Học viện Âm nhạc Quốc gia đứng ngoài cuộc, VIETNAM 2011


Học viện Âm nhạc Quốc gia đứng ngoài cuộc

ANTĐ – 21 tháng trước

Hoc vien Am nhac Quoc gia dung ngoai cuoc

ANTĐ – Sau những thành công từ việc tổ chức và duy trì chiếu xẩm chợ Đồng Xuân, Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam lại có ý định đào tạo âm nhạc chính quy, cụ thể là đưa di sản âm nhạc Bắc bộ vào giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Huế.

Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này

Dự định này được nhiều người trong giới cổ nhạc đánh giá là mạnh dạn song có phần liều lĩnh.

Hát văn, hát xẩm sẽ trở thành môn học chính quy tạiHọc Viện Âm nhạc Huế bắt đầu từ tháng 9-2011

Nói liều là bởi, trong bối cảnh hiện nay, nghệ thuật truyền thống ngày càng lép vế trước những thể loại âm nhạc hiện đại như pop, rock hay hiphop… Và cũng nói là liều bởi, từ trước cho tới nay trong hệ thống giáo trình nhạc cổ truyền dân tộc vẫn được đào tạo theo kiểu mỗi thứ một tí. Theo Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, hệ thống các học viện âm nhạc ở cả 3 miền hiện nay, chủ yếu đào tạo 2 loại nhạc cơ bản là nhạc cổ điển châu Âu và nhạc dân tộc nhưng là nhạc dân tộc cải biên.

Còn Nhạc sĩ Thao Giang, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam cho biết, việc đào tạo cổ nhạc chưa thực sự được coi là biện pháp bảo tồn đấy là còn chưa kể đến, chương trình đào tạo nhạc cụ dân tộc và hát dân ca lại đi theo phương pháp của… Tây. Có thể hiểu, chúng ta đang tiếp cận tinh hoa di sản dân tộc mình với vai trò của khách qua đường, thấy vui thì học, thì xem, chứ không phải là những chủ nhân thực sự của di sản đó.

Không phải bây giờ, khi hàng loạt di sản của Việt Nam được thế giới vinh danh như trường hợp của nhã nhạc, ca trù hay quan họ… thì người ta mới nghĩ đến chuyện cần phải đào tạo thế hệ kế cận cho bài bản hơn, tránh nguy cơ thất truyền. Từ nhiều chục năm về trước, rất nhiều nhà nghiên cứu, nhạc sĩ tâm huyết đã phải than trời! Song, dường như những tiếng than đó không thấu tới… trời.

Và vì thế, việc đào tạo cổ nhạc cứ ngày một xa rời gốc rễ, đến thời điểm này phải thừa nhận, đang có một lỗ hổng lớn. Việc Học viện Âm nhạc Huế, thành lập khoa Âm nhạc di sản, môn học được cấp mã ngành hẳn hoi đã bắt đầu hé mở hy vọng về một lứa sinh viên đầu tiên hiểu biết đúng đắn hát văn, quan họ, xẩm, ca trù, đàn- hát trống quân…

Đó là một viễn cảnh tươi đẹp, nhưng để tháng 9 này, khoa Âm nhạc di sản đi vào hoạt động, chắc chắn những người trong cuộc phải đối mặt với không ít thách thức và phải trả lời thỏa đáng những câu hỏi mà mấy chục năm qua bị bỏ lửng. Đầu ra thế nào? Thực tế là ở đầu vào, các học viện ngốn hàng “núi tiền” ngân sách đào tạo (Nhà nước đã có chính sách giảm 70% học phí cho sinh viên theo nghệ thuật truyền thống) nhưng đầu ra vô cùng… ế ẩm, bởi thực sự xã hội hiện không có nhu cầu ngoài việc cần một cái bằng đại học hay thạc sĩ, tiến sĩ và cần một chân biên chế “chờ đợi thời cơ”.

Nếu giờ đây, chúng ta tiếp tục đưa các thể loại dân ca khác vào đào tạo thì liệu có lặp lại tình trạng “học chỉ để mà học” không? Khó khăn thứ 2 nằm ở chỗ người truyền dạy. Liệu các thế hệ nghệ nhân giỏi có được trưng dụng vào biên chế chính quy hay chỉ được “thỉnh giảng” hoặc mời dạy theo giờ như hàng chục năm qua? Đây là vấn đề hết sức tế nhị, bởi chỉ có một chế độ đãi ngộ và trân trọng đúng mức mới có thể quy tụ được những tài năng cổ nhạc vốn không còn bao nhiêu.

Cách đây hàng chục năm, các chuyên gia nước ngoài đã thẳng thắn nhận xét giáo trình của Việt Nam tụt hậu so với châu Âu tới 80 năm. Hiện tượng vừa thừa vừa thiếu các môn học đã được cảnh báo từ rất lâu, nhưng không hề có thay đổi nào. Ví dụ học sinh học cổ nhạc Việt Nam không cần phải bắt buộc học các môn nhạc châu Âu. Còn nữa, việc đào tạo bấy lâu nay ở môi trường này vẫn dựa trên hệ thống do, re, mi… của Tây phương làm công cụ chính.

Vậy chúng ta tiếp tục dạy cổ nhạc dân tộc theo hướng đó hay trở lại phương pháp đào tạo truyền khẩu, truyền ngón nghề trực tiếp kiểu các nghệ nhân? Còn rất nhiều chi tiết khác trong quá trình đào tạo cần phải tỉnh táo đặt định nếu nhà trường thực sự muốn lưu truyền các giá trị cổ nhạc đích thực?! Chúng ta cần những nghệ sĩ chuyên sâu hay cần những nghệ sĩ biết mỗi thứ một tí như trước đây?

Việc Học viện Âm nhạc Huế đưa dân ca Bắc bộ vào giảng dạy chính quy khiến nhiều người phải băn khoăn đặt câu hỏi. Sao Học viện Âm nhạc Việt Nam tại Hà Nội lại không làm được điều này. Bởi ai cũng biết, mỗi miền có một đặc sản riêng. Vấn đề nên tổ chức đào tạo ra làm sao, bởi các di sản phi vật thể nên gắn nó với không gian văn hóa, và vùng miền nơi nó được sản sinh ra, trước khi được lan truyền đi nơi khác.

Nên đặt mục tiêu di sản âm nhạc địa phương lên hàng đầu nếu chúng ta không muốn rơi vào tình trạng tản mạn thiếu tập trung. Bởi người thầy tài năng vốn đã không có nhiều, làm sao có thể trải rộng mô hình đào tạo “tổng lực” khắp nước. Học viện âm nhạc đặt tại miền nào nên “chịu trách nhiệm” truyền dạy, bảo lưu các giá trị nhạc miền đó.

Vì sao đàn và hát dân ca Bắc bộ (chưa bị cải biên) lại không được đào tạo trước ở cái nôi âm nhạc hàng đầu ở miền Bắc là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam mà lại phải đi đường vòng vào Huế rồi chờ đợi, hy vọng một ngày được ra Bắc?

http://www.baomoi.com/Hoc-vien-Am-nhac-Quoc-gia-dung-ngoai-cuoc/71/6578169.epi

Hành trình hồi sinh nghệ thuật hát xẩm , VIETNAM 2008


Non Nước Việt Nam » Nghệ Thuật Và Di Sản  

Hành trình hồi sinh nghệ thuật hát xẩm

Hát xẩm, loại hình nghệ thuật dân gian chuyên nghiệp có nguồn gốc từ những người khiếm thị ở đồng bằng Bắc bộ, sau hơn một thế kỷ vắng bóng, nay được Trung tâm phát tr

 

“Hà Nội như động tiên sa/Sáu giờ tắt hết đèn xa đèn gần/Vui nhất có chợ Đồng Xuân/Mùa nào thức nấy xa gần xem mua…”. Vào các tối thứ bảy hàng tuần, khán giả thủ đô lại được thưởng thức giọng hát nỉ non lúc như tâm tình, kể chuyện lúc lại réo rắt như mời gọi của nghệ sĩ Thanh Ngoan và các nhiều nghệ sĩ khác trong chiếu xẩm Hà Nội 36 phố phường. Đây là chương trình biểu diễn của nhóm hát xẩm thuộc Trung tâm phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam đồng thời là nội dung trong kế hoạch phục hồi loại hình nghệ thuật dân gian đang có nguy cơ thất truyền của Trung tâm.
Theo dấu xưa loại hình nghệ thuật thuần Việt
 
Theo trưởng nhóm, nhạc sĩ Thao Giang, nghệ thuật hát xẩm có từ các đây khoảng 700 năm. Ông tổ của loại hình nghệ thuật này là thái tử Trần Quốc Đĩnh. Truyền thuyết kể lại rằng, vào cuối đời Trần, nhà vua truyền lệnh cho hai hoàng tử Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh đi tìm ngọc, ai mang về trước sẽ được nối ngôi. Hoàng tử Đĩnh tìm thấy ngọc nhưng bị hoàng tử Toán lừa lúc ngủ say, trọc mù hai mắt , cướp ngọc của em mang về. Trong cơn bĩ cực, Đĩnh lần ra cửa rừng, nhặt được hai mảnh tre khô, gõ vào nhau giả tiếng chim để chúng tha thức ăn về, rồi quờ được sợi dây rừng, Đĩnh buộc vào cây song mây làm đàn. Ra khỏi rừng, chàng kiếm sống bằng lời ca tiếng đàn. Tiếng đồn về người nghệ sĩ mù lan đến kinh thành, nhờ đó, nhà vua tìm được Đĩnh và trừng trị Toán.
 
Sau này hoàng tử Đĩnh đã đem nghề đàn hát truyền lại cho nhân dân, đặc biệt là những người khiếm thị để họ có cái nghề kiếm sống, bớt đi những lo toan mưu sinh. Tưởng nhớ công ơn vị thái tử, người hành nghề hát xẩm từ xa xưa đã lấy ngày 22/2 và 22/8 âm lịch làm ngày giỗ tổ nghề. Vào ngày này, các nhóm xẩm dù có ở nơi đâu cũng phải tề tựu đông đủ tại một nơi thuận tiện cho việc đi lại để cùng nhau tổ chức lễ giỗ vị tổ nghề.
 
