán thành hay không. Riêng mấy cậu trai thì ưa lắm…

Hỏi ý kiến vấn đề này, nữ ký giả kịch trường Cẩm Thi nói rằng: Nếu Bạch Tuyết dám bôi đen mặt để đóng vai cô gái lai Tây đen gạch mặt trong vở “Trường Kịch 20 Năm” thì dĩ nhiên Bạch Tuyết không từ chối việc ăn mặc “bạo phổi” trong các đoạn cần yếu cho nhu cầu diễn xuất. Tôi nghĩ lối ăn mặc của vai trò không can hệ với tư cách cá nhân nghệ sĩ. Tuy nhiên khi diễn ở các tỉnh lẻ xa xôi, Bạch Tuyết nên có ý thức cẩn thận hơn lúc diễn ở Sài Gòn, bởi vì một nơi đồng bào chưa quen mắt, còn một nơi khán giả đã từng thấy nhiều cô ăn mặc còn dữ dội hơn.

Tóm lại vấn đề chẳng đi đến đâu hết, bởi lập luận của 2 khuynh hướng: Kẻ phản đối, người hoan nghinh, nhưng sở dĩ thiên hạ bàn tán là không phải chỉ riêng cá nhân của Bạch Tuyết, mà nó liên quan đến bộ môn văn hóa nghệ thuật nước nhà. Chứ nếu như Bạch Tuyết là một cô gái bình thường như hằng bao người nữ khác, thì chắc chẳng ai bàn tán làm chi, có chăng là chỉ nói một cách chung chung thôi.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1025-nm-10252014071137.html

NGÀNH MAI – thông tín viên RFA: Đài phát thanh và những danh ca không hề thấy mặt


Đài phát thanh và những danh ca không hề thấy mặt

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-04-26
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
Danh ca Thành Công được mời về Đài phát thanh Quốc Gia làm trưởng ban Thành Công và  là danh ca Đài phát thanh Sài Gòn suốt mấy thập niên...

Danh ca Thành Công được mời về Đài phát thanh Quốc Gia làm trưởng ban Thành Công và là danh ca Đài phát thanh Sài Gòn suốt mấy thập niên…

Files photos
 

Nghe bài này

Khi xưa, thời thập niên 1940 có nhiều danh ca cổ nhạc lẫn tân nhạc, chuyên ca đài phát thanh, được thính giả biết tên, nghe tiếng ca là biết ca sĩ nào. Thế nhưng, hiếm ai thấy được những ca sĩ này, mà chỉ hình dung một cách tưởng tượng.

Sở dĩ người ta không thấy mặt mà lại biết tên là do đài phát thanh đã đưa tiếng hát của các ca sĩ vào tận vùng thôn quê, là nơi mà người dân ít có dịp đi ra tỉnh thành. Riêng tôi từng nghe không biết bao nhiêu lần những giọng ca cổ nhạc của các danh ca Thành Công, Chín Sớm, Sáu Thoàng, Bạch Huệ v.v… Vậy mà cho tới giờ này cũng chưa một lần thấy mặt các ca sĩ chuyên môn ca đài nói trên.

Còn về phần tân nhạc thì ở miền Nam những năm đầu thập niên 1940, đại đa số người dân thôn quê chẳng hề biết tân nhạc là chi, dù rằng loại nhạc này đã xuất hiện ở miền Bắc từ những năm trước đó, đồng thời người ta cũng chẳng biết cái radio là gì nữa. Thiên hạ chỉ biết thưởng thức cổ nhạc qua các buổi sinh hoạt đờn ca tài tử, và nghe “đờn thổi” tức dàn nhạc ở các đám ma, vừa có kèn thổi vừa có đờn. Mãi đến khoảng 1946 người ta mới bắt đầu biết đến tân nhạc (lúc bấy giờ gọi là “nhạc mới” chứ chưa có danh từ tân nhạc như sau này. Đó là thời kỳ sau ngày quân đội Đồng Minh giải giới quân đôi Nhựt, Pháp trở lại Đông Dương thành lập Đài phát thanh Pháp Á ở đường Boulevard de La Somme, Sài Gòn (đường Hàm Nghi sau này). Đài phát thanh Pháp Á hằng ngày ngoài việc phát đi những bài ca cổ nhạc, cũng đồng thời phát thanh những bản tân nhạc, chừng đó người ta mới bắt đầu thưởng thức giọng ca của những Giáng Hương, Tâm Vấn, Khánh Ngọc, Minh Nguyệt, Minh Tân, Mỹ Hoa, Hoàng Yến v.v…

