Tag Archives: tân nhạc

TÂN NHẠC VIỆT NAM – NHẠC VN HẢI NGOẠI


XIN BẤM VÀO LINK DƯỚI ĐÂY ĐỂ ĐỌC BÀI TÂN NHẠC VIETNAM và NHẠC VN HẢI NGOẠI

http://dotchuoinon.com/2015/08/26/tan-nhac-viet-nam-nhac-hai-ngoai/

“Nhạc Hải Ngoại” là một khái niệm thường được dùng để chỉ nền âm nhạc do các nghệ sĩ Việt Nam sáng tác, trình bày tại hải ngoại. Nền âm nhạc hải ngoại bao gồm những ca khúc tân nhạc Việt Nam thuộc nhiều dòng nhạc khác nhau như “Nhạc Tiền Chiến”, “Nhạc Vàng”, “Tình Khúc 1954-1975”, những sáng tác sau 1975 tại hải ngoại và các ca khúc nước ngoài được viết lời Việt và cả những sáng tác theo “Dân Ca Dân Nhạc”, “Nhạc Giao Hưởng”, “Nhạc Kịch Tây Phương”, “Nhạc Đương Đại”… do người gốc Việt tại các nước ngoài sáng tác.

Năm 1975, sau sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, nhiều người Việt rời Việt Nam sống lưu vong tại các quốc gia trên thế giới, tập trung đông nhất là Hoa Kỳ. Họ, trong đó có nhiều nhạc sĩ, ca sĩ, đã mang theo những dòng nhạc của miền Nam Việt Nam. Tại hải ngoại, các ca sĩ, nhạc sĩ tiếp tục sáng tác và trình diễn, nhiều trung tâm nhạc được thành lập.

nhachaingoai11

Những nhạc sĩ nổi tiếng trước năm 1975 như Phạm Duy, Anh Bằng, Trầm Tử Thiêng, Lam Phương, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên vẫn sáng tác mạnh, tiếp nối dòng nhạc “Tình Khúc 1954-1975” và Nhạc Vàng, và cùng với những nhạc sĩ trẻ hơn như Đức Huy, Trúc Hồ, Trịnh Nam Sơn đã tạo nên dòng “Nhạc Hải Ngoại”. Các băng, dĩa nhạc và các chương trình đại nhạc hội của các trung tâm như Paris By Night, Asia,Vân Sơn, Tình (Eagle),… và các đài truyền hình, truyền thanh radio của người Việt hải ngoại như “SBTN”, “Radio Little Saigon” và những sinh hoạt cộng đồng đã giúp phổ biến dòng nhạc này. Từ đó hình thành một thị trường âm nhạc hải ngoại với sức tiêu thụ cao và thu hút cả sự tham gia của nhiều ca sĩ, nhạc sĩ từ trong nước.

Tại Việt Nam, từ những năm cuối thập kỷ 1980, tuy “Nhạc Vàng” và “Tình Khúc 1954-1975” chưa được phép lưu hành ở Việt Nam, nhưng các băng đĩa nhạc hải ngoại vẫn được bán phổ biến bằng cách truyền tay và sang băng trái phép. Từ năm 2000, bắt đầu có nhiều tình khúc hải ngoại được phép lưu hành chính thức trong nước.

Các nhạc sĩ của Việt Nam Cộng Hòa sau 1975 định cư tại nước ngoài vẫn tiếp tục sáng tác và cùng với những nhạc sĩ trẻ hơn đã tạo nên dòng “Nhạc Hải Ngoại”.

Tác phẩm thâu thanh đầu tiên tại hải ngoại là cuốn băng cassette “Khi Tôi Về” của ca sĩ Khánh Ly, và “Saigon ơi! Vĩnh biệt” (Thanh Thúy 1) của ca sĩ Thanh Thúy được phát hành tháng 5 năm 1976.

nhachaingoai1

Những nhạc sĩ tên tuổi đầu tiên rời Việt Nam khoảng cuối năm 1975, trong những năm đầu, chủ đề sáng tác chính của họ là nỗi nhớ quê hương và Sài Gòn như: “Sài Gòn ơi! Vĩnh biệt” của Nam Lộc, “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn” của Phạm Đình Chương, “Khi Xa Sài Gòn” của Lê Uyên Phương, “Việt Nam Về Trong Nỗi Nhớ”, “Đêm Nhớ Về Sài Gòn” của Trầm Tử Thiêng, “Quê Hương Bỏ Lại” của Tô Huyền Vân, “Đường Về Quê Hương” của Lam Phương…etc…

Chủ đề thân phận lưu vong cũng được nói đến với loạt bài: “Tỵ Nạn Ca” của Phạm Duy, “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc, “Ai Trở Về Xứ Việt” của Võ Tá Hân, Phan Văn Hưng, “Một Chút Quà Cho Quê Hương” của Việt Dzũng…

Từ khoảng đầu thập kỷ 1980, một số nhạc sĩ sau thời gian cải tạo tại Việt Nam ra định cư ở nước ngoài. Họ viết nhiều ca khúc tả lại thời gian cải tạo ở Việt Nam như Hà Thúc Sinh với tập “Tủi Nhục Ca” năm 1982, Châu Đình An với “Những Lời Ca Thép” năm 1982… Phạm Duy cũng sáng tác 20 bài lấy tựa là “Ngục Ca” phổ từ thơ tù của Nguyễn Chí Thiện trong tập thơ “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực”.

Đến giữa thập niên 1980, các nhạc sĩ bắt đầu bớt chủ đề nhớ quê và tỵ nạn, quay lại viết các bản tình ca. Ở giai đoạn này, những nhạc sĩ tiêu biểu có thể kể đến Đức Huy với “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại”, “Đừng Xa Em Đêm Nay”, Trần Quảng Nam với “Mười Năm Tình Cũ”, Hoàng Thanh Tâm với “Tháng Sáu Trời Mưa”, Trúc Hồ với “Trái Tim Mùa Đông”, Ngọc Trọng với “Buồn Vương Màu Áo”, Trịnh Nam Sơn với “Dĩ Vãng”, “Quên Đi Tình Yêu Cũ”, “Hỡi Người Tình”, Nguyễn Tâm với “Rong Rêu”, Lê Tín Hương với “Có Những Niềm Riêng”… Ngô Thụy Miên tại hải ngoại cũng có nhiều sáng tác mới, trong đó nổi tiếng hơn cả là “Riêng Một Góc Trời” viết năm 1997.

Nhiều băng nhạc thu âm ở Sài Gòn từ trước 1975 được tái phát hành. Từ năm 1982, hiện tượng phục sinh “Nhạc Tiền Chiến” được phát triển rộng rãi ở hải ngoại. Các ca sĩ Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Hoàng Oanh, Sĩ Phú, Elvis Phương, Ngọc Minh,… trong những năm 1982 đến 1989 đã thu âm và phát hành cả trăm băng “Nhạc Tiền Chiến” và “Tình Khúc 1954-1975”. Dòng “Nhạc Vàng” cũng được tiếp tục với các ca sĩ Duy Khánh, Chế Linh, Thanh Tuyền, Giao Linh, Hương Lan, Tuấn Vũ,… Một tầng lớp ca sĩ mới xuất hiện và nhanh chóng nổi tiếng như Ngọc Lan, Don Hồ, Như Quỳnh, Ngọc Hạ, Trường Vũ, Nguyễn Thắng…

nhachaingoai3

Thời gian này cũng là thời gian phát triển “Hưng Ca” với nhóm “Tổng hội Sinh viên Việt Nam” tại Paris với các nhạc sĩ Phan Văn Hưng, Khúc Lan, Đinh Tuấn và “Phong Trào Hưng Ca” tại Mỹ với các nhạc sĩ Việt Dzũng, Huỳnh Công Ánh, Châu Đình An, Nguyễn Hữu Nghĩa, Hà Thúc Sinh. Cùng thời gian này có phong trào hát lại mảng hùng ca, lịch sử ca của “Nhạc Tiền Chiến”, với những ca khúc được sáng tác thời kháng chiến chống Pháp, như “Hội nghị Diên Hồng”, “Bạch Đằng Giang” của Lưu Hữu Phước, “Chiến Sĩ Ca”, “Không Quân Việt Nam” của Văn Cao, “Xuất Quân” của Phạm Duy, các bài lịch sử ca của nhóm Tổng hội Sinh viên, nhóm Đồng Vọng và của phong trào Hướng Đạo Việt Nam như “Bóng Cờ Lau”, “Nước Non Lam Sơn” của Hoàng Quý, “Hùng Vương”, “Trưng Nữ Vương” của Thẩm Oánh…

Từ giữa thập niên 1990, cũng có nhiều nghệ sĩ sáng tác nhạc new age, new wave, rap, hip hop lời Việt như Phong Lê, Heart2Exist (Lê Huy Phong & Lê Huy Phát). Hoặc các ca sĩ hát nhạc trẻ với tiết điệu nhanh, mới nổi lên như Lương Tùng Quang, Andy Quách, Nguyễn Thắng, Cát Tiên, VPop, Asia4, Dương Triệu Vũ…

Các trung tâm nhạc hải ngoại như Thúy Nga, Asia, Vân Sơn đã giúp bảo tồn và phổ biến nhạc Việt trong một thời gian dài tại hải ngoại. Tuy nhiên, những ca khúc được trình diễn trong các chương trình đại nhạc hội của các trung tâm này thường thu hẹp trong phạm vi nhạc phổ thông, nhạc trẻ chiều theo thị hiếu. Các nhạc sĩ độc lập không thuộc các trung tâm trên hoặc thuộc dòng nhạc khác, rất khó và thiếu điều kiện để phổ biến sáng tác của mình trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Tuy khó, nhưng một số nhạc sĩ độc lập vẫn thành công và được biết rộng rãi như Võ Tá Hân, Diệu Hương, Võ Đông Điền, Nguyên Bích, Lê Tín Hương, Đăng Khánh, Trần Duy Đức, Xuân Điềm, Bảo Trường…

nhachaingoai10

Có thể chia nền âm nhạc hải ngoại sau 1975 làm 4 dòng chính: nhạc cổ truyền, nhạc cổ điển & bán cổ điển Tây phương, nhạc cận đại & đương đại và tân nhạc Việt Nam.

• Nhạc cổ truyền / Dân ca Dân nhạc: Trần Văn Khê, Trần Quang Hải, Nguyễn Thuyết Phong, Nguyễn Đình Nghĩa, Phương Oanh, Trần Lãng Minh, Nga Mi…

• Nhạc cổ điển và bán cổ điển Tây phương / giao hưởng: Nguyễn Thiện Đạo, Tôn Thất Tiết, Cung Tiến, Lê Văn Khoa, Đặng Thái Sơn…

• Nhạc cận đại Tây phương và nhạc đương đại:

– Rock: Steel Owl, Adam Hồ…
– Pop: Kristine Sa, Quỳnh Anh, Tinna Tình, Vy Nguyễn, Roni Trần Bình Trọng, Thanh Bùi, Shayla, Trish Thùy Trang…
– Rap/Hip hop: Tyga, Choosen 1, Phong Lê, Khanh Nhỏ, Heart2Exist
Jazz: Nguyên Lê, Hương Thanh, Niels Lan Doky, Cuong Vu (thành viên Pat Metheny Group), Jazzy Dạ Lâm…
– Nhạc kịch (Opera/Musical): Ignace Lai, Ca đoàn Nhạc Việt.
– World music/Nhạc đương đại (contemporary music): Hoàng Ngọc Tuấn, Phan Quang Phục, Lê Tuấn Hùng….

• Tân nhạc/Tình ca: Đây có thể xem là dòng nhạc chủ đạo của nhạc hải ngoại và bao gồm nhiều loại: Nhạc Tiền Chiến, Tình Ca, Nhạc Vàng, Hưng Ca, Du Ca, Ngục Ca, Nhạc Trẻ… với nhiều nhạc sĩ và ca sĩ tên tuổi, như Phạm Duy, Trần Thiện Thanh, Trầm Tử Thiêng, Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng, Lam Phương, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Song Ngọc, Đức Huy, Trúc Hồ, Trịnh Nam Sơn,…

GS TS Trần Văn Khê.
GS TS Trần Văn Khê.
NS Trần Quang Hải và Danh ca Bạch Yến.
NS Trần Quang Hải và Danh ca Bạch Yến.

Các nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam như Nguyễn Thuyết Phong, Trần Văn Khê, Trần Quang Hải đã đi thuyết giảng nhiều nơi khắp thế giới cũng như phát hành dĩa nhạc, sách để quảng bá cho nhạc cổ truyền Việt Nam. Từ cuối năm 1994, nhóm các nhà soạn nhạc Việt Nam tại Pháp gồm Tôn Thất Tiết, Trần Văn Khê, Nguyễn Thiện Đạo đã bắt đầu chú ý đến việc phục hồi Nhã Nhạc Cung Đình Huế và đã về Việt Nam để dàn dựng một chương trình âm nhạc cung đình . Bằng nỗ lực cá nhân, các ông cũng nhận bảo trợ cho các nghệ nhân Nhã Nhạc và Ca Trù, và nhờ sự góp sức đó mà các nghệ nhân có dịp đi trình tấu tại Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ, Áo, Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc… Phương Oanh, cựu giáo sư tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ đã mở nhiều lớp dạy đàn tranh tại Pháp.

Ca sĩ Khánh Hà và NS Quách Vĩnh Thiện - Paris 2007.
Ca sĩ Khánh Hà và NS Quách Vĩnh Thiện – Paris 2007.

Tại Pháp còn có nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện soạn nhạc toàn bộ truyện “Kim Vân Kiều” và “Chinh Phụ Ngâm” để giúp cho mọi người dễ dàng tiếp cận với tinh hoa văn hóa cổ truyền dân tộc Việt.

nhachaingoai_Nga Mi và Trần Lãng Minh2

nhachaingoai_Nga Mi và Trần Lãng Minh3

Ở Mỹ khoảng cuối thập niên 80 có đôi uyên ương nghệ sĩ Trần Lãng Minh và Nga Mi thành lập ban “Văn Nghệ Nhà Nam” (tiền thân của “Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt” ngày nay) chuyên tổ chức dàn dựng những chương trình “Dân Ca Dân Nhạc Cổ Truyền Việt Nam” thuần túy như: “Phong Châu Mở Hội”, “Quê Hương Tình Yêu Muôn Thuở”,…etc… với các bộ môn dân ca dân nhạc truyền thống đi trình diễn khắp nơi không ngoài mục tiêu gìn giữ và truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

Ngoài ra còn có tổ chức “Nhà Việt Nam” (Vietnam House) do ông bà Nguyễn Phước Vĩnh Lữ và Lê Thị Nga thành lập đầu thập niên 90. “Nhà Việt Nam” thường xuyên đóng góp chương trình “Dân Ca Dân Nhạc Truyền Thống Việt Nam” trong “Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế” có trên dưới 50 quốc gia tham dự.

Nhà Việt Nam tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế.
Nhà Việt Nam tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế.
Nhà Việt Nam tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế - từ trái -Giám đốc Nhà Việt Nam, bà Lê Thị Nga, thành viên Thiên Thanh, trưởng ban văn hóa Linh Phượng, ái nữ của ông bà Nguyễn Phước Vĩnh Lữ, Nguyễn Phước Liên Như.
Nhà Việt Nam tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế – (từ trái) Giám đốc Nhà Việt Nam, bà Lê Thị Nga, Trưởng ban Giáo dục Thiên Thanh, Trưởng ban Văn hóa Linh Phượng, ái nữ của ông bà Nguyễn Phước Vĩnh Lữ và Lê Thị Nga, Nguyễn Phước Liên Như.

Tại Singapore có nhạc sĩ guitar cổ điển Võ Tá Hân sáng tác hơn 500 ca khúc phổ thơ, kinh Phật giáo. Anh phát hành khoảng 30 CD Tình Khúc, Thiền Ca, và Ca khúc Phật giáo, v.v… Anh còn là tác giả của các sách dạy đàn guitar cổ điển.

NS Võ Tá Hân.
NS Võ Tá Hân.

Những băng Video đầu tiên của Thúy Nga là băng cải lương, trước khi chuyển sang thực hiện các chương trình Paris By Night, mà hầu hết là các tiết mục tân nhạc. Thúy Nga cũng là trung tâm đầu tiên phối hợp nhạc cụ cổ truyền Việt Nam như đàn cò, đàn bầu, đàn tranh (với nhạc sĩ Đức Thành) với nhạc cụ Tây phương để hòa âm các bản nhạc và sau này nhiều trung tâm hải ngoại (và cả trong nước) làm theo. Các chương trình đại nhạc hội Paris By Night, Asia, Vân Sơn cũng thường kèm những phần trình tấu vũ điệu cổ truyền, Dân ca Dân nhạc và cải lương, Tân cổ giao duyên với các nghệ sĩ Chí Tâm, Phượng Liên, Thành Được, Ái Vân, Đức Thành, Hương Lan, Phi Nhung, Mạnh Quỳnh, Ngọc Huyền, Quang Lê, Y Phụng và Vũ đoàn Lạc Hồng. Cũng nhờ đó, nền âm nhạc cổ truyền được các thế hệ sau tại hải ngoại biết đến rộng rãi.

Năm 2005, Ban nhạc Heart2Exist với anh em Lê Huy Phong, Lê Huy Phát là ban nhạc đầu tiên đem Cải lương vào nhạc Rap với bài “Tự hào là người Việt Nam”, ngụ ý khuyên giới trẻ lầm đường trong thế giới “sành điệu” hay “băng đảng” từ bỏ băng đảng để trở về làm người có ích cho xã hội.

Những nhạc sĩ được đào tạo từ những nhạc viện nước ngoài như Nguyễn Thiện Đạo, Tôn Thất Tiết và Phan Quang Phục với những bản nhạc viết cho dàn đại hòa tấu, những vở nhạc kịch opera, từng được trình diễn trên khắp thế giới. Ignace Lai (Lại Vũ Hán Dương) và ca đoàn Nhạc Việt thuộc Trung tâm Văn hóa Giáo dục Hồng Đức tại Canada đã tổ chức thành công 3 nhạc kịch tại Quebec trước đông đảo khán giả và có thể xem là người đầu tiên thử nghiệm nhạc kịch Tây phương phối hợp giữa nhạc quan họ, ngũ cung Việt với nhạc Jazz Tây Phương [5]. Nhạc tấu khúc Chinh phụ ngâm (1987) của Cung Tiến, soạn cho 21 nhạc khí, đã được trình diễn lần đầu vào ngày 27 tháng 3 năm 1988 tại San Jose với dàn nhạc thính phòng San Jose. Lê Văn Khoa đã thực hiện nhiều CD và chương trình nhạc giao hưởng, trong đó có trường khúc Vietnam 1975 được dàn nhạc đại hòa tấu Kyiv Symphony Orchestra and Chorus tại Ukraina trình tấu năm 2005.

Làng Jazz châu Âu có 2 người gốc Việt nổi tiếng, là Nguyên Lê (ở Pháp) và Niels Lan Doky (ở Đan Mạch). Cường Vũ (thành viên Pat Metheny Group) đoạt giải Grammy 2003…

nhachaingoai_Phạm Quỳnh Anh

Nhạc Pop tiếng nước ngoài có Kristine Sa, Roni Trần Bình Trọng, Quỳnh Anh, Thanh Bùi… Quỳnh Anh từ năm 13 tuổi giành giải nhất cuộc thi mang tên “Pour la gloire” của đài truyền hình RTBF (Bỉ) và năm 2005 tạo nên hiện tượng Bonjour Vietnam. Thanh Bùi lọt vào Tốp 8 Australian Idol 2008 và thành công với những chuyến lưu diễn các nước châu Á. Roni Trọng được chú ý qua Idols Finland (Phần Lan), một chương trình Pop Idol của Phần Lan.

P.Q. Phan tức Phan Quang Phục, giáo sư về sáng tác đương đại tại trường Đại Học Indiana, Hoa Kỳ, đã đoạt giải âm nhạc quan trọng The Prize of Rome năm 1988. Anh đã được xem như một trong 6 nhạc sĩ trẻ sáng tác có tài năng nhất Hoa Kỳ về nhạc đương đại.

Ngay từ trước 1975 tại miền Nam, nhiều nhạc sĩ như Phạm Duy, Nam Lộc, Trường Kỳ, Vũ Xuân Hùng đã viết lời Việt cho nhiều ca khúc nước ngoài nổi tiếng. Sau 1975 tại hải ngoại, các nhạc sĩ Lữ Liên, Khúc Lan, Lê Xuân Trường, Nhật Ngân, Lãnh Ngọc Tâm, Huỳnh Nhật Tân,… tiếp tục soạn lời Việt cho nhiều ca khúc tiếng Anh, Pháp, Hoa và được trình bày bởi các ca sĩ trẻ như Lưu Bích, Ngọc Lan, Don Hồ, Linda Trang Đài, Nguyễn Thắng… Thập niên 80 là phong trào viết lời Việt cho các ca khúc trong các phim bộ tiếng Hoa và các ca khúc new wave sôi nổi. Những năm 2000 là nhạc trẻ Trung Hoa, Hàn quốc, Nhật Bản.

Thời gian đầu, tân nhạc hải ngoại được coi như là tiếp nối dòng tình khúc 1954-1975 và nhạc vàng tại miền Nam Việt Nam trước kia, tuy nhiên ranh giới giữa hai dòng nhạc này không còn rõ rệt như thời kỳ trước năm 1975.

nhachaingoai16

Các nhạc sĩ Tình Khúc 1954-1975 như Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Ngô Thụy Miên,… vẫn sáng tác mạnh. Phạm Duy vẫn sáng tác mạnh theo nhiều thể loại, và cùng với con trai là Duy Cường thử nghiệm cả nhạc new age, thực hiện các băng nhạc Minh họa truyện Kiều. Vũ Thành An tiếp tục những bài không tên từ số 11 đến Bài không tên số 50 và nhiều tình khúc khác.

Các nhạc sĩ nhạc vàng như Lam Phương, Nhật Ngân, Song Ngọc và đặc biệt Anh Bằng thời kỳ này sáng tác rất nhiều và sáng tác cả nhạc trữ tình, và Anh Bằng có nhiều ca khúc nổi tiếng thời kỳ này như Anh còn nợ em, Khúc Thụy Du, Chuyện giàn thiên lý. Võ Đông Điền ở Úc tiếp nối dòng tình ca quê hương với Tiếng hát chim đa đa, Màu hoa bí, Đêm giao thừa nghe một khúc dân ca và Phan Ni Tấn với Lý con sáo Bạc Liêu,…

Từ cuối thập niên 80 xuất hiện một lớp nhạc sĩ mới với những tình ca thường được gọi là tình ca hải ngoại như Nguyễn Đình Toàn, Võ Đông Điền, Đăng Khánh, Vũ Tuấn Đức, Diệu Hương, Ngọc Trọng, Lê Tín Hương, Ngọc Loan, Thanh Trang, Trần Quảng Nam, Hoàng Thanh Tâm, Trần Duy Đức, Trần Đức, Mai Anh Việt, Hoàng Việt Khanh, Hoàng Trọng Thụy, Phạm Anh Dũng, Trần Chí Phúc và Nhạc trẻ hải ngoại với Đức Huy, Trúc Hồ, Trịnh Nam Sơn, Jimmii Nguyễn,…. Đầu thế kỷ 21, các nhạc sĩ trẻ như Huỳnh Nhật Tân, Nhật Trung, Đồng Sơn, Sỹ Đan, Lê Xuân Trường, Trúc Sinh, Quốc Hùng, Tùng Châu, Phạm Khải Tuấn, Trịnh Lam đã mang đến nhiều tiết điệu mới (và cả cách phối khí mới) cho nhạc trẻ tại hải ngoại. Một số nhạc sĩ sáng tác nhạc chỉ có lời Anh như Vũ Tuấn Đức, Kristine Sa, Lê Tâm, Cardin Nguyễn, Trish Thùy Trang, Alan Nguyễn, Vy Nguyễn,…

Ngoài ra còn các nhạc sĩ Hưng ca, Thanh niên ca thập niên 80, 90 với nhóm Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Paris gồm các nhạc sĩ Phan Văn Hưng, Khúc Lan, và Phong trào Hưng ca tại Mỹ với các nhạc sĩ Việt Dzũng, Huỳnh Công Ánh, Châu Đình An, Nguyễn Hữu Nghĩa, Hà Thúc Sinh, Phan Ni Tấn… như một hình thức tiếp nối Phong Trào Du Ca trước đó, cũng với những ưu tư về hiện tình đất nước và kêu gọi thanh niên quan tâm và dấn thân cho quê hương. Từ năm 2007, nhạc sĩ Ngô Nguyễn Trần và Tâm Thơ đã bắt đầu dự án Sử Ca Việt Nam và đến nay đã sáng tác gần 200 bài nhạc kể chuyện 4000 năm lịch sử Việt Nam và cho phép phổ biến miễn phí. Ngoài ra, có các nhạc sĩ chuyên về nhạc thiền, nhạc đạo như Võ Tá Hân, Hoàng Quốc Bảo, Thanh Lâm.

Ca sĩ Ngọc Hạ.
Ca sĩ Ngọc Hạ.

Các ca sĩ nhạc tiền chiến nổi tiếng: Thái Thanh, Duy Trác, Anh Ngọc, Mai Hương, Kim Tước, Lệ Thu, Hà Thanh, Tuấn Ngọc, thế hệ sau là Quỳnh Giao, Vũ Anh, Thùy Dương, Ngọc Hạ, Quang Tuấn, Trần Thái Hòa và Ca đoàn Ngàn Khơi.

Các ca sĩ nhạc trữ tình nổi tiếng: Sĩ Phú, Hà Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Anh Tú, Khánh Hà, Vũ Khanh, Lê Uyên, Duy Quang, Thanh Lan, Họa Mi, Elvis Phương, Julie, Thái Hiền, Ý Lan, Phi Khanh, Hải Lý, Thùy Dương, Ngọc Minh, Tuấn Anh, Quốc Anh, Như Mai, Kim Anh và sau này là Ngọc Lan, Dalena, Don Hồ,Diễm Liên, Thanh Hà, La Sương Sương, Thế Sơn, Thiên Kim, Lâm Nhật Tiến, Quang Tuấn, Nguyên Khang, Lâm Thúy Vân, Bằng Kiều, Loan Châu, Hồ Lệ Thu, Y Phương, Nguyễn Hồng Nhung, Đặng Minh Thông,…

Các ca sĩ nhạc vàng, tình ca quê hương: Duy Khánh, Chế Linh, Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Hoàng Oanh, Hương Lan, Thái Châu, Giao Linh, Phương Dung,Phương Hồng Quế, Mỹ Huyền, Sơn Ca, Băng Châu và thế hệ hải ngoại là Lưu Hồng, Như Quỳnh, Tuấn Vũ, Jimmii Nguyễn, Mạnh Quỳnh, Phi Nhung, Trường Vũ,Mạnh Đình, Quang Lê, Quốc Khanh, Ngọc Huyền, Tâm Đoan, Hạ Vy, Đặng Thế Luân, Đan Nguyên, Hương Thủy, Mai Thiên Vân, Băng Tâm, Y Phụng, Duy Trường, Tường Nguyên,…

Các ca sĩ Nhạc Trẻ: Elvis Phương, Lưu Bích, Kiều Nga, Linda Trang Đài, Don Hồ, Lan Anh, Nguyễn Hưng, Thúy Vy, Nini và sau này là Shayla, Minh Tuyết, Nguyễn Thắng, Andy Quách, Bảo Hân, Tú Quyên, Gia Huy, Trish Thùy Trang, Lương Tùng Quang, Philip Huy, Johnny Dũng, Trúc Lam & Trúc Linh, Thủy Tiên, Minh Trí (Johnny Trí Nguyễn) & Việt Thi, Vân Quỳnh, Như Loan, Cát Tiên, Cardin Nguyễn, Dạ Nhật Yến, Nhóm VPop, Nhóm Asia4, Trịnh Lam, Đoàn Phi, Dương Triệu Vũ, Quỳnh Vi, Ánh Minh, Thùy Hương, Mai Tiến Dũng,…

Các nghệ sĩ hài nổi tiếng: Vân Sơn, Bảo Liêm, Quang Minh, Hồng Đào, Hoài Linh, Kiều Oanh, Lê Huỳnh, Lê Tín, Chí Tài, Nguyễn Dương, Thu Tuyết, Hoài Tâm,…

Ca sĩ Khánh Ly.
Ca sĩ Khánh Ly.

Nhạc hải ngoại cũng có sự nối kết và liên hệ mật thiết với nhạc trong nước. Các nhạc sĩ trong nước như Lê Hựu Hà, Trịnh Công Sơn, Quốc Dũng, Vũ Đức Sao Biển, Bắc Sơn, Trần Quang Lộc, Ái Lan tuy ở trong nước nhưng cũng tham gia thị trường âm nhạc hải ngoại bằng những tình ca mới và lúc đầu, gần như các sáng tác mới của họ chỉ được hát tại hải ngoại. Các ca khúc của nhạc sĩ Bảo Chấn, Phú Quang, Nguyễn Ngọc Thiện được trình bày và nổi tiếng tại nước ngoài từ những năm đầu thập niên 1990, trước khi những nhạc sĩ này được biết đến trong nước. Đức Trí và Việt Anh, Nhật Trung, Nguyễn Xinh Xô trong thời gian du học cũng sáng tác nhiều ca khúc cho thị trường âm nhạc tại hải ngoại.

Nhiều nhạc sĩ đã nổi tiếng từ trong nước trước khi ra định cư tại nước ngoài và trở thành nhạc sĩ hải ngoại như Sỹ Đan, Quốc Hùng, Ngọc Lễ, Phạm Khải Tuấn. Sau này, một số nhạc sĩ trẻ trong nước như Lê Quang, Hoài An, Nguyễn Nhật Huy, Nguyễn Kim Tuấn,Thái Thịnh, Minh Nhiên, Minh Khang, Vũ Quốc Việt,… cộng tác và bán độc quyền một số ca khúc của họ cho các Trung tâm hải ngoại. Các ca sĩ trong nước nổi tiếng như Trần Thu Hà, Bằng Kiều, Thu Phương, Kiều Hưng, Ngọc Anh, Lam Trường, Thủy Tiên, Quang Dũng, Nguyễn Hồng Nhung, Xuân Mai, sau này định cư tại hải ngoại cũng tham gia sinh hoạt âm nhạc tại đây và rất được nhiều người yêu thích. Gần đây nhất là ca sĩ Tóc Tiên sang Mỹ du học và trở thành ca sĩ chính thức của Trung Tâm Thúy Nga.

Trong những năm 1991-2000, riêng Trung tâm Mưa Hồng đã phát hành tại Mỹ hơn 400 tựa CD với các giọng ca quốc nội như Bảo Yến, Nhã Phương, Đình Văn, Bích Phượng, Cẩm Vân hát nhạc hải ngoại, tình khúc 1954-1975 và tình ca quê hương và làm những ca sĩ này rất nổi tiếng tại hải ngoại. Trung tâm Làng Văn/Lạc Vũ cũng đặt hàng và phát hành rất nhiều CD với các giọng ca trong nước và sau này thực hiện các chương trình Duyên dáng Việt Nam trong nước.

Từ năm 2000, một số ca khúc nhạc hải ngoại bắt đầu được phép lưu hành chính thức trong nước (tuy rằng trước đó và sau đó, một số ca khúc hải ngoại phải thay tên tác giả để qua kiểm duyệt, như trường hợp “Em đã quên một dòng sông” của Trúc Hồ lại ghi là tác giả Hải Triều, “Cơn mưa hạ” của Trúc Hồ – Trầm Tử Thiêng, ghi là nhạc Hoa, “Vì đó là em” của Diệu Hương do Quang Dũng thể hiện đoạt giải Mai Vàng 2003 nhưng sau đó bị rút giấy phép khi biết Diệu Hương ở hải ngoại).

Ca sĩ Ý Lan.
Ca sĩ Ý Lan.

Một số nhạc sĩ hải ngoại sau này về thực hiện nhiều dĩa nhạc, cũng như hòa âm phối khí cho các ca sĩ và tham gia các chương trình văn nghệ trong nước như Phạm Duy, Phạm Duy Cường, Đức Huy, Trịnh Nam Sơn, Huỳnh Nhật Tân, Trần Viết Tân. Một số ca sĩ hải ngoại sau này về định cư hẳn tại quê nhà hay thường xuyên hát trong nước như Elvis Phương, Hương Lan, Ái Vân, Duy Quang, Tuấn Vũ, Phi Nhung, Thái Châu, Ngô Thanh Vân và nghệ sĩ hài Hoài Linh, Chí Tài, Hoài Tâm,…. Tuy không thường xuyên, nhưng các ca sĩ nổi tiếng khác ở hải ngoại như Lệ Thu, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Ý Lan cũng đã từng nhiều lần về nước lưu diễn.

Hầu hết các ca sĩ tình ca trong nước đều đã từng lưu diễn tại hải ngoại, nhiều năm tấp nập đến mức thị trường trong nước thiếu hẳn các ngôi sao. Nhiều ca sĩ trong nước đã hát nhạc hải ngoại như Thanh Lam, Hồng Nhung, Mỹ Linh, Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Tâm, Quang Dũng, Thanh Long Bass, Hồng Ngọc, Song Giang, Tùng Dương, Lệ Quyên, Hoài Phương,….

Băng nhạc đầu tiên ra đời tại hải ngoại là cuốn Thanh Thúy 1: Saigon ơi! Vĩnh biệt của ca sĩ Thanh Thúy được phát hành ngày 9 tháng 5 năm 1976 tại Los Angeles, California, Hoa Kỳ và sau là cuốn Khi tôi về của ca sĩ Khánh Ly cùng tháng đó. Tiếp đó nhiều trung tâm băng nhạc của người Việt được thành lập và phát triển mạnh mẽ. Trong những năm đầu, các chương trình được phát hành dưới dạng băng nhựa cassette. Lúc đầu những băng nhạc được ghi âm rất kém với những ban nhạc gia đình, nhưng từ đầu thập niên 80, cùng với sự xuất hiện của các Trung tâm Phượng Nga, Khánh Ly, Diễm Xưa, Mây, Thanh Lan, Người đẹp Bình Dương, các băng nhạc đã được thâu âm với kỹ thuật tiên tiến cho âm thanh tốt hơn hẳn. Nhu cầu thưởng thức âm nhạc của người xa quê lúc ấy rất lớn, nên những băng nhạc thời này có số bán kỷ lục.

Ca sĩ Mỹ Linh.
Ca sĩ Mỹ Linh.
Ca sĩ Hồng Nhung.
Ca sĩ Hồng Nhung.

Sau đó, vào cuối năm 1987, NS Phạm Duy là người đầu tiên đưa nhạc Việt vào đĩa CD do Duy Cường soạn hòa âm và sản xuất với tựa đề Nhạc tình Phạm Duy.

Nhiều băng nhạc thu âm ở Sài Gòn từ trước 1975 được tái phát hành. Và nhiều Trung tâm đặt hàng nhiều băng nhạc, CD với những giọng ca trong nước để phát hành tại hải ngoại như hiện nay là Trung tâm Kim Lợi, Làng Văn….

Từ năm 1983, Trung tâm Thúy Nga đã thực hiện các chương trình ca nhạc Paris By Night và phát hành băng video.

Cho tới những năm gần đây, các trung tâm như Thúy Nga, Asia, Vân Sơn, Tình (Eagle)… phát hành đều đặn các chương trình dạng DVD.