Theo năm tháng, nghệ thuật hát xẩm ngày càng phát triển ở nông thôn miền Bắc Việt Nam và trở thành nghề sinh nhai chính của những người khiếm thị. Người hành nghề hát xẩm vào những dịp nông nhàn: xuân thu nhị kỳ, tại các bến sông, bãi chợ sân đình. Ở nhiêu địa phương như: Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa các nghệ nhân hát xẩm đã tập hợp thành làng, thành phường hát và có một ông trùm (bà trùm) đứng ra lo tổ chức. Tuy nhiên, loại hình nghệ thuật này chỉ trở nên cực thịnh khi nó theo chân các thương nhân, hình thành 36 phố phường Hà Nội, xuất hiện ở đất Hà thành. Trong thời kỳ này, chợ Đồng Xuân là một trong những điểm dừng chân của các nhóm xẩm từ các tỉnh đổ về.
 
Hát xẩm thể hiện được mọi cung bậc tình cảm, song người hát xẩm luôn pha vào đó chút hài hước, lạc qua. Có khi nó là tiếng cười át tiếng oán: “Lại những kẻ cắp như rươi/Hở cơ chốc lát – tiền ôi mất rồi/Giậm chân xuống đất kêu giời/Phulit thời có đến cũng tôi đi đời”, có khi lại mang tính giáo lý sâu sắc: “Một duyên hai nợ ba tình/Chữ duyên kia với chữ tình ai mang /Kẻo còn đi nhớ về thương/Kẻo còn để mối tơ vương bên lòng /Đôi ta chút nghĩa đèo bòng/Dẫu mòn con mắt, tấc lòng nhãn khai”…
 
Theo nghệ sĩ Thao Giang, hát xẩm là một loại hình nghệ thuật thuần Việt có trên 400 bài, hầu hết là truyền miệng (không rõ tên tác giả), nhưng có một số điệu xẩm đặc trưng là: Xẩm chợ, xẩm Nhà thơ, Chênh bong, Riềm huê, Ba bực nhịp bằng, Phồn huê, Hát ai và Xẩm thập ân. Trong đó, Xẩm chợ  giản dị, ngắn gọn. Xẩm Nhà thơ luyến láy không có tiết tấu. Chênh bong vui vẻ, phấn chấn. Riềm huê thường lồng vào hát những nội dung trao tình, hẹn hò, nhớ thương da diết. Ba bực nhịp bằng thì duyên dáng, tha thiết. Phồn huê là điệu hát kể ràu nghe thương cảm về những nỗi cực nhục khổ đau của người phụ nữ trong xã hội. Hát ai với tính chất than thở, oán trách pha chút hài hước. Xẩm thập ân nói lên những nỗi khổ cực của cha mẹ nuôi dạy con cái từ lúc sinh thành và nhắc nhở con cháu về đạo hiếu. Ngoài ra, các nghệ nhân hát xẩm còn vận dụng các điệu chính sáng tạo nên hàng loạt các điệu phụ như: hát Ví, Trống quân sa mạc, Bồng mạc, Hành vân, Lưu thủy, Phú lục …
 
Mỗi điệu dù là chính hay phụ lại đi kèm với một hệ thống nhạc khí và một dòng văn học nhất định. Cùng với các loại nhạc cụ dân gian, người khiếm thị đã đã sáng tạo ra những bài hát sẩm nói lên tâm trạng của mình về cuộc sống và nhân tình thế thái với âm điệu riêng, đặc sắc bằng sự cảm nhận cuộc sống qua đôi tai. “Chính vì lối sáng tạo riêng và những quy chuẩn trong hát xẩm mà có thể khẳng định đây là một loại hình nghệ thuật dân gian chuyên nghiệp”, nghệ sĩ Thao Giang khẳng định.
Hành trình phục hồi nghệ thuật hát xẩm
 
Theo Tổng thư ký Hội sử học Việt Nam Dương Trung Quốc, trong thời kỳ Pháp xâm lược nước ta, nhà tư bản Bạch Thái Bưởi, người thành lập đội tàu buôn cạnh tranh với Pháp, đã từng xử dụng thể loại hát xẩm để khích lệ lòng tự hào dân tộc trong đông đảo người dân, dấy lên phong trào yêu nước trong nhiều tầng lớp. Điều đó cho thấy, hát xẩm có sức lan tỏa thật mạnh mẽ và là phương tiện tuyên truyền khá hiệu quả. Tuy nhiên, sau năm 1945, nạn đói và chiến tranh hoành hành khiến hầu hết các nhóm xẩm tan rã và bị xóa xổ, hát xẩm vì thế cũng không còn được biểu diễn và nhắc tới. Sau này, duy nhất trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ có nghệ nhân Minh Sen (Thanh Hóa) đã sử dụng loại hình xẩm và sáng tác bài hát Bước đường cùng của đế quốc Mỹ. 
 
Mãi cho đến cuối những năm 70 đầu 80 thế kỷ 20, qua nhiều cuộc hội thảo về âm nhạc dân gian truyền thống, các nghệ sĩ mới nhận thấy loại hình nghệ thuật này có nguy cơ thất truyền. Vậy là công cuộc phục sưu tầm, phục dựng loại hình nghệ thuật này đã được các nhà nghiên cứu bắt tay vào tiến hành. 
 
Theo nghệ sĩ Thao Giang, các nghệ sĩ tâm huyết với loại hình nghệ thuật này đã tiến hành các cuộc điền dã về khắp các địa phương tìm lại vết tích của nghệ thuật hát xẩm. Đáng tiếc là do chiến tranh, giặc dã nên ở hầu hết các nhóm, làng, phường hát xẩm đều không còn lưu giữ lại được chút tư liệu nào. Những ông trùm phường hát một thời cũng đã về thiên cổ. Việc khảo cứu về nghệ thuật hát xẩm có lúc đã tưởng đi vào ngõ cụt. May mắn, một nhóm nghệ sĩ  trước đó, trong những lần về địa phương khảo cứu nghệ thuật dân gian, đã thu thập và ghi âm được các làn điệu và nghệ nhân sẩm. Đây trở thành nguồn tư liệu vô cùng quý giá cho công cuộc phục hồi loại hình nghệ thuật dân gian này. 
 
Sau một quá trình tích cực sưu tầm và nghiên cứu, từ năm 2005 đến nay, Trung tâm phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam đã tổ chức dựng lại nhiều bài hát xẩm, về các miền quê trình diễn, phục dựng các chiếu xẩm đặc biệt, tổ chứ đêm tôn vinh loại hình nghệ thuật này tại nhà hát lớn. Trong dịp này, nhiều nghệ nhân hát xẩm đã được vinh dự biểu diễn trên sân khấu này. “Đó là tấm lòng của chúng tôi dành cho những con người sống hết mình vì nghệ thuật hát xẩm”, nghệ sĩ Thao Giang hổ hởi nói.
 
Cũng theo nghệ sĩ Thao Giang, song song với cáchoạt động phục dựng khác, Trung tâm phát triển nghệ thuật dân gian đã tổ chức chiếu hát xẩm tại phố đi bộ Đồng Xuân – Hàng Đào  (Hà Nội). Khi mới thử nghiệm, nhiều người lo lắng chiếu hát sẽ không tồn tại được trong vòng một vài tháng. Tuy nhiên, sau ba năm thể nghiệm, buổi diễn nào cũng thu hút hàng nghìn người dân Hà Nội, các địa phương và đặc biệt là rất nhiều khách nước ngoài tới tham gia thưởng thức. Không chỉ nhận được đón nhận trong mỗi tối biểu diễn, chiếu hát xẩm còn nhận được rất nhiều lời góp ý của nghệ nhân, chuyên gia. Đặc biệt, mọi kinh phí để duy trì cho nhóm biểu diễn còn được các doanh nghiệp đứng ra tài trợ.  “Đây quả là nguồn cổ vũ lớn lao đối với chúng tôi. Sự ủng hộ của khán giả cũng cho thấy, chính những người dân mới là đối tượng sáng tạo nên các loại hình nghệ thuật, nuôi dưỡng hoặc loại bỏ nó trong đời sống xã hội”, nghệ sĩ Thao Giang nói.
 
baodatviet.vn

HUY QUÂN : Nhạc sĩ Thao Giang “Hát Xẩm đã đi được vào cuộc sống!”, VIETNAM 2010


Nhạc sĩ Thao Giang
“Hát Xẩm đã đi được vào cuộc sống!”
 
QĐND – Thứ Sáu, 23/04/2010, 9:52 (GMT+7)

Sau nhiều chục năm gián đoạn, ngày 29-3-2008 (22 tháng 2 âm lịch), lễ giỗ tổ nghề hát xẩm đã được phục hồi và tổ chức một cách trọng thể tại Quốc Tử Giám, Hà Nội. Sự kiện ấy đánh dấu sự trở lại của một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo, đã ăn sâu vào tâm khảm nhiều người Hà Nội cũ. Kể từ đó, nghệ thuật hát xẩm đã và đang được giới thiệu tới công chúng qua hoạt động định kỳ vào tối thứ bảy hàng tuần của nhóm các nghệ sĩ Xuân Hoạch, Văn Ty, Thanh Ngoan, Đoàn Thanh Bình trước cổng chợ Đồng Xuân.

Nhạc sĩ Thao Giang.

Phóng viên Quân đội nhân dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi cùng nhạc sĩ Thao Giang, Phó giám đốc Trung tâm phát triển Âm nhạc Việt Nam, về những thành công, cũng như những vấn đề còn tồn tại trong khuôn khổ dự án phục hồi nghệ thuật hát xẩm do Trung tâm thực hiện.

Phóng viên (PV): Cùng là di sản văn hóa phi vật thể nhưng nguy cơ thất truyền của hát xẩm rất lớn, thậm chí có thể lớn hơn cả ca trù, hay quan họ. Nhưng vì sao, đến gần đây, Trung tâm phát triển Âm nhạc Việt Nam mới quyết định thực hiện dự án phục hồi loại hình nghệ thuật này, thưa ông?

Nhạc sĩ Thao Giang: Từ những năm 1987, 1988, tôi đã cùng một nhóm anh em đi tìm những nghệ nhân và các ca khúc hát xẩm. Lúc đó, làm mà không tính toán gì, chỉ mang màu sắc cá nhân mong muốn tìm hiểu về loại hình nghệ thuật này. Khi mình tiếp cận hát xẩm, thấy hay quá! Ca khúc bây giờ có thể chỉ sống được độ chục năm, trong khi hát xẩm có thể sống hàng chục năm, thậm chí cả trăm năm. Nhiều bài từ thế kỷ 19, đến đầu thế kỷ 21, khi biểu diễn, người nghe vẫn bảo, bài này ông bà, cụ kỵ tôi đã từng nghe.

Vì thế, năm 2005, chúng tôi quyết định công bố thực hiện dự án và được nhân dân đón nhận ngoài sức tưởng tượng. Đó là điều hết sức vui mừng! Bất ngờ hơn là trong 5 năm vừa rồi, thanh niên nghe hát xẩm rất đông. Một anh bạn tôi làm công tác điều tra xã hội học cho biết, tại chiếu xẩm chợ Đồng Xuân, có tới 85% người nghe là đối tượng thanh niên. Còn tại Trung tâm, các em đăng ký học hát xẩm toàn là sinh viên.

Để đạt được điều đó, có một thực tế là, hát xẩm phải hay, phải hấp dẫn. Cứ nói nó quý lắm mà người ta không nghe thì cũng chẳng có nhiều ý nghĩa.

PV: Sân khấu hát xẩm trước cổng chợ Đồng Xuân đang rất thành công. Tuy nhiên, theo truyền thống, môi trường diễn xướng của hát xẩm là nơi công cộng. Vậy nếu sân khấu hóa hát xẩm liệu còn giữ được cái hồn, cái cốt của nó, thưa ông?

Nhạc sĩ Thao Giang: Đúng! Thực ra, hát xẩm phải được “ném” vào đúng môi trường của nó. Tuy nhiên, nếu giữ theo đúng lối cũ thì mình không có điều kiện. Bây giờ lấy đâu ra tàu điện mà làm môi trường diễn xướng cho xẩm tàu điện? Hôm trước ở hội chợ hoa, cũng dựng một mô hình tàu điện. Anh em lên hát nhưng sợ nhân dân xô lên thì ngã nên lại xuống đường hát.

Khó là vậy nhưng mình vẫn phải tìm cách gì đó để duy trì hoặc gợi cho người ta liên tưởng tới môi trường diễn xướng gốc. Khi trình diễn tại chợ Đồng Xuân, chúng tôi khai thác triệt để phong cách của các nghệ nhân trước kia khi từ các tỉnh về. Họ phải loại bỏ những gì, họ phải thêm những gì để phù hợp với môi trường thành thị. Ở làng quê có thể ê a. Còn ở đây, ê a thì người xem đi hết. Điển hình là xẩm tàu điện, tiết tấu được đẩy rất nhanh, lại rất ít hát những bài dân gian mà toàn hát những tác giả đang nổi tiếng ở Hà Nội như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Bính…

PV: Với ca trù, chèo, rối nước… chúng ta vẫn có thể tạo dựng được môi trường diễn xướng nguyên gốc. Trong khi đó, đối với hát xẩm thì rất khó. Nhưng nếu không giải quyết được cái khó đó, sẽ dẫn tới tình trạng, những khán giả của ngày hôm nay không thể hình dung ra được hát xẩm nguyên gốc như thế nào. Trong dự án khôi phục hát xẩm, các ông có tính tới việc đó?

Nhạc sĩ Thao Giang: Có chứ! Năm kia, bên VCTV đã giúp chúng tôi về chuyện này, làm các chương trình về hát xẩm trên truyền hình. Tôi cũng từng đề nghị với Ban quản lý Công viên Thống Nhất, hoạt động văn hóa ở đó ít quá, nên đưa hát xẩm vào. Vì trong đó có hồ, có tàu điện. Họ cũng đồng ý nhưng khi chúng tôi lập dự án xong thì họ bảo khó quản lý, không thu được vé. Không được, chúng tôi phải ra cổng chợ Đồng Xuân. Rất may Ban quản lý chợ ủng hộ. Nhưng ủng hộ gì thì cũng không bằng nhân dân.

PV: Đến nay, hát xẩm đã phải trải qua một giai đoạn ngắt quãng khá dài. Chúng ta phải làm gì để hát xẩm sống lại “khỏe khoắn”, thưa ông?

Nhạc sĩ Thao Giang: Từ 2005 đến nay, qua thể nghiệm ở phố đi bộ, qua trải nghiệm hàng đêm, chúng tôi có thể khẳng định, hát xẩm sẽ được duy trì. Năm 2007, tại rất nhiều tỉnh mà chúng tôi qua đều đã khôi phục lại được hát xẩm.

Hát xẩm là một loại hình ca nhạc mang tính chuyên nghiệp. Tại sao? Càng đi sâu, chúng tôi càng thấy nó là một dòng âm nhạc riêng, không bị lai tạp các dòng khác. Ca từ rất riêng. Nhạc sĩ cũng rất riêng. Thứ nữa, môi trường diễn xướng của hát xẩm cũng rất khác. Hơn nữa, nó đi gần tới mức độ quy chuẩn. Làn điệu chính chỉ có khoảng 8. Trong mỗi làn điệu lại có những biến thể. Ví dụ, xẩm chợ không thích hợp trên tàu điện. Hay xẩm nhà tơ không thích hợp với sông nước. Cấu trúc âm nhạc khác, ca từ khác. Xẩm ngoài chợ đề cập con tôm, con cá, cái nong, cái nia. Xẩm nhà tơ lại đề cập tới con cá vàng, con chim công, chim phượng hay tích Trung Quốc như Tư Mã Tương Như, hay Trác Văn Quân… Tuy nhiên, có một thứ giống nhau là, nó là thứ đi vào đời thường, mỗi bài là một câu chuyện nhỏ. Chính vì thế nó gần với người ta. Ví dụ, khi chúng tôi dựng bài “Lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính, mấy bà chị nói: “Nghe cái này nó mát cả gan cả ruột cậu ạ!” Nhưng nghe một lúc thấy sụt sùi hết.

Thân phận là đề tài rất quan trọng của hát xẩm. Chính vì thế, khi khai thác được đề tài này, các nghệ nhân sinh sống được. Khi người nghe chạnh lòng, người ta mới có thể thò tay vào túi ngay được. Tại chiếu xẩm Đồng Xuân, dù mục đích biểu diễn không phải vì tiền, nhưng tôi bảo, các em hát làm sao mà đánh được tim người ta thì người ta sẽ chạy theo các em mà ném tiền vào. Nghệ nhân hát xẩm không phải ăn mày, ăn xin. Người ta cho vì động lòng, vì họ thấy thân phận mình trong đó.

PV: Sau 5 năm thực hiện dự án phục hồi hát xẩm, ông có thể đúc rút, điều gì là khó khăn nhất?

Nhạc sĩ Thao Giang: Phải có tầm và có tâm. Có tâm vì làm việc này không có tiền. Có tầm thì mới đủ năng lực thực hiện. Ngoài ra, còn phải có chí vì phải mày mò tìm kiếm tư liệu. Khó hơn nữa là phải hay thì mới có người nghe.

Một vấn đề nữa là việc đào tạo nghệ nhân hát xẩm. Phương pháp thanh nhạc của hát xẩm, đầu tiên mình tưởng dễ, nghe chân phương, mộc mạc, bắt chước được ngay. Nhưng khi nghe kỹ, lần thứ 2, thứ 3, thứ 10, thứ 20, càng nghe nhiều càng phát hiện ra, phương pháp thanh nhạc của các nghệ nhân hoàn toàn không đơn giản. Nghệ sĩ hát chèo vào hát xẩm, thì lại thành chèo chứ không còn là xẩm nữa. Hát xẩm, hát chầu văn, hát chèo… đều có những phương pháp thanh nhạc rất khác nhau, tạo nên đặc trưng của mỗi loại hình nghệ thuật. Tôi nói ngay nhạc Tây, Bách, Bê-thô-ven, Mô-da cùng là nhạc giao hưởng nhưng vẫn rất khác nhau. Chính vì thế, đến giờ phút này, những nghệ sĩ nổi tiếng như Thanh Ngoan, Xuân Hoạch, Văn Ty cũng chỉ đọng lại được một số bài nhất định chứ không phải là chơi được tất. May mắn, hôm trước, ca sĩ trẻ Thái Thùy Linh đã đến Trung tâm tập phương pháp của bà Hà Thị Cầu. Cô ấy khá thành công. Tôi nói, cô ấy nên cố gắng học, vì đây là vốn quý của dân tộc. Còn những thứ kia, rồi người ta sẽ quên.

Gánh hát xẩm tại lễ hội hoa Hà Nội. Ảnh: TG

Hát xẩm rất bình dị nhưng lại có phương pháp bình dị của nó. Uốn éo là không được. Đơn cử như điệu ngâm sa mạc, hát chèo, ca trù, hát xẩm đều có điệu ngâm này. Nhưng trong hát xẩm, điển hình như bài “Anh khóa ơi!”, đầu tiên nghe thấy đơn giản tưởng như hát chèo, đến khi nghe ông trùm Nguyên hát, mới “Chết… chết… em sai hết rồi anh ạ!”.

 PV: Dự án đã nghiên cứu một cách hệ thống phương pháp hát xẩm, thưa ông?

Nhạc sĩ Thao Giang: Hiện vẫn chưa tổng kết được vì đó là một công trình khoa học công phu. Chúng tôi hy vọng các nhà nghiên cứu sẽ đúc kết thành quy luật để  rút ra âm luật.

PV: Theo ông, cái được lớn nhất sau 5 năm cất công phục hồi nghệ thuật hát xẩm là gì?

Nhạc sĩ Thao Giang: Cái được lớn nhất là hát xẩm đã đi vào đời sống nhân dân. Đoàn chúng tôi đi cả vào miền Trung, miền Nam diễn đều được ủng hộ nhiệt tình. Giờ đám cưới người ta cũng mời tôi rất nhiều. Ví dụ như bài “Đón dâu về làng” của tác giả Phạm Ngọc Cảnh, đi đến đâu người ta cũng thích. Chúng tôi hết sức cảm ơn nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh đã cho chúng tôi một ca khúc hát xẩm mới.

Cái tiếp nữa, hiện nay một số trường như Đại học Quốc gia thường xuyên mời chúng tôi đến nói chuyện. Trường Đại học Văn hóa đã gửi chúng tôi tổng cộng 3 lớp học. Nhân dân thì đã có khoảng 200 người đến đây học.

PV: Trong khuôn khổ dự án có đề cập tới vấn đề làm những ca khúc xẩm mới, thưa ông?

Nhạc sĩ Thao Giang: Tại chiếu xẩm Đồng Xuân, “Theo Đảng trọn đời” là một bài rất thành công. Thậm chí, có khán giả vòng ra sau cánh gà dúi cho dăm trăm, một triệu đồng. Bài đó là của bà Hà Thị Cầu, một người không biết chữ, nhưng khái quát được trọn vẹn các giai đoạn hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua việc dạy con. Chúng tôi đã cấu trúc lại, đẩy tiết tấu lên và tạo thêm kịch tính cho tác phẩm.

PV: Để hát xẩm thực sự được phục hồi nguyên gốc, ông có nghĩ chúng ta nên thành lập ra những gánh hát xẩm. Tôi tin, những nghệ nhân hát xẩm có thể sống “khỏe”, thậm chí hơn cả trước. Vì giờ đây, khả năng vật chất của công chúng khá hơn. Mối quan tâm tới nghệ thuật truyền thống cũng dần trở lại. Hơn nữa, phải để nghệ nhân sống bằng nghề hát xẩm thì họ mới tha thiết với nghề được.

Nhạc sĩ Thao Giang: Có một nhà báo hỏi tôi: “Trước đây các nghệ sĩ hát xẩm sống như thế nào?”. Tôi bảo: “Cứ nhìn ông trùm Nguyên ở ngõ Thông Phong thì biết. Bằng hát xẩm, ông ấy nuôi được 8 bà vợ”.

Thành lập được các gánh hát xẩm thì tốt quá! Nhưng hơi khó! Phải có tài trợ chúng tôi mới làm được.

PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi!

Huy Quân thực hiện

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/91/110045/print/Default.aspx

ĐỖ DIỄM HUYỀN : Những điều đọng lại sau một cuộc thi…, VIETNAM 2003


 

Những điều đọng lại sau một cuộc thi…

 
Nhung dieu dong lai sau mot cuoc thi
Biểu diễn nhạc cụ dân tộc Tây nguyên.
 

Chứng kiến Lễ trao giải cuộc thi Độc tấu nhạc cụ dân tộc lần II ngày hôm qua, 21/12, người ta vui mừng thấy nền âm nhạc truyền thống của Việt Nam đã tiến được một bước khá xa so với cách đây 5 năm. Nhưng từ đây lại xới lại những vấn đề dù cũ nhưng không kém phần cấp bách.

 

Giải thưởng: đàn nhị lên ngôi

Đàn nhị giành Giải nhất toàn bảng A (không chia theo bộ môn) và giải nhất bộ môn ở bảng B. Điều đáng nói ở đây là hai thí sinh đó có số điểm cao nhất trong số những người được nhất: Nguyễn Thành Nhân, nhất bảng A, đạt 19,63 điểm, và Lê Quang Dũng, bảng B, 19,65 điểm (trong khi đó nhất bộ môn sáo trúc bảng B chỉ 19,00 điểm và đàn tranh 19,57 điểm).

Vui mừng nhất lần này có lẽ phải kể đến Nhạc sĩ Thao Giang, Ủy viên tiểu ban đàn Nhị và là người đã tận tụy với nghiệp đàn Nhị bao nhiêu năm nay. Ông tâm sự: “Trước đây 5 năm, nhìn Trung Quốc họ chơi mà “dân Nhị” của Việt Nam mình … run! Có thể nói là “cay cú” bao nhiêu năm, nay, nói như Cục trưởng Cục NTBD, chúng ta đã có thể ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào Trung Quốc”.

Nhung dieu dong lai sau mot cuoc thi
Độc tấu đàn nhị

Số thí sinh tham dự bộ môn đàn Nhị lần này chỉ bằng 1/4 số thí sinh đàn tranh và đàn bầu. Số học sinh dám dấn thân vào bộ môn này không nhiều, mặc dù trong thực tế, một dàn nhạc có thể nhận vào tới 10 đàn nhị nhưng không thể lấy hơn 1 đàn bầu. Nhạc sĩ Thao Giang giải thích tình trạng này: “Nhị giống như violon nhưng chơi có phần khó hơn. Đó là một loại đàn dây không phím, khoảng cách giữa dây và cần lớn, không có điểm tì như violon,… Luyến láy, nhấn nhá của nhị gần với âm điệu tiếng hát dân ca, đấy là những cái mà violon và piano không làm được. Ngón bấm cần tinh tế và chuẩn xác, âm thanh phải trong vắt, chệnh đi một cái là thành ra “kọ kẹ kọ kẹ” nghe rất buồn cười”.

Với thành công này, có thể khẳng định đàn nhị có thể bước đầu đi vào cuộc sống đương đại, “ngồi”cùng Pop, rock, hay hòa tấu cùng các nhạc cụ dân tộc khác.

Cần có đội ngũ sáng tác chuyên nghiệp

Theo dõi cuộc thi ta dễ dàng nhận thấy các sáng tác quen thuộc được lặp đi lặp lại đến nỗi ban giám khảo phải nhức đầu, phát chán. Quanh đi quẩn lại chỉ thấy: Kể chuyện ngày mùa, bài kinh điển của Nhị; Lý hoài nam, kinh điển của Sáo; Vì miền Nam, kinh điển của đàn bầu; Hương sen Đồng Tháp, kinh điển của đàn tranh… Tình trạng “đổ xô”, trùng lặp đó một phần vì tâm lý các thí sinh muốn chọn những bài phổ cập, dễ thể hiện; nhưng một phần lớn nữa là do sự nghèo nàn của lượng bài sáng tác.

NSND Trần Quý, Chủ tịch Hội đồng Giám khảo bức bối: “Phần lớn thí sinh phải dùng những bài cũ đã sáng tác từ 15 đến 40 năm trước. Hàng chục thí sinh độc tấu trùng một bài chỉ vì bài đó có đủ những nhân tố để thể hiện tính năng kỹ thuật của nhạc khí”.

Nhìn chung sáng tác cho nhạc cụ dân tộc ngày nay đi vào lối mòn và thiếu tính chuyên nghiệp. Chẳng hạn, riêng sáng tác cho đàn Nhị, một loại đàn tính năng rất khó, nhiều nhạc sĩ còn thậm chí chưa nắm rõ tính năng của nó. Thế là rơi vào tình trạng như “vẽ ma”, người sáng tác hoàn toàn theo cảm hứng. Viết cho Nhị mà cứ như viết cho violon. Ta có thể tiếp thu, nhưng violon không thể thay thế cho nhị được. Nếu viết ra một bài mà bài ấy dùng cho violon cũng được, cho nhị cũng được, thì ta thất bại rồi! Rõ ràng hiện nay, để sáng tác được thì tối thiểu, người sáng tác phải đi học tính năng của các nhạc cụ.

Nhiều thí sinh, như Hồng Giót, Thế Dân (Nhạc viện HN) của cuộc thi lần I thậm chí phải tự sáng tác lấy bài để biểu diễn, có người tự bỏ tiền túi đi đặt bài. Theo NSƯT Huỳnh Tú, Đoàn trưởng Nhà hát ca múa nhạc Thăng Long, một người có nhiều sáng tác cho nhạc cụ dân tộc, sáng tác cho nhạc cụ truyền thống nhưng cũng cần đưa tính thời đại vào. Nên chăng hoặc thường xuyên, hoặc trước khi tổ chức cuộc thi 1, 2 năm chúng ta nên đầu tư, phát động sáng tác những tác phẩm độc tấu có những đặc tính kỹ thuật chuẩn mực cho từng loại nhạc cụ để dùng trong các giáo trình giảng dạy và dùng làm những bài bắt buộc phải có trong chương trình thi, như vậy mới phân định chính xác được tài năng cao thấp của từng thí sinh.

Cần có đội ngũ biên soạn giáo trình

Nhạc sĩ Thao Giang kiến nghị nên có sự kết hợp, nâng hứng giữa các nhạc viện với Viện nghiên cứu Âm nhạc. Tình hình hiện nay có thể hình dung đại khái là Viện Âm nhạc, mà công vịêc là nghiên cứu sưu tầm, cứ nghiên cứu sưu tầm, hệ thống hóa, rồi …lưu kho, còn các trường nhạc thì thiếu giáo trình vẫn cứ tiếp tục thiếu giáo trình. Các giáo viên trường nhạc phải “è cổ” ra gánh trên vai mình đến vài thứ trách nhiệm: nào dạy, nào soạn giáo án, lại soạn cả giáo trình, rồi lại nhân thể sáng tác, biểu diễn luôn! Vì nếu họ không làm thì không biết ai làm cho! Trong khi đó không có sự chuyển giao những thành quả của Viện Âm nhạc cho bên dạy nhạc để biến những kiến thức đó thành sống động.

Hậu giải thưởng hay cuộc mưu sinh chật vật của các học sinh nhạc cụ truyền thống

Theo nhận định có phần lạc quan của một số vị đầu ngành trong lĩnh vực nhạc cụ truyền thống thì chỉ 20 % số học sinh Nhạc viện ra trường tiếp tục theo nghề, còn lại đành ngậm ngùi dứt áo sau 16 năm dày công khổ luyện. Nhạc sĩ Thao Giang một lần nữa lại chua chát: “Vào học từ năm 7 tuổi, khi ra trường đã hai mươi mấy, gần một phần ba cuộc đời ở trong Nhạc viện! Đã theo được ngần ấy năm, chả phải nhân tài kiệt xuất gì thì cũng phải có năng lực ở một mức độ nào đó. Thế nhưng ra trường, nếu có biên chế thì được nhà trường giữ lại làm giảng viên. Còn thường thì về các đoàn sâu khấu dân tộc, đoàn ca múa nhạc, dàn nhạc, các nhà văn hóa, đài phát thanh, sở Văn hóa, bấy giờ nhìn cái lương cơ bản 270 ngàn đồng một tháng mà những người tâm huyết nhất cũng phát hoảng!”.

Nên chăng Nhà nước có một chế độ đãi ngộ đặc biệt với những thí sinh đã đoạt giải trong lần này, để họ không đến nỗi bị lãng quên như sau lần thi I. Trong số các gương mặt sáng giá của lần I, có lẽ chỉ có Lê Minh (giải nhì về Nhị) là có một triển vọng tương đối trong sự nghiệp: được giữ lại trường làm giảng viên.

Danh sách thí sinh đoạt giải

Bảng A:

Giải nhất: Nguyễn Thành Nhân, đàn nhị, Nhạc viện HN

Giải nhì: Lã Cẩm Uyên, đàn tranh, Trường CĐ VHNT Hà Nội; Đồng Minh Anh, đàn bầu, Nhạc viện HN.

Giải ba: Trần Thị Bích Hồng, đàn bầu, Nhạc viện HN; Bùi Thị Phương Nhung, đàn tranh, Nhạc viện HN.

Giải khuyến khích: Bùi Công Thơm, Sáo trúc, Nhạc viện HN; Nguyễn Huỳnh Sơn, đàn bầu, thí sinh tự do.

Bảng B:

Bộ môn đàn tranh: Giải nhấtVũ Thị Việt Hồng, Nhạc viện HN; Nhì Đặng Thị Quỳnh Nga, Trường VHNT Huế; baVương Thúy Hồng, Nhạc viện HN; Khuyến khíchPhạm Hồng Hạnh, Nhạc viện HN, Kiều Vũ Chinh, Nhạc viện TP.HCM

Bộ môn đàn nhị: NhấtLê Quang Dũng. Nhì Lê Minh; BaTrần Đức Xâm; Khuyến khíchNguyễn Kim Ơn, Ngô Hồng Quang. Các thí sinh đều của Nhạc viện HN.

Bộ môn Sáo trúc: NhấtNguyễn Hoàng Anh, Nhạc viện HN; Nhì Đồng Quang Vinh, Nhạc viện HN; BaNguyễn Xuân Chung, Trường CĐ VHNT HN; Khuyến khích Nguyễn Ngọc Anh, Mạc Đức Phương, Nhạc viện HN.

Bộ môn Đàn bầu: NhấtLê Hoài Phương, Nhạc viện HN; NhìNguyễn Thị Mai Thuỷ, Trường CĐ VHNT HN; BaNguyễn Thị Thuỷ, Nhạc viện HN; Khuyến khíchNguyễn Duy Thịnh, Nguyễn Quang Hưng, Nhạc viện HN.

  • Đỗ Diễm Huyền

Việt Báo (Theo_VietNamNet
Thứ hai, 22 Tháng mười hai 2003, 16:16 GMT+7

Sống chết với niềm đam mê, VIETNAM 2010


Sống chết với niềm đam mê

Nhân dân – 34 tháng trước

ND- Ở đời có biết bao việc tốt để làm và để hiến dâng. Một vị giáo sư, nhạc sĩ từng là Trưởng khoa Lý luận – Sáng tác – Chỉ huy của Học viện Âm nhạc Quốc gia đã chọn cách “hiến dâng” khá tài tử: Thành lập Trung tâm phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam bằng tiền túi. Đó là giáo sư, nhạc sĩ Phạm Minh Khang. Ông nói: “Tôi và nhạc sĩ Thao Giang quyết tử vì nghề là có lý do của nó”…

Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này

Vừa là thợ vừa là thầy

Tôi ngồi tâm sự với giáo sư – nhạc sĩ Phạm Minh Khang (ảnh) ngay bên bờ ao của đình Hào Nam trong tiếng cá đớp mồi, tiếng đàn hát của một lớp học xẩm từ trong sân vọng lại. Chỉ hai chiếc ghế nhựa, một vị giáo sư mộc mạc, một phóng viên và một không gian tưởng như xa xôi lắm với sự tấp nập, ồn ào của phố xá. Không gian ấy cho phép tôi hình dung về một người thợ, một người thầy, một nhạc sĩ đi đến đâu cũng thật bình dân.

Giáo sư – nhạc sĩ Phạm Minh Khang có vóc dáng của một người thợ, nhưng lại có tâm hồn của một nhạc sĩ, nghệ sĩ đa cảm. Đời ông không có nhiều biến cố, nhiều sóng to gió cả như một số nghệ sĩ đa tài, đa cảm khác, nhưng ông có một tuổi thơ nghèo và một khát vọng lớn. Sinh ở Hải Dương, sống với những làn điệu dân ca, những lời ru thắm thiết treo đầu ngọn lúa, những đêm chèo xập xình giữa sân đình, năm 14 tuổi, cậu bé Minh Khang ra thành phố cảng Hải Phòng tìm con đường để thực hiện khát vọng âm nhạc của mình. Cậu làm công nhân thợ nguội cho Nhà máy Cơ khí Duyên Hải. Nhà máy trưởng thành trong phong trào “Sóng Duyên Hải, gió Đại Phong, cờ Ba Nhất” – những phong trào thi đua lớn của cả nước hồi ấy. Vừa làm một công nhân cần mẫn, chăm chỉ, anh vừa học Trường THPT Ngô Quyền. Thời gian đó, người công nhân Minh Khang không chỉ sống với động cơ, sắt thép, đe búa. Đêm đến, sau một ngày làm việc chăm chỉ, Minh Khang lại ôm cây ghi-ta, đàn lên những nốt nhạc trầm bổng và nuôi ước vọng đến với âm nhạc. Và ước vọng đã trở thành hiện thực. Năm 1963, Phạm Minh Khang đỗ vào Khoa Sáng tác Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Việt Nam). Năm 1967, tốt nghiệp ra trường, Minh Khang được cử đi tu nghiệp ở Liên Xô. Lúc này cũng là thời gian để anh tiếp cận với những nền âm nhạc lớn của thế giới, giao lưu với nhiều nghệ sĩ, nhạc sĩ nước ngoài. Minh Khang học và nghiên cứu âm nhạc bác học, âm nhạc cổ điển, lại có một khát vọng là khi trở về nước sẽ mở một trung tâm nghiên cứu, bảo tồn vốn âm nhạc dân tộc cổ truyền để quảng bá nền âm nhạc nước nhà, và để gìn giữ một số loại hình âm nhạc cổ quý giá.

Tốt nghiệp đại học ở Liên Xô, đạt điểm xuất sắc cả hai chuyên ngành Sáng tác và Lý luận âm nhạc, năm 1985, Phạm Minh Khang bảo vệ luận án tiến sĩ ngành “dân tộc nhạc học”. Năm 1989, anh được bổ nhiệm làm Trưởng khoa Sáng tác – Lý luận – Chỉ huy của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, vừa làm thầy giảng trên lớp, vừa sáng tác âm nhạc. Khi đã là một giáo sư, ông vẫn đi nhiều nơi, tìm hiểu văn hóa vùng và dường như đến đâu ông cũng sáng tác. Các sáng tác của ông thấm nhuần chất dân gian, đằm thắm, trữ tình. Nhưng nổi tiếng nhất là những bài Cô gái Ayunpa, Bến em xanh, Hương lúa quê nhà, Huyền thoại Sa Pa, Bản tình ca nơi biên cương… Là người say nghề và mê nghiệp, giáo sư Phạm Minh Khang dường như chưa bao giờ nghĩ những gì mình làm đã là đủ. Ông sẽ còn sáng tác nữa, tiếp tục nghiên cứu và làm việc cho đến khi nào không còn sức lực. Ông sẽ lại thắp lên tình yêu âm nhạc truyền thống cho nhiều học trò, như ông đã từng yêu và cống hiến. Và bởi vì ông sinh ra là để đến với âm nhạc truyền thống, song hành với nó, buồn vui cùng nó.

Trung tâm… tài tử

Phải đến năm 2005, giáo sư Phạm Minh Khang mới thực hiện được ước mơ ấp ủ từ khi học ở Liên Xô. Ông bảo, trước đó ông đã bàn với một số nhạc sĩ về ý tưởng của mình, nhưng người ủng hộ lớn nhất là nhạc sĩ Thao Giang, cũng là giảng viên của Học viện Âm nhạc, sau này là người đồng hành cùng ông trong việc xây dựng Trung tâm phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam. Chức năng chính của Trung tâm là truyền bá, bảo tồn, phát huy âm nhạc cổ truyền của đất nước; đào tạo con người, cả tiến sĩ và nhạc sĩ trong nước và quốc tế; nghiên cứu các công trình khoa học về văn hóa, âm nhạc cổ truyền… Ông bảo, dạy miễn phí chính là cách bảo tồn tốt nhất. Ai muốn học hát xẩm, hát trống quân, hát văn, hát quan họ… cứ đến đình Hào Nam đăng ký. Đối với nghệ thuật âm nhạc truyền thống, không say nghề, không mê nghề thì dễ sa vào hời hợt, tẻ nhạt.

Và giáo sư Phạm Minh Khang đã sống chết với một niềm đam mê. Ông có thể chọn cho mình một cách sống an nhàn, thảnh thơi, nhưng đó không phải bản tính của ông. Cho nên, từ khi Trung tâm đi vào hoạt động, ông đã vắt kiệt sức mình cho công tác giảng dạy, nghiên cứu, bảo tồn. Ở Học viện Âm nhạc, ông đã đến tuổi về hưu, nhưng vì là giáo sư đầu ngành, ông vẫn được mời tiếp tục giảng dạy. Ngoài thời gian dạy ở Học viện Âm nhạc, ông dành hết cho Trung tâm và các học viên của mình. Giáo sư Phạm Minh Khang tâm sự: “Cái chất dân gian chính là yếu tố nền của âm nhạc dân tộc, và vì thế tôi đã bỏ nhiều tâm sức, thời gian để đi vào con đường này. Bao nhiêu năm rồi không ai diễn xẩm cả, và nếu không bảo tồn, lưu giữ thì sẽ bị mai một”.

Tôi biết, quyết định của giáo sư Phạm Minh Khang rất mạo hiểm và không phải ai muốn cũng làm được. Tâm niệm của ông: Nghệ thuật hát xẩm, hát trống quân vốn là của những nông dân lam lũ, một nắng hai sương, thì hãy trả nó về cho họ. Trung tâm giờ đây đã được nhiều nhà nghiên cứu đầu ngành đánh giá cao. Một số nước trên thế giới đã đến tìm hiểu, hợp tác. Ngày càng có nhiều người theo học và đã có cả trăm học trò. Giáo sư Phạm Minh Khang tự hào: Trong số tất cả các nhà hát, các đoàn văn công thì Trung tâm này là đông khách nhất. Ông cũng tin rằng, dù khó khăn thế nào thì Trung tâm cũng vẫn phát triển, vì âm nhạc dân gian không bao giờ mất đi, nó là của nhân dân, do nhân dân gìn giữ.

Dầu vậy ít ai biết rằng, để thành lập được Trung tâm, ông đã trải bao khó khăn. Giáo sư kể: “Thời gian đầu, chúng tôi lo hồ sơ xin giấy phép cũng rất khó khăn. Bản thân tôi phải thuyết trình về tính khả thi của trung tâm. Nguồn tài chính phải tự túc, tôi và nhạc sĩ Thao Giang có đồng nào phải vét ra hết để làm. Rồi khó khăn về địa điểm hoạt động. Tôi phải chuyển trung tâm đến năm lần. Chưa ấm chỗ thì chủ đã đòi tăng tiền thuê nhà, khách kham không nổi, lại đi. Trong một lần chuyển đồ đi tìm chỗ ở mới, tiện đường ghé vào đình Hào Nam. Ai ngờ các cụ trông đình biết là anh em có khả năng hát văn dâng Thánh, liền mời ở lại. Và thế là chúng tôi có một không gian yên tĩnh và đẹp như thế này”.

Mấy ai “vô tư” như thế trong thời buổi kinh tế thị trường. Các trang thiết bị phải tự mua sắm lấy, lương cho những người làm việc tự trả. Giáo sư cũng nói với anh em ở Trung tâm rằng, đây là ngôi nhà của các bạn, tiền kiếm được là mồ hôi công sức của các bạn, vì vậy các bạn hãy tiết kiệm và cố gắng. Suốt 5 năm qua, giáo sư Phạm Minh Khang và nhạc sĩ Thao Giang không hề lấy một đồng lương nào ở Trung tâm. Vì nghệ thuật truyền thống, các ông sẵn sàng hy sinh quyền lợi của mình.

Một đời cần mẫn

Giáo sư – nhạc sĩ Minh Khang được đồng nghiệp nhận xét: “lầm lũi đời thợ, lừng lững đời thầy”. Những tháng năm ông vắt kiệt mồ hôi để có được kiến thức, những tác phẩm trữ tình, lay động lòng người là minh chứng cho những gì ông đã sống và cống hiến cho âm nhạc truyền thống hơn 30 năm qua. Những nhạc sĩ như Hoàng Lương, Đức Trịnh, Quang Vinh… là học trò thành đạt của ông.

Ông cũng kêu gọi được nhiều nghệ sĩ uy tín góp sức cho việc giảng dạy âm nhạc ở Trung tâm, đó là các NSƯT Nguyễn Văn Ty, Thanh Ngoan, NSND Xuân Hoạch… Họ đến với Trung tâm, phần vì niềm đam mê, phần vì nể trọng vị giáo sư nhiều tâm huyết với nghề và nặng gánh với nghiệp.

Ông không tiếc thời gian đến với sinh viên các trường đại học, mà theo ông là để quảng bá, để kéo giới trẻ đến gần với âm nhạc truyền thống hơn, yêu mạch nguồn văn hóa của mình hơn. Nhạc sĩ Thao Giang – người đồng hành với ông trong công việc bảo tồn, giảng dạy nói rằng, Trung tâm có một người thầy như giáo sư Phạm Minh Khang thì chẳng lo không có những người trẻ được tiếp lửa. Các bạn trẻ đến với Trung tâm là đến với một niềm đam mê, là trở về với âm nhạc truyền thống. Họ chỉ mong được tiếp lửa, được học để hiểu ngọn nguồn âm nhạc cổ truyền, bác học và trở thành những nghệ sĩ chân chính.

http://www.baomoi.com/Song-chet-voi-niem-dam-me/71/4621230.epi

NGUYỄN KHIẾU BẢO CHÂU : Phỏng vấn mà lại… mất tiếng, VIETNAM 2012


 
Phỏng vấn mà lại… mất tiếng 04/10/2012 10:22
Phỏng vấn Nhạc sĩ Thao Giang xong là đóng máy. Vui vẻ ra về vì công việc cuối cùng hoàn tất. Ngày hôm sau lên Đài làm hậu kỳ thì phỏng vấn…mất tiếng. Choáng. Vân Chi nói với kỹ thuật viên dựng kiểm tra các “giắc” cắm, đường “linh”, lau bụi lại cho thẻ nhớ, có nghĩa là kiểm tra tất tần tật những chỗ có trên bàn dựng có nguy cơ “mô-ve” dẫn tới tiếng không vào. Sau khi kỹ thuật viên dựng làm tất tần tật những điểm nghi ngờ, tiếng vẫn bặt âm. Chỉ có hình. Hình thì rất đẹp.

Vân Chi rũ người buồn. Rồi nghĩ miên man vì sao lại chua chát thế. Hay là…hôm ấy mình không thắp hương. Lần giở lại. Đúng là không thắp hương. Lần nào quay đền chùa miếu mạo những nơi liên quan thờ cúng Vân Chi cũng thắp ba thẻ hương xin được động máy. Giống như làm nhà động thổ cũng phải thắp hương xin thổ địa cho phép. Mà ở đây lại là thần linh. Dẫu việc làm ấy chỉ là tâm linh. Nhưng cũng cần thiết như khi ta gõ cửa xin được vào nhà ai đó. Mà đây lại là nhà thờ tự của cả vùng. Cũng là một cử chỉ ứng xử văn hóa với di sản thuộc phân khúc tâm linh thôi mà.“Thật muối mặt” – Vân Chi nói thế – khi phải trở lại với Nhạc sĩ Thao Giang xin được ghi hình lại.

Phỏng vấn mà lại... mất tiếng
 

Cũng may Nhạc sĩ Thao Giang dễ tính vui vẻ nhận lời ngay. Chuyện của Vân Chi làm tôi nhớ lần lên tham quan Đền Và. Chị cán bộ du lịch nói rằng nơi đây rất thiêng. Đoàn làm phim của Hãng phim Thời sự – Tài liệu lên quay, về xưởng in tráng toàn bộ phim trắng toát không bắt sáng tí tẹo nào. Lần sau lên Đền Và làm lại đoàn làm phim đã làm một cái lễ xin phép, về xưởng in tráng được luôn, hình ảnh đẹp lung linh. Nghe chuyện Vân Chi cười rũ.

Chương trình Vân Chi làm phát sóng trên Kênh VTC10 là chương trình “Di sản Văn hóa” có thời lượng 30 phút. Được chia làm 3 phần. Phần một là thể loại phim tài liệu giới thiệu chung nét đẹp của di sản. Phần hai: “Góc nhìn di sản”, là một cái talk hoặc phỏng vấn về di sản ấy dưới góc nhìn của chuyên gia về nó. Phần ba có nội dung “Di sản và cuộc sống”, đề cập tới ứng xử của con người hôm nay với di sản, bảo tồn và phát triển. Cái talk với Nhạc sĩ Thao Giang bị mất tiếng chính là ông nói trong “Góc nhìn di sản” về chùa Hòe Nhai. Thực ra cái lỗi ấy là lỗi của quay phim thiếu kiểm tra kỹ thuật. Khi tôi còn đi làm phim luôn thủ trong túi một cái tai nghe có “giắc” cắm vào máy quay kiểm tra ngay khi đang ghi hình có tiếng vào mới OK!

Di sản văn hóa có hai loại: Di sản văn hóa vật thể và Di sản văn hóa phi vật thể. Làm phim về di sản văn hóa đòi hỏi người phóng viên phải am tường loại hình di sản cùng kiến thức về di sản. Vân Chi luôn nói những thứ đó trong em còn mỏng. Tuổi trẻ không thể có bề dày hiểu biết về lĩnh vực này được. Tuổi già cũng vậy thôi bởi đó là kiến thức chuyên ngành. Phải đọc, phải học, nghiên cứu qua sách, hỏi chuyên gia cổ học.

Lần Vân Chi làm phim về chùa Huy Văn, cảm xúc của Vân Chi khi ấy mới chỉ là nơi ấy có những điển tích về Lê Thánh Tông, về Nguyễn Trãi và Thị Lộ. Đó chỉ là hồn cốt. Làm phim cũng như viết về đền chùa, trước nhất phải hiểu biết về nghệ thuật kiến trúc tôn giáo phương Đông. Mỗi vùng miền hay triều đại lại có những phiên bản được cách điệu khác nhau. Bởi vậy tạo hình cũng Long – Ly – Quy – Phượng đấy nhưng ở đời Lý khác đời Trần và cũng khác với đời Lê. Các đồ thờ cúng cũng như những tượng thờ cũng được khắc họa tùy từng thợ điêu khắc mỗi thời. Thế thì Vân Chi lúng túng lo ngại là đúng. Nhưng cũng đừng quá lo. “Học dần làm dần tích lũy sẽ quen. Đến một lúc nào đó bỗng nhận ra sao mình gom tích được nhiều thế!” Tôi động viên Vân Chi. Em cười. Mong được thế.

Phỏng vấn mà lại... mất tiếng
 
Rồi em kể, lần xuống tỉnh Hà Nam làm phim về chùa Long Đọi. Đã liên hệ trước, kế hoạch bố trí đầy đủ. Ông Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh nhận lời cùng đến chùa Long Đọi trả lời phỏng vấn. Khi xe ê-kíp của Vân Chi tới chùa Long Đọi, thì nhận được điện thoại của ông cáo lỗi vì ông có cuộc họp đột xuất tỉnh triệu tập. Lại chua chát như lần phỏng vấn mà không có tiếng. Thôi cứ làm phần phim giới thiệu nét đẹp của chùa trước. Phần còn lại ngày mai tính. Thì bỗng một giờ sau ông giám đốc đến. “Có lẽ Vân Chi có thắp dâng hương xin thần linh nên mới gặp may thế”.  Vân Chi cười xác nhận là có. Tôi cũng bật cười.

Làm phim về đền chùa có thêm những cái khó khác. Kinh phí phục dựng bối cảnh không được chi nên cứ phải là có gì quay nấy, khó đẹp. Làm phim về đền chùa lại chỉ có những người già. Họ nhiệt tình diễn các cảnh với tấm lòng thành kính di sản nhưng cũng không thể… “quay chay” nhất là phải quay đến giờ…Ngọ. Cũng cần làm cái gì đó để “có chỗ đi lại” như các cụ ngày xưa nói mới phải đạo. Rồi Vân Chi buột miệng “Văn hóa là đói nhất kênh đấy!”

Tôi chia sẻ với Vân Chi. Bây giờ người ta đâu cần đến lên báo lên truyền hình, mà công việc của mình thì lại phải làm. Tôi nhớ lần lên Hà Giang, rình chụp một bức ảnh cô gái Mông gọi điện thoại đi động để nói lên vùng cao bây giờ cũng đã được phủ sóng viễn thông. Nào ngờ cô gái ấy đưa tay ra đòi tiền diễn viên. 20.000 đồng.

Phỏng vấn mà lại... mất tiếng
 
Vân Chi như được cởi lòng có người đồng cảm. Em kể lần lên huyện Hữu Lũng Lạng Sơn làm phim hát Sly phải thuê 500.000 đồng. Còn lần lên Mộc Châu quay múa của dân tộc Thái cô phải thuê một đội múa mất 1 triệu đồng. Nhưng chuyện lại có hậu. Làm xong họ thấy hay và vui quá người người kéo đến xem đông chật gian gác nhà sàn. Họ bàn nhau thế nào đó không biết lại làm cỗ thết đãi mình mà chưa cho về. Còn lại hơn 500.000 đồng họ trả lại mình. “Làm phim múa hát thì Vân Chi không phải thắp hương phải không?” “Không. Nói với họ mình làm phim là để tôn vinh và bảo tồn văn hóa dân tộc Thái trong cộng đồng dân tộc Việt Nam!”

Nguyễn Trang Nhung làm chương trình “Góc cuộc sống” cũng của Kênh VTC 10 lần trước có kể với tôi chuyến đi Hữu Lũng là đi ghép xe với Vân Chi. Bị lỡ cái ông “Sưu tầm văn hóa Cao Lan” đã được Vân Chi “nhường” một phần đề tài “Câu hát Sly tỏ tình”. Nhớ mãi chuyến đi ấy.

Nhóm của Vân Chi có hai người. Mỗi người làm 2 số một tháng. Hơn một năm nay Vân Chi đã làm được 28 số. “May may rủi rủi cùng có cả. Cứ vác máy lên xe là canh cánh bên lòng suốt dọc đường đi”. Chỉ khi nào kết thúc phần tiền kỳ kiểm tra hình và tiếng cùng có cả mới úp mặt vào nhau cùng cười toáng lên.

Nguyễn Khiếu Bảo Châu

THAO GIANG : Nghệ nhân cuối cùng hát xẩm tàu điện Nguyễn văn Gia, VIETNAM 2013


 

Nghệ nhân cuối cùng hát xẩm tàu điện

 
(Kienthuc.net.vn) – Năm nay bước vào độ tuổi thất thập cổ lai hy, nhưng hằng ngày ông Gia vẫn kéo nhị, hát xẩm dạy cho thế hệ trẻ. Ông là nghệ nhân hát xẩm tàu điện cuối cùng ở Hà Nội.

 
Tôi đã đi tìm những người hát xẩm trên các chuyến tàu điện của Hà Nội năm xưa. Tìm mãi, hỏi mãi cuối cùng mới gặp được ông Nguyễn Văn Gia (thôn Phú Đô, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội).  Duyên hát xẩm

Ông Gia là em út trong gia đình có 3 chị em. Ngày nhỏ ông có năng khiếu âm nhạc. Lớn lên ông vừa học phổ thông, vừa học âm nhạc. Với ước mơ sau này sẽ trở thành một nghệ sĩ cải lương, ông Gia theo học lớp cải lương trong trường điện ảnh. Nhưng rồi một trận ốm thập tử nhất sinh đã khiến cuộc đời ông rẽ sang hướng khác.
“Năm 17 tuổi, khi đó tôi vừa học lớp 10, vừa học năng khiếu về âm nhạc. Lúc đầu tôi bị ốm đọc sách mắt cứ mờ dần, nghĩ rằng chỉ bị đau mắt hột, mua thuốc nhỏ mắt sẽ sáng trở lại. Nhưng mắt tôi cứ mờ dần, mờ dần. Việc học hành khó khăn, tôi nói với bố mẹ là cho đi khám. Bác sĩ ở Bệnh viện Mắt T.Ư chẩn đoán mắt tôi bị viêm màng bồ đào. Đây là căn bệnh hiếm gặp, y học ngày đó không thể chữa được. Các bác sĩ bảo nếu muốn chữa phải sang nước ngoài. Gia đình tôi nghèo, chạy ăn từng bữa, lấy tiền đâu mà sang bên đó. Mọi người đành ngậm ngùi để tôi chìm vào bóng tối”, ông Gia buồn rầu kể lại.
Lúc đó ông tuyệt vọng hơn bao giờ hết và đã nghĩ đến cái chết để giải thoát. Song ông Gia tự dặn lòng mình phải sống để làm việc có ý nghĩa. Vốn có khiếu về âm nhạc, được học về hát cải lương nên ông đã nhanh chóng tìm được công việc phù hợp với mình. 
“Vào một buổi chiều năm 1960, tôi đi ra bờ hồ Hoàn Kiếm chơi, thấy cụ “trùm xẩm” Nguyễn Văn Nguyên hát xẩm rất hay. Tôi ngồi mê mẩn nghe cụ hát đến tối mịt. Thấy tôi thích món hát xẩm, cụ Nguyên bảo hát thử một bài hát bất kỳ. Nghe xong thấy giọng hát của tôi ấm áp, cụ đã cho theo và học hát xẩm. Vừa học của cụ, tôi vừa sáng tác thêm những điệu mới cho phù hợp với chất giọng của mình. Và chỉ thời gian ngắn tôi đã có có thể đi hát riêng”, ông Gia cho biết.
Ở tuổi thất thập cổ lai hy, ông Gia vẫn say sưa với xẩm. 
Mười năm hát xẩm tàu điện 

Ông Gia tâm sự: “Ngày đó hát xẩm tàu điện chủ yếu cho công chức, công nhân, người buôn bán nghe. Tôi đi hát lang thang trên tàu điện, chợ ở Hà Nội hàng chục năm trời. Đi hát xẩm ngày đó chỉ hơn ăn xin một chút là mình bỏ sức lực ra hát, người nghe thấy hay thì cho vài hào. Đi hát cả buổi có hôm chỉ được bát phở. Ai cho thì lấy, chúng tôi không chìa tay xin tiền như ăn xin. Tuy nhiên, cũng bị khinh ghét, coi thường”. 
Ông Gia cho hay, được một thời gian thì số lượng người đi hát xẩm rong ở Hà Nội lên tới hàng trăm. Chính quyền cấm tụ tập đông người. Vì thế, việc kiếm sống trở nên khó khăn. Ông lại chuyển đi hát ở các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Lào Cai. 
“Hát ở tỉnh lẻ vừa dễ kiếm sống, vừa không bị đuổi. Thời đó tiền có mệnh giá cao nhất là 10 đồng, đi hát kiếm được 1 đồng là quý lắm. Mỗi chuyến đi như vậy cũng phải mất tuần lễ, số tiền kiếm được khoảng 10 đồng. Tôi về mua gạo cho cả nhà ăn chỉ được một tuần”, ông Gia cho biết.
Vợ chồng ông Gia hạnh phúc bên nhau. 
“Có tiền không mà vào đây” 

Có lần ông Gia lên tàu vào tận trong TP Vinh, tỉnh Nghệ An để hát xẩm. Đi hát nhiều tỉnh, nhưng ông chưa thấy nơi đâu quý người hát xẩm như trong đó. Ông Gia kể: “Lúc đầu thấy tôi hát ở bến tàu, bến xe có người cho rằng đó là đài hát chứ không phải tôi hát. Sau đó nhiều người tập trung xung quanh, họ yêu cầu tôi hát một điệu xẩm nói về chiến tranh. Thấy giọng hát của tôi ấm ấp, ngọt ngào có người ghi âm lại cho người thân nghe. Hôm đó tôi được mọi người thưởng cho số tiền kha khá”.
Tuy nhiên, điều ông Gia buồn nhất trong thời gian đi hát rong là mỗi khi đi vào hàng ăn, quán trọ bị người ta khinh ghét. “Tôi đi hát nhiều nơi, điều tôi thấy buồn nhất là người ta luôn có sự kỳ thị đối với người khiếm thị. Khi chúng tôi vào quán ăn uống, nghỉ ngơi chủ quán hỏi ngay là có tiền không, khi nhìn thấy tiền mới niềm nở. Có lần tôi quên không mang theo giấy tờ, người ta xua đuổi không cho vào ngủ. Đêm đó tôi phải ngủ ngoài trời. Suốt bao nhiêu năm đi hát, tôi chưa xin của ai bất cứ cái gì. Nhưng người ta cư xử thật bất công với chúng tôi”, ông Gia tâm sự.
Đó cũng chỉ là một chút kỷ niệm buồn lắng đọng trong lòng ông Gia. Ông Gia bảo, cuộc đời đi hát xẩm có nhiều cái vui hơn là buồn. Nhiều tỉnh lẻ rất thích nghe hát xẩm. Có người mê hát xẩm bỏ công việc cả ngày đi theo giúp đỡ, ông cần gì thì giúp nấy, thậm chí lúc về còn biếu tiền cho ông.
Ông Gia nói rằng, cuộc đời ông có biêu bao nhiêu vui buồn ông đều đưa vào những điệu xẩm. Xẩm mang lại cho ông niềm tin yêu cuộc sống và cả những hạnh phúc lớn lao. Tôi bất ngờ khi ông nói rằng, người phụ nữ ngồi bên cạnh là vợ ông. Ông bảo đó cũng nhờ hát xẩm mà có. 
“Năm 1980 những lúc không đi tỉnh xa hát, tôi hay ngồi hát ở chợ Ngọc Hà, Hà Nội. Còn cô ấy (người vợ bây giờ) buôn bán hàng xáo. Tôi hay hát gần bên gian hàng của cô ấy, qua những lần nói chuyện dần dần cô ấy hiểu được hoàn cảnh của tôi. Chúng tôi đến với nhau như một lẽ tự nhiên. Khi gia đình cô ấy biết chúng tôi yêu nhau đã phản đối rất quyết liệt, tìm mọi cách chia lìa hai đứa. Nhưng sức mạnh của tình yêu đã tạo động lực để cho chúng tôi đến với nhau”, ông Gia kể.
Hạnh phúc của vợ chồng ông Gia thật ngọt ngào, 2 người con của gia đình đều khỏe mạnh, học giỏi. Gia đình ông nghèo, nhưng ông vẫn quyết tâm cho các con ăn học đến nơi đến chốn. Ông Gia tâm sự: “Cuộc đời tôi đã trải qua quá nhiều những bất hạnh, nhưng cuối đời tôi được quây quần bên vợ con thế này là vui lắm rồi”.

“Ông Gia được vinh danh là nghệ nhân hát xẩm của Hà Nội, kỷ niệm chương vì hạnh phúc người mù. Ông Gia là pho sử sống về hát xẩm tàu điện trước đây ở Hà Nội. Ông đã sáng tạo ra nhiều điệu xẩm hay, đặc sắc. Hiện nay chúng tôi vẫn mời ông Gia đến dạy cho các sinh viên theo học bộ môn hát xẩm.
Nhạc sĩ Thao Giang (Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa Âm nhạc Nghệ thuật Việt Nam)

 

TIN LIÊN QUAN

LINH ANH : Hát ru tìm về giá trị truyền thống , VIETNAM 2012


Hát ru tìm về giá trị truyền thống
KTĐT – Thời gian dài, hát ru gần như bị lãng quên trong đời sống. Mãi gần đây, loại hình nghệ thuật này bỗng sôi nổi trở lại.
 Bị lãng quên

Hát ru đang ngày một phai nhạt trong cuộc sống hiện đại khi các bà mẹ trẻ không mấy ai hát ru con… Đối với trẻ thơ, tiếng ru ầu ơ của người mẹ chỉ còn thoảng qua băng đĩa, đài báo. Chị Thanh Tâm (Liễu Giai, Hà Nội) cho biết: “Tôi có hai con nhỏ, nhưng do công việc bận rộn nên ít có thời gian ru con ngủ. Vì không thuộc nhiều bài hát ru nên tôi thường mở các đĩa hát có bài ru cho các cháu nghe”.

Không chỉ trong đời sống, trong hoạt động văn hóa nghệ thuật, cả thời gian dài, hát ru cũng bị lãng quên. Nghệ sĩ không hào hứng đem lời ca lên sân khấu, khán giả cũng không nặm mà với nghệ thuật này. Năm 2004, Liên hoan hát ru được tổ chức, tại các đêm diễn của liên hoan, khán giả lèo tèo hưởng ứng, nhiều người còn ngủ gật trong lúc nghe hát. 5 năm sau Liên hoan hát ru toàn quốc, Bộ VHTT&DL cho đến các Sở VHTT&DL tỉnh, thành, không còn tổ chức bất kỳ hội diễn nào liên quan đến hát ru.

Để rồi nhớ

Tháng 5/2012, Liên hoan hát ru của Hội Phụ nữ xã Gio An, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị diễn ra đã đánh thức tình yêu hát ru trong lòng người nghe. Kinh phí tổ chức chỉ 3 triệu đồng, nhưng liên hoan thu hút gần 100 nghệ sĩ không chuyên từ 3 tuổi đến 63 tuổi tham gia. Hàng đêm, sân trung tâm Nhà văn hóa xã Gio An chật kín khán giả đón nghe các điệu hát ru địa phương, các điệu ru phía Bắc, phía Nam lồng ghép với các làn điệu hò ca vần vè của các vùng miền.

Tiếp nối thành công của Liên hoan hát ru xã Gio An, từ đầu tháng 6/2012, vào 20 giờ tối thứ 7 hàng tuần, sân khấu trước cổng chợ Đồng Xuân, Trung tâm Phát triển âm nhạc nghệ thuật Việt Nam đã lựa chọn loại hình âm nhạc hát ru để gửi đến công chúng. Và trong mỗi đêm diễn, hàng trăm khán giả kê dép, vây quanh sân khấu lắng nghe nghệ sĩ Kim Phượng cất lời hát “Lời ru trên nương”, ru hời trong quan họ Bắc Ninh hay hát giai – hát ru trong ca trù về thân phận oan khuất của Thị Kính.

Trước sự đón nhận nhiệt tình của khán giả dành cho hát ru không kém gì chiếu xẩm, ca trù, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Thao Giang chia sẻ: “Hiếm có thể loại nhạc dân gian nào có thể đan cài, kết hợp với tất cả những loại hình còn lại như hát ru. Người Tây ru con bằng nhạc không lời, “thính giả” duy nhất là đứa trẻ mà không phải cộng đồng xã hội như mình. Còn Việt Nam có mẹ ru con, chị ru em, bà ru cháu và Trịnh Công Sơn còn ru tình! Lời hát ru không chỉ dành cho trẻ nhỏ, còn là hát ru tình đời, tình người, khúc ru giao duyên, khát vọng hạnh phúc, hát ru tình trắc ẩn…”.

Bên cạnh sân khấu chợ trước cổng chợ Đồng Xuân, vào những ngày kỷ niệm Ngày hội gia đình Việt Nam (từ 26 đến 28/6), tại Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam, 20 tiết mục hát ru của các cụ cao tuổi đến từ các Câu lạc bộ Người cao tuổi của Hà Nội và các tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định cũng luôn văng vẳng bên tai người dự hội. Theo bà Nguyễn Hoa, Phó Giám đốc Trung tâm: “Tôi không nghĩ người diễn thì hồ hởi, khán giả thì nhiệt tình với hát ru như vậy. Chính vì vậy, năm sau Trung tâm sẽ tổ chức Liên hoan hát ru dành cho nhiều lứa tuổi”. Ngoài ra, hiện nay Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam đang gấp rút chuẩn bị tổ chức một cuộc hội thảo về hát ru, song song với trình diễn vào tháng 9 này.

Với nhiều hoạt động sôi nổi, cùng sự hưởng ứng nhiệt tình của người nghe, hát ru đang có cơ hội tìm lại giá trị đích thực, góp phần giữ gìn nét đẹp văn hóa truyền thống.


Linh Anh
Cập nhật lúc: 02/07/2012-11:16:03

THU TRANG : HỒN PHỐ XƯA QUA TIẾNG XẨM, VIETNAM 2012


Hồn phố xưa qua tiếng xẩm Nhạc sĩ Thao Giang chỉ bảo học trò.

 

Hồn phố xưa qua tiếng xẩm

(LĐ) – Số 222 – Thứ bảy 22/09/2012 07:03

 

Trước việc đời sống âm nhạc ngày càng nhiều loại hình hiện đại, người ta dường như quên đi mảng nhạc truyền thống, trong đó có hát xẩm. Mong muốn khôi phục lại một nét đặc trưng văn hóa của người Hà Nội xưa, nhạc sĩ Thao Giang đã dụng công sưu tầm và truyền lại nghệ thuật độc đáo này.

 

Nặng lòng với xẩm Hà thành

Hát xẩm là một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo. Theo các tài liệu nghiên cứu, hát xẩm được hình thành khoảng thế kỷ thứ XIV. Sau này, hát xẩm được gọi với những tên khác nhau như hát rong, hát dạo…

Cho đến ngày nay, nhiều người vẫn hiểu xẩm là lối hát của người khiếm thị, ăn xin. Nhưng đúng ra là người khiếm thị đã dùng xẩm làm phương tiện kiếm sống. Vì thế, hát xẩm thực sự là một loại hình âm nhạc chuyên nghiệp, chỉ khác ở chỗ, sân khấu của họ chính là đường phố, là gốc đa, bến nước, sân đình… hoặc đơn giản chỉ là một góc chợ quê.

Riêng tại Hà Nội, còn có một dòng xẩm rất đặc trưng mà không đâu có được – đó là xẩm tàu điện, vì nó thường được hát trên tàu điện. Khi xưa, các nghệ nhân xẩm từ chốn thôn quê khi ra Hà Nội biểu diễn, để làm vừa lòng nhu cầu thẩm mỹ của người dân chốn đô thị, vốn am hiểu và có trình độ trong việc thưởng thức văn hóa, nên các gánh xẩm đã khéo léo lồng những bài thơ của các thi sĩ như “Anh khóa”, “Cô hàng nước” (của Á Nam Trần Tuấn Khải), “Giăng sáng vườn chè”, “Em đi tỉnh về” của Nguyễn Bính… vào các điệu xẩm, đưa xẩm trở thành loại hình âm nhạc đường phố độc đáo ở Thăng Long – Hà Nội.

Tới giữa thế kỷ XX, hát xẩm Hà thành gắn liền với những tên tuổi như: Nguyễn Văn Nguyên – tức cụ Trùm Nguyên, Vũ Đức Sắc (Hà Nội), cụ Trùm Khoản (Sơn Tây), Trần Thị Thìn, Nguyễn Văn Khôi (Hà Đông)… Dần dà, theo thời gian, hát xẩm bặt tiếng…

Không đành lòng nhìn loại hình nghệ thuật gắn liền với hồn cốt của phố xưa dần thất truyền, nhạc sĩ Thao Giang – người con của đất Thanh Oai (HN) – đã trăn trở tìm lối đi mới, làm sống lại những điệu xẩm xưa.

Để Hà Nội còn mãi tiếng xẩm

Nhạc sĩ Thao Giang kể rằng, hồi nhỏ ông thường đi tàu điện đi học và những gánh xẩm trên tàu điện của các nghệ nhân xưa đã ngấm vào tiềm thức của ông lúc nào không hay. Khi theo học tại Nhạc viện HN, ông đã được trang bị nhiều kiến thức về hát xẩm. Nhận thấy hát xẩm đang dần bị lãng quên, nhạc sĩ Thao Giang đã bắt đầu sưu tập và biên soạn nhằm khôi phục một nét văn hóa truyền thống của người Hà Nội xưa. Nghĩ là làm, năm 2005, Trung tâm Văn hóa âm nhạc nghệ thuật VN ra đời với 3 mục tiêu chính là sưu tầm – nghiên cứu, truyền dạy – đào tạo và biểu diễn nghệ thuật.

Từ đó tới nay, trung tâm có đóng góp lớn trong việc đưa hát xẩm trở lại với công chúng ở VN. Đặc biệt, nhạc sĩ Thao Giang đã đào tạo được nhiều nghệ sĩ trẻ yêu xẩm, trong đó có cả những sinh viên các trường nghệ thuật. Và với nhiều người dân Hà thành, “gánh xẩm Thao Giang” đã trở nên quen thuộc, đặc biệt là những người có mặt tại chợ Đồng Xuân mỗi tối cuối tuần.

Dù biết rằng, để duy trì được hoại hình hát xẩm vào thời nay là điều rất khó, nhưng dường như nhạc sĩ Thao Giang không mấy quan tâm tới điều ấy. Ông dùng những đồng lương kiếm được từ việc dạy học ở Học viện Âm nhạc để làm lộ phí cho những chuyến đi điền dã và giảng dạy về nghệ thuật hát xẩm cho các địa phương… Vì thế mà học trò rất kính trọng và nể phục ông.

Không chỉ làm sống dậy một loại hình âm nhạc truyền thống đã mai một, với thủ đô nói riêng, nhạc sĩ Thao Giang chính là người đã gợi lại hồn phố xưa qua từng thanh âm, làn điệu tưởng chừng như biến mất. Với ông, hát xẩm không đơn thuần chỉ là một nghệ thuật, mà nó còn là kỷ niệm, là hồn cốt văn hóa của người Việt nói chung và Hà Nội nói riêng.

http://laodong.com.vn/Van-hoa/Hon-pho-xua-qua-tieng-xam/84766.bld