Tag Archives: tiểu sử

VƯƠNG ĐẰNG sưu tầm : NHỚ NHẠC SĨ CHUYÊN HOÀ ÂM RẤT, RẤT NHIỀU BĂNG DĨA NHẠC: NHẠC SĨ LÊ VĂN THIỆN


NHỚ NHẠC SĨ CHUYÊN HOÀ ÂM RẤT, RẤT NHIỀU BĂNG DĨA NHẠC: NHẠC SĨ LÊ VĂN THIỆN

le van thien , tran van trach

Thanh Thúy, Trúc Mai, Thanh Lan, Nguyễn Long, Trần Văn Trạch, Xuân Thu, NS Lê Văn Thiện, Kim Tuyến, Lưu Hồng.

le van thien

nhạc sĩ LÊ VĂN THIỆN

Vương Đằng sưu tầm

Nhạc sư Lê Văn Thiện, người được coi là vị thầy của ngành hòa âm tại Việt Nam và là người từng đóng góp cả đời của mình cho nghệ thuật, đã qua đời tại Nam California vào sáng ngày hôm qua chủ nhật, hưởng thọ 81 tuổi.
 
Tin từ nữ ca sĩ Thanh Thúy cho biết trong những ngày trước nhạc sư Lê Văn Thiện đã lâm bệnh nặng, ông được đưa vào một nursing home ở thành phố Garden Grove tiểu bang California để chăm sóc, và nhiều nghệ sĩ đã đến thăm ông trong thời gian vừa qua. Ðến tối thứ bảy khi gia đình và mọi người đã ra về thì ông vẫn còn khỏe mạnh, nhưng đến sáng chủ nhật thì mọi người được báo là ông đã qua đời trong đêm.
 
Nhạc sư Lê Văn Thiện từng là người dìu dắt cho rất nhiều những ca sĩ tên tuổi trước năm 1975 tại Việt Nam, ông sang Mỹ tỵ nạn và là người đảm trách phần hòa âm cho hầu hết những băng nhạc sản xuất tại hải ngoại vào đầu thập niên 80 và 90, cho những trung tâm lớn như Thanh Thúy, Thanh Lan, Asia và nhiều ca sĩ độc lập.
 
Ông là một người rất ít nói nhưng được tất cả mọi người yêu thương. Các nghệ sĩ tại hải ngoại đã tổ chức một buổi văn nghệ vinh danh ông cách đây hơn một năm tại vũ trường Majestic, lên đến hàng trăm người tham dự. Nay ông đã chính thức từ giã mọi người trong sự thương tiếc của các nghệ sĩ và khán giả. 

LÊ VĂN THIỆN

(Sinh năm 1929–Mất 01/11/2009, Quận Cam, California)

RẤT TIẾC NHẠC SÁNG TÁC CỦA NS LÊ VĂN THIỆN BỊ THẤT LẠC, CHỈ CÒN 2 BÀI ĐƯỢC THÂU BĂNG LÀ:

ĐÔI NGÃ ĐƯỜNG TÌNH

Tuấn Vũ & Giao Linh

https://www.youtube.com/watch?v=hJLTNqSe4QM

Đường Tình Đôi Ngã – Tuấn Vũ, Giao Linh

Read more…

BỎ PHỐ ĐÀ LẠT

Mạnh Đình

https://www.youtube.com/watch?v=JazUhOsXGvs

Nhạc sĩ Lê Văn Thiện là một nhạc sư tên tuổi trong nền âm nhạc VN trước những năm 1975, sau này ra hải ngoại ông vẫn là một cây cổ thụ trong nghề hòa âm phối khí – người mà hầu hết các ngôi sao của Sàigòn ngày xưa như Thanh Thúy, Lệ Thu, Elvis Phương, Thái Châu, Khánh Ly… cho đến các lứa em ca sĩ sau này như Sơn Tuyền, Lưu Hồng, Tuấn Vũ… mỗi khi nhắc về ông – chỉ dùng hai chữ “sư phụ”, và ai cũng biết đó là nhạc sư Lê Văn Thiện. 

Tối ngày 2 tháng 8, tự nhiên sức khỏe của nhạc sĩ có nhiều vấn đề không ổn. Đau thắt từng cơn, rồi ói mửa cả đêm, cho đến lúc thấy mệt quá, Tiến, cậu con trai đành phải kêu xe cứu thương chở Ba vào bệnh viện khẩn cấp. Sáng Chủ Nhật vừa nghe tin, ca sĩ Thanh Thúy từ xa lái xe về Quận Cam rồi cùng anh Khánh, anh Hải, Trần Quốc Bảo… vào ngay bệnh viện để thăm “sư phụ.”

Tuy bị đau đớn nhiều bởi sự khám nghiệm liên tục mỗi giờ của bệnh viện, nhưng khi thấy những người thân bước vào thăm, nhạc sĩ Lê Văn Thiện đã cố gắng nở nụ cười, cho dù thân xác rất đau đớn. Nữ danh ca Thanh Thúy sau những lời thăm hỏi và trấn an, bà đã bước ra ngoài lau vội giòng nước mắt không cho ai hay. Còn nhạc sĩ Lê Văn Thiện cố gắng trong hơi tiếng nói yếu ớt, nhưng kể với giọng vui vui là buổi sáng vừa có Lệ Thu, có anh Cảnh, có cậu con trai… vào thăm nhưng rồi “sư phụ” dặn Thanh Thúy đừng cho ai biết là ông đang nằm bệnh viện, chỉ sợ bạn bè hay tin lại kéo tới, tức là lại làm phiền mọi người.

Tánh ông là thế! Cả đời chẳng muốn làm phiền ai, cho dù đã từng một thời là ông hoàng của những vũ trường Sàigòn, một ông hoàng không đối thủ trong nghề hòa âm phối khí.

Thời còn ở Sài Gòn có biết bao nhạc sĩ từng hòa âm ca khúc cho các ban nhạc biễu diễn trên sân khấu, phòng trà, băng đĩa; nhưng cách phối âm của họ đã quá xưa thường gây nhàm chán cho giới mộ điệu âm thanh, rồi khi ban nhạc Shotguns ra đời, chỉ có nhạc sĩ Lê Văn Thiện phụ trách phần hòa âm các ca khúc trong nhãn hiệu băng nhạc này, đã tạo một thứ sinh khí mới trong nền âm nhạc, bởi chỉ cần nghe khúc nhạc dạo đầu của một ca khúc là mọi người phải chú ý lắng nghe.

Giờ đây nhạc sĩ Lê Văn Thiện nằm lặng lẽ trong bệnh viện, chính là lúc trái tim những người thương ông lại không được bình an.

Nhạc sĩ Lê Văn Thiện ngày xưa, đã cho đời sống âm nhạc tại Sàigòn trước 1975 thật phong phú qua những tiết tấu, qua những giai điệu và cả sau này tại hải ngoại. Như nhà thơ Nguyên Sa từng viết về ông, băng nhạc nào muốn bán chạy, phải có ba chữ hòa âm Lê Văn Thiện, mới khiến người mua băng lưu ý. Cám ơn nhạc sĩ Lê Văn Thiện vô cùng về những tài hoa tuyệt vời mà ông đã cống hiến cho đời, vì thế Thanh Thúy, Ngọc Chánh, Trần Quốc Bảo, Phương Hồng Quế đã đề nghị sao không làm một đêm thật riêng cho Sàigòn, cho nhạc sĩ Lê Văn Thiện.

Bạn bè đông quá, tình nghĩa tràn đầy, dư thừa làm một đêm “Sàigòn Mầu Kỷ Niệm.” Có rất đông nghệ sĩ ngày xưa của Sàigòn dù ở nơi nào cũng đã về góp mặt với ông, với người Sàigòn xưa để có một chút gì để nhớ để thương. Có rất đông ký giả, nhà báo, truyền thanh, truyền hình góp tay yểm trợ và 600 vé tại Majestic trong đêm tổ chức ngày 14 tháng 9 đã không còn một chỗ.

