Tag Archives: tân nhạc việt nam

Bạch Yến – Hợp Tuyển: Đêm Đông [HD]


Published on Dec 7, 2014

Bạch Yến: “Đêm Đông”, Ngày Ấy và Bây Giờ: http://jeffreythaiblog.blogspot.com/2… Bạch Yến Collection: http://jeffreythaiblog.blogspot.com/2… SONG LIST 01) Đêm Đông – Nguyễn Văn Thương 02) Hải Ngoại Thương Ca – Nguyễn Văn Thương 03) Lời Buồn Thánh – Trịnh Công Sơn 04) Đêm Buồn – Lam Phương 05) Đơn Côi – Lam Phương 06) Bến Cũ – Anh Việt 07) Em Tôi – Lê Trạch Lựu 08) Sài Gòn Ra Đường 09) Yêu Anh Em Hỏi – Văn Sơn Trường 10) Tình Kỷ Nữ – Phạm Duy 11) Hãy Cứ Là Tình Nhân – Tú Minh 12) Người Có Nhớ Ta Chăng – Lê Tín Hương 13) Giọt Mưa Thu – Đặng Thế Phong 14) Buồn Ơi Chào Mi – Nguyễn Ánh 9 15) Đi Với Tôi Đến Chốn Trời Xa – Canh Thân 16) Cho Em Quên Tuổi Ngọc – Lam Phương (Hát với Trần Thu Hà)

TRẦN NĂNG PHÙNG : TỨ TRỤ CỦA NỀN ÂM NHẠC VIỆT HẢI NGOẠI


TỨ TRỤ CỦA NỀN ÂM NHẠC VIỆT HẢI NGOẠI hiện còn sống là những ai
có lẽ là một câu hỏi ai cũng muốn biết, nhưng cũng rất khó trả lời. Cá
nhân tôi không phải là nhà phê bình về âm nhạc, nên tôi cũng không dám
có ý kiến gì. Tuy nhiên tôi có thể giúp quí vị nào muốn trả lời câu
hỏi trên bằng cách giới thiệu 4 playlists của 4 nhạc sĩ được nhiều
người truy cập nhất và đồng thời xin mời quí thân hữu thưởng thức.
TRẦN NĂNG PHÙNG tran nang phung 2

1)NHAC SI NGO THUY MIEN PLAYLIST (154,000 views)

ngo thuy mien

https://www.youtube.com/playlist?list=PLNBxCTIUVE70tWZMw9grqPNjNV9ERnJ82

2)NHAC SI LAM PHUONG PLAYLIST (133,300 views)

lam phương

https://www.youtube.com/playlist?list=PLuUrrk8zYVhNVR_npGrNPdbHQHrILgRba

3)NHAC SI ANH BANG PLAYLIST (113,200 views)
anh bằng
https://www.youtube.com/playlist?list=PL6FF4F5FF417F5B54

4)NHAC SI TU CONG PHUNG PLAYLIST (89,100 views)

VT15-TCPhng-2

https://www.youtube.com/playlist?list=PL7B7C03228AC49B60

WIKIPEDIA : TÂN NHẠC VIỆT NAM


Tân nhạc Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Đặng Thế Phong, chỉ với ba ca khúc về mùa thu, nhưng sự thành công của chúng đã khiến ông luôn được coi như một trong những nhạc sĩ xuất sắc nhất trong giai đoạn sơ khai của nền tân nhạc Việt Nam.

Phạm Duy (1921-2013), nhạc sĩ đi đầu và đầy thành công trong việc đưa nét dân ca vào trong Tân nhạc, ông cũng là một trong những nhạc sĩ giàu ảnh hưởng nhất của Tân nhạc.

Trịnh Công Sơn, nổi tiếng nhất với nhạc tình, nhưng ông còn được biết tới như một trong những nhạc sĩ tiêu biểu trong việc đem âm nhạc để phản đối chiến tranh với những ca khúc Da vàng.

Ca sĩ kiêm nhạc sĩ Trần Thiện Thanh (1942-2005) có những tác phẩm thành công ở nhiều thể loại: nhạc vàng trữ tình, nhạc lính, nhạc tình 54-75, nhạc mang âm hưởng dân ca.
Tân nhạc Việt Nam
Nhạc sĩ • Ca sĩ • Ca khúc

Tân nhạc (tiếng Anh: Vietnamese modern music) – tên gọi khác: nhạc tân thời (tiếng Anh: Vietnamese modern musical era), nhạc cải cách (tiếng Anh: Vietnamese reformed music) – là tên gọi thông dụng của dòng nhạc xuất hiện tại Việt Nam vào khoảng năm 1928.

Mục lục

Bối cảnh Việt Nam đầu thế kỷ 20

Bối cảnh ra đời của tân nhạc là Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20. Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi trong nghệ thuật văn học Việt Nam nói chung. Tân nhạc xuất hiện sau phong trào thơ mới và dòng văn học lãng mạn vài năm.

Sau Thế chiến thứ nhất, ở Việt Nam xuất hiện một giai cấp mới, đó là giai cấp tư sản. Chủ nghĩa tư bản của người Pháp cùng với nền văn hóa phương Tây vào Việt Nam gây nên những xáo trộn lớn trong xã hội. Nhiều giá trị tư tưởng bền vững mấy ngàn năm trước đó lại bị giới trẻ có Tây học xem thường, thậm chí trở thành đối tượng để mỉa mai của nhiều người. Một tầng lớp tiểu tư sản ở thành thị hình thành.

Giai cấp tư sản và một bộ phận tiểu tư sản lớp trên (trí thức, viên chức cao cấp) đã có một lối sinh hoạt thành thị mới với nhiều tiện nghị theo văn minh Tây phương. Họ ở nhà lầu, đi ô tô, dùng quạt điện, đi nghe hòa nhạc. Sinh hoạt của tư sản và tiểu tư sản thành thị cũng thể hiện ngay cả trong cách ăn mặc của thanh niên, mốt quần áo thay đổi mỗi năm. Những đổi thay về sinh hoạt cũng đồng thời với sự thay đổi về ý nghĩ và cảm xúc. Những thay đổi đó cũng do sự tiếp xúc với văn hóa lãng mạn Pháp.

Giống như những nhà văn lãng mạn, thi sĩ của phong trào thơ mới chịu ảnh hưởng bởi văn học lãng mạn Pháp, các nhạc sĩ tiền chiến chịu ảnh hưởng bởi âm nhạc phương Tây.

Giai đoạn tượng hình

Giai đoạn trước 1937 được xem là giai đoạn chuẩn bị của Tân nhạc. Trong bài Lịch sử Tân nhạc Việt Nam nhạc sĩ Trần Quang Hải gọi đây là “giai đoạn tượng hình”. Còn Phạm Duy cho rằng những năm đầu thập niên 1930 là “thời kỳ đi tìm nhạc ngữ mới”.

Âm nhạc của châu Âu theo chân những người Pháp vào Việt Nam từ rất sớm. Đầu tiên chính là những bài thánh ca trong các nhà thờ Công giáo. Các linh mục Việt Nam được cũng được dạy về âm nhạc với mục đích truyền giáo. Tiếp đó người dân được làm quen với “nhạc nhà binh” qua các đội kèn đồng. Tầng lớp giàu có ở thành thị được tiếp xúc với nhạc khiêu vũ, nhạc cổ điển phương Tây.

Từ đầu thế kỷ 20, các bài hát châu Âu, Mỹ được phổ biến mạnh mẽ ở Việt Nam với các đĩa hát 78 vòng rồi qua những bộ phim nói. Những thanh niên yêu âm nhạc thời kỳ đó bắt đầu chơi mandoline, ghita và cả vĩ cầm, dương cầm.

Thời kỳ này một số nhạc sĩ cải lương bắt đầu soạn các nhạc phẩm, thường được gọi là “bài tây theo điệu ta”. Người tiêu biểu cho số đó là nghệ sĩ cải lương Tư Chơi, tức Huỳnh Thủ Trung. Ông đã viết các bài Tiếng nhạn trong sương, Hòa duyên và soạn lời Việt cho một vài ca khúc châu Âu thịnh hành khi đó để sử dụng trong các vở sân khấu như: Marinella trong vở Phũ phàng, Pouet Pouet trong Tiếng nói trái tim, Tango mystérieux trong Đóa hoa rừng, La Madelon trong Giọt lệ chung tình… Nghệ sĩ Bảy Nhiêu cũng có một nhạc phẩm là Hoài tình rất được ưu chuộng.

Không chỉ các nghệ sĩ, trong giới thanh niên yêu nhạc cũng có phong trào chuyển ngữ các bài hát của Tino Rossi, Rina Ketty, Albert Préjean, Georges Milton… mà họ yêu thích. Những nghệ sĩ sân khấu như Ái Liên, Kim Thoa đã được các hãng đĩa của người Pháp như Odéon, Béka mới thu âm các bài ta theo điệu tây. Khoảng thời gian từ 1935 tới 1938, rất nhiều các bài hát của Pháp như Marinella, C’est à Capri, Tant qu’il y aura des étoiles, Un jour loin de toi, Celle que j’aime éperdument, Les gars de la marine, L’Oncle de Pékin, Guitare d’amour, Créola, Signorina, Sous les ponts de Paris, Le plus beau tango du monde, Colombella… mà phần lớn là sáng tác của nhạc sĩ người Pháp Vincent Scotto và của Mỹ như Goodbye Hawaii, South of The Border… đã được phổ biến mạnh mẽ với lời ca tiếng Việt, soạn bởi một nhà báo trẻ tên là Mai Lâm và bởi những tác giả vô danh khác. Ca sĩ Tino Rossi đặc biệt được giới trẻ yêu thích, đã có những hội Ái Tino được thành lập ở Hà Nội, Hải Phòng.

Từ giữa thập niên 1930, nhiều nhóm thanh niên yêu âm nhạc ở Hà Nội đã tập trung cùng sáng tác. Văn Chung, Lê Yên, Doãn Mẫn, ba thành viên của nhóm Tricéa đã viết nhiều ca khúc như Bẽ bàng (1935), Nghệ sĩ hành khúc (1936) của Lê Yên; Tiếng sáo chăn trâu (1935), Bên hồ liễu (1936), Bóng ai qua thềm (1937) của Văn Chung. Tại Huế, Nguyễn Văn Thương viết bản Trên sông Hương năm 1936. Lê Thương ở Hải Phòng cũng có Xuân năm xưa năm 1936.

Giai đoạn từ 1935 tới 1938 được nhạc sĩ Phạm Duy gọi là “thời kỳ chuẩn bị của Tân nhạc Việt Nam”.

Giai đoạn thành lập 1938-1945

Năm 1938 được coi là điểm mốc đánh dấu sự hình thành của Tân nhạc Việt Nam với những buổi biểu diễn và thuyết trình của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên tại Hà Nội.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên khi đó ở Sài Gòn, là người Việt duy nhất tham gia hội Hiếu nhạc (Philharmonique). Ông bắt đầu hát nhạc Tây và đoạt được cảm tình của báo chíradio. Năm 1937 ông phổ một bài thơ của người bạn và viết thành ca khúc đầu tiên của mình. Nhà thơ Nguyễn Văn Cổn, khi đó làm việc cho đài Radio Indochine, có đưa thơ cho Nguyễn Văn Tuyên và giúp ông soạn lời ca. Nguyễn Văn Cổn còn giới thiệu ông với Thống đốc Nam Kỳ. Viên Thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ là Pagès[1] nghe ông hát và mời ông du lịch sang Pháp để tiếp tục học nhạc nhưng Nguyễn Văn Tuyên từ chối vì lý do gia đình. Ngược lại ông lại đề nghị và được thống đốc Pagès tài trợ cho đi một vòng Việt Nam ra Huế, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định để quảng bá những bài nhạc mới này. Chính Nguyễn Văn Cổn là người đặt tên cho loại nhạc mới là “âm nhạc cải cách” (musique renovée).

Tới Hà Nội vào tháng 3 năm 1938, Nguyễn Văn Tuyên nói chuyện tại hội Trí Tri. Nhưng trong cuộc vận động cải cách, ông đã gặp một cử tọa đông đảo, ồn ào không trật tự. Một phần thất bại buổi đó do giọng nói địa phương của ông được ít người hiểu. Hơn nữa, có thể nhiều thanh niên Hà Nội lúc đó như đã cho việc hô hào của ông là thừa, vì bài hát cải cách đã có sẵn ở đây.

Tại hội Trí Tri Hải Phòng, Nguyễn Văn Tuyên đã may mắn hơn. Tuy số khán giả chỉ độ 20 người, nhưng Nguyễn Văn Tuyên đã có người thông cảm. Trong buổi nói chuyện này, một vài nhạc sĩ của Hải Phòng cũng trình một bản nhạc mới của miền Bắc. Sau đó nhân kỳ hội của trường Nữ học Hoài Đức, Nguyễn Văn Tuyên còn trình bày tại rạp chiếu bóng Palace một lần nữa. Lần này cử tọa rất tán thưởng giọng hát của ông trong bài “Bông cúc vàng”.

Tiếp đó tờ Ngày nay số 121 ra ngày 31 tháng 7 năm 1938 của Nhất Linh, một tờ báo uy tín khi ấy, cho đăng những bản nhạc đầu tiên “Bình minh” của Nguyễn Xuân Khoát lời ca của Thế Lữ, số 122 ra ngày 7 tháng 8 năm 1938 đăng bài “Một kiếp hoa” của Nguyễn Văn Tuyên, rồi Bản đàn xuân của Lê Thương, “Khúc yêu đương” của Thẩm Oánh, “Đám mây hàng”, “Cám dỗ” của Phạm Đăng Hinh, “Đường trường” của Trần Quang Ngọc,…

Nhiều ca khúc sáng tác từ trước được các nhạc sĩ phát hành. Từ đầu 1939, các bản nhạc của được bán tại các hiệu sách. Tân nhạc Việt Nam chính thức hình thành.

Nhạc tiền chiến

Bài chi tiết: Nhạc tiền chiến

Sau thành công của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên và được sự ủng hộ của báo chí, nhiều nhóm nhạc được thành lập và các nhạc sĩ phổ biến rộng rãi những tác phẩm của mình. Và ngay từ thời kỳ này, nhiều nhạc sĩ tài năng đã ghi dấu ấn với các nhạc phẩm trữ tình lãng mạn. Một số thuật ngữ được dùng để chỉ nền tân nhạc Việt Nam giai đoạn này, phổ biến nhất là “nhạc tiền chiến“. Dòng nhạc tiến chiến còn kéo dài tới năm 1954 và cả sau 1954 ở miền Nam.

Những bài hát cải cách nhanh chóng được giới trẻ sinh viên, trí thức ái mộ đón nhận, tuy vậy nó cũng gây nên nhiều ý kiến khác nhau. Các trí thức phong kiến thì chỉ trích còn giới dân nghèo thì thờ ơ. Với phong cách trữ tình lãng mạn, các ca khúc tiền chiến có lời ca mang tính văn học cao. Ngoài các ca khúc về tình yêu, chủ đề lịch sử, yêu nước là những đề tài chính của nhạc tiền chiến.

Các nhóm nhạc

Vì nhà cầm quyền Pháp không cho mở lại trường dạy nhạc Conservatoire français d’Extrême-orient, nên trước sự phát triển của phong trào âm nhạc cải cách, có hai tổ chức đào tạo nhạc sĩ ra đời. Đó là Hội Khuyến Nhạc với người đứng đầu là Nguyễn Văn Giệp và Nhạc Đường Học Xá của Lưu Quang Duyệt.

Mặt khác, có những thanh niên tự học nhạc phương Tây rồi tập trung để cũng thảo luận về âm nhạc, với những sinh hoạt văn nghệ có tình chất “salon”. Trong số này có hai nhóm nổi danh nhất là nhóm Tricéanhóm Myosotis.

Nhóm Tricéa được thành lập từ rất sớm với ba thành viên Lê Yên, Văn ChungDoãn Mẫn. Họ đã có những sáng tác từ trước khi Nguyễn Văn Tuyên ra Hà Nội quảng bá nhạc cải cách. Nhóm đã để lại nhiều ca khúc giá trị như Văn Chung với Bóng ai qua thềm, Lê Yên với Bẽ bàng, Ngựa phi đường xa, Xuân nghệ sĩ hành khúc và thành công hơn cả là Doãn Mẫn với Biệt ly, Hương cố nhân.

Nhóm Myosotis với hai thành viên chính là Dương Thiệu TướcThẩm Oánh. Myosotis có chủ trương sáng tác rõ rệt: Thẩm Oánh với nhạc theo âm hưởng dân tộc và Dương Thiệu Tước với những sáng tác theo ngữ nhạc Tây Phương. Giai đoạn này Myosotis rất nhiều nhưng về sau ít được nhắc tới. Tồn tại một thời gian, Myosotis không còn là một nhóm thuần nhất. Các thành viên chia tay, tiếp tục đi theo con đường sáng tác riêng. Dương Thiệu Tước tiếp tục với những ca khúc lãng mạn và ghi dấu ấn trong lịch sử tân nhạc với Ngọc lan, Đêm tàn bến Ngự, Tiếng xưa.

Ở Hải Phòng, năm 1939, nhạc sĩ Hoàng Quý thành lập nhóm Đồng Vọng. Đồng Vọng quy tụ nhiều nhạc sĩ tài năng như Phạm Ngữ, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Canh Thân, Tô Vũ[2] mở ra dòng nhạc hùng với Bên sông Bạch Đằng, Nước non Lam Sơn, Tiếng chim gọi đàn, Bóng cờ lau, Nắng tươi, Chiều quê của Hoàng Quý, Về đồng quê của Văn Cao, Ngày xưa của Tô Vũ. Riêng Hoàng Quý còn một ca khúc trữ tình rất nổi tiếng là Cô láng giềng.

Một nhóm khác cũng chủ trương nhạc hùng là Nhóm Tổng hội Sinh viên của Lưu Hữu Phước khởi đầu trong nhóm sinh viên ở Hà Nội trong đó sinh viên miền Nam tỏ ra nhiều khả năng văn nghệ. So với Đồng Vọng, nhạc của Tổng hội Sinh viên mang tính chính trị nhiều hơn. Nhóm chủ trương dùng tân nhạc trong việc đấu tranh chính trị chống PhápNhật. Lưu Hữu Phước đã viết nhiều ca khúc Tiếng gọi sinh viên, Hồn tử sĩ, Bạch Đằng giang, Ải Chi Lăng, Hội nghị Diên Hồng, Hờn sông Gianh… và về sau trở thành một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc đỏ.

Các nhạc sĩ độc lập

Ngoài các nhóm nhạc, ở miền Bắc khi đó còn nhiều nhạc sĩ độc lập hoặc trong những nhóm nhạc rồi tách ra và ghi dấu ấn riêng.

Nhạc sĩ Lê Thương là một trong những người có sáng tác sớm nhất. Khi đó ông dạy học ở Hải Phòng và có tham gia cùng Hoàng Quý, Phạm Ngữ, Canh Thân. Thời kỳ này, Lê Thương đã để lại dấu ấn với các truyện ca như Bản đàn xuân, Nàng Hà Tiên, Một ngày xanh, Thu trên đảo Kinh Châu và đặc biệt bộ ba ca khúc Hòn vọng phu, được xem như một nhạc phẩm bất hủ của tân nhạc. Về sau Lê Thương di cư vào miền Nam, tiếp tục sáng tác các ca khúc thể loại khác như thiếu nhi, hài hước. Bài Thằng Cuội của ông trở thành một ca khúc thiếu nhi rất quen thuộc.

Ở miền Bắc, ngoài Hà Nội và Hải Phòng, Nam Định cũng là nơi có nhiều nhạc sĩ sáng tác tân nhạc như Hoàng Trọng, Bùi Công Kỳ. Tiêu biểu nhất cho các nhạc sĩ Nam Định là Đặng Thế Phong. Sớm rời Nam Đinh, Đặng Thế Phong lên Hà Nội và học dự thính tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau đó, đầu năm 1941 ông vào miền Nam rồi sang Nam Vang mở một lớp dạy nhạc rồi lại quay về Hà Nội và mất ở Nam Định vào năm 1942 khi 24 tuổi. Đặng Thế Phong chỉ sáng tác ba nhạc phẩm và cả ba đều nổi tiếng: Đêm thu, Con thuyền không bến, Giọt mưa thu. Đặc biệt với hai nhạc phẩm bất hủ Con thuyền không bếnGiọt mưa thu, Đặng Thế Phong được xem như một trong những nhạc sĩ tiền chiến tiêu biểu nhất.

Nhạc sĩ Văn Cao ở Hải Phòng và cũng từng tham gia nhóm Đồng Vọng. Từ năm 16 tuổi Văn Cao đã có ca khúc đầu tay là Buồn tàn thu rất được ưu chuộng. Năm 1941, theo lời khuyên của Phạm Duy, Văn Cao lên Hà Nội. Thời kỳ này, ông đã viết nhưng ca khúc vượt thời gian như Thu cô liêu, Suối mơ, Bến xuân và đặc biệt Trương ChiThiên Thai. Tham gia Việt Minh, cuối năm 1944, Văn Cao viết Tiến quân ca, ca khúc trở thành bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh rồi quốc ca của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và quốc ca của Việt Nam hiện nay. Đến năm 1947, ông viết Trường ca Sông Lô ca ngợi chiến thắng sông Lô. Trương Chi, Thiên ThaiTrường ca Sông Lô của Văn Cao được công nhận nằm trong số những ca khúc hay nhất của Tân nhạc Việt Nam.

Một nhạc sĩ nổi tiếng khác ở Hà Nội là Đoàn Chuẩn. Là một người say mê Hạ Uy cầm, Đoàn Chuẩn viết nhạc và để lại hơn 10 ca khúc, hầu hết đều nói về mùa thu, trong đó nhiều bài giá trị như Đường về Việt Bắc, Lá đổ muôn chiều, Gửi người em gái… Nhạc phẩm Vĩnh biệt của ông cũng được sáng tác trong thời gian đó, nhưng đến cuối thập niên 1990 mới công bố và được ca sĩ Ánh Tuyết thể hiện.