Nhưng rồi thính giả cũng ít khi thấy mặt những ca sĩ này, trừ phi vài người họ có hình lên báo. Riêng Khánh Ngọc thì về sau nhờ làm tài tử đóng vai chính trong cuốn phim Ánh Sáng Miền Nam nên người ta mới biết nhiều. Lúc bấy giờ có những người ở tận Bà Chiểu, Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, Bình Lợi đã đi xe ngựa đến Đài phát thanh Pháp Á để chờ xem dung nhan thần tượng của mình mập hay ốm, cao hay thấp, mặt mày có tươi sáng, đẹp đẽ, hoặc hình dạng có đẩy đà, cân đối…

Cuối thập niên 1940, bộ dĩa đầu tiên được thu thanh là “Bóng Người Kỵ Sĩ” do chính danh ca sáng tác
Cuối thập niên 1940, bộ dĩa đầu tiên được thu thanh là “Bóng Người Kỵ Sĩ” do chính danh ca Thành Công sáng tác

Đây cũng là một thiệt thòi cho những ca sĩ thời ấy, đã không có dịp trình diện dung nhan của mình trước khán giả như sau này khi có truyền hình. Trong số những danh ca cổ nhạc không biết mặt ấy có danh ca Thành Công, với bài vọng cổ “Ngân Bình Sơn cúc rũ thu tàn”. Thật ra thì bài vọng cổ ấy do danh ca Thành Công trình bày được thu thanh trong dĩa hát Asia vào năm 1948 có tên là “Bóng Người Kỵ Sĩ”, nhưng do bởi rất nhiều người trong giới đờn ca tài tử đã lấy câu hát mở đầu Ngân Bình Sơn cúc rũ thu tàn, để gọi là bài Ngân Bình Sơn, rồi dần dà mang tên ấy luôn, thậm chí có nhiều người họ còn không biết bài ca có tên “Bóng Người Kỵ Sĩ.”

Những người yêu mến cổ nhạc thuộc lớp tuổi trung niên trở lên, chắc chẳng một ai mà không nghe qua làn hơi ca vọng cổ rặt lối ca tài tử của Thành Công. Làn hơi ca được hàng vạn người mến mộ, nhưng Thành Công chỉ ca đài phát thanh và thu thanh dĩa hát, chớ không có lên sân khấu, do đó mà dù rằng tiếng ca nổi tiếng lẫy lừng, lại rất ít ai thấy được con người bằng xương bằng thịt của Thành Công, kể cả hình ảnh của ông cũng hiếm khi phổ biến trên bao chí nên rất ít người thấy. Riêng tôi, tham gia nhiều nhóm đờn ca tài tử từ năm 1955, đã thuộc lòng bài “Bóng Người Kỵ Sĩ” và từng đi ca ở các đám tiệc, cũng chưa một lần gặp mặt hay nhìn thấy danh ca Thành Công. Cũng nhờ sưu tầm nên có được duy nhứt một tấm hình của ông chụp vào thập niên 1950, và tôi đăng trong mục cổ nhạc nhựt báo Người Việt. Danh ca Thành Công tên thật là Phạm Thành Công, sinh năm 1923, người gốc ở Phong Điền, Cần Thơ. Vốn là một công tử ở miền sông nước Hậu Giang, và cũng như trăm ngàn cậu công tử thời bình ôm mớ chữ nghĩa để chuyên đờn ca làm thú tiêu khiển.