Và nghe đâu một số nghệ sĩ đang dự trù một xuất diễn khác trước ngày ông qua đời, sẽ là một list dài nghệ sĩ về góp mặt sau “Sàigòn Mầu Kỷ Niệm”.

Nhưng đêm nhạc chưa thành người đã ra đi…

Trần Việt Hải viết về Lê Văn Khoa: Một Người Việt Nam


Trần Việt Hải viết về Lê Văn Khoa: Một Người Việt Nam

VietHai-PhotoIndex-1

TRẦN VIỆT HẢI

le van khoa bis

Nhạc sĩ LÊ VĂN KHOA

Lê Văn Khoa: Mt Người Vit Nam
lvk1
Tôi ngắm nhìn quyển sách dầy cộm, 700 trang mang tên “Lê Văn Khoa: Một Người Việt Nam”. Sách được thai nghén và thực hiện ngót 4 năm, một tập sách khá đầy đủ, trình bày nhiều khía cạnh mà Giáo sư Lê Văn Khoa hoạt động hơn 6 thập niên tận tụy với nghệ thuật và lòng đam mê.
Tôi biết Giáo sư Lê Văn Khoa từ những ngày theo học tại Hội Việt Mỹ cuối thập niên 60 và xem ông trong những chương trình truyền hình số 9 tại Sài Gòn trong những năm thập niên 70. Ngày xưa ấy ông là một thanh niên khôi ngô tuấn tú, đa tài, ăn nói lanh lẹ, hoạt bát, tôi dành nhiều sự ái mộ và thiện cảm cho ông từ những ngày đó.
Những năm ly hương xa xứ tôi được dịp xem ông trình diễn trên sân khấu trong những hí viện của nhạc giao hưởng. Nhạc mà Lê Văn Khoa chọn là nhạc do nhạc cụ vang ra âm thanh, nhạc không cần lời, nhạc của ngôn ngữ đại đồng của nhiều dân tộc trên quả địa cầu của chúng ta, nó không là thanh nhạc như nhiều người theo đuổi, mà là loại khí nhạc, nhạc mà ông tạo cho mình sở trường và lòng đam mê là phạm vi hòa âm, phối khí.
Chương trình giới thiệu sách “Lê Văn Khoa: Một Người Việt Nam” đã được tổ chức ngày 19 tháng 9 năm 2015 tại nhà hàng Saigon 9, thuộc thành phố Garden Grove, miền Nam California. Khung cảnh trình làng tác phẩm diễn ra khá thân mật gồm nhiều thân hữu, cùng bạn bè trong giới văn nghệ, những học viên các ngành ông giảng dạy, và bà con đồng hương hâm mộ tài nghệ của ông.
lvk2
Lê Văn Khoa tâm tình:
Trong phần trò chuyện cùng cử tọa, và nhiều bằng hữu tham dự buổi giới thiệu sách, khi được hỏi nhờ đâu mà ông có được chương trình truyền hình trên băng tần số 9 Sài Gòn ngày trước, và tại sao ông chọn làm chương trình Thế Giới Của Trẻ Em. Giáo Sư Lê Văn Khoa cho biết sau khi ông làm một chương trình nhiếp ảnh với các nhiếp ảnh gia tên tuổi như Nguyễn Cao Đàm, Nguyễn Mạnh Đan, Trần Cao Lĩnh và Phạm Văn Mùi trên Truyền Hình Việt Nam quay tại Trung Tâm Điện Ảnh ở đường Thi Sách, vừa ra khỏi phòng thu hình, ông được ông Giám Đốc đề nghị thực hiện một chương trình định kỳ cho đài. Mặc dù trước năm 1954, ông đã trúng giải sáng tác nhạc toàn quốc và đã từng cộng tác với đài phát thanh Quốc Gia và đài phát thanh Pháp Á (Radio France-Asie), do đó ông có thể dùng khả năng mình thực hiện chương trình thuần túy âm nhạc hay cả chương trình về nghệ thuật như nhiếp ảnh. Nhưng cuối cùng ông quyết dịnh thực hiện một chương trình giáo dục thiếu nhi, cho các trẻ em, vì ông thấy cần thiết hơn. Bởi xã hội ta lúc ấy trong thời chiến lên cao thì người lớn và thanh niên trai tráng bị dồn vào nỗ lực quân sự. Viêc giáo dục bị thu gọn và xã hội thiếu hẵn lớp người trung gian hoạt động cùng trẻ nhỏ, thế hệ rường cột cho tương lai nước nhà. Một mai khi chiến tranh chấm dứt thì thời hậu chiến lấy đâu ra người để xây dựng lại quê hương. Do đó Giáo Sư Khoa chọn chương trình giáo dục thiếu nhi theo đường hướng và sự suy nghĩ của riêng ông. Đấy là sự cần thiết của thời cuộc.
Tôi nhớ một câu hỏi khác được đặt ra như sự ảnh hưởng nào của nhạc Việt đối với dòng âm nhạc thế giới, cũng như lúc gần đây quốc gia Ukraine đã vinh danh Giáo Sư Khoa về sự đóng góp âm nhạc của ông cho nền nhạc dân tộc của nước này.
Âm nhạc nói chung vốn là phạm vi văn hóa thế giới, dòng nhạc thế giới có được là do sự đóng góp của các cá nhân hiện diện trên quả địa cầu, nói rộng hơn là do các quốc gia trên thế giới góp phần vào kho tàng âm nhạc chung của thế giới được phong phú, đa dạng hơn. Có lẽ ít ai nhận định công bình về việc nhạc Việt Nam của chúng ta có ảnh hưởng đối với dòng âm nhạc thế giới. Giáo Sư Khoa kêu gọi: Nào hãy ngẩng cao đầu nhìn đời và hãnh diện vì rằng Việt Nam đã có đóng góp rất lớn, thực tiễn trong việc giúp phát triển âm nhạc thế giới. Số là vì nhạc sĩ Claude Debussy (1862-1918) và nhạc sĩ Maurice Ravel (1875-1937) chịu ảnh hưởng nhạc Việt không ít để khai sinh ra trường phái nhạc Ấn Tượng (Impressionist) cho thế giới. Claude Debussy là một người có đầu óc khai phái đã bộc lộ từ khi còn là sinh viên trong Nhạc viện Paris.
Theo dòng tâm tình của giáo sư Lê Văn Khoa thì người Pháp sau khi chiếm toàn bộ nước Việt Nam đã chia xứ ta ra làm ba phần. Bắc (Tonkin), Trung (Annam), Nam (Cochinchine). Một đoàn hát Hò Quảng từ Huế được gửi đi trình diễn ở Hội chợ Paris năm 1889 đã làm say mê nhà soạn nhạc sung sức 27 tuổi, tên Claude Debussy, đến gần 20 năm sau vẫn còn in rõ trong trí để ông viết lại trên báo. Chắc chắn nhạc Việt đã ảnh hưởng ông không ít trong các tác phẩm đượm nhiều chất ngũ cung của ông. Giáo sư Lê Văn Khoa cho biết Tiến sĩ Nhạc Trưởng Gerard Schartz có nhắc đến sự kiện này nhưng lại cho là những nhạc sĩ đó là các gamelan Nam Dương. Lê Văn Khoa khẳng định không phải các gamelan Nam Dương, vì trong hội chợ đó có 4 vũ nữ Java và các gamelan Nam Dương nhưng Debussy không đề cập đến họ mà chỉ nói đến tuồng hát của người Annamites, người từ xứ Annam (miền Trung Việt Nam), theo tài liệu từ Life of Debussy của Roger Nichols trong bộ sách Musical Life’s do Cambridge University ấn hành năm 1998.
Trong bài viết “Claude Debussy – Nhà Soạn Nhạc Pháp Và Âm Nhạc Cổ Truyền Việt Nam” của nhạc sĩ Nguyễn Hiền, tác giả viết về nhà soạn nhạc Claude Debussy và ảnh hưởng nhạc Ngũ cung Việt Nam, dựa vào năm cung bậc thang âm (pentatonic scale) gồm 5 cung chính là: Cung, Thương, Giốc, Chủy và Vũ. Tôi xin trích dẫn như sau:
“Sau đó ông soạn bản “Tứ tấu cho đàn dây”, rồi năm 1894 ra đời bản “Prélude à l’après midi d’un faune” mở đầu kỷ nguyên mới của âm nhạc hiện đại dựa trên giai điệu Đông Phương (Orientalism) mà mọi người đều ghi nhận như một hiện tượng biện chứng âm nhạc của thế kỷ 20 vừa qua. Tìm hiểu những động lực nào đã khiến Debussy chuyển hướng sáng tác độc đáo như vậy, đó là ở năm 1890 nhờ ông tham dự Hội chợ toàn cầu tại thủ đô Pháp (Exposition universelle de Paris) và được thưởng thức âm nhạc cổ truyền Việt Nam do giàn nhạc Đại Nội Triều Đình Huế sang đây trình tấu… Năm 1890 nói ở đây theo tài liệu sử sách ghi thì triều đình Huế được Pháp giao cho vua Đồng Khánh để có nhiệm vụ thi hành chính sách cai trị của họ mà chủ yếu lúc đó là công việc bình định đối phó với phong trào Cần Vương còn hoạt động chống Pháp . Nói chung tình hình đã tạm ổn định trên các xứ Đông Dương và bên chính quốc có tổ chức một Hội chợ Quốc Tế tại thủ đô Paris nhằm phô trương với thế giới những sản phẩm tiểu công nghệ địa phương. Nhân dịp này, vua Đồng Khánh được họ cho qua Pháp cùng với giàn nhạc đại nội trình tấu âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Nhà soạn nhạc nổi tiếng Debussy năm đó mới 28 tuổi đã được nghe những bản nhạc triều đường của chúng ta cùng với ban nhạc đảo JAVA thuộc Nam Dương quần đảo mang tính chất Á Đông lúc ấy rất mới lạ và độc đáo đối với thế giới.”
Trong cuốn “Tự điển âm nhạc hiện đại” (Dictionaire de la Musique Contemporaine) do nhà xuất bản Larousse của Pháp ấn hành năm 1976, khi viết về Debussy có đoạn ghi rõ ràng những chi tiết nêu trên, theo đó đã khẳng định động lực khiến ảnh hưởng mạnh mẽ đến chiều hướng sáng tác của ông trong việc khai phá âm nhạc Đông Phương để mở đầu cho trường phái Orientationism trong thế kỷ 20 vừa qua. Ngoài ra, trong cuốn sách mang tựa đề “Nhạc giao hưởng” (Symphonic music) do nhóm nghiên cứu trường Đại Học Cornell xuất bản cũng có nhận xét tương tự về những chất liệu sáng tác của Debussy đã chịu ảnh hưởng sâu xa sau khi ông được thưởng thức các bản nhạc do giàn nhạc triều đường Việt Nam cũng như Java trình tấu tại Hội chợ quốc tế Paris năm 1980 (nhà in đã in lộn 1890 thành 1980) ở cuối thế kỷ 19. Điều quan trọng ở đây là nội dung cuốn “Tự điển âm nhạc hiện đại” của nhà xuất bản Larousse ấn hành nói trên do Claude Rostand nhà phê bình âm nhạc nổi tiếng thế giới phụ trách phần biên soạn, cho nên những nhận định của ông về Debussy mang tính vô tư đáng tin cậy và đem lại một dữ kiện tôn vinh âm nhạc cổ truyền Việt Nam mà ít người được biết đến.”
lvk3