Dưới đây mình có các bài:

– Lịch sử Tân Nhạc Việt Nam – Phần II
– Nhớ người khai sinh tân nhạc
– Thời Kỳ Thành Lập – (1938-45)

Cùng với 29 clips tổng hợp “Nhạc Hải Ngoại” tiêu biểu để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

nhachaingoai_Lịch sử Tân Nhạc Việt Nam

Lịch sử Tân Nhạc Việt Nam – Phần II

(NS Trần Quang Hải)

5. Nhạc di tản từ 30 tháng 4, 1975.

30 năm lặng lẽ trôi qua.30 năm đầy biến chuyển trong lịch sử thế giới nói chung và trong lịch sử Việt Nam nói riêng. Chỉ riêng về ngành âm nhạc Việt Nam, nhất là ở hải ngoại, số lượng bài bản tân nhạc , những ca khúc đã thay đổi nhiều đề tài, đã tăng số lượng theo một mức độ ngoài sức tưởng tượng của loài người. Những năm đầu của thời di tản cho thấy những băng nhựa đủ loại, từ các cuốn băng sao lại băng cũ thời trước 75, đến các băng được sản xuất tại Âu Mỹ do hàng chục trung tâm băng nhạc. Ðến năm 1988 mở màn cho giai đoạn dĩa laser loại compact disc. Chỉ trong vòng 5 năm (1988-1993) hàng nghìn dĩa laser tràn lan khắp nơi. Loại dĩa laser video phát triển từ 1992 lúc phong trào hát Karaoke khởi xướng mạnh tại Hoa Kỳ và Canada. Nhiều quán cà phê và quán phở, tiệm ăn ở Bắc Mỹ phải trang bị máy karaoke và luôn cả tư nhân cũng thích hát Karaoke vào cuối tuần trong những cuộc họp bạn tại gia. Gần đây hơn, các loại dĩa CDV, và DVD thay thế loại laserdisc làm bành trướng mạnh phong trào Karaoke tại tư gia. Video về tân nhạc cũng rất thịnh hành. Hàng mấy chục trung tâm băng nhạc xuất hiện tại Âu Mỹ và các ca sĩ tự lập các trung tâm sản xuất riêng. Trong phạm vi nhạc di tản, tôi chỉ đề cập tới tân nhạc Việt Nam ở hải ngoại. Tân nhạc Việt Nam ở hải ngoại (1975-2005) Giai đoạn di tản qua 25 năm cho thấy sức mạnh vô cùng mãnh liệt của ngươì Việt trong lĩnh vực sáng tác. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người làm văn nghệ lúc nào cũng hăng say tìm nguồn hứng qua những sáng tác âm nhạc. Một số nhạc sĩ ra đi trong đợt di tản đầu tiên gồm có Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Nam Lộc, Song Ngọc, Tô Huyền Vân, Huỳnh Anh.

Năm giai đoạn thể hiện lịch sử tiến triển của tân nhạc hải ngoại:

1. Nhớ Quê Hương, nhớ Saigon

Ðất nước vừa bị mất, quê hương phải lìa xa. Saigon vừa bị đổi tên. Niềm thất vọng tràn trề dâng cao trong lòng tất cả người dân Việt phải bỏ xứ ra đi trong uất hận, căm tức, tủi nhục. Toán người di tản ra đi đầu tiên đã đến Mỹ vào giữa mùa xuân năm 1975. Phải đợi tới cuối thu 1975, một số nhạc sĩ có tên tuổi ở Saigon đã ra đi trong đợt đầu và trong số đó có Nam Lộc. Nam Lộc là người đã viết một bản nhạc vào cuối năm 1975 và là bài thành công nhứt trong giai đoạn đầu của di tản (1975-1980). Ðó là bài “Saigon Ơi ! Vĩnh Biệt “. Saigon , thành phố của bao kỷ niệm, của nhớ nhung, của hàng triệu con tim bi. rung động mỗi khi hai chữ Saigon được nhắc đến, là đề tài cho một số nhạc phẩm như “Saigon Ơi! Vĩnh Biệt !” (Nam Lộc , 1975), “Saigon Ơi ! Thôi Ðã Hết” (Nam Lộc , 1976), “Saigon, Bây giờ Buồn Không Em ?” (Song Ngọc, 1976), “Ðêm Qua Mơ Thấy Saigon” (Hoàng Thi Thơ, 1976), “Saigon Niềm Nhớ Không Tên” (Nguyễn Ðình Toàn, 1977), “Khi Xa Saigon” (Lê Uyên Phương, 1980), “Bài Cuối Cho Saigon” (Song Ngọc, 1981), “Saigon Áo Xanh Nón Lá ” (Anh Bằng – Vũ Kiện, 1981), “Trả lại Saigon Cho Tôi” , “Saigon Ra Ðường” (thơ Duyên Anh, nhạc Vũ Trung Hiền, 1982), “Saigon Năm Xưa “(Trần Quang Hải, 1985).

Ngày 9 tháng 5, 1976 tại Los Angeles, California, lễ kỷ niệm một năm xa xứ đã được một số nghệ sĩ Việt tổ chức một chương trình đại nhạc hội đầu tiên giống như ở Saigon cùng lúc với sự chào đời cuốn băng thực hiện lần đầu tại hải ngoại do nữ ca sĩ Thanh Thúy hát với tựa cuốn băng Thanh Thúy 1: Saigon ơi! Vĩnh biệt đánh dấu một biến chuyển mấu chốt trong lĩnh vực tân nhạc di tản và sản xuất băng nhạc tại hải ngoại.

Ở Âu châu tại Paris, phải đợi tới tháng 9,1976 mới thấy sự bùng nổ của chương trình nhạc hội qua sự cố gắng của Lê Lai (đài VOA) từ Hoa Thịnh Ðốn sang Paris để tổ chức 4 buổi trình diễn tân nhạc, dân ca và ngâm thơ với Khánh Ly, Hoàng Oanh và sự cộng tác của nhạc sĩ Trần Quang Hải . Sự thành công của chương trình thi ca nhạc di tản đầu tiên đã khơi mào cho chương trình thi ca vũ nhạc kịch của đoàn Hoàng Thi Thơ từ Mỹ sang Pháp và Thụy Sĩ trình diễn vào cuối tháng 10, 1976.

Các trung tâm băng nhạc lần lần xuất hiện ở Mỹ và Pháp. Từ 1988 bắt đầu chuyển mình sang phong trào làm dĩa laser. Cả chục nghìn dĩa CD đã được tung ra trên thị trường băng nhạc Việt Nam từ 1987. Nhạc sĩ Phạm Duy là người đầu tiên đưa nhạc Việt vào dĩa CD do Phạm Duy Cường soạn hòa âm và sản xuất với tựa đề “Nhạc Tình Phạm Duy” vào cuối năm 1987. Vào đầu tháng 2, 1988, tại Paris, nhà sản xuất dĩa hát Pháp Playasound đã tung ra thị trường quốc tế dĩa laser đầu tiên về nhạc cổ truyền Việt Nam với Trần Quang Hải và Bạch Yến qua dĩa “Rêves et Réalités/Trần Quang Hải et Bạch Yến” (Giấc Mơ và Sự Thật).

Băng vidéo trở thành một món ăn tinh thần cần thiết cho cộng đồng người Việt hải ngoại. Trung tâm Thúy Nga trở nên một nơi phát hành các chương trình ca nhạc hay nhất từ 1989 trở đi với sự tuyển chọn ca sĩ, phối hợp vơí kỹ thuật thu hình do một cơ quan chuyên nghiệp Pháp đảm nhận. Phong trào Karaoke lan tràn vào giới nhạc Việt từ 1990.

1. Nhạc tranh đấu và kháng chiến

Sau ba năm im hơi 1975-1978), sống ẩn dật tại Miami (Florida) bên Mỹ trong khi chờ đợi các con (ban nhạc The Dreamers) còn kẹt lại ở Saigon (sau đó toàn ban nhạc The Dreamers đã được sang Mỹ và hiện định cư tại Midway City, California), trong khi ca sĩ Duy Quang đã nhờ Julie Quang (bây giờ chỉ mang tên Julie thôi sau khi chia tay với Duy Quang) để sang Pháp vào cuối năm 1978, Phạm Duy, người sáng tác nhạc nhiều nhất ở Việt Nam, lại xuất hiện lộ diện qua quyển nhạc “Hát Trên Ðường Tạm Dung” (1978). Bản “Tôi Ði Trên Ðường Tạm Dung” và bản “Nguyên Vẹn Hình Hài” của Phạm Duy đã là ngọn đuốc đốt cháy tạo nguồn hứng sáng tác cho một số nhạc sĩ trẻ để tung ra những nhạc phẩm tả nỗi uất ức oán hờn căm thù đi liền với phong trào phục quốc kháng chiến cùng lúc với sự xuất hiện của Võ Ðại Tôn và Hoàng Cơ Minh. Nguyệt Ánh , một hiện tượng mới trong làng tân nhạc từ 1980 bắt đầu sáng tác nhiều nhạc phẩm phục quốc qua những cuốn băng như “Em nhớ màu cờ”, “Dưới Cờ Phục Quốc”, vv… Tên Nguyệt Ánh đi liền với giai đoạn phục quốc, kháng chiến.

Việt Dzũng, một nhạc sĩ trẻ, hăng say kháng chiến, nói lên tiếng nói căm hờn qua các bản nhạc đầy ý chí trong hai cuốn băng “Lưu Vong Khúc” và “Kinh Tỵ Nạn” (1981). Trần Quang Hải và Bạch Yến đã sáng tác một số nhạc phẩm đấu tranh , điển hình nhất là “Thương Nhớ Quê Hương” (1978), “Cầu Mong Cho Mau Hòa Bình” (1978), và “Em Về Giữ Lửa” ( phổ thơ của Minh Ðức Hoài Trinh, 1978) Chí nguyện đoàn hải ngoại phục quốc Việt Nam, với mục đích yểm trợ “chiến dịch người về” đã xuất bản hai cuốn băng “Hát Cho Những Người Về ” (1981), và”Rực Lửa Trời Ðông” (1983) gồm những ca khúc nung nấu tinh thần kháng chiến ở hải ngoại và quốc nội. Nhiều chủ đề được tung ra qua một số băng nhạc sản xuất từ 1976-80 như “Tháng Tư Buồn”, “Sài Gòn Vĩnh Biệt Tình Ta”, “Ngày Quốc Hận 30 tháng 4, 75”, “Người Di Tản Buồn”, “Hát Cho Người Tìm Tự Do”, “Quê Hương Bỏ Lại”, vv…

2. Nhạc tả lại cảnh lao tù Việt Nam

Năm 1981, Phạm Duy sáng tác 20 bài lấy tựa là “Ngục Ca” qua lời thơ của ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện trong tập thơ “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực”. Hà Thúc Sinh sáng tác trong thời gian học tập cải tạo ở Việt Nam . Sau khi vượt biển , được định cư tại Mỹ, đã xuất bản tập nhạc “Tiếng Hát Tủi Nhục” (1982). Châu Ðình An, một nhạc sĩ trẻ , đã đóng góp qua tập nhạc “Những Lời Ca Thép ” (1982). Phạm Duy, Lê Uyên Phương, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Nguyễn Ðức Quang ở Mỹ, Nguyễn Hữu Nghĩa, Phan Ni Tấn, Vy Hùng ở Canada, Trần Quang Hải, Duyên Anh, Ngô Càn Chiếu ở Pháp, Nguyễn Quyết Thắng ở Hòa Lan, Nguyễn Ðình Ngoạn ở Ðức, Phạm Quang Ngọc, Cung Ðàn Nguyễn Sỹ Nam, Hoàng Ngọc Tuấn ở Úc châu đã viết nhiều bài ca tranh đấu cũng như những ca khúc phù hợp với phong trào phục quốc.

3. Sự phục sinh của nhạc tiền chiến

Từ năm 1982 trở đi, hiện tượng phục sinh nhạc tiền chiến được phát triển rộng rãi. Những ca sĩ đua nhau sản xuất băng nhạc hát lại những bài hát tiền chiến hay những bài trước 1975. Bạch Yến, Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Kim Anh, Minh Hiếu, Thanh Tuyền, Hương Lan, Julie, Huyền Châu, Bích Thuận, Phương Dung, Kim Loan, Duy Quang, Elvis Phương, Thanh Mai, vv…. trong những năm 1983-85 đã phát hành trên 100 cuốn băng nhạc làm sống lại những bài ca tiền chiến như để gợi lại biết bao kỷ niệm của thời quá khứ. Chủ đề phục quốc, kháng chiến nhường bước cho chủ đề tình yêu và kỷ niệm quê hương sau 10 năm lưu vong. Một số nhạc sĩ như Lam Phương, Ðức Huy, Phan Kiên, Duy Quang, Ngô Minh Khánh, Trần Quang Hải, Duyên Anh trong khoảng thời gian 1982-85 đã sáng tác rất nhiêù nhạc phẩm ca ngợi tình yêu đôi lứa. “Yêu Em Dài Lâu” (Ðức Huy), “Ru Ðơì Phù Ảo” (Duyên Anh, 1984), “Anh Cần Em” (Trần Quang Hải -Lương Ngọc Châu, 1982). Giai đoạn này đánh dấu một chiều hướng mới trong làng nhạc Việt với sự viết lời ngoại quốc (Pháp và Anh) trên nhạc Việt do nhạc sĩ Trần Quang Hải đề xướng và mang nhạc Việt do nhạc sĩ Việt sáng tác vào thị trường quốc tế.

1. Hưng Ca, nhạc trẻ, nhạc song ngữ

Phong trào phổ thơ được bành trướng, cũng như sự tái sinh phong trào du ca vơí Nguyễn Ðức Quang, Nguyễn Hữu Nghĩa và Phan Ni Tấn. Nguyễn Quyết Thắng ở Hòa Lan đã đẩy mạnh phong trào du ca với sự thực hiện một trang nhà Du Ca với đầy đủ hình ảnh các sáng lập viên, bài hát và sinh hoạt ở hải ngoại. (http://home.wanadoo.nl/duca)

Phong trào Hưng Ca gồm các nhạc sĩ Nguyễn Hữu Nghĩa, Hà Thúc Sinh, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Châu Đình An, Huỳnh Công Ánh, Trần Lãng Minh, Phan Ni Tấn, Khúc Lan, được chánh thức ra đời tại San Jose vào ngày 7 tháng 9, năm 1985 với tôn chỉ là dùng văn nghệ sân khấu và thanh niên để giữ vững niềm tin cách mạng dân tộc chống chủ nghĩa và bạo quyền cộng sản. Hai tập nhạc được phát hành: “Hưng Ca 1: Lên Ðường “(1985), và “Hưng Ca 2: Hẹn Em Sài Gòn” (1986).

Vấn đề thích nhạc ngoại quốc đã có từ thập niên 60 tại Việt Nam. Ba mươi năm trôi qua ở hải ngoại, giờ đây phong trào thích nhạc ngoại quốc (giống loại nhạc trẻ thời thập niên 70 ở Saigon) lại bành trướng mạnh và được giới trẻ lớn lên ở hải ngoại hưởng ứng nồng nhiệt. Từ chỗ ưa thích nhạc ngoại quốc đã tạo ra phong trào xuất bản nhạc khiêu vũ và sự phát hiện nhiều vũ trường ở các nơi có đông người Việt sinh sống. Một số mầm non ca sĩ trẻ như Linda Trang Ðài, Cinda Thúy, Sơn Tuyền, Thúy Vi, Thái Hiền, Phương Thúy, Lucia Kim Chi, Tryzzie Phương Trinh, Tuệ Châu, Tuấn Anh ở Mỹ, Ngọc Huệ (sang định cư ở Mỹ từ năm 1991), Bảo Khánh, Quỳnh Lân ở Úc châu cùng với Công Thành và Lynn (sang định cư ở Hoa kỳ từ năm 1987). Về sau có Don Hồ (nổi tiếng nhứt trong năm 1992), Dalena (nữ ca sĩ Mỹ chuyên hát tiếng Việt, nổi tiếng nhứt trong hai năm 1991 và 1992),Trịnh Nam Sơn, Thái Tài, Ý Nhi, Ý Lan, Sher’e Thu Thủy, Phi Khanh, Như Mai, Kenny, Mỹ Huyền, Ngọc Bích, Thanh Hà, Quỳnh Như, Mạnh Ðình, Phi Nhung, Thanh Trúc, vv… mang lại cho nền nhạc trẻ một luồng gió mới và tạo nhiều sống động.

Từ chỗ ưa thích nhạc ngoại quốc đi tới nhạc song ngữ rất gần. Một số nhạc sĩ Việt như Phạm Duy, gần đây hơn có Khúc Lan, Ngọc Huệ, tất cả đều ở Mỹ và dịch lời ca Mỹ và Pháp ra bằng tiếng Việt và các ca sĩ trẻ hát nửa Việt nửa Anh hay Pháp và tạo thành một phong trào nhạc song ngữ từ năm 1987 trở đi. Trong thơì gian 10 năm chót của thế kỷ 20, Phạm Duy đã phổ nhạc thơ Hoàng Cầm, phát hành quyển “Ngàn Lời Ca” (1987). Năm 1991, Phạm Duy thực hiện một loạt ca khúc “Bầy Chim Lìa Xứ”, và phần giao hưởng cho “Con Ðường Cái Quan”. Sau cùng ông soạn nhạc phổ thơ “Truyện Kiều” và sẽ hoàn thành trong một thời gian gần đây. Trong vài năm chót đây (từ 1988), một số ca sĩ tân nhạc sống dưới chế độ cộng sản đã thoát ra hải ngoại và xin tỵ nạn như Họa Mi ( Pháp, 1988), Ái Vân (Ðức, 1990, và sau đó định cư tại Hoa Kỳ), Anh Khoa (Hung Gia Lợi, 1988), Thái Châu (Gia nã đại, 1990), Bích Liên (Ðức, 1992), Duy Khánh (Hoa Kỳ, 1991), Duy Trác (Hoa Kỳ, 1992), Nhật Trường (Hoa Kỳ, 1993) đã mang lại cho nhạc Việt ở hải ngoại một luồng gió mới, nhứt là trong ngành phát hành băng nhạc và băng vidéo.

Một số nữ nhạc sĩ nổi danh ở hải ngoại qua nhiều sáng tác như Nguyệt Ánh, Khúc Lan, Linh Phương, Lê Tín Hương, mdtt ở Hoa kỳ, Bảo Trâm ở Canada, Trang Thanh Trúc, Mộng Trang ở Pháp, Bích Hà, Quách Nam Dung ở Úc châu. Nhạc sĩ Vô Thường (từ trần năm 2003 tại Hoa kỳ) tạo một chỗ đứng riêng biệt với tiếng đàn Tây ban cầm tay trái qua hàng trăm CD tự xuất bản tại Hoa Kỳ. Các nhạc sĩ nghiệp dư như bác sĩ Phạm Anh Dũng (Hoa Kỳ), bác sĩ Nguyên Bích (Hoa Kỳ), giáo sư tiến sĩ Phạm Quang Tuấn (Úc châu) có viết nhạc, và nhiều hội viên của hai hội Nhạc Việt (nhacviet@yahoo.com ) và Em Ca Hát (emcahat@yahoo.com), cũng như nhạc sĩ Võ Tá Hân đã phổ nhạc cho trên 200 bài thơ và thực hiện trên 22 CD với toàn nhạc của anh. Nhạc thiền đạo được phát triển từ năm 1996 vơí hai hiện tượng đáng kể: thiền sư Lương Sĩ Hằng và Vô Thượng Sư Thanh Hải và một số nhạc phổ thơ của hai vị này.

Nhạc cận đại Việt Nam theo chiều hướng Tây phương cũng được phát triển trong giới nhạc Việt. Nhạc sĩ Nguyễn Mạnh Cường chưa đầy 30 tuổi khi sáng tác bài «Phụng Vũ» đã đoạt giải thưởng ở đại hội quốc tế âm nhạc gia trẻ Á châu và Thái Bình Dương tại Wellington (Tân Tây Lan) năm 1984. Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn rời Việt Nam năm 1983 định cư tại Úc châu đã học dân tộc nhạc học và hiện giảng dạy nhạc đương đại tại trường đại học University of New South Wales và mỹ học tại University of Sydney.. Tác giả của nhiều nhạc phẩm đương đại phối hợp nhạc ngữ Việt, Á và Úc , Âu qua nhiều dĩa CD xuất bản tại Úc. Nhạc sĩ Lê Tuấn Hùng (sinh năm 1962 đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học tại trường đại học Monash University (Melbourne, Úc châu) và chú trọng nhiều tới sáng tác nhạc đương đại giữ nhạc Việt và nhạc Tây phương cùng với sự cộng tác của vợ là nữ nhạc sĩ Đặng Kim Hiền (huy chương vàng đàn tranh và dân ca ở Việt Nam trước khi sang định cư tại Úc năm 1990) với nhiều dĩa CD phát hành tại Úc .

Tại Hoa Kỳ, nhạc sĩ Cung Tiến (sinh năm 1938) tiếp tục sáng tác nhạc đương đại. Nhạc tấu khúc “Chinh phụ ngâm” (1987), soạn cho 21 nhạc khí, đã được trình diễn lần đầu vào ngày 27 tháng 3, 1988 tại San Jose với dàn nhạc thính phòng San Jose, đã được giải thưởng Văn Học nghệ thuật quốc khánh 1988. Hội viên của hội nhạc sĩ sáng tác ở Minneapolis (Minnesota, Hoa Kỳ), Cung Tiến đã trình làng một sáng tác nhạc đương đại «Lơ thơ tơ liễu buông mành» dựa trên một điệu dân ca Quan họ (2003). Nhạc sĩ Phan Quang Phục (sinh năm 1962) sang Hoa Kỳ năm 1982, đậu tiến sĩ âm nhạc tại trường đại học Michigan (Hoa kỳ), dạy sáng tác tại trường đại học Cleveland State University (1993-1996) và sau đó tại trường đại học University of Illinois. Được giải thưởng Prix de Rome năm 1997, một giải thưởng cao quý nhứt trong lĩnh vực âm nhạc. Phan Quang Phục, được xem như là một trong 6 nhạc sĩ trẻ giỏi nhứt xứ Mỹ về nhạc đương đại, đã sáng tác rất nhiều và các nhạc phẩm được trình diễn khắp năm châu.

Xứ Pháp đã đào tạo một số nhạc sĩ Việt Nam có một chỗ đứng quan trọng trong làng nhạc hiện đại. Nguyễn Văn Tường (1929-1996), người Việt đầu tiên học nhạc điện thanh (musique électro-acoustique) đã viết những nhạc phẩm phối hợp hai tư tưởng Âu Á như bài «Cộng Tồn» (1968) (Co-existence), «Về Nguồn» (1975) sử dụng máy móc điện tử và nhạc cổ truyền Việt Nam. Nguyễn Thiên Đạo (sinh năm 1939), học trò Việt duy nhứt của nhạc sư Olivier Messiaen đã sử dụng nhạc ngữ cận đại tây phương trong một số nhạc phẩm như «Thành Đồng Tổ Quốc», «Khóc Tố Như», vở kịch opéra «Mỵ Châu Trọng Thủy». Tôn Thất Tiết (sinh năm 1933) học nhạc ở Pháp từ năm 1958 và khởi sự sáng tác năm 1964. Ông đã sáng tác trên 50 nhạc phẩm đa số mang tên Việt như «Tứ đại cảnh» (1968), «Hy Vọng» (1971), «Ngũ Hành» (1973), «Chu Kỳ 1 tới 5» (1976-1983, «Kiếm Ai» (1978), «Tranh» (1980). Ông nhận rất nhiều giải thưởng quốc tế, và ông viết nhạc phim cho những phim «Mùi Đu Đủ Xanh», «Xích Lô» của nhà đạo diễn trẻ tuổi Trần Anh Hùng. Trương Tăng (1936-1989) học nhạc ở nhiều trường nhạc tại Paris, sáng tác nhiều nhạc phẩm như «Fujiyama» (thơ giao hưởng), «Dạ Hương» (kịch hát dựa trên một truyện cổ tích Việt Nam), «Mẹ». Anh đã sáng tác nhiều tiểu khúc cho đàn tranh, đàn bầu. Được giải thưởng của ông hoàng Rainier của Monaco cho một giao hưởng khúc với 100 nhạc khí. Trương Tăng chuyển sang nhạc điện toán (musique assistée par ordinateur) và học tại trung tâm IRCAM, Paris. Trần Quang Hải đóng góp nhiều trong lĩnh vực nhạc đương đại. Cộng tác với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tường trong phần trình diễn đàn môi, đàn tranh, hát đồng song thanh và muỗng trong nhạc phẩm «Về Nguồn» (1975), cũng như đã cộng tác với Misha Lobko để hoàn thành bản «Shaman» (1982) trong đó nhạc jazz, điện tử, nhạc cổ truyền, nhạc tùy hứng đều được sử dụng. Trần Quang Hải đã trình bày nhạc phẩm «Trở Về Nguồn Cội» với đàn tranh và nhạc điện tử tại đại học nhạc Á châu ở tỉnh Etampes (Pháp) năm 1988. Sự khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh nghĩa là hát hai âm thanh khác nhau cùng một lúc từ trong cổ họng (chant diphonique/chant de gorge – overtone singing/throat singing) phát xuất từ Mông Cổ, Tuva đã giúp cho Trần Quang Hải từ năm 1974 sáng tác nhiều nhạc phẩm mới trong nhạc điện thanh (musique électro-acoustique), nhạc tùy hứng (musique improvisée – improvized music), nhạc thế giới (musique du monde – world music), nhạc thiền (musique méditative – music for meditation), nhạc điều trị học (musicothérapie– music therapy).

1. Nhạc tại Việt Nam sau 1975

Tân nhạc từ năm 1975 trở đi đã thay đổi đề tài. Nhạc đã xoay từ chiến tranh tới hòa bình, từ đất nước bị chia đôi tới thống nhất với một cuộc sống mới, từ nhạc bị gò ép trong lối viết nhạc Nga sô và Trung quốc tới sự giao lưu văn hóa phóng túng với thế giới. Trong vòng gần 30 năm (1975-2004) mức sản xuất ở Việt Nam đã tiến rất xa và rất mau.

Đất nước được thống nhất, đề tài xoay về phong cảnh đẹp của Việt Nam. Lính trong vai trò kiến thiết, trong hòa bình. Tình yêu đôi lứa được phát triển mạnh.

Trong xứ Việt Nam có hai chiều hướng về nhạc: nhạc nhẹ chú trọng về giải trí, hay nói một cách khác là tân nhạc , và nhạc nặng tức là loại nhạc giao hưởng, nhạc trình diễn trong khung cảnh của viện quốc gia âm nhạc viết cho kịch, vũ và điện ảnh.

* Nhạc nhẹ

Loại nhạc nhẹ dính liền với nhạc thời trang, nhạc trẻ khơi nguồn từ các nguồn nhạc dân gian, nhạc ngoại quốc kích động. Nó được phát hiện theo hai khuynh hướng.

1. Khuynh hướng dùng ngôn ngữ âm nhạc cổ điển Âu châu do nhạc sĩ Thanh Tùng (« Mưa Ngâu », « Giọt Nắng Bên Thềm ») đề xướng qua đề tài tình yêu . Có rất nhiều nhạc sĩ trẻ đi theo khuynh hướng này với những tìm tòi và sáng tạo khác nhau như Nguyễn Đình Bảng(« Cơn Mưa Em Bất Chợt »), Từ Huy (« Những Lời Em Hát »), Phú Quang (« Em Ơi, Hà Nội Phố »), Duy Thái, Nguyễn Ngọc Thiện (« Như Khúc Tình Ca »), Dương Thụ (« Tiếng Sóng Biển »), Đặng Hữu Phúc (« Ru Con Mùa Đông »), Phạm Trọng Cầu (« Tiếng Hát Cho Em »).

2. Khuynh hướng thứ nhì chuyên về âm nhạc dân tộc cổ truyền. Ban nhạc nhẹ của nhà hát Tuổi Trẻ do Đỗ Hồng Quân phụ trách đã đưa các nhạc khí dân tộc, cũng như cách phối âm phối khí, trình diễn, sáng tác theo chiều hướng nhạc dân gian. Các nhạc sĩ Nguyễn Cường« Đừng Sánh Em Với Mặt Trời », « Một Nét Ca Trù Mùa Xuân »), Trần Tiến (« Tùy Hứng Ngựa Ô », « Tiếng Trống Baranưng »), Phó Đức Phương (« Nha Trang Thu »), Trương Ngọc Ninh sáng tác theo chiều hướng này.

Nhạc tại Việt Nam sau 1975. Trong xứ Việt Nam có hai chiều hướng về nhạc: nhạc nhẹ chú trọng về giải trí, hay nói một cách khác là tân nhạc, và nhạc nặng tức là loại nhạc giao hưởng, nhạc trình diễn trong khung cảnh của viện quốc gia âm nhạc. Loại nhạc nhẹ dính liền với nhạc thời trang, nhạc trẻ khơi nguồn từ các nguồn nhạc dân gian, nhạc ngoại quốc kích động. Nó được phát hiện theo hai khuynh hướng:

1. Khuynh hướng dùng ngôn ngữ âm nhạc cổ điển Âu châu do nhạc sĩ Thanh Tùng đề xướng qua đề tài tình yêu. Có rất nhiều nhạc sĩ trẻ đi theo khuynh hướng này với những tìm tòi và sáng tạo khác nhau như Nguyễn Ðình Bảng, Từ Huy, Phú Quang, Duy Thái, Nguyễn Ngọc Thiện, Dương Thụ.

2. Khuynh hướng thứ nhì chuyên về âm nhạc dân tộc cổ truyền. Ban nhạc nhẹ của nhà hát Tuổi Trẻ do Ðỗ Hồng Quân phụ trách đã đưa các nhạc khí dân tộc, cũng như cách phối âm phối khí, trình diễn, sáng tác theo chiều hướng nhạc dân gian. Các nhạc sĩ Nguyễn Cường, Trần Tiến, Phó Ðức Phương, Trương Ngọc Ninh sáng tác theo chiều hướng này.

Một số nhạc sĩ thuộc thế hệ trước như Hoàng Vân, Huy Du, Xuân Hồng, Hoàng Hiệp, Phan Huỳnh Điểu, Nguyền Đức Toàn, Phạm Tuyên, Tân Huyền, Hồng Đăng, Văn Ký, Vũ Thanh, Nguyễn Văn Tý cũng sáng tác những nhạc phẩm được phổ biến rộng rãi trong quần chúng .

Ca khúc quần chúng gồm có mọi thể loại: hành khúc (« Khúc Quân Hành Trên Bán Đảo » của Cát Vận, « Hành Quân Lên Tây Bắc » của An Thuyên ; trữ tình (« Dáng Đứng Bến Tre » của Nguyễn Văn Tý, «Điệp Khúc Tình Yêu» của Trần Tiến, « Em Ơi , Hà Nội Phố » của Phú Quang phổ thơ Phan Vũ .

Nhóm «Những Người Bạn» gồm 8 nhạc sĩ: Trịnh Công Sơn (từ trần năm 2001), Trần Long Ẩn, Tôn Thất Lập, Từ Huy, Nguyễn Ngọc Thiện, Thanh Tùng, Nguyễn Văn Hiên, và Vũ Hoàng được chào đời tại Sài Gòn vào ngày 8 tháng 3, năm 1992 sau khi Trịnh Công Sơn sang Pháp gặp nhóm nghệ sĩ phố (artists on the road/artists de rue). Tên «Những Người Bạn» do Trịnh Công Sơn đề nghị với mục đích là sáng tác và trình bày sáng tác mới cho bạn và công chúng nghe. Mỗi tháng, nhóm đều có họp và mỗi người phải giới thiệu ít nhất là một sáng tác mới của mình và nghe lời phê bình của an hem. Nhóm «Những Người Bạn» sẵn sàng đi giới thiệu những tác phẩm mới và làm thành băng nhạc, vidéo với sự phụ giúp của những ca sĩ nổi tiêng như Lệ Thu (sang định cư tại Pháp), Lê Tuấn, Ngọc Sơn, Thế Sơn, Thu Hà, Yến Linh. Trong buổi đầu tiên của nhóm này, Trịnh Công Sơn đã trình bày nhạc phẩm mới nhứt tên là «Con Mắt Còn Lại» (ý thơ Bùi Giáng). Thanh Tùng viết một ca khúc «Lối Cũ Ta Về» trong hoài niệm về người vợ đã mất. Trần Long Ẩn viết tặng mẹ. Hiện tượng này xảy ra vì các ca khúc mới sau 1975 không còn người nghe. Dân chúng ưa nhạc «sến», nhạc «vàng» hay nhạc trướ 75. Các ca khúc trữ tình trước 75 xua đuổi các loại nhạc đấu tranh ca tụng Bác và Đảng, và luôn cả nhạc mới sau 75.

Từ năm 1990 trở đi, phong trào tổ chứ hát vinh danh các nhạc sĩ lão thành như Nguyễn Văn Thương, Lê Thương, Hoàng Giác, Tô Vũ, Nguyễn Văn Tý hay các nhạc sĩ trẻ hơn như Trịnh Công Sơn được tổ chức tại Hà Nội và Sài Gòn và những ca khúc tiền chiến được hát trở lại.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã chuyển hướng sáng tác qua nhạc trẻ em (nhạc đồng dao) được nhiều thành công qua hàng trăm ca khúc mới. Một số nhạc sĩ trẻ như Phú Quang, Thanh Tùng, Trần Tiến, Nguyễn Cường, Phạm Minh Tuấn, Tôn Thất Lập, Thế Hiền, Nguyễn Văn Hiên, Dương Thụ, Từ Huy, Ngọc Đại, vv… viết nhiều bài nhạc mới rất được ưa chuộng. Đề tài mới hướng về tình yêu chứ không còn ca tụng Đảng nữa.

Nhiều nhạc sĩ trẻ tiếp nối các nhạc sĩ đàn anh tạo một thế hệ mới trong địa hạt sáng tác. Có thể kể Nguyễn Hiệp (1947), Thế Hải (1947), Văn Thành Nho (1949), Nguyễn Phú Quang (1949), Trần Quang Lộc (1949), Vũ Ngọc Giao (1951), Linh Giang, Trần Thiết Hùng (1951, Quang Minh (1953), Quang Lộc (1954), Châu Đăng Khoa (1955), Vũ Hoàng (1956), Võ Công Ánh (1957), Nguyễn Hải (1958), Trương Ngọc Ánh (1959).

Các ca sĩ trẻ nổi tiếng hiện nay càng ngày càng nhiều như Lê Dung (từ trần năm 2001), Ánh Tuyết, Thanh Lam, Hồng Nhung, Hồng Hạnh, Cẩm Vân, Cẩm Ly, Phương Thanh, Lam Trường, Đan Trường, Quang Linh, Bảo Yến, Khắc Dũng, Thanh Long, Mỹ Linh, Tam Ca Áo Trắng, Bằng Kiều (sang định cư ở Hoa Kỳ, thành hôn với nữ ca sĩ Trizzy Phương Trinh), Trang Nhung, Hồ Lệ Thu, Nguyên Vũ, Hiền Thục, Trần Thu Hà (định cư tại Hoa kỳ), Tạ Minh Tâm, Quang Thọ… Nhạc trẻ, nhạc ngoại quốc thuộc đủ loại pop, hip hop, house, rave, rap, jazz, thịnh hành trở lại với nhiều tụ điểm hát ngoài trời rộng lớn tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ)

Năm 2002 đánh dấu sự phát hiện hai nhạc sĩ trẻ Quốc An và Nguyễn Nhất Huy với bản nhạc «Hát Với Dòng Sông». Một nhạc sĩ trẻ khác Tiến Luân chuyên về nhạc có âm hưởng dân tộc nổi lên với bài «Quê Em Mùa Nước Lũ». Nhạc sĩ Quang Đạt (sinh năm 1976), giảng viên Nhạc Viện TPHCM và trường âm nhạc Yamaha và là người soạn hòa âm cho rất nhiều ca khúc thịnh hành nhất trong năm 2002 như «Cây Đàn Sinh Viên», «Hát Với Dòng Sông», «Hát Cho Người Ở Lại», «Tình Phiêu Lãng», «Lời Mẹ Ru». Các ca sĩ thuộc thế hệ thế kỷ 21 như Mỹ Tâm, Nguyễn Phi Hùng, Thanh Thảo, nhóm MTV, Minh Quân, Nhóm Ty My Ty, Việt Quang, Ưng Hoàng Phúc, Lâm Chí Khanh, Ngô Thành Vân, Mỹ Lệ, vv….

Thị trường băng dĩa, CD, VCD và ngay cả DVD bành trướng mạnh mẽ từ năm 2000. Hàng chục đại hội liên hoan tân nhạc được đài truyền hình , đài phát thanh, báo chí tổ chức khắp nơi trên toàn xứ tạo cơ hội cho những ca sĩ trẻ có điều kiện thăng tiến. Hội nhạc sĩ Việt Nam thành lập năm 1957 đã quy tụ hàng trăm nhạc sĩ và trở thành hội viên của hiệp hội các nhà soạn nhạc Châu Á (ACL – Asian Composers League) từ năm 2000. Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam được thành lập vào năm 2002 bảo vệ những nhạc phẩm Việt Nam ở Việt Nam và ngoại quốc.

Từ năm 2001, một số ca sĩ trẻ trong nước chạy ra xứ ngoài (Trần Thu Hà, Bằng Kiều qua hôn nhân, Thu Phương, MC Huy, Bảo Yến, Nhã Phương), một số ca sĩ bị mắc bịnh « siêu sao », đa số chạy theo kiểu hát nhép (tạo nên những « búp bê biết hát »), fan ảo (phát sinh fan club), hát nhạc chưa được phép, một số ca sĩ tranh nhau ca khúc mua độc quyền, làm xáo trộn đời sống âm nhạc trẻ ở Việt Nam.

Một số nhạc sĩ tìm lợi tức thương mại qua việc đặt lời Việt cho nhạc ngoại, chìm đắm trong nhạc lai, nhạc nhái, đạo nhạc (chấn động nhất trong năm 2004 với hai nhạc sĩ Bảo Chấn và Quốc Bảo), đạo thơ.

Việc viết lời Việt trên nhạc ngoại không phải là chuyện mới mẻ. Trước đó đã có các bản «Đồng Xanh» (từ «Greenfield»), «Cha Yêu» (từ «Papa»), và rất nhiều ca khúc song ngữ được lưu hành ở miền Nam trước 75. Vấn đề chuyển ngữ bị lạm phát vì yếu tố thương mại. Những ca khúc thời trang của Tây phương hay Á châu được chuyển ngữ một cách hấp tấp, vội vàng, đôi khi trở nên ngây ngô, ngớ ngẩn, không còn ý nghĩa nguyên bản như trong ca khúc «Yêu Nhau Đi» (từ «Tragedy»), «Ôi Tình Yêu», «Mắt Bồ Câu» (từ nhạc Thái)

Những bài hát nổi tiếng của các «diva» lừng danh thế giới như Whitney Houston, Celine Dion, Mariah Carey, Toni Braxton đã được các ca sĩ Việt Nam chọn và bắt chước sao cho thật giống nguyên bản, tạo thành một phong trào nhạc nhái. Điển hình nhất là nữ ca sĩ Hồng Nhung với «Everything I Do», «Beauty and Beast» (do Brandy hát nguyên bản), Thanh Lam với «Unbreak My Heart», «I Will Always Love You» (do Toni Braxton hát), Hồng Hạnh nổi tiếng với bài «I Wanna Dance With Somebody» (do Whitney Houston trình bày).

Sự ra đời của chương trình Làn Sóng Xanh (LSX) của đài Tiếng Nói Nhân Dân TPHCM, chương trình VTV Bài Hát Tôi Yêu và Mai Vàng cho thấy những bản nhạc ngoại đa số đứng đầu bảng xếp hạng ca khúc được yêu thích nhứt. Vì lý do đó, các ca sĩ đua nhau hát nhạc ngoại để có tên trên danh sách ca khúc của ba chương trình kể trên. Ca khúc thuần túy Việt Nam hay có âm hưởng dân ca dần dần bị chìm trong quên lãng và không được giới trẻ để ý tới. Hiện tượng «nhạc sĩ thị trường» được chào đời để đáp ứng thị hiếu quần chúng trẻ.

Hiện tượng trong làng nhạc trẻ ở Việt Nam từ năm 2003 là «liveshow» đã đưa nữ ca sĩ Mỹ Tâm lên hàng đầu các ca sĩ nổi tiếng trong năm 2003 và 2004.

Năm 2004, nhạc ngoại lời Việt chiếm 30% số ca khúc phổ biến trong băng dĩa nhạc theo thống kê của phòng ca múa nhạc sở VHTT TPHCM. Trên sân khấu biểu diễn, số ca khúc nhạc ngoại lời Viẹt chiếm gần 50 %. Những quyết định, kiểm điểm, phê bính, trừng phạt được đưa ra qua các quyết định mới trong quy chế 47 về tổ chức biểu diễn để mong mang lại trật tữ và tạo điều kiện cho việc hồi sinh nhạc trẻ thuần túy Việt Nam

Nhạc Jazz được nhập vào thị trường nhạc Việt từ khi Việt Nam mở cửa và chấp nhận «đổi mới» (perestroika) vào cuối thập niên 80. Nhạc sĩ kèn saxophone Quyên Văn Minh đã gây dựng phong trào nghe nhạc Jazz từ đầu thập niên 90 với sự thành lập Hanoi Jazz Club. Tại Sài Gòn (TPHCM bây giờ) có một số quán có nhạc Jazz như Dragon Bar, Yoko Cafe, Bob Jazz va Wild Horse. Qua 4 liên hoan nhạc Jazz Châu Âu từ năm 2001, không khí thích nhạc Jazz được bừng sôi trong giới yêu nhạc jazz còn trong giai đoạn phôi thai tại Việt Nam, nhưng hy vọng sẽ được phát triển mạnh trong tương lai.

Nhạc thiếu nhi

Từ năm 1976, sau khi Việt Nam được thống nhất, ca khúc thiếu nhi được sáng tác mạnh hơn với sự đóng góp của nhiều nhạc sĩ đàn anh như Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước, Phong Nhã (« Bài Ca Sum Hợp »), Phan Huỳnh Điểu (« Ngày Vui Mới »), Phạm Tuyên (« Hát Dưới Trời Thu Hà Nội », tập nhạc thiếu nhi « Chú Voi Con Ở Bản Đôn »), Hoàng Vân, Hồ Bắc, Xuân Giao (« Giấc Mơ Em Bé »), Hoàng Hà (« Chú Bộ Đội ») , Hoàng Long ( « Từ Rừng Xanh Cháu Về Thăm Lăng Bác » sáng tác chung với Hoàng Lân), Hoàng Hà ( « Con Mèo Ra Bờ Sông »), Vũ Thanh (« Em Đi Trong Tươi Xanh »), Huy Trân (« Bầu Trời Này, Mặt Đất Này » thơ Diệp Minh Tuyên ), Minh Châu (« Dàn Đồng Ca Mùa Hạ »), Hàn Ngọc Bích (« Mùa Xuân Và Tuổi Hoa »), vv… Các nhạc sĩ trẻ của thế hệ đang lên như Cao Minh Khanh (« Mùa Xuân Và Tình Bạn »), Trần Ngọc (« Em Như Chim Câu Trắng »), Đỗ Trí Dũng (« Các Đám Mây Sẽ Kể »), Vũ Trọng Tường (« Mùa Thu Ngày Khai Trường »), vv… cũng như các nhạc sĩ nổi tiếng như Trịnh Công Sơn (« Em Là Hoa Hồng Nhỏ »), Phạm Trọng Cầu (« Nhịp Cầu Tre »), Trương Quang Lục ( « Màu Mực Tím »), Nguyễn Văn Hiên (« Thêm Một Tuổi Hồng »), Nguyễn Ngọc Thiện ( « Cô Bé Dỗi Hờn »), Phạm Đăng Khương (« Con Đường Đến Trường »), Vũ Hoàng (« Hoa Điểm 10 »), vv…viết nhiều bài hát cho trẻ em . Nhiều trung tâm văn hóa thiếu nhi Hà Nội, TPHCM, Quảng Nam, Đà Nẵng , Cần Thơ tạo điều kiện cho trẻ em hát với nhau. Đại hội liên hoan nhạc trẻ em được tổ chức hàng năm khắp nơi . Cuộc hội thảo « Âm nhạc thiếu nhi » do ban âm nhạc thiếu nhi – hội nhạc sĩ Việt Nam tổ chức năm 1985 đánh dấu sự lưu ý của giới nhạc sĩ đối với giới trẻ em. Băng nhạc cassette audio và video, hay băng karaoke giúp cho trẻ em thích hát nhạc của lứa tuổi của chúng.

Nhạc mới cho nhạc khí cổ truyền

Sau 1975, phong trào cải tiến nhạc khí cổ truyền và sáng tác bài bản mới lên tới cao độ. Những công trình cải tiến nhạc khí đáng được để ý như cải tiến đàn tính của dân tộc Tày, Thái, hệ thống mõ ống, mõ cá của Tạ Thâm, đàn trưng của Đỗ Lộc, Bá Phổ, sáo mèo của Lương Kim Vinh, sáo trúc của Đinh Thìn, đàn bầu của Phan Chí Thanh, Xuân Hoạch, k’ni của Quốc Hùng, dinh pah cũa Nay Knia Sơn, đàn tranh của Phương Bảo, Nguyễn Vĩnh Bảo. Ngoài ra, một số nhạc sĩ đã chế ra những cây đàn hoàn toàn mới như nhạc sĩ Phạm Lý (Tp. HCM) chế tạo mới bộ đàn lý gồm 4 cây. Nhạc sĩ Lê Thái Sơn (Hà Tây) với cây đàn p’rông (một dạng piano làm bằng tre, nứa). Những trường hợp này được xem như là sự sáng chế nhạc cụ.

Các nhạc phẩm được lưu truyền trong dân chúng gồm có: «Trở Về Tây Nguyên» (Đỗ Lộc) cho đàn trưng và dàn nhạc dân tộc, «Khát Vọng Ba Dan» (Nguyễn Cường) cho đàn đinh pah của dân tộc Ê Đê và dàn nhạc, «Thúy Kiều» (Văn Thắng) cho đàn tỳ bà và tốp nhạc dây (2 viôlông, 1 viôla, 1 xenlô), «Biển Quê Hương» (Trần Quý) cho đàn bầu và dàn nhạc giao hưởng, tổ khúc «Rừng Đêm Trăng» (Phú Quang) viết cho 5 loại sáo cải tiến píthiu, pípặp, sáo H’Mông, pítầmlay, pítốp) của một số sắc tộc Tây Bắc cùng dàn nhạc nhẹ Tây phương với trống mõ dân tộc. Nhạc cụ gõ rất được các nhạc sĩ dùng trong nhiều sáng tác đương đại như «Tiếng Pháo Giao Thừa» (Nguyễn Xuân Khoát), «Trống Cười Cưới Chồng» (Đỗ Nhuận), «Âm Vang Điện Biên» (Huy Thục).

Ca kịch, nhạc kịch, vũ kịch, nhạc điện ảnh

Những loại ca kịch (kịch hát mới – comédie musicale), và nhạc kịch (opéra) chỉ được phát triển thực sự từ 1985 trở đi. Vở kịch hát «Thạch Sanh Lý Thông» (Đức Minh) đã tạo thành công qua lần trình diễn đầu tiên năm 1985 tại Hải Phòng. Đề tài được lấy từ các truyện cổ tích như «Nàng Công Chúa Lên Rừng» (Văn Thành Nho), «Chuyện Tình Nàng Tiên Du» (Phó Đức Phương), hay đề tài trong đời sống hàng ngày như «Lửa Tình Trên Cát Trắng» (Vũ Ngọc Quang), «Yêu Trước Phật Đài» (Trọng Đài), hoặc liên hệ tới văn học xứ người như «Tình Yêu Và Danh Dự» (Vũ Ngọc Quang) dựa trên Le Cid của Pierre Corneille thuộc xứ Pháp.

Nhạc kịch (opéra) theo kiểu opéra tây phương phải kể đến hai vở tạo tiếng vang nhiều nhứt sau 1975. Đó là vở «Nguyễn Trãi» (Đỗ Nhuận) được trình diễn lần đầu nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, và vở «Tình Yêu Của Em» (Tiếng Hát Xanh) (Nguyễn Đình Tấn) diễn lần đầu năm 1981 nói lên số phận của một số người trong cuộc chiến tranh cách mạng dành lại độc lập, tự do cho Việt Nam.

Vũ kịch (ballet) là một loại hình đã có trước 1975, dựa trên các vũ điệu sắc tộc Việt Nam nhưng chưa có hoàn chỉnh. Tổ khúc thơ múa «Giai điệu Niềm Tin» (biên đạo múa: Đoàn Long, nhạc của Hoàng Việt với nhạc phẩm « Giao Hưởng số 1 ») và thơ múa «Hồ Gươm» với Hoàng Đình Quý biên đạo múa, và nhạc của Cao Việt Bách. Từ năm 1990 trở đi, vũ kịch tái sinh và nẩy nở khắp nơi. Vở kịch múa «Ngọc Trai Đỏ» (Ca Lê Thuần) được ra mắt tại nhà hát lớn TPHCM nhân dịp kỷ niệm 300 năm thành lập thành phố Sài Gòn. Đa số đề tài vũ kịch đều hướng về các sắc tộc ở Việt Nam như «Hành Trình Đến Cõi Then» (múa do Lê Khình, nhạc của Phó Đức Phương), «Sự Tích Chiếc Khèn Bè» múa do Đoàn Long, nhạc của Vũ Duy Cường), «Huyền Sử Chiêng Cồng» (múa do Đoàn Long, nhạc của Đặng Nguyễn), «Huyền Thoại Trường Sơn» (múa do Bằng Thịnh, nhạc của Ngô Quốc Tính.

Nhạc kịch nói chỉ là nhạc đệm, nhạc nền (musique de fond) cho vở kịch. Loại này ít được phát triển. Một số nhạc sĩ đã thử thách qua một số kịch nói . Chẳng hạn như «Âm Mưu Và Hậu Quả» (Đàm Linh), «Hẹn Ngày Trở Lại» (Trọng Bằng), «Quyền Được Hạnh Phúc» (Hoàng Vân), «Cuộc Gặp Gỡ Muộn Màng» (Doãn Nho), «Ăn Mày Hạnh Phúc» (Huy Thục), «Chị Nhàn» (Tô Hải), «Đứng Gác Dưới Đèn Nêông» (Trần Ngọc Xương), «Nguồn Sáng Trong Đời» (Phó Đức Phương), và những nhạc sĩ khác như Ca Lê Thuần, Quang Hải, Phú Quang, Phạm Minh Tuấn, An Thuyên, Ngô Quốc Tính, vv…

Nhạc điện ảnh còn ở trong tình trạng sơ khai trong giai đoạn chiến tranh (1954-75) với chủ đề chiến tranh, giải phóng đất nước. Nhạc phim chuyên về nhạc hùng. Cuốn phim đầu tiên có nhạc loại giao hưởng của Nguyễn Đình Phúc được soạn nghiêm túc là «Chung Một Dòng Sông». Sau đó có thêm nhạc sĩ khác như Hoàng Vân, Trọng Bằng, Hoàng Hiệp, Y Vân, Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn, Phạm Minh Tuấn, vv…

Nhạc sĩ Hồng Đăng viết cho trên 70 phim đủ loại «Kén Rể», «Hà Nội Mùa Chim Làm Tổ», «Đời Hát Trong», «Hạt Muối Của Biển», vv… Trọng Bằng, tốt nghiệp ở Nga Sô, viết nhạc loại giao hưởng cho các phim «Cù Chính Lan», «Hoàng Hoa Thám», «Ngôi Sao Tren Biển», vv… Đàm Linh tạo sự chú ý qua nhạc của phim «Trận Chiến Đấu Tiếp Diễn», «Đường Về Quê Mẹ», «Đứa Con Người Hàng Xóm», vv… với cách sử dụng nhạc khí Tây phương, hay hòa hợp Tây phương và Việt Nam. Hoàng Vân viết nhạc phim chuyên về nhạc giao hưởng cho cả trăm cuốn phim trong đó có phim được giải thưởng như «Con Chim Vành Khuyên», «Biển Gọi», «Em Bé Hà Nội». Đặng Hữu Phúc khởi sự viết nhạc cuốn phim «Anh Và Em» từ năm 1986 và liên tiếp nhiều phim khác như «Tướng Về Hưu», «Người Đàn Bà Bị Săn Đuổi», vv… Gần đây Đặng Hữu Phúc sử dụng máy vi tính để viết nhạc phim. Trọng Đài viết nhạc phim từ 1989 như «Canh Bạc», «Số Phận Của Một Tình Yêu», «Quạ Và Công» (phim hoạt họa). Đỗ Hồng Quân đã chiếm nhiều giải thưởng âm nhạc của liên hoan phim toàn quốc lần 8 (1987) với phim «Thằng Bờm», liên hoan phim toàn quốc lần 9 (1990) với phim «Đêm Hội Long Trì», liên hoan phim toàn quốc lần 10 (1993) với phim «Cờ Lau».

Nhạc Giao Hưởng

Trong thời gian 10 năm đầu (1975-1985) nhạc giao hưởng theo ngôn ngữ Tây phương cổ điển gặp khó khăn trong việc phổ biến. Nhưng sau đó, giới yêu nhạc cổ điển đông hơn, và nhiều nhạc phẩm được chào đời qua tài năng của các nhà soạn nhạc được huấn luyện tại Âm nhạc viện Hà Nội hay ở các âm nhạc viện Âu châu và Nga sô.

Đỗ Hồng Quân (« Chủ Đề Và Biến Tấu » cho dương cầm, « Rápxôđi Việt Nam »), Đặng Hữu Phúc (« Xô Nát Phúc Điệu » cho dương cầm), Nguyễn Văn Quý (« Xô Nát số 4 cho viôlông và pianô »), Nguyễn Cường (« Tứ tấu dây 94 »), Thụy Loan (« Khúc Trữ Tình » – Romance), Phúc Linh (« Ngẫu Hứng » cho ôboa, bátxông, và pianô), Xuân Tứ (« Bài Ca Chung Thủy ») mở màn cho những nhạc phẩm lớn theo chiều hướng nhạc cổ điển Tây phương đương đại .

Nhạc giao hưởng thu hút một số nhạc sĩ như Doãn Nho (thơ giao hưởng « Thánh Gióng »), Nguyễn Thị Nhung (thơ giao hưởng « Khát Vọng »), Trần Trọng Hùng ( « Giao hưởng cho đàn dây và gõ »), Đàm Linh (giao hưởng « Không Đề ») , Nguyễn Đình Bảng (balát giao hưởng « Thị Kính Thị Mầu »), Trọng Bằng (« Người Về Đem Tới Ngày Vui »), Trần Ngọc Xương (« Trăm Sông Đổ Về Biển Lớn »), Lê Khiêm Hoàn (tổ khúc giao hưởng « Hội Được Mùa »), Đặng Văn Bông (‘Mẹ Và Đất Nước », Trần Trọng Hùng (« Trở Về Với Điện Biên »).

Loại hình hòa tấu (concerto) cho nhạc cụ và dàn nhạc không thấy trong nhạc Việt Nam cho tới năm 1985. Một số nhạc phẩm dùng nhạc khí cổ truyền dân tộc cho phần độc tấu (Quang Hải với nhạc phẩm « Hòa Tấu Số 1 » chủ đề 1 cho đàn tranh và dàn nhạc « Quê Tôi Giải Phóng »). Điển hình là các nhạc sĩ Ca Lê Thuần (« Hòa Tấu Nhỏ Cho Pianô Và Dàn Nhạc ») Phạm Minh Tuấn (« Bất Khuất »), Trọng Đại (« Hòa Tấu Cho Dàn Nhạc »), Đỗ Hồng Quân (« Hòa Tấu Cho Viôlông Và Dàn Nhạc »). Chủ đề để sáng tạo nhạc giao hưởng, hòa tấu dựa trên làn điệu dân ca, thang âm điệu thức nhạc dân tộc. Trong sự phát triển các nhạc phẩm, đa số các nhà soạn nhạc chú tâm về các bè theo chiều ngang. Nhưng cũng có một vài nhà soạn nhạc trẻ như Vũ Nhật Tân (« Ký Ức ») tạo sự gặp gỡ các âm theo chiều dọc.

Giá trị âm nhạc Việt Nam trong giai đoạn lịch sử bi thảm, khó khăn mà chúng ta hiện nay đang trải qua, sẽ được chấp nhận, hay bị đào thải là do nơi sự cố gắng của mỗi cá nhân, mỗi nghệ sĩ. Khi chúng ta tự hào nhạc của tổ tiên và hãnh diện khi học hỏi cũng như lúc trình diễn, tìm đủ mọi cách để vun bồi, phát triển và truyền lại cho đám hậu sinh theo một đường lối tốt đẹp, phản ảnh dân tộc tính thì trong tương lai, nhạc Việt sẽ được nẩy nở ngày càng đẹp hơn, giàu hơn, phong phú hơn để tạo một chỗ đứng vững mạnh trong vườn nhạc Á châu. Chính dân tộc Việt Nam sẽ quyết định sự sống còn của nền âm nhạc Việt trong tương lai.

Sách tham khảo

ĐÀO Trọng Từ, 1979: «La Renaissance de la musique vietnamienne», Essais sur la musique viêtnamienne, Editions en langues étrangères: 146-221, Hanoi, Vietnam.

GIBBS, Jason, 1996: «Nhạc Tiền Chiến: The Origins of Vietnamese Popular Song», bài tham luận ở hội nghị của Society for Ethnomusicology, Northern Carolina, Hoa kỳ. (8 trang)

GIBBS, Jason, 1997: «Reform and Tradition in Early Vietnamese Popular Song», Nhạc Việt 6: 5-33, Kent, Ohio, Hoa Kỳ.

HOÀNG Hiệp, CA Lê Thuần, XUÂN Hồng, LƯU Hữu Phước, QUANG Hải, NGUYỄN Lang, PHAN Huỳnh Điểu, TRÍ Thanh, TRỊNH Công Sơn, TRẦN Trọng, ĐĂNG Đàn, TÔ Hải, 1986: Âm Nhạc ở thành phố Hồ Chí Minh, nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, 180 trang, TP HCM, Việt Nam.

HỒ Trường An, 1998: Theo Chân Những Tiếng Hát, 385 trang, tổ hợp xuất bản miền Đông, Arlington, Virginia, Hoa Kỳ.

HỒ Trường An, 2000: Theo Chân Những Tiếng Hát, 380 trang, tổ hợp xuất bản miền Đông, Arlington, Virginia, Hoa Kỳ.

LÊ Hoàng Anh, 2000: Trò Chuyện Với Nghệ Sĩ , nhà xuất bản Thanh Niên, 965 trang, TP HCM, Việt Nam.

LÊ Hoàng Long, 1996: Chuyện Tình Các Nhạc Sĩ Tiền Chiến, Văn Hóa Thông Tin (nxb), 202 trang, Hà Nội, Việt Nam.

PHẠM Duy, : Hồi ký 1: Thời Thơ Ấu, Vào Đời, 149 trang, Midway City, Calif. Hoa Kỳ

PHẠM Duy, : Hồi ký 2: Thời Cách Mạng Kháng Chiến, 128 trang, Midway City, Calif, Hoa kỳ

PHẠM Duy, : Hồi ký 3: Thời Phân Chia Quốc Cộng, 164 trang, Midmay City, Calif, Hoa Kỳ

PHẠM Duy, : Hồi ký 4: Thời Lưu Vong, 176 trang, Midway City, Calif, Hoa Kỳ

REYES, Adelaida, 1999: Songs of the Caged, Songs of the Frê/ Music and the Refugê Experience, Temple University Press (nxb), 218 trang, Philadelphia, Hoa Kỳ

TRẦN Cường, 1996: Âm Nhạc / Tác Giả Và Tác Phẩm, Giáo dục âm nhạc phổ thông, tập 1, Nhà xuất bản âm nhạc, 347 trang, Hà Nội, Việt Nam

TRẦN Quang Hải, 1987: “La Musique et les réfugiés », La Revue Musicale (nxb) 402-403-404 : 125-133, Paris, Pháp.

TRẦN Quang Hải, 1989 : Âm Nhạc Việt Nam Biên Khảo , Bắc Đẩu (nxb), 361 trang, Paris, Pháp.

TRẦN Quang Hải, 2001, 2002, 2003 : Tổng Kết Nhạc Việt Hải Ngoại, trang nhà http://www.vietnhac.org , Minneapolis, Minnesota, Hoa Kỳ

TRẦN Quang Hải, 2001: « Vietnamese Music in Exile since 1975 and Musical Life in Vietnam since Perestroika”, The World of Music 2-3: 103-112, University of Bamberg, Đức (có thể xem trang nhà http://www.honque.com , New Jersey, Hoa Kỳ hay http://www.vietnhac.org , Minneapolis, Hoa Kỳ)

TRƯỜNG Kỳ, 1995: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 1 , tác giả xuất bản, 300 trang, Montreal, Canada

TRƯỜNG Kỳ, 1997: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 2 , tác giả xuất bản, 320 trang, Montreal, Canada

TRƯỜNG Kỳ, 1999: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 3 , tác giả xuất bản, 367 trang, Montreal, Canada

TRƯỜNG Kỳ, 2000: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 4 , tác giả xuất bản, 368 trang, Montreal, Canada

TRƯỜNG Kỳ, 2001: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 5 , tác giả xuất bản, 378 trang, Montreal, Canada

TRƯỜNG Kỳ, 2002: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 6 , tác giả xuất bản, 384 trang, Montreal, Canada

TRƯỜNG Kỳ, 2002 : Một Thời Nhạc Trẻ, tác giả xuất bản, 384 trang, Montreal, Canada

TÚ Ngọc, NGUYỄN Thị Nhung, VŨ Tự Lân, NGUYỄN Ngọc Oánh, THÁI Phiến : 2000 : Âm Nhạc Mới Việt Nam / Tiến Trình Và Thành Tựu, Viện Âm Nhạc (nxb), 1000 trang, Hà Nội, Việt Nam

VŨ Tự Lân, 2001: Những Tác Động Của Giao Lưu Văn Hóa Quốc Tế Đối Với Sự Hình Thành – Phát Triển Âm Nhạc Chuyên Nghiệp Mới Việt Nam, Hội Nhạc Sĩ Việt Nam (nxb), 92 trang, Hà Nội, Việt Nam.

Báo Chí:

Sóng Nhạc, nguyệt san, chuyên về sinh hoạt tân nhạc Việt Nam ở quốc nội ,địa chỉ: 81 Trần Quốc Tuhảo, Q3, TPHCM, Việt Nam. Điện thư:ngvanhien@hcmeuco.edu.vn

Văn Hóa Nghệ Thuật, nguyệt san, chuyên về nghiên cứ nhạc dân tộc, tân nhạc và nhạc cổ điển Tây phương ỡ Việt Nam; địa chỉ: 32 Hào Nam, Đống Đa, Việt Nam. Điện thư: tcvhnt@hn.vnn.vn

Âm Nhạc và Thời Đại, nguyệt san, chuyên về đủ mọi khí cạnh âm nhạc Việt Nam tại quốc nội. Cơ quan ngôn luận của Hội Nhạc sĩ Việt Nam; địa chỉ: 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội, Việt Nam. ĐT: (84-4) 94 35 384

Trang Nhà

http://www.tranquanghai.com và  http://tranquanghai1944.com
Hai trang nhà này của Trần Quang Hải có một bài viết về tân nhạc Việt Nam bằng 3 thứ tiếng (Việt/Pháp/Anh)

http://www.vnstyle.vdc.com.vn/vim : khánh thành năm 2002, trang nhà này của Viện Âm Nhạc Hà Nội giới thiệu sinh hoạt của Viện qua tin tức, bài vở, sách, dĩa CD, VCD về nhạc Việt Nam bằng hai thứ tiếng (Việt/Anh)

http://www.vov.org.vn: những bài ca không quên, ca khúc trữ tình, nhạc không lời, chương trình ca nhạc, ca nhạc thiếu nhi.

http://www.vietscape.com: nhạc trẻ, tân nhạc, phỏng vấn ca nhạc sĩ Việt Nam hải ngoại
http://www.saigonbao.com/amnhac/Amnhac2.htm: những trang nhà về nhạc Việt và điện ảnh Việt Nam ở hải ngoại

http://www.vnunited.org/audio: rất nhiều bài tân nhạc Việt Nam do các ca sĩ trình bày (MP3)

http://www.vncentral.com/news/vanhoa: tin tức về tân nhạc Việt Nam

http://www.angelfire.com/ut/ttran4/VN.html: các ca sĩ Việt Nam, tân nhạc, nhạc vàng

http://www.vietet.com: tin tức nhạc trẻ Việt Nam ở Hoa kỳ, tiểu sử các ca sĩ và địa chỉ

http://www.vietnhac.org: trang nhà do sinh viên ở Minneapolis thực hiện có trên 100 tiểu sử nhạc sĩ hải ngoại, tiểu sử các nhạc sĩ qua đời, và gần 200 bài viết về nhạc Việt Nam đủ loại.

http://www.honque.com: báo mạng lưới với nhiều bài viết về nhạc Việt Nam, phỏng vấn nhiều nhạc sĩ Việt Nam hải ngoại, và có thể nghe và xem video nhạc Việt sáng tác ở hải ngoại.

http://www.talawas.org: báo mạng lưới ỡ Đức với một số bài về nhạc Việt Nam, phỏng vấn nhạc sĩ Việt Nam hải ngoại

http://www.tienve.org: báo mạng lưới ở Úc châu với nhiều bài viết và nhạc phẩm về nhạc Việt Nam.

http://vietsciences.free.fr: báo mạng lưới ở Pháp có một chương trình dành cho nhạc Việt Nam

http://home.wanadoo.nl/duca: lịch sử du ca, du ca viên, và nghe nhạc du ca

http://www.emviet.com/pvh: trang nhà chào đời năm 2002 ở Úc châu, giới thiệu những sáng tác của nhạc sĩ Phan Văn Hưng và những ca khúc khác cùng một số dân ca Việt Nam

http://home.vicnet.net.au/~aaf/us.htm: trang nhà của đôi nhạc sĩ Lê Tuấn Hùng và Đặng Kim Hiền ớ Úc châu, gồm có những sáng tác nhạc hiện đại của Lê Tuấn Hùng và những bài viết về nhạc Việt Nam.

http://www.geocities.com/emcahat: nơi sinh hoạt của giới yêu nhạc tài tử và bán chuyên nghiệp ở hải ngoại

http://www.vota.com/nhac: trang nhà của nhạc sĩ Võ Tá Hân với tất cả sáng tác của anh và có thể nghe những CD gồm trên 200 nhạc phẩm đã được phát hành.

http://perso.club-internet.fr/nmchau: rất nhiều sáng tác của các nhạc sĩ của nhóm Nhạc Việt và của nhóm The Silicon Band ở Pháp.

http://www.giaidieu.net: diễn đàn trao đổi nhạc Việt, tin tức nhạc trẻ Việt Nam , tiểu sử nhạc sĩ và ca sĩ sống tại Việt Nam.

http://www.giaidieuxanh.com.vn: tất cả tin tức nhạc ở Việt Nam từ nhạc cổ truyền dân tộc đến nhạc Pop Việt/Tây phương, nhạc cổ điển Tây phương và nhạc hiện đại thế giới.

© http://vietsciences.free.fr Trần Quang Hải

PHAN ANH DŨNG : TIẾNG TƠ ĐỒNG & DÒNG NHẠC LÃNG MẠN CỦA HOÀNG TRỌNG


TIẾNG TƠ ĐỒNG & DÒNG NHẠC LÃNG MẠN CỦA HOÀNG TRỌNG – Biên soạn: Phan Anh Dũng

            Duyên Văn Nghệ với Gia Đình Nhạc Sĩ Hoàng Trọng

Nhân ngày Giỗ thứ 10 sắp tới của Nhạc Sĩ Hoàng Trọng, tôi nghĩ đến việc hoàn thành một trang nhạc đặc biệt trên website Cỏ Thơm www.cothommagazine.com để tưởng nhớ đến một trong những nhạc sĩ tài hoa hàng đầu của “Tân Nhạc” Việt Nam. Dòng nhạc của Ông được nhiều thính giả yêu mến và tài nghệ của Ông được nhiều ca nhạc sĩ nhà nghề cùng thời khâm phục. Ông là một trong những người giỏi về hòa âm và là một nhạc trưởng có tài điều khiển các dàn nhạc thính phòng và hợp xướng trước 1975. Ban Nhạc Tiếng Tơ Đồng, do Ông sáng lập và điều khiển nổi tiếng một thời, có thể nói “chưa có đối thủ”. Riêng tôi, từ thuở trung học cho đến bây giờ, vẫn trân quý những bản nhạc không những giai điệu hay, dễ nhớ mà lời cũng thắm thiết như: Bên Bờ Đại Dương, Bạn Lòng, Dừng Bước Giang Hồ, Một Thuở Yêu Đàn, Mộng Lành, Mộng Ban Đầu, Mộng Đẹp Ngày Xanh, Ngàn Thu Áo Tím, Người Tình Không Chân Dung, Nhạc Sầu Tương Tư, Nhớ Về Đà Lạt, Tiễn Bước Sang Ngang, Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím …

Do cơ duyên, tôi đã gặp gỡ nhiều thành viên trong gia đình Nhạc Sĩ Hoàng Trọng, câu chuyện như thế này:

Năm 2003, Tâm Hảo và tôi sinh hoạt văn nghệ tài tử trở lại. Trong nhóm bạn yêu âm nhạc vùng Hoa Thịnh Đốn, chúng tôi được dịp quen biết với anh Dương Ngọc Hoán, cựu nhân viên Đài Phát Thanh Quân Đội Sài Gòn và cũng là một thành viên trong Ban Nhạc Tiếng Tơ Đồng trước 1975. Mỗi lần gặp nhau, anh đều cố gắng hát cho thân hữu nghe lại vài bản nhạc của Nhạc Sĩ Hoàng Trọng và kể vài mẩu chuyện lý thú về “nghiệp ca hát”. Qua anh Hoán, tôi được nghe lại những bản nhạc đã bắt đầu bị “đưa vào quên lãng”.

Một ngày vào giữa năm 2005, tôi nhận được email mời đến dự đám giỗ Ông tại tư gia của vợ chồng Hoàng Dung & Hoàng Cung Fa (con trai của Nhạc Sĩ Hoàng Trọng). Chương trình này được tổ chức với một số bà con, bạn bè thân và có sự góp mặt của gia đình Bạch La (con gái của Nhạc Sĩ Hoàng Trọng), từ Đức sang. Tôi đã đến chơi và tham dự với bài hátNgười Tình Không Chân Dung. Anh rể tôi là Đàm Xuân Linh phụ đệm vĩ cầm và chị Giáng Tiêu đọc thơ đoạn giữa. Nhạc phẩm này để lại ấn tượng trong tôi khi xem cuốn phim cùng tựa đề ở “Sài Gòn ngày tháng cũ”, trong đó có tài tử Kiều Chinh, tiếng hát truyền cảm của ca sĩ Lệ Thu, đoạn giữa có giọng ngâm của Như Hảo, xướng ngôn viên ban nhạc Hoa Thời Đại của Phạm Mạnh Cương thời ấy. Tôi nhận thấy Hoàng Trọng soạn nhạc nền ở phần giữa này đặc biệt, lạ và hay. Hình ảnh cái nón sắt nằm ngửa trên bờ ruộng và những lời hát khá “thê lương” vẫn còn trong trí nhớ của tôi, đủ biết bài nhạc đã gieo ấn tượng lớn như thế nào:
” … Hỡi người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt bên bờ lau sậy này
Bây giờ anh ở đâu? bây giờ anh ở đâu ? Còn trên đời này ? …
Trong cái nón sắt của anh, mặt trời vẫn có đó ban ngày
Và ban đêm, mặt trăng hoặc muôn muôn, triệu triệu vì sao vẫn còn đó, vẫn còn đó …”

Sau chương trình, anh Lâm Chấn Phong, bạn của Cung Fa, cho tôi biết anh đã rơi nước mắt khi nghe lại bài này. Anh nhớ đến kỷ niệm có thật trong cuộc chiến tranh đẫm máu: cái nón sắt của anh đã trúng đạn khi nhảy từ trực thăng xuống vùng địch, nhưng may mắn thay, nhờ nó mà anh thoát lưỡi hái tử thần. Hôm đó, tôi đã được nghe thêm nhiều bài rất hay như:Bắc Một Nhịp Cầu, Chiều Rơi Đó Em, Rồi Ngày Cũng Trôi Qua, Người Đi Chưa Về … từ các thành viên trong gia đình của Hoàng Trọng như Bạch La, Đèo Văn Sách, Kim Phụng, Hoàng Oanh, Tuyết Lê … Ai hát cũng truyền cảm. Anh Sách có cung cách trình diễn của một ca sĩ chuyên nghiệp và cháu Ái Mi, con của Bạch La, đệm đàn keyboard cho mẹ hát rất vững và dễ thương.

GioHoangTrong-July23-2005

Từ hôm đó, chúng tôi thư từ qua lại và gặp gỡ hai gia đình Hoàng Dung-Cung Fa và anh chị Đèo Văn Sách- Kim Phụng thường xuyên hơn qua các cuộc họp mặt văn nghệ. Cung Fa chẳng những có giọng ca mạnh và ấm, anh còn có tài đàn keyboard. Vì thế, tôi đã nhờ anh hát và đàn vài bản nhạc của tôi. Những năm gần đây, Cung Fa lại có hứng soạn nhạc. Tôi thích bài Mùa Thu Xưa, anh phổ thơ của văn thi sĩ Nguyễn Thị Ngọc Dung. Cung Fa, thành viên trong Ban Tiếng Tơ Đồng trước 75, cũng là một trong những giọng ca nam chính của vùng Thủ Đô với kỹ thuật rất vững. Theo ý của riêng tôi, anh hòa âm và diễn đạt bài Giọng Hát Năm Xưa (nhạc: Nguyễn Đức Nam, thơ: Hoàng Anh Tuấn) như một ca sĩ nhà nghề! Có một số bài của Hoàng Trọng anh hòa âm và hát cũng rất hay như: Gió Mùa Xuân TớiVui Cánh Mùa Hè … Tôi cũng có dịp hát một bài song ca với Cung Fa, đó là bản Có Sớm Ta Về  của Nhạc Sĩ Thanh Trang. Anh Thanh Trang cũng rất khâm phục và quý mến nhạc của Hoàng Trọng. Cung Fa tính tình dễ dãi, ai nhờ gì anh cũng sẵn sàng giúp đỡ, tuy rất bận công việc! Dĩ nhiên, mọi chuyện cũng xong đâu vào đó, là nhờ tài quán xuyến của Hoàng Dung!

Khoảng thời gian 2005, tôi tham dự diễn đàn Nhạc Việt, nơi quy tụ nhiều nhạc sĩ không chuyên nghiệp. Trong Nhạc Việt tôi quen với cô Linh Chi, một người bạn học violin cùng Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn với cô Thu Tâm, hiền thê thứ hai của Nhạc Sĩ Hoàng Trọng. Nhờ Linh Chi cho địa chỉ email nên thỉnh thoảng tôi thư từ qua lại thăm hỏi cô Thu Tâm và mời cô đóng góp vài bài hát, như bài Thu Qua của Hoàng Trọng, trong các chương trình nhạc chủ đề trên website Cỏ Thơm. Trong lúc làm trang tưởng nhớ Nhạc Sĩ Hoàng Trọng, cô đã không ngại cho phổ biến một số hình ảnh thật hiếm quý. Trong vài tuần nữa cô và 2 con: Thiên Út và Kim Mi sẽ qua Virginia tham dự một chương trình văn nghệ Tưởng Nhớ Hoàng Trọng.

Cách đây vài tuần, anh Dương Ngọc Hoán gởi cho nghe nhạc phẩm Thiên Thai của Văn Cao do hai danh ca Anh Ngọc và Thái Thanh trình bày với phụ họa của Mai Hương, Kim Tước, và có lẽ có cả Quỳnh Giao, Bạch La, Bạch Lan Hương, Hà Thanh, Hoàng Oanh, Nhật Trường, Nhật Bằng, Thanh Sơn, Cung Fa … Kỹ thuật hợp xướng thật là điêu luyện với nhiều giọng bè cùng hòa âm do người nhạc sĩ tài ba Hoàng Trọng viết và điều khiển. Nghe bản nhạc này và nhìn những hình ảnh ngày xưa của Ban Tiếng Tơ Đồng tôi không khỏi ngậm ngùi thương tiếc nhưng thoáng hãnh diện cho “thời kỳ vàng son” của Tân Nhạc Việt Nam. Nhạc Sĩ Hoàng Trọng đã ra đi vĩnh viễn nhưng Tiếng Tơ Đồng vẫn vang vọng, danh hiệu đời trao tặng cho Ông là “Vua Tango” vẫn không đổi thay, và các bản nhạc trữ tình của Ông sẽ ở mãi trong lòng người yêu âm nhạc thuần túy.

Phan Anh Dũng
(Richmond, Virginia USA – đầu Hè 2008 – bổ túc: 7/2014)

Ghi chú: Bấm vào tên các bản nhạc có gạch dưới trong bài viết ở trên để nghe.

HoangTrong-07CTHT-VTTD-HopCa

KyNiemGio14Nam-NSHoangTrong

 Nhớ Về Hoàng Trọng với tiếng hát Thu Tâm (Youtube) – 2012 – Thu Tâm & ÔB Bùi Dương Liêm thực hiện

KyNiemGio12Nam-NSHoangTrong

      ĐÊM TƯỞNG NHỚ Cố NS HOÀNG TRỌNG tại Phòng trà ATB (Youtube) – 2010 – Hoàng Nhạc Đô thực hiện

Một số nhạc phẩm của Hoàng Trọng

NhacHoangTrong-CoThom-Phan1

NhacHoangTrong-CoThom-Phan2

NhacHoangTrong-CoThom-Phan3
 

 

MỜI NGHE NHẠC HOÀNG TRỌNG:

PHẦN 1 (BÀI 1 -> 19)      PHẦN 2 (BÀI 20 –> 38)        PHẦN 3 (BÀI 39 –> 58)

 

HAY BẤM VÀO SỐ CỦA TỪNG BẢN NHẠC Ở DƯỚI ĐỂ NGHE TỪNG BÀI:

1   2    3    4    5    6    7    8  9  10  

                                         11   12   13   14   15   16   16B   17   18   19

20   21   22   23   24   25    26    27   28   29

30   31   32  32B   33  34    35    36   37   38

39   39A  40   41   42   43   44    45    46   47   48

49   50   51   52   53   54    55    56   57   58

 

NhacHoangTrong1

Thủ Bút của Nhạc Sĩ Hoàng Trọng

NhacSauTuongTu-HoangTrong

Nhạc hòa tấu 

NhacSauTuongTu-biatruoc

                                       TIỂU SỬ

Hoàng Trọng tên thật là Hoàng Trung Trọng, sinh năm 1922 tại Hải Dương. Năm 1927 gia đình ông chuyển về sống tại Nam Định.

Hoàng Trọng bắt đầu học nhạc từ năm 1933 qua người anh trai là Hoàng Trung Quý. Từ năm 1937, Hoàng Trọng học nhạc tại trường Thày Dòng Saint Thomas Nam Định. Đến năm 1941, ông tiếp tục nghiên cứu âm nhạc qua sách vở và học hàm thụ từ một trường ở Paris. Cũng thời gian ở Nam Định, khoảng 1940 Hoàng Trọng có mở một lớp dạy nhạc.

Năm 15 tuổi, Hoàng Trọng cùng các anh em trong gia đình Hoàng Trung An, Hoàng Trung Vinh và một số bạn bè như Đan Thọ, Đặng Thế Phong, Bùi Công Kỳ… lập một ban nhạc. Ban đầu, ban nhạc không có tên và gần như chỉ để giải trí. Năm 1945, Hoàng Trọng mở phòng trà Thiên Thai ở Thái Bình, và ban nhạc từ ấy mang tên Thiên Thai. Thiên Thai trình diễn ở đó mỗi tối và hoạt động tới năm 1946, khi chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ.

Cuối thập niên 1930, tân nhạc Việt Nam bắt đầu hình thành, Hoàng Trọng cũng có sáng tác đầu tay Đêm Trăng (Vầng Trăng Sáng) được viết năm 1938, khi ông mới 16 tuổi. Một số bản nhạc tiếp theo của ông đã được Phạm Duy trình bày trên sân khấu của gánh hát Đức Huy, trong đó có Tiếng Đàn Ai, một trong những bản Tango đầu tiên của Việt Nam. Một bản nhạc tiền chiến nổi tiếng khác của Hoàng Trọng thời gian đó là Khúc Đàn Tâm.

Vì chiến tranh, ông di chuyển khỏi Nam Định, qua phủ Nho Quan, Phát Diệm và cuối cùng định cư tại Hà Nội năm 1947. Thời gian đó ông đã viết bản Phút chia ly, một nhạc phẩm tango giá trị, do Nguyễn Túc đặt lời. Cũng trong khoảng thời gian ở Hà Nội, Hoàng Trọng liên hệ với những nghệ sĩ của đài phát thanh như Mộc Lan, Minh Diệu, Mạnh Phát, Châu Kỳ… nhờ đó các nhạc phẩm của ông được phổ biến. Hoàng Trọng cũng viết cuốn Tự học Hạ Uy cầm, tích lũy từ những kinh nghiệm dạy đàn trước đó, và được nhà xuất bản Thế Giới phát hành.
HoangTrong-09

Năm 1950, nhạc sĩ Hoàng Trọng gia nhập quân đội. Ông là trưởng ban Quân nhạc Bảo Chính Đoàn trình diễn mỗi tuần tại một vườn hoa cạnh Bưu Điện Hà Nội và trong chương trình Tiếng nói Bảo Chính Đoãn của đài phát thanh Hà Nội. Khoảng thời gian này, ông viết nhiều bài hát, trong đó có Gió mùa xuân tới. Năm 1953 tên tuổi Hoàng Trọng thực sự nổi tiếng vớiNhạc sầu tương tư, ca khúc đó được trình diễn thường xuyên trên đài phát thanh khi ấy. Năm đó ông còn viết một bản tango khác là Dừng bước giang hồ.

Năm 1954, Hoàng Trọng di cư vào miền Nam, sống trong hoàn cảnh gà trống nuôi 3 con: Hoàng Nhạc Đô, Hoàng Cung Fa, Hoàng Bạch La. Tại Sài Gòn, ông thành lập những ban nhạc trình diễn trên đài phát thanh Sài Gòn, đài Quân Đội, đài Tiếng Nói Tự Do và đài Truyền hình Việt Nam. Những ban nhạc của ông hoạt động đến tận 1975, từng mang nhiều tên khác nhau như Hoàng Trọng, Tây Hồ, Đất Nước Mến Yêu… đặc biệt từ năm 1967 với tên Tiếng Tơ Đồng. Ban nhạc hòa tấu và hợp xướng Tiếng Tơ Đồng, với các ca sĩ, nhạc sĩ danh tiếng của Sài Gòn khi đó, đã trình bày nhiều ca khúc tiền chiến giá trị.

Khoảng thời gian ở Sài Gòn, Hoàng Trọng sáng tác rất mạnh mẽ, nhiều ca khúc nổi tiếng nhưNgàn thu áo tím, Lạnh lùng, Bạn lòng, Mộng lành, Tiễn bước sang ngang, Ngỡ ngàng… Trong khoảng 200 nhạc phẩm của Hoàng Trọng, ông chỉ tự đặt lời khoảng 40 bài. Số còn lại được sự giúp đỡ của nhiều nhạc sĩ khác như Hồ Đình Phương, Hoàng Dương, Nguyễn Túc, Quách Đàm, Vĩnh Phúc, Duy Viêm, Thanh Nam … Trong giới nhạc sĩ Việt Nam, Hoàng Trọng viết tango nhiều và được xem như người thành công nhất với danh hiệu “Vua Tango”.

Ông cũng tham gia viết nhạc phim, một vài phim có tiếng như Xin nhận nơi này làm quê hương, Giã từ bóng tối, Người tình không chân dung, Sau giờ giới nghiêm, Bão tình… Với nhạc trong bộ phim Triệu phú bất đắc dĩ, Hoàng Trọng đã được giải thưởng Văn học Nghệ thuật của Việt Nam Cộng Hòa trong năm 1972-1973.

Sau 1975, Hoàng Trọng lập gia đình lần thứ hai với nhạc sĩ vĩ cầm Thu Tâm và có 2 đứa con Thiên Út và Kim Mi. Ông chỉ sáng tác thêm một vài ca khúc và không phổ biến. Bản nhạc cuối cùng của ông là Chiều rơi đó em (1979). Năm 1992 Hoàng Trọng sang định cư tại Hoa Kỳ và qua đời ngày 16 tháng 7 năm 1998 tai thành phố San Jose, tiểu bang California.

(Nguồn: theo wikipedia)

ConCuaNhacSiHoangTrong

BanHoangTrong1958

Ca Khúc Đầu Tiên của Nhạc sĩ Hoàng Trọng

VangTrangSang(DemTrang)-HoangTrong

Vầng Trăng Sáng – Thu Tâm trình bày

NhacPhamHoangTrong

   TiengToDong-04

                               THIÊN THAI (Văn Cao) – Anh Ngọc và Thái Thanh hát với Ban Nhạc Tiếng Tơ Đồng

    Chương Trình Phát Thanh Hải Ngoại về Nhạc Hoàng Trọng

                                            Duy Trác thực hiện – VOVN Houston, Texas

                                                 Hoài Nam thực hiện – SBS- Úc Châu

PhongVanNSNguyenAnh9-2013

Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 nhắc về kỷ niệm với Nhạc sĩ Hoàng Trọng:    youtube      mp3

( “Đêm Nhạc 2 Thế Hệ: Hoàng Trọng & Hoàng Nhạc Đô” – thực hiện tại nhà hát Tây Đô ngày 18 tháng 7 năm 2013 )

Kỷ Niệm Với Nhạc Sĩ Hoàng Trọng – Vũ Đức Nghiêm

Cách đây khoảng 60 năm khi còn là học sinh Trung học Chu Văn An, tôi có dịp về Nam Định. Khi đi qua đường Pasteur, tôi dừng chân trước môt căn nhà nhỏ có tiếng nhạc với đàn, kèn, trống rất du dương. Tò mò, tôi đứng lại xem và được biết là gian hàng của Nhạc sĩ Hoàng Trọng.

Tôi yêu âm nhạc và say mê dàn nhạc trình bày những bản nhạc rất hay của các nhạc sĩ đàn anh như: Dương Thiệu Tước, Văn Cao, Phạm Duy v v Tôi được biết đây là dàn nhạc của Nhạc sĩ Hoàng Trọng, người tôi rất ngưỡng mộ, nhưng vì bản tính nhút nhát nên chưa có dịp làm quen.

Sau năm 1954, tôi có dịp gặp Nhạc sĩ Hoàng Trọng ở Đài Phát Thanh Sài Gòn khi Ông làm Trưởng “Ban nhạc Hoàng Trọng” cùng với Nguyễn Hiền, Văn Phụng, Nhật Bằng …

Khoảng đầu 1973, tôi thường đến thăm anh Hoàng Trọng ở đường Phan văn Trị, Chợ Lớn. Tôi được anh chỉdẫn về sáng tác nhạc. Mỗi lần đến chơi, cháu Bạch La (tức là “nốt La trắng”, NS Hoàng Trọng đặt tên các con bằng nốt nhạc, ví dụ: Bạch La, Cung Fa …) thường đem cho tôi một ly nước cam pha bằng bột cam “Tang” (mùa Hè ở Sài Gòn được uống một ly nước cam giải khát rất tốt).

Những ngày gặp nhau, anh đưa cho tôi một nhạc khúc và tôi viết lời ca tựa là “Vui Bước Phong Sương”, có những câu:
“Lúc ta đi, chân trời nhuốm hồng
Gió lên rồi, đời xa mênh mông”
 …

Đó là một bài hát tôi được hân hạnh viết cùng với anh Hoàng Trọng.

Những năm 1991-1992, tôi gặp lại anh ở San Jose. Một sáng Chủ nhật, tại “Thánh Đường Tự Do”, Ông Mục sư giới thiệu quan khách là “có Nhạc sĩ Hoàng Trọng đến với nhóm chúng ta”. Đó cũng là lần đầu tiên tôi biết mặt chị Thu Tâm, hiền thê thứ hai của anh.

Suốt một đời tận tụy phục vụ âm nhạc, anh Hoàng Trọng đã viết hàng trăm ca khúc nổi tiếng, nhất là những bài tango tuyệt vời, ví dụ như: “Dừng Bước Giang Hồ”, “Mộng Ban Đầu” … nên giới viết nhạc gọi anh là “Vua Tango”.

Anh là người khiêm tốn, hiền lành, nói năng dịu dàng, nên được mọi người cảm mến và quý trọng.

Riêng đối với tôi, nhỏ hơn anh 8 tuổi, nên được anh coi như em, sẵn sàng chỉ dẫn, giúp tôi học hỏi nên tôi thương và kính mến anh như tình anh em ruột thịt.

Anh Hoàng Trọng qua đời ngày 16 tháng 7, 1998 hưởng thọ 76 tuổi. Nhân dịp ngày giỗ 16 năm của anh, tôi xin ghi lại một vài kỷ niệm như một nén hương lòng tưởng nhớ anh.

Vũ Đức Nghiêm
(15/7/2014 – San Jose, California USA)

DNHoan-VDNghiem-BachLa-Nov2011

Dương Ngọc Hoán, Vũ Đức Nghiêm, Hoàng Bạch La (Virginia USA – Tháng 11, 2011)

VuiBuocPhongSuong-HoangTrong-VuDucNghiem

Vui Bước Phong Sương – Nhạc: Hoàng Trọng, Lời: Vũ Đức Nghiêm – Ban Hợp Ca Tiếng Tơ Đồng trình bày

 

Hoàng Trọng: Người Nhạc Sĩ Chân Thành – Ca sĩ Quỳnh Giao

Người nhạc trưởng đang điều khiển dàn nhạc. Hai hàng lệ làm nhoè mắt ông khiến ông không nhìn rõ được dòng nhạc. Nhưng ông có cần nhìn rõ đâu, bởi nó-dòng nhạc- có trong ông đã lâu lắm rồi, nó là xương là máu của ông mà!…Những người nhạc sĩ đang cắm cúi đàn, đều là những người đã làm việc với ông từ hơn hai thập niên trước, có người là bạn của ông từ nửa thế kỷ qua. Người ngồi dương cầm là nhạc sư Nghiêm Phú Phi, cộng tác với Hoàng Trọng từ bao lâu rồi nhỉ, có lẽ là từ khi mới du học bên Pháp về, vào đầu thập niên 50. Nơi hàng ghế đầu của dàn violons có Đan Thọ, bạn của ông từ ngày ở ngoài Bắc, trong ban nhạc Bảo An, người đã trình tấu những đoạn ad-lib có phong điệu tzigane bất hủ cho nhưng bài tango trác tuyệt của Hoàng Trọng. Tiếng đàn Đan Thọ vẫn như xưa: lả lướt mềm mại, nhưng khuôn mặt ông, cũng như của nhạc sĩ Hoàng Trọng, đã đầy nếp nhăn…Cạnh đó vẫn dàn violons có Phạm Văn Phúc, Trần Nhật Hiền, có Nguyễn văn Mô, có violoncelle Cao Thanh Tùng, những sinh viên trường nhạc ngày xưa từng cộng tác với ông khi vừa tốt nghiệp. Những mái đầu rất xanh ngày đó, nay đã ngả muối tiêu…

Hai người ca sĩ nhìn về phía khán giả, tức là quay lưng về phía dàn nhạc đang trình bầy song ca bản Lạnh Lùng, bài hát ông viết từ mùa Đông 1946. Đó là bài song ca ông soạn cho một nam và một nữ. Người nữ ca sĩ đang hát, nhìn về phía khán giả, nhưng không nhìn thấy gì trước mắt cả, mà chỉ thấy lại khung cảnh cũ, đã mấy chục năm qua. Nàng thấy lại phòng thu thanh nóng bức, đầy khói thuốc lá. Nàng nghe lại tiếng cười nói vui nhộn và thân mật của những người ca sĩ xung quanh, mà nàng gọi họ bằng cô, bằng chú. Ngày ấy nàng mới 16, 17 thôi. Cô bé vừa chạy thục mạng gọi xich lô đến đài cho kịp giờ thu, trên áo dài trắng còn mang huy hiệu trường Gia Long. Cuốn sách nhạc nàng viết tay những bài hát mình yêu thích còn nằm trong cặp, để trên bàn.

Cô Kim Tước vừa ký tặng nàng bài Đừng Xa Nhau của Phạm Duy, lời đề tặng là “ tặng Trang bài của tôi đang yê thích”. Cô Mộc Lan thì đề tặng bài Lặng Lẽ của Lâm Tuyền với lời thủ thỉ “tặng cháu bài của cây si cổ thụ”. Chị Mai Hương thì tặng bài Chú Cuội với lời đề “ tặng Trang bài hát đầu tiên của chị”. Ngay trang đầu tiên của tập nhạc là bài hát do người trưởng ban đề tặng: “tặng cháu bài chú viết từ mùa đông năm cháu vừa chào đời”. Nàng thích làm sao lời đề tặng! Vì nó cho thấy rõ sự ý nhị kín đáo mà lại đầy tình cảm của ông. Ông mà đề năm 1946, thì cũng thường thôi, có phải không? Bài hát đó mang tên Lạnh Lùng…

Người nữ ca sĩ chớp mắt, cố không để tâm trí mình đi quá xa, xa cái khung cảnh hiện tại, cô đang trình diễn trên sân khấu nhạc hội tại rạp Le Petit Trianon ở San Jose, miền Bắc California, kỷ niệm một đời phụng sự âm nhạc của Nhạc Sĩ Hoàng Trọng. Chính ông nắn nót viết lời nhắn, về hát cho ông…”Lần cuối đây”, ông nhấn mạnh với nét chữ đã ngả nghiêng.

Không cần phải kể thêm, chắc độc giả đã đoán cô học trò đó chính là kẻ viết bài này…

Thấm thoát đã hơn 30 năm, kẻ từ khi nhạc sĩ Hoàng Trọng mời tôi hát cho ban Tây Hồ thay thế cho Mẹ. Tôi phải nói sao cho đủ lòng biết ơn của tôi đối với ông, khi mình còn là một đứa bé con 15 tuổi đã được hát với toàn người lớn. Người nhỏ thứ nhì sau tôi là chị Mai Hương cũng mới lập gia đình. Có chồng là thành người lớn rồi, tôi nghĩ vậy.

Hát cho ban Tây Hồ là hạnh phúc lớn của tôi lúc đó, mặc dù, cùng lúc hoặc sau đó, các nhạc sĩ khác cũng lần lượt mời tôi cộng tác hát trên đài phát thanh Sài Gòn như: Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi, Hoàng Lang, Võ Đức Tuyết, Vũ Thành, Đan Phú, Y Vân, Võ Đức Thu, Anh Ngọc, Phạm Duy, Nhật Bằng, Hoàng Nguyên (trong ban nhạc mà trưởng ban là nhạc sĩ Anh Việt, cũng có mặt tại San Jose ngày hôm đó). Và dĩ nhiên cả ban nhạc của Dương Thiệu Tước nữa chứ.

Năm 1962, là năm mà đất nước đất nước còn tương đối yên ổn. Thời kỳ này chính quyền ông Diệm để ý và nâng đỡ nhiều sinh hoạt về văn hóa. Nơi trường nhạc người ta thấy có mời nhạc trưởng người Đức qua dậy và điều khiển dàn hoà tấu của trường nhạc. Vào năm trước đó, nhạc trưởng Otto Solhner đã hoà âm và điều khiển dàn nhạc của trường trong bài “Con Đường Cái Quan” của Phạm Duy, có đi lưu diễn ở Đà Lạt. Khi ấy tôi mới 14, lần đầu đi hát với người lớn, nhưng vẫn với tên Đoan Trang của mình trong Ban Thiếu Nhi.

Cái tên Quỳnh Giao ra đời khi nhạc sĩ Hoàng Trọng mời tôi hát thay cho Mẹ.

Ban đầu, tên tôi là Quỳnh Dao với chữ “ D” mới đúng, nhưng Hoàng Trọng cứ ghi là Quỳnh Giao với chữ “G”. Thành thử cũng chính ông là người làm tôi phải giữ tên mình là Quỳnh Giao với chữ “G”, nhất là khi có truyền hình, generique bao giờ cũng ghi chữ G mặc dù tôi có dặn và các chú Phạm Duy, Anh Ngọc, Hoàng Lang đều ghi là Dao…Ông bướng lắm đấy!

Lúc bấy giờ, Chủ sự phòng Văn Nghệ của đài là Vũ Thành. Vốn là Nhạc sĩ chân chính và cẩn trọng, ông chú ý đến phẩm chất nghệ thuật nên dành nhiều đặc ân cho các nhạc sĩ có chân tài như Hoàng Trọng, Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Nhật Bằng. Ông xin trả thù lao rất cao cho phần hòa âm công phu, nhờ đó mà các ca khúc nghệ thuật của chúng ta được thăng hoa và tồn tại mãi trong lòng người yêu nhạc. Và ông vua tango Hoàng Trọng còn là vua hòa âm thời đó. Ông hòa âm cho dàn nhạc đã hay mà viết cho hợp ca càng xuất sắc. Hát bè phụ của ông là dùng hết công phu để nâng giọng solist, để làm nổi giọng chính. Bè ông viết không rườm rà mà đan lượn uyển chuyển đầy nghệ thuật. Hát trong ban của ông, ngoài đơn ca, tôi còn song ca, tam ca, hợp ca, rồi phụ họa, bài nào cũng tân kỳ và độc đáo. Vì vậy mà tôi thường háo hức trước ngày thu thanh, như chờ ngày hội vậy. Tính ông cẩn thận, thường đưa bài trước để tập dượt, ngoài xấp bài hát còn kèm miếng giấy nhỏ ghi chú, mà giờ đây tôi như còn thấy rõ trước mắt:

1/ Mưa trên phím ngà (đơn ca)
2/ Tình Xuân (tam ca) QG bè nữ 1
3/ Thương về quê cũ (hợp ca)
4/ Bạn Lòng (song ca vơí An)
5/ Thiên Thai (phụ hoạ)

Cứ như thế hàng tuần, Hoàng Trọng lái chiếc lambretta mầu xám, áo chemise mầu xám hoặc xanh, chứ không có mầu nào khác, đến đài phát thanh. Ông luôn luôn đến đài trước giờ đã định. Hát xong, cả ban rủ nhau đi ăn phở 44, tôi nhớ là ông không ăn hành ngò, bị tôi ghẹo là ăn như đi tu. Gương mặt ông nghiêm nghị trong dáng u buồn, khi nào trêu ông cười được thì chúng tôi vui suốt buổi. Ông luôn đón nghe và thu thanh lại chương trình của mình, nên ca sĩ nào lỡ hát sai thì nơm nớp lo! Cô Mộc Lan hay đòi đứng cạnh tôi, nhờ tôi đếm mesure trước cho đỡ hồi hộp. Ông cứ đòi thu đi thu lại một bài hát cho thật hoàn toàn làm chú Anh Ngọc có lần đòi “ bỏ của chạy lấy người, thà mất tiền còn sướng hơn, chứ hát nhọc quá”, khiến mọi người được dịp cười ầm. Hoàng Trọng rất thích chụp hình, nên cứ bắt tụi tôi làm người mẫu cho ông huấn nghệ. Đôi khi để trả thù cho những lúc ông nghiêm nghị, tôi lè luỡi làm trò. Bức hình buồn cười ấy, năm 1992, sang Mỹ, ông đưa tôi xem lại. Cười đâu không thấy, tôi chỉ thấy cay cay nơi con mắt…

Vào thời kỳ bắt đầu có truyền hình, Hoàng Trọng lập Ban Tiếng Tơ Đồng, mỗi lần đi thu mất cả một ngày thật vất vả cho giới nghệ sĩ chúng tôi. Ông chọn và mua vải bắt may đồng phục cả nam lẫn nữ, và thành phần ca sĩ thì mời thật đông. Chúng tôi biết chắc là ông lỗ vốn. Vậy mà Hoàng Trọng say mê, không mỏi mệt, ngay cả giây phút cuối cùng trên sân khấu ở San José mà tôi kể ở đoạn trên, ông vẫn say mê. Nhìn bàn tay ông run rẩy, tôi chỉ sợ ông sẽ ngất ngay lúc ấy… Hát xong tôi chào khán giả quay lại nắm tay cám ơn ông. Tôi thấy hai hàng lệ ông tuôn rơi mà mình chợt nghẹn ngào.. Hôm đó, tôi không thốt được lời cám ơn ông…

Các ca nhạc sĩ đều từ giã ông để về ngay sáng hôm sau. Riêng tôi vì đến từ xa, đã ở lại đến tối hôm sau mới đi Virginia. Buổi sáng chủ nhật đó, vợ chồng Hoàng Cung Fa, con trai ông đưa tôi đến thăm ông và dự định ở chơi cho đến giờ tôi ra phi trường. Vừa vào nhà, không khí đã có vẻ u buồn: người vợ hiền bé nhỏ của ông cho biết cả đêm qua Hoàng Trọng không ngủ được, và vừa nôn hết thức ăn ra rồi. Tôi vẫn cố hồn nhiên, cười cười: “ chắc là chú vui quá vì đã xong chương trình hôm qua, nên mới không ngủ được chứ gì?” tôi trêu tiếp: “và lúc chị Tâm hát xong bài Chiều Rơi Đó Em cháu mới hết lo, chỉ sợ chú cảm động quá mà ngất đi đấy chứ!”.

Tôi nói đùa mà như tự trấn an mình, vì lúc đó chú than là hơi bị khó thở. Cả nhà bàn bạc không biết có nên đưa đi nhà thương hay không, vì nhà thương đã có hẹn là thứ năm mới vào khám để hôm sau mới mổ tim. Người con trai tên Út mới 17 tuổi mà chững chạc như người lớn, đột nhiên thưa với mẹ là nên đưa cha đi nhà thương ngay. Nét mặt cậu giống hệt chú Hoàng Trọng của tôi lúc trẻ, nên càng nhìn mình càng thấy xót xa. Cô gái út tên Kim Mi mới 12 tuổi xinh thật là xinh, mà hầu cha cũng thật là giỏi, đang ngơ ngác đứng nhìn. Cung Fa và
Bạch La, là hai người con lớn từ xa đã về dự ngày nhạc hội của cha. Bạch La và Phước cùng hai con về từ bên Đức, còn Cung Fa và Dung về từ Virginia. Cả nhà lo lắng, ủ rũ. Mọi người chờ chú vào nhà trong thay áo, rồi đi hai xe đưa chú vào nhà thương Palo Alto. Tôi ngồi xe do chị Thu Tâm lái, nhìn chị, tôi thương cảm hết sức và hiểu được tình yêu của hai người. Tình yêu của họ có lẽ bắt đầu bằng sự cảm phục về tài, và tồn tại bằng sự chia sẻ nghệ thuật trong những năm cô đơn và đau buồn của người nhạc sĩ sau 75.
Tôi thấy họ đẹp vô cùng, và tôi cũng thấy được cái hạnh phúc cuối cùng của chú Hoàng Trọng. Tôi ngồi ghế ngoài phòng đợi với Phước và Bạch La, khi hai mẹ con đưa chú vào phòng khám, mà lờ mờ nghĩ rằng có thể đây là lần cuối tôi được nhìn thấy chú…

Trở về Virginia vài ngày, tôi gọi điện thoại hỏi thăm, thi gặp ngay giọng của Dung, người con dâu trả lời, tôi giật mình lo sợ: Dung và Fa đã về Virginia rồi, nay lại có mặt ở đó, nghĩa là tình hình không khả quan, có khi bệnh tình đã nguy ngập. Dung nói “ chị gọi vào nhà thương cho cha em đi, chắc ông vui lắm đó. Mấy hôm nay cha nói mớ toàn tên bài hát và có nhắc đến tên chị nữa đó”. Tôi nghẹn ngào xin số của nhà thương. Gọi vào gặp chị Thu Tâm, và được chuyển ngay cho Hoàng Trọng. Tôi hỏi thăm và cố nói vui: “ Chú ơi, ráng khỏe lại nhé, mình còn làm vài chương trình nữa chứ!” Hoàng Trọng chỉ ừ ừ cám ơn, giọng thều thào như qua tấm lá chắn. Tôi lại hỏi: “Chú ơi, cháu muốn hát một bài tango của chú, chú khuyên bài gì, Tình Trăng được không?”. Tôi nghe như có niềm vui: “Ừ, hát Tình Trăng thì hay lắm, chưa hát đĩa bài ấy đấy.”

Vài tuần sau thì mẹ tôi gọi từ quận Cam của Cali, báo cho biết chú Hoàng Trọng vừa ra đi. Sau đó Nguyễn Thành Vân (người song ca với tôi bản Lạnh Lùng ở San Jose) gọi báo tin, kèm lời than “trời ơi! ai biểu ông làm chương trình nhạc làm chi, mệt quá ổng mới vào nhà thương đó.” Tôi an ủi Vân: “ không đâu, ông có được niềm vui sau cùng đó, Vân à”.

Sống với âm nhạc cả một đời, chú đặt tên cho con toàn là nốt nhạc: Hoàng Nhạc Đô, Hoàng Cung Fa, Hoàng Bạch La, Hoàng Thiên Út (tức khóa Đô trong nhạc) chứ không phải út ít như nghĩa thường, và Hoàng Kim Mi. Ông chỉ thiếu Ré và Sol vốn là chữ khó dùng để đặt tên được vì nghe không thuận tai. Còn nốt Si thì tôi trộm nghĩ đó chính là tên của ông: Hoàng Trọng là người si mê âm nhạc đến tận cùng, và ông gắn bó với nhạc cho tới hơi thở cuối cùng.

Hoàng Trọng viết nhạc từ thời còn thanh niên cho tới gần đây, và tôi ít thấy nhạc sĩ nào có trí nhớ hơn ông. Sau 1975, phần lớn các nhạc sĩ mất hết tài liệu và tác phẩm của mình. Người nào may mắn có tác phẩm trình bày trong tape, được người khác mang theo khi di tản, thì mới còn mong ghi lại lời ca ý nhạc của mình. Nhưng, nhạc thì không quên được, chứ lời thường bị quên. Phần lớn các nhạc sĩ còn phải hỏi ca sĩ về lời của bài hát mình viết. Các nhạc sĩ như Văn Phụng, Ngọc Bích, Tuấn Khanh, v..v..thường gọi chúng tôi hỏi lời bài hát, Cô Châu Hà cũng còn quên lời nhạc của chú Văn Phụng, và mẹ tôi không nhớ lời các ca khúc Dương Thiệu Tước bằng chính tôi, vì mình vẫn hát mãi… Chính các ca sĩ chúng tôi đã tiếp tục đem lại sự sống cho các ca khúc và giữ chúng tồn tại ở ngay trong tim mình. Cho nên, với thời gian thì quên lời là sự thường, đó là trường hợp chung. Chỉ riêng chú Hoàng Trọng thì có lẽ ông quên tất cả để chỉ nhớ nhạc, nhớ lời.

Khi qua Mỹ năm 1992, Hoàng Trọng mang theo một cuốn sách nhạc nhỏ, giấy rất xấu, tự chép tay tất cả các tác phẩm của mình, từ bài đầu tiên cho đến về sau, từ lời tim óc của mình đến lời ca của người khác, với đầy đủ năm sáng tác nữa… Ông đã in lại tặng cho vài người trong chúng tôi mấy bản chép tay thật tỉ mỉ công phu đó. Đối với tôi, đây là món quà vô giá.

Là một ca sĩ đã hát nhạc của ông từ mấy chục năm nay, tôi biết nói gì để cảm ơn Hoàng Trọng?

Tánh ông ít nói, nên xưa nay tôi cũng ít có dịp thố lộ sự tri ân của mình. Từ nay, tôi chỉ còn lẩm nhẩm lại bài “ Nhạc Sầu Tương Tư” để nghe tiếng lòng ấp úng của ông trước nhan sắc của một giai nhân Hà Nội thời trước, hay Lạnh Lùng để thấm thía với tình quê hương dạt dào trong lòng ông. Ai đó có nói là người Việt mình thương nơi chôn nhau cắt rốn đậm đà hơn các sắc dân khác. Tôi thấy đúng vì vẫn rưng rưng mỗi khi hát bài Lạnh Lùng, Chiều Tha Hương, hay Buồn Nhớ Quê Hương, Chiều Về Thôn Xưa, hoặc Đường Về…Những tuyệt tác trên nhịp điệu tango của Hoàng Trọng có một phong thái rất mới mà cũng rất Việt Nam. Nó có nét Tây Phương về nhịp điệu, mà lại rất Á Đông trong nét nhạc. Đông phương mà sang trọng chứ không bình dân quê kệch. Các ca khúc Mộng Ban Đầu, Mộng Ngày Hồi Hương hay Tình Trăng… nghe ròn rã nhịp điệu mà vẫn gợi lên hình ảnh đằm thắm của quê hương.

 Khi Hoàng Trọng yêu màu xanh, ông làm những bài xanh ngát hương đời và niềm tin. Những Mộng Đẹp Ngày Xanh, Khúc Ca Mầu Xanh, hay Thanh Bình Nhạc Khúc… chan chứa tình người và những hy vọng tươi đẹp cho đất nước. Ông đã làm cho lũ bạn trường Gia Long của tôi mê màu tím khi sáng tác Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím, Ngàn Thu Áo Tím hoặc Cánh Hoa Yêu…Tuổi hoa niên của chúng tôi có bị ảnh hưởng bởi dòng nhạc của ông, dòng nhạc mơ mộng mà chân thật như con người đó, ít nói, ít cười mà đằm thắm và đam mê kín đáo.

Thưa chú Hoàng Trọng,

Giờ đây, hồi tưởng lại cả một đoạn đường sáng tác của chú, từ miền Bắc tới trong Nam và trong những ngày cuối của cuộc đời trên đất Mỹ, cháu thật kính trọng lòng say mê và phục vụ âm nhạc nơi chú. Những người có may mắn để biết, làm việc và sống gần chú đều yêu thương và quý trọng chú. Có một điều rõ ràng hơn cả, là chú không bao giờ giả dối, làm dáng, cường điệu. Ngay cả sự vụng về của chú cũng là điều làm cháu yêu quý chú. Cháu biết ơn chú mà cũng biết là chú không cần cháu nói ra điều đó. Chú thấy không, đến phút cuối cháu cũng chỉ nắm tay chú mà không nói lên được điều gì cả. Cháu chỉ mong là chú hiểu cháu và nghe được lời cám ơn của cháu, bây giờ và mãi mãi.

 Giờ đây, ở nơi đó, chú có biết không, cháu vẫn còn nghe vẳng bên tai câu hát mà cháu có lúc đùa nghịch, bắt bẻ chú, vì chú dùng chữ “mà” lập đi lập lại nhiều lần:

Mà mơ, mà nhìn lên cõi trời cao,
Mà ngùi thương những năm nào,
Mà mong tìm một ánh sao…

Xin vĩnh biệt ánh sao.

QuynhGiao

 Quỳnh Giao – Tháng 7, 1998

      

Thanh Trang viết về “Bạn lòng” & “Bắc một nhịp cầu”

Những bài hát xưa kia mà tôi thuộc thì cũng không phải là ít. Những lúc rảnh rang đôi chút, có dịp ngồi vào đàn để dạo qua những giai điệu cũ ấy thì mười lần như một, bao giờ cũng thấy hiện ra trong tâm trí những hình ảnh thật cũ kỹ, thật xa trong đời! Thoảng hoặc có dịp hát lại – hai mươi, ba mươi năm đổ lại đây thì áng chừng mỗi năm hát lại nhiều lắm là một lần cỡ một đoạn ngăn ngắn của một bài nào đấy trong lúc đàn – thì những cảm xúc không mạnh mẽ bằng khi đàn. Lời hát đàng nào cũng đóng khung cái ý chính của bài, trong khi nét nhạc thả cho tâm trí mình đuợc tự do ngao du hơn! Nhưng mấy hôm trước đây khi ngồi sọan xong cái hòa âm gọn nhẹ cho bài “Bạn lòng” của Hoàng Trọng (lời của Hồ Đình Phương), rồi đến lúc phải cầm “micro” để hát vì đã có hứa với L.T. là sẽ tuần tự hát cho đủ mười bài thì tự dưng thấy như có cái gì đấy nó nghẹn trong cổ họng khi hát lên những lời hát xưa! Xưa giờ thì tôi chỉ hát những bài nào tôi thích vì giai điệu đẹp, lời lẽ dung dị mà hay, rồi với thời gian thì bài hát lại chứa chất thêm nhũng kỷ niệm. Riêng khi hát bài “Bạn lòng thì, như vừa nêu, tôi thấy như có cái gì nó nghẹn trong cổ họng. Tôi hát và thu vào CD một lần để “làm nháp”, nhưng khi hát lại “chính thức” thì thấy là không đuợc nữa! Cứ đến những đọan như “Tôi đang còn ghi nhớ sớm nào trời đẹp màu nắng ta cùng hòa nhịp đồng tâm trong câu…” hoặc ở câu cuối: “Để hồn vui nhớ câu mơ ước ngày xưa nay dâng đẹp tình thơ..” thì tự nhiên cảm thấy như lòng mình bị thắt lại!

Thời ấy là năm tôi mười sáu tuổi. Mẹ tôi vẫn còn sống. Anh chị em còn quây quần với nhau đông đủ, chung một mái nhà với bố mẹ. Ấy là cái thời tôi hàng ngày chỉ có hai việc để làm: đi học và đi chơi với lũ bạn trong trường. Ấy là cái thời mà khi tan trường nơi góc Công Lý và Trần Quý Cáp ra thì tôi mải mong xách xe gắn máy chạy vù đến một trường Tư Thục nơi mặt đuờng Hai Bà Trưng để đón Thiên Hương, cô bé Bắc-Kỳ-con đang học lớp Đệ Ngũ, rồi cả hai cùng đi bộ về nhà cô nàng ở một cái biệt thự cách đấy không quá hai trăm mét! Thiên Hương dáng người thanh tú, nước da thật trắng, đôi môi lúc nào cũng hồng hào với nét cười rất tươi. Ấy là cái thời tôi đã đánh đàn ghi-ta tương đối ngon lành! Ấy là những ngày mà chiều đến nếu như không kẹt chuyện gì khác là tôi vác cây đàn ghi-ta đến ngồi với Thiên Hương trong vườn hoa sau nhà cô bé. Hồi ấy cái bài tôi thường hát đi hát lại là bài “Bạn lòng”.
Tình cảm con người ở vào cái lứa tuổi ấy, đang nói về tình đôi lứa,  sao mà nó trong sáng đến thế! Trong tâm trí tôi ngày ấy chưa có chữ “Anh”, chữ “Em”. Chưa có chữ “Tình Yêu” theo như với thời gian cứ nghe hoặc thấy thiên hạ viết trong các bài hát, trong thơ, trong các truyện ngắn truyện dài! Ở cái thuở ban đầu ấy, tôi chỉ biết có mấy điều giản dị: có mình, có cái cô Bắc-Kỳ-con ấy, và nếu có giấc mơ gì cho tương lai của  đôi lứa thì đấy: nó nằm sẵn ở đấy, ở từng lời từng chữ trong bài hát với phần lời của Hồ Đình Phương!
Nhân đấy thì tưởng cũng cần nêu một điểm mà với thời gian khi nhìn lại thì càng thấy rõ: Bài “Bạn Lòng” không có những lời hát như nó vẫn có thì tôi e rằng tôi cũng chỉ nhớ nó như bất kỳ một bài hát xưa nào khác với giai điệu giản dị mà đẹp. Mà Nhạc Sĩ Hoàng Trọng thì phải đâu là không viết đuợc lời hát hay cho chính những bài hát của mình! Ông xử dụng lời của Hồ Đình Phương (không phải một bài thơ phổ nhạc) chứng tỏ ông thấy rõ rằng viết lời cho một hát có giai điệu đẹp đẽ thì không thể tự dễ dãi với chính mình nếu như không có đúng những lời lẽ mình muốn viết! Không thể cứ chỉ cốt viết sao cho xong chuyện; những cái lảm nhảm, sáo rỗng! …

                                   

  Khi hát bài “Bạn lòng”, nhạc của Hoàng Trọng và lời của Hồ Đình Phương thì tôi đã có đề cập đến hai ông này. Có nơi người ta đã từng định nghĩa nhạc sĩ là “người viết nên giai điệu”. Nhưng trong một quyển sách về Nhạc thì ông Leonard Bernstein ở xứ Mỹ này ông ấy cũng đã viết rằng phàm đã ghép các nốt nhạc lại với nhau thì người ta nhất thiết phải tạo nên một giai điệu chứ không còn có thể tạo nên đuợc cái gì khác! Ông ấy viết là cứ ghép ba nốt nhạc khác tên lại với nhau, bất kể là ba nốt gì, thì nhất thiết là cũng tạo nên đuợc một “giai điệu”! Thì cũng đúng thôi! Thì cũng chả khác gì một người cầm bút lên rồi viết đại một câu gì đấy thì trước sau gì nếu chẳng thành “văn xuôi” thì cũng là “văn vần”, nếu như đấy là hai câu có vần có điệu với nhau! Hay dở, cao thấp thì lại là chuyện khác. Và tất nhiên là không phải “nhạc sĩ” nào cũng có đuợc những giai điệu đẹp đẽ như Hoàng Trọng!

Nếu ai từng theo dõi các bài hát của nhạc sĩ Hoàng Trọng từ thời cuối thập niên 40 cho đến trước năm 75 đều dễ nhận thấy một nét chung nhất: Chả có bài nào nghe qua một đôi lần mà người ta lại không nhớ ngay đến giai điệu của bài hát! Người nghe nhạc Hoàng Trọng thường nhớ đến những bài của ông theo tiết điệu Tango. Các cô thiếu nữ trong Nam khi xưa thì mười người như một đều dễ yêu thích cái chu kỳ yêu đuơng của đôi lứa qua bài “Mộng lành”, điệu Tango, (lời của Hồ Đình Phương) khi người ta đang mơ ước đến nhau với những lời lẽ như:
Ấy tơ đồng chờ ta chắp nối
Nhưng nào hồn ta dám nói
Vì muốn duyên còn đẹp hoài
Vì tình ấm không là tình hòa
Mà ấm khi lòng còn chờ
Thầm ước mơ rồi ước mơ

Rồi sau đó dẫn đến giai đoạn yêu thương hò hẹn với nhau như trong bài “Mộng ban đầu”, điệu Tango, (lời cũng của Hồ Đình Phương) với những lời lẽ như:
Nhớ về thăm em nhé!
Đừng van nỗi đuờng xa!….
Và:
Hôm qua buồn nhìn đâu
Thoáng mẹ già nom thấy
Hỏi: con chờ ai đấy?
Em níu lấy cành dâu
Che dấu mộng ban đầu

Tới đoạn đó thì tương lai của đôi lứa cũng đã có phần rạng rỡ!
Thế nhưng thường khi thì kết cuộc cũng dẫn đến cái cảnh trong bài Tango khác, nhạc và lời của Hoàng Trọng, như đuợc kể đến trong bài “Hai phương trời cách biệt”:
Ánh nắng chiều thoáng phai rồi
Hoàng hôn gợi thương nhớ xa xôi
Nhớ mãi nhớ muôn đời
Một chiều em khóc trong hồn tôi!”

Xưa kia giới trẻ, nhất là các cô, thích mấy bản Tango của Hoàng Trọng như vừa nêu là bởi trước sau gì các cô các cậu cũng thấy là những bài hát “giống” như thể viết riêng cho mình!
Thuở còn ở lứa tuổi yêu đuơng thì tuy thích giai điệu những bài hát vừa kể nhưng riêng tôi lại thích những bài như “Bạn lòng” (lời của Hồ Đình Phương), còn về thể điệu Tango thì tôi thích nhất những bài như “Đuờng về” (lời của Quách Đàm), “Phút chia ly” (lời của Nguyễn Túc), “Ánh trăng” (lời của Hồ Đình Phương), “Bắc một nhịp cầu” (lời của Hồ Đình Phương).

Thuở xưa mỗi lần nghe bài “Bắc một nhịp cầu” tôi cảm thấy lạc quan bao nhiêu khi nghĩ đến viễn ảnh cho cả một đất nước tự do thanh bình thì giờ phút này tôi cảm thấy ngậm ngùi bấy nhiêu. Hát nó lên như tưởng niệm một ước mơ đã mất, một ước mơ chung cho mọi người chứ chả cứ của riêng ai!

Thanh Trang (Nam Cali, mùa Thu 2004) ThanhTrang1

 

   BacMotNhipCau-HT-HDP1

BacMotNhipCau-HT-HDP-biatruoc

TiengToDong-05 (1)

Xin mời nghe một số nhạc phẩm do Ban Nhạc Tiếng Tơ Đồng trình bày:

                                         BUỒN (Dương Thiệu Tước) Tiếng hát: Mai Hương

                                      BẾN ĐÒ XƯA (Đào Thừa Liệt) Tiếng hát:Nhật Trường

CÀNH HOA TRẮNG (Phạm Duy) Tiếng hát: Thái Thanh

ĐÊM TRĂNG TRÊN VỊNH HẠ LONG (Hoàng Quý)  Tiếng hát: Phượng Bằng

KHÚC NHẠC NGÀY XANH (Nhật Bằng) Tiếng hát: Bạch La & Thái Thảo

ĐI CHƠI CHÙA HƯƠNG (nhạc: Trần Văn Khê  – thơ: Nguyễn Nhược Pháp) Tiếng hát: Hà Thanh

CaSiMocLan-02

         Nhạc sĩ Hoàng Trọng giới thiệu ca sĩ Mộc Lan hát “Khi Ánh Chiều Rơi” của Tạ Tấn & Trịnh Kính

CTDayNhac-HoangTrong

 

Nhạc sĩ Hoàng Trọng đã dạy nhạc hàm thụ và qua chương trình Dẫn Giải Ký Âm Pháp trên đài phát thanh.Ông đã soạn một số bản nhạc ngắn (như bài “Bên Cầu” ở trên) để giảng dạy.

TiengToDong-05 (1) TiengToDong-04 BanTiengToDong-HoangTrong (1)

VongTiengToDong-HT

BanTiengToDong-HoangTrong-02

Nhạc hòa tấu

           Hoàng Trọng, “Vua Tango” của nhạc Việt Nam
Thy Nga (phóng viên đài RFA – 2006.05.21)

Chương Trình Hoàng Trọng

Nhạc điệu Tango quý vị đang nghe Duy Trác trình bày, là bài “Đẹp giấc mơ hoa” Hoàng Trọng soạn nhạc, với lời ca của Thanh Nam …

Trong làng âm nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Hoàng Trọng được mệnh danh là “Vua Tango” do viết nhiều về nhịp điệu này và có nhiều bài Tango nổi tiếng. Hoàng Trọng đã lìa trần năm 1998 nhưng tới nay, ngôi vị ấy vẫn thuộc về ông.

“Mộng ban đầu” … Ngọc Hạ đang hát gửi đến quý thính giả, là nhạc bản Hoàng Trọng viết với lời của Hồ đình Phương.

Hoàng Trọng chào đời vào năm 1922 tại Hải Dương, lên 11 tuổi đã bắt đầu học hỏi về nhạc. Ngoài nỗi đam mê và năng khiếu về âm nhạc, Hoàng Trọng còn có tài tổ chức ban ca nhạc. Lên 15, đã thành lập ban nhạc gồm các anh em trong gia đình, cùng với các bạn như Đan Thọ, Đặng Thế Phong, Bùi Công Kỳ, Tạ Phước, … Và sáng tác đầu tay khi vừa 16 tuổi với nhạc bản “Đêm trăng”. Đến năm 1945, ban nhạc ấy lấy tên là “Thiên thai” theo với tên phòng trà mà ông mở tại Nam Định. Cuối năm 1946, chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ, phải tản cư khỏi Nam Định, qua Phủ Nho Quan rồi Phát Diệm, Hoàng Trọng ghi lại thời chinh chiến đó qua nhạc bản “Phút chia ly”, bài Tango nổi tiếng nhất của ông.

Mời quý vị nghe đoạn thâu tiếng của chính nhạc sĩ Hoàng Trọng giới thiệu bài “Phút chia ly”. (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên)
“Phút chia ly” do Thu Tâm trình bày …Là ca sĩ và nhạc sĩ Violon tham gia “Tiếng tơ đồng”, Thu Tâm sau này trở nên người bạn lòng của Hoàng Trọng. Các nhạc bản của ông bắt đầu được phổ biến qua làn sóng phát thanh.

Hồi còn ở Nam Định, vào năm 1940 nhạc sĩ Hoàng Trọng đã mở lớp dạy đàn. Với kinh nghiệm ấy, khi lên Hà Nội, ông biên soạn quyển “Tự học Hạ Uy cầm”. Ngoài ngón đàn này, các nhạc cụ mà ông xử dụng là Saxophone, Violon, sáo, và ông liên tục soạn hòa âm.
Hoàng Trọng đoạt giải thưởng Âm nhạc Bắc Việt 1952 với nhạc bản “Buồn nhớ quê hương”. Năm sau đó thì bài “Nhạc sầu tương tư” đưa tên tuổi Hoàng Trọng âm vang khắp nơi. “Nhạc sầu tương tư” Lam Trường hát …

Qua năm 1954, ông soạn nhạc bản “Dừng bước giang hồ” với lời của Quang Khải. Đây là bài mà ta có thể gọi là tiêu biểu cho nhạc điệu Paso doble của Việt Nam.
“Khóc biệt kinh kỳ” di cư vào Nam năm 54, Hoàng Trọng viết “Trăng sầu viễn xứ” và “Chiều xưa tưởng nhớ” ghi lại nỗi niềm xa quê.

Mời quý vị thưởng thức bài “Ngàn thu áo tím” qua tiếng hát “vượt thời gian” của Thái Thanh. Nhạc bản này (lời ca của Vĩnh Phúc) được coi là bài hay nhất của Hoàng Trọng về điệu Valse.

Hoàng Trọng để lại cho đời, khoảng 200 nhạc bản gồm nhiều thể điệu mà nổi nhất là Tango. Về lời, ông chỉ viết lối chừng bốn mươi bài, còn là lời do các bạn nghệ sĩ như Hồ đình Phương, Vĩnh Phúc, Quang Khải, Nguyễn Túc, Hoàng Dương, … đặt. Nhạc tình của Hoàng Trọng hay nói đến trăng sao, lẫn trong nỗi xót xa bởi tan vỡ tình yêu, và như nhạc sĩ Anh Việt cảm nghĩ thì “Hoàng Trọng miên man đi trong cơn mê dài, ve vuốt, nâng niu thú đau thương đó.”

Nhạc quê hương thì nổi tiếng là bài “Bên bờ đại dương”, và bài “Người đi chưa về” mà nhiều người còn nhớ qua giọng hát Lệ Thanh. Hoàng Trọng cũng sáng tác một số ca khúc cho thanh thiếu niên.

Có chi tiết đặc biệt mà Thy Nga muốn chia sẻ cùng quý thính giả, là nhạc sĩ Hoàng Trọng yêu nhạc tới nỗi đặt tên các con theo nốt nhạc: Hoàng Cung “Do”, Hoàng Cung “Fa”, Hoàng Bạch “La”, Hoàng Lê Thiên “Ut” và Hoàng Lê Kim “Mi”. Đến đây, Bạch La gửi đến quý thính giả ca khúc “Gió mùa Xuân tới”

Ở miền Nam, Hoàng Trọng bắt tay vào việc thành lập các ban nhạc trình diễn trên đài phát thanh Saigòn, đài Quân Đội, đài “Tiếng nói tự do”, và đài Truyền hình Việt Nam. Đó là các “Ban Hoàng Trọng”, “Tây hồ”, “Đất nước mến yêu” và nhất là từ năm 1967, ban đại hòa tấu và hợp xướng “Tiếng tơ đồng” trình bày những nhạc phẩm giá trị trên đài truyền hình, đã tạo danh tiếng cho người nhạc sĩ này.

Sau biến động Mậu Thân, ngành điện ảnh Việt Nam bỗng dưng hoạt động mạnh mẽ. Hoàng Trọng được mời viết nhạc cho tổng cộng là 16 cuốn phim mà đậm nét là bài “Người tình không chân dung” quý vị chắc nhiều người chưa thể quên. Với nhạc cho phim truyện “Triệu phú bất đắc dĩ” thì Hoàng Trọng chiếm giải thưởng Văn học Nghệ thuật 1972-73.

Những ban nhạc do Hoàng Trọng điều khiển, trình diễn cho tới khi xảy ra biến động năm 75. Trong thời gian bị kẹt lại, ông chỉ viết thánh ca, và vài ca khúc cho gia đình. Bài “Chiều rơi đó em” để tặng Thu Tâm, người bạn nghệ sĩ mà sau đó, trở nên bạn đời của ông.  “Chiều rơi đó em” do chính Thu Tâm trình bày …

Năm 1992, Hoàng Trọng cùng Thu Tâm và hai con nhỏ sang Hoa Kỳ định cư. Ông cộng tác một thời gian với đài “Mẹ Việt Nam” trong chương trình nhạc tiền chiến, và chỉ sáng tác 3 nhạc bản trên đất Mỹ. Ca khúc “Chiều rơi đó em” kết thúc chương trình tưởng nhớ nhạc sĩ Hoàng Trọng.

Thy Nga xin chào tạm biệt quý thính giả.

Chương Trình Sống Trong Tình Thân Ái của Như Hảo

HoangTrong-08

phỏng vấn Hoàng Trọng, Mai Hương, Kim Tước, Hà Thanh và Xuân Thu

NhacPhamVietChoPhim-HoangTrongPhimNguoiTinhKhongChanDungPhimBaoTinh

TiengToDong-Xuan1

Mời nghe:toàn bộ nhạc viết cho phim của Hoàng Trọng

Mời xem 2 phim ở youtube: “Người Tình Không Chân Dung“(1971) và “Bão Tình“(1972)

 

Xuân Tiền Chiến 1              Xuân Tiền Chiến 2

TiengToDong-Xuan2

Đường Vào Dĩ Vãng – Bạch La (Ái nữ cố nhạc sĩ Hoàng Trọng)

Bây giờ trời đã chuyển Thu sang Đông, sáng sáng đưa con đến trường học, trên đường về nhà, co ro trong chiếc áo lạnh dày cui, tôi vừa đi vừa rủa thầm cái thời tiết mắc dịch ở cái xứ lạnh lẽo này. Vùng chúng tôi là vùng kỹ nghệ nên thời tiết thật quái gỡ, mùa Hè thì chẳng mấy nóng lâu, mùa Thu thì mưa… mút chỉ, mùa Đông thì vừa mưa vừa lạnh, sống ở đây mà có tâm sự buồn thì bối cảnh chung quanh càng làm cho con người thối chí. Chẳng trách nào thỉnh thoảng báo chí vẫn đăng tin là người ta nhảy lầu hay đâm đầu xe vào gốc cây mà tự tử và lại thường xảy ra vào mùa này, cái mùa mà sáng bừng mắt dậy thì trời vẫn tối đen cứ tưởng là còn đêm, nhìn đồng hồ mới biết là giờ mà ở quê nhà thì mặt trời đã lên khỏi đỉnh đầu, ra khỏi nhà mới thấy cái thấm thía cái lạnh của thời tiết xứ người.

Sau bài hồi ký nói về chuyến đi Mỹ của chúng tôi vừa rồi được đăng ở các báo Việt tại hải ngoại thì nhiều người mới biết thêm về nhạc sĩ Hoàng Trọng; người cha đầy lòng yêu âm nhạc, vừa mất đi của tôi. Tôi được nhiều độc giả xa gần khuyến khích viết thêm nữa về cha tôi, về con người có cái vẻ thật khô khan bên ngoài nhưng lại có những dòng nhạc lãng mạn quá sức, mà càng nghe mới càng thấy những uẩn tình của ông che dấu trong ấy… Viết thêm về cha tôi ư? mặc dù cũng đã học vài năm tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trước năm 1975, tôi chưa hề viết bao giờ và tôi vốn chả có tài viết lách, cái năng khiếu về nghệ thuật của tôi chỉ gói ghém trong sự ca hát làm hobby. Sau này khi theo học đại học bên Đức này tôi đã lựa ngành vẽ mẫu cho vải, nên vẽ vời thì còn kha khá chứ muốn viết lách thì phải có trí nhớ dai mà tôi thì chúa quên lại thêm hai lấn sanh mổ bị chụp thuốc mê làm trí nhớ cũng hơi.. lủng!!!

Lần qua Mỹ vừa rồi tôi như trải qua một cơn ác mộng, ông ra đi một cách quá đột ngột làm tôi xúc động bàng hoàng đến độ cần phải viết một bài về ông để kể lại những diễn biến trong khoảng thời gian cuối bên cạnh ông. Tôi chỉ nhắm mắt lại là những hình ảnh ấy lại hiện ra tuần tự rõ ràng khiến tôi chỉ cần ghi lại mà không gặp khó khăn gì cả. Cái cảm xúc mất đi người cha thân yêu vẫn còn đầy ấp trong tâm tư, nhưng muốn viết về ông thì quả thật không dễ vì ông thật giản dị, thật ít nói, thật khép kín. Những người sống chung quanh ông đều tôn trọng cái thế giới riêng mà ông chỉ mở ra cho người ta thấy qua những dòng nhạc ông viết, còn con người của ông đối với bối cảnh bên ngoài chỉ là một sự nhịp nhàng điều hòa như cái máy: viết nhạc, thâu thanh, sáng đi, trưa về, chiều tối viết bài hoặc lên sân thượng nằm ướp sương và ngắm trăng sao…

Tôi được xem lại video buổi tưởng niệm 49 ngày của cha tôi được chú Nghiêm Phú Phi và các anh các chú tại tòa báo Người Việt ở Santa Ana tổ chức. Hôm ấy, ngoài các ca nhạc sĩ mến mộ cha tôi lên đàn hát nhạc của ông còn có các bạn hữu đã từng làm vìệc chung tại đài phát thanh cũng như thân quen lên nói chuyện về con người của ông cũng như những kỷ niệm với ông. Tôi rất lấy làm ngạc nhiên khám phá ra rằng cha tôi rất thật, rất trong suốt, nên ai đã tiếp xúc với ông đều có những nhận xét về ông rất đúng, những gì họ diễn tả là cha tôi đó, trong lề lối làm việc hay trong nếp sống gia đình ông vẫn là một người trong ngoài như một. Bây giờ, tôi cũng cố gắng để tâm tư trở về với dĩ vãng, nhớ lại những kỷ niệm với cha tôi mà xin viết bổ túc thêm để quí vị biết về ông vậy.

Hoàng Trọng và Âm Nhạc

Cha tôi bắt đầu viết nhạc lúc ông 16 tuổi, nghĩa là lúc ấy tôi đang còn ở một kiếp khác nên tôi không được biết gì về những hoạt động của cha tôi với âm nhạc lúc bấy giờ. Qua các tiểu sử của ông được đăng trên các báo chí thì ông cho biết ông đã phải ra đời rất sớm, tự học hỏi về âm nhạc vì hoàn cảnh gia đình không cho phép ông được theo trường lớp để có bằng cấp về âm nhạc như nhiều nhạc sĩ khác. Cha tôi sanh vào năm Nhâm Tuất mà theo Tử Vi Á Châu thì trai Nhâm gái Quí là số tốt lắm đấy, chỉ có chờ người đem dâng đến miệng mà ăn thôi. Nhưng sao tôi thấy có lẽ cha thôi thuộc thành phần ngoại lệ vì ông rất vất vả. Cũng vì hoàn cảnh eo hẹp của gia đình, ông phải dẫn dắt, dạy dỗ các em của ông là các chú và cô tôi theo ông vào ngành âm nhạc để mưu sinh. Chỉ có bác Cả tôi thì lập gia đình và làm việc cho chính phủ nên không hoạt động gì về nhạc, mặc dù chính bác Cả đã dạy và hướng dẫn cha tôi tập tễnh vào âm nhạc và nhờ đó cha tôi mới khám phá năng khiếu và sư đam mê về âm nhạc của ông.

Nói đến cha tôi thì phải nói đến ban nhạc do ông lập ra: Tiếng Tơ Đồng. Tôi chỉ được biết những hoạt động của cha tôi từ khi tôi hát cho ban Tiếng Tơ Đồng, được trình diễn trên đài truyền hình độ hai hoặc ba tuần một lần, còn đài truyền thanh thì hàng tuần nhưng bận học nên tôi được tha. Làm việc cho cha tôi rất ư là… khó chịu vì ông là một người rất tôn trọng kỷ luật và tỉ mỉ. Mỗi khi ông soạn chương trình, ông chuẩn bị rất kỹ lưỡng, từ bài vở cho các ca sĩ và nhạc sĩ, ông luôn luôn muốn ban nhạc của mình được hoàn hảo nên hay nghĩ ra những ý kiến mới lạ mà chúng tôi: những người cộng tác chung với ông, dưới sự hướng dẫn của ông như một vị tiền bối, như một người anh cả, đôi khi phải chịu đựng những ý kiến đôi khi hơi… khác bình thường! Thí dụ như ban Tiếng Tơ Đồng là một ban trình diễn những bài ca tiền chiến của các tác giả cùng thời hoặc lớn tuổi hơn cha tôi nữa, và các ca sĩ cộng tác với Tiếng Tơ Đồng phần đông cũng là các người chuyên môn hát về các loại nhạc này, các cô chú cũng đã hát có tiếng tăm từ ngoài Bắc, hoặc ngoài Huế nên đều đã khá lớn tuổi như các cô Mộc Lan, Kim Tước, Thái Thanh, Châu Hà, Hà Thanh, các chú Anh Ngọc, Nhật Bằng, Thanh Vũ.. các chị trẻ hơn thì cũng phải có trình độ nhạc lý vững vàng như chị Mai Hương, Quỳnh Giao, Hoàng Oanh, Thanh Lan, anh Nhật Trường… Vì sợ chơi nhạc tiền chiến khó chiếm cảm tình của các khán thính giả trẻ, cha tôi muốn tạo một sắc thái đặc biệt cho ban nhạc, ông tự đi chọn, mua vải để các ca sĩ mặc đồng phục; may áo giống nhau cũng có lắm vấn đề lắm chứ, theo luật nghệ thuật thì người gầy, nhỏ nhắn thì nên mặc vải hoa to hay mẫu to trong khi người có da, có thịt một chút thì nên xài vải hoa nho nhỏ thôi. Cha tôi thì chả phân biệt chi cả, cứ đi mua các loại vải thật là lòe loẹt, bông hoa nào cũng to bằng cái bát ăn cơm để lên truyền hình cho nó nổi mà lị! vừa nổi nhưng giá lại phài chăng nên chỉ có loại vải may màn cửa mới có, mà vải may màn cửa thì nó vừa dày, vừa cứng, ai mà may áo dài?

                                     TiengToDong-03

Hối ấy chúng tôi đả đảo dữ lắm, nhất là các chị ca sĩ , lên truyền hình ai chả muốn diện cho đẹp, cho cả nước thấy mà, nhưng cha tôi thì cứng rắn lắm, gần như là độc tài, cộng tác với ông thì phải làm theo ý của ông thôi, có bất bình thì cũng chỉ càu nhàu mà rồi cũng chả đi đến đâu. Ông đưa vải chỉ có việc đem may, tiền công tự phải lo, chắc mấy bà thợ may nào cắt áo dài cho chúng tôi cũng đều phải cười thầm, khách hàng này có cái “gout’’ quái lạ thiệt! Chưa hết, có người muốn mặc cổ cao, cổ thấp, cổ bà Nhu… cứ loạn cả lên, cha tôi có biết đến chuyện đó đâu, cứ việc may sao cho đồng nhất đi, bởi vậy đến ngày thâu hình đem áo dài đến mới phát giác ra người thì cổ tròn, người thì cổ trái tim lung tung, cha tôi lại tối sầm mặt mày, thở ngắn, thở dài cho là đám Ca sĩ cố tình “chơi’’ ông Bầu. Ông nhất quyết không chịu thua, đưa vải bắt may tiếp, bởi vậy mà số áo dài lạ lùng này chả ai dám mặc đi khơi khơi ngoài đường – thứ nhất: vì sợ người ta tưởng lầm mình là… cắc kè bông! thứ hai: trời Sài Gòn nóng hôi hổi mà mặc áo dài dày cui như thế không khéo mồ hôi toát ra trôi cả phấn son mất! Càng ngày số áo dài càng gia tăng nên đến ngày đi thâu hình ai cũng khệ nệ rê theo gần như cả một tủ áo dài nặng chình chịch- toàn vải may màn cửa mà lị!

Đến ngày thâu hình cũng nhọc công lắm. Ở các ban khác thì ca sĩ đến hát khỏe ru, nhắm giờ đến hát xong bài mình thì ra về, hoặc đôi khi hát cho hai ba ban khác nhau, thâu xong ban này thì chạy sang phòng thâu khác thâu cho ban khác, thật là nhất cử… tam tứ tiện. Nhưng hát cho Tiếng Tơ Đồng của cha tôi đâu có… thoải mái vậy! Ban nhạc của ông là một ban đại hòa tấu và hợp xướng nên bao giờ người ta cũng dành cho ông thâu hình và thâu âm vào buổi sáng vì họ biết sẽ kéo dài đến buổi chiều nếu không trục trặc gì. Còn nếu ba cái máy thâu hình mà đình công thì khỏi nói, đến tối cũng chưa xong – nghĩa là kể như đi “đoong” một ngày vì cha tôi bắt các ca nhạc sĩ đi sơm sớm mà còn tập dợt, ngoài những bài solo còn có song ca, tam tứ ca, phụ họa nữa, ai cũng cầm một sấp bài đã được phát từ cả tuần trước!
Tuy ai cũng được cho là có trình độ nhạc lý vững vàng nhưng cũng vẫn phải tập dợt chung với ban nhạc. Người Việt mình lại hay mắc bịnh kéo giờ, dặn 8 giờ thì đủng đỉnh 9, 10 giờ cũng còn kịp chán. Nhưng làm việc với cha tôi thì không có chuyện đi trễ được, ông mà dặn giờ nào là trước đó cả tiếng ông đã có mặt, đến trễ thì sẽ được tiếp đón bằng bộ mặt lạnh lùng như cục nước đá của cha tôi khiến ai cũng hơi… ớn. Thường thì chỉ có những ‘’ca sĩ khách’’ nghĩa là những ca sĩ không thường trực cộng tác với Tiếng Tơ Đồng và cũng chưa biết tính cha tôi thì mới phạm phải lỗi lầm đó, chứ ai làm việc với ông chỉ một vài lần là tự động phải đi đúng giờ ngay. Ông thường ít nói nhưng có một cái nhìn mà ai cũng hiểu ý, không cần phải nói bằng lời, ông buồn, ông vui, ông giận, ông hài lòng… chỉ qua một ánh mắt nhin thì ai cũng biết ngay. Tất cả đều thể hiện trên đôi mắt của ông, còn miệng thì không nói không cười, làm việc hay tiếp xúc với ông là tự động ai cũng phải hiểu cái ngôn ngữ ‘’câm’’ ấy – có phải là người có bản lãnh không hở quí vị?

Ngày ấy tôi còn trẻ lắm, mới độ đôi tám, ca sĩ trong ban TTĐ chia ra làm nhiều nhóm: các cô, thường nhỏ hơn cha tôi từ một chục cho đến vài tuổi, được gọi là nhóm mấy ‘’bà già giết giặc’’. Nhóm này đã từng quen biết hoặc làm việc với cha tôi từ dạo ngoài Bắc, các cô rất tự nhiên như người trong gia đình và… có vẻ chả… ngán cha tôi tí nào cả nên hay chọc ghẹo cha tôi lắm. Thấy cha tôi càng hồi hộp khẩn trương vì trục trặc kỹ thuật hay gì đó là họ càng thích đùa giỡn cho bớt căng thẳng, lắm khi chúng tôi cứ phải dấu mặt đi mà cười bò, trong khi cha tôi thì mặt mũi như đeo chì ấy, không thấy cởi mở tí nào. Khi nào thu hát xong thì cũng thấy ông hài lòng với nhóm này nhiều nhất, mấy cô mà tam tứ ca thì nhún nhẩy hết chỗ chê, thật đúng ý ông Bầu! Nhóm tuổi ít hơn thì các chị ít dám giỡn hơn, thỉnh thoảng mới dám bỏ nhỏ, ghẹo mà nói sau lưng cho ông nghe thôi chứ không dám nhìn mặt “ngầu’’ của ông. Tôi còn nhớ các chị hay bảo nhau: “thôi coi chừng chú Trọng sắp sửa ‘”môi anh hé run’’ kìa, đàng hoàng laị đi!. Nghĩa là cha tôi đang giận đấy, môi ông cứ xệ xuống mà lại run run như đang cảm động không nói nên lời vậy. Nhìn ông là đủ hiểu muôn vàn câu trách mắng trong ánh mắt, ở ông: đôi mắt đúng là cửa sổ của tâm hồn! “Nhóm nhí”, có tôi trong ấy, tuổi tác nhỏ nhất và cũng sợ ông nhất. Ngoài tôi là con gái ‘’rượu’’ của ông Bầu thì tuy sợ thì có sợ nhưng cái mồm nhất quyết không chịu thua, hay lép nhép, lải nhải hầu có gỡ gạc được đôi chút. Còn các “tên” kia thì tuyệt đối không dám hó hé gì cả. Ông biểu gì là răm rắp nghe theo thôi, hát bài vui là phải đu đưa, lắc loạn cả lên mới đúng ý ông, lắm khi mắc cở thí mồ mà vẫn phải lắc. Ôi, Cha tôi nhà độc tài số một!

Hồi mới có truyền hình, phải thâu hình ảnh và hát với ban nhạc cùng một lúc mới là đáng sợ. Có lỗi, phải thâu đi thâu lại, làm mặt ông đã tối lại càng tối hơn, chớ có nhìn mặt ông vì đã sai lại càng sai dữ nữa! Sau này, chơi kiểu “play back” nghĩa là thâu tiếng trước rồi khi thâu hình ca sĩ chỉ việc nhép lại nên cũng đỡ phiền nhiều mà lại khỏi cần học thuộc bài vì trong khi thâu hình thì có người nhắc ở ngoài cũng được. Tuy vậy nhưng cha tôi vẫn bắt các ca sĩ học thuộc lòng vì ông muốn họ diễn tả tự nhiên chứ không để lâm vào cảnh bối rối chờ người khác nhắc rồi mặt mũi cứ đờ đẫn ra, bài ca vui mà mặt mày hơi đau khổ! Đôi khi lại còn bị nhắc nhầm đâm ra miệng nhép một đằng, tiếng lại ra một nẻo thì… quê xệ! Bởi vậy trong ngày thâu hình cho TTĐ thì hay có cái cảnh… các ca sĩ đi thơ thẩn vòng vòng hoặc kiếm một góc nào trong phòng trang điểm để mà lẩm nhẩm học bài, xong rồi còn khảo bài cho nhau nữa để khỏi bị ông Bầu khiển trách. Riêng tôi nhớ lại những ngày đi thâu hình cho cha tôi thì thật là… đau khổ! Ngoài việc bài vở phải chuẩn bị kỹ càng không thì chết với ông, con ông mà không làm gương thì còn gì là thể diện ông Bầu. Thật ra tôi không đau khổ vì vấn đề phải thuộc lòng bài cho lắm vì trong ban của ông tôi chỉ hát những bài hợp ca, hay tam tứ ca với đám ca sĩ nhí thôi chứ không hát đơn ca. Thứ nhất là vì ban của ông toàn là ca sĩ “chiến’’ nên những bài đơn ca không đến lượt mình, thứ hai là tôi cũng bị bịnh run- ở sát bên ông thì càng “rét’’ hơn nữa, hát cho ông mà cứ sợ làm hỏng kiểu thôi… thà đừng hát còn hơn.

Đau khổ là vì tôi phải dậy thật sớm để đi với cha tôi, hôm nào mà có hẹn 9 giờ sáng là tinh mơ mình đã phải dậy sửa soạn, chưa 8 giờ đã phải ra khỏi nhà, leo lên cái xe Vespa của ông, ôm một đống áo dài nặng như bao gạo, bài vở thì ông bỏ vào cặp táp thật to để đàng trước dưới chân ông và hai cha con ì ạch mà tiến thẳng đến Đài. Cha tôi có một lối lái xe thật là an nhàn, cứ gần đến cột đèn giao thông thì hễ đèn vàng là ông đã từ từ để dừng lại, rất là đúng luật lệ, nhưng từ đằng xa mà thấy đèn xanh thì ông cũng chạm thắng để rồi đến nơi thì đèn vàng thì nghĩa là cũng dừng lại, ngồi đằng sau mà sốt cả ruột, cũng chả dám nói vì cũng … thế thôi! Trong mọi vấn đề, ông có bao giờ chịu thay đổi. Trời thi hay có luật bù trừ, sống trong một gia đình toàn những người thật trầm tĩnh, làm gì cũng từ tốn chậm chạp, từ cách đi đứng cho đến ăn nói, tôi lại là những gì hoàn toàn ngược: cha tôi cạy miệng cũng chả ra chữ thì tôi lại hay lách chách cái miệng, ông rất nhàn nhã trong việc lái xe thì tôi lại thích tốc độ, được dịp lái xe một mình là tôi phóng nhanh ghê gớm. Ai ngờ sau này lấy phải ông chồng cũng lái xe kiểu ăn chắc mặc bền như cha mình vậy, tôi chỉ còn biết kêu trời “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa”!

Hoàng Trọng và nếp sống gia đình

Khi mới di cư từ Bắc vào Nam, cha tôi cùng anh em tôi và người cô, em ruột cha tôi – người thay thế mẹ tôi để nuôi chúng tôi khôn lớn, đều ở chung tại một căn nhà nhỏ hẹp ở đường Cô Bắc, ngay khu chợ Cầu Muối, nơi nổi tiếng là không an ninh vì toàn các tay “anh chị’’ sống tại khu đó. Chúng tôi chỉ ở đó một thờI gian thì dọn về khu Nancy Chợ Lớn, nhưng cha tôi vì muốn ở một mình để soạn bài vở nên vẫn cứ ngủ ở đó, ban ngày ông về đằng chúng tôi ăn cơm trưa chiều. Tôi còn nhớ thỉnh thoảng cô tôi và tôi phải lên chỗ cha tôi ở để dọn dẹp vì cha tôi bày bừa ghê lắm. Ngoài âm nhạc, ông còn có thú chụp hình và tự rửa hình lấy, ông sắm máy móc đầy ra nên căn nhà nhỏ không có lối mà đi. Trên giường, trên bàn thì bài vở hình ảnh ngổn ngang, chất đống. Cô tôi phải dọn dẹp cả ngày mới xong nhưng tôi chắc chỉ gọn được vài ngày rồi thì cha tôi cũng sẽ bày bừa tiếp. Cái hay là ông vẫn tìm được bài vở trong đống hỗn loạn ấy. Tôi nghe ông luôn dặn cô tôi là khi dọn đừng quăng vứt đi của ông bất cứ cái gì, bởi thế cô tôi chỉ được phép xếp tất cả lại cho gọn mà thôi!

Riêng tôi, đi theo tháp tùng cô tôi chỉ để phá phách, nghich ngợm và vì tò mò, tôi thích nhào vào những đống giấy ấy mà moi móc lục lọi, có khi có cả tiền cắc thì thú quá. Còn không thì cứ tìm xem có hình cô nào lạ lạ mà được cha tôi chọn làm người mẫu thì phải kiếm cách mà đối phó nữa chứ, biết đâu chả là bồ của ổng? vì cha tôi thích chụp hình và quay phim nên ông hay yêu cầu các chị ca sĩ trong ban nhạc làm người mẫu. Cả tôi và người chị họ cũng là người mẫu thường xuyên của cha tôi. Mỗi khi Tết đến có chợ hoa là thể nào cũng có một ngày mấy chị em diện thật đẹp rồi đi khắp chợ, cười thi đua với hoa Xuân trong lúc cha tôi thì loay loay với máy quay phim trong tay và máy chụp hình trên cổ. Đôi khi ông sắm được máy mới thì chẳng cần chợ hoa, ông bảo chúng tôi thả bộ trong Thảo Cầm Viên đến rã cả chân để ông quay phim và chụp hình. Lại có khi mình cười làm dáng thiếu điều vọp bẻ cả mấy cái bắp thịt ở miệng lẫn chân (vì đi bộ cả buổi cơ mà!) thì ông bảo hết phim, đủ rồi, và hình ông khám phá ra điều gì không ổn, ông phán một cách thất vọng:
– Thôi chết chửa, ta lắp phim sai rồi!
hoặc là:
– Ơ, tuột phim mất rồi! Thôi, làm lại từ đầu nhá.

nghĩa là nãy giờ chỉ là công cốc thôi và ông mới cười hì hì coi như xin lỗi… thật là quê xệ! Chỉ những lúc ấy mới thấy ông cười, đáng giận quá nhưng nhìn vẻ mặt bẽn lẽn của ông lại không nỡ, nhưng thôi hết hứng mất rồi, khất ông lần khác vậy.

Sau năm 92, cha tôi sang định cư tại Mỹ, mỗi lần sang thăm và bước vào phòng ông là tôi mường tượng lại căn gác hẹp ngày xưa vì ông vẫn bày bừa như xưa. Cha tôi vẫn làm những công việc ông đã từng làm như ngày xưa là chí thú với âm nhạc và nghệ thuật phim ảnh, dĩ nhiên cô Tâm, vợ ông và Thiên Út, Kim Mi, các em tôi là các người mẫu cho ông thử nghiệm những khám phá mới lạ của ông, chúng tôi trao đổi những kinh nghiệm … méo mó của ông phó nhòm (cha tôi) cho nhau nghe để rồi cùng cười bò vì giống nhau quá sức!

Lần vừa rồi, sau khi cha tôi mất, anh em chúng tôi mới có dịp thu dọn căn phòng hỗn độn đó vì khi còn sống, ông muốn cứ để mọi thứ như thế cho ông, để ông có thể tìm ngay được những gì ông muốn tìm. Có lẽ ông vẫn áp dụng trật tự trong sự vô trật tự như mình học trong môn nghệ thuật chăng? Tôi bùi ngùi lượm những tiền cắc vương vãi đây đó nhưng lòng không còn thấy thú vị như ngày xưa. Tôi lại tiếc nuối khi sắp vứt bỏ những bài nhạc viết tay đã vàng của cha tôi, những dòng chữ quen thuộc của cha tôi và theo ông từ quê nhà đến xứ người. Tôi nâng niu xếp vào một thùng giấy cả những phim ảnh cha tôi tự chụp rửa cũng được giữ cả lại, những lưu vật của cha tôi mà, ai nỡ vứt bỏ…

Có lần khu Cầu Muối cháy vào ban ngày, lúc cha tôi đang thâu thanh ở Đài, khi về đến nhà chỉ còn là đống tro tàn. Cha tôi tiếc ngẩn ngơ các bài vở của ông, cũng may là ông còn để một ít bài vở ở căn nhà trong Chợ Lớn nên cũng vớt vát được chút đỉnh. Nhưng ông cũng đã phải bỏ rất nhiều thời giờ để viết lại tất cả những bài bản đã mất. Đúng như lời chị Quỳnh Giao viết về Ông:” một người soạn nhạc với tất cả tâm hồn”. Ông luôn nhớ những tác phẩm của ông như những đứa con tinh thần yêu quý. Ông chỉ cần ngồi xuống và viết lại từ lời cho đến nhạc mặc dù nhiều bài hát của ông do các bạn hữu viết lời nhưng ông vẫn thuộc vanh vách. Ngay cả thời gian sau khi mất nước (1975), các bài vở của ông lại thêm một lần nữa bị đốt bỏ, nhưng ông cũng đã viết lại các tác phẩm từ đầu tay cho đến mới nhất không sai sót tí nào.
Trở lại chuyện cháy nhà, sau đó các bạn hữu thân sơ trong giới nghệ sĩ đóng góp mỗi người một tay giúp cha tôi xây lại căn nhà của ông, vẫn tại chỗ cũ. Cha tôi quyến luyến với chỗ ấy, ông cho xây căn lầu ba tầng để ông tha hồ bày bừa các bài vở và nghiên cứu về phim ảnh. Ông dành cái sân thượng để nuôi chim cút và trồng nho, thế giới riêng của ông là đấy.

Cha tôi là người ít nói, điều đó ai cũng biết. Ông đi đi, về về, thầm lặng như cái bóng, chả nói với ai tiếng nào. Hàng xóm thấy vẻ lặng lẽ của ông cũng sợ. Con nít tụm năm tụm ba trước cửa nhà mà nghe tiếng Vespa lịch xịch của ông là lo giải tán ngay. Có một lần anh Fa tôi, lúc ấy khoảng bẩy hay tám tuổi gì đó, chạy chơi ngoài ngõ bị xe Taxi đụng phải, chỉ trầy sơ chút đỉnh, nhưng vì là con nít nên sợ hãi, khóc bù lu bù loa. Cha tôi được con nít trong xóm báo tin, chạy ra ngay hiện trường cầm cổ áo ông tài xế xốc lên khỏi mặt đất mà hét vào mặt ông ta “sao chạy thế nào để đụng phải trẻ con như thế ?’’. Tôi nhớ mãi hình ảnh cha tôi lúc ấy, ông nào có vạm vỡ gì, chỉ dong dỏng cao, thế mà chả hiểu sức ở đâu ra khiến cha tôi khỏe như voi vậỵ Mặt ông tài xế thật không còn hột máu thấy thật tội – chắc tưởng đụng phải con trai của tay anh chị bự nào đây! Dĩ nhiên sau đó thấy anh tôi không hề hấn gì thì thả ngay ông tài kia xuống và điều chỉnh giọng xuống bình thường, nghĩa là phải lắng tai mớI nghe rõ ông nói gì. Sau này thỉnh thoảng chúng tôi cứ đem chuyện cha tôi làm anh hùng Hercules ra chọc cha tôi, ông chỉ hơi tủm tỉm cười, chắc chính ông cũng không ngờ ông có thể nóng nẩy như vậy.

Trong nhà có chuyện gì ông cũng không bao giờ to tiếng, giận lắm thì ông trợn mắt hoặc quát lên một câu rồi sau đó là bỏ mặc không thèm ngó ngàng đến nữa. Tôi nhớ lần thi rớt tú tài, vừa ‘’quê’’ vừa nản, và thầm nghĩ làm con gái học ít thôi cũng được nên thưa với cha để bỏ học luôn. Cha tôi buồn lắm, ông không nói gì nhưng mỗi ngày ông về nghỉ trưa bên nhà chúng tôi, ông cứ nằm gác tay lên trán mà thở dài. Tiếng thở dài âm thầm nhưng não nuột làm sao, làm tôi đau khổ hơn muôn vàn lời trách móc, thậm chí nhiều lúc tôi chỉ ao ước cha tôi mắng chửi tôi một mách nhưng ông chả trách câu nào mà chỉ có im lặng thở dài. Đến nỗi sau Hè tôi chịu hết nổi, đành bấm bụng, muối mặt mà xách cặp đi học lớp tối để năm tới lều chõng đi thi tiếp. Lúc ấy mới thấy cha tôi trút được cái cục đá trên mặt mà tươi tỉnh trở lại. Cha tôi là thế đấy, ông vẫn tự cho mình là người câm, cái tình cảm rạt rào như sóng biển ông chỉ cất dấu trong lòng, rất thương con cái nhưng không bao giờ nói ra những lời ngọt ngào, văn hoa bóng bẩy. Tuy vậy chúng tôi cũng hiểu qua ánh mắt của ông, mỗi lần chúng tôi có sinh nhật khi đã lớn không tổ chức đình đám nữa nhưng ông cũng tự động mua cái gì đặc biệt đem về ăn, dù chả ai nhắc nhưng ông vẫn nhớ.
Cha tôi ít nói lại cương quyết nên cả họ đều nể sợ. Ngay đến bác Cả tôi cũng ngán cha tôi vì tính bác xuề xòa, nói nhiều nhưng hay mềm lòng chứ không như cha tôi, nói ít nhưng nói ra thì như đinh đóng cột vậy không ai lay chuyển nổi. Cô tôi hay phải la mắng để dạy dỗ chúng tôi nhưng khi cha tôi về đến nhà thì bà cũng không dám ồn ào vì tôn trọng sự yên lặng của cha tôi. Không dễ gì chọc quê hoặc làm cho ông nổi nóng đâu nhé, chọc già chọc dai thì ông cũng cứ tỉnh bơ như không. Chỉ có một cách đo lường cái chọc phá tinh nghịch của mình có kết quả không thì nhìn vào bàn chân của ông, hễ ngón cái nó ngoáy ngoáy, rung rung là biết cái độ nao núng của ông, càng ngoáy tợn là ông đang bị xao động dữ tợn đó! Thí dụ tôi biết ông rất yêu các sáng tác của ông, tôi chêm lời tầm bậy vào, chỉ hát độ hai câu là thấy ngón chân ông nhúc nhích ngay, chọc già tí nữa là thấy ông cười cười, mắt long lanh chớp lia lịa, chân thì ngoáy tứ tung, và cả hai đùi rung luôn, ha ha, thế là tôi biết mình đã thắng rồi, trong nhà chỉ có tôi mới dám đùa giỡn với cha tôi như thế.

Ông có trí nhớ dai phi thường, ông học ngoại ngữ bằng tự điển nên ông như là một quyển tự điển sống. Hỏi bất cứ chữ nào ông chỉ cần nặn óc tí thôi là biết ngay. Mà ông cũng thích được tra hỏi lắm nên dù đang giận chúng tôi, nhưng hễ tôi hỏi gì về các từ ngữ Ăng-lê là ông quên giận, giải thích cặn kẽ, thế là tôi lại có cả tài phá tan cái không khí nặng nề khi cha tôi đang giận. Có phải không có tôi thì trong gia đình rất im lặng buồn chán không?

Chính vì cứ nghĩ và tự tôn mình như thế mà tôi cho mình là cái rốn của vũ trụ gia đình. Từ lúc có trí khôn để hiểu được mình không có mẹ bình thường như các trẻ con khác, cha tôi đối với tôi là tất cả. Tôi yêu và tôn thờ cha tôi, ông là sở hữu của tôi, không ai có thể chiếm đoạt được. Một cái gì thay đổi nơi cha tôi, tôi cũng không muốn, cả khoảng đời thơ ấu cho đến lớn tôi quen sống trong cái tình thương không nói nên lời đó. Cho tới khi mất nước, tôi chạy thoát ra nước ngoài, bỏ ông ở lại một mình, tôi còn nhớ sau vài tháng mất liên lạc, lần đầu tiên nhận được thư ông viết từ VN tôi đã đau đớn vô cùng vì những tưởng ông không còn có thể đi thoát được. Và đọc thư ông tôi lại càng buồn khổ hơn vì ông như một người khác mất rồi, những lời lẽ ngọt ngào âu yếm thế, có bao giờ tôi từng được nghe đâu?

Tôi đọc đi đọc lại mà vẫn không hiểu có phải thật sự là cha mình đã viết những lời dài dòng này không, ông xưa nay vẫn là người ít lời ít nói mà sao bỗng dưng bây giờ lại ra thế này. Rồi những lần thư sau, cũng toàn những lời thư thắm thiết lạ lùng ấy, tôi cho rằng cha mình đã thay đổi và tôi bắt đầu thất vọng. Cho đến khi cha tôi lập gia đình thì sự thất vọng ấy lên tới tột cùng làm tôi đâm ra hỗn láo mù quáng. Tôi có biết đâu rằng chính tôi mới là đứa con gái ngu xuẩn đã ở bên cha mình mấy chục năm mà không hiểu được con người ông. Một người chỉ có thể diễn tả tình cảm trên trang giấy chứ muôn đời không thốt ra bằng lời. Sau này khi ông sang đến Hoa Kỳ tôi mới được gặp lại và càng thấy cái ngu của mình vì cha tôi vẫn như thế đó, vẫn như thủa nào: gặp mặt thì chả biết nói gì, cứ ấp úng mà nhìn thương, nhìn cảm, qua ánh mắt mà thôi.

Rồi tôi cũng có dịp làm quen với người vợ thứ hai của cha tôi và hai em cùng cha khác mẹ với tôi: Thiên Út, Kim Mi. Ca hai cũng ảnh hưởng tính nết của cha tôi, nhìn vào tụi nó là thấy hiện thân của cha tôi: rất nhỏ nhẹ, rất đầm. Mái gia đình thứ hai của cha tôi cũng y như chúng tôi ngày xưa vậy, lúc nào cũng êm ả như nhà tu, thì ra ai ở bên ông cũng tập quen cái lối sống bằng nội tâm không cần nói thành lời ấy.
Sau này, khi cha tôi làm chương trình nhạc tiền chiến trên Đài Phát Thanh Mẹ Việt Nam của chị Như Hảo, ông hay kể những tình tiết liên quan đến mỗi sáng tác của ông. Tôi mới càng nhận thấy ông không bao giờ ngừng yêu, ông vẫn chỉ là một người đàn ông đầy tâm hồn nghệ sĩ, yêu đời yêu người nhưng vì ông hay gặp phải trắc trở trong vấn đề tình cảm. Chính tôi cũng là đã từng là một chướng ngại vật, luôn luôn ngăn cản ông trên con đường tình cảm đó. Đã bao nhiêu lần tôi đã ích kỷ đặt từng cục đá chắn trên bước đường đi tìm hạnh phúc của ông, nên ông đã tự dấu diếm tất cả bằng cách mang cái mặt nạ sắt lạnh lùng, khắc khổ. Ông đã chịu cô đơn trong mấy chục năm để cho những đứa con hài lòng cho đến khi trưởng thành. Vì hoàn cảnh ly tán, tuổi già đơn độc nơi quê nhà nên ông mới lập gia đình và có được nguồn an ủi lúc tuổi đã xế bóng.

                                           BachLa1

Bây giờ ngồi đây viết lại những kỷ niệm với cha tôi, tôi chỉ còn biết tự trách mình dù biết ông chẳng bao giờ bắt lỗi đứa con gái nhỏ ông hết lòng thương yêu vì tội cho nó không có mẹ như ông đã nói với tôi trước giờ ly biệt. Tôi đã lăn xả vào lòng ông mà xin ông tha thứ, ông đã vuốt tóc tôi và bảo đó là lẽ thường tình mà thôi. Tôi vẫn tiếp tục tự trách những suy nghĩ và hành động nông nổi ngày xưa của mình, có phải khi người ta mất đi vĩnh viễn cái gì không thể tìm lại được thì mới nhận thức ra nhiều điều hay lẽ phải và mới càng thấy rõ lầm lỗi mình đã phạm phải? Thấm thoát cha tôi mất đã gần một năm, từ lúc tôi ngồi thả tâm tư đi ngược lại dĩ vãng và viết lại những kỷ niệm không bao giờ phai nhạt với người cha thân yêu. Đã trải qua gần hai mùa, vì nhiều khi tôi đang viết mà những cảm xúc và nỗi nhớ nhung dâng lên khiến tôi lại mủi lòng, khóc thương không thể viết tiếp phải bỏ ngang ở đó để làm chuyện khác nên mới mất nhiều thời gian như vậy. Khi bắt đầu là trời vào Thu mà nay đã sang Xuân, dù thế nhìn ra ngoài trời ở cái xứ xa xôi hẻo lánh này chả có khác gì, vẫn cứ xám xịt, cây cối vẫn trơ những cành khô và ra đường vẫn co ro vì gió lạnh.

Hè này chúng tôi lại sang Mỹ để tổ chức đám giỗ đầu cho cha tôi. Lúc ông còn nằm trong nhà thương và còn hy vọng được mổ để bình phục mà còn tổ chức thêm vài ba đêm nhạc Hoàng Trọng nữa thì bác sĩ cho chúng tôi biết họ đã bó tay rồị Phải báo cho cha tôi biết tình trạng vô vọng đó thì chúng tôi đau khổ vô cùng, không ai muốn làm chuyện đó cả nhưng sau cùng cũng đành phải nói. Nhân tiện có một cậu bác sĩ VN trẻ đang thực tập trong khu cha tôi nằm, cậu này ăn nói thật lưu loát và cũng quý mến cha tôi lắm nên khi thấy chúng tôi cứ do dự mãi không biết phải trình bày thế nào thì cậu nhận lới nói dùm chúng tôi. Hôm đó tôi rất là nhát, đã đứng núp ở bên ngoài để cô Thu Tâm và mọi người vào với cậu này nói chuyện với cha tôi. Chờ hồi lâu lòng bồn chồn không yên, tôi mới rón rén bước vào phòng núp sau lưng chị người chị dâu, qua bờ vai chị, tôi chỉ có thể nhìn thấy mặt cha tôi thì vào đúng lúc cậu bác sĩ đang nói cho ông biết là ông không còn hy vọng sống nữa. Tôi sẽ không bao giờ quên được vẻ mặt cha tôi lúc bấy giờ: vẻ ngỡ ngàng tuyệt vọng như một tội nhân bị tòa tuyên án tử hình vậy. Tôi đã không nén được xúc động mà phải chạy bay ra ngoài để khóc và tôi cũng chắc rằng mọi người trong phòng cũng không tránh được cái xúc động ấy. Độ một lúc sau, mọi người đi ra, mặt ai cũng bình tĩnh nhẹ nhàng và kể lại cho tôi nghe là cha tôi chỉ bàng hoàng vài giây (như tôi đã thấy) rồi ông bình thản mà chấp nhận cái lời phán quyết đó và còn pha trò để phá tan cái không khí thê lương đang ngự trị:
– Thế thì năm tới, đến ngày giỗ đầu thì nhớ tổ chức gì mà ca hát nhạc của Hoàng Trọng nhé.

Vì lời ước nguyện ấy nên cô Thu Tâm quyết định mùa hè năm nay sẽ làm một buổi ca nhạc Hoàng Trọng để tưởng nhớ đến người nhạc sĩ tài hoa, hết lòng vì nghệ thuật. Tôi thấy mình phải có bổn phận giúp cô để hoàn thành tâm nguyện của người cha đã mất. Con chim đầu đàn đã ra đi không bao giờ trở lại, chúng tôi biết không thể xây dựng lại một ban Tiếng Tơ Đồng như hồi còn cha tôi nhưng chúng tôi sẽ cố gắng tổ chức một buổi ca nhạc trình bày những tác phẩm, những đứa con tinh thần mà cha tôi cả đời đã soạn ra với tất cả tâm hồn của ông. Mong rằng những nghệ sĩ và bạn hữu có lòng ưu ái với Hoàng Trọng sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi để buổi ca nhạc thành công mỹ mãn, nơi chín suối cha tôi được hài lòng vì những công sức đã đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam sẽ vẫn còn tiếp tục được những người còn lại lưu truyền.

Bạch La  (Germany 10/98-3/99)

   Những dòng chia sẻ với mối tình cùng Hoàng Trọng – Thu Tâm

(Qua bài viết “Hoàng Trọng, cung thương dệt tiếng tơ đồng” đã viết từ năm 1998 nhân ngày Lễ tưởng Niệm 49 ngày cố nhạc sĩ Hoàng Trọng được đăng tải trên Cali Weekly, tôi đã liên lạc với ca sĩ Thu Tâm và chị có nhã ý viết lại mối tình với nhạc sĩ Hoàng Trọng – mạn phép chị, tôi đặt tựa đề – VTrD Cali Weekly.)

Lúc còn bé, Thu Tâm được chị dắt đi hát cho các tổ chức từ thiện, cho Nha Tuyên Úy Phật Giáo do Thầy Tâm Giác tổ chức. Ðến thời trung học, Thu Tâm tham gia ca hát trong trường học, vào những dịp lễ lạc để quyên góp và ủy lạo cho các chiến sĩ tiền đồn ven đô. Xong tú tài, theo học Ðại học Văn Khoa ban Anh văn thì biến cố 1975, không còn dịp đi hát nữa, chỉ sinh hoạt trong phạm vi gia đình và bạn bè…

Mùa hè năm 1977, Thu Tâm được cô bạn cùng học violon ở Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn giới thiệu đi đàn tạm thời cho ban nhạc thuộc công ty du lịch của thành phố, Thu Tâm được được xếp ngồi đàn violon cạnh nhạc sĩ Hoàng Trọng. Lúc đó, Hoàng Trọng cũng đàn và đôi khi viết hòa âm cho ban nhạc và được quen nhau từ đó.
Sau đó, Thu Tâm đi đàn cho ban nhạc khác nhưng vẫn đến thăm Hoàng Trọng để trao đổi về âm nhạc hoạc có thắc mắc gì về hòa âm, nhờ Hoàng Trọng giúp đỡ… Hoàng Trọng rất thích chụp hình vì vậy đôi khi đến chụp để lưu niệm và dôi khi rủ nhau đi mua cây kiểng về trồng. Nhà Hoàng Trọng có trồng cây Ngọc Lan và Thu Tâm rất thích loại hoa nầy nên luôn luôn có vài cánh hoa làm quà mỗi lần ghé thăm…

                                         

Tháng ngày trôi qua bình thường… cho đến một hôm cuối tuần, Thu Tâm đến thăm thì Hoàng Trọng cho biết, hôm giữa tuần anh bị ngất xỉu, hôn mê mà không ai hay biết… dần dần tự tỉnh dậy và đi bác sĩ, mới biết bị bệnh tiểu đường từ lâu rồi mà không hay biết. Từ khi biết bệnh tình, Hoàng Trọng bắt buộc phải ăn uống kiêng khem và bát đầu nghiên cứu về châm cứu và dùng Ngải Cứu chữa bệnh… Và, Thu Tâm trở thành phụ tá đắc lực trong thời gian ấy.

Một trong những phương thuốc mà Hoàng Trọng muốn thử nghiệm để chữa trị bệnh tiểu đường là dùng hoa Sứ nhật Bản và trái dứa sao cho thật khô để pha nước uống. May sao hàng xóm gần nhà bố mẹ Thu Tâm có cây hoa sứ đó, nhờ vậy Thu Tâm đi xin hoa Sứ về để làm thuốc… Trong thời điểm đó, vần đề tìm kế sinh nhai rất khó khăn nên có những buổi tối Thu Tâm đi xa, lên đàn trong Chợ Lớn, có lần gặp lúc mưa gió dữ dội. Hoàng Trọng lôi chiếc vespa để nằm xếp xó từ tháng 4 năm 1975, cong lưng đạp mãi mới nổ để đến đón cho bớt nguy hiểm. Càng gần nhau và chăm sóc cho nhau như thế thì khó xa nhau nên rủ đi vượt biên. Gần đến ngày đi, gặp chị bạn biết xem bói, nhờ xem cho một quẻ… chị tiên đoán chuyến đi nầy hung nhiều hơn cát thế là hủy bỏ chuyện vượt biên. Sau đó, gia đình có cho Thu Tâm đi vượt biên một lần nữa nhưng cũng không thành nên Thu Tâm không nghĩ đến chuyện vượt biên nữa. Về vấn đề tình cảm, Thu Tâm cũng đến tuổi trưởng thành cho nên bố mẹ cũng để tùy ý lựa chọn con đường tương lai cho riêng mình, miễn sao có hạnh phúc là bố mẹ yên tâm.
Hoàng Trọng bắt đầu tập dưỡng sinh, luôn luôn thức dậy thật sớm, không có những đam mê như uống rượu, hút thuốc để tìm cảm hứng khi sáng tác. Có lẽ khi hoàng hôn xuống là lúc Hoàng Trọng có nhiều cảm hứng nhất, hay lên sân thượng nằm mộng mơ với trăng sao, và ướp sương hằng giờ trên ấy cho đến khi thấm lạnh mới xuống phòng nghỉ.

Hoàng Trọng thường hay đến nhà Mục Sư Lưu Van Mão (thân phụ chị Vĩnh Phúc) để hàn huyên, tâm sự và rất khâm phục đức tính vị mục sư nầy.

Hoàng Trọng nói năng rất thận trọng, ăn mặc dễ dãi, không phê bình chỉ trích người khác, thích cầu tiến, tự học, tự tra cứu sách vở rất nhiều. Bề ngoài trông lạnh lùng, đạo mạo nhưng tâm hồn rất trẻ trung, chắt chiu gìn giữ nhiều kỷ niệm cảu những người thân quen. Có lúc Thu Tâm hoài nghi về chuyện tình cảm không bình thường này thì anh tâm sự là anh tin chuyện mình sẽ thành ngay từ khi có dịp nắm bàn tay Thu Tâm lần đầu tiên. Và, niềm tin yêu của Hoàng Trọng đã biến thành sự thật, Thu Tâm cũng tin tưởng vào niềm tin yêu đó. Tuy tuổi tác rất chênh lệch nhưng hai tâm hồn rất hợp nhau qua âm nhạc, qua mơ mộng… cũng như qua những đức tính cơ bản của con người là lòng chân thật và sự ân cần đến người khác…

Cuối năm 1979, Thu Tâm có mang, Hoàng Trọng đặt rất nhiều hy vọng vào đứa con này, thúc giục Thu Tâm phải siêng năng tập đàn nhiều hơn, kiếm thầy cho Thu Tâm học thêm về hội họa, đàn tranh và rất hồi họp chờ đón ngày chào đời của đứa con. Tháng Tám năm 1980, Thiên Út ra đời nhưng rủi thay cháu bị khuyết tật ở cánh tay và bàn tay phải! Hoàng Trọng vào thăm vợ con và ra về với nội buồn tê tái! Thiên Út rất kháu khỉnh và mạnh khỏe, được bố chụp nhiều hình. Dạo ấy, Hoàng Trọng khám phá ra cách chụp hình một người thành hai, ba, bốn… thành ra 4 nữa trên một tấm phim. Và, Thiên Út thành người mẫu cho “phát minh” ấy vì vậy nhiều người lầm tưởng Hoàng Trọng có con sinh đôi dạo đó. Thế là cái mộng cho con học đàn không thành nhưng bù lại hát hay. Khi còn học mẫu giáo, Thiên Út thuộc được nhiều bài hát và có thể hát chục bài không ngừng, lớn lên có giọng hát cao và khỏe.

                                          

Năm 1983, Kim Mi ra đời, có năng khiếu về âm nhạc nên học nhạc rất nhanh, chơi được piano va flute. (Năm 1992, Hoàng Trọng và gia đình định cư tại Hoa Kỳ, Kim Mi tốt nghiệp University Califonia Davis về Piano và Bio-Chem, vừa đi học vừa dạy đàn piano tại nhà, hiện đang theo học ngành Dược. Lúc nào nhớ tới bố thì ngồi vào đàn các bản nhạc của bố. Hai anh em bận đi học và đi làm nên không gặp nhau hằng ngày, mỗi khi có dịp gặp nhau thì em đàn anh hát, rất thương mến nhau như ước nguyện của bố).

                                            

Thời gian ở Sài Gòn, với phương tiện bằng xe đạp để di tập dưỡng sinh và những công việc một mình nhưng được đi lại nơi nầy nơi nọ. Khi sang Hoa Kỳ thì vấn đề đi lại tùy thuộc vào gia đình mà Hoàng Trọng thích đi đây đi đó không được nên rất buồn. Bấy giờ Thu Tâm là người tài xế, vừa lo công việc nội trợ, đưa đón con cái đi học, vừa đi học, vừa đi làm, quá bận rộn nên chỉ đưa Hoàng Trọng đến nơi nào đó rồi lo việc khác. Rất may, nhạc sĩ Anh Việt ở gần nhà nên có những dịp họp mặt văn nghệ, có bạn đồng hành với nhau.

Khi còn ở Việt Nam, Hoàng Trọng thường mời bà con, bạn hữu văn nghệ trước năm 1975 như ca sỹ Mộc Lan, Tâm Vấn, Anh Ngọc, Nhật Bằng… đến chung vui trong những dịp sinh nhật con cái, kỷ niệm mối tình có nhau… cũng là cơ hội tâm tình, hàn huyên với bao kỷ niệm xa xưa.

                     

Thời gian đầu, như những gia đình khác mới định cư tại Hoa Kỳ, tuy gặp khó khăn nhưng được sự hỗ trợ của chính phủ và bạn bè nên tạm ổn định để đầu tư cho con cái ăn học.

Khi định cư tại Hoa Kỳ, ước mơ của Hoàng Trọng tiếp tục dấn thân vào âm nhạc nhưng vấn đề đi lại nơi vùng trời bao la nầy bị trở ngại nên chỉ đóng góp ở địa phương. Hoàng Trọng cộng tác với chị Như Hảo trong chương trình phát thanh Hương Xưa ở San José, Thu Tâm hát nhiều cho phần bè phụ do Hoàng Trọng viết hòa âm. Hoàng Trọng rất nghiêm chỉnh, kỹ lưỡng trong từng nốt nhạc, hát sai một tí phải chỉnh lại cho thật đúng. Vì đam mê với nghệ thuật nên thời gian nầy, anh rất bận rộn và ít có dịp liên lạc với bạn bè thân quen. Sau khi ngưng chương trình phát thanh, Hoàng Trọng ước mong tổ chức được chương trình ca nhạc Hoàng Trọng – Tiếng Tơ Ðồng thật quy mô để có dịp quy tụ tất cả bạn bè cũ. Anh làm việc cật lực, bất kể ngày đêm, bất chấp cả sự ngăn cản của bác sỹ… Thế rồi sau buổi trình diễn đó, anh vĩnh viễn ra đi…!

Khi Hoàng Trọng vĩnh biệt cõi trần, Thu Tâm có dịp thu xếp các giấy tờ ngổn ngang trong phòng riêng của anh thì chợt bắt gặp tất cả thư từ và nhũng mẫu giấy nhắn tin của Thu Tâm gắn vào cửa sổ nhà Hoàng Trọng từ những ngày quen biết… Lặng người để nước mắt tuôn trào… kỷ niệm chợt hiện về từ phút giây đầu tiên Thu Tâm bước vào ban nhạc và trông thấy anh mặc chemise trắng dài tay ngồi bên cửa sổ đang viết hòa âm. Tóc muối tiêu lất phất bay, trông như tiên ông đạo cốt… và, sự “liên hệ tình cảm” có vẻ như không có thật mà khó thành sự thật nầy cho nên dạo ấy khi viết thư cho Hoàng Trọng, Thu Tâm thường gọi anh là “Tiên Ông” và mình là “Tiên Cô”.

Mỗi khi nhớ nhau, Thu Tâm thường mộng mơ hát nhạc phẩm Nhớ Hoài của Hoàng Trọng với lời của Vĩnh Phúc “Thiên thai thắm xinh, đây là chốn quê hương mình…”.
Sau 10 năm Hoàng Trọng vĩnh viễn ra đi rồi mà mà niềm tin yêu từ thuở ban đầu dành cho Thu Tâm vẫn còn đó và là nguồn an ủi lớn lao cho Thu Tâm trong những lúc băn khoăn, trăn trở trên đường đời.

Cảm ơn Hoàng Trọng, cảm ơn tình yêu của anh đến với Thu Tâm từ thuở đôi mươi với bao thăng trầm trong cuộc sống. Cảm ơn Hoàng Trọng đã mang tiếng hát Thu Tâm bay bổng trong vòm trời nghệ thuật, đi xa và Thu Tâm có cảm tưởng là mình “trẻ mãi không già” khi đi bên Hoàng Trọng hay nghĩ đến Hoàng Trọng.
Hoàng Trọng đã ra đi… biền biệt, không bao giờ trở lại nhưng hình bóng Hoàng Trọng vẫn mãi mãi bên cạnh Thu Tâm.
Hiện thời Thu Tâm chỉ dạy học tại nhà và ở Community School of Music and Arts ở Mountain, lúc nào rảnh rang và có điều kiện thì thu thanh các bài hát của Hoàng Trọng để làm kỷ niệm… như niềm chia sẻ cho nhau giữa người còn lại với người quá cố.

Thu Tâm
San José, tháng 3 năm 2008

Chiều Rơi Đó Em – Thu Tâm trình bày 

HOÀNG TRỌNG, cung thương dệt tiếng tơ đồng –
Vương Trùng Dương

(Bài nầy được viết nhân lễ tưởng niệm 49 ngày cố nhạc sĩ Hoàng Trọng do nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi, nhạc sĩ Nguyễn Hiền, nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng… tổ chức vào tối thứ Bảy, ngày 5 tháng 9 năm 1998 tại phòng hội nhật báo Người Việt, Little Sài Gòn. Và, đăng tải trên tạp chí Thế Giới Nghệ Thuật. Mười năm trôi qua, những nhạc sĩ trên đã ra người thiên cổ. Ðể tưởng nhớ đến nhạc sĩ tài danh có công đóng góp trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, tưởng nhớ mười năm ngày vĩnh biệt cõi trần và ba mươi năm với tác phẩm cuối cùng của nhạc sĩ Hoàng Trọng, Cali Weekly xin gởi đến quý độc giả – VTrD 2008)

Thế kỷ XX qua đi mang theo nhiều vì sao trong vòm trời âm nhạc Việt Nam, vĩnh biệt thế gian nhưng dư âm nhiều tình khúc bất hủ vẫn còn rung động bao trái tim thưởng ngoạn. Người nghệ sĩ tài hoa, đam mê nghệ thuật, giữ được nhân cách trong vườn hoa nghệ thuật đó, với Tiếng Tơ Ðồng vào cuối thập niên 50 đến 70, đánh dấu giai đoạn vàng son của nền âm nhạc nước nhà. Nhạc sĩ của dòng nhạc trữ tình và tình tự quê hương: Hoàng Trọng.

Bày tỏ tâm tư tình cảm với người bạn đồng nghiệp sống với nhau qua chiều dài của lịch sử âm nhạc, theo nhạc sĩ Phạm Duy: “Hoàng Trọng đã từng phục vụ cho nền tân nhạc Việt Nam từ lúc phôi thai cho đến khi đã trưởng thành, tất cả đều có một hành trình rất phong phú…Trong đời tôi, chưa thấy ai nhu mì như nhạc sĩ Hoàng Trọng cả”. Với nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Hoàng Trọng là người bạn văn nghệ suốt cả cuộc đời sống với nhau bằng chữ tâm: tâm thành, tâm ý trong nghệ thuật và cuộc sống. Trong bài viết Thuở Bình Minh Của Âm Nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Nguyễn Hiền viết: “Những ai sinh quán ở Nam Ðịnh đều biết thành phố nầy có những nhạc sĩ quen thuộc với đại chúng như Ðặng Thế Phong, Hoàng Quý Phạm Ngữ, tác giả bản Buồn Nhớ Quê Hương, Hoàng Trọng với những bản tango nổi danh và Ðan Thọ…”.

Theo nhạc sĩ Ðan Thọ: “Hoàng Trọng là khuôn mặt nghệ sĩ quý báu trong tình bạn từ lúc gặp nhau trong ban nhạc đầu tiên ở Nam Ðịnh vào thời tiền chiến và trải dài qua nửa thế kỷ cho đến lúc vĩnh biệt”.

Từ ca khúc đầu tay Ðêm Trăng năm 1938, mới 16 tuổi đến ca khúc cuối cùng Chiều Rơi Ðó Em năm 1978, trong 60 năm, nhạc sĩ Hoàng Trọng đã sáng tác hàng trăm bản nhạc, trong đó có nhiều ca khúc rất quen thuộc, được mọi người ái mộ và sống mãi với thời gian. Nhạc sĩ Hoàng Trọng được mệnh danh là Vua Tango của Việt Nam.

Theo Dòng Thời Gian

Hoàng Trọng, tên thật Hoàng Trung Trọng. Sinh năm 1922 ở Hải Dương, lớn lên ở Nam Ðịnh. Năm 11 tuổi học nhạc với sự chỉ dạy của người anh ruột, nhạc sĩ Hoàng Trọng Quý. Ông chơi được nhiều nhạc cụ như vĩ cầm, tây ban cầm, hạ uy cầm và sáo. Năm 15 tuổi, học nhạc tại trường Thầy Dòng Saint Thomas Nam Ðịnh và thành lập ban nhạc đầu tiên. Ban nhạc Nam Ðịnh gồm các anh em trong gia đình như Hoàng Trung An, Hoàng Trung Vinh và các thân hữu như Ðan Thọ, Bùi Công Kỳ, Ðặng Thế Phong, Phạm Ngữ, Vũ Dự, Tạ Phước… Ðến năm 19 tuổi, ông tiếp tục nghiên cứu âm nhạc qua sách vở và học hàm thụ từ Universelle de Paris… Hoàng Trọng là một trong những nhạc sĩ tiên phong sáng tác ca khúc cho nền tân nhạc Việt Nam.

Ca khúc Ðêm Trăng (1938), Bóng Trăng Xưa (1940), Thu Qua (1941)… xuất hiện trong thời kỳ mở đầu nền âm nhạc Việt Nam.

Năm 1945 Hoàng Trọng mở phòng trà, lập ban nhạc lấy tên Thiên Thai ở Nam Ðịnh. Cuối năm 1946, chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ, Hoàng Trọng cùng gia đình lánh cư ở Phủ Nho Quan, Phát Diệm, rồi về Hà Nội. Ðược sinh hoạt trong môi trường thích nghi, qua làn sóng phát thanh, những ca khúc Ðêm Trăng, Thu Qua, Tiếng Ðàn Ai, Lạnh Lùng, Chiều Tha Hương, Khúc Nhạc Xuân, trong đó 2 nhạc phẩm tango Bóng Trăng Xưa & Phút Chia Ly đưa tên tuổi Hoàng Trọng sáng giá và lan rộng khắp mọi miền.

Năm 1950, gia nhập vào Quân Nhạc Bảo Chính Ðoàn, điều khiển dàn nhạc nhẹ của chương trình phát thanh Bảo Chính Ðoàn trên đài phát thanh Hà Nội. Từ năm 1950 đến 1954, trước khi di cư vào Nam, Hoàng Trọng sáng tác trên hai mươi ca khúc: Ðường Về, Gió Mùa Xuân Tới, Say Say Say, Bến Mơ, Tiếng Nhạc Trong Sương, Buồn Nhớ Quê Hương, Bên Sông Ðưa Người, Cánh Hoa Xuân, Gió Lạnh Chiều Ðông, Chiều Về Thôn xưa, Mơ Xuân, Hoa Xuân, Gởi Hương Cho Gió, Hững Hờ, Một Nụ Cười, Tiếng Mưa Rơi, Vui Cảnh Mùa Hè, Khóc Biệt Kinh Kỳ, Tiếng Lòng, Lá Rụng… Trong đó có ca khúc Nhạc Sầu Tương Tư, nhạc phẩm trữ tình, tiếng lòng của con tim đang vương vấn trong tình yêu & nhạc phẩm Dừng Bước Giang Hồ sinh động, vui tươi được thịnh hành, trở thành quen thuộc, yêu thích, đưa tên tuổi Hoàng Trọng vang vọng cả nước.

Năm 1954, đất nước chia đôi, theo làn sóng di cư vào Nam, ngoài ba mươi tuổi, xa gia đình, sống trong hoàn cảnh gà trống nuôi con: Hoàng Nhạc Ðô, Hoàng Cung Fa, Hoàng Bạch La còn thơ dại. Lấy âm nhạc như nguồn sống, niềm an ủi vô biên để dấn thân trên cuộc hành trình xa lạ. Nỗi niềm đó được thể hiện qua hai ca khúc Chiều Xưa Tưởng Nhớ & Trăng Sầu Viễn Xứ.

Với khả năng và kinh nghiệm, lưu lạc ở Sài Gòn thời gian ngắn, Hoàng Trọng cùng bằng hữu thành lập ban nhạc với nhiều ca sĩ tên tuổi để trình diễn trên đài phát thanh Sài Gòn. Theo thời gian, Hoàng Trọng đảm nhận vai trò trưởng ban nhạc Hoàng Trọng, Tây Hồ, Ðất Nước Mến Yêu, lừng lẫy nhất, tên tuổi vang vọng với Tiếng Tơ Ðồng… hoạt động trên hệ thống truyền thanh Sài Gòn, Quân Ðội, Tự Do và băng tần Số 9 Truyền hình Việt Nam.

Từ 1955 đến 1960, Hoàng Trọng sáng tác khoảng 40 ca khúc, trong đó có nhiều ca khúc quen thuộc, nổi tiếng như Tình Không Biên Giới, Mộng Lành, Bên Bờ Ðại Dương, Mộng Ban Ðầu, Bạn Lòng, Nhớ Về Ðà Lạt, Tiễn Bước Sang Ngang, Ðàn Yêu…

Bước vào đầu thập niên 60, nhiều nhạc phẩm trữ tình, lãng mạn, chất chứa yêu thương làm say đắm hàng triệu thính giả ái mộ với Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím, Một Thuở Yêu Ðàn, Một Người Lên Xe Hoa, Hai Phương Trời Cách Biệt… xuất hiện thường xuyên trên làn sóng phát thanh và rất “ăn khách” qua các hãng đĩa.

Nói đến Hoàng Trọng, phải nói đến “Tiếng Tơ Ðồng”, và ngược lại. Ông đã để lại lịch sử âm nhạc Việt Nam ban nhạc nổi danh, tạo dựng nhiều tiếng hát tên tuổi, đưa nhiều sáng tác của nhiều nhạc sĩ lên đỉnh vinh quang của nền âm nhạc. Khi được mời thành lập ban nhạc để trình diễn trên hệ thống truyền hình, Hoàng Trọng nhận lời. Sau thời gian chuẩn bị chu đáo, ngày 30 tháng 8 năm 1957, Tiếng Tơ Ðồng xuất hiện trên đài Truyền Hình Việt Nam, qui tụ với khoảng 40 ca nhạc sĩ đã gây “dấu ấn” sâu sắc trong làng ca nhạc. Từ đó, Tiếng Tơ Ðồng vô cùng hấp dẫn, lôi cuốn giới mộ điệu, khán thính giả bốn phương và cũng là môi trường sinh hoạt, tiến thân của nhiều nghệ sĩ.

Tiếng Tơ Ðồng đánh dấu giai đoạn vàng son của nền âm nhạc Việt Nam, khán thính giả có dịp thưởng ngoạn cung bậc của thời tiền chiến, âm nhạc bán cổ điển, êm dịu, nhẹ nhàng, mượt mà, mang âm hưởng của thời kỳ lãng mạn Tây phương. Khi Tiếng Tơ Ðồng thành công trên bước đường nghệ thuật, Hoàng Trọng vừa lo chăm sóc Tiếng Tơ Ðồng mỗi ngày thêm sắc thái mới lạ, vừa chuyển hướng sang lãnh vực điện ảnh: nhạc phim.

Từ năm 1968 đến 1974, Hoàng Trọng viết hầu như gần hết nhạc phim Việt Nam vào thời điểm đó như Vụ Án Tình, Xin Nhận Nơi Nầy Làm Quê Hương, Giã Từ Bóng Tối, Bơ Vơ, Trao Nhau Lời Cuối, Mộng Cô Ðơn, Còn Ðâu, Duyên Kiếp, Lá Rừng, Người Tình Không Chân Dung, Nàng, Nhặt Lá Vàng, Tình Yêu Không Ðến, Gọi Sầu, Ngậm Ngùi, Ngọc Lan, Sau Giờ Giới Nghiêm, Bão Tình, Muôn Kiếp Ngậm Ngùi, Sao Phụ Tình Anh, Hương Ngọc Lan, Ðường Dài Một Bóng, Năm Hiệp Sĩ Bất Ðắc Dĩ, Còn Gì Cho Nhau, Bẫy Ngầm, Lệ Ðá, Cho Nhau Ân Tình, Mang Xuống Tuyền Ðài, Chiếc Lá Bên Ðường, Hoa Lư, Mùa Mưa Thương Nhớ, Triệu Phú bất Ðắc Dĩ, Ngày Vui Năm Ðó, Vào Thu, Hòn Phụ Tử…

Trong các bản nhạc phim nầy tiếng hát Lệ Thu trong Người Tình Không Chân Dung rất được thịnh hành ở Việt Nam thuở đó như tiếng hát Celine Dion qua bản My Heart Will Go On trong phim Titanic hiện nay trên thế giới. Về giải thưởng, ông đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật trong năm 72-73 về nhạc phim trong Triệu Phú Bất Ðắc Dĩ.

Cũng như nhiều nghệ sĩ tài danh khác, bước đường sinh hoạt nghệ thuật còn dài để cống hiến nhiều tác phẩm nghệ thuật cho đất nước, nhưng sau tháng 4 năm 75 trái tim và khối óc sáng tạo không còn nữa, sống âm thầm với thời gian… năm 1978 mới sáng tác tác phẩm cuối cùng Chiều Rơi Ðó Em như lời tâm sự để chia sẻ nỗi buồn đau.

“Chiều rơi đó em, trên đời anh hoàng hôn rồi
Chiều rơi đó em, trên đời anh sương lạnh rồi
Nhìn nụ hoa thắm mầu tươi, nở đẹp trong bóng chiều rơi
Chợt làm bước anh ngập ngừng trên lối

Chiều rơi đó em, trên đời anh lạnh tê người
Chiều rơi đó em, trên đời anh phai nụ cười
Cuộc đời anh vẫn lẻ loi, mà gặp em lúc chiều rơi
Thì tình thắm cũng là muộn mất rồi!…”

Năm 1992, Hoàng Trọng định cư tại Hoa Kỳ trong diện đoàn tụ. Ðược sum họp với con cái và sống với người vợ cuối đời – ca sĩ Thu Tâm – còn trẻ, chẳng được bao năm, Hoàng Trọng vĩnh viễn ra đi lúc 12 giờ 45, trưa thứ Năm, ngày 16 tháng 7 năm 1998 tại Paolo Alto, Bắc Cali, Hoa Kỳ, hưởng thọ 75 tuổi.

Hoàng Trọng đã sáng tác khoảng hai trăm bản nhạc, ông đặt lời cho một số tác phẩm, còn lại với lời viết như Quách Ðàm, Hồ Ðình Phương, Hoàng Dương, Nguyễn Túc, Vĩnh Phúc…

Những tác phẩm tiêu biểu theo mẫu tự alphabet gồm:

Bắc Một Nhịp Cầu – Bạn Lòng – Bẽ Bàng – Bên Bờ Ðại Dương – Bến Mơ – Bên Sông Ðưa Người – Bơ Vơ – Bóng Trăng Xưa – Buồn Nhớ Quê Hương – Cánh Hoa Xưa – Cánh Hoa Yêu – Châu Ðốc Miền Quê Yêu – Chiều Mưa – Chiều Mưa Nhớ Bắc – Chiều Rơi Ðó Em – Chiều Tha Hương – Chiều Về Thôn Xưa – Chiều Vũng Tàu – Dừng Bước Giang Hồ – Ðêm Trăng – Ðêm Về – Ðẹp Giấc Mơ Hoa – Ðường Về -Ðường Về Dĩ Vãng – Em Còn Nhớ Không Em – Gió Lạnh Chiều Ðông – Gió Mùa Xuân Tới – Hai Phương Trời Cách Biệt -Hẹn Gió Xuân Về – Hình Ảnh Quê Xưa – Hoa Xuân – Hồn Thanh Niên – Hương Ðời Ðẹp Tươi – Hương Mộc Lan -Hương Yêu – Khóc Biệt Kinh Kỳ – Khúc Ca Màu Xanh – Khúc Ðàn Tâm – Khúc Hát Mùa Chiêm – Khúc Nhạc Xuân – Khúc Tình Ca Ngày Cưới – Lá Rụng – Lạnh Lùng – Mộng Ban Ðầu – Mộng Cô Ðơn – Mộng Ðẹp Ngày Xanh – Mộng Ðẹp Tình Xuân – Mộng Lành – Mộng Ngày Hồi Hương – Một Người Lên Xe Hoa – Một Nụ Cười – Một Thuở Yêu Ðàn – Mùa Hoa Thắm – Ngàn Thu Aó Tím – Ngỡ Ngàng – Người Ði Chưa Về – Người Tình Không Chân Dung – Nguồn Mến Yêu – Nhạc Sầu Tương Tư – Nhặt Lá Vàng – Nhịp Võng Ngày Xanh – Nhớ Hoài – Nhớ Thương – Nhớ Về Ðà Lạt – Phút Chia Ly – Say Say Say – Thôi Ðừng Lưu Luyến Em Ơi – Thu Qua – Thương Về Quê Cha – Tiễn Bước Sang Ngang – Tiếng Ðàn Ai – Tiếng Lòng – Tìm Lại Hương Yêu – Tìm Một Ánh Sao – Tình Ðầu – Tình Thơ Mộng – Tình Trăng – Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím – Trăng Lên – Trang Nhật Ký – Trăng Sầu Viễn Xứ – Vào Mộng – Vui Cảnh Mùa Hè – Vui Cảnh Xây Ðời…

Trong nền điện ảnh Việt Nam, Hoàng Trọng viết nhạc cho rất nhiều phim, trong đó có những phim có tiếng như Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương, Giã Từ Bóng Tối, Người Tình Không Chân Dung, Sau Giờ Giới Nghiêm, Bão Tình…

Hoàng Trọng đã được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật trong năm 1972-1973 với nhạc của phim Triệu Phú Bất Ðắc Dĩ.

Trái Tim Nghệ Sĩ

Ông hoàng của nhạc khúc tango sau thời gian cố gắng thực hiện Ðêm Nhạc Hoàng Trọng để đánh dấu 60 năm cuộc đời âm nhạc và 40 năm với Tiếng Tơ Ðồng… Nói đến Hoàng Trọng phải nhắc đến Tiếng Tơ Ðồng và ngược lại. Hơn nửa thế kỷ dấn thân cho nghệ thuật, trong vòm trời âm nhạc Việt Nam, một vì sao rơi, bao nhiêu niềm thương tiếc.

Âm nhạc có lẽ nhập vào tận huyết quản của Hoàng Trọng, yêu cung bậc đến nỗi dùng nốt nhạc để đặt tên cho con cái. Thế nhưng, nghệ sĩ sống giữa ngàn hoa song trái tim khô héo trước muôn màu khoe sắc! Hoàng Trọng lập gia đình năm 1945, được 3 người con rồi chia tay người vợ đầu đời. Trái tim rướm máu, nỗi niềm đó thể hiện qua lời ca tiếng nhạc: “Ai thay ai đổi tơ duyên bước chân sang thuyền. Riêng ta ấp ủ trong tim tình đầu nào quên… Bao nhiêu lá thay màu,. Ngày nào ta vẫn khắc sâu ngàn câu mến thương” (Tình Ðầu). Niềm nhớ khôn nguôi với hình ảnh năm cũ vẫn canh cánh bên lòng “Ai biết thương nhớ bao giờ nguôi. Lạnh lùng trông cánh lá khô nhẹ rơi. Tìm dư âm cũ nhớ nhau mà thôi. Ðêm đêm dõi bóng một người. Tôi đi tìm thuở xa xôi” (Một Thuở Yêu Ðàn).

Hơn hai thập niên, Hoàng Trọng sống trong thế giới âm thanh, thế giới đèn mầu, sống giữa bóng hồng thướt tha, yểu điệu thục nữ nhưng bao mối tình đi phơn phớt qua trái tim, lãng đãng như sương khuya, đắng cay trong hơi thở. Hoàng Trọng sống độc thân để nuôi con, ông để trái tim mình trọn vẹn với con. Trong 3 người con, Bạch La là con gái út mang hình ảnh yêu thương thuở xa xưa và Bạch La không muốn hình ảnh người đàn bà nào ngự trị trong trái tim người cha đáng kính. Bản tính nhu mì, con người mẫu mực, trái tim khô héo nhưng tỏa ra rừng âm thanh thánh thót, diệu vợi, huyền ảo, lời ca chất chứa yêu thương, đam mê, trữ tình, nồng ấm.

Là nghệ sĩ, người cha, về tình cảm, khó có ai nghĩ đến con cái như Hoàng Trọng. Năm 1975 Cung Fa di tản sang Hoa Kỳ, Bạch La lưu lạc sang Ðức, ông sống trong cảnh cô đơn. Ông mang niềm bất hạnh lớn lao, không còn sống với âm nhạc, không được gần gũi với con cái. Sau 3 năm, con trai và con gái ở phương xa lập gia đình, ông tiến bước với người ca sĩ trẻ, nhỏ hơn khoảng hai con giáp, làm bạn đời để sống bên nhau khi tuổi xế chiều. Ông viết ca khúc Chiều Rơi Ðó Em cho Thu Tâm và hơn thập niên sau đó ông không sáng tác ca khúc nào khác. Với Thu Tâm, được 2 người con là Thiên Út và Kim Mi; Hoàng Trọng muốn truyền máu huyết âm nhạc lại người con gái và tuy còn nhỏ nhưng Kim Mi chịu khó học hỏi, rèn luyện âm nhạc để thừa hưởng di sản tinh thần của thân phụ.

                                  

Trong sáu năm định cư tại Thung Lũng Hoa Vàng, Hoàng Trọng trở lại với âm nhạc nhưng không được không khí sôi động, hấp dẫn như thuở xa xưa. Ông trở lại với âm nhạc như chim muông trở về rừng tìm tiếng hót cho an ủi tuổi già, cho thỏa lòng khát khao mong đợi. Ông tìm được niềm vui, hạnh phúc gia đình với âm nhạc với sự rung cảm, đồng điệu trên bước đường sinh hoạt văn nghệ. Hoàng Trọng muốn thực hiện “dấu ấn cuộc đời nghệ thuật” nơi hải ngoại nên mê say lao vào công việc. Tuổi già, sức yếu nhưng khi bắt tay vào nghệ thuật lại miệt mài, bất chấp sức khỏe. Và rồi, Ðêm Nhạc Hoàng Trọng là đêm định mệnh cho cuộc đời nghệ thuật, có lẽ ông cũng linh cảm được điều gì đó khi quy tụ đông đảo thân nhân và bằng hữu để cùng nhìn nhau lần cuối trong ngày tháng lưu vong. Sau đêm đó, Hoàng Trọng ngã bệnh, khó thở, nôn mửa thức ăn, đi vào bệnh viện và bệnh tình ngày càng thêm trầm kha cho đến lúc vĩnh viễn từ biệt cõi trần. Rồi Ngày Sẽ Trôi Qua nhưng dòng nhạc vẫn còn lại vương vấn nơi chốn cát bụi trần gian.

Ngàn Thu Áo Tím

Từ ngàn xưa, mùa thu là mùa của thi ca, hội họa và âm nhạc. Mùa thu đến và được thể hiện với âm nhạc Việt Nam trên nửa thế kỷ, tuy nhiên những tình ca mùa thu đã đi sâu vào lòng người, vượt không gian và mãi mãi quyến rũ với thời gian.

Nói đến mùa thu, với âm nhạc, nói đến tình ca. Thế giới âm thanh của thương yêu, nhung nhớ, khổ đau trong trái tim rộn rã, nồng nàn, say đắm và rướm máu. Nhiều tình ca mùa thu từ thời tiền chiến cho đến nay đều giống nhau từ giai điệu đến lời ca, êm ái, nhẹ nhàng, lả lướt, thướt tha… như thời tiết mà tạo hóa đã an bài. Những bài ca mùa thu đã trở thành quen thuộc như Buồn Tàn Thu của Văn Cao, Thu Quyến Rũ của Ðoàn Chuẩn – Từ Linh, Ðêm Thu, Giọt Mưa Thu của Ðặng Thế Phong, Thu Vàng của Cung Tiến, Mùa Thu Paris, Nắng Thu, Mùa Thu Chết của Phạm Duy, Mùa Thu Không Trở Lại của Phạm Trọng, Thu Ca của Phạm Mạnh Cương, Hoài Thu của Văn Trí, Thu Tím Lá Vàng của Vân Tùng, Mùa Thu Trong Mưa của Trường Sa, Mùa Thu Cho Em của Ngô Thụy Miên, Thu Hát Cho Người của Vũ Ðức Sao Biển, Thu Sầu của Lam Phương, Nhìn Những Mùa Thu Ði của Trịnh Công Sơn, Tiếc Thu của Trần Thiện Thanh… như những ca khúc tuyệt vời, đã một thời làm vang vọng khung trời mùa thu, vượt thời gian. Hoàng Trọng cũng góp mặt trong rừng âm điệu huyền nhiệm, du dương trác tuyệt đó để làm nhịp cầu chuyển tiếp từ tiền chiến đến nay, ngoài Thu Qua, có Ngàn Thu Áo Tím. Ở hải ngoại, dù không sống trong thời khắc bốn mùa như quê nhà nhưng niềm rung cảm trong thu với ca khúc mang hình ảnh mùa thu với niềm đau thương rất tuyệt vời như những bản nhạc bán cổ điển của những nhạc sĩ tài danh trên thế giới vào thời kỳ lãng mạn của âm nhạc vào thế kỷ XIX.

Tiếng hát Thái Thanh, Quỳnh Dao… qua Ngàn Thu Áo Tím đã vượt thời gian và không gian. Thế nhưng, định mệnh với người nhạc sĩ lại đến trong âm nhạc, đôi khi bắt gặp sự linh cảm xa xăm nào đó với tình yêu. Khi viết ca khúc, Thu Tâm vẫn còn bé nhỏ và xa lạ nhưng bốn thập niên sau, ca khúc đó trở thành tiếng lòng, tâm sự của người bạn đời, góa phụ. Trong đêm tưởng niệm, tiếng hát Thu Tâm thay cho nỗi niềm thổn thức, khóc thương với hình ảnh tình quân:

“Từ khi xa anh, em vẫn yêu và nhớ. Mà sao anh đi, đi mãi không về nữa. Một bóng áo tím buồn ngẩn ngơ, khóc trong chiều gió mưa, khóc thương hình bóng xưa…

… Anh xa khơi, bóng mưa giăng đầy lối. Anh xa xôi, áo bay trong chiều tím. Anh xa xôi, áo em tím lẻ loi, tím lên khung trời nhớ nhung đầy vơi…

Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím. Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím. Nhuộm tím những chuỗi ngày vắng nhau, tháng năm còn lướt mau, biết bao giờ thấy nhau…”

Cùng với ca khúc Nghìn Thu Áo Tím, ca khúc Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím với tiếng hát Lệ Thanh đã làm rung động hàng triệu trái tim thưởng ngoạn âm nhạc.

Trời buồn đem mây tím về chơi vơi khiến lòng tối nhớ!:
Một mùa thu xưa lúc còn thơ ấu bên vườn mộng mơ.
Tôi đã yêu hoa màu tím.
Tôi đã hay mơ thầm kín,
Hay đứng bên song trông áng mây trôi lướt sang ngàn nơi.
Chiều chiều đi trong nắng nhặt hoa rơi ép vào trang giấy.
Và màu tôi yêu thuở nào xa vắng bây giờ còn đây.
Hiu hắt trăng thu mờ úa
Nâng cánh hoa xưa thầm nhớ
Man mác không gian mây tím giăng ngang in vào thu vàng.

Thu về hoa tím tàn, trần gian ngỡ ngàng và tim tôi xao xuyến mơ màng.
Ôi màu hoa mỹ miều, gợi thương nhớ nhiều, ngàn năm tôi mãi còn yêu!…”

Trong buổi lễ tưởng niệm, với chiếc áo dài màu tím, người góa phụ Thu Tâm với ca khúc Ngàn Thu Áo Tím như lời vĩnh biệt, mọi người đều xúc động, không cầm được nước mắt!

                              

Hoàng Trọng đi suốt cuộc hành trình trong chiều dài của âm nhạc Việt Nam. Ông không còn hiện diện trên cõi trần, trong không gian vô tận, thoáng hiện một vì sao màu tím với giải ngân hà bồng bềnh như những chuỗi âm thanh.

Vương Trùng Dương

Người Tình Không Chân Dung – Nhạc: Hoàng Trọng – Lời: Dạ Chung (Hoàng Vĩnh Lộc)

Nhạc hòa tấu

Tài liệu tham khảo:

1. Tuyển tập nhạc với thủ bút của Nhạc Sĩ Hoàng Trọng.
2. Bộ CD “Hoàng Trọng – Tiếng Xưa”.
3. CD “Chiều Rơi Đó Em – Tiếng hát Thu Tâm”.
4. CD ” Đám Cưới Đôi Chim Hồng – Tiếng hát Bạch La”.
5. Một số hình ảnh và bài viết từ: Thu Tâm, Bạch La, Quỳnh Giao, Thanh Trang, Vương Trùng Dương.
6. Các websites: www.dactrung.netwww.khanhly.net/phoxua/http://vi.wikipedia.org/,www.caliweekly.com
7. Chương trình phát thanh Âm Nhạc Cuối Tuần của Thy Nga (Radio Free Asia), Chương trình Đài “Mẹ Việt Nam” của Như Hảo …

                Mọi ý kiến xây dựng, xin thư về Phan Anh Dũng: dathphan1@gmail.com

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=604&Itemid=47

THÙY TRANG : Hồng Hạnh khai Xuân với album Diễm xưa


Hồng Hạnh khai Xuân với album Diễm xưa

Thứ Tư, 05/02/2014 21:36

Sau nhiều năm vắng bóng tưởng chừng bỏ cả nghề nhưng Hồng Hạnh (ảnh), ca sĩ được mệnh danh là “người đàn bà xõa tóc hát tình ca”, đã khai Xuân với một dự án âm nhạc đáng ngưỡng mộ.

 Diễm xưa – Utsukushii Mukashi, album nhạc Trịnh song ngữ Việt – Nhật, là phát pháo đầu tiên cho sự trở lại sau thời gian dài lặn mất tăm của chị. Đây là album thứ 12 của ca sĩ Hồng Hạnh với nhiều câu chuyện thú vị.

 

 

Ngày 10-2, ca sĩ Hồng Hạnh sẽ ra mắt Diễm xưa – Utsukushii Mukashi tại Tokyo và Wakayama, đồng thời có buổi diễn tại đây. Sau đó, chương trình sẽ diễn ra tại Hà Nội vào ngày 28-2.

Ca sĩ Hồng Hạnh cho biết: “Đã lâu, tôi không phát hành sản phẩm âm nhạc vì không hiểu hết cái khán giả cần. Thế rồi, tôi bị cuốn vào công việc kinh doanh. Chính điều này khiến cuộc sống của tôi cứ thấy thiếu điều gì đó. Tôi chợt nhận ra mang danh ca sĩ là phải hát, hát đến khi không còn hát được nữa. Tôi sẽ trở lại với âm nhạc trong năm nay, với hừng hực niềm đam mê, chẳng thua kém những đồng nghiệp trẻ tuổi”.

Để chứng minh, ca sĩ Hồng Hạnh đã công bố một kế hoạch dài hơi trong năm 2014 của mình với những live show riêng. Trong đó, đáng kể là đêm nhạc mùa Xuân (diễn ra vào tháng 3) tại Nhà hát Lớn Hà Nội; đêm nhạc mùa hè (tháng 5), đêm nhạc mùa thu (tháng 8), đêm nhạc mùa đông (tháng 10) và chương trình Year end music dinner (tháng 12).

 

Thùy Trang

Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9: Buồn cho cách xử lý quá con nít của Đàm Vĩnh Hưng


Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9: Buồn cho cách xử lý quá con nít của Đàm Vĩnh Hưng

(LĐ) – Số 197 – Thứ ba 27/08/2013 06:54

Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 đã nhận được nhiều sự đồng tình, ủng hộ từ phía khán giả, nhưng cũng bị phản bác không ít từ cộng đồng fan của các ca sĩ. Ông đã đưa ra lời xin lỗi đầy kiêu hãnh, thì mặc nhiên, bức “tâm thư” của ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng gửi cho ông  bị xem là lạc điệu, quá đà.

 

“Buồn cho cách xử lý quá con nít”Khi hỏi vì sao nói đúng bản chất của showbiz Việt mà lại phải xin lỗi, nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 điềm tĩnh: 

“Nếu những nhận xét của tôi mà bị người ta hiểu lầm là lời phỉ báng, xỉ vả, thì tôi sẵn sàng xin lỗi. Còn nếu họ hiểu biết thì họ sẽ phải cảm ơn tôi. Ai hiểu sao thì hiểu. Nếu hiểu được thì tốt.

Như Tuấn Hiệp, tôi là người thương Hiệp nhất, và chính cách nói  tình cảm như vậy khiến Hiệp hiểu được tôi. 

Tôi từng giải thích với Tuấn Hiệp rằng, người Bắc thì không thể hát nhạc boléro hay được. Còn với Thanh Lam, tôi chỉ nói là Thanh Lam hát bài của tôi chưa khiến tôi hài lòng thôi, chứ không phải hát bài của người khác thiếu cảm xúc. Người viết chưa đủ trình độ  nên truyền đạt không chính xác. 

Tôi từng có ý kiến với Thanh Lam, là Lam  hát  bài “Cô đơn” cường điệu quá, có khi người nghiệp dư mà hát  nhẹ nhàng lại dễ vào hơn, chứ không phải là chê Thanh Lam hát không bằng ca sĩ nghiệp dư…”.

Nhiều người cho rằng, việc  Đàm Vĩnh Hưng “đối chất” với nhạc sĩ đáng kính bằng những lời lẽ cao ngạo là cái dại tiếp của ca sĩ này sau một số scandal gần đây.  Đàm Vĩnh Hưng đặt câu hỏi liệu nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9  có bị “cài bẫy”, bị “dẫn dắt” bởi người viết bài, hay tự làm “tan biến” hình ảnh của mình và thay vào  đó là “hình ảnh của ngụy quân tử”. 

Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 vui lên một chút khi có người đồng cảm với những suy nghĩ được ông thẳng thắn nói ra. Ông nói, ông rất mệt mỏi trước dư luận và không muốn nhiều chuyện.  Đọc “tâm thư” của Đàm Vĩnh Hưng, ông không buồn, mà chỉ buồn cười. 

“Đã là người nghệ sĩ Việt Nam,  thì phải có truyền thống tôn trọng những người lớn tuổi. Khi nói với người lớn tuổi hơn mình, đừng dùng cách ăn nói như thế, cho dù người đó có nói sai, làm sai đi chăng nữa. Muốn nói lại cũng phải có lễ phép. Văn hóa của người Việt mình là tôn sư trọng đạo, kính trên nhường dưới”.  Ngoài việc buồn cho cách xử lý quá con nít ra, ông không đặt nặng  vấn đề bị áp lực gì lớn.

Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 chỉ buồn cười khi đọc “tâm thư” của Đàm Vĩnh Hưng: “Muốn nói lại cũng phải có lễ phép”.

“Nhạc sĩ không phải xin lỗi”

Đã xuất hiện nhiều sự ủng hộ lời nói thật mất lòng, nhưng được nhiều hơn mất của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9. Nhiều người cho rằng, ông là người dũng cảm khi nói ra  điều mà ai cũng biết, song lại né tránh. Một số nghệ sĩ thành danh, nhưng chỉ chủ yếu làm công tác giảng dạy, đã lên tiếng bảo vệ quan điểm của ông. 

NSND Trần Hiếu khẳng định: “Cần người cảnh tỉnh cho âm nhạc nước nhà như nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9! Còn nếu cứ  ca ngợi ”sao” này, ”sao” kia thì  sân khấu nghệ thuật Việt Nam sẽ ngày càng tù mù lắm”.

NSND Trần Hiếu phân tích thêm: “Nói các ca sĩ ấy hát có kỹ thuật cũng chưa đúng lắm.  Có không ít người kỹ thuật chưa  đến nơi đến chốn, cứ cố tình “hét” càng to càng tốt. Âm nhạc mà hét lên thì đâu còn là âm nhạc nữa? Nhưng những điều Nguyễn Ánh 9 nói là đúng, cần nói hơi quá một chút cho mọi người tỉnh ra.  Bởi nhiều người cứ tưởng mình vĩ đại, nhưng thực ra là tiểu nghệ sĩ hết. 

Người ta phải có một trình độ nghệ thuật đâu ra đó, có học hành, tư duy bài hát, chứ không ít người đơn giản chỉ làm trò. Cứ làm hoài bài nào cũng vậy, nên không thấy bóng dáng của các nhạc sĩ, tác giả nào trong đó. Quan trọng nhất là hãy hát tiếng Việt, chứ đừng hát như tiếng tây, nghe khó chịu lắm. Không phải ông Nguyễn Ánh 9 nói không đúng đâu, nhưng  muốn sửa sai, làm cho đúng thì khó lắm, phải có những lớp dạy thật sâu sắc, bài bản để thay đổi từ từ”.

Ca sĩ Cao Minh nhìn nhận: “Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 không cần phải xin lỗi. Mà nếu ông xin lỗi, thì tôi xin đại diện cho những ca sĩ chuyên nghiệp rút lại lời xin lỗi đó. Tôi chỉ muốn nhắn với bác Nguyễn Ánh 9 là  bác đừng buồn, vì bác quá khiêm tốn, cả đời cống hiến cho âm nhạc, tác phẩm của bác để lại sẽ là muôn đời. 

Người hâm mộ hãy  bình tĩnh, đừng nặng lời với nhạc sĩ, sau này khi đã có nhận thức thì sẽ hiểu,  người mà ngày trước mình thần tượng thế, sao giờ… hát không hay nữa. Bác có lý của bác, nhưng  thị hiếu của người nghe rất đa dạng.  Có thể ăn vào chất độc hại, nhưng người ta vẫn thấy sảng khoái khi ăn thì sao? Khán giả phải tự nhận thức từ từ mới hiểu được.

Còn về phía ca sĩ,  muốn thể hiện hay, phải có tâm hồn, khả năng đặc biệt (tư duy, thẩm mỹ), chưa chắc học đã có thể hát hay. Ca sĩ nào có thói quen khoe, phô trương giọng, thích rú, ré mà không phải bộc lộ tâm hồn, thì tàn phá giọng hát, coi như tàn phá linh hồn mình”.

THANH BÌNH : Nhạc Việt trong mắt tôi: Nghe Phương Mỹ Chi, cảm thấy yêu nhạc Việt vô cùng


Nhạc Việt trong mắt tôi: Nghe Phương Mỹ Chi, cảm thấy yêu nhạc Việt vô cùng

03/09/2013 10:10

PhuongMyChi3noidungdung
Phương Mỹ Chi trong phần thể hiện ca khúc “Sa mưa giông” – Ảnh: Độc Lập

(TNO) Diễn đàn Nhạc Việt trong mắt tôi những ngày vừa qua nhận được rất nhiều bài vở, ý kiến đóng góp của bạn đọc. Thanh Niên Online xin giới thiệu đến bạn đọc những chia sẻ và góc nhìn đặc biệt của bạn đọc mà diễn đàn nhận được.

Hôm nay là câu chuyện về cô bé Phương Mỹ Chi, một nhân vật mà theo chia sẻ của tác giả dù còn nhỏ nhưng đã được một bộ phận không nhỏ bạn đọc xem như là hình tượng “gột rửa” làng nhạc Việt và giới showbiz.

Xin giới thiệu đến bạn đọc.

Nghe Phương Mỹ Chi, cảm thấy yêu nhạc Việt vô cùng

Tôi không xem cả The Voice lẫn The Voice Kidsnói chung là các thể loại show trên tivi. Công việc quá bận rộn khiến tôi không còn phân biệt được đầu tuần hay cuối tuần. Mặt khác, đã trót xem show nước ngoài, nên khi coi show nước mình làm thấy độ chênh xa quá, chả muốn xem nữa.

Mãi cho đến khi hiện tượng Phương Mỹ Chi bùng phát…!

Tôi có cái tật hễ ai thích cái gì là mình đâm ghét cái đó, bởi tôi cực ghét cái tâm lý bầy đàn, dễ a dua theo một cái gì đó đang là “hiện tượng”…

Nhưng lần này thì khác, tôi ùa vào đám đông đang hòa theo giọng ca của cô bé. Khi Hiền Thục nói Mỹ Chi làm tan chảy trái tim của khán giả, tôi thấy quả là nó làm tan chảy thật.

Khi Trấn Thành (dù rất hay “làm quá”) quẹt quẹt nước mắt thì tôi vẫn thấy đó là cảm xúc thật, rất thật!

Cái màn “Dân ca 3 miền” đưa Mỹ Chi đến quảng đại quần chúng quả là thần sầu. Và càng xem lại càng thấy rất có thể Hiền Thục cố tình dàn dựng để đưa Mỹ Chi vào vòng sau.

Vì sao tôi nói vậy? 

Vì Mỹ Chi hát nhiều nhất, vì Mỹ Chi hát cuối cùng và có nhiều điều kiện để có thể vượt trội so với hai bạn còn lại.

Ấn tượng ban đầu là như thế. Nhưng, càng xem lại nhiều lần thì càng thấy Mỹ Chi đi tiếp là xứng đáng. Vì nhiều lẽ; trong đó, có một yếu tố rất quan trọng: Em nhỏ này xử lý bài hát quá… xuất thần.

Khi cô bé cất tiếng, lập tức mọi người buộc phải chú ý. Tiếng hát của cô bé mảnh khảnh ấy không ngờ lại có một sức lôi cuốn lớn đến vậy. Mà lại rất đỗi tự nhiên, nhẹ nhàng. Chứ không phải giống cái cách thường thấy, khi một ca sĩ cố kéo lên nốt thật cao hay gầm cái giọng thật… rừng rú. Nếu Hiền Thục có dàn xếp (?), đấy cũng là một sự dàn xếp khéo léo và thậm chí, theo tôi, là cần thiết!

Mỹ Chi nổi tiếng nhờ vậy; và vẫn đang được yêu mến cũng bởi cái sự tự nhiên đó.

 

 
Phương Mỹ Chi thú vị và lạ lẫm trình bày ca khúc “Áo mới Cà Mau” – Ảnh: Phạm Thế Danh

 

Việt Nam có khoảng chục chương trình ca hát phát nhan nhản hằng tuần. Trong lúc tuyệt đại đa số chọn hát ca khúc tiếng Anh (dễ đậu, bởi chính giám khảo cũng không phải là những người hát tiếng Anh xuất chúng) thì Mỹ Chi chọn hát các bài nhạc tiếng Việt.

Trong lúc tuyệt đại đa số chọn dòng nhạc thời thượng, với những bản phối mới thì Mỹ Chi chọn nhạc dân ca và hát theo cách mộc mạc nhất. Xem chương trình, không chỉ tôi mà nhiều người thích dòng nhạc dân ca trữ tình đều dễ có cảm giác nhạc cụ dường như chủ yếu để làm nền cho giọng ca mà thôi.

Cái sự đi ngược dòng ấy khiến Mỹ Chi được yêu mến, khi mà hình ảnh của em đưa những người lớn chúng ta quay trở về với một thời tươi đẹp, chưa từng thấy bóng dáng của những thị phi, nhiễu nhương của môi trường showbiz, chưa có bóng dáng của công nghệ lăng xê, chưa có những màn cởi đồ khoe thân, chưa có cái bình phong “nude để bảo vệ môi trường”, chưa có những vũ điệu tào lao…

Khi ấy, chỉ có một ca sĩ, một micro đứng trên sân khấu, đem giọng hát của mình vỗ về khán giả. Rất tự nhiên, một cô bé 10 tuổi làm được cái chuyện mà chưa ai làm được: Nhắc nhở cho mọi người biết “giọng hát Việt” thì phải bao gồm 2 thứ là giọng hát (cô bé có) và phải là… Việt (cô bé dám).

Cái hay của dân ca là nó không cần bất cứ một sự lên gân nào. Bạn cũng không cần một trình độ nhạc lý “khủng” để xử lý nó. Cái chính – như nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 nhận định, qua vụ lùm xùm trong giới âm nhạc suốt thời gian qua – chính là tâm hồn. Mỹ Chi vẫn có những đoạn xử lý tinh tế, kỹ thuật, nhưng trên hết vẫn là phần hồn. Một giọng ca đầy đủ cảm xúc…!

 

>> Nhạc sĩ Tuấn Khanh: Nhạc Việt hôm nay, một ghi chép buồn
>> Nhạc Việt trong mắt tôi: ‘99% ca sĩ không đọc được nốt!’
>> Nhạc Việt trong mắt tôi: Đừng quên mất mình là ai
>> Nhạc Việt trong mắt tôi
 

 

Khi cô bé hát Quê em mùa nước lũ thì truyền được sự xót xa, khi hát Sa mưa giông cảm thấy một nỗi buồn man mác và khi hát Nhớ mẹ lý mồ côi thì lại khiến khán giả thấy tủi thân vô hạn. Những nét đẹp ấy không cần những màn xử lý thanh nhạc, chỉ cần bạn nhập tâm vào nó. Và Phương Mỹ Chi đã truyền được cái hồn ấy!

Mỹ Chi khác biệt không chỉ trên The Voice Kids mà còn trong cả cái sân khấu âm nhạc này. Ít nhất 3 người kể lại với tôi khi đến Sân khấu Trống Đồng và các phòng trà, khi Mỹ Chi cất tiếng thì tất cả đều im lặng rồi sau đó vỗ tay vang dội. Đấy là điều không có ngay cả khi sân khấu hôm ấy có Đàm Vĩnh Hưng.

Để gây sững sờ và làm “tan chảy” trái tim khán giả đôi khi chỉ đơn giản như Phương Mỹ Chi, vậy thôi.

Còn những ai chê Mỹ Chi không đa dạng thì, theo tôi, đấy là một sự đòi hỏi có phần quá quắt. Kêu Michael Jackson hát jazz, kêu Norah Jones hát rock, kêu Shania Twain hát rap thì còn ra thể thống gì nữa.

Mỹ Chi cứ hằng tuần xuất hiện, mặc nguyên bộ bà ba, cái kính cận to và cất giọng, thế là đủ.

Tôi tưởng tượng, rồi mai này em sẽ lớn, thành ca sĩ hay không nhưng có thể em sẽ ra đĩa, tập hợp những bài hát em yêu thích và hát. Và cái đĩa của em có lẽ cũng sẽ dung dị dễ thương như chính em, nằm lẻ loi trên sạp gồm đủ thứ ba láp hỗn tạp, nhưng chắc chắn vẫn sẽ có người mua.

Biết đâu, sự thành công của Mỹ Chi và những thí sinh dự thi cùng em sẽ cho ra một lớp nghệ sĩ tương lai, những nghệ sĩ thực thụ đi lên bởi tiếng hát và một tâm hồn biết rung cảm bởi nghệ thuật chân chính.

Sau khi nghe Hà Trần hát Đỗ Bảo, giờ lại được nghe Phương Mỹ Chi, lại cảm thấy yêu nhạc Việt vô cùng.

Và từ đó, vượt trên những thị phi, vẫn cứ cảm thấy yêu đời vô cùng…!

 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC:

Tương lai thế nào?

Tôi bây giờ không còn thích đi đến sân khấu nữa, bởi bây giờ chúng ta đi xem hát chứ không phải là thưởng thức âm nhạc nữa. Sân khấu quá nhiều âm thanh và đèn màu chớp loạn xạ. Ca sĩ thì không đứng yên, cứ nhảy nhót liên tục lại thêm múa minh họa nữa. Có thể tôi dốt thật, chẳng thấy múa minh họa ăn nhập gì với bài hát. Nhiều ca sĩ hát mà tôi chẳng hiểu họ hát gì vì không thể nghe được lời nhạc, như đang nghe một bài hát nước ngoài.

Những bài hát thế hệ trước, ca sĩ đâu cần phải nhảy, đâu cần múa minh họa, tiếng hát lời ca vẫn đi vào lòng người. Những bài hát mà giai điệu thật đẹp, lời ca thật trang nhã như thơ.

Nếu cứ như thế này thì nền âm nhạc Việt Nam tương lai sẽ… như thế nào?!

(Đỗ Sơn Hà, dosonha54@gmail.com)

Công nghệ cao, càng lao dốc

Việt Nam bước vào thiên niên kỷ mới, đất nước phát triển kinh tế thị trường, công nghệ ố ạt đổ vào, nhạc Việt cũng ồ ạt phát triển, dòng “nhạc thị trường” dần xuất hiện, phát triển nhanh hơn. Nhưng buồn thay, công nghệ càng cao, làng âm nhạc Việt càng lao dốc rồi chựng lại ở mức bão hòa, hay dùng từ đau hơn là “thảm họa”.

Nhạc sĩ chỉ cần 1 cây organ có thể hòa âm phát hành 1 bản nhạc. Ca sĩ chỉ cần 1 đĩa nhỏ + micro giả có thể đứng trên sân khấu lớn thể hiện những ca khúc, nội dung chỉ toàn nước mắt, chia lìa, chết chóc, nghe ca từ như nói huỵt toẹt hiểu liền khỏi cần động não, dàn nhạc công hoành tráng với  tên gọi “cát-ca-đơ”. Buồn…! Bầu trời nhạc Việt mọc đầy sao. Tự phong cho mình những danh xưng đầy kiêu ngạo, tạo bầy đàn tâng bốc huyễn hoặc.

Tôi có anh bạn thân (xin giấu tên) vì biết anh ta đã từng mài đũng quần 14 năm trong Nhạc viện TP, tốt nghiệp đủ các bằng cấp hạng ưu. Tôi có hỏi anh nghĩ gì về nền âm nhạc Việt hiện tại, anh ấy trả lời: “Cần trình độ… gì ông ơi, công nghệ hết, công nghệ lăng xê, công nghệ quen biết. Giờ tối ôm cây đàn đi làm, có việc là tốt rồi”. (Dương Phúc)

 

Thanh Bình

>> Giọng hát Việt nhí: Phương Mỹ Chi, Ngọc Duy và Quang Anh vào chung kết
>> Phương Mỹ Chi hát liên khúc của Hương Lan và Cẩm Ly
>> Clip: Phương Mỹ Chi mượt mà với ‘Áo mới Cà Mau
>> Giọng hát Việt nhí’: Phương Mỹ Chi diện tomboy hát ‘Áo mới Cà Mau
>> Giọng hát Việt nhí: Phương Mỹ Chi hát ca khúc của Phi Nhung
>> Phương Mỹ Chi xúc động trước các bệnh nhi ung thư
>> Giọng hát Việt nhí: An toàn như Phương Mỹ Chi hay ‘lột xác’ như Vũ Song Vũ?
>> Con nít “chê” nhạc Việt – Kỳ 3: Đừng bắt trẻ con làm trò cho người lớn!
>> Con nít “chê” nhạc Việt – Kỳ 2: “Các bé chê nhạc Việt sến
>> Con nít “chê” nhạc Việt – Kỳ 1: Ghét nhạc Việt, chuộng nhạc Anh, nhạc Hàn
>> 50 nghệ sĩ tham gia Gala nhạc Việt
>> Gala nhạc Việt: 50 nghệ sĩ cùng đi trên “Con đường tình yêu
>> Bắt tay chấn hưng ca nhạc Việt
>> Một “Khởi nguồn” khác của nhạc Việt
>> Chương trình hòa nhạc Việt Nam – Lào – Campuchia
>> Đàm Vĩnh Hưng: “Ai xứng là ông hoàng nhạc Việt hơn tôi?


>> Chọn niềm vui cùng “tam Linh” của làng nhạc Việt

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130903/nhac-viet-trong-mat-toi-nghe-phuong-my-chi-cam-thay-yeu-nhac-viet-vo-cung.aspx

Theo Nguoiduatin :Làng nhạc Việt: “Bò rống” lên ngôi, “vịt kêu” toả sáng


VĂN HOÁ ››
17/09/2013 16:39 GMT+7
 

Làng nhạc Việt: “Bò rống” lên ngôi, “vịt kêu” toả sáng

Âm nhạc được coi là một trong những nguồn vốn văn hóa tinh thần của mỗi dân tộc. Nhưng nhiều năm nay, những giá trị này đang bị đảo lộn trong cái guồng quay của ngành công nghệ giải trí.

 

Những sản phẩm ca nhạc “mì ăn liền” ra đời, gây ảnh hưởng tới một bộ phận không nhỏ khán thính giả. Nhìn ở góc độ kinh tế và khả năng lan truyền thì nhạc nhẹ hay nhạc thị trường đang sống khỏe và có phần lấn át nhạc tinh hoa. Với những người có tâm huyết thì đây là một thực trạng đáng buồn.

“Bò rống” lên ngôi, “vịt kêu” toả sáng

Từ khi đời sống kinh tế khá lên, mọi người được tiếp xúc nhiều hơn với mọi kiến thức của thế giới, các bà bầu rỉ tai nhau rằng phải cho con nghe nhạc khi mang thai. Mà nhạc ở đây phải là nhạc cổ điển, nhạc thính phòng, chứ không phải thứ nhạc ồn ào ở nơi mà các ca sỹ được tung hô trên các sân khấu như những ông hoàng bà chúa ngoài kia. Bởi nghe nhạc giúp thai nhi phát triển trí não, cảm nhận được những yêu thương từ cuộc sống, sau này sẽ thông minh hơn, giỏi giang và sống có ích. Nói vậy để đủ biết rằng, âm nhạc quan trọng như thế nào trong đời sống của nhân loại. Bởi âm nhạc không phải chỉ để thưởng thức, mà là để hình thành và phát triển nhân cách con người.

nhạc Việt, bò rống, vịt kêu

Nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu.

Tuy nhiên, một thời gian người ta phát hoảng khi ngay đến đứa trẻ lên 3, nói còn chưa sõi đã nhắm mắt, lắc đầu rên rỉ những bài hát thất tình với ca từ dễ dãi, thậm chí vô nghĩa được phát từ nhà ra phố. Mà nói như một vị tiến sỹ chuyên nghiên cứu về âm nhạc thì công chúng Việt Nam càng về sau, càng chỉ quan tâm nhiều đến thanh nhạc và nhạc nhẹ, chứ chưa chú ý đến khí nhạc và hai mảng chính khác của âm nhạc là nhạc cổ điển (tinh hoa của thế giới) và nhạc dân tộc (tinh hoa của từng quốc gia). Người ta hầu như chỉ xem nhạc mà ít nghe nhạc. Vậy nên ca sỹ đứng trên sân khấu trước hết là phải có ngoại hình đẹp, rồi đến trang phục bắt mắt, vũ đạo điệu nghệ mới hấp dẫn được người xem, mới có cơ hội trở thành… sao.

Chưa bao giờ như thời buổi hiện nay, người người đều muốn làm ca sỹ, và ai ai cũng đều có thể có cơ hội thành ca sỹ, chỉ cần đẹp một chút, giọng hát không tệ đến mức như “bò rống”, “vịt kêu” là được. Quan trọng là có một ông bầu tài lăng xê, và một cái đầu khôn lanh để có thể dùng mọi chiêu trò đánh bóng tên tuổi là ổn. Thử đếm trên đầu ngón tay, ở Việt Nam hiện nay những ca sỹ hát nhạc thị trường có bao nhiêu ca sỹ được đào tạo một cách bài bản về thanh nhạc. Vậy nhưng những ca sỹ này kiếm tiền như nước, đi một bước là có các fan hâm mộ tung hô, thậm chí sẵn sàng khẩu chiến với nhau vì họ. Những bài hát của họ vẫn thành hot (nóng – PV) trên khắp các trang mạng, các phương tiện truyền thông đại chúng, dù nhiều bài chỉ nghe vài lần rồi quên. Và các ca sỹ lại mải miết đi tìm một thứ khác để “hót”…

Rất nhiều người không cho những ca sỹ này xứng với danh xưng ca sỹ. Người ta gọi họ là những người đi hát. Nhiều bạn đọc chia sẻ đã lâu rồi họ không nghe nhạc trẻ Việt Nam. Khi nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 đưa ra những nhận xét thẳng thắn về các ca sỹ hiện nay của Việt Nam, không ít người hân hoan vì ông nói trúng quá. Nói cái điều bấy lâu nay họ muốn hét to cho mọi người biết, nhưng lại chẳng có tờ báo nào tìm đến hỏi. Cái hình ảnh nhiều bạn trẻ òa khóc, chen lấn nhau khi được gặp thần tượng của mình một dạo khiến không ít người thở dài ngao ngán. Quay nhìn lại, mấy người đủ lắng tâm để nghe hết một bản nhạc cổ điển, giao hưởng. Mấy người yêu và thuộc được một bài dân ca. Khuất sau những ồn ào, hào nhoáng của một sân khấu ca nhạc lớn, có hàng trăm nghệ nhân như “báu vật” hát xẩm Hà Thị Cầu từng sống vất vưởng trong nghèo đói mà không ai hay biết…

nhạc Việt, bò rống, vịt kêu

Những hào nhoáng nơi giá trị ảo ngự trị.

Khán giả xem, nghe đều bằng mắt

Nhiều người vẫn cho rằng, nhạc thị trường là thể loại thấp kém, thậm chí nó chẳng có một giá trị nào cho xã hội, mặc cho những nhận định đó, nhạc thị trường vẫn ồ ạt phát triển và có những khán giả riêng nhất định. Điểm qua các clip ca nhạc trên mạng sẽ thấy các ca sỹ đầu tư mạnh vào phần vũ đạo bắt mắt, trang phục đẹp, hình ảnh trong các clip chỉn chu, lôi cuốn người xem đến từng centimet hình ảnh. Khi khán giả lọt vào những clip ca nhạc dạng này họ sẽ bị chi phối về phần hình ảnh và họ không còn bận tâm nhiều đến việc ca sỹ hát như thế nào, người ca sỹ đó có hát hay thật sự hay không. Có một thực tế rằng, khi tập trung vào phần nhìn thì người ta khó lòng để tập trung để nghe được.

Sở dĩ, ngày nay nhạc giải trí phát triển rộng rãi là nhờ vào cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến, nhạc sỹ Nguyễn Ngọc Thiện, Phó Chủ tịch hội Âm nhạc TP.HCM chia sẻ: “Những năm trở lại đây khi truyền hình và internet ngày càng phát triển sẽ phát triển nền âm nhạc thêm phổ biến. Tuy nhiên cũng từ đó cái nhìn tập trung nhiều hơn, chính vì vậy sự bùng nổ về nhạc giải trí càng cao”. Nhạc sỹ Nguyễn Ngọc Thiện cũng chia sẻ thêm những nhận định về âm nhạc: “Mỗi loại âm nhạc phục vụ cho những đối tượng khán giả khác nhau. Âm nhạc cũng giống như một liều thuốc, nó nâng tinh thần của con người lên cao, chia sẻ, giãi bày với người ta cảm xúc, tâm tư tình cảm. Như thế là nhạc đã có giá trị riêng theo cách riêng của nó. Còn thế nào là nhạc xấu, chỉ khi nào nó vi phạm pháp luật, còn nếu được công nhận và phát triển ra thị trường thì không có nhạc xấu”.

Sự phát triển của nhạc giải trí như một quy luật tất yếu, nhạc sỹ Nguyễn Cường cho biết: “Nhạc giải trí luôn luôn lấn áp nhạc tinh hoa, ở nhiều nước trên thế giới cũng giống như Việt Nam, họ cũng phải chấp nhận tình trạng này, đó là một quy luật không thể khác. Đã là nhạc tinh hoa thì tính văn hóa cao lên, nó sẽ có đẳng cấp riêng, chính vì thế nó sẽ không thể tràn lan như nhạc giải trí”.

Kim chỉ nam đang ở đâu?

Giữa một không gian âm nhạc mênh mông, khổng lồ với đủ chủng loại, khán giả dễ bị choáng ngợp trong sự xô bồ đó thì rõ ràng cần phải có một kim chỉ nam nào đó dành cho họ. Nhạc sỹ Nguyễn Ngọc Thiện chia sẻ: “Giáo dục thẩm mỹ học trong âm nhạc sẽ giúp cho xã hội có một góc nhìn thẩm mỹ tốt, sẽ biết phân loại nhạc để nghe, có chọn lọc trong âm nhạc cũng từ đó sẽ giúp cho nền âm nhạc Việt Nam phát triển với âm nhạc thế giới, để làm được những điều này phải chăng chúng ta cần phải giáo dục ngay từ khi trẻ còn học lớp 1. Bên cạnh đó cần  có sự quan tâm của Quốc hội và Nhà nước về luật pháp cũng như  những chính sách riêng để âm nhạc Việt ngày càng phát triển hơn”.

Thiết nghĩ, nhạc giải trí và nhạc tinh hoa là hai yếu tố tồn tại song song trong xã hội, mỗi loại nhạc khác nhau sẽ có những khán giả khác nhau, đó là màu sắc trong cuộc sống. Tuy nhiên, để nền âm nhạc Việt Nam tiến xa hơn nữa việc giáo dục gu thẩm mỹ luôn là điều cần thiết. Nhạc tinh hoa kén khán giả cũng một phần do khán giả chưa có kiến thức về nhạc tinh hoa. Thêm một phần, những kiến thức căn bản về âm nhạc thường bị “bỏ rơi” trong nhiều trường học khiến lỗ hổng về âm nhạc luôn tồn tại trong thế hệ trẻ. Nâng cao kiến thức, đặc biệt là những kiến thức về âm nhạc sẽ giúp con người trở nên hoàn thiện hơn trong cuộc sống và sống nhân ái hơn.   

 Không biết một nốt nhạc cũng thành ca sỹ

Nghệ sỹ Bích Đào, nguyên cán bộ đoàn Văn công Trung ương, nghệ sỹ thổi sáo đầu tiên tại Việt Nam nói: “Ngày xưa, nhạc giải trí không có nhiều như hiện nay, còn bây giờ đi đâu cũng có nhạc giải trí, nào là quán cà phê, nhà hàng, quán bar, sự phổ biến này ắt sẽ lấn áp nhạc tinh hoa. Công nghệ giải trí khiến nhiều ca sỹ không biết nốt nhạc, không có giọng hát nhưng vẫn có thể trở thành ca sỹ nếu biết kết hợp yếu tố nhìn vào nhằm tung hỏa mù với khán giả. Giải trí sẽ mãi là giải trí và người ta sẽ dễ dàng quên đi chỉ sau một vài lần nghe. Thứ còn lại mãi mãi mới là những giá trị thực”.  

N.P.V.: Anh Thơ sẽ hát nhạc sến, VIETNAM


Anh Thơ sẽ hát nhạc sến

08:15 | 18/09/2013

Trọng Tấn đã nhiều lần muốn bỏ nghề giáo

TP – Trong DVD thứ ba Mình nhớ thương nhau, bên cạnh những sáng tác mang màu sắc dân gian vùng miền, Anh Thơ hát cả Riêng một góc trời hay Mùa thu không trở lại, đem lại sắc thái khác hẳn cho dòng nhạc này. Và Anh Thơ chưa dừng ở đây…

 

Anh Thơ quay trở lại với những bài từng hát thuở chưa nổi tiếng. Ảnh: Thăng Long
Anh Thơ quay trở lại với những bài từng hát thuở chưa nổi tiếng. Ảnh: Thăng Long.

 

Vì sao đang hát dân gian, Anh Thơ lại chuyển sang tiền chiến?

Mình luôn muốn tìm tòi, khai phá và làm mình phong phú chứ không muốn hát mãi một thể loại dẫn đến nhàm chán. Hai nữa tiền chiến cũng rất gần với dòng Anh Thơ hát. Trước đây Thơ ít hát vì khi mình thành đạt với dòng dân ca và người ta thích, cứ yêu cầu hát những bài đấy. Sau đây Anh Thơ ra 2 CD tiền chiến hoàn toàn, chọn những bài nhạc xưa hay nhất. Nếu hát những bài dân gian mà sến sến thì mới khó, chứ nhạc tiền chiến là nhạc sang mà.

Những bài thuộc dòng nhạc mềm mại hơn mà người ta hay gọi là nhạc bolero nếu Thơ hát chắc cũng hợp và khán giả sẽ thích. Phải chăng chị không lựa chọn vì nó mang tiếng sến?

Không. Có thể Anh Thơ cũng sẽ hát. Nhạc “lai”, nhạc pop-rock hay cái gì quá xa lạ thì mình không nhảy vào, còn dân ca, tiền chiến, kể cả nhạc người ta đang gọi là nhạc sến – tất cả đều là nhạc Việt Nam hết và là tâm tư tình cảm của con người Việt Nam, thì không có gì là xa lạ cả. Quan trọng là hát thế nào thôi.

Mọi người đang quay ra tranh cãi về nhạc sến, có ý kiến cho rằng ca sĩ hôm nay cứ đi đào bới nhạc xưa là sự thụt lùi?

Nói đúng ra nhạc xưa rất hay. Như Biển tình lời rất đẹp, giai điệu dễ chịu. Nhạc sĩ sáng tác nhạc xưa có tài thực sự. Người ta yêu cái nghề của người ta và người ta có ngôn ngữ văn học, cho nên biết khai thác thì cực kỳ nhiều bài hay. Chứ bây giờ nhiều bài mới nói thật là cằn cỗi quá, kể cả ngôn ngữ lẫn giai điệu. Vì thế mọi người mới phải đi khai thác bài cũ.

Học sinh của Thơ có phải em nào cũng đi theo dòng pha dân gian? Hay Thơ vẫn dạy học sinh hát thính phòng đơn thuần?

Nói đúng ra thì đãi cát tìm vàng. Khó lắm! Vóc người Việt bé, hơi thở, sức khỏe không có. Tuyển 50 học sinh chưa chắc có 1-2 em hát được thính phòng. Giọng thính phòng phải to, vang, khỏe, Việt Nam mình hiếm lắm. Từ trước đến giờ chưa tìm được em nào hát thính phòng cho ra hồn. Không thể so được với các nước đâu. Còn dân gian thì gần với mình hơn. Các em cũng thích dân gian vì dòng dân gian bây giờ mọi người đang thích nghe. Thế rồi có người không phải dân gian cũng cố hát dân gian…

N.P.V

http://www.tienphong.vn/van-nghe/646595/Anh-Tho-se-hat-nhac-sen-tpp.html