Chiến tranh nổi lên, dân tình loạn lạc, Thành Công lìa bỏ Cần Thơ lên Sài Gòn và sống những ngày khổ cực nhứt đời giữa Hòn Ngọc Viễn Đông. Sau đó thì đi ca hát và bắt đầu nổi tiếng từ khi Việt Nam có đài phát thanh Pháp Á. Tiếng ca mùi rệu của Thành Công đã thu hút hằng bao thính giả nghe đài này vào mỗi buổi trưa. Lúc bấy giờ nhà có radio rất hiếm, nên bà con cư ngụ quanh khu vực chợ Bến Thành, họ thường đổ ra bùng binh trước chợ, ngồi trên băng đá nghe tiếng ca Thành Công phát ra từ chiếc loa gắn trên tàn cây của công viên quanh bùng binh. Làn hơi ca ấy đã cuốn hát bao phái nữ đổ lệ, làm xao xuyến lòng người, lời ca tựa hồ lời than vản của một tâm hồn đa tình vướng khổ lụy. Về sau đài Pháp Á không còn, danh ca Thành Công được mời về Đài phát thanh Quốc Gia làm trưởng ban Thành Công và nghiễm nhiên là danh ca Đài phát thanh Sài Gòn suốt mấy thập niên.

Ca sĩ Khánh Ngọc tài tử đóng vai chính trong cuốn phim Ánh Sáng Miền Nam. Files photos
Ca sĩ Khánh Ngọc tài tử đóng vai chính trong cuốn phim Ánh Sáng Miền Nam. Files photos

Khoàng 1957 – 1958 tờ báo Tiếng Dội mở cuộc bầu chọn và Thành Công được bầu “đệ nhứt danh ca đài phát thanh.” Khác với Út Trà Ôn đệ nhứt danh ca, do thiên hạ gọi riết rồi thành danh chớ không có bầu chọn. Thành Công nổi tiếng một phần lớn là do thu dĩa hát, cuối thập niên 1940 nhạc sĩ Hai Long giới thiệu Thành Công với ông Năm Mạnh, giám đốc hãng dĩa Asia ở đường mé sông Chợ Quán, Và bộ dĩa đầu tiên được thu thanh là “Bóng Người Kỵ Sĩ” do chính danh ca sáng tác. Cũng trong bộ dĩa này Thành công đề nghị cắt bớt bài vọng cổ từ 20 câu còn 16 câu… Bộ dĩa “Bóng Người Kỵ Sĩ” ra đời được phổ biến khắp cùng ba miền đất nước, người ta sang Nam Vang bên đất Miên cũng nghe, lên Vạn Tượng trên Lào cũng nghe.

Song song với dĩa hát, cuốn bài ca “Bóng Người Kỵ Sĩ” được phát hành bán khắp các chợ ở thôn quê, thành thử ra dân đờn ca tài tử thời ấy rất nhiều người đã thuộc lòng và đi ca ở các nơi đình đám. Sau bộ dĩa nói trên, Thành Công tiếp tục vô nhiều bộ dĩa khác như: Thoại Khanh Châu Tuấn, Tuyệt Vọng, Tình Ghen Đảo Chúa… và bộ dĩa mà các nhà có giàn máy hát quay dây thiều được bà con yêu cầu hát nhiều lần là bộ dĩa có nhãn tròn màu đỏ mang tên Nguyệt Thu Nga. Người ta rất khó quên đoạn cuối bản Giang Tô do nữ danh ca Ngọc Ánh ca gối đầu để Thành Công vô vọng cổ: Vào nghiệp cầm ca, danh ca Thành Công đã đóng góp cho kho tang cổ nhạc nước nhà những bài vọng cổ quí giá, để đời. Sau 1975 có lẽ do già yếu người ta không nghe thấy Thành Công hoạt động ca hát gì cả. Và ông qua đời năm 1992 tại Sài Gòn.

Những phút còn lại của chương trình tôi nói thêm về tình hình cuốn “100 Năm Cải Lương Việt Nam” vừa phát hành.

Hôm Thứ Bảy tuần trước nhựt báo Người Việt loan tin chính thức phát hành “100 Năm Cải Lương Việt Nam”. Đồng thời cũng chiều ngày hôm ấy ở miền Nam California, người ta nghe được đài Á Châu Tự Do phát đi từ Washington D.C. do các đài địa phương thu rồi phát lại. Tạp chí cổ nhạc đã nói về quyển sách 100 năm cải lương Việt Nam do nhà xuất bản Người Việt vừa phát hành. Do cả hai cơ sở truyền thông có nhiều người nghe, người đọc cùng lúc loan tin nên rất nhiều người biết, và không ít người đã đến các tiệm sách hỏi mua. Một nữ độc giả ở vùng Orange County xem báo thấy hình nữ nghệ sĩ Thanh Nga, bà khen đẹp quá (bức hình này có in trên bìa quyển sách). Bà liền đi ngay vào tiệm sách hỏi mua, thì người trong tiệm lắc đầu: Ở đây chưa có cuốn sách đó! Bà đi đến tiệm sách khác cũng được trả lời như vậy.

Đường Hàm Nghi - Sài Gòn 1967 - Photo by Donald Jellema
Đường Hàm Nghi – Sài Gòn 1967 – Photo by Donald Jellema

Theo lời cô chủ nhà sách thì mấy ngày qua khá nhiều người vào tiệm hỏi mua quyển “100 Năm Cải Lương Việt Nam” nhưng đâu có sách để mà bán. Quyển sách nói trên do nhà xuất bản Người Việt phát hành, nhưng về phần in ấn là do hệ thống Amazon với kỹ thuật tân kỳ của Mỹ. Nhà xuất bản Người Việt nhận sách từ Amazon, do đó mà việc phân phối sách chậm mất gần một tuần. Và hôm nay thì quyển sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam” đã có tại tòa soạn nhựt báo Người Việt. Cũng do xưa giờ chưa có cuốn sách nào nói về lịch sử cải lương, giờ đây sách cải lương xuất bản nên mới có hiện tượng bà con đi mua trước khi sách có ở tiệm.

Do đâu mà cả 100 năm không có người viết về lịch sử cải lương? Đó là do bởi cải lương hoạt động cùng khắp, ba miền đất nước từ thành thị đến thôn quê đâu đâu cũng có, nước ngoài cũng có, và cả trong khu kháng chiến cũng có cải lương. Nếu như không theo dõi cải lương hoạt động khắp nơi, thì lấy gì để viết. Mà tập trung hằng bao sự kiện thì vô cùng khó khăn, thành thử ra không có người viết về lịch sử cải lương là vậy.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/radio-n-singer-04262014061710.html

NGÀNH MAI – thông tín viên RFA : Hát bội ở Miền Nam Việt Nam ngày xưa


Hát bội ở Miền Nam Việt Nam ngày xưa

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-06-29
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
Một cảnh trong vở tuồng  "Cánh tay Vương Tá" năm 2011 tại Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TPHCM

Một cảnh trong vở tuồng “Cánh tay Vương Tá” năm 2011 tại Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TPHCM

Nguồn sankhau3mien.com
 

 

Thời phong kiến quân chủ ngành hát bội được trình diễn trong phạm vi nhỏ hẹp của quần thần, vua chúa. Vì vậy sân khấu hát bội lúc bấy giờ chỉ có những người trong triều đình, quan lại hay hoàng thân quốc thích mới được thưởng thức.

Nói rõ hơn hát bội khi xưa chỉ dành riêng cho kẻ quí tộc trên dùng làm thú tiêu khiển mà thôi.