Nhạc sĩ Lê Văn Khoa trên nhật báo The Orange County Register sau buổi trình diễn đầu tiên với Pacific Symphony Institute Orchestra ở Orange County Performing Arts Center, ngày 3 tháng Sáu, 1995. (Hình: Lê Văn Khoa cung cấp)
 
Về việc nhận định Lê Văn Khoa là ai, xin để người xứ ngoài thẩm định hay hơn ý kiến của người viết bài này. Tôi xin trích các nhận xét của giới âm nhạc rút ra vài trích đoạn từ sách “Lê Văn Khoa: Một Người Việt Nam” như sau:
Symphony Việt Nam 1975 là một tác phẩm rất lý thú. Ðây là một tác phẩm thật hay… Như những tác phẩm giao hưởng lớn trên thế giới, nó kể một câu chuyện thật đẹp. Ðây là nhạc về con người thật, về một quốc gia thật. Bắt đầu từ những bài dân nhạc diễn tả một quốc gia thanh bình, hào hùng, rồi bị cộng sản xâm chiếm. Nhạc chuyển lần sang âm thanh rất mới, diễn tả sự bất an, đầy bối rối. Người ta chia tay nhau ra đi đến đất nước mới để tìm tự do. Trong hành âm cuối “Ca Ngợi Tự Do”, nhạc dàn ra một bài hợp ca thật hay. Nhạc thật lộng lẫy, đồ sộ, thật vĩ đại. Ðó là một tác phẩm rất hùng tráng, hiển nhiên những ai hiểu được lịch sử và văn hóa Việt Nam thì sẽ cảm nhận nó một cách sâu sắc hơn. Ðây là một sáng tác theo thể loại nhạc giao hưởng Tây phương bởi lẽ tác giả sử dụng cả dàn nhạc đại hòa tấu, sử dụng âm điệu và nhạc cụ Tây phương, nhưng lại có thêm cả âm nhạc dân tộc và nhạc cụ Việt Nam chơi chung với dàn nhạc. Tôi không biết gọi tên cho đúng nhạc cụ đó là nhạc cụ gì, đó là cây đàn một dây (độc huyền cầm, đàn bầu) của Việt Nam. Tác phẩm này hết sức hùng tráng và tôi tin chắc là mọi người sẽ thích lắm… Symphony Việt Nam 1975 là một tác phẩm lớn để thưởng thức…
lvk4

Hai nhạc trưởng Andrew Wailes và Lê Văn Khoa điều khiển dàn nhạc The Royal Melbourne Philharmonic Orchestra và ban Hợp Ca Cộng Ðồng Người Việt trong chương trình đánh dấu năm ly hương thứ 30 của người Việt (Australia 2005). (Hình: Lê Văn Khoa cung cấp)
Ðiểm nhận xét đầu tiên của tôi là cái mà người Tây phương gọi là nhạc ngũ cung (pentatonic), dùng năm nốt nhạc trong một âm giai, khác với chúng tôi, chúng tôi thường dùng thất cung, bảy âm trong một âm giai. Do đó âm nhạc rất giống nhạc Nhật Bản. Trong tác phẩm này có những đoạn độc tấu rất hay, đặc biệt là sáo… là một loại nhạc của Á Châu. Có điểm rất độc đáo là âm nhạc Tây phương chúng tôi dùng bán cung. Trong nhạc phẩm này đàn violin của chúng tôi phải uốn âm thanh vào phân nửa của bán cung cho phù hợp với âm thanh độc đáo của nét nhạc dân tộc Việt Nam. Việc này thật khác thường. Tiết nhịp thì diễn tấu khá dễ dàng và hòa âm thì có nhiều hợp âm thứ. Nhạc rất hay, rất sắc xảo, tinh vi, có những đoạn thật mong manh, chúng tôi phải hết sức cẩn thận để không đàn quá mức vì sợ rằng phá vỡ không khí êm ả của nhạc… Như chúng tôi được biết thì trong lịch sử 150 năm của ban đại hòa tấu và hợp xướng Royal Melbourne Philharmonic thì đây là lần đầu tiên chúng tôi trình diễn âm nhạc Việt Nam đó là điểm thứ nhất, lần đầu tiên chúng tôi đi tiên phong trình diễn âm nhạc sáng tác tại Á Châu và chưa hề được nghe đến tại nước Úc này. Tôi biết là bản nhạc này đã được trình diễn đôi lần ở hải ngoại, và đây là một sự kiện mới mẻ cho chúng tôi. Ðây cũng là lần đầu tiên ban nhạc này được một nhạc sĩ Việt Nam điều khiển, lần đầu tiên chúng tôi cùng trình diễn với ban hợp xướng người Việt, và nói chính xác thì đây là lần đầu tiên chúng tôi đệm cho một ban hợp xướng đa văn hóa. Có nhiều điều làm cho buổi trình diễn này mang ý nghĩa đặc biệt với chúng tôi. Âm nhạc cũng rất khác biệt với loại nhạc mà chúng tôi thường trình diễn… Âm nhạc thực ra là sinh ngữ quốc tế duy nhất. Ðiều mà tôi thích vì tôi là một nhạc sĩ, thường qua Á Châu và Âu Châu, tôi không nói được tiếng Ðức, tiếng Nhật, nhưng tôi dùng tiếng nói của âm nhạc. Tôi thấy ý tưởng đem Ðông sang Tây hay Tây qua Ðông là ý tưởng rất hay, để tán tụng cái mà mọi người có thể có là âm nhạc, để chia sẻ tâm tình giữa các giống người trên địa cầu với nhau. Và tôi nghĩ văn hóa, nhạc, vũ là những thứ có thể đem con người đến gần nhau… Càng ngày người ta càng nghe nhiều nhạc Á Châu và Âu Châu được trình diễn tại đây (Úc), cho nên tôi nghĩ thật huyền diệu để các nhạc sĩ đến với nhau mà ca tụng âm nhạc…”Trả lời cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh Quốc Gia Úc, Nhạc Trưởng nổi danh của Úc Đại Lợi là Andrew Wailes nhận định về Symphony Việt Nam 1975 của Lê Văn Khoa:
Nhạc sĩ độc tấu Violin, William Benner của dàn nhạc NBC Symphony Orchestra, Hoa Kỳ, nhận xét về nhạc phẩm của Lê Văn Khoa: “Cả hai nhạc phẩm Nocturne for Violin and PianoRomance for Violin and Orchestra của Lê Văn Khoa đều đạt mức xúc cảm tột đỉnh trong lòng người.”
Nhạc sĩ độc tấu Piano, Giáo Sư Andrea Bambace, (Concert Pianist, judge in major national and inter-national competitions and Professor of piano at the Conservatorio C. Moneverdi of Bolzano, Italy, since 1971), viết về tác phẩm Lê Văn Khoa soạn cho piano:
“’Beautiful Bamboo’ is very beautiful, very sweet, exotic for an Italian like me and full of sensuality. I like it.”
Với Tiến sĩ Âm nhạc Ứng dụng (Applied Music) Vicki Riley, người Mỹ, sau khi nghe CD nhạc Lê Văn Khoa cho nhận xét:
“Thật tuyệt! Trong các CD của Lê Văn Khoa tôi nghĩ Memories là hay nhất. Lối viết Tây Phương kết hợp với giai điệu ngũ cung thật hài hòa. Âm thanh trữ tình, tươi mát và luôn luôn thú vị. Các nhạc sĩ Ukraine diễn tả rất đạt và đàn với tài nghệ tuyệt vời. Họ thật sự đã làm nổi bật những ấn tượng và tính chất đam mê của bài nhạc.”
Còn Nhạc sĩ Cynthia Acosta nhận xét:
“Who o a a!!!
“Nghe được 30 giây tôi ngưng hết mọi việc đang làm và nhắm mắt lại để thưởng thức. Khi nhạc dứt, nước mắt đã chảy dài trên mặt tôi. Nhạc vĩ cầm cổ điển là loại nhạc ưa chuộng của tôi, và bài Nocturne của Lê Văn Khoa thật kiệt xuất”.
Sau những lần bay sang thực hiện âm nhạc với giới nhạc tại Kyiv, Lê Văn Khoa được nhiều nhạc sĩ trong làng nhạc Ukraine ngưỡng mộ. Theo sự nhận định của Giáo sư dương cầm Nina Rodionova khi viết về ông như sau:
“Mỗi bài nhạc trong quyển sách của ông là một bức tranh. Khi tôi nghe nhạc của ông, tôi có thể nhìn thấy Việt Nam với tất cả trù phú thiên nhiên. Nét nhạc của ông là sự kết hợp nguyên thủy tinh túy thi phú Việt Nam và âm nhạc Âu Châu. Nhưng điều quan trọng hơn hết là tôi có thể nghe được những xúc cảm của nhà soạn nhạc, tôi có thể cảm thấu tâm hồn của ông và điều đó luôn luôn phấn kích tôi… Tôi rất biết ơn vì ông cho chúng tôi ánh sáng và nét nhạc quyên rũ của ông. Nhờ ông tôi hiện nay quan tâm đến những gì có liên hệ đến Việt Nam… Trong thư viện tỉnh của tôi có một quyển Thơ Trung Cổ và tôi thích đọc về những nhà thơ rày đây mai đó, là khách viễn phương đi xuyên suốt cuộc đời mình. Quyển thơ đắc ý của tôi là Bạch Vân Thi Tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm từ thế kỷ thứ 16… Học trò của tôi biết nhạc của ông. Chúng nó đàn bài “Remembrance” và “Dragonfly”…. Thưa Nhà soạn nhạc, một lần nữa tôi xin được cám ơn ông đã giúp tôi khám phá ra Việt Nam qua nét nhạc của ông…”
Nhạc sĩ độc tấu vĩ cầm Svyatoslava Semchuk, giáo sư của Nhạc Viện Quốc Gia Tchaikowsky tại Kyiv, Ukraine góp ý như sau:
“Tôi rất hân hạnh được gặp Nhà Soạn Nhạc Lê Văn Khoa, được chơi nhạc xúc cảm cao độ và thật lãng mạn của ông. Nhà Soạn Nhạc Lê Văn Khoa đã phong phú hóa nhạc thế giới với những tác phẩm siêu đẳng, đầy nhân bản, ý tưởng tươi mát và tình yêu nồng ấm đối với dân tộc của ông”.
lvk5