Nhiều ca khác của các nhạc sĩ khác cũng ghi dấu ấn cho giai đoạn tiền chiến như Ngày về, Mơ hoa của Hoàng Giác, Giáo đường im bóng của Nguyễn Thiện Tơ, Em đến thăm anh một chiều mưa của Tô Vũ, Nỗi lòng của Nguyễn Văn Khánh, Trách người đi của Đan Trường, Đêm đông của Nguyễn Văn Thương, Ai về sông Tương của Văn Giảng, Trầu cau của Phan Huỳnh Điểu, Xuân và tuổi trẻ của La Hối, Dạ khúc của Nguyễn Mỹ Ca, Nhớ quê hương của Phạm Ngữ, Tình quê hương của Việt Lang, Màu thời gian của Nguyễn Xuân Khoát

Vào thời kỳ đầu tiên, Phạm Duy với vai trò ca sĩ trong gánh hát Đức Huy là một trong những người góp phần phổ biến tân nhạc. Ông là người đầu tiên hát nhạc cải cách trên đài Radio Indochine ở Sài Gòn vào năm 1944, mỗi tuần trình bày 2 lần. Phạm Duy có ca khúc đầu tay Cô hái mơ năm 1942 phổ từ thơ Nguyễn Bính. Sau đó, với rất nhiều các ca khúc, ông là một trong những nhạc sĩ Việt Nam có sức sáng tác mạnh mẽ nhất và thuộc nhiều thể loại.

Những giọng ca khác của tân nhạc thời kỳ đầu có thể kể tới Thương Huyền, tài tử Ngọc Bảo

Giai đoạn kháng chiến 1945-1954

Bài chi tiết: Nhạc đỏ

Từ năm 1945, tân nhạc Việt Nam bắt đầu có sự phân tách. Đa số các nhạc sĩ rời bỏ thủ đô và những thành phố lớn để tham gia kháng chiến. Nhưng một số vẫn ở lại trong vùng kiểm soát của Pháp hoặc có những nhạc sĩ theo kháng chiến rồi lại quay trở lại thành phố.

Với đề tài kháng chiến, ở miền Bắc, Đỗ Nhuận viết Du kích sông Thao, Nhớ chiến khu, Hoàng VânHò kéo pháo, Văn Chung viết Quê tôi giải phóng, Lê Yên viết Bộ đội về làng… Ở miền trung có Bình Trị Thiên khói lửa của Nguyễn Văn Thương, Lời người ra đi của Trần Hoàn, Đoàn vệ quốc quân, Có một đàn chim của Phan Huỳnh Điểu, Du kích Ba Tơ của Dương Minh Viên… Còn ở miền Nam, một lớp nhạc sĩ trẻ hơn như Hoàng Việt với Lên ngàn, Nhạc rừng, Nguyễn Hữu Trí với Tiểu Đoàn 307, Trần Kiết Tường với Anh Ba Hưng, Con kênh xanh xanh của Ngô Huỳnh. Một đề tài sáng tác mới nữa của các nhạc sĩ là ca ngợi Hồ Chí MinhĐảng Lao động Việt Nam. Lưu Hữu Phước đã viết Chào mừng Đảng lao Động Việt Nam, Lưu Bách Thụ viết Biết ơn Cụ Hồ. Tham gia kháng chiến, Văn Cao đã sửa lời Bến xuân thành Đàn chim Việt và viết Trường ca Sông Lô, Ca ngợi Hồ Chủ Tịch.

Các ca khúc này đánh dấu sự ra đời thực sự của nhạc kháng chiến, hay “nhạc đỏ“. Tuy vậy, ngay trong số những nhạc sĩ trên, nhiều người vẫn tiếp tục viết các ca khúc lãng mạn và được các chính quyền tại miền Nam Việt Nam xếp vào dòng nhạc tiền chiến như Sơn nữ ca của Trần Hoàn, Dư âm của Nguyễn Văn Tý, Nụ cười sơn cước của Tô Hải, Tình quê hương của Việt Lang.

Tham gia kháng chiến, Phạm Duy cũng có Chiến sĩ vô danh, Quê nghèo, Bà mẹ Gio Linh. Nhưng ông cũng viết Bên cầu biên giới và bài hát bị coi là không hợp với hoàn cảnh chiến đấu khi đó và về sau ông rời bỏ miền Bắc vào Nam.

Ở các vùng đô thị thuộc kiểm soát của Pháp, những nhạc sĩ vẫn sáng tác nhạc lãng mạn như Văn Giảng với Ai về sông Tương, Lâm Tuyền với Tiếng thời gian, Văn Phụng với Mơ khúc tương phùngLê Thương vào miền Nam viết các bản nhạc hài hước, trào phúng Hòa bình 48, Liên Hiệp Quốc. Ở Hà Nội, năm 1947 Nguyễn Đình Thi viết ca khúc Người Hà Nội.

Trong giai đoạn này, tại Pháp trong những năm 1949 tới 1951, hãng đĩa Oria đã thu một số đĩa nhựa 78 vòng tiếng hát của các ca sĩ Hải Minh[3], Bích Thuận, Hoàng Lan, Văn Lý những ca khúc Hội nghị Diên Hồng của Lưu Hữu Phước, Chiến sĩ vô danh của Phạm Duy, Tiếng thùy dương, Hòa bình 48 của Lê Thương, Trách người đi của Đan Trường

Giai đoạn 1954-1975

Hiệp định Genève năm 1954 tạm chia Việt Nam thành hai vùng tập trung quân sự để chờ tổng tuyển cử toàn quốc năm 1956. Chính quyền Quốc gia Việt NamViệt Nam Cộng hòa từ chối thi hành tổng tuyển cử theo hiệp định, hành động này đã chia Việt Nam thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòamiền BắcViệt Nam Cộng hòamiền Nam.

Tại miền Bắc, nhạc kháng chiến tiếp tục và cùng với nhạc dân ca, truyền thống là những thể loại âm nhạc duy nhất được phát trên đài phát thanh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 ở miền Bắc. Các ca khúc nhạc đỏ để cổ vũ tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, phục vụ chiến tranh, truyền đạt những chính sách của nhà nước, khuyến khích tình yêu lý tưởng cộng sản, cũng có cả những bài hát trữ tình, thể hiện tình yêu quê hương đất nước hoặc cổ vũ lao động, xây dựng.

Ở miền Nam, với sự tự do, đa dạng hơn trong sáng tác nghệ thuật, các nhạc sĩ đã viết các ca khúc thuộc nhiều thể loại. Dòng nhạc tiền chiến được Cung Tiến, Phạm Đình Chương tiếp tục. Một số nhạc sĩ trẻ như Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Lê Uyên Phương, Vũ Thành An sáng tác các bản tình ca mới. Dòng “nhạc vàng” xuất hiện với các tên tuổi tiêu biểu Hoàng Thi Thơ, Trúc Phương, Lam Phương. Văn hóa Âu Mỹ tràn ngập miền Nam dẫn đến sự hình thành dòng nhạc trẻ. Bên cạnh đó là các phong trào Du ca và dòng nhạc phản chiến. Một nhạc sĩ tiêu biểu cho dòng nhạc phản chiến này và cả tình ca là Trịnh Công Sơn.

Miền Bắc

Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với sự lãnh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam, tân nhạc cũng như điện ảnh, có nhiệm vụ chính là cổ vũ chiến đấu. Dòng nhạc Cách mạng chiếm vị trí độc tôn, các nhạc sĩ lãng mạn như Văn Cao, Đoàn Chuẩn hầu như không còn sáng tác. [cần dẫn nguồn] Song song với lớp nhạc sĩ đầu như Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận, Lương Ngọc Trác, sau đó tới Doãn Nho, Tô Hải, Hồ Bắc, Huy Thục, đã xuất hiện một số nhạc sĩ trẻ hơn Trọng Bằng, Cao Việt Bách

Việc một số nhạc sĩ được gửi đi học ở các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Trung Quốc… và nhiều đoàn ca múa chuyên nghiệp của các quốc gia Liên Xô và Đông Âu tới Hà Nội trình diễn đã tạo nên sự ảnh hưởng tới tân nhạc Việt Nam. Bốn chủ đề sáng tác chính của các nhạc sĩ miền Bắc thời kỳ này là:

  • Hồ Chí Minh
Ca ngợi hình ảnh lãnh tụ được thể hiện qua nhiều bài hát như Việt Bắc nhớ Bác Hồ của Phạm Tuyên, Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người của Trần Kiết Tường, Ðôi dép Bác của Văn An, Nhớ ơn Hồ Chí Minh của Tô Vũ, Lời ca dâng Bác của Trọng Loan, Trồng cây lại nhớ đến Người của Ðỗ Nhuận, Ca ngợi Hồ chủ tịch của Văn Cao, Tình Bác sáng đời ta của Lưu Hữu Phước
  • Phong cảnh và tâm hồn Việt Nam
Một số ca khúc như Quảng Bình quê ta ơi của Hoàng Vân, Vàm Cỏ Ðông của Trương Quang Lục, Tây Nguyên bất khuất của Văn Ký, Bài ca Hà Nội của Vũ Thanh, Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây của Hoàng Hiệp, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh của Nguyễn Văn Tý, Những cô gái đồng bằng sông Cửu Long của Huỳnh Thơ, Cô gái Sài Gòn đi tải đạn của Lư Nhất Vũ
  • Dân tộc thiểu số
Do hoàn cảnh chiến tranh, một số nhạc sĩ có những tiếp xúc với các dân tộc thiểu số và đã viết các ca khúc như Tiếng đàn ta lư (Huy Thục), Cô gái cầm đàn lên đỉnh núi (Văn Ký), Bản Mèo đổi mới (Trịnh Lai), Em là hoa Pơ Lang (Ðức Minh), Bóng cây kơ nia (Phan Huỳnh Ðiểu)…
  • Kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam
Tân nhạc với nhiệm vụ cổ vũ chiến đấu, đây là đề tài chính của nhiều bài hát: Anh vẫn hành quân (Huy Du), Chào anh giải phóng quân (Hoàng Vân), Lời anh vọng mãi ngàn năm (Vũ Thành), Bài ca năm tấn (Nguyễn Văn Tý), Lá thư hậu phương (Phạm Tuyên), Trai anh hùng, gái đảm đang (Ðỗ Nhuận), Bài ca may áo (Xuân Hồng), Hành khúc giải phóng (Lưu Nguyễn Long Hưng, tức Lưu Hữu Phước), Giải phóng miền Nam (Huỳnh Minh Siêng, tức Lưu Hữu Phước)… trong đó bài Giải phóng miền Nam được dùng làm bài hát chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam từ năm 1960 tới năm 1975.

Ngoài các ca khúc phổ thông, nhiều thể loại khác cũng được các nhạc sĩ thể nghiệm. Ảnh hưởng bởi các màn hợp xướng do các đoàn văn nghệ Liên XôĐông Âu trình diễn ở Hà Nội, một số nhạc sĩ Việt Nam đã soạn các ca khúc cho nhiều bè như năm 1955Hò đẵn gỗ của Đỗ Nhuận, Sóng cửa Tùng của Doãn Nho, Chiến sĩ biên phòng của Huy Thục, năm 19561957Ta đã lớn, Hò kiến thiết của Nguyễn Xuân Khoát, Tiếng chim của Lưu Cầu, Tiếng hát người chiến sĩ biên thùy của Tô Hải năm 1958…

Một số vở thanh xướng kịch cũng xuất hiện: Vượt sông Cái của Nguyễn Xuân Khoát viết năm 1955, Nguyễn Văn Trỗi của Đàm Linh theo lời thơ Chu Điền năm 1965. Một vài thể loại nữa là các ca kịch nhỏ (như Tục lụy của Lưu Hữu Phước), kịch hát nói (Căn nhà màu hồng ngọc của Hoàng Vân).

Sự xuất hiện các bộ phim điện ảnh cách mạng cũng dẫn tới nhiều ca khúc cho phim được sáng tác. Tác giả nhạc phim đầu tiên là Nguyễn Đình Phúc với phim Chung một dòng sôngLửa trung tuyến. Tiếp đó tới các nhạc sĩ khác như Trọng Bằng với Cù Chính Lan, Biển lửa, Hồng Đăng với Hà Nội mùa chim làm tổ, Hoàng Vân với Con chim vành khuyên

Miền Nam

Khác với miền Bắc, ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 các nghệ sĩ về cơ bản được tự do sáng tác các loại nhạc, trừ nhạc phản chiến,[cần dẫn nguồn] nhạc cách mạng, và các nhạc phẩm thân Cộng hoặc có xu hướng chống Mỹ nói chung. Cũng như điện ảnh, tân nhạc ở miền Nam thời kỳ này hình thành một thị trường sôi động. Các dòng nhạc tiến chiến, tình khúc, nhạc vàng đều có đông đảo người nghe và các nghệ sĩ riêng. Dòng nhạc tiếng chiến được các giọng ca hàng đầu như Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu, Hà Thanh, Duy Trác tiếp tục. Nhạc vàng của các nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Trần Thiện Thanh, Lam Phương được các ca sĩ Duy Khánh, Chế Linh, Thanh Thúy, Thanh Tuyền thể hiện. Các tình khúc mới của Ngô Thụy Miên, Lê Uyên Phương, Từ Công Phụng, Vũ Thành An được giới trẻ đón nhận nồng nhiệt qua các tiếng hát Khánh Ly, Lê Uyên, Lệ Thu. Một số ca sĩ, nhạc sĩ, ban nhạc trẻ xuất hiện đánh dấu sự ra đời của dong nhạc trẻ như Elvis Phương, Nguyễn Trung Cang, Quốc Dũng, Lê Hựu Hà. Các băng nhạc Sơn Ca, Trường Sơn, Shotguns… được phát hành đều đặn.

Dòng nhạc tiền chiến

Một số nhạc sĩ di cư vào miền Nam năm 1954 như Hoàng Trọng, Văn Phụng… hoặc từ trước đó như Lê Thương, Phạm Duy… và những nhạc sĩ trẻ hơn như Phạm Đình Chương, Cung Tiến… đã tiếp tục dòng nhạc tiền chiến tại miền Nam.

Những nhạc sĩ này trong khoảng 1954 đến 1975 có những sáng tác đa dạng, trong đó nhiều ca khúc của họ vẫn được xếp chung vào dòng nhạc tiền chiến. Một số tác phẩm nổi tiếng như Mộng dưới hoa, Trường ca Hội trùng dương của Phạm Đình Chương, Hương xưa của Cung Tiến. Những nhạc phẩm tiền chiến thường xuyên được trình diễn và thu âm bởi những tiếng hát hàng đầu như Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu, Duy Trác, Hà Thanh

Tình khúc

Bài chi tiết: Tình khúc 1954-1975

Một lớp nhạc sĩ trẻ hơn xuất hiện với các bản tình ca mới. Khác với dòng nhạc tiền chiến thường mượn cảnh mùa thu, mưa… để nói lên tình cảm của mình, những nhạc sĩ này có cách thể hiện trực tiếp hơn như Vũ Thành An với các Bài không tên, Lê Uyên Phương với các ca khúc…

Giai đoạn này, bên cạnh nhạc sĩ tiền bối Phạm Duy vẫn sáng tác đều đặn những ca khúc giá trị (Cỏ hồng, Trả lại em yêu, Mùa thu chết…). Còn xuất hiện thêm những nhạc sĩ với phong cách riêng.

Năm 1965, Vũ Thành An viết ca khúc đầu tay Tình khúc thứ nhất, phổ thơ Nguyễn Đình Toàn. Ngay từ ca khúc đầu tiên này, Vũ Thành An được nổi danh. Tiếp sau đó, ông viết một loạt Bài không tên được đánh số cùng một vài ca khúc có tên như Em đến thăm anh đêm 30. Những nhạc phẩm của Vũ Thành An được yêu thích rộng rãi ở miền Nam khi đó, thường xuyên được nghe thấy trong các quán cà phê, trên sóng đài phát thanh, trong các băng nhạc.

Ngô Thụy Miên bắt đầu với Chiều nay không có em được viết năm 1963, nhưng đến với công chúng vào năm 1965. Tiếp theo, ông phổ nhạc cho một số bài thơ của thi sỹ Nguyên Sa và giành được thành công rực rỡ. Các ca khúc Niệm khúc cuối, Mắt biếc, Áo lụa Hà Đông đã ghi dấu ấn của Ngô Thụy Miên trong thời kỳ đó. Năm 1974, Ngô Thụy Miên thực hiện băng nhạc đầu tay Tình Ca Ngô Thụy Miên gồm 17 tình khúc đã được viết trong khoảng thời gian 1965 tới 1972. Với sự góp mặt của các ca sĩ danh tiếng Khánh Ly, Duy Trác, Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan… và nhạc sĩ hòa âm Văn Phụng, cuốn băng tạo được thành công rực rỡ.

Từ Đà Lạt, đôi nghệ sĩ Lê Uyên và Phương xuất hiện mang đến cho tân nhạc những sắc thái mới với các ca khúc khắc khoải, nồng nàn. Bắt đầu từ nhạc phẩm đâu tay Buồn đến bao giờ viết năm 1960 tại Pleiku, Lê Uyên Phương với những Bài ca hạnh ngộ, Còn nắng trên đồi, Dạ khúc cho tình nhân, Lời gọi chân mây, Vũng lầy của chúng ta… được giới trẻ nồng nhiệt đón nhận.

Một gương mặt nổi danh nữa của dòng nhạc này là nhạc sĩ Từ Công Phụng. Khởi sự từ ca khúc đầu tay Bây giờ tháng mấy, các nhạc phẩm tiếp theo của Từ Công Phụng đều mang không khi mang mác như Lời cuối, Trên ngọn tình sầu, Mùa xuân trên đỉnh bình yên, Giọt lệ cho ngàn sau, Mắt lệ cho người… Đặc biệt sau 1975 ở hải ngoại, các ca khúc của Từ Công Phụng còn được biết đến nhiều hơn qua giọng ca Tuấn Ngọc trình bày rất thành công.

Một số nhạc sĩ khác cũng viết các tình khúc nổi tiếng rát được ưa chuộng vào thời gian này như Hoàng Nguyên với Ai lên xứ hoa đào, Cho người tình lỡ, Quốc Dũng với Đường xưa, Cơn gió thoảng, Nguyễn Ánh 9 với Không, Buồn ơi xin chào mi, Văn Phụng với Yêu, Tình; Khánh Băng với Sầu đông, Vọng ngày xanh; Y Vân với Buồn, Thôi, Ảo ảnh, Anh Bằng với Khúc Thụy du, Nỗi lòng người đi; Trần Trịnh với Lệ đá; Nguyễn Văn Đông với Chiều mưa biên giới, Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp; Phạm Trọng Cầu, học ở Paris, cũng đã viết Mùa thu không trở lại

Phạm Đình Chương cũng có Nửa hồn thương đau phổ từ thơ Thanh Tâm Tuyền rất nổi tiếng, hay Người đi qua đời tôi phổ thơ Trần Dạ Từ. Lê Trọng Nguyễn nổi danh với Chiều bên giáo đường, Lá rơi bên thềm và đặc biệt Nắng chiều, ca khúc còn được biết đến ở Hồng Kông, Đài LoanNhật Bản. Hoàng Trọng thành công với các bài hát theo điệu tango Ngỡ ngàng, Lạnh lùng, Tiến bước sang ngang.

Nhạc vàng

Bài chi tiết: Nhạc vàng

Giòng An Giang – một trong những bản nhạc đầu tay của nhạc sĩ Anh Việt Thu.

Bên cạnh các tình khúc, dòng nhạc vàng cũng đặc biệt phổ biến. Với các bài hát giai điệu nhẹ nhàng, đơn giản, dòng nhạc này đã thu hút một số lượng lớn khán giả bình dân. Trong hồi ký của mình[4], Phạm Duy viết: “Đầu thập niên 70 là lúc Nhạc Việt, trong phạm vi ca khúc, phát triển đến tột độ. Có sự thành công của những bài hát thông thường và chỉ được coi là nhạc thương phẩm – mệnh danh là nhạc vàng – với những tình cảm dễ dãi phù hợp với tuổi choai choai, với em gái hậu phương và lính đa tình, tuy không được coi trọng nhưng lại rất cần thiết cho vài tầng lớp xã hội trong thời chiến.”

Từ trước 1963, các nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Lam Phương đã soạn các bản như Gạo trắng trang thanh, Chiều hành quân… Nhưng phải tới sau 1963, khi nền Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam bắt đầu thì các bài hát về Tình và Lính mới trở nên thực sự phổ biến. Đây cũng là hai đề tài chủ yếu của nhạc vàng.

Hoàng Thi Thơ là một nhạc sĩ thành công trong nhiều lĩnh vực. Ông từng là trưởng đoàn nghệ thuật của Việt Nam Cộng hòa đi trình diễn ở một số nước. Hoàng Thi Thơ cũng từng tham gia sản xuất điện ảnh với phim Người cô đơn nói về đề tài âm nhạc. Trên lĩnh vực sáng tác ông viết nhiều bản với âm hưởng dân tộc như Trăng rụng xuống cầu, Rước tình về quê hương, Tình ca trên lúa, Đám cưới trên đường quê, các bản tình cảm như Chuyện tình người trinh nữ tên Thi, Đường xưa lối cũ… Ông còn soạn một vài vở kịch hát Cô gái điên, Ả đào say.

Lam Phương được biết tới với các bản nhạc tình Bài tango cho em, Em là tất cả, Tình bơ vơ… hoặc các bài chủ đề khác như Đoàn người lữ thứ, Cho em quên tuổi ngọc, Kiếp nghèo, Chuyến đò vỹ tuyến

Các ca khúc với chủ đề Lính, người tiêu biểu nhất là Trần Thiện Thanh. Vốn cũng là một ca sĩ với nghệ danh Nhật Trường, ông đã sáng tác và tự trình diễn nhiều bài hát về hình ảnh người lính Việt Nam Cộng hòa: Biển mặn, Chiều trên phá Tam Giang, Hoa trinh nữ, Rừng lá thấp, Tâm sự người lính trẻ, Tình thư của lính… Một số ca khúc khác của ông cũng rất phổ biến như Chiếc áo bà ba, Khi người yêu tôi khóc, Gặp nhau làm ngơ, Mùa đông của anh. Một tác giả viết về lính khác là Trúc Phương, tác giả của Đò chiều, Kẻ ở miền xa, Tàu đêm năm cũ, Trên bốn vùng chiến thuật… và Ai cho tôi tình yêu, Đôi mắt người xưa, Thói đời, Mưa nửa đêm, Tình thắm duyên quê

Những bản nhạc tình bi lụy còn có Châu Kỳ với Giọt lệ đài trang, Được tin em lấy chồng, Sao chưa thấy hội âm, Con đường xưa em đi. Một vài bản khác rất nổi danh như Người yêu cô đơn của Đài Phương Trang, . Ngoài ra còn một số ca khúc như Phiên gác đêm xuân của Nguyễn Văn Đông, Người yêu của lính của Anh Chương, Sang ngang của Đỗ Lễ, Căn nhà ngoại ô của Anh Bằng…

Giọng ca tiêu biểu của nhạc vàng, đầu tiên có thể kể đến Duy Khánh. Tiếp theo là ca sĩ Chế Linh, cũng là tác giả của ca khúc Đêm buồn tỉnh lẻ[5]. Các giọng ca nữ có Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Giao Linh, Hoàng Oanh. Cùng với các nhạc sĩ, các ca sĩ này cũng góp phần định hình dòng nhạc vàng với cách hát khác hẳn các ca sĩ của nhạc tiền chiến hay tình khúc 1954-1975.

Nhạc trẻ

Vào cuối thập niên 1950, nhạc kích động châu Âu và Mỹ bắt đầu thâm nhập thị trường miền Nam. Một số thanh niên trẻ con các thương gia, các học sinh học theo chương trình của Pháp thường nghe các ca khúc của Mỹ và Pháp. Nhưng phải tới khoảng thời gian 1963-1965 thì phong trào nghe các ca khúc phương Tây này mới thực sự bành trướng qua các buổi tổ chức khiêu vũ tại gia. Các danh ca của Mỹ như Paul Anka, Elvis Presley, The Platters… của Anh như Cliff Richard, The Shadows, The Beatles, The Rolling Stones… của Pháp như Johnny Halliday, Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Christophe, Dalida… trở thành thần tượng của giới trẻ Sài Gòn.

Đầu những năm 1960 thì nhạc trẻ trở thành một hiện tượng của âm nhạc Việt Nam. Những ban nhạc trẻ kích động như C.B.C., The Dreamers, The Uptight, The Blue Jets, The Spotlights (sau đổi thành Strawberry Four với Tùng Giang, Đức Huy, Tuấn NgọcBilly Shane) và một số ca sĩ Việt thích kèm theo tên ngoại quốc bên cạnh tên Việt như Elvis Phương, Pauline Ngọc, Prosper Thắng, Julie Quang, Carol Kim… nổi danh với các bạn nhạc ngoại quốc hát bằng lời Anh hoặc Pháp. Những hộp đêm Mỹ ngày càng nhiều từ năm 1968 khuyến khích nhiều ca sĩ hát nhạc Mỹ. Nhiều bản nhạc ngoại quốc nổi tiếng được các nhạc sĩ Phạm Duy, Quốc Dũng, Nam Lộc, Tùng Giang, Trường Hải… đặt lời Việt.

Không chỉ dừng lại ở việc hát nhạc ngoại quốc, nhiều nhạc sĩ tự sáng tác các bạn nhạc kích động. Một trong những người đầu tiên có thể kể tới là Khánh Băng với Sầu đông, Có nhớ đêm nào, Tiếng mưa rơi. Các nhạc sĩ khác như Quốc Dũng, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà cũng là những người đầu tiên Việt hóa thể loại nhạc này.

Quốc Dũng, với nhiều ca khúc nổi tiếng, cùng với Thanh Mai tạo thành một đôi song ca được nhiều mến mộ. Ban Phượng Hoàng của Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà và ca sĩ Elvis Phương trở thành một trong nhưng ban nhạc thành công nhất của Sài Gòn giai đoạn đó.

Tới năm 1971, đại hội nhạc trẻ đầu tiên được tổ chức tại sân Hoa Lư do Trường Kỳ, Tùng GiangNam Lộc tổ chức. Sự thành công của đại hội nhạc trẻ đầu tiên ở Sài Gòn đã đẩy mạnh nhạc trẻ lên cao độ. Tiếp theo đó nhiều đại nhạc hội khác được tiếp tục được tổ chức: năm 1971 tại trường trung học Taberd với hơn 10.000 người nghe, năm 1974 tại sở thú với trên 20.000 khán giả.

Cho tới sau 1975, nhiều bản nhạc nước ngoài vẫn ăn khách trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Một vài ca khúc còn được các ca sĩ trẻ trong nước hát, như Bang bang do Phạm Duy đặt lời Việt được Mỹ Tâm hát lại vào những năm đầu thập niên 2000.

Nhạc phản chiến

Khi cuộc chiến tranh Việt Nam ngày càng lan rộng, ở miền Nam, không chỉ có các nhạc sĩ sáng tác các bài hát ca ngợi người lính Việt Nam Cộng hòa mà còn xuất hiện nhiều ca khúc phản chiến. Người tiêu biểu nhất cho phong trào nhạc phản chiến này là Trịnh Công Sơn.

Bắt đầu từ khoảng năm 1966, những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Khánh Ly đã chinh phục giới trẻ, đánh trúng tâm lý chán ghét chiến tranh, mong muốn hòa bình. Năm 1968, sau sự kiên Tết Mậu Thân, Trịnh Công Sơn tung ra tập nhạc Kinh Việt Nam. Năm 1969, Trịnh Công Sơn cho ra tiếp tập Ta phải thấy mặt trời, rồi sau đó là Ca khúc da vàng. Với các ca khúc Nối vòng tay lớn, Bài ca dành cho những xác người, Gia tài của mẹ… Trịnh Công Sơn kêu gọi mọi người ngừng chiến tranh, nêu lên một hình ảnh Việt Nam đau thương vì cuộc chiến.

Song song với nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn, sau Tết Mậu Thân năm 1968, mầm mống chống đối chính quyền Nguyễn Văn Thiệu bắt đầu nảy nở ở các trường đại học tại Sài Gòn. Nhạc sĩ Miên Đức Thắng đã sáng tác các ca khúc như Hát từ cách đồng hoang, Lớn mãi không ngừng. Phong trào học sinh và sinh viên xuống đường xuất hiện cùng với Hát cho đồng bào tôi nghe, trong đó hai nhạc sĩ tiêu biểu là Trần Long ẨnTôn Thất Lập. Năm 1971, một tập nhạc khác xuất hiện là Hát cùng đồng bào ta. Những bài hát xuống đường được giới sinh viên học sinh hát nhiều nhất lúc đó là: Sức mạnh nhân dân của Trương Quốc Khánh, Tình nghĩa Bắc Nam của Nguyễn Văn Sanh, Dậy mà đi của Nguyễn Xuân Tấn… Phạm Thế Mỹ cũng viết Hoa vẫn nở trên đường quê hương, Thương quá Việt Nam.

Phạm Duy cũng sáng tác một số ca khúc phản đối cuộc chiến tranh Kỷ vật cho em, Chuyện hai người lính, Khi tôi về, Tình khúc trên chiến trường tồi tệ, Thầm gọi tên nhau trên chiến trường tồi tệ, Tưởng như còn người yêu… Trong đó ca khúc Kỷ vật cho em phổ từ thơ Linh Phương trở nên rất nổi tiếng, được các danh ca của Sài Gòn khi đó như Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly hát thường xuyên tại các phòng tra, vũ trường gây nên các tác động mạnh mẽ tới khán giả.

Lê Hựu Hà cũng là một người có nhiều sáng tác trong phong trào phản đối chiến tranh tiêu biểu là bài hát Hãy nhìn xuống chân

Phong trào du ca

Năm 1966, hai nhạc sĩ Nguyễn Đức QuangĐinh Gia Lập thành lập phong trào Du ca, là một đoàn thể hoạt động về văn hóa và văn nghệ phục vụ cộng đồng, xuất hiện cùng lúc với phong trào làm công tác xã hội của sinh viên, học sinh. Chủ tịch phong trào từ 1967 là dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ và đến năm 1972 được thay thế bởi Đỗ Ngọc Yến. Trưởng xưởng Du ca do nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang điều hành, đến năm 1972 được thay thế bởi Ngô Mạnh Thu. Phong trào được Bộ Quốc gia Giáo dục và Thanh niên Việt Nam Cộng hòa công nhận chính thức và cấp giấy phép hoạt động trên toàn quốc kể từ ngày 24 tháng 1 năm 1969.

Du ca quy tụ khá nhiều các nhạc sĩ tên tuổi, cũng như nhiều nhạc sĩ trẻ xuất phát từ phong trào: Nguyễn Đức Quang, Trầm Tử Thiêng, Anh Việt Thu, Trần Tú, Nguyễn Quyết ThắngPhạm Duy cũng có đóng góp trong phong trào du ca với một số bài như Sức mấy mà buồn, Thôi bỏ đi tám.

Du ca ra đời đúng lúc mọi người đang đòi hỏi một nền văn nghệ sống động, thức tỉnh và mới lạ. Những loại nhạc mà phong trào du ca thường sử dụng là Thanh niên ca, Thiếu nhi ca, Sinh hoạt ca, Nhận thức ca, Sử ca, Dân ca, những bài hát ca ngợi tình yêu con người và thân phận quê hương. Nhiều bài hát của du ca đã trở nên quen thuộc như Việt Nam, Việt Nam của Phạm Duy, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của Nguyễn Đức Quang, Hát từ tim, hát bằng hơi thở của Nguyễn Quyết Thắng, Anh sẽ về của Nguyễn Hữu Nghĩa, thơ Kinh Kha, Xin chọn nơi này làm quê hương của Nguyễn Đức Quang.

Những ca khúc trong phong trào du ca có mục đích kêu gọi thanh niên hãy tự hào, tin tưởng và hy vọng nơi tương lai. Trước năm 1975, phong trào du ca có tác dụng sâu mạnh đối với giới trẻ qua các đoàn, toán ca như Con Sáo Huế, Du ca Áo Nâu, Du ca Lòng Mẹ, Du ca Trùng Dương… Họ trình diễn ở khắp nơi miền Nam khi đó, trong trường học, ngoài sân cỏ, trên sân khấu, trong các đoàn thể bạn, hướng đạo, hay Thanh sinh công, Gia đình Phật tử.

Du ca cũng đã phát hành một số tuyển tập nhạc như: Tuyển tập Du ca 1, Du ca 2, Du ca 3, Những bài ca khai phá, Ta đi trên dòng lịch sử, Những điều trông thấy, Những khuôn mặt Duca, Hát cho những người sống sót, Anh hùng ca, Sinh hoạt ca.

Các nhạc sĩ khác

Trong thời kỳ từ 1954 đến 1975, Phạm Duy vẫn là một trong những nhạc sĩ có sức sáng tác mạnh mẽ nhất và các ca khúc của ông cũng thuộc nhiều thể loại. Tiếp tục những ca khúc “dân ca mới”, Phạm Duy còn sáng tác nhiều tình khúc như Nghìn trùng xa cách, Trả lại em yêu, Con đường tình ta đi, Nha Trang ngày về, Cỏ hồng, Mùa thu chết, Nước mắt mùa thu… Ông còn có các bài hát Bé ca dành cho thiêu nhi: Ông trăng xuống chơi, Chú bé bắt được con công, Thằng Bờm, Bé bắt dế, Đưa bé đến trường, Đốt lá trên sân

Các trường ca Con đường cái quan, Mẹ Việt Nam cũng được Phạm Duy viết trong thời kỳ này. Ngoài ra có thể kể đến Đạo ca, Tâm ca… Trong các phong trào Nhạc trẻ, Du ca, Nhạc phản chiến Phạm Duy đều có tham gia với nhiều ca khúc.

Trịnh Công Sơn, ngoài các ca khúc phản chiến, ông là tác giả của rất nhiều tình khúc, giúp ông trở thành một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất của thời kỳ đó và cả sau này. Từ sáng tác được coi là đầu tay Ướt mi xuất bản năm 1959, Trịnh Công Sơn tiếp tục thành công với Diễm xưa, Tuổi đá buồn, Tình xa, Tình nhớ… Cùng với tiếng hát Khánh Ly, các bản tình ca của Trịnh Công Sơn đã chinh phục giới thanh niên miền Nam khi đó, trở thành một hiện tượng của tân nhạc.

Một điểm khác biệt giữa âm nhạc miền Bắc và miền Nam khi đó là trong khi ở miền Bắc, các ca khúc chỉ được phát trên đài phát thanh, qua các buổi biểu diễn của những đội văn công… thì tại miền Nam, âm nhạc hình thành một thị trường sôi động với nhiều hãng băng đĩa. Các ca khúc được phát trên sóng phát thanh, truyền hình, được trình diễn tại các vũ trường, phòng trà và các đại nhạc hội.

Những người đi đầu trong việc sản xuất băng đĩa có thể kể đến Phạm Mạnh Cương, Nguyễn Văn Đông, Tùng Giang… Những băng nhạc Sơn ca, Trường Sơn, Nhã ca, Nhạc trẻ, Shotguns, Sóng nhạc… được phát hành đều đặn. Với lợi nhuận từ các băng nhạc, tập nhạc, các nhạc sĩ nổi tiếng có được thu nhập rất cao.

Phòng trà và vũ trường là hai điểm trình diễn phổ biến của Sài Gòn giai đoạn đó. Những phòng trà như Đêm Màu Hồng, Queen Bee… là điểm yêu thích của nhiều khán giả nghe nhạc.

Giai đoạn sau 1975

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước nền tân nhạc Việt Nam có nhiều thay đổi thăng trầm. Để xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, Việt Nam đã tiến hành cuộc cách mạng văn hoá tư tưởng và đấu tranh cải tạo công thương nghiệp, cãi cách ruộng đất.

Giai đoạn 1975-1996

Trong nước

Trong nước các dòng nhạc vàng bị cấm hoàn toàn vì không phù hợp với chủ trương, các ca sĩ nhạc vàng được khuyến khích chuyển sang hát nhạc truyền thống cách mạng (nhạc đỏ) Nhiều ca sĩ & nhạc sĩ Việt Nam phải vượt biên sang định cư tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác. Nhiều bài hát tiền chiến và tình ca bị hạn chế lưu hành. Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra.

Đề tài sáng tác chủ yếu trong giai đoạn này là:

-Ca ngợi lãnh tụ Hồ Chí Minh: có các bài hát tiêu biểu như: Viếng lăng Bác, Miền Nam Nhớ mãi ơn người,Lời Bác dặng trước lúc ra đi…

-Ca ngợi Đảng: Huyền diệu, Đảng đã cho ta một mùa xuân…

-Ca ngợi chiến công lẩy lừng của cuộc kháng chiến như: Dáng đứng Bến Tre, 40 thế kỷ cùng ra trận, Tổ quốc yêu thương,

-Tình yêu quê hương đất nước và tình yêu lứa đôi: Quê Hương (Giáp Văn Thạch phổ thơ Đổ Trung Quân), Đất nước lời ru (Văn Thành Nho), Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh (Xuân Hồng), Huyền Thoại Mẹ (Trịnh Công Sơn), Bài ca khong quên (Phạm Minh Tuấn), Thuyền và Biển (Phan Huỳnh Điểu), Gửi em chiếc nón bài thơ (Lê Việt Hòa), Giai điệu Tổ quốc (Trần Tiến)…

-Ca ngợi và phát động các phong trào lao động tập thể như Thanh Niên Xung Phong: Đêm rừng Đắc Min, Em nông trường anh ra biên giới, Hồ núi Cốc, Trị An âm vang mùa xuân, Tàu anh qua núi, Đêm thành phố đầy sao, Người đi xây hồ Kẻ Gỗ, Mùa xuân từ những giếng dầu…

Các nhạc sĩ tiêu biểu trong giai đoạn này là: Diệp Minh Tuyền, Trần Long Ẩn, Thế Hiển, Nguyễn Nam, Nguyễn Văn Hiên, An Thuyên, Phó đức Phương, Phong Nhã, Trần Tiến…

Đặc biệt Ca sĩ kiêm nhạc sĩ Trần Tiến chịu ảnh hưởng của phong trào du ca trước năm 1975 nên đã có nhiều sáng tác mới lạ thời bấy giờ nên được công chúng yêu nhạc đón nhận với các ca khúc: Mặt trời bé con, tuỳ hứng lý qua cầu, tạm biệt chim én…

Các ca sĩ thành danh như: Cẩm Vân, Bảo Yến, Nhã Phương, Quang Lý, Tuấn Phong, Cao Minh, Thế Hiển, Trần Tiến…

Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển mạnh mẽ. Hội âm nhạc Việt Nam được thành lập. Hằng năm đều tổ chức nhiều chuyến du khảo hội trại sáng tác theo những chủ đề do nhà nước đặt hàng.

Các trường âm nhạc, văn hoá nghệ thuật được quan tâm thành lập tuy nhiên chỉ mới dừng lại ở quy mô dạy dòng nhạc thính phòng cỏ điển và âm nhạc tuyên truyền.

Nhiều văn nghệ sỷ có cơ hội giao lưu học tập tại Liên Xô (Nga) đã du nhập nhiều bản nhạc Liên xô được hát bằng tiếng Nga hoặc dịch ra lời Việt: Một triệu đoá hoa hồng(Cẩm Vân trình bày), Chiều hải cảng, đôi bờ, Cây thuỳ dương.

Sau Đại Hội Đảng lần VI đề ra chủ trương đổi mới tư duy, xoá bao cấp,văn hoá nghệ thuật được cởi mở Đài Truyền Hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV) đã tổ chức các cuộc thi tiếng hát truyền hình tạo cơ hội cho nhiều ca sĩ trẻ thành danh như: Như Quỳnh, Như Hảo, Thanh Thuý, Tạ Minh Tâm…

Hội thi tiếng hát Hoa Phượng Đỏ dành cho lứa tuổi học sinh.

Tại miền nam nhiều bài hát từ các nước phương Tây được các ca sĩ trình bày lời ngoại ngữ và lời việt(do Khúc Lan dịch): Tình cha (Phương Thảo)… Đặc biệt là phong trào hát nhạc Hoa lời Việt với các ca sĩ: Minh Thuận, Nhật Hào, Tú Châu, Lam Trường…

Nhạc tình ca (còn gọi là nhạc sến do da số viết theo điệu B’lero và có giai điệu buồn với nội dung chủ yếu là mô tả tâm trạng thất tình) được tiếp tục phát triển với các nhạc sĩ như: Vinh Sử, Hàng Châu… với các giọng ca: Đình Văn, Ngọc Sơn, Chế Thanh, Thuỳ Dương…

Nhiều Trung tâm băng nhạc được thành lập như: Bến Thành Audio, Sài Gòn Audio, Kim Lợi Studio…

Hải ngoại

Bài chi tiết: Nhạc hải ngoại

Các nhạc sĩ của Sài Gòn sau 1975 định cư tại nước ngoài vẫn tiếp tục sáng tác và cùng với những nhạc sĩ trẻ hơn đã tạo nên dòng nhạc hải ngoại.

Tại hải ngoại củng xuất hiện nhiều trung tâm phát hành băng đĩa nhạc như: Thúy Nga, Asia, Làng Văn… Trong số những ấn phẩm nổi bật là loạt đĩa chủ đề “Paris by night” của trung tâm Thuý Nga được thực hiện nghiêm túc, giàn dựng công phu, mang nhiều giá trị nghệ thuật được giới yêu nhạc đánh giá cao.

Những nhạc sĩ tên tuổi đầu tiên rời Việt Nam khoảng cuối năm 1975. Trong những năm đầu, một chủ đề sáng tác chính của họ là nỗi nhớ quê hương và Sài Gòn như Nam Lộc với Sài Gòn ơi! Vĩnh biệt, Khi xa Sài Gòn của Lê Uyên Phương, Đêm nhớ về Sài gòn của Trầm Tử Thiêng… Chủ đề thân phận lưu vong cũng được nói đến với Tị nạn ca của Phạm Duy, Người di tản buồn của Nam Lộc, Ai trở về xứ Việt của Phan Văn Hưng, Một chút quà cho quê hương của Việt Dũng… Một chủ đề phổ biến nữa là “phục quốc kháng chiến” nói lên mong muốn được quay trở lại miền Nam của ca sĩ Nguyệt Ánh.

Từ khoảng đầu thập kỷ 1980, một số nhạc sĩ sau thời gian cải tạo tại Việt Nam ra định cư ở nước ngoài. Họ viết nhiều ca khúc tả lại thời gian cải tạo ở Việt Nam như Hà Thúc Sinh với tập Tiếng hát tủi nhục năm 1982, Châu Đình An với Những lời ca thép năm 1982… Phạm Duy cũng sáng tác 20 bài lấy tựa là Ngục ca phổ từ thơ của Nguyễn Chí Thiện trong tập thơ Tiếng vọng từ đáy vực

Giai đoạn 1996 đến nay

Hải Ngoại

Đến giữa thập niên 1980, các nhạc sĩ bắt đầu bỏ chủ đề “phục quốc kháng chiến” quay lại viết các bản tình ca. Ở giai đoạn này, những nhạc sĩ tiêu biểu có thể kể đến Đức Huy với “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại”, “Đừng Xa Em Đêm Nay”, Trần Quảng Nam với “Mười Năm Tình Cũ”, Hoàng Thanh Tâm với “Tháng Sáu Trời Mưa”, Trúc Hồ với “Trái Tim Mùa Đông”, Ngọc Trọng với “Buồn Vương Màu Áo”, Trịnh Nam Sơn với “Dĩ Vãng”, “Quên Đi Tình Yêu Cũ”… Ngô Thụy Miên tại hải ngoại cũng có nhiều sáng tác, trong đó nổi tiếng hơn cả là Riêng một góc trời viết năm 1997. Kể từ khi trong nước đổi mới các ca sĩ & nhạc sĩ ở hải ngoại được về nước biểu diễn đã tạo nên sự giao thoa (trao đổi nghệ thuật) về âm nhạc giữa trong và ngoài nước, có nhiều ca khúc trong nước được các ca sĩ hải ngoại biểu diễn rất thành công và ngược lại. Nhiều ca sĩ trẻ nổi danh như: Lưu Bích, Như Quỳnh, Quang Lê, Trần Thái Hoà, Ngọc Hạ, v.v… Tuy nhiên phần nhiều ca khúc hải ngoại vẩn là nhạc ngoại quốc (lời Việt)

Trong nước

Vào năm 1996 bắc nguồn từ giải thưởng âm nhạc “Làn sóng Xanh” do đài tiếng nói nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. người đoạt giải là ca sĩ Lam Trường với ca khúc “Tình thôi xót xa” Bảo Chấn khiến cho trào lưu nhạc trẻ ra đời với hàng loạt ca khúc thành công sau đó như: Hà Nội mùa vắng nhửng cơn mưa, Bên em là biển rộng, giọt sương trên mí mắt, Hôn môi xa, Tình em ngọn nến… góp phần đưa hàng loạt ca sĩ trẻ nổi danh như: Mỹ Tâm, Đan Trường, Cẩm Ly, Mỹ Linh, Hồng Nhung, Thanh lam, Quang Linh, Quang Dũng, Đức Tuấn, Tuấn Hưng, Đàm Vĩnh Hưng…

Nhạc sĩ trẻ Hoài An đoạt giải thưởng từ cuộc thi sinh viên với bài hát “Tình thơ” với phần hoà âm mới lạ hiện đại lúc bấy giờ đã làm thay đổi quan điểm âm nhạc Việt Nam: Phần nhạc dạo đầu bài hát và Phần hoà âm và phối khí được chú trọng hơn so với trước đây làm cho ca khúc Việt Nam trở nên hiện đại hơn, hay hơn.

Tại Việt Nam đã xuất hiện nhiểu nhạc sĩ làm nhiệm vụ hoà âm phối khí như: Quốc Trung, Mạnh Trinh, Đức Trí, Hoài Sa… Nghề mix nhạc (DJ) củng xuất hiện.

Bên cạnh đó dòng nhạc dân ca phát triển mạnh mẽ: “Vọng cổ buồn”, “Đêm Ghành Hào nghe điệu Hoài Lang”, “Quê tôi mùa nước lủ”… thể hiện thành công nhất là ca sĩ Cẩm Ly

Vài Ca sĩ Việt Nam có hoài bảo vươn ra thị trường âm nhạc thế giới và đã đạt được một số thành công ban đầu: Ca sĩ Mỹ Tâm được đài truyền hình ABC xếp hạng 6 trong số các ca sĩ châu Á thành công nhất; Hồ Quỳnh Hương đoạt giải Liên hoan âm nhạc tại Bình nhưỡng

Tân nhạc Việt Nam đương đại

Chú thích

  1. ^ Một số tài liệu ghi là Rivoal
  2. ^ Thời kỳ này Tô Vũ còn mang tên Hoàng Phú
  3. ^ Biệt hiệu của giáo sư Trần Văn Khê
  4. ^ Trích Hồi ký – Thời phân chia Quốc Cộng của Phạm Duy
  5. ^ Tản mạn về “Nhạc sến, nhạc sang” trên RFA

Tham khảo

Xem thêm

TRƯỜNG KỲ : Tân nhạc Việt Nam sau 30 năm Ai còn ai mất Phần 4


Subject: Tân nhạc Việt Nam sau 30 năm Ai còn ai mất Phần 4
 
Phần 4 : * DƯƠNG THIỆU TƯỚC 

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, người bạn đồng thời với nhạc sĩ Thẩm Oánh cũng đã ra người thiên cổ vào năm 1995. 

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước sinh ngày 15 tháng 5 năm 1915 tại tỉnh Hà Ðông. Ông là cháu nội của cụ Dương Khuê, một thi hào khoa bảng với danh tính được ghi trong văn bọc sử Việt Nam. Trong thập niên 30, nhạc sĩ Dương Thiẹu Tước gia nhập nhóm nghệ sĩ tài tử Myosotis gồm Thẩm Oánh, Doãn Mẫn, Lê Yên, Vũ Khánh, vv …Ông là người đã có sáng kiến soạn các nhạc phẩm thuộc loại “bài Tây theo điệu Ta”. Phần lớn những nhạc phẩm đầu tiên của ông được viết lời bằng tiếng Pháp, là thể loại đầu tiên ở Việt Nam, mở ra một hướng mới cho nền tân nhạc. 

Ông gặp gở nữ ca sĩ Minh Trang vào năm 1952 tại Hà Nội và sau đó trở thành vợ chồng. Họ có với nhau 5 người con, 4 gái, 1 trai. Trước đó ông đã lập gia đình và có được hai người con gái. Năm 1953, cặp vợ chồng nghệ sĩ này vào Sài Gòn. Thời đó ông đã được biết đến rất nhiều với nhạc phẩm Ðêm Tàn Bến Ngự, sáng tác trong thời gian ở Huế. Sau khi vào Sài Gòn, Dương Thiệu Tước lại hăng say sáng tác để cho ra đời những tác phẩm đặc sắc như Ngọc Lan, Bóng Chiều Xưa, Thiếu Niên Xuân Ca, Cánh Bằng Lướt Gió, Chiều, vv… 

Trong những thập niên 60 và 70, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước được mời dạy môn tây ban cầm cổ điển tại trường Quốc Gia Aâm Nhạc Sài Gòn đến tháng 4 năm 75 và đã đào tạo được nhiều danh cầm. Riêng nữ ca sĩ Minh Trang đã giải nghệ từ cuối thập niên 60. Một thời gian sau biến cố tháng 4 năm 75, Minh Trang sang Mỹ cùng các con, trong khi Dương Thiệu Tước ở lại. Sau đó ông mở lớp dạy đàn tại nhà trên đường Hoàng Hoa Thám, Bình Thạnh và thành hôn với một nhạc sinh của mình và có với nhau một con trai. 

Ông qua đời ngày 01 tháng 08 năm 1995 tại Sài Gòn. 

* HÙNG LÂN 

Vào năm 1986, một tên tuổi lớn khác của nền âm nhạc Việt Nam cũng đã bước sang một thế giới khác. Ðó là Hùng Lân, một nhạc sĩ sáng tác tên tuổi và là một giáo sư nhạc nhiều uy tín 

Ông tên thật là Hoàng Văn Hường, sinh năm 1922 tại Hà Nội trong một gia đình có 8 anh chị em. Ông học nhạc từ lúc lên 8 đến năm 22 tuổi với 2 linh mục người Pháp là Depautis và Bouis. Từ năm 1944, nhạc sĩ Hùng Lân đã là giáo sư âm nhạc tại các trường Chu Văn An và Nguyễn Trãi ở Hà Nội. Năm 1954, ông di cư vào Sài Gòn và trở thành giáo sư âm nhạc của trường Ca Vũ Nhạc Phổ Thông và còn là trưởng ban pbát thanh Nha Tổng Giám Ðốc Thanh Niên Và Thể Thao. Từ năm 1957, ông là một giáo sư nổi tiếng của trường Quốc Gia Aâm Nhạc và Kịch Nghệ và còn theo học ngành cử nhân Văn Chương Pháp để tốt nghiệp vào năm 1963. Ðến năm 65, nhạc sĩ Hùng Lân được bổ nhiệm chức vụ chủ sự phòng phát thanh học đường thuộc Trung Tâm Học Liệu, Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Sau khi tu nghiệp tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và truyền thông từ năm 71 đến 75, ông trở lại dạy nhạc tại Aâm Nhạc Viện Ðà Lạt. 

Sau năm 75 đến khi qua đời, ông tiếp tục dạy nhạc và nghiên cứu âm nhạc tại tư gia. 

Nhạc sĩ Hùng Lân được coi như người khởi xướng và phát huy phong trào dùng tiếng Việt trong Thánh ca và là người sáng lập ca đoàn Lê Bảo Tịnh ở Hà Nam vào năm 1945. Ông còn là tác giả của nhiều tác phẩm giáo khoa và nghiên cứu âm nhạc như : Tìm Hiểu Dân Nhạc Việt Nam, Nhạc Ngữ Việt Nam, Tìm Hiểu Dân Ca Việt Nam ( đoạt giải nhất biên khảo nghệ thuật năm 1972), Nhạc Lý Tân Biên ( được coi là di cảo cuả ông ), Giáo Khoa Aâm Nhạc, Nhạc Lý Toàn Thư, Hỏi Và Ðáp nhạc Lý ( giải thưởng bộ Quốc Gia Giáo Dục năm 1952), Thuật Sáng tác Ca Khúc, vv… 

Ngoài những bài viết cho phong cầm, những bài Thánh Ca và Thánh Vịnh, Hùng Lân còn nổi tiếng với những ca khúc viết cho nhi đồng và học sinh. 

Những nhạc phẩm gắn liền với tên tuổi của nhạc sĩ Hùng Lân phải kể đến là Rạng Ðông ( giải sáng tác của Hội Khuyến Nhạc Hà Nội năm 1943 ), Việt Nam Minh Châu Trời Ðông (giải nhất kỳ thi Âm Nhạc Toàn Quốc năm 1944 ), Cô Gái Việt, Hè Về, vv… 

* LÊ THƯƠNG 

Nếu trường ca “Hòn Vọng Phu” trở thành trở thành bất tử trong kho tàng âm nhạc Việt Nam thì tác giả của nó là Lê Thương cũng sẽ sốngmãi trong tâm hồn người yêu nhạc sau khi ông nhắm mắt lìa đời vào năm 1996. Nhạc sĩ Lê Thương tên thật là Ngô Ðình Hộ, sinh năm 1914 tại Hà Nội 

Là một người có bản tính ít phô trương và sống một cuộc đời giản dị nên những chi tiết liên quan đến cuộc đời ông ít có cơ hội được phổ biến. Theo nhạc sĩ Phạm Duy, Lê Thương là một nhà tu xuất với nghề chính là dậy học tại một số trường trung học ở Sài Gòn. Cũng đã có thời gian ông làm công chức ở Trung Tâm Học Liệu, bộ Quốc Gia Giáo Dục. Riêng trong lãnh vực âm nhạc, ông là một trong những người tiên phong viết tân nhạc Việt Nam., bắt đầu từ khoảng năm 1938 cùng thời với những nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Khoát, Thẩm Oánh, vv…Riêng Lê Thương có nhạc phẩm Bản Ðàn Xuân, sau đó có một số khác ra đời như Tiếng Ðàn Ðêm Khuya, Một Ngày Xanh, Trên Sông Dương Tử, Thu Trên Ðảo Kinh Châu, vv… 

Ông là một nhạc sĩ viết nhiễu thể loại nhạc khác nhau, trong số có thể loại hài hước với một số nhạc phẩm do quái kiệt Trần Văn Trạch trình bày rất thành công vào cuối thập niên 40. 

Nhạc sĩ Lê Thương di cư vào Nam năm 1954 và tung ra nhiều nhạc phẩm phổ từ thơ của Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Hoàng Tư, vv…Ngoài ra ông còn là tác giả củ những ca khúc dành cho thiếu nhi, trong số có bài Thằng Cuội và Học Sinh Hành Khúc rất nổi tiếng. Ông cũng là người đặt lời Việt cho những nhạc phẩm ngoại quốc như Pháp, Nhật, Lào, Mỹ, vv… 

Nhưng tác phẩm được coi là bất hủ của ông chính là trường ca Hòn Vọng Phu, với phần 1 được viết vào khoảng 1943. Phần 2 được hoàn tất năm 1946 và phần cuối cùng vào năm 1947 

* ÐOÀN CHUẨN 

Người “Nhạc Sĩ Của Mùa Thu” là Ðoàn Chuẩn cũng đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 9 giờ 50 tối ngày 15 tháng 11 năm 2001 tại tư gia số 9 đường Cao Bá Quát, Hà Nội. 

Nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn sinh ngày 15 tháng 6 năm 1924 tại Hà Nội và ra đi trong tay người vợ cùng tuổi với ông, là người luôn luôn có mặt bên cạnh người chồng nghệ sĩ từ khi ông bắt đầu ngã bệnh từ gần 10 năm trước cho đến khi qua đời đến từ chứng tai biến mạch máu não. Bà cũng như từng là chiếc bóng bên cuộc đời nghệ sĩ của ông từ khi 18 tuổi, trước khi thi hài ông được an táng ở Cầu Ghềnh, thuộc làng Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên, bên cạnh mộ phần của song thân người nghệ sĩ tài danh. Ông bà Ðoàn Chuẩn có 4 người con mà ca sĩ Ðoàn Chính là một trong hai người con trai. Tuy nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn không có một số lượng đồ sộ về âm nhạc, nhưng gần như toàn bộ nhạc phẩm gồm 16 ca khúc của ông – thường ký tên chung với Từ Linh – đều trở thành nổi tiếng, đó là: 

– Tình Nghệ Sĩ ( 1947 ) 
– Ðường Về Việt Bắc ( 1948 ) 
– Lá Thư ( 1949 ) 
– Thu Quyến Rũ ( 1951 ) 
– Chuyển Bến ( 1952 ) 
– Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay ( cuối 52, đầu 53 ) 
– Dạ Lan Hương tức Cánh Hoa Duyên Kiếp ( 53 ) 
– Lá Ðổ Muôn Chiều ( cuối 53, đầu 54 ) 
– Tà Áo Xanh tức Dang Dở ( 1955 ) 
– Chiếc Lá Cuối Cùng ( 1955 ) 
– Vàng Phai Mấy Lá ( 1955 ) 
– Tâm Sự ( 1956 ) 
– Gửi Người Em Gái ( 1957 ) 
– Một Gói Nho Khô, Một Cánh Pensée ( 1988 ) 
– Phấn Son ( 1989 ) 
– Mầu Nắng Có Bao Giờ Phai Ðâu ( 1989 ) 

* NGUYỄN HỮU THIẾT 

Có lẽ vào những thập niên 50, 60 không ai ở miền Nam Việt Nam không từng nghe tiếng hát quen thuộc của cặp vợ chồng nghệ sĩ Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết trong những nhạc phẩm ngợi ca tình yêu lồng trong khung cảnh quê hương như Gạo Trắng Trăng Thanh, Trăng Rụng Xuống Cầu, vv…Giọng hát nam và cũng là nhạc sĩ sáng tác của cặp song ca lừng danh đó là Nguyễn Hữu Thiết đã qua đời vào lúc 6 giờ 20 tối ngày 31 tháng 03 năm 2002 tại nhà riêng ở Sài Gòn, trên đường Trần Quốc Toản cũ. NgọcCẩm và Nguyễn Hữu Thiết có với nhau 2 con gái, trong số có Hồng Hạnh là một giọng ca được biết đến nhiều tại Việt Nam sau năm 75. Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết sinh ngày 16 tháng 06 năm 1928. Nhạc phẩm cuối đời của ông mang tựa đề Anh Nhớ Về Thăm Mẹ, sáng tác trước khi qua đời một thời gian ngắn. Một số ca khúc trước kia trở thành nổi tiếng của ông là Chàng Là Ai, Nước Mắt Mẹ Tôi, Khúc Hát Trăng vàng, Hoa Thương Nhớ Ai, Ai Ði Ngoài Sương Gió, vv…. 

* NGUYỄN VĂN THƯƠNG 
Image

Tác gãi của nhạc phẩm bất hủ Ðêm Ðông là Nguyễn Văn Thương cũng đã qua đời tại Sài Gòn vào ngày 05 tháng 12 năm 2002. Ông sinh ngày 22 tháng 05 năm 1919 ở Thừa Thiên. Lúc lên 9 tuổi, ông đã học đàn nguyệt và tự học ký xướng âm qua sách vở. Sau khi tốt nghiệp trung học tại trường Quốc Học Huế, ông đã sáng tác ca khúc Trên Sông Hương. Ba năm sau ông cho ra đời bài Ðêm Ðông trong thời gian học ở Hà Nội. Và nhạc phẩm đó được coi như tác phẩm để đời của ông, cho đến ngày nay vẫn được rất nhiều ca sĩ trình bầy 

* TRẦN HOÀN 

Nhạc sĩ Trần Hoàn, tác giả những nhạc phẩm nổi tiếng Sơn Nữ Ca, Lời Người Ra Ði, vv…cũng đã đột ngột ra đi vào ngày 23 tháng 11 năm 2003 tại Hà Nội vì bệnh tim. Oâng tên thật là Nguyễn Tăng Hích, sinh ngày 27 tháng 12 năm 1928 tại Quảng Trị. Nhạc phẩm Sơn Nữ Ca của ông được kể là một trong những nhạc phẩm tiền chiếnbất hủ… 

* VĂN CAO 

Một trong số rất ít nhạc sĩ được coi là cây cổ thụ của tân nhạc Việt Nam là Văn Cao cũng không còn nữa. Ông ra đi vào ngày 10 tháng 07 năm 1995, đúng vào ngày sinh nhật của nhà văn Nguyễn Tuân, là một người bạn rất thân của. Nhạc sĩ Văn Cao là người khởi nghiệp sáng tác cùng thời kỳ với nhạc sĩ Phạm Duy. Ông sinh ở Hải Phòng ngày 15 tháng 11 năm 1923 và theo học nhạc ở trường St Joseph ở thành phố này. Nhạc phẩm đầu tiên của ông là Buồn Tàn thu, viết vào năm 1939 đã trở thành nổi tiếng ngay. Sau đó là những nhạc phẩm tiền chiến bất hủ khác ra đời đề đóng góp vào kho tàng âm nhạc to lớn trong lãnh vực hoạt động nghệ thuật của ông. Ðó là Thiên Thai ( viết năm 1941) ,Bến Xuân (1942) , Cung Ðàn Xưa (1942) , Trương Chi và Bến Mơ ( 1943 ) , vv…Một điểm đặc biệt tuy là tác giả của rất nhiều nhạc phẩm tình cảm nhẹ nhàng, thơ mộng đó vào thời kỳ niên thiếu, nhưng người nhạc sĩ đa tài đó chưa trải qua một kinh nghiệm nào về tình yêu, như ông từng trả lời một cuộc phỏng vấn vào năm 1993, thậm chí chưa hề biết nắm tay một người con gái. 

* MINH KỲ 

ImageCó thể coi như nhạc sĩ Minh Kỳ là một trong những nghệ sĩ từ giã cõi đời sớm nhất sau năm 75. Do chức vụ đại úy Tâm Lý Chiến trong ngành cảnh sát, ông đã bị đưa vào trại cải tạo của chế độ mới tại Suối Máu. Vài tháng sau ông đã qua đời gây ra bởi chất nổ mà cho đến nay gia đình ông không biết rõ nguyên nhân, sau khi cái chết của ông chỉ được báo về nhà 2, 3 năm sau. 

Nhạc sĩ Minh Kỳ tên thật là Vĩnh Mỵ, sinh tại Nha Trang và lập gia đình với người vợ ở thành phố miền biển này. Chính vậy ông đã cho ra đời một số nhạc phẩm như Thương Về Miền Trung, Nha Trang, Nhớ Nha Trang, vv…ngoài những nhạc phẩm rấ nổi tiếng khác của ông như Ðà Lạt Hoàng Hôn, Biệt Kinh Kỳ, Anh Tiền Tuyến Em Hậu Phương, Cánh Thiệp Ðầu Xuân, vv…Trước năm 75, ông mở một lớp dạy nhạc trên đường Hai Bà Trưng, đối diện nhà thờ Tân Ðịnh cùng trong thời kỳ cùng với nhạc sĩ Anh Bằng và Lê Dinh sáng tác chung dưới tên Lê Minh Bằng. Vợ chồng ông có 6 người con, 4 trai và 2 gái và hiện nay vợ ông cư ngụ tại San Jose, miền bắc California. 

* BẮC SƠN 

Tin từ Việt Nam cho hay tác giả của nhạc phẩm đượm nét tình tự quê hương Còn Thương Rau Ðắng Mọc Sau Hè là Bắc Sơn đã từ trần vào lúc 21 giờ 55 ngày 23 tháng 02 nằm 2005 sau một thời gian lâm bệnh. 

Ông tên thật là Trương Văn Khuê, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1931 tại xã Phước Lộc, Long Thành, Ðồng Nai. Ông khởi nghiệp với nghề dạy học, từ năm 1952 đến 1977, trong thời gian này ông đã dạy nhạc trong suốt 10 năm. Ngoài nhạc phẩm Còn Thương Rau Ðắng Mọc Sau Hè, Bắc Sơn còn là tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng khác trong số trên 500 ca khúc của ông như Hoa Ðào Năm Ngoái, Bông Bưởi Hoa Cau, Qua Nhịp Cầu Tre, Em Ði Trên Cỏ Non, Giấc Ngủ Trên Tay, Qua Nhịp Cầu Tre, Còn Thương Góc Bếp Chái Hè, vv…Tác phẩm cuô71i đời của ông là Em Từ Hà Nội Vào. Nhạc sĩ Bắc Sơn mất đi, để lại vợ và 9 người con, trong số chỉ có người con gái tên Bích Lan đi theo con đường nghệ sĩ với vai trò MC cho tụ điểm ca nhạc Trống Ðồng…

TRƯỜNG KỲ : Tân nhạc Việt Nam : Ai còn ai mất – Phần 3


Subject: Tân nhạc Việt Nam : Ai còn ai mất – Phần 3
 
· NGỌC BÍCH
ngoc bich nhac si

Một trong những nhạc sĩ lão thành của nền tân nhạc Việt Nam đã qua đời vào đêm 15 tháng 10 năm 2001 tại bệnh viện Los Angeles, nam California do tình trạng nhồi máu cơ tim. Đó là nhạc sĩ Ngọc Bích, sinh năm 1925. Ông là tác giả của những ca khúc đã đi sâu vào tâm hồn người nghe như Trở Về bến Mơ, Khúc Nhạc Chiều Mơ, Mộng Chiều Xuân, Giấc Mơ Ngàn. Nhạc sĩ Ngọc Bích là một người có cuộc sống khép kín, không lập gia đình mặc dù là một nghệ sĩ tài hoa. Năm 1942, ông đã chơi nhạc cho một vũ trường ở Hà Nội và là thành viên trong nhóm nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên xuất ngoại sdang Trung Quốc giúp vui cho các sĩ quan đồng minh tại đây vào đầu thập niên 40. Nhạc sĩ Ngọc Bích di cư vào Nam năm 1954 và làm việc tại các đài phát thanh Quân Đội, đài phát thanh Sài Gòn và Mẹ Việt Nam. Cùng với các nhân viên của đài sau, ông đã rời Việt Nam vào cuối tháng 4 năm 75 để định cư tại nam California. Khi người bạn thân của ông từ thời thơ ấu là nhạc sĩ Nguyễn Hiền đến Hoa Kỳ, ông cùng Nguyễn Hiền và vài nhạc sĩ trẻ khác thành lập ban nhạc Saigon Band, hoạt động trong một thời gian dài.

· NGÔ MẠNH THU

ngo manh thu

Phong trào du ca cũng đã mất đi một tên tuổi lớn trong. Đó là nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu, pháp danh Tâm Hoà, qua đời vào năm 2004 tại thành phố Irvine, nam California, hưởng thợ 66 tuổi. Nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu sinh ngày 12 tháng 09 năm 1938 tại Hà Đông. Ông sang Mỹ đoàn tụ năm 1994 do con trai bảo lãnh và cư ngụ tại Orange County cho đến ngày cuối đời. Tại đây ông tiếp tục sinh hoạt mạnh mẽ bằng cách dựng lại phong trào Du Ca, đóng góp cho gia đình Phật Tử, tái sinh phong trào hát cộng đồng, hoạt động văn nghệ trẻ với Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ, thành lập nhóm Hùng Sử Ca, vv…Ngoài ra ông còn là một thành phần cột trụ của đài phát thanh VNCR, rất được nhiều người theo dõi qua chương trình Chúng Ta Đi Mang Theo Quê Hương. Ngô Mạnh Thu đã sáng tác trên 100 ca khúc, trong số có : Nhớ Mãi, Nước Việt Nam, Kết Dây Thân Tình, Vu À Vui, Từ Một Cơn Mơ, Quê Hương Ta Đó, Buổi Sáng Nghe Chim Hót, Lạc Vùng Ăn Năn, vv…

· NHẬT BẰNG 

nhật bằng

Sau hàng chục năm dâng hiến cuộc đời mình cho âm nhạc, nhạc sĩ Nhật Bằng đã qua đời vào lúc 8 giờ 30 tối thứ Sáu 07 tháng 05 năm 2004 do tai biến mạch máu não tại Fairfax, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ. Ông hưởng thọ 74 tuổi. Khi mới được 17 tuổi vào năm 1947, Nhật Bằng đã sáng tác nhạc phẩm đầu tay mang tên “ Đợi Chờ “, ghi lại một mối tình thời học trò của ông khi còn ở Hậu Phương.

Nhật Bằng sinh năm 1930 tại Hà Nội trong một gia đình có 4 người con. Ông là anh cả của 3 nghệ sĩ đã có thời gian cùng với ông kết hợp thành ban hợp ca nổi tiếng Hạc Thành, với người em trai là Nhật Phượng và 2 em gái là Thể Tần và Hồng Hảo. 
Từ năm 56 cho đến 69 là thời kỳ sáng tác hăng say của Nhật Bằng.Nhưng có thể nói nhạc phẩm được coi như gắn liền với tên tuổi ông là Thuyền Trăng, sáng tác chung với Thanh Nam. Ngoài ra còn có nhiều nhạc phẩm được biết tới nhiều như Bóng Người Chiến Sĩ, Chiến Sĩ Ca, Bóng Chiều Tà, Sau Lũy Tre Xanh, Mùa Đông Tuyết Trắng, vv…

Ông lập gia đình năm 1958 với một nữ nhân viên tùng sự tại đài phát thanh Quân Đội. Cũng vào thời kỳ này ban tam ca nam có cái tên ngộ nghĩnh là “Do Si La” ra đời với bộ ba Anh Ngọc, Nhật Bằng và Văn Phụng. Chuyên trình bầy những nhạc phẩm tươi vui, phần lớn là của Văn phụng, như Vó Câu Muôn Dặm hay Ta Vui Ca Vang.

Vào năm 90, Nhật Bằng cùng vợ và 5 người con được sang Mỹ theo diện HO và đã cùng với các con thành lập một ban nhạc lấy tên là The Blue Ocean, nổi tiếng ở vùng Washington DC, bao gồm nơi gia đình ông cư ngụ là thành phố Herndon, Fairfax thuộc tiểu bang Virginia.

· PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG 

pham dinh chuong

Vào năm 1991, một tên tuổi lớn của nền tân nhạc Việt Nam đã qua đời để lại nhiều thương tiếc nơi mọi người. Đó là Phạm Đình Chương tức Hoài Bắc.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh ngày 14 tháng 11 năm 1929 tại Bạch Mai, Bắc Việt. Quê nội ông ở Hà Nội và quê ngoại ở Sơn Tây. Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác khi mới lên 18 tuổi. Những tác phẩm đầu tay của ông trong thời gian theo kháng chiến chống Pháp là Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, Hò Leo Núi, vv…Thời gian “dinh tê” về thành rồi theo anh em vào Nam giữa năm 51, ông đã cho ra đời được nhiều ca khúc giá trị khác như Khúc Giao Duyên, Tiếng Dân Chài, Thằng Cuội, Được Mùa, vv…Thời gian sau, qua nghệ thuật hợp ca của ban Thăng long, nhiều sáng tác khác của ông được quần chúng rất tán thưởng là : Xóm Đêm, Ly Rượu Mừng, Đón Xuân, vv…

Về tình ca Phạm Đình Chương, khó ai quên được những nhạc phẩm như Đêm Cuối Cùng, Thuở Ban Đầu và nhất là Mộng Dưới Hoa, phổ thơ Đinh Hùng. Ngoài ra không thể quên những nhạc phẩm phổ từ thơ khác rất nổi tiếng của ông, đáng được gọi là bất hủ như Màu Kỷ Niệm ( thơ Nguyên Sa ), Nửa Hồn Thương Đau ( thơ Thanh Tâm Tuyền ), Người Đi Qua Đời Tôi ( thơ Trần Dạ Từ ), Đôi Mắt Người Sơn Tây ( thơ Quang Dũng ), Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội ( thơ Hoàng Anh Tuấn ), Đêm Màu Hồng ( thơ thanh tâm Tuyền ). Nhưng chắc chắn phải kể đến sự đóng góp rất lớn của ông cho nền âm nhạc Việt Nam là trường ca Hội Trùng Dương, gồm 3 phần: Tiếng Sông Hồng, Tiếng Sông hương và Tiếng Sông Cửu Long.

Ngoài phần là một nhạc sĩ sáng tác, Phạm Đình chưong còn là một ca sĩ với tên Hoài Bắc.

· THU HỒ

Thu_Ho 

Ngày 29 tháng 5 năm 2000 đã đánh dấu cho sự ra đi về nơi nước Chúa của nhạc sĩ lão thành Thu Hồ tại thành phố Westminster, nam California do biến chứng của bệnh tiểu đường, hưởng thọ 82 tuổi. Ông là tác giả của ca khúc nổi tiếng Quê Mẹ – sáng tác năm 1943 – và một số ca khúc khác như Khúc Ca Đồng Tháp, Tiếng Sáo Chiều Quê, Tím Cả Rừng Chiều, vv…Nhạc sĩ Thu Hồ lập gia đình năm 25 tuổi và có tất cả 9 người con mà nữ ca sĩ Mỹ Huyền là người con út. Vợ ông qua đời vào năm 1975. Nhạc sĩ Thu Hồ cùng các con rời Việt Nam sang Mỹ năm 1990. Sau 3 năm đầu ở San Diego với gia đình người con trai cả, ông dời lên vùng Little Saigon cho đến khi vĩnh viễn ra đi.

Ông là một con chiên ngoan đạo, từng là một thành viên trong ủy ban sáng lập giáo xứ Fatima, Bình Triệu là nơi ông cư ngụ một thời gian.

Trước khi được biết đến như một nhạc sĩ sáng tác, Thu Hồ từng một thời là một giọng hát được khá nhiều người biết đến qua những nhạc phẩm của Tino Rossi, thần tượng của ông. Sau khi vào Sài Gòn ông từng được mời hát trên đài phát thanh Pháp Á. Trong thời gian từ năm 50 đến 60, ông thường hát trong những chương trình phụ diễn tân nhạc và đạt được nhiều thành công. Cùng một lúc ông còn phụ trách phần tuyển nhạc cho nhà xuất bản An Phú, chuyên phát hành những bản nhạc rời. Ông cũng còn là một giáo sư dạy nhạc cho các trường Nguyễn Bá Tòng, Thánh Thomas, Thiên Phước, Nguyễn Trường Tộ và Quang Minh tại Sài Gòn, dù trước đó ông chỉ học hỏi âm nhạc qua sách vở. Thêm vào khả năng âm nhạc đặc biệt, Thu Hồ còn là một thi sĩ, nghiêng về những đề tài có tính cách tôn giáo.

· TRẦM TỬ THIÊNG 

Tramtuthieng

Trong số những nhạc sĩ sáng tác có nhiều gắn bó với quê hương nhất thì Trầm Tử Thiêng là một tên tuổi sáng chói với rất nhiều nhạc phẩm đã đi vào lòng người từ trước năm 75 cho đến khi ông qua đời vào hồi 8 giờ 15 sáng ( giờ California ) ngày Thứ Ba 25 tháng 01 năm 2000 tại bệnh viện Anaheim West Medical Center, nam California thuộc thành phố nơi ông cư ngụ. Hồ sơ bệnh lý của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng ghi lý do đã đưa đến cái chết là bị ngộp thở do bệnh tim, sau khi được đưa vào bệnh viện vào ngày hôm trước. Ba tháng trưóc đó, ông bị cảm nặng nên đã không ăn uống được nhiều cho đến khi ông ra đi không một lời trăn trối mặc dù có người cháu trai bên cạnh. Ông sống đời độc thân cho đến khi nhắm mắt, trong khi gia đình ông còn ở tại Việt Nam.

Trầm Tử Thiêng viết nhạc từ cuối thập niên 50, nhưng mãi đến giữa thập niên 60, những tác phẩm của ông mới được phổ biến rộng rãi và trở thành những nhạc phẩm gắn liền với những diễn tiến xã hội trong khung cảnh một miền Nam Việt Nam thời chiến. Có người còn coi ông như một nhân chứng của thời cuộc, ghi lại nhiều hình ảnh khó quên trong những tác phẩm của mình, nhờ một thời gian dài phục vụ trong Cục Tâm Lý Chiến.

Trầm Tử Thiêng là tác giả của nhiều nhạc phẩm nổi tiếng trước năm 75. như Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gẫy, Tưởng Niệm”, Kinh Khổ , Bài Hương Ca Vô Tận, Đưa Em Vào Hạ, , vv… Trong 10 năm ở lại Việt Nam, ông đã sáng tác được một số ca khúc đến từ những kinh nghiệm của chính bản thân hoặc từ những hoàn cảnh thực tế, sau này được phổ biến tại hải ngoại. Đó là Tâm Ca Của Người Tù Vượt Biển, Hành Ca Trên Nông Trường Oan Nghiệt, Gửi Em hành Lý, Người Ở Lại Đưa Đò, Mẹ Hậu Giang, Du Ca Trên Thành Phố Đỏ, vv…Tại hải ngoại, những sáng tác của ông đã gây xúc động không ít nơi người nghe với Đêm Nhớ Về Sài Gòn , Mười Năm Yêu Em, Chọt Nghĩ Về Hai Nơi, Bước Chân Việt Nam, Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng, Một Ngày Việt Nam, Bên Em Đang Có Ta ( viết lời theo ý và nhạc của Trúc Hồ ), Lưu Vong Khúc Cho Người Việt Nam ( viết lời Việt cho nhạc phẩm Exodus ), vv…

Trầm Tử Thiêng tên thật là Nguyễn Văn Lợi, theo trả lời một cuộc phỏng vấn chính thức, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1937 tại Quảng Nam, định cư tại Hoa Kỳ từ năm 85, sau khi vượt biển và một thời gian rên trại tỵ nạn Galang. Sau trên 30 năm sáng tác, ông đã để lại một gia tài âm nhạc tuyệt vời với trên 300 ca khúc giá trị.

· DUY KHÁNH 

duy khánh

Một nam ca nhạc sĩ rất nặng lòng với quê hương và có nhiều gắn bó đậm đà với miền Trung là Duy Khánh cũng đã ra đi vào đúng 12 giờ trưa ngày 12 tháng 02 năm 2003 tại Orange County County, hưởng thọ 65 tuổi. Oâng đã phải vào bệnh viện Fountain Valley từ cuối năm 2002 để điều trị nhiều bệnh cùng một lúc như thận, gan, tim. Oâng mất đi đê63 lại vợ vợ là bà Thuý Hoa và 3 người con, 1 trai và 2 gái.

Duy Khánh nổi tiếng qua các nhạc phẩm như Ai Ra Xứ Huế, Thương Về Miền Trung, Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê, Lối Về Đất Mẹ, Huế Đẹp Huế Thơ, Bao Giờ Em Quên, vv…

Duy Khánh tên thật là Nguyễn Văn Diệp, sinh năm 1936 tại làng An Cư, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông là người con áp út trong số 6 người con của một gia đình vọng tộc . Oâng khởi nghiệp ca hát bằng nghệ danh Tăng Hồng. Với nhạc phẩm Trăng Thanh Bình, ông đã trúng tuyển kỳ tuyển lựa ca sĩ của đài phát thanh Pháp Á vào khoảng giưã thập niên 50. Mặc dù gặp phải sự phản đối của gia đình khi tỏ ra muốn theo đuổi nghiệp cầm ca, Duy Khánh chuyển hẳn vào Sài Gòn, bắt đầu hát trên các sân khấu đại nhạc hội, đài phát thanh cũng như bắt đầu thu đĩa nhựa hay hợp tác với ban văn nghệ của Hoàng Thi Thơ đi lưu diễn khắp nước. 

Sau năm 75, Duy Khánh sống trong một tình trạng chật vật vì trước đó chỉ sống với giọng hát và dòng nhạc của mình. Trong tình trạng bị cấm hát, anh đâm ra chán nản để chỉ biết tìm say trong men rượu. Khi các đoàn ca nhạc được phép hoạt động lại, Duy Khánh thành lập đoàn Quê Hương, qui tụ nhiều tài danh miền Nam trước 75 như Châu Kỳ, Nhật Ngân cùng các ca sĩ như Ngọc Minh, Bảo yến, Nhã Phương, vv…và tạo được nhiều thành công.

Duy Khánh cùng vợ con đến Hoa Kỳ vào ngày 10 tháng 08 năm 1988. Thời gian đầu, ông được mời đi trình diễn nhiều nơi, nhận được rất nhiều lời mời thu thanh và còn nhận hát độc quyền cho trung tâm Làng Văn. Sau khi hết giao kèo với trung tâm này, ông đứng ra thành lập trung tâm riêng của mình là Trường Sơn, cùng một lúc một lớp dạy nhạc.

· VĂN PHỤNG 

vanphung

Văn Phụng tên thật là Nguyễn Văn Phụng, sinh tại Hà Nội năm 1930. Ngoài một người chị đã mất, ông còn hai người em trai, một người hiện ở tiểu bang Ohio và một người còn lại Việt Nam. Văn Phụng học bậc tiểu học ở trường Louis Pasteur, trung học ở trường Albert Sarrault. Là một học sinh rất xuất sắc, nên năm 16 tuổi ông đã đậu Tú Tài. Văn Phụng đam mê âm nhạc từ nhỏ và đã được hai giáo sư dương cầm là bà Perrier và bà Vượng chỉ dẫn về nhạc khí này. Nhờ có một năng khiếu đặc biệt, vào năm 15 tuổi ông đã đoạt giải nhất về dương cầm trong một cuộc tuyển lựa tại Nhà Hát Lớn Hà Nội với nhạc phẩm La Prière D’Une Vierge. Đến năm 1946, trong thời gian ở hậu phương ông đã được linh mục Mai Xuân Đĩnh chỉ dẫn thêm về nhạc, và sau đó tự học hỏi qua sách vở. Vì quá mê nhạc nên ông đã không học thêm về ngành y khoa sau khi đã theo học một năm theo yêu cầu của thân phụ, rất thích ông trở thành một bác sĩ.

Cũng vào năm 1948, trong niềm vui sống trong âm nhạc là con đường ông đã quyết định chọn lựa, Văn Phụng sáng tác nhạc phẩm đầu tiên “Ô Mê Ly”, trở thành một nhạc phẩm rất quen thuộc cho đến nay. Khởi đầu cho sự nghiệp âm nhạc của mình với “Ô Mê Ly” vào năm 1948 và kết thúc với “Chán Nản” vào năm 1972, Văn Phụng đã sáng tác hàng trăm nhạc phẩm, trong số đó có rất nhiều nhạc phẩm đặc sắc như Các Anh Đi, Tình, Suối Tóc, Mưa, Tiếng Hát Với Cung Đàn, là Tiếng Dương Cầm, Trở Về Huế, Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn,vv…

Tiếng hát Châu Hà và tiếng đàn Văn Phụng đã hòa cùng một nhịp điệu vào khoảng năm 56, 57, vài năm sau khi ông từ ngoài hà Nội “ghé bến Sài Gòn”. Họ chính thức thành hôn vào năm 1963 và với nhau hai người con gái, hiện đều ở Hoa Kỳ . Khi gặp Châu Hà trong thời kỳ mới đi hát, Văn Phụng là nhạc trưởng tại đài phát thanh Quân Đội, nơi ông cộng tác một thời gian dài, cùng một lúc còn phụ trách một chương trình ca nhạc trên đài phát thanh Sài Gòn và đài Truyền Hình Việt Nam. 

Năm 1978, gia đình Văn Phụng vượt biển đến một đảo ở Mã Lai. Sau 5 , 6 tháng ở đây gia đình ông đến tiểu bang Virginia, cư ngụ tại Firfax cho đến khi qua đời vào ngày 17 tháng 12 năm 1999 do tác hại của bệnh tiểu đường. Sau đó thi hài người nhạc sĩ tài hoa này đã được vĩnh viễn chôn vùi dưới lòng đất ngày 22 tháng 12 năm 99 với những nghi thức dành cho một tín hữu đạo Tin Lành.

· ĐỖ LỄ 



dole

Chỉ hơn một năm sau khi sang Mỹ cùng vợ con theo diện ODP do người anh bảo lãnh và định cư ở thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania, Đỗ Lễ đã tìm đến cái chết bằng cách tự tử ở Sài Gòn vào ngày 24 tháng 03 năm 1997 trong một lần trở lại đây từ tháng 10 năm 1996. Ngay cả vợ anh là chị Vương Thị Lam Phương cũng hề biết lý do nào đã khiến anh tìm cái chết nơi căn nhà mướn trên đường Trần Đình Xu, Sài Gòn. Tuy nhiên người ta được biết Đỗ Lễ đã tỏ ra rất chán nản với cuộc sống tại Hoa Kỳ. Khi đề cập đến người chồng nghệ sĩ của mình, chị Lam Phương cho biết Đỗ Lễ “là một người rất ủy mị, con người anh ấy cũng rất yếu đuối, cứ gặp chuyệïn gì buồn là trở nên rất suy sụp, trở nên rất chán nản và không còn thiết hoạt động gì…theo tôi nghĩ đó chính là điều đưa đến cái chết của anh ấy…”

Đỗ Lễ tên thật là Đỗ Hữu Lễ, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1941 tại Hà Nội. Anh tự học nhạc và bắt đầu sáng tác tgừ khi mới được 14 tuổi. Vào năm 1965 từng chiếm Huy Chương Vàng trong một cuộc thi Lực Sĩ Đẹp.

Đỗ Lễ đã sáng tác trên 700 nhạc phẩm, trong số có nhiều bài nổi tiếng. Đặc biệt nhất phải kể đến là Sang Ngang (sáng tác vào năm 1956) và Tình Phụ. Nhạc phẩm sau anh viết vào năm 1970 sau khi chia tay với người vợ đầu tiên là Hoài Xuân. Nhạc phẩm này cũng đã được tuyển chọn vào vòng chung kết những nhạc phim hay tại tại Đại Hội Điện Ảnh Á Châu tổ chức tại Tokyo vào đầu thập niên 70. Đó là nhạc phẩm chính trong phim Sóng Tình với diễn viên chính là Thẩm Thúy Hằng. Thêm vào đó là những nhạc phẩm tình cảm đặc sắc khác như Tan Vỡ, Tuyệt Tình, Tàn Phai, Dại Khờ, vv…

Trước năm 75, lớp dạy nhạc của anh trên đường Trương Minh Giảng từng là một nơi qui tụ nhiều học sinh nhất. Sau đo lớp nhạc của anh vẫn tiếp tục được các học sinh ghi danh rất nhiều nên anh đã có được một đời sống sung túc.. Chương trình Thời Trang nhạc tuyển của Đỗ Lễ cũng là một trong những chương trình truyền hình rất thu hút khán giả trước năm 75, cùng một lúc anh đứng ra kinh doanh về nhiều mặt hàng âm nhạc như thành lập hãng đĩa, hãng băng và xuất bản nhạc. Ngoài ra anh còn thực hiện những chương trình ca nhạc cho một số phòng trà và vũ trường ở Sài Gòn trước năm 75.

Theo kết quả giảo nghiệm về cái chết của nhạc sĩ Đỗ Lễ, được biết anh đã uống một liều thuốc Quinine quá mạnh. Người ta đã tìm thấy trong căn nhà của anh 2 lá thư tuyệt mạng, một gửi cho vợ và một gửi cho một người bạn thân…

TRƯỜNG KỲ : Tân nhạc Việt Nam :Ai còn ai mất Phần 2


Subject: Tân nhạc Việt Nam :Ai còn ai mất Phần 2
 
· HOÀNG THI THƠ

Sau một thời gian dài chịu đựng những biến chứng của bệnh suy tim mà ông chấp nhận một cách lạc quan, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã qua đời vào khoảng hơn 8 giờ sáng ngày 29 tháng 09 năm 2001 tại nhà riêng ở thành phố Glendale, nam California.

Ông là tác giả của trên 600 ca khúc thuộc đủ mọi thể loại, đại đa số đã trở thành quen thuộc trong mọi từng lớp người yêu nhạc. Đó là những ca khúc như Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi, Cô Lái Đò Bến hạ, Tà Áo Cưới, Đám Cưới Trên Đường Quê, Đường Xưa Lối Cũ, Gạo Trắng Trăng Thanh, Tôi Viết Tên Anh, vv…

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sinh ngày 01 tháng 07 năm 1928 (Mậu Thìn ) tại làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông bắt đầu hoạt động văn học nghệ thuật từ năm 45, tại Huế rồi Hà Tĩnh. Ông lập gia đình vào tháng 9 năm 57 với nữ ca nhạc sĩ Thúy Nga và có được 4 người con mà người con trưởng là nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng Hoàng Thi Thi. Ngoài ra ông còn nhận người cháu ruột là nhạc sĩ vĩ cầm Hoàng thi Thao làm nghĩa tử, luôn theo sát ông trong suốt thời gian hoạt động văn nghệ. Ngoài lãnh vực sáng tác âm nhạc, Hoàng thi Thơ còn là một nhà tổ chức tài ba, từng nhiều lần hướng dẫn Đoàn Văn Nghệ Việt Nam đi trình diễn tại một số quốc gia Á Châu cũng như là giám đốc tổ chức những chương trình Hoàng Thi Thơ tại vũ trường Maxim’s từ năm 1967. Thêm vào đó, ông còn là một đạo diễn kịch nghệ từng làm say mê khán giả với những vở nhạc kịch như Cô Gái Điên, Ả Đào Say, vv…Ông cũng là một nhà nghiên cứu và sáng tạo bộ môn vũ dân tộc như muá trống, múa nón, múa xoè, múa Koho, vv…cùng với các vũ sư Trịnh Toàn và Lưu Hồng.

· HOÀNG TRỌNG 

Người nhạc sĩ lão thành được mệnh danh là ‘Vua Tango” đã vĩnh viễn ra đi vào năm 1998. Nhạc sĩ Hoàng Trọng tên thật là Hoàng Trung Trọng. Ông chào đời tại tỉnh Hải Dương vào năm 1922. 5 năm sau, ông theo bố mẹ về sống ở Nam Định cho đến năm 1933 và bắt đầu học nhạc qua người anh ruột. Đến năm 1937, ông theo học nhạc tại trường sư huynh Saint Thomas ở Nam Định. Năm 1941 ông tiếp tục nghiên cứu về âm nhạc qua sách vở và lóp dạy nhạc hàm thụ của trường Universelle De Paris.

Khi mới lên 15, ông đã qui tụ một số anh em trong già đình và vài người bạn như Đan Thọ, Đặng thế Phong, Bùi Công Kỷ, vv…thành lập một ban nhạc. Sáng tác đầu tay của ông là Đêm Trăng, ra đời từ khi ông mới được 16 tuổi. Từ khiếu tổ chức và tâm hồn say mê âm nhạc đó, sau này ông đã đứng ra điều hành một chương trình ca nhạc truyền thanh và truyền hình rất nổi tiếng là “Tiếng Tơ Đồng” trong nhiều năm. Đó là một trong vài chương trình khác của ông, qui tụ toàn những nhạc sĩ cừ khôi cùng các giọng ca tiêu biểu cho nền tân nhạc Việt Nam. Một phần lớn nhạc phẩm của Hoàng Trọng được sáng tác theo điệu tango để sau này ông được mệnh danh là “Vua Tango” của Việt Nam qua những nhạc phẩm tiêu biểu như : Mộng Ban Đầu, Mộng Lành, Tiễn Bước Sang Ngang, Ngỡ Ngàng, vv…Ngoài ra ông còn là tác giả của nhiều nhạc phẩm nổi tiếâng khác như Gió Mùa Xuân Tới, Dừng Bước Giang Hồ, Nhạc Sầu Tương Tư, Bên Bờ Đại Dương, Mộng Đẹp Ngày Xanh, vv…

Nhạc sĩ Hoàng Trọng di cư vào Nam năm 1954 và đã tiếp tục sáng tác rất mạnh với nhiều ca khúc nổi bật, trong số có Ngàn Thu Aùo Tím.

Đặc biệt Hoàng Trọng là một nhạc sĩ viết nhạc cho rất nhiều cuốn phim Việt Nam, trong số có Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương, Giã Từ Bóng Tối, Người Tình Không Chân Dung, Sau Giờø Giới Nghiêm, Bão Tình, Triệu Phú Bất Đắc Dĩ, vv…Với phim sau, ông được nhận giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật 72 – 73.

Sau năm 75, Hoàng Trọng chỉ sáng tác được vài bài nhưng không phổ biến, trong số có nhạc phẩm cuối cùng của ông là Chiều Rơi Đó Em. Năm 1992 ông qua định cư tại Hoa Kỳ và qua đời 6 năm sau.

· LÊ TRỌNG NGUYỄN 

Tác giả của nhạc phẩm bất hủ Nắng Chiều cũng không còn nữa. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyên ra đi vào năm 78 tuổi, vào lúc 4 giờ 15 sáng ngày 09 tháng 01 năm 2004 tại Rosemead, thuộc Los Angeles. Lê Trọng Nguyễn là tên thật của người nhạc sĩ sinh quán tại Điện Bàn, Quảng Nam này.

Tuy ông không sáng tác nhiều, nhưng có một số tác phẩm được nhiều người biết đến, nhất là Nắng Chiều, từng được rất nhiều nam nữ ca sĩ trình bày từ trước năm 75 và sau này tại hải ngoại. Đặc biệt vào năm 1958, Nắng Chiều đã được một nữ ca sĩ người Nhật tên Midori Satsuki trình bày và thường xuyên được phát trên các đài Sài Gòn và Quân Đội. Nhạc phẩm này cũng được phổ biến tại Nhật. Vào khoảng năm 1960, Nắng Chiều lại được một nữ ca sĩ kiêm tài tử Đài loan trình bày bằng tiếng Trung Hoa dưới tựa đề “Bài Tình Ca Việt Nam”. Nhạc phẩm này đã được thính giả Đài Loan và Hồng Kông tán thưởng nhiệt liệt. Ngoài ra còn vài ca khúc khác của Lê trọng Nguyễn cũng được biết tới như Lá Rơi Bên thềm, Sao Đêm, Chều Bên Giáo Đường, Bến Giang Đầu, Cát Biển, vv…

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cùng vợ và 4 con ( 3 gái, 1 trai) sang định cư tại thành phố Rosemead vào năm 1983.

· THẨM OÁNH

Nhạc sĩ Thẩm Oánh tên thật là Thẩm Ngọc Oánh xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc, sinh năm 1916 tại Hà Nội. Ông học vỡ lòng với một thầy đồ tại nhà riêng. Nhờ thầy đồ này biết chơi đàn Tầu nên đã gây được một ảnh huởng không nhỏ nơi Thẩm Oánh, lúc đó mới lên 6. Sau khi thầy đồ về quê, Thẩm Oánh đã học âm nhạc qua một số sách viết bằng tiếng Pháp. Và khi học xong bậc trung học tại các trường Clémenceaux, Albert Sarrault và Puginier ở Hà Nội, ông bắt đầu dậy nhạc từ năm 1934, khi mới 18 tuổi. Tuy số sáng tác phẩm của ông tới tới con số trên 1000, nhưng ông chỉ cho phổ biến vài chục bài đắc ý nhất, sáng tác dưới những đề tài chính là:

– Nhạc anh hùng ca
– Nhạc Phật giáo
– Nhạc nhi đồng
– Nhạc tình cảm

Là người tha thiết với đất nước dân tộc, Thẩm Oánh đã viết nhiều ca khúc để đời như Việt Nam Hùng Tiến ( được dùng làm đài hiệu cho đài phát thanh Hà Nội và Sài Gòn), Nhà Việt Nam, Trưng Nữ Vương, Chu Văn An Hành Khúc, Thiếu Phụ Nam Xương, vv… Và mỗi dịp Xuân Về, không ai quên được ca khúc Xuân đặc sắc của ông là Xuân Về.

Ngoài những hoạt động say mê trong lãnh vực âm nhạc, ông còn là người có nhiều hoạt động trong ngành truyền thanh, Chính ông ở trong số những người đứng ra sáng lập đài phát thanh Hà Nội, tiếp thu từ tay người Pháp.

Một chi tiết khá lý thú ít người biết là chính nữ diễn viên kịch và điện ảnh nổi tiếng Thẩm Thuý Hằng ( tên thật là Nguyễn Thị Minh Phụng) đã mưiợn họ Thẩm của ông dùng làm nghệ danh cho mình. Thời đó nhạc sĩ Thẩm Oánh là hiệu trưởng Trường Ca Vũ Nhạc Phổ Thông mà Thẩm Thúy Hằng theo học bộ môn kịch do ông Hoàng Trọng Miên làm giáo khảo tuyển sinh và giáo sư kịch nghệ.

Thẩm Oánh cùng gia đình sang định cư tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn vào năm 1991. Vợ ông, bà Trần Anh Đào cũng là một nhạc sĩ và là em họ của cố nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Hai người quen biết nhau vào năm 1938 qua sự giới thiệu của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, và thàùnh hôn vào năm 1948. Vào tháng 4 năm 1993, Hội Cựu Nữ Sinh Trưng Vương vùng Hoa Thịnh Đốn đã tổ chức một đại nhạc hội với chủ đề “60 Năm Aâm Nhạc Thẩm Oánh”. Đồng thời đã cho phát hành tuyển tập “Nhớ Nhung” để vinh danh một nhạc sĩ đã tận tụy đóng góp cho nền tân nhạc Viết Nam và cũng để tri ân một vị giáo sư đã giảng dạy âm nhạc nhiều năm tại các trường Trưng Vương, Chu Văn An và Nguyễn Trãi. Vào năm 1996, nhạc sĩ Thẩm Oánh ra đi, để lại nhiều tiếc nuối cho mọi người. Ông hưởng thọ 80 tuổi.

· LÊ UYÊN PHƯƠNG

Sau một thời gian điều trị ở bệnh viện UCI (University Of California in Irvine ) Lê Uyên Phương đã về nhà người con gái lớn của anh là Lê Uyên Uyên để sống những ngày bi thảm với một tình trạng sức khỏe sa sút do căn bệnh ung thư phổi tàn phá. Và cuối cùng anh đã lại được đưa lại bệnh viện này để trút hơi thở cuối cùng vào chiều thứ Ba 29 tháng 06 năm 1999. 

Theo Lê Uyên Phương cho biết tên thật của anh là Lê Minh Lấp, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1941 tại Đà Lạt. Vì sinh ra vào thời kỳ chiến tranh nên giấy tờ hộ tịch bị thất lạc, nên Lê Uyên Phương đã đôi lần phải làm lại giấy khai sinh. Và mỗi lần khai là một lần tên anh bị viết sai bởi viên chức hộ tịch ! Khai sinh lại lần đầu tiên tên Lê Minh Lập bị đổi thành Lê Minh Lộc. Làm khai sinh lần thứ hai thành Lê Văn Lộc. Từ đó anh không đổi nữa, giữ luôn tên Lê Văn Lộc làm tên chính thức trên giấy tờ. Khi viết nhạc anh lấy tên là Lê Uyên Phương, và khi trình diễn cùng Lê Uyên, hai người lấy tên là cặp song ca Lê Uyên và Phương.

Lê Uyên Phương lập gia đình với Lâm Phúc Anh (tức Lê Uyên ) vào năm 68. Năm sau, hai người rời Việt Nam và định cư tại nam California.Sau 15 năm chung sống, hai người đi đến đổ vỡ vào khoảng 84, 85. Họ có với nhau hai con gái là Lê Uyên Uyên và Lê Uyên My. 

Lê Uyên Phương là tác giả của nhiều ca khúc tình cảm, bàng bạc mầu sắc triết lý về tình yêu và thân phận con người, đã gây được một ảnh hưởng lớn mạnh trong giới trẻ yêu nhạc từ cuối thập niên 60. Sáng tác đầu tay của Lê Uyên Phương là Buồn Đè Bao Giờ, ra đời tại Pleiku năm 1960. Những năm sau đó là những Vũng Lầy Của Chúng Ta,Dạ Khúc Cho Tình Nhân, Hãy Ngồi Xuống Đây, Lời Gọi Chân Mây, Tình Khúc Cho Em, Trên Da Tình Yêu, Uống Nước Bên Bờ Suối, vv…

· VÔ THƯỜNG 

Tiếng đàn guitar nhiều quyến rũ và rất có hồn quen thuộc đối với người yêu nhạc đã lịm tắt cùng người tao ra nó là Vô Thường. Người nghệ sĩ gây được nhiều cảm mến với thính giả, với bạn bè và có một tính tình giản dị và hòa nhã đó đã nhắm mắt lìa đời tại Garden Grove, nam California vào lúc 2 giờ 30 chiều ngày Thứ Bẩy 26 tháng 04 năm 2003 do bệnh ung thư phổi. Theo người con lớn của anh với người vợ đầu tiên cho biết, Vô Thường sút kém về sức khỏe từ lâu do bệnh phổi gây ra. Đến tháng 12 năm 2002, thấy người bố thân yêu của mình lâm vào tình trạng nguy cấp nên cháu Diễm đã tức tốc đưa anh vào nhà thương Fountain Valley điều trị. Tại đây, các bác sĩ cho biết Vô Thường bị ung thư phổi, đã đến thời kỳ trầm trọng. Sau một thời gian thường xuyên phải vào bệnh viện này, cuối cùng anh đã chuyển qua bệnh viện Garden Grove để sau đó được đưa vào trung tâm Pacific Health Care là nơi dành cho những người không còn cơ hội được cứu sống. 

Vô Thường tên thật là Võ Văn Thường, sinh năm 1940 tại Phan Rang. Anh là người con áp út trong một gia đình có 7 người con. Vô Thường đặt chân tới Hoa Kỳ vào năm 75, cư ngụ tại tiểu bang Wisconsin. Năm 77, anh dời qua miền nam California để 5 năm sau đứng ra khai thác vũ trường Ritz ở Orange County, trước khi nhường lại cho nhạc sĩ Ngọc Chánh. Từ năm 1986, anh bắt đầu thu băng những ca khúc độc tấu guitar một cách thật tình cờ. Anh cho biết là trong lúc hứng chí đó, anh đã đàn guitar liên tiếp bản này qua bản khác với sự phụ họa của một cây keyboard giữ nhịp tự động để thâu vào một băng cassette thường gắn chung với keyboard. Cuốn băng đầu tiên do Vô Thường độc tấu guitar ra đời vào năm 87 dưới tên Ru Khúc Mộng Thường với số phát hành chỉ vỏn vẹn có 200! Từ đó trở đi, trong suốt nhiều năm gần như tại khắp mọi tiệm ăn, tiệm băng nhạc và những quán cà phê ở California cũng như những nơi có người Việt cư ngụ đều vang lên tiếng guitar của Vô Thường. 

Vào năm 91, Vô Thường chung sống với nhạc sĩ Lê Tín Hương, một thời gian là một MC nổi tiếng, tuynhiên hai người đã chia tay nhau vào năm 99, để lại nơi anh một niềm đau xót sâu xa. 

· NHỊ HÀ: MẸ TÔI

Tác giả nhạc phẩm “Mẹ Tôi”, một trong vài nhạc phẩm ca ngợi lòng mẹ đặc sắc của tân nhạc Việt Nam đã vĩnh viễn xa rời cuộc sống vào ngày 10 thang 10 năm 1988 tại thành phố Houston do ung thư gan. Nhạc sĩ Nhị Hà tên thật là Lê Quang Mại,sinh ngày 24 tháng 08 năm 1935 ở Quảng Bình. Ông là người con thứ 2 trong một gia đình có 5 người con. 

Vào năm 1958, Nhị Hà trở ra Huế để lập gia đình tại đây với người bạn gái học chung năm cuối ở trường Khải Định tên Kim Khuê. Hai người có với nhau 7 người con. Năm 1960, ông vào Saigon tiếp tục học. Sau một thời gian sang Mỹ tu nghiệp, ông về Việt Nam làm việc tại Nha Cải Huấn cho đến năm 1975. 

Năm 1975, Nhị Hà di tản sang Mỹ và cư ngụ tại tiểu bang Arizona. Sau đó, ông dời về tiểu bangWashington. Sau cùng ông và gia đình về cư ngụ tại thành phố Houston (Texas) vào năm 1979 cho đến khi ông qua đời. Tổng số tác phẩm của Nhị Hà khoảng 20 bài. Nhạc phẩm đầu tiên ông sáng tác lúc mới 13 tuổi là bài Mẹ Tôi, một sự phối hợp đặc biệt giữa khả năng thiên phú về âm nhạc và lòng thương yêu hết lòng người mẹ đã cả đời tận tụy vì con cái. Một vài nhạc phẩm khác đã đưa tên tuổi của ông lên cao là Trở Về Thôn Cũ và Nhớ Một Mùa Hoa, vv…Tác phẩm cuối cùng của ông là Yêu, viết trước khi qua đời, trong thời gian điều trị tại bệnh viện.

· HOÀNG LANG 

Trưởng ban “Đàn Dây Hoàng Lang” nổi tếng trong những thập niên 60 và 70 trên đài phát thanh Sài Gòn là nhạc sĩ Hoàng Lang cũng đã nhắm mắt lìa đời vào lúc 2 giờ sáng ngày 27 tháng 11 năm 2004 tại Geneva, Thụy Sĩ, hưởng thọ 74 tuổi.

Nhạc sĩ Hoàng Lang tên thật là Phạm Phúc Hiển, sinh năm 1930 tại làng Tân Mỹ Đông, quận Hóc Môn, Gia Định. Ông sinh trưởng trong một gia đình trung lưu mà ông là con trưởng với 2 người em gái. Nhạc sĩ Hoàng Lang từng là giáo sư âm nhạc tại trường Huỳnh Thị Ngà và Pétrus Ký. Về nhạc khí, nhạc sĩ Hoàng Lang có khả năng sử dụng nhiều loại như đại hồ cầm, trung hồ cầm, Tây Ban Cầm, Mandoline, vv…Với những nhạc khí đó, ông đã cộng tác với hầu hết những ban nhạc nổi tiếng của đài Phát Thanh Sài Gòn như Võ Đúc Thu, Hoàng Trọng, Văn Phụng, Nhật Bằng, Dương Thiệu Tước, Ngọc Bích, vv…

Ông là tác giả của khoảng 150 nhạc phẩm, trong số có Hoa Học Trò, Dạ Khúc Hoài Cảm, Xin Trả Lại Em, Tiếng Hát Đồi Sim, vv…và nổi tiếng nhất với nhác phẩm Hoài Thu. Cũng nên biết, ông còn là thầy dạy nhạc của nhạc sĩ nổi tiếng Lam Phương.

Năm 72, ông sang du học tại Thụy Sĩ với môn âm nhạc và truyền hình giáo dục để thực nghiệm. Sau năm 75, ông kẹt lại Thụy Sĩ và tiếp tục thực thi bộ môn theo học. Năm 80, chính phủ Thụy Sĩ ký nghị định chính thức hoá chức vụ thông dịch viên của ông tại Geneva, phục vụ tại Tổng Cục Liên Bang Tỵ Nạn Thụy Sĩ, Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế, các toà án và các cơ sở chính quyền tại Geneva.

Jason GIBBS : Nên bỏ chữ ‘nhạc sến’, VIETNAM


Nên bỏ chữ ‘nhạc sến’

Thứ Tư, 16/10/2013 13:57 | In trang nàyIn bài viết

(Thethaovanhoa.vn) – LTS: Từ Mỹ, nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam Jason Gibbs gửi cho TT&VH Cuối tuần bài viết của anh về “nhạc sến” sau khi theo dõi cuộc tranh cãi về dòng nhạc này trên các trang báo và diễn đàn ở Việt Nam. 

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc một cái nhìn “từ bên ngoài” về “nhạc sến”. 

1. Tôi được nghe đến tên gọi “nhạc sến” lần đầu tiên năm 1995 lúc xếp hàng trước khi vào thính phòng nghe một chương trình nhạc truyền thống Việt Nam ở San Francisco. Tôi đứng cạnh một người đàn ông đứng tuổi lúc đang đợi chương trình bắt đầu. Điều thú vị cho tôi, ông là một người Hà Nội chính gốc sinh năm 1921 và đã suốt đời kiếm sống bằng nghề chơi nhạc.

Chúng tôi chuyện trò về nhạc Việt một cách rất thân mật và thoải mái. Tôi tỏ ý rằng rất thích các ca khúc bolero của miền Nam.   Ông ấy đáp – “À, nhạc sến.  Anh có biết chữ “nhạc sến” không?”,  tôi trả lời “không”.  Ông rằng: “Nhạc ấy cũng gọi là nhạc máy nước”. Ông ấy giải thích: Ngày xưa, trước khi có ống nước vào các nhà, các con sen, con ở phải xếp hàng ở máy nước công cộng để lấy nước mang về nhà. Các cô gái trẻ từ nhà quê ra tập trung chờ đợi lượt của mình thì được nghe như một đàn chim hót líu lo – này là chuyện trêu trọc, ngồi lê mách lẻo. Một nhu cầu nữa là ca hát cho vui, cho giải trí.

Ông ấy kể đến thời gian mà nhạc ấy được gọi nôm na bằng tên “dân ca mam-bô”. Các bài hát của phong trào này nghe rất khác nhạc sáng tác ở miền Bắc trước 1954. Nhạc cải cách vốn là nhạc trữ tình chủ yếu chịu ảnh hưởng của nhạc Pháp, nhạc cổ điển, và nhạc Hawaii. Ông phân biệt nhạc sến với “nhạc sang”, tức là nhạc sang trọng mà hiện nay được gọi là nhạc tiền chiến. Dân ca mam-bô gồm những bài hát của các nhạc sĩ như Hoàng Thi Thơ, Trịnh Hưng, Hoài An, Thu Hồ, Mạnh Phát… Các bài ca ấy viết theo ngũ cung miền Trung và miền Nam với phong cách nhịp nhàng và vui tươi. Loại nhạc này được phát triển thành nhạc bolero rất phổ biến đến bây giờ.

Thị trường nhạc tại miền Nam thời kỳ đó rất đa dạng. Các loại nhạc và tất cả các nghệ sĩ đều được thể hiện trên đài truyền hình. Đặc trưng của các đại nhạc hội của Sài Gòn xưa cũng được kế tiếp bởi các video Paris By Night sau này. Các chương trình phải có cái gì đó cho các lớp khán giả, từ trẻ đến già, từ sang đến… chưa sang.  Và vì thế người nghe nhạc hay phân biệt giữa tân và cổ, ta và Tây, sang và không sang.

Chương trình live show ca nhạc Hát trên quê hương 2 mới đây của ca sĩ Quang Lê tại sân khấu Lan Anh đã không còn một chỗ trống. Khán giả của dòng nhạc quê hương dường như lúc nào cũng là những người chung thủy nhất

2. Khi tôi mới đến Việt Nam trong những năm 1990 nhiều người nói đến nhạc vàng, nhưng người ta rất ít (gần như không) nói về nhạc sến.  Ở miền Bắc “nhạc vàng” là thuật ngữ để nói về tất cả các loại nhạc được phổ biến ở miền Nam (và ở các thành thị miền Bắc dưới thời chính quyền Pháp và Bảo Đại trước 1954). Sau năm 1975 nhạc vàng vẫn là tên gọi của các loại nhạc bị cấm từ trước, rồi các loại nhạc sản xuất ở hải ngoại. Thực ra nhạc vàng là nhạc thị trường theo góc nhìn của một xã hội bao cấp.  

Tôi đề cập đến nhạc vàng vì những người chê loại nhạc bị gọi là nhạc sến cũng phê phán những nét “ủy mị”, “sướt mướt” đã từng đổ lỗi tại nhạc vàng. Cách giải nghĩa âm nhạc bằng những tính từ ấy gốc từ chính sách văn hóa Mao Trạch Đông thành phong trào “bài trừ nhạc màu vàng” của thời Hà Nội mới giải phóng và cũng làm ảnh hưởng chính sách văn hóa Việt Nam đến những năm Đổi mới.

Chữ “sến” thì gần như không có trong quyển từ điển nào. Tôi chỉ biết đến một trường hợp là quyển từ điểnVietnamese-English Student Dictionary (Từ điển Sinh viên Việt – Anh) – Southern Illinois University Press, 1971 của Nguyễn Đình Hòa dịch chữ sến là “kind of wood” (một loại gỗ) và “(slang) young woman” – (tiếng lóng – phụ nữ trẻ). Ông Hòa không định nghĩa thêm, nhưng vì biết đến nguồn của từ này thì tôi nghĩ rằng phải giải thích thêm – sến là chữ lóng nói đến phụ nữ trẻ từ nông thôn (lục tỉnh) ra. Dịch chữ sến cho chính xác hơn thì phải nói đến các từ như wench hay hussy. Hai từ ấy đều mô tả phụ nữ trẻ, gốc nông thôn, với phong cách thô tục ít hay nhiều.

Tóm lại thì chữ sến và nhạc sến bao gồm nhiều ý xấu. Chữ này biểu lộ thái độ miệt thị phụ nữ, người nông thôn, và dân lao động. Còn ngữ từ này là của dân miền Bắc tạo ra cũng chứng tỏ thái độ coi khinh văn hóa Nam. Một điều nữa tôi cũng nghĩ rằng từ nhạc sến chứa ít nhiều định kiến “xướng ca vô loài” của ngày xưa.  Nghĩa là nhạc lịch thiệp không dơ tay vào việc chợ búa (là địa vị của phụ nữ), việc buôn bán, việc sinh sống. Như thế là trái với ý nhạc lịch thiệp mà phải được xã hội trợ cấp theo ý các nhà chuyên môn thanh khiết không ăn lương của kinh tế thị trường.

Theo cách nhìn ấy nhạc sến chỉ là đồ rẻ tiền bán ở thị trường. Nếu chữ sến được bỏ thì ý nghĩa đúng của dòng nhạc này sẽ được bộc ra. Cách đây gần 15 năm cố nhạc sĩ Văn Phụng nói cho tôi nghe rằng ông không thích thái độ miệt thị nhạc thịnh hành ở miền Nam và hải ngoại. Ông đề nghị gọi nhạc này bằng “nhạc dân tộc tính phổ thông”. Vài năm sau tôi được nói chuyện với cố danh ca Minh Trang. Bà ấy cũng không chấp nhận thái độ trên và chủ trương gọi nhạc này bằng “nhạc quê hương”.

Tôi nhất trí với bà Minh Trang. Nhạc quê hương bày tỏ một miền quê chung của những người còn sống ở làng quê hay những người vì nhu cầu đời sống phải sống xa quê. Cả lịch sử của Việt Nam trăm năm vừa qua là các chuyến đi của người dân quê vào các thành thị (hay các miền quê của họ bị thành thị hóa). Đời sống của bao thế hệ người nông thôn với những mối quan hệ thân thiết với người cùng xóm và với thiên nhiên bị gián đoạn bởi nhu cầu kiếm sống hay vì chiến tranh. Nhạc này đậm đà các điệu hò, lý miền Nam và điệu vọng cổ. Lời ca của nhạc quê hương nói đến các con sông, những bến đò chiều, những chuyến xe lam, những đường chiều nghiêng nắng, các mùa trái cây chín, mùa hoa nở… Và bao mối tình bị đoạn tuyệt vì các biển đổi trong đời thường của các người Việt Nam.  

Bởi vì đa số người Việt còn sống ở nông thôn thì quá trình này sẽ không ngừng nối tiếp. Người đồng quê và từ đồng quê ra cần một luồng âm nhạc riêng bày tỏ nỗi niềm của họ. Trong môi trường mới ở thành thị rất khác với đời sống êm ấm ngày xưa trong trí nhớ, mọi người cần đến một luồng âm nhạc “tri kỷ” thông cảm với hoàn cảnh mình.

Các nhạc sĩ, nhà phê bình hay nhà báo tung ra chữ nhạc sến để tỏ một thái độ không đẹp với dân nghèo Việt Nam. Tất nhiên mỗi người được phép phát biểu ý kiến về chất lượng của tất cả các loại âm nhạc, nhưng họ không nên xúc phạm người nghe nhạc ấy. Tôi đề nghị bỏ chữ nhạc sến trong việc bình luận âm nhạc

Jason Gibbs (Nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam) 
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/nen-bo-chu-nhac-sen-n20131009103206306.htm

 

TÂM GIA : Liveshow Quang Lê tại TP HCM đông bất ngờ, VIETNAM


Thứ bảy, 5/10/2013 10:06 GMT+7
 Liveshow Quang Lê tại TP HCM đông bất ngờ
Không có chỗ ngồi, ban tổ chức phải kê ghế bổ sung cho lượng khán giả kéo đến động nghẹt sân khấu Lan Anh. Nhiều người không có chỗ ngồi phải đứng suốt chương trình.

Liveshow “Hát trên quê hương 2” của Quang Lê diễn ra tối 4/10 tại Sân khấu Lan Anh, TP HCM. Sân khấu gần 4.000 người đều chật kín. Vé chợ được bán rầm rộ trước sân khấu. Nhiều khán giả không tiếc bỏ tiền ra mua với giá tiền gấp đôi giá thực. Sân khấu khá nhốn nháo trước giờ mở màn vì khán giả quá đông.

8-7701-1380939239.jpg
Khán giả tại liveshow của Quang Lê. Ảnh: Phan Hồng Đức.

Người ngồi, người đứng khiến bảo vệ ở sân khấu lao đao. MC Anh Quân nhiều lần nhắc nhở mọi người ổn định, ngồi đúng số ghế quy định để tạo sự công bằng cho những người đã mua vé. Ban tổ chức cố gắng sắp xếp nhưng vẫn không đủ chỗ cho mọi người.

Liveshow Quang Lê đông đúc khiến không ít người ngạc nhiên. Một gia đình cho biết, bình thường hai vợ chồng họ rất thích giọng hát của nam ca sĩ hải ngoại nên thường để con gái ở nhà rồi cùng nhau đi xem. Hôm nay, có thêm giọng hát Phương Mỹ Chi nên đưa con đi cùng. Một khán giả khác cho biết, là người hâm mộ Quang Lê đã lâu, anh muốn đến xem tận mắt thần tượng đã hồi phục như thế nào sau tai nạn vừa qua. Đây là một trong hai nguyên do chính khiến lượng người xem tăng đột biến.

Phương Mỹ Chi có hẳn một lượng fan cổ vũ. Họ cầm băng rôn, bảng tên của giọng ca nhí reo hò suốt chương trình.

Vì vậy, không quá bất ngờ khi sự xuất hiện của “chị Bảy” khiến cả sân khấu như “bùng nổ”. Khi cô bé 10 tuổi cất lời hát đầu tiên ca khúc Đất phương Nam, khán giả đã vỗ tay ầm ầm. Có lẽ lần đầu tiên đứng trên một sân khấu chuyên nghiệp lớn và quá đông khán giả nên Mỹ Chi hơi khớp trong phần đầu. Cô bé vào nhịp hơi chậm. Song, sau đó, giọng ca nhí lấy được cân bằng và trình diễn một tiết mục dân ca ngọt ngào. Người hâm mộ tỏ ra thông cảm và không tiếc những tiếng hò hét dành cho cô bé.

4-4980-1380939239.jpg
Quang Lê và Phương Mỹ Chi song ca tiết mục “Sa mưa giông”. Ảnh: Lý Võ Phú Hưng.

Sự xuất hiện của Quang Lê một lần nữa làm sân khấu “vỡ òa” khi cùng Phương Mỹ Chi hát bài Sa mưa giông. Cả hai có một tiết mục cảm động vì đưa tình cảm cha con vào hoạt cảnh minh họa. Giọng ca của hai thế hệ cách xa nhau hòa quyện làm một tạo nên nhiều cảm xúc cho người xem. Phương Mỹ Chi chia sẻ, cô bé thấy Quang Lê hát rất hay nhưng thần tượng của em vẫn là ca sĩ Hương Lan. Giọng ca nhí mong tương lai sẽ hát hay như thần tượng.

Trong liveshow, Quang Lê thể hiện hầu hết ca khúc gắn liền với tên tuổi của anh, từTà áo cưới, Đập vỡ cây đàn, Nhớ thương hoài đến Nỗi buồn gác trọ, Ai khổ vì ai. Vừa hồi phục sức khỏe sau tai nạn lật xe, giọng ca ngọt ngào của nam ca sĩ vẫn không bị ảnh hưởng. Anh mang đến cho khán giả những bài bolero đầy tình cảm về tình yêu và quê hương. Mỗi khi anh cất giọng ca, người mộ điệu đều không tiếc dành cho anh những tràng vỗ tay nồng nhiệt. Trong đêm nhạc, nam ca sĩ cảm ơn khán giả đã quan tâm anh rất nhiều trong thời gian qua. Đối với Quang Lê, lần tai nạn này anh như chết đi sống lại. Anh thấy mọi thứ nhẹ hẳn đi khi thoát khỏi lưỡi gươm tử thần.

“Trước đây, Quang Lê quý tiền lắm. Còn bây giờ, Quang Lê ít quý tiền hơn rồi”, nam ca sĩ hài hước.

5-9496-1380939240.jpg
Quang Lê và Phương Thanh hát “Lan và Điệp”. Ảnh: Lý Võ Phú Hưng.

Phương Thanh, Lệ Quyên, Tuấn Hưng, Quách Tuấn Du có những màn kết hợp đầy ăn ý với chủ nhân đêm nhạc. Đặc biệt “chị Chanh” và Quang Lê khiến cho nhiều người rơi nước mắt trong tiết mục nhạc kịch “Lan và Điệp”. Gần 12h đêm chương trình mới kết thúc. Nhiều khán giả nấn ná lại sân khấu để chờ tặng hoa cho thần tượng. Vì đây là đêm ghi hình nên trong các tiết mục biểu diễn, họ không được lên sân khấu bày tỏ tình cảm với ca sĩ.

* Ảnh: Các tiết mục trong đêm diễn

Các tiết mục trong đêm diễn

le-1-8942-1380943098.jpg
le-2-6293-1380943099.jpg
Nam ca sĩ chia sẻ, anh phải đặt lịch Bảo Yến trước nhiều tháng để cô có thể sắp xếp tham gia vào liveshow của anh. Bảo Yến là người mà anh xem như thần tượng từ nhỏ. Quang Lê thừa nhận, hồi bé anh thích bắt chước cách luyến láy của đàn chị nên ảnh hưởng ít nhiều từ nữ danh ca này. Xuất hiện trong đêm nhạc, họ hát chung ca khúc “Huế đêm trăng” nồng nàn và ăn ý.
le-4-6208-1380943099.jpg
Sự xuất hiện của Phương Mỹ Chi là một điểm nhấn của chương trình. Cả hai cùng thể hiện ca khúc “Sa mưa giông” trong hoạt cảnh tình cha con. Tiết mục của họ được khán giả cổ vũ nồng nhiệt.
le-8-6203-1380943099.jpg
Khánh Ngọc lần đầu song ca cùng Quang Lê. Cô diễn tự nhiên trong một tiết mục nhạc kịch thể hiện khung cảnh của Thượng Hải những năm 50 qua hai bài hát “Tương tư nàng ca sĩ”, “Xin đừng hái hoa”.
le-9-7824-1380943099.jpg
Lấy nước mắt của khán giả chính là ca khúc “Lan và Điệp” do Phương Thanh và Quang Lê kết hợp trình diễn. Với tài năng diễn xuất của mình, “Chị Chanh” không khó khi vào vai Lan buồn bã đi tu vì thất tình. Nữ ca sĩ xúc động bày tỏ, lần nào xem vở “Lan và Điệp” cô cũng khóc. Vì vậy, cô đồng cảm và diễn trọn vẹn cảm xúc của nhân vật.
le-11-1714-1380943099.jpg
Lệ Quyên cùng chủ nhân đêm nhạc hát  “Cho vừa lòng em” và “Gõ cửa trái tim”. Nữ ca sĩ “Giấc mơ có thật” từng cho rằng, cô thấy Quang Lê là ca sĩ song ca dòng nhạc belero hợp nhất với mình.
le-13-7232-1380943100.jpg
Quang Lê và Duy Mạnh hát “Buồn tả tơi” đến nao lòng trong những phút cuối của chương trình.
le-14-5354-1380943100.jpg
Nam danh ca Elvis Phương và đàn em hòa tiếng hát trong “Áo anh sứt chỉ đường tà”. Hai chất giọng khác nhau nhưng bè phối nhịp nhàng. Elvis Phương còn hát tặng khán giả hai ca khúc “Anh còn nợ em” và “Mười năm tình cũ”.
le-15-7794-1380943100.jpg
Người học trò duy nhất của Quang Lê tên Quang Hiếu cũng xuất hiện trong chương trình.
le-7986-1380943100.jpg
Quang Lê cống hiến cho khán giả các ca khúc trữ tình sâu lắng và quen thuộc trong suốt liveshow. Tiết mục ấn tượng của anh là “Tà áo cưới” dưới sự trình diễn của các chân dài: Kim Dung, Minh Triệu, Oanh Yến.

Tâm Giao
Ảnh: Lý Võ Phú Hưng

Tâm Gia

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/nhac/lang-nhac/liveshow-quang-le-tai-tp-hcm-dong-bat-ngo-2890416.html

PHƯỢNG HOÀNG : Nguyễn Ánh 9 ‘mổ xẻ’ Thanh Lam, Đàm Vĩnh Hưng, Hà Hồ


Nguyễn Ánh 9 ‘mổ xẻ’ Thanh Lam, Đàm Vĩnh Hưng, Hà Hồ

 
 

(VTC News) – Với sự am hiểu sâu sắc, nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 không ngần ngại ‘mổ xẻ’ các gương mặt đình đám nhất làng nhạc Việt như  Thanh Lam, Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Tâm, Hà Hồ.

 

» Elvis Phương tái xuất cùng nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9
» Nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 tự hào xem ‘bàn tay’ chính mình

– Có thâm niên 60 năm trong nghề, ông đánh giá thế nào về thị trường âm nhạc Việt Nam hiện nay?

Việt Nam hiện tại chỉ có giải trí, không có nghệ thuật. Bây giờ, nhạc để xem nhiều hơn là để nghe. Người ta làm giải trí kiếm tiền, coi qua rồi bỏ chứ hiếm người tâm huyết làm nghệ thuật. Điều này khiến tôi buồn lắm vì con đường nghệ thuật của mình không có những người chung chí hướng để làm tốt vai trò nghệ sỹ.

– So với thế hệ trước như ông, giới ca – nhạc sỹ Việt hiện nay có gì khác biệt đáng nói?

Hồi xưa, người nhạc sỹ viết ca khúc từ những cảm xúc thật của họ, họ viết ra để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn cho mọi người chứ họ không viết nhạc để bán. Còn bây giờ, nhạc sỹ viết nhạc theo yêu cầu đơn đặt hàng nên âm nhạc không có hồn, không có cảm xúc thật của người sáng tác.

Ca sỹ bây giờ đa số chỉ chú trọng ăn mặc, make-up cho đẹp và lên sân khấu hát thì sau lưng có một đám múa. Nhưng ít chú trọng đến xúc cảm âm nhạc, không để tâm hồn vào bài hát.

Nguyễn Ánh 9 ‘mổ xẻ’ Thanh Lam, Đàm Vĩnh Hưng, Hà Hồ
Nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 

Hồi xưa, có những giọng ca còn để tiếng đến bây giờ như Lệ Thu, Thanh Thúy, Thái Thanh… nhưng bây giờ những ca sỹ hát giọng tốt đếm trên đầu ngón tay, đã vậy lại bị vướng vào kỹ thuật thanh nhạc.

Tôi nói có lẽ sẽ đụng chạm đến những người học thanh nhạc. Người ca sỹ học thanh nhạc hát phải phát âm cho tròn chữ, và cố gắng đưa giọng mình cho tròn trịa, giọng ngân cao vút… nhưng quá mải lo kỹ thuật nên hát không có cảm xúc!

Thanh Lam hát Cô đơn còn thua ca sỹ nghiệp dư

– Những ca sỹ được phong hàng diva như Hồng Nhung, Thanh Lam, Mỹ Linh, Trần Thu Hà có bị vướng vào kỹ thuật t
hanh nhạc?

 

Thanh Lam, Mỹ Linh giọng hát rất đẹp, cái gì cũng tốt nhưng đều bị vướng kỹ thuật thanh nhạc nên nhiều lúc nhạc cảm không có, tâm hồn bài hát không có. Hồng Nhung hát tốt hơn Mỹ Linh, Mỹ Linh tốt hơn Thanh Lam. 

 

 
 
Nguyễn Ánh 9 ‘mổ xẻ’ Thanh Lam, Đàm Vĩnh Hưng, Hà Hồ Đơn cử, nghe Thanh Lam hát bài Cô đơn của tôi, tôi buồn lắm! Nó không ra cái cô đơn, thua một ca sỹ nghiệp dư hát vì hát không có hồn dù giọng đẹp thiệt! Nguyễn Ánh 9 ‘mổ xẻ’ Thanh Lam, Đàm Vĩnh Hưng, Hà Hồ
 

Đơn cử, nghe Thanh Lam hát bài Cô đơncủa tôi, tôi buồn lắm! Nó không ra cái cô đơn, thua một ca sỹ nghiệp dư hát vì hát không có hồn dù giọng đẹp thiệt! Thanh Lam hát những bài sâu lắng nhiều khi đóng kịch nhiều hơn là hát. 

Mà đóng kịch phải như người diễn viên, người ta nhập hồn vào vai diễn đó, ví dụ Kim Cương trong Lá sầu riêng, cô là nhân vật cô gái đau khổ tên Tâm chứ không phải là nghệ sỹ Kim Cương, phải quên Kim Cương đi! Ca sỹ cũng phải hát ‘nhập vai’ như vậy mới ra ca sỹ.

Trần Thu Hà thì khôn hơn, biết cách lợi dụng kỹ thuật để áp dụng. Nhưng mấy người được như Trần Thu Hà? Người nào cũng phô trương, tôi phải hát giọng cao tới nốt đó tôi mới là ca sỹ, còn hát chưa tới thì chưa phải là ca sỹ. Cái đó là sai lầm tai hại vô cùng và không ai chấp nhận.

– Hai nữ ca sỹ đang nổi tiếng nhất trên thị trường hiện nay là Mỹ Tâm và Hồ Ngọc Hà, ông đánh giá tài năng của họ ra sao?

Mỹ Tâm chỉ hát nhạc Pop bình thường thôi, nhưng được cái là sáng sân khấu, xử lý bài hát chính xác. Mỹ Tâm cũng có những ca khúc hát không tới, gặp bài nào hát tới mới hay, như Cây đàn sinh viên, Ước gì…

Mỹ Tâm hát chỉ hợp với tuổi trẻ. Về tính nghệ thuật thì Hồng Nhung, Trần Thu Hà hát xong có để lại ấn tượng, còn Mỹ Tâm chỉ nghe vui mắt, vui tai, nghe qua xong rồi thì thôi, không để lại ấn tượng gì hết.

Mỹ Tâm được cái là may mắn rơi vào đúng thời điểm không có ai cạnh tranh, từ đó nổi tiếng và khi nổi tiếng rồi thì rất khôn khéo đầu tư vào hát, múa, sắc đẹp để giữ vị trí.

Nguyễn Ánh 9 ‘mổ xẻ’ Thanh Lam, Đàm Vĩnh Hưng, Hà Hồ
Hồ Ngọc Hà và Mỹ Tâm 

Hồ Ngọc Hà hát chỉ nghe chơi thôi! Giọng Hồ Ngọc Hà yếu lắm, khều khào không à! Hồ Ngọc Hà đẹp, có vóc dáng sân khấu, chịu khó múa… cái gì cũng đẹp nhưng giọng hát thì lại không được. 

Khi diễn tả nội tâm, Hồ Ngọc Hà diễn kịch tính nhưng đóng kịch chứ không thật. Ca sỹ hát phải biến mình thành nhân vật trong ca khúc mới hiểu nỗi đau làm sao. Không lẽ, ngoài đời mình buồn là phải hét, gào thét? Đâu phải vậy!

– Với các giọng ca nam đang nổi tiếng như Bằng Kiều, Đàm Vĩnh Hưng, Quang Dũng… ông đánh giá thế nào?

Bằng Kiều cũng giọng tốt như Trần Thu Hà nhưng sau này khoe giọng quá, cố hát lên cao vút để không ai bắt chước được. Thành ra, Bằng Kiều hát bài Buồn ơi chào mi của tôi khiến khán giả ở dưới sững sờ luôn! Tính lại thì hiệu quả sân khấu có nhưng tôi mở băng ra nghe thì phải nghe Tuấn Ngọc hay Xuân Phú, Trọng Bắc hát.

 

Quang Dũng hát được vài bài của Trịnh Công Sơn chứ không phải là tất cả. Còn Đàm Vĩnh Hưng chỉ được bề nổi vậy thôi, tôi không cho là ca sỹ đúng nghĩa. Tôi chỉ cho Đàm Vĩnh Hưng là một người hát. Đàm Vĩnh Hưng cố hát nhạc xưa, nhạc vàng mà hát có ra đâu!

Nguyễn Ánh 9 ‘mổ xẻ’ Thanh Lam, Đàm Vĩnh Hưng, Hà Hồ
Nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 không thích Đàm Vĩnh Hưng hát nhạc của ông 

Đàm Vĩnh Hưng hát bài Ai đưa em về của tôi, tôi bảo ‘con đừng hát bài của bố nữa, tội nghiệp bố lắm’. Tôi không thích, tôi nói thẳng luôn. Đàm Vĩnh Hưng nói‘nhưng con thích hát nhạc bố…’, tôi nói ‘nhưng con không nên hát nhạc của bố thì hay hơn’. 

Thật ra, giọng Đàm Vĩnh Hưng nửa Nam nửa Bắc, cách thức hát cũng không có và lối hát cũng vậy. Hồi xưa, Đàm Vĩnh Hưng mà đi hát thì chỉ xứng là ca sỹ loại C hát lót chứ không được vào hạng ca sỹ chính của phòng trà đâu!

– Ngoài danh ca Tuấn Ngọc thì những giọng ca nào khiến ông hài lòng nhất?

Giọng nữ thì tôi thích Ngọc Anh, Hồng Nhung, Ánh Tuyết, Trần Thu Hà… Nguyên Thảo nếu tiếp tục hát như ngày xưa thì rất hay. Ngày xưa, Nguyên Thảo hát cho thỏa đam mê còn sau này, bị gò bó vào kỹ thuật như Mỹ Linh để khoe giọng và vô tình giết chết tình cảm.

 

Vừa rồi làm đĩa than của tôi có 2 bài Nguyên Thảo hát. Cách đây 6 năm, Nguyên Thảo hát Buồn ơi chào mi xuất thần luôn, nhưng giờ Nguyên Thảo để tâm đến kỹ thuật nhiều nên tình cảm không còn, so ra khác hẳn.

Giọng nam thì ngoài Tuấn Ngọc còn có Trọng Bắc, Lê Hiếu… Tuấn Hiệp lúc trước hát tốt, tôi thích nhưng giờ chạy theo hát nhạc vàng bị mất chất.

– Nhưng rõ ràng trên thị trường, những giọng ca này không phải nổi tiếng nhất, được khán giả ưu ái nhất. Theo ông vì sao có nghịch lý này?

Nhiều ca sỹ hát hay nhưng chưa nổi được, tại vì bây giờ còn phụ thuộc vào công nghệ lăng xê. Khán giả cũng bị ảnh hưởng bởi phim ảnh Hàn Quốc nhiều quá, 10 cái clip của Hàn Quốc thì 11 cái có nhảy rồi! Cái đó gọi là âm nhạc giải trí, nghe qua rồi bỏ, khác xa với nghệ thuật.

Tôi thấy giới trẻ bây giờ nghe nhạc vô tội vạ, nghe theo phong trào, chạy theo lai căng ngoại quốc nhiều quá nên không còn bản chất.

Mong có nhiều nghệ sỹ ‘tử tế’ và người nghe ‘tử tế’

– Với những đánh giá này, phải chăng gu thưởng thức âm nhạc bây giờ của khán giả quá khác với ông, bởi đơn cử, Đàm Vĩnh Hưng đang được phong là ‘ông hoàng nhạc Việt’?

Không phải! Nếu đem so sánh Tuấn Ngọc với Đàm Vĩnh Hưng, người ta vẫn thích nghe Tuấn Ngọc hát nhiều hơn, đúng không?

Nghe Tuấn Ngọc hát thấy nó khác liền, hát ra là cảm xúc đến với người nghe chứ không phải gắng gượng. Tại vì Tuấn Ngọc đã sống trong bài hát đó, khi hát Tuấn Ngọc để tâm trạng vào bài hát, nói lên tâm trạng của nhiều người. Ví dụ khi mình bị người yêu bỏ, nghe Tuấn Ngọc hát Buồn ơi chào mi, nghe nó đã lắm!

 

Tuấn Ngọc vẫn là giọng ca số một dù tuổi tác, thời gian làm cho giọng của Tuấn Ngọc không còn được đẹp như ngày xưa nữa, nhưng cái xúc cảm vẫn là Tuấn Ngọc và xúc cảm càng ngày càng sâu hơn.

– Vậy theo ông, thị trường nhạc Việt sẽ đi về đâu?

Đây là vấn đề lớn, cả một thế hệ chứ không phải đơn giản, ăn thua là cách giáo dục của gia đình với con em làm sao. Nếu trong một gia đình chỉ có tối ngày đi kiếm tiền thì tinh thần nghệ thuật của họ chết rồi, bị tiền bạc chi phối hết.

 

Thành ra, họ cũng không chăm sóc con cái, cứ cho tiền là xong. Họ cũng ỷ lại tiền, đưa con vào trường này trường kia, mặc con muốn làm gì thì làm. 

Theo tôi, thị trường nhạc Việt vẫn đang nằm yên. Rồi từ từ, nhạc thị trường sẽ rớt dần và tới một giai đoạn nào đó, nghệ thuật sẽ lên ngôi. Nhạc thị trường tự động phát sinh rồi sẽ tự động chết bởi những gì không hay sẽ không tồn tại. Tôi tin tưởng như vậy. Đời tôi không thấy nhưng đời con, đời cháu của tôi sẽ thấy điều này.

– Sau 60 năm cống hiến cho nghệ thuật, điều ông mong muốn nhất là gì?

Tôi chỉ mong muốn duy nhất là có nhiều nghệ sỹ tử tế và người nghe nhạc tử tế. Tất cả những gì cứ để thử lửa đi, đốt cách mấy thì vàng cũng vẫn là vàng. Mình hãnh diện là người Việt Nam không thua ai hết!

– Xin cảm ơn ông!

 

» Elvis Phương tái xuất cùng nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9
» Nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 tự hào xem ‘bàn tay’ chính mình
» Khánh Ly về nước diễn, Phạm Duy, Nguyễn Ánh 9 nói gì?

Phượng Hoàng (thực hiện)

http://vtc.vn/13-409573/giai-tri/nguyen-anh-9-mo-xe-thanh-lam-dam-vinh-hung-ha-ho.htm

tvduc : 10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 7: PHƯƠNG DUNG


Tin tức — August 21, 2013 at 12:05 pm

10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 7: PHƯƠNG DUNG

by 

Cô nổi tiếng năm 17 tuổi sau khi trình bày thành công bài hát “Nỗi buồn gác trọ” của Mạnh Phát và Hoài Linh vào năm 1962, sau đó tiếng hát của cô đã đi vào lòng người với bài hát “Những đồi hoa sim” năm 1964, Dzũng Chinh phổ thơ của nhà thơ Hữu Loan.

Ca sĩ Phương Dung

Ca sĩ Phương Dung

Năm 1965, với bài hát “Tạ từ trong đêm” của nhạc sĩ Nhật Trường – Trần Thiện Thanh, Phương Dung đã nhận được giải huy chương vàng giành cho nữ ca sĩ trong năm, và người nhạc sĩ của bài hát được giải Bài hát xuất sắc nhất trong năm.

Nếu kể đến những giọng ca được coi là huyền thoại đã đi vào lịch sử tân nhạc Việt Nam thì chắc chắn Phương Dung không thể nằm ngoài danh sách này. Chất giọng cao và lảnh lót của chị đã chính thức đến với người nghe từ cuối thập niên 50, khi còn là một thiếu nhi 13, 14 tuổi. Giọng ca đó càng ngày càng gây nhiều chú ý trong bối cảnh của cuộc chiến tranh với những nhạc phẩm mang nội dung thật gần gũi với tình yêu trong thời chinh chiến hoặc với những nét đẹp của quê hương. Những yếu tố đó đã mang đến cho Phương Dung một sự thành công thật lớn để chị có thể hãnh diện về sự đóng góp của mình cho nền tân nhạc Việt Nam. Sau khi xuất hiện không bao lâu, Phương Dung đã được báo chí và những người ái mộ tặng cho danh hiệu “Con Nhạn Trắng Gò Công”, bắt nguồn từ thành phố nơi chị sinh trưởng ở vùng Tiền Giang vào năm 1945…

Gia đình Phương Dung là một gia đình khá giả ở Gò Công, có vườn tược, hoa mầu cùng cửa hàng buôn bán như chị cho biết. Song thân chị có tất cả 4 người con. Ngoài Phương Dung, là một người con gái lớn và 2 người con trai. Cả hai người sau đều gia nhập binh chủng Nhảy Dù, trong số có một người tử trận tại Cổ Thành Quảng Trị vào mùa hè năm 72. Trưởng thành trong một hoàn cảnh thoải mái về vật chất, người con thứ hai trong gia đình với một người mẹ là em vợ nhà văn nổi tiếng Hồ Biểu Chánh, rất yêu thích văn chương.

Thân phụ Phương Dung là người xuất gia một thời gian từ khi còn trẻ. Tuy nhiên sự xuất gia này được chị giải thích là chỉ gieo duyên chứ không đi hẳn vào vào con đường tu hành . Điều này có nghĩa sau thời gian gieo duyên vài năm, ông trở về coi sóc vườn tược của gia đình. Riêng về việc Phương Dung muốn ca hát, ông tỏ ra rất ủng hộ chị trên con đường nghệ thuật. “Ông nói rằng đi hát là một cái nghề rất là lương thiện mà tự vì người dân của mình họ bảo thủ và có một cái nhìn sai lạc về những người làm nghệ thuật nói chung. Nhưng mà con đi hát thì phải biết mình là người yêu nghệ thuật mà đi hát chứ không phải sống một cuộc sống bừa bãi . Tự vì người nghệ sĩ mà không làm nghệ thuật giỏi và hay thì người ta đâu có thích. Và nếu nói theo Phật pháp người mà được người ta thương mến nhiều là người có tu nhiều kiếp lắm”, đó là nguyên văn lời Phương Dung kể về ông bố của mình đối với nghiệp cầm ca.

Tuy song thân Phương Dung sống theo lối cổ, mang nhiều ảnh hưởng của Nho học và thích thơ phú. Nhưng cả hai đều có đầu óc rất cởi mở.. Có thể vì vậy Phương Dung ít ra cũng mang chút ảnh hưởng về nghệ thuật, về sự phóng khoáng trong tâm hồn khi tỏ ra rất thích đọc sách về thơ văn để hết lòng ngưỡng mộ nhà văn Nguyễn Tuân và say mê những tác phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Ngoài ra chị cũng rất thích những sáng tác thuộc loại văn chương “miệt vườn” của Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam hay Nguyễn Văn Ba, vv…Trong lần tâm sự với người viết, Phương Dung cho biết nếu được đi lại từ đầu, chị vẫn thích theo đuổi con đường nghệ thuật. Nếu không thành ca sĩ cũng sẽ thành một nhạc sĩ hoặc một nhà văn hay một nhà đạo diễn điện ảnh. Lý do dễ hiểu là chị là một con người mang một tâm hồn rất nhậy cảm nên dễ xúc động, chẳng hạn như trước những vần thơ hay mà chị thuộc nằm lòng. Phương Dung đã tỏ ra say sưa khi đề cập đến vấn đề này: “là một người tình cảm thì phải nhiều chứ. Như vậy, mới hát đuợc, mới sống được với trái tim của người khác. Như vậy mới có thể rung động trước những câu thơ như.”Ta đem trái đất ngâm thành rượu, ta lấy càn khôn biến thành môi…”

Khi còn theo học ở trường tiểu học nữ Gò Công, cô bé Phan Phương Dung nhiều tình cảm đã tỏ ra rất yêu thích ca hát và luôn có mặt trong các chương trình văn nghệ do trường tổ chức… Sau khi học hết bậc tiểu học, gia đình cho Phương Dung lên Sài Gòn thi vào lớp Đệ Thất trường trung học Gia Long niên khóa 1958 – 1959. Sau khi thi, dù lúc đó không nuôi mộng trở thành ca sĩ để sống mà chỉ thích được ca, được hát cho hay như chị nói. Nhưng Phương Dung cũng đã tự mình mò mẫm hỏi thăm đường đến tận đài phát thanh Sài Gòn sau khi biết được nơi đây sắp tổ chức một cuộc tuyển lựa ca sĩ. Sau này Phương Dung cũng không biết tại sao mình đã bạo dạn như vậy. Chắc chắn không có lý do nào khác hơn là niềm say mê ca hát. Thời gian này tân nhạc Việt Nam đã có nhiều ca sĩ nổi tiếng, đang cộng tác với đài phát thanh Sài Gòn như Thu Hương, Tâm Vấn, Thái Thanh, Thanh Thúy, Lệ Thanh, Bạch Yến, Bích Chiêu, vv…Đó là những khuôn mặt chị nhìn thấy vào đài phát thanh một cách dễ dàng lúc đứng ngòai cổng nhìn vào. Trong khi “tôi đứng ở ngoài thì ông gác-dan ra hỏi: này cô bé làm gì mà cứ thập thò ngoaì này hoài vậy.” “Thưa con muốn vào để lấy đơn dự thi ca sĩ”. Ông biểu ngừng xe đạp đây vào trong phòng đó, để cái thẻ học sinh ở đây vào queo tay trái có ông nhạc sĩ nào đeo kính cận già già thì hỏi xin giấy tờ làm thủ tục dự thi ca sĩ”

f_PHUONGDUNGSm_cc90b6c

Cô bé tỉnh Gò Công mặc dù rất bỡ ngỡ, nhưng cũng theo lời chỉ dẫn của người gác dan vào gặp nhạc sĩ Võ Đức Tuyết. Khi Phương Dung cho biết ý định muốn dự thi hát của mình, chị đã được vị nhạc sư tên tuổi này đề nghị hát thử nhạc phẩm “Em Bé Quê” là bài Phương Dung sẽ dự thi. Nhờ đã quen đứng trước khán giả qua những buổi văn nghệ tại trường, Phương Dung đã không ngại ngùng gì đứng hát ngay giữa phòng, trước bao nhiêu người là những giọng ca nổi tiếng…

Nhưng may mắn chỉ đến với Phương Dung ở vòng sơ khảo và bán kết của cuộc tuyển lựa ca sĩ vào năm 58 của Đài Phát Thanh Sài Gòn. Vì “vào chung kết thì Phương Dung rớt. Tại vì lúc mà cuối cùng họ đưa một cái bài bắt mình vừa phải vừa xướng thanh, vừa hát luôn, tất nhiên là mình phải biết rành về solfège mới làm được. Mấy người kia vì họ có đem theo đờn. Họ đờn, họ dượt nên họ hát hay. Còn mình hát thì có lỗi trong lúc mình xướng âm. Thành ra mình rớt.. Mình chỉ được đứng hạng 4″. Hai trong ba người được chấm đậu mà Phương Dung còn nhới là Nhật Thiên Lan và Thanh Sơn. Người sau trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng sau đó và là tác giả của ca khúc từng một thời hầu như ai cũng biết tới là “Nỗi Buồn Hoa Phương”…

Tuy buồn vì không được lọt vào trong ba giải đầu, nhưng Phương Dung lại may mắn được giới thiệu với một nhạc sĩ nổi tiếng vào thời đó là Khánh Băng trong thời gian ông phụ trách chương trình văn nghệ cho giải trí trường Thị Nghè, là nơi xuất thân của không ít nghệ sĩ nổi tiếng. Vì số tuổi còn nhỏ nên chỉ quen mặc đầm, Phương Dung tỏ ra hơi ngượng ngập trong chiếc áo dài đầu đời khi xuất hiện lần đầu tên trên sân khấu giải trí trường Thị Nghè. Nhưng do mê hát nên cuối cùng cũng đã vượt qua được những ngượng ngùng, e thẹn lúc ban đầu để dần dần gây được chú ý bằng tiếng hát của mình. Chỉ trong vài năm đầu tiên đi hát, Phương Dung đã mau chóng gặp những cơ hội tiến thân tại những địa điểm trình diễn mà trước đó nhiều nghệ sĩ tên tuổi đã đi qua. Chẳng hạn như phòng trà Tứ Hải của ông Trần Cao Tăng, một thời là giám đốc đài phát thanh Pháp Á, là nơi Phương Dung hát “lót đường” vào năm 59 cho những giọng ca đã có tên tuổi mà Thanh Thuý là một trong số này. Năm sau, 1960, chị về hát ở phòng trà Anh Vũ là nơi trình diễn của rất nhiều nghệ sĩ như: Thanh Thuý, Khánh Ly, Trúc Mai, Bạch Yến, Bích Chiêu, Trần Văn Trạch, ban Tam Vân, Phương Lan, Quốc Thắng, v v…

Vào thời gian này, vì đi hát nhiều và nhất là chỉ chú tâm vào niềm đam mê ca nhạc nên Phương Dung đã không có được đủ điểm trong những kỳ thi tam cá nguyệt nên chỉ theo học trường Gia Long được đúng một niên khóa. Sau đó chị chuyển qua trường Đức Trí và học tại trường tư thục này đến hết lớp 11 rồi nghỉ học luôn. Song song trong thời kỳ đó, chị cũng đã theo học tại Hội Việt – Mỹ đến hết lớp 6.

Ít ai còn nhớ và cũng không ngờ là thời kỳ hát ở Anh Vũ, Phương Dung lại là giọng ca chuyên trình bày những nhạc phẩm tiền chiến như Thiên Thai, Khối Tình Trương Chi, Trương Chi, Đàn Chim Việt, Suối Mơ, Buồn Tàn Thu, v v…Nguyên nhân là chị đã được hướng dẫn trong thời kỳ đầu bởi nhạc sĩ Lê Trung Quân (cũng đi hát dưới tên Vân Quang), cũng là một sĩ quan Không Quân là một người dạy chị hát theo giọng Bắc để trình bày những ca khúc tiền chiến. Cũng do đó, Phương Dung đã rất thích trước khi chuyển qua loại nhạc thời trang theo thị hiếu của khán thính giả và do các hãng đĩa nhạc yêu cầu, với các sáng tác của Lê Minh Bằng, Thanh Sơn, Châu Kỳ, vv…

090317083004-931-214

Nhưng phải công nhận từ khi chuyển hẳn qua nhạc tình cảm phổ thông có tính cách đại chúng, Phương Dung đã mau chóng thành công và được biết tới nhiều với những ca khúc như : Chuyện Tình Lan Và Điệp, Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi, Hoa Nở Về Đêm, Những Đồi Hoa Sim, v v… Với nhạc phẩm Đường Về Khuya của người nhạc sĩ cùng gốc Gò Công là Lê Dinh, Phương Dung lần đầu tiên thu thanh tiếng hát mình trên đĩa nhựa. Kế đó là những nhạc phẩm Vọng Gác Đêm Xuân, Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi, vv…rất được khán thính giả ưa thích. Nhưng phải đợi đến năm 1962 khi nhạc phẩm Nỗi Buồn Gác Trọ ra đời thì tên tuổi Phương Dung thật sự đã bước vào một khúc quanh quan trọng, nhất là khi nhạc phẩm này được đưa vào phim “Saigon By Night” của hãng phim Alpha.

Trước sự ăn khách của Phương Dung, hãng đĩa Sóng Nhạc của ông Lê Tất Oanh đã mời chị ký một giao kèo độc quyền vào năm 1964 với một giá rất cao vào thời đó là nửa triệu đồng. Mỗi tháng thu thanh 4 nhạc phẩm, dù không có bài để thu vẫn được trả lương. Với Sóng Nhạc, Phương Dung tiếp tục làm say mê thính giả với tiếng hát cao chót vót của mình trong những ca khúc đã trở thành bất hủ như Huyền Sử Ca Một Người Mang tên Quốc (hát với nhật Trường), Những Đồi Hoa Sim, vv…Riêng Những Đồi Hoa Sim do Dũng Chinh phổ nhạc từ thơ của Hữu Loanđã được dùng làm nhạc phẩm chính cho cuốn phim Tiếng Hát Nửa Khuya (“Songs At Night”) do Phòng Thông Tin Hoa Kỳ thực hiện vào năm 1964. Trong phim này Phương Dung đã được mời thủ diễn một vai quan trọng bên cạnh nam tài tử Huy Cường. Ngoài Những Đồi Hoa Sim, còn một vài nhạc phẩm khác do Phương Dung trình bày cũng được đưa vào cuốn phim này như Không Bao Giờ Ngăn Cách, Bóng Đêm, vv..

Đến năm 1965, Phương Dung chuyển qua trình bày nhiều nhạc phẩm của Trần Thiện Thanh và rất được khán thính giả thích thú.. Cũng trong năm đó, nhạc phẩm Tạ Từ Trong Đêm của Trần Thiện Thanh do Phương Dung trình bày đã đoạt giải Bài Hát Hay Nhất cùng với Huy Chương Vàng dành cho ca sĩ trình bày xuất sắc do Thanh Thương Hội trao tặng. Ngoài ra cũng với Tạ Từ Trong Đêm, Phương Dung còn được tạp chí Sân Khấu của ký giả Nguyễn Ang Ca trao giải Nữ Ca Sĩ Được Cảm Tình Nhất Năm 65. Ngoài những sáng tác của Trần Thiện Thanh, tiếng hát Phương Dung còn được biết đến nhiều với những nhạc phẩm của Thanh Sơn, Hoàng Trang, Hồng Vân, Thu Hồ và đặc biệt những sáng tác của nhóm Lê Minh Bằng.

Từ giữa thập niên 60, Phương Dung đã trở thành một trong những giọng ca được mến mộ nhất với thể loại nhạc thời trang. Từ quê ra tỉnh, “Con Nhạn Trắng Gò Công” với tiếng hát đặc biệt của mình hầu như đã chinh phục tất cả mọi người. Riêng tại Sài Gòn, Phương Dung đã cộng tác liên tiếp trong những năm 95, 96 và 97 mỗi đêm với 7 phòng trà và vũ trường. Đó là Tự Do, Maxim’s, Olympia, Quốc Tế, Bồng Lai, Paramount và Văn Cảnh. Đó là một thành tích hiếm có ca sĩ nào đạt nổi.

phuongdung

Hiện nay tuy đã có tuổi nhưng giọng ca của Phương Dung vẫn không phai dần theo năm tháng, vẫn còn đó lối hát tâm tình, cứ như trăn trở về một dĩ vãng ngày xưa. Tiếng hát Phương Dung ngọt ngào mà chơn chất như người con gái Gò Công, luôn được khán thính giả yêu mến tới nay.

Thegioif5 sưu tầm