Hát bội

Hát bội cũng có nghĩa chỉ các y trang, phục sức của con hát lẫn người xem thời bấy giờ (khi xưa người ta gọi nghệ sĩ đào kép là con hát). Những người coi hát, nếu là quan văn, thì y phục của triều đình tượng trưng nơi thắt lưng, ấy là mang đai ngọchay là “Ngọc Bội”, nếu là quan võ thì nơi hong có mang thanh kiếm hay thanh gươm, tức “Bội Đao”.

Ngoài ra, các phi tần, cung nữ mang vàng xuyến, ngọc trai để trang sức và các trang sức ấy được gọi là “Bội Hoàn”.Những con hát khi diễn tuồng, cũng mang bao nhiêu thứ y trang như các văn võ phi tần vậy, nên người thời xưa gọi đấy là Hát Bội. Về sau, mãi sau nầy bộ môn hát bội được phổ biến rộng rãi trong dân chúng, và lối hát ấy được mang ra để làm thú tiêu khiển trong những khi nhàn rỗi và được nâng lên, với tánh cách trọng đại là làm vui cho thần thánh sau cuộc cúng tế ở đình làng.

Bắt đầu từ đó có lẽ môn hát bội được cảithiện nhiều hơn, và mãi đến đời nhà Nguyễn môn hát này tuy cũng còn mang lốt “độc quyền” cho riêng các ông chúa, quan lại, nhưng giới bìnhdân giờ đây vẫn được thưởng thức. và có khi còn học hỏi lối diễn xuất trên để làm thú tiêu khiển ở bất cứ lúc nào rỗi rảnh. Và “Hát Bội” có lẽ từ đó đã mang dấu hiệu “thoái trào” là chẳng riêng gì cho kẻ có mang Bội Hoàn, Ngọc Bội, Bội Đao xem thưởng thức, mà người dân thường vẫn hỉ hả vỗ tay tán thưởng mỗi khi xem hát như… ai vậy.

Và tiếp đây tôi xin nói về lệ thưởng đánh trống chầu, quăng quạt giấy. Hát bội thời xưa có thông lệ thưởng bằng cách đánh trống chầu, và người cầm chầu thường là viên chức trong BanHội Tề của làng xã, được coi như đại diện khán giả buổi hát đó. Lớp tuồng nào hát hay, diễn đúng là đánh trống, có nhiều khi trống được đánh liên tục, khiến cho diễn viên lên tinh thần, lại càng hát hay hơn.

Về phía khán giả thưởng tiền cho đào kép đang hát bằng cách kẹp tiền vào chiếc quạt giấy liệng lên sân khấu. Diễn viên khi hết lớp tuồng thì lượm tiền, cám ơn xong mới đi vô. Vào thời xa xưa ấy đâu có điện thì làm gì có quạt máy, thành ra quạt giấy rất cần thiết và trước rạp hát nào cũng có bán nhiều quạt giấy. Những năm hát bội còn thịnh hành thì đào kép đêm hát ngày tập tuồng, dù rằng họ thuộc lòng từng chữ từng câu, từ điệu bộ cho đến đối thoại họ rành như ăn cơm bữa vậy. Thế mà họ lại siêng tập tuồng, họ tập những lớp diễn mà thường hay được thưởng trống chầu và cây quạt giấy kẹp tiền liệng lên sân khấu. Đây là hai hình thức khen thưởng thực tế về tinh thần lẫn vật chất đã có từ lâu đời mà các đào kép hát bội rất hoan nghinh.

Ông Bầu Cung

Thời thập niên 1940, dài cho đến những năm đầu của thập niên 1950 gánh hát bội Tấn Thành Ban, một trong những đoàn danh tiếng thời bấy giờ do ông Huyện Trần Khiêm Cung làm bầu gánh (Ông Bầu Cung là một trong những người đứng ra xin giấy phép thành lập Hội Nghệ Sĩ Ai Hữu và là hội trưởng đầu tiên năm 1948). Vào thời ấy hằng năm cứ sau Tết Nguyên Đán từ Tháng Hai Âm Lịch trở đi là gánh hát bội của ông Bầu Cung liên tục bán giàn, được mời đi hát cúng Kỳ Yên ở các đình làng quanh tỉnh Gia Định, và đôi khi cũng đi hát ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một, hoặc quê hương của ông ở Cần Đước, Long An. Khi hết lễ cúng Kỳ Yên rồi thì gánh Bầu Cung đi hát quanh quẩn vùng Chợ Lớn, Tân Định, Bà Chiểu… và thường hay về nằm ở tại đình Cầu Muối ở đường Cô Giang. Tuy khán giả không đông đảo như hát ở đình làng, nhưng đêm nào cũng có số khán giả muavé, nếu không lời thì cũng đủ sở hụi chi phí trả lương đào kép, công nhân.

Một đoàn hát bội năm 1906
Một đoàn hát bội năm 1906. files photos

Theo lời ông bầu gánh Trần Khiêm Cung thì lớp tuồng thường hay được vị cầm chầu đánh trống khen tặng, cũng như quạt giấy được quăng lên nhiều nhứt là lớp Khương Linh Tá và Đỗng Kim Lân trong tuồng San Hậu. Trong tuồng có lớp linh hồn Khương Linh Tá đưa Đỗng Kim Lân qua núi. Kim Lân và Linh Tá phò trợ Hoàng Tử TềBang đi lánh nạn. Bọn xoán ngôi là anh em Tạ Ôn Đình, Lôi Nhược đuổi theo tìm bắt. Khương Linh Tá chặn đường giặc, Kim Lân ôm hoàng tử thoát thân.

Lớp diễn mà khán giả hồi hộp, tán thưởng nhiều nhứt, cũng như trống chầu đánh liên tục, quạt giấy quăng lên sân khấu không ngớt là lúc Tạ Ôn Đình chém Khương Linh Tá rụng đầu, nhưng khi chúng nhìn thấy Linh Tá mò mẫm tìm kiếm chiếc đầu rơi chụp gắn vào cổ, chúng sợ quá lui binh không dám đuổi theo Đổng Kim Lân. Hồn nghĩa sĩ Khương Linh Tá thương bạn Kim Lân, bèn hóa thành ngọn đèn hồng, đưa đường Kim Lân và hoàng tử qua núi trước khi trời rạng sáng. Đây là một trong những nét đặc trưng của sân khấu hát bội, đã đem lại sức suy tưởng phong phú đầy thú vị cho khán giả.

Và đây cũng câu chuyện quạt giấy được quăng lên sân khấu.

Khoảng đầu thập niên 1970 đoàn hát bội của ông bầu Ba Luông hát tại Lăng Ông Thủy Tướng, thuộc xã Thắng Nhì(Vũng Tàu), và do hát cúng không bán vé, bà con đi coi đông đảo. Đêm ấy đoàn trình diễn vở tuồng “Triệu Hường Lan Đả Hổ”, có lớp bà mẹ chồng cùng nàng dâu đi xin ăn, sau đó bà mẹ chồng chết dọc đường bỏ lại nàng dâu bơ vơ.

Trong vai mẹ chồng do đào mụ là bà Tám Ngàn thủ diễn, bà hát mấy câu Nam, bi ai thảm thiết làm khán giả xúc động, họ ném tiền lên ào ạt thưởng cho bà. Thế nhưng, bà Tám Ngàn chưa kịp lấy tiền, mới vừa hát dứt câu Nam chót, thì bà trợn mắt rồi… nín thở luôn.

Cô đào đóng vai nàng dâu kinh hoàng kêu thét lên:

– Mẹ! Mẹ chết… thiệt sao mẹ?

Khán giả đâu có biết tưởng lớp tuồng là như vậy, hay quá, nên cứ tiếp tục quăng quạt lên thưởng, cho tới khi cô đào la lên bài hãi:

– Ông bầu ơi, bà Tám chết rồi nè! Mọi người giựt mình trở về thực tại, bàng hoàng trước cái chết thật của một nữ nghệ sĩ già, lẽ ra chỉ làm bộ chết mà thôi.

Ban Vân Hạc

Và giờ đây tôi xin nói về hát bội Ban Vân Hạc của đài phát thanh Sài Gòn thời kỳ trước 1975. Từ trước năm 1940 trong chương trình phát thanh tiếng Việt của đài phát thanh Sài Gòn (thời Pháp) đã có những xuất hát của “Ban Nghệ Thuật Hát Bội Sài Gòn” với các nữ nghệ sĩ Huỳnh Hoa, Ba Út, Sáu Hương, và các nam nghệ sĩ Hữu Thoại, Tám Mẹo, Ba Đính.

Đó là những xuất hát không định kỳ, mỗi tháng có đôi ba lần do nhạc sĩ Sáu Vững phụ trách. Do ảnh hưởng cuộc Thế Chiến Thứ Hai, các cuộc cui chơi giải trí bị đình chỉ suốt thời gian dài. Đến năm 1948 đài phát thanh Sài Gòn mới phục hồi lại chương trình hát bội. Ban Vân Hạc của nhạc sĩ Sáu Vững chính thức thành lập với những tay nghề từ gánh Bầu Thắng, là gánh hát bội đóng trụ hát thường trực ở Đình Cầu Quan, ở gần bờ tường rào nhà ga xe lửa.

Theo yêu cầu của đài phát thanh, trình diễn phải có kịch bản đưa trước rồi mới được hát, chứ đào kép không được cương. Vấn đề khó khăn trước mắt là lúc bấy giờ dễ gì kiếm cho ra những vở tuồng có kịch bản văn học hoàn chỉnh, đầy đủ các vai từ chánh đếnphụ. Cũng may, kép Thành Tôn từ tỉnh lên Sài Gòn, vốn là người có ăn học lại có óc cầu tiến, từng sao chép được nhiều tuồng xưa, lại thêm thông hiểu cấu trúc hành văn, đã nghiễm nhiên trở thành soạn giả thường trựccủa Ban Vân Hạc.

Vấn đề khó khăn thứ hai là thu nhận đào kép, bởi diễn viên thời đó rất nhiều người có tài, hát hay diễn giỏi, ngặt nỗi hiếm ai đọc được chữ Quốc ngữ. Chọn mãi rồi cũng phải có, do sáu đào kép bắt đầu học quốc ngữ, và sáu người này trở thành nòng cốt của Ban Vân Hạc suốt thời gian dài, đó là các nghệ sĩ: Ba Út, Hai Nhỏ, Ba Sáng, Chín Luông, Hữu Thoại, Thành Tôn là những diễn viên tài giỏi, năng động, yêu nghề có duyên với sân khấu nên dễ dàng thành công khi diễn trên đài phát thanh.

Cái hay của Ban Vân Hạc là tại phòng thu thanh của đài, các nghệ sĩ chỉ hát trước máy theo tiếng nhạc của đờn, trống, kèn… tức là ngồi một chỗchứ đâu có ra bộ tịch, đi đứng múa may như trên sân khấu, cũng không co áo mão, cờ quạt gì hết. Vậy mà thính giả nghe Radio họ vẫn hình dung được nhân vật ấy ở sân khấu với trang phụcvà đang làm gì, có nghĩa là họ vẫn hiểu được câu chuyện, xúc động với từng sự kiện, dù chỉ nghe thôi.

Chương trình hát bội Ban Vân Hạc có đều hàngtuần trên đài phát thanh Sài Gòn, có lúc mỗi tuần có đến 2, 3 suất hát đài vẫn không ế. Về tuồng tích hầu hết được viết theo truyện Tàu: Thuyết Đường, Tiết Đinh San chinh Tây, Phàn Lê Huê, La Thông tảo Bắc, Phản Đường, Tam Quốc, Chung Vô Diệm, Tiền Tống, Hậu Tống…

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/soht-vn-old-opera-06292014071247.html