Nhạc trưởng All Kulbaba điều khiển Kyiv (Kiev) Symphony Orchestra and Chorus trình diễn khúc “Ca Ngợi Tự Do” từ Symphony Việt Nam 1975 (Ukraine 2005). (Hình: Lê Văn Khoa cung cấp)
Nhạc sĩ độc tấu đàn Bandura từ Kyiv, Ukraine là Kateryna Myronyuk cho cảm nghĩ:“Tác phẩm ấy (Vietnam 1975 Symphony) nói về cuộc chiến tranh Việt Nam và trong tác phẩm ấy ông khai triển như là nhà viết đại tấu khúc có tài, chứng tỏ ông không chỉ là người viết nhạc nhẹ mà là soạn nhạc gia với thể loại lớn. Symphony là loại nhạc lớn và ông đã viết thật lý thú. Tác phẩm rất sôi nổi với những khai triển của nó. Soạn nhạc gia Lê Văn Khoa hành xử thể loại này rất lý thú. Làm việc với tác phẩm này thật thú vị… Ông dùng thể loại Âu Châu nhưng đặt trên nền tảng nguồn gốc Việt Nam. Vì vậy tôi đồng ý việc gọi ông là nhà soạn nhạc Việt-Mỹ, người hòa trộn hai nền văn hóa, nhưng trong ý nghĩa tích cực, không bị cuốn hút, nhưng là hòa hợp… Tôi nghĩ đây là thời điểm rõ rệt nhất khi các nền văn hóa truyền đạt với nhau và nó sẽ ghi đậm nhận thức của ta về các quốc gia Á Châu. Chúng ta có thể học được văn hóa của họ qua phương pháp tạo âm nhạc của Âu Châu. Nhưng nếu chỉ có giai điệu quốc gia thôi, sẽ không dễ hiểu cho người thuộc các quốc gia Âu Châu. Nhưng nếu đó là một sự kết hợp văn hóa, dùng thể loại nhạc, hòa âm, nhạc đề, dân nhạc và dân ca, nó sẽ làm cho chúng ta gần nhau hơn… Nhạc của Lê Văn Khoa thật tinh vi, đầy xúc động, rất mực nhân hậu, thân thiết… Nhạc của Lê Văn Khoa là mật ngọt cho tâm hồn chúng tôi, nhạc sĩ Ukraine…”.
“Khi nói đến sự giao thoa văn hóa, người ta thấy rõ mô thức tạo ấn tượng mạnh mẽ hơn hết là sự hòa hợp của các nguồn văn hóa khá xa cách nhau… Một bằng chứng của sự hòa hợp văn hóa dân tộc ngày nay được thể hiện qua nghệ thuật của Soạn Nhạc Gia Việt Nam đang sống trên đất Hoa Kỳ, tên Lê Văn Khoa…  Trong thập niên gần đây ông sáng tác nhạc cho đàn Bandura và dàn nhạc giao hưởng như “Trống Cơm” và “Se Chỉ Luồn Kim” đã trình diễn rất thành công trong năm 2008-2010 trên các sân khấu nhạc tại Hoa Kỳ”.
Giáo Sư Tiến Sĩ Dutchak Violetta, Khoa Trưởng ngành Dân Nhạc của V. Stefanyk Carpathian National University, người chiếm nhiều giải thưởng tranh tài đàn Bandura. Hội viên Hội Sáng Tác Nhạc Quốc Gia Ukraine từ năm 1998. Bà nhận bằng Doctor of Arts năm 1996 và Ph. D. năm 2006. Tác giả trên 100 bài viết về bản chất khoa học và giáo dục âm nhạc tại Ukraine và các nước khác. Phụ trách chương trình nhạc trên đài phát thanh địa phương Ivano-Frankivsk. Trình diễn trong các đại hội âm nhạc Bandura quốc gia và quốc tế. Lưu diễn nhiều ở Ukraine, Ba Lan, Hung Gia Lợi, Đức và Nga. Bà viết:
“Lê Văn Khoa giữ trọn màu sắc cổ truyền của nét nhạc dân tộc Việt Nam. Nghiên cứu bản tổng phổ cho ta khẳng định nét nhạc giao hưởng của tác giả được dùng để thẩm định lại giá trị của nguyên tác dân ca. Nhìn tổng quát người ta thấy sự phối khí (cho dàn nhạc giao hưởng) thật trong sáng, ngay trong những đoạn toàn tấu (tutti) dù cường độ mãnh liệt, đều tương ứng với những đoạn độc tấu của Bandura hoặc các nhạc cụ khác. . . . Trong những câu nhạc tô điểm, giai điệu chính của bài dân ca “Trống Cơm” được di chuyển trong âm vực đẹp của đàn Bandura. . .  Trong bài nhạc kế của Lê Văn Khoa, bài “Se Chỉ Luồn Kim” cũng được viết với phong cách tương tự. Nhạc cũng mang bản chất nhẹ nhàng, vui tươi, tung tăng. Hòa âm phong phú hơn, phối khí có hiệu quả hơn. Trong bài này tác giả dùng những nốt quãng tám kép song hành của những bộ nhạc cụ khác nhau, giúp cho tác phẩm “rộng lớn” và “bao la” hơn. Tiết nhịp của tác phẩm vận dụng bộ gõ có trống nhỏ, timpani, và âm điệu tái diễn chuyển tiếp đặc thù giữa các nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng gợi hình ảnh các tầng lớp chỉ màu khác nhau chồng lên qua mũi kim thêu. Nhìn chung, bài nhạc cho ta hình ảnh của một món kim hoàn sắc sảo, trong sáng, với những mẫu vẽ tinh vi, thật đẹp và hấp dẫn chứ không hời hợt.
“Bằng cách đó, tác phẩm của Lê Văn Khoa viết cho Bandura và Dàn nhạc Giao hưởng cho thấy diễn tiến của sự tiếp nhận nhạc cụ này trong nền nhạc mới, mà nó càng rõ ràng hơn nữa là trong tác phẩm của ông, soạn nhạc gia Lê Văn Khoa quan tâm đến văn hóa cổ truyền của các dân tộc khác nhau, nhưng ở đây, được trình tấu bằng nhạc cụ dân tộc của Ukraine.
“Vai trò của Bandura được xác nhận trong thế kỷ hai mươi nhờ sự cải tiến nhạc cụ và sự xuất hiện của nhiều nguyên tác dưới những thể nhạc khác nhau, bảo đảm cho việc đồng cộng tác giữa người trình diễn và nhà viết nhạc đương thời, không bị biên cương và văn hóa ly cách, nhưng hiệp nhất, bởi biết rằng nghệ thuật âm nhạc là ngôn ngữ quốc tế, là một thứ siêu ngôn ngữ…”
Trở lại sự kiện Ukraine vinh danh Giáo sư Lê Văn Khoa, giới âm nhạc bên ấy biết ông đã tìm hiểu, sưu khảo và viết nhạc cho đàn dân tộc của họ trình diễn. Về phần Viện Cao Học Âm Nhạc Ukraine đã vinh danh ông thì do các bài nhạc dân ca Việt, ông viết lại cho đàn dân tộc của Ukraina là đàn Bandura độc tấu với dàn nhạc giao hưởng. Cô Kateryna Myronyuk trình diễn trước Ủy ban Khảo sát Luận Án Tiến Sĩ của cô năm 2009. Trước sự việc bất ngờ này, ban khảo sát tuyên bố: “Lần đầu trong lịch sử âm nhạc Ukraine có một người đã có công đem hai luồng văn hóa dân tộc đến với nhau qua tác động đa dạng hóa âm nhạc.” Trong quyển sách “Lịch sử và sự phát triển của đàn Bandura trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21”, xuất bản tháng Tư năm 2015, xác nhận Nhạc sĩ Lê Văn Khoa là một trong ba nhạc sĩ trên thế giới đã viết nhạc cho đàn Bandura hòa tấu với dàn nhạc giao hưởng. Điều thú vị là từ trước năm 1975 đã có nhiều nhạc sinh Việt Nam qua học ở Ukraine, cũng như sau 1975 có nhiều nhạc sĩ người Ukraine qua dạy nhạc ở Việt Nam nhưng cả hai nhóm người này đã không không làm được việc như một người tị nạn cộng sản Việt Nam đã làm, tôi trầm tư suy nghĩ nhịp cầu văn hóa do giáo sư Khoa âm thầm đóng góp. Bên cạnh đó youtube video clip trên thế giới liên mạng cho thấy trực tiếp phim hình ảnh trình chiếu lần đầu tiên nhạc sĩ Phương Oanh (hiện ở Paris) độc tấu đàn Tranh hòa quyện với dàn nhạc giao hưởng nổi tiếng Kiev Symphony Orchestra và ban hợp ca Ukraine hát bài Ca Ngợi Tự Do của Nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa trình diễn với dàn nhạc giao hưởng.
Trong sách “Lê Văn Khoa: Một Người Việt Nam”, trang 31 là bài viết “Sức Mạnh Ðáng Sợ của Âm Nhạc”, Lê Văn Khoa ghi nhận về lịch sử xứ Ukraine và số phận đàn Bandura theo thời gian:
“Năm 2005 tôi qua Ukraine để thu thanh CD Symphony “Việt Nam 1975”.  Có người trách tôi sao qua Nga để thu thanh. Họ không biết Ukraine đã bị Nga đô hộ suốt 70 năm và đã tách ra khỏi khối Liên Bang Sô Viết từ năm 1991,  khi Nga sô  suy  yếu sau vụ sụp đổ bức tường Bá Linh. Tuy hiện nay vẫn có những người thân Nga nhưng nói chung dân chúng Ukraine rất thù Nga. Dường như không có gia đình nào không có người bị Nga hành quyết.
Trong khi ở Ukraine, tôi chú ý đến nhạc cụ dân tộc của họ là cây đàn Bandura và tôi có chuyển vài bài dân ca Việt như “Se Chỉ Luồn Kim” và “Trống Cơm” cho độc tấu Bandura và dàn nhạc giao hưởng với ý muốn đem truyền bá dân nhạc Việt qua xứ người. Không ngờ việc làm này đã được Tiến Sĩ Nghệ Thuật chuyên về Bandura, bà Violetta Dutchak, thuộc Bộ Khoa Học Nhân Văn và Nghệ Thuật của Ukraine tuyên bố: “Lần đầu có người đưa hai nguồn văn hóa dân tộc (giai điệu dân ca Việt viết cho nhạc cụ quốc gia Ukraine) đến với nhau, qua âm nhạc.”
Khi nghiên cứu nhạc cụ mang tên là nhạc cụ dân tộc của Ukraine (họ không gọi là nhạc cụ cổ truyền), một lần nữa tôi được minh xác là từ trước người ta đã nhận thấy giá trị sâu xa của âm nhạc, trong trường hợp này, người Đức, Ba Lan và Nga đối với nhạc dân tộc của người Ukraine và thẳng tay truy diệt người phổ biến loại nhạc này. Ðàn Bandura mang tên là “nhạc cụ dân tộc” này quả nhiên đã trôi nổi và chịu khổ hạnh với dân tộc Ukraine trong nhiều thế kỷ.
Đàn Bandura có thể trình diễn như nhạc cụ độc tấu, nhưng cũng có thể dùng đệm cho giọng ca. Trong thời Ukraine bị Ba Lan đô hộ ở phía Tây, đàn Bandura được ưa chuộng trong triều đình Ba Lan cho đến khi cuộc nổi dậy chống Ba Lan năm 1648, Bandura liền bị cấm tuyệt và người chơi đàn này bị giết vì bị liệt kê là rất nguy hiểm. Bên phía Ðông của Ukraine, thuộc Nga cai trị, đàn Bandura được phát triển mạnh cho đến năm 1876 thì đàn này bị cấm, tất cả những gì trình diễn có tính chất dân tộc và ngôn ngữ Ukraine cũng bị cấm luôn. Nhưng đáng sợ hơn hết là Stalin và cộng sản Nga trong thế kỷ 20. Người Nga muốn đồng hóa nguời Ukraine vào dân tộc Nga nên không chấp nhận có một nhạc cụ mang tên Nhạc Cụ Quốc Gia từ Ukraine.
lvk6

Bạo chúa Stalin tàn sát 7 triệu người Ukraine, 1933.
Năm 1933 Nga đã ra tay giết 7 triệu người Ukraine (sau này có tài liệu nói số người chết có thể lên đến trên 10 triệu) trong một năm bằng cách bỏ đói họ. Nga cướp hết những gì có thể ăn được của người Ukraine, kể cả cải muối làm dưa. Họ không cho phép người Ukraine ra nước ngoài, không cho người vùng này qua vùng khác trong xứ để kiếm ăn. Họ muốn biến những người còn sống không còn tinh thần quốc gia mà trở thành người quy phục Nga tuyệt đối.”
Giáo Sư môn dương cầm Lyudmila Chychuk, chuyên về nhạc thính phòng của Nhạc viện Lysenko (Special Boarding School, trường dành cho thần đồng âm nhạc thế giới thế giới tại Kyiv, Ukraine), cho biết như sau:
“Lê Văn Khoa là một một người có thế đứng rất vững vàng và bản chất sung mãn, tôi càng ngày càng cố gắng hơn để trầm mình trong dòng nhạc dương cầm của ông, để hiểu rõ hơn các nhạc đề và mấu chốt gắn liền với nhạc Việt, với lịch sử và tâm tưởng Việt Nam.
Trong bài “Ðêm Việt Nam”, sau đoạn giao tranh, ông đưa nét nhạc trở về không khí trầm lắng. Chính nhờ điểm này tôi bắt đầu cảm thấy một mô thức, một “dấu ấn” rõ rệt trong lối viết nhạc của ông. Nơi đây ông cho chúng ta thấy sự đắc thắng – đắc thắng của thiện trên ác, của giải thoát khỏi tuyệt vọng… Một trong những hình ảnh nổi bật trong âm nhạc của ông là bài “Ta Tắm Ao Ta” (In Our Pond), diễn tả nét đẹp của thiên nhiên và đời sống thanh bình của người dân Việt. Đây là một dẫn chứng chủ yếu về phong cách viết nhạc của ông, là hòa trộn, đan kết nhạc cổ điển Tây phương và dân nhạc Việt Nam để trở thành một tác phẩm nghệ thuật toàn vẹn… Nhạc piano của Lê Văn Khoa rất hay, rất độc đáo. Lối viết nhạc của ông rất khác với nhạc của chúng tôi, nhiều bài theo âm giai ngũ cung. Hình ảnh, tính chất trong âm nhạc của Lê Văn Khoa rất tươi sáng. Tôi đã có dịp chơi và thu thanh nhiều nhạc phẩm của Lê Văn Khoa như “Dragonfly”, “A Night in Vietnam”, “Rememberance”… và bao giờ cũng cảm thấy rất thư giãn, nhẹ nhàng khi chơi nhạc Lê Văn Khoa. Chơi nhạc của các nhạc sĩ khác như Chopin, Beethoven…, có những lúc tôi thấy rất căng thẳng. Nhạc của Lê Văn Khoa khác hơn, mỗi một bài là một bức tranh sống động nhưng bao giờ cũng nhẹ nhàng, tươi sáng, hòa điệu. Không phải là do nhạc Lê Văn Khoa dễ chơi, có nhiều bài tôi phải học rất cực… Nhạc của Lê Văn Khoa có những hồi (movement) rất khốc liệt, nhưng ngay sau đó ta như nghe ông nói: ‘Xin hãy từ tốn, chậm rãi, nhẹ nhàng tử tế với nhau’. Tôi rất thích chơi nhạc của ông vì lúc nào cũng rất thư giãn. Hiện nay, tại viện âm nhạc Kiev, chúng tôi đã dạy và chơi nhạc Lê Văn Khoa rất nhiều…”
Nói về sách “Lê Văn Khoa: Một Người Việt Nam”, nó được chia làm 3 phạm vi mà Lê Văn Khoa hoạt động và dành nhiều thời giờ đóng góp, điển hình như Lê Văn Khoa của khía cạnh âm nhạc, Lê Văn Khoa của nghệ thuật (nhiếp ảnh), và Lê Văn Khoa của xã hội. Trong bài viết này tôi chỉ cô đọng về lãnh vực âm nhạc mà thôi.
Theo ý niệm căn bản thì âm nhạc là bộ môn nghệ thuật phối hợp âm thanh theo những quy luật nhất định, xuất phát từ những âm thanh trong cuộc sống, phản ánh những tình cảm của con người. Âm nhạc dùng âm thanh làm nồng cốt. Âm nhạc có ba phần rõ ràng, là nhịp điệu, giai điệu và hòa âm. Âm thanh có bốn đặc điểm nổi bật được lưu ý như sau:
– Cao độ (Pitch, Hauter): Mức độ trầm bổng của âm thanh.
– Trường độ (Duration, Durée): Mức độ dài hay ngắn.
– Cường độ (Intensity, Intensité): Mức độ mạnh hay nhẹ của âm thanh.
– Âm sắc (Timbre): Vì có những âm thanh giống nhau về cao độ, trường độ, và cường độ nhưng lại khác nhau về âm sắc, như chất giọng nam hay nữ vốn khác biệt.
Trong cuộc sống hàng ngày, âm nhạc được ví như món ăn tinh thần không thể thiếu được đối với đời sống con người, là ngôn ngữ đại đồng chung cho nhân loại. Nếu cuộc sống mà thiếu âm nhạc thì chẳng khác gì thiếu ánh sáng mặt trời, thiếu không khí trên mặt đất này. Bởi thế cho nên triết gia Friedrich Nietzsche cho là “Không có âm nhạc thì cuộc sống sẽ là một điều sai lầm”. Hay như sự cần thiết mà thi hào William Shakespeare quan niệm “Nếu ta yêu âm nhạc thì hãy vặn nó lên”.
Còn cố ca sĩ Sony Bono đã từng nói: “Âm nhạc có thể thay đổi thế giới bởi vì nó có thể thay đổi được con người”. Trong sách đã dẫn nơi trang 37, Lê Văn Khoa cho bài viết lý thú “Âm nhạc ảnh hưởng đến vạn vật”. Quả là như vậy vai trò của âm nhạc ảnh hưởng đối với đời sống của chúng ta rất nhiều, chính nó tạo ra những cung bậc cảm xúc cho tâm hồn chúng ta. Âm nhạc làm cho cuộc sống chúng ta thăng hoa, trở nên tốt hơn. Điều đó được hiểu qua ý tưởng của người xưa như quan điểm của triết gia Plato:
“Âm nhạc là sự chuyển động của âm thanh để linh hồn con người đạt đến sự giáo dục đạo đức của chính nó”. Phải chăng nhạc thánh ca, nhạc đạo, nhạc về lòng yêu thương quê hương, nhạc về lòng mẹ hay tình cha… linh nghiệm đúng như vậy. Do đó, âm nhạc ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người, con người là loài vật duy nhất có thể cảm nhận thông suốt, hiểu biết bởi trí tuệ và thưởng thức với tâm hồn say mê yêu thích âm nhạc. Chung quy thì phạm vi âm nhạc có hai loại chính khi biểu hiện bằng giọng người tức thanh nhạc. Còn nếu trình bày bằng các loại nhạc cụ thì là khí nhạc.
Bàn thêm thì âm nhạc là nguồn hạnh phúc cho tất cả mọi người chúng ta sống trên trái đất. Không có âm nhạc thế giới thực sự sẽ rất buồn tẻ. Chính vì có âm nhạc trong chuyển động âm thanh trong thiên nhiên như gió, sóng biển, thác, suối, mưa, bão… cũng như sự chuyển động của cây cối; có âm nhạc trong tiếng hót của các loài chim muông… Âm nhạc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hạnh phúc của con người. Âm nhạc xua tan đi nỗi sầu khổ của con người và rót đầy tâm tưởng chúng ta niềm vui sướng hân hoan. Bật những bài nhạc yêu thích và thực sự lắng nghe mà không cần làm điều gì khác, lắng nghe và lắng nghe trong nỗi thích thú. Chúng ta cảm thấy cuộc đời này thật có giá trị đáng sống biết bao! Đúng không chứ nhỉ?
Tôi ngẫm nghĩ về câu nói “La musique fait écho aux sentiments humains”, âm nhạc có thể xoa dịu những nỗi lo âu, khắc khoải trong cuộc sống. Âm nhạc là phương tiện chuyển tải cảm xúc trọn vẹn nhất của tâm hồn. Nên chi khi nghe Beethoven cho là “Âm nhạc làm trái tim của người nam sôi sục và khóe mắt của người nữ đẫm lệ”. Âm nhạc cũng có thể là ngôn ngữ của tâm hồn xao xuyến bớt đi cô đơn, hay khiến cho con tim ta khao khát yêu thương.
Và rồi bàn thêm tí nữa, âm nhạc còn là liệu pháp hữu hiệu chữa bệnh được áp dụng cho các bệnh nhân. Đối với những hoạt động chi phối não bộ của chúng ta, theo nhà bác hoc Albert Einstein cho rằng ông có trí não thông thái là vì ông chơi môn vĩ cầm. Nhiều chuyên gia cũng tin rằng ca từ hoặc nhịp điệu của âm nhạc có thể làm tâm tư chúng ta trầm tĩnh, trí tưởng tinh khôn hơn.
Trong chiến tranh, âm nhạc được xem như một sức mạnh tinh thần cho binh sĩ xông ra trận mạc khi “tiếng hát át tiếng bom đạn”. Trong triều đại đế quốc La Mã khi xưa, các chiến binh trước khi ra trận thường được nghe các khúc nhạc oai hùng, hùng dũng để khích lệ để có được tinh thần chiến đấu quyết liệt. Âm nhạc cũng đóng góp cho tình yêu nước, tính nhân bản hay xác định lập trường chính trị của người công dân.
Trong phần nói chuyện của Giáo sư Phạm Phú Minh, tức Nhà văn Phạm Xuân Ðài, ông cho ý tưởng về âm nhạc Lê Văn Khoa, âm nhạc ca ngợi tự do của người tị nạn Việt Nam như sau đây:
“Người ta đang bức tử một xã hội tự do thành một trại lính có tên là xã hội chủ nghĩa. Người dân không chịu nổi, họ phải ra đi. Họ đi đâu? Phần lớn họ ra biển, tìm đường đến với thế giới bên ngoài. Và hằng triệu người đã ra đi, nhắm mắt gửi thân phận mình cho đại dương có thể rất hiền từ mà cũng có thể rất hung tợn. Cả một lớp người ra đi này đã tạo nên một khúc bi tráng ca độc nhất vô nhị trong lịch sử Việt Nam, nói cho loài người từ thiên cổ đến ngàn sau rằng con người chỉ có thể sống đầy đủ với tư cách một con người nếu họ được tự do. Trong cuộc đi tìm tự do vĩ đại này, dân tộc chúng ta đã trả một cái giá không phải là nhỏ: Khoảng nửa triệu người đã chìm sâu dưới lòng đại dương trước khi họ thấy bến bờ tự do. Quý vị phải nghe hành âm số 6 “Trên Biển Cả” trong Ðại Tấu Khúc “Việt Nam 1975” của Lê Văn Khoa để sống với tất cả nỗi khủng khiếp này, để thấy thân phận nhỏ nhoi của con người trước sự gào thét của sóng gió biển khơi, nhưng đồng thời Lê Văn Khoa cũng cho chúng ta một cảm giác rất lạ lùng trong hành âm này, đó là sự vươn lên của ý chí, càng bị vùi dập thì con người càng mạnh mẽ, chúng ta sẽ rõ ràng nghe được sự hùng tráng vẫn tiềm ẩn trong tự thâm tâm chúng ta, và nó đã được khơi dậy, khiến chúng ta hào hứng, chúng ta đầy niềm tin vào mình, vào đồng bào của mình và vào nhân loại, và chúng ta sẽ chảy nước mắt trong nỗi hân hoan bí ẩn ấy, nó bỗng dưng xuất hiện giữa cảnh những chiếc thuyền bé nhỏ đang nghiêng ngả giữa sóng gió vô tình của biển cả. Lê Văn Khoa trong dòng nhạc của ông trong hành âm thứ 6 đã gợi được sự tự hào ấy nơi con người, con người đầy sức mạnh có thể làm chủ lấy mình giữa thiên nhiên và giữa xã hội dù phải trải qua nghịch cảnh tới đâu.
“Với tư cách là những con người tị nạn, chúng ta biết ơn nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã hiến tặng cho chúng ta tác phẩm này, một tác phẩm ca ngợi đất nước và con người Việt Nam, và điều quan trọng nhất là làm bừng sống phẩm giá của con người.”
Một diễn giả khác là Nhà văn Trịnh Y Thư đã bình luận về “Tính dân tộc trong âm nhạc Lê Văn Khoa”. Diễn giả dẫn giải vào đầu thế kỷ 19, dòng nhạc cổ điển Tây phương tập trung vào các trung tâm âm nhạc chính như ở vùng Tây Âu, nhất là ở hai quốc gia Đức và Áo. Âm nhạc mang nặng tính hàn lâm, tính bác học, tách biệt hẳn với dòng nhạc dân gian. Tuy vậy, những biến động lịch sử trọng đại ở Âu châu vào giai đoạn này đã tác động mạnh mẽ lên ý thức chủ nghĩa quốc gia (nationalism), tinh thần ái quốc vì dân tộc (jingoism), và âm nhạc theo thời thế cũng có những biến đổi sâu sắc, vượt thoát ra khỏi quỹ đạo Đức-Áo để tìm kiếm một bản sắc riêng. Ông nói tiếp:
“Chính Chopin là một trong những nhà soạn nhạc đi tiên phong trong lĩnh vực này với những nhạc bản mazurka – một vũ điệu dân gian của Ba Lan – ông viết cho piano. Tiếp theo đó, các nhà soạn nhạc tài danh như Glinka, Rimsky-Korsakov của Nga, Smetana, Dvorák của Bohemia, Grieg của Na Uy, de Falla, Albéniz của Tây Ban Nha và rất nhiều người khác, đã gầy dựng thành một cao trào gọi là “Dân Tộc Chủ Nghĩa” trong âm nhạc.”
Đi từ lòng yêu nước của Frédéric Chopin của thế kỷ 19, diễn giả đề cập nên xếp loại âm nhạc Lê Văn Khoa của thời đại qua nét âm nhạc chứa hồn dân tộc tính. Có lẽ điều này phù hợp nhất với Lê Văn Khoa, nhạc ươm hồn Việt tộc là giấc mơ mà ông đã cả một đời miệt mài, tận tụy theo đuổi để biến ước mộng thành hiện thực, giấc mơ làm thế nào để nhạc Việt có thể đi sâu vào dòng chính của âm nhạc thế giới, làm thế nào để nhạc Việt vang vọng và lấp lánh qua đó là bản sắc của nguồn tinh túy văn hóa Việt, tại các đại thính đường trình diễn âm nhạc trang trọng khắp nơi. Trịnh Y Thư phát biểu thêm:
“Với niềm tin tưởng bền bỉ, sâu sắc vào tiềm năng của nhạc Việt, ông bỏ công lao tìm tòi, nghiên cứu, san định, hệ thống hóa, tìm hiểu phần tinh túy cốt lõi của nhạc Việt để từ đó có thể chắt lọc dùng làm chất liệu sáng tác. Ông hiểu ưu, khuyết điểm của nó. Và trên hết, lòng yêu quê hương, tình cảm đậm đà tha thiết với đất Mẹ, đã khiến ông luôn luôn tự hào, hãnh diện về nền âm nhạc của dân tộc. Đối với ông, nó chính là hồn phách của đất nước Việt Nam. Ông từng có lần tâm sự như sau: ‘Mục đích của tôi là muốn dùng những nét nhạc hết sức đơn sơ của Việt Nam mà mình có thể biến hóa để người nước ngoài có thể dùng được. Bằng cách đó, mình đưa nhạc Việt đi xa hơn để hòa vào dòng nhạc thế giới.’
lvk7

Bìa CD symphony Việt Nam 1975 của Lê Văn Khoa
“Tính dân tộc bàng bạc trong âm nhạc của ông, nhưng rõ nét nhất là khúc giao hưởng dài hơi, quy mô, đồ sộ – Symphony Việt Nam 1975. Đây là một đại tấu khúc hiện đại bởi nó không tuân thủ cấu trúc, quy trình của đại tấu khúc cổ điển. Khúc nhạc có bảy hành âm, mỗi hành âm là một bức tranh hoặc phân cảnh linh động với chủ đề diễn tả những hình ảnh từ một nước Việt Nam thanh bình đến cuộc chiến tương tàn khốc liệt, rồi cuộc vượt biển của những người đi tìm sự sống trong cái chết và kết thúc bằng tiếng hát cất cao cho khát vọng Tự Do. Ngũ âm, dân nhạc Việt Nam phối hợp một cách tuyệt hảo với hòa âm, đối điểm Tây phương. Giai điệu, hoặc vay mượn từ kho tàng dân nhạc hoặc của chính nhà soạn nhạc, thấm đẫm nét trữ tình. Nghệ thuật khai triển nhạc đề trong mỗi hành âm đều rất đạt; biến thể, xướng họa tuôn chảy nhịp nhàng, linh động. Nghệ thuật phối khí mang nhiều tính sáng tạo, tận dụng cả bốn bộ (dây, gỗ, đồng và gõ) trong giàn nhạc giao hưởng, chưa kể sự tham dự của ban đại hợp xướng ở hành âm chót. Toàn bài được điểm xuyết bằng những âm sắc lạ như tiếng trống múa lân, tiếng sóng vỗ mạn thuyền, tiếng chân đi rón rén, và không thiếu những nhạc cụ cổ truyền dân tộc như đàn bầu, đàn tranh. Khúc nhạc là cuộc hành trình bằng âm thanh kỳ ảo, tràn đầy màu sắc lạ lùng, gợi cảm. Cảm xúc khi thì nhẹ nhàng, thanh thoát, lúc thì khốc liệt, bi thương.”
lvk8

Ban hợp xướng Ngàn Khơi và dàn nhạc Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ trình diễn “Ca Ngợi Tự Do” với nhạc trưởng Lê Văn Khoa (2008)
 
Duyệt qua những trọng điểm về âm nhạc và sự đóng góp của Giáo sư Lê Văn Khoa trong nhiều chủ điểm của sách “Lê Văn Khoa: Một Người Việt Nam”, một tập hợp tài liệu về người nghệ sĩ mang đam mê máu nghệ thuật, nuôi hoài bão về sự thăng hoa dòng nhạc Việt hòa quyện vào dòng chính âm nhạc thế giới như Nhà văn Trịnh Y Thư bình luận, cùng với chất liệu nhân bản tình người,  vinh danh biến cố tị nạn Việt Nam vì ý nghĨa cao quý của sự tự do và nhân quyền mà con người đã liều lĩnh vượt biển Đông đầy rủi ro, những hành trình cam go đã lay động lương tâm nhân loại một thuở. Trang sử ấy được chất chứa trong âm nhạc Lê Văn Khoa như những phát biểu của Nhà văn Phạm Xuân Đài.
lvk9
Là người thuộc thế hệ di sau, vốn mến mộ tài năng của Giáo Sư Lê Văn Khoa, ngưới viết bài cầu chúc ông luôn được mạnh khỏe. Với câu tôi hỏi riêng ông: “Nếu được trở lại lứa tuổi đôi mươi như xưa, liệu ông có chọn âm nhạc là hướng đi cho tương lai của cuộc đời mình nữa hay không?” Ông không ngần ngại đáp lời ngay: “Ở bất tuổi nào thì âm nhạc vẫn là lẽ sống của tôi!”. Tôi chạnh nhớ tới câu nói gần gủi nhất của người Pháp: “Musicien d’un jour, Musicien toujours!” Vâng, tôi hiểu sự quyết định dứt khoát trong câu nói của ông cho cái nghiệp ông mang, dù là nghiệp dĩ hay nợ đời nói theo từ ngữ của Nhà văn lão thành Thinh Quang thì sự chọn lựa như vậy sẽ phải trả như kiếp tầm nhả tơ, và phải trả sòng phẳng. Bởi vì một ngày chọn âm nhạc, bao kiếp sống vẫn với âm nhạc.
Trần Việt Hải, Los Angeles.

TIỂU SỬ NHẠC SĨ LÊ TRỌNG NGUYỄN (1926-2004)


   
       
 
 
 
 
 
 LeTrongNguyen
   
   
 : Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn

(1926-2004)

Thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam bước vào tuổi thanh niên thời kháng chiến chống Pháp nay đã ở vào tuổi “thất thập cổ lai hy”. Sự đóng góp và tâm tình của thế hệ đó, cho đến nay, vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, nhà báo Nguyễn Phúc, nguyên là biên tập viên Ðài BBC Luân Ðôn, thực hiện một loạt những cuộc phỏng vấn các văn nghệ sĩ thế hệ này hiện đang định cư ở hải ngoại. Mở đầu là bài phỏng vấn nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn dưới đây.
*
Từ trên thềm của ngôi nhà nhỏ cạnh đường San Gabriel, thị trấn Rosemead, CA, USA, người nghệ sĩ ấy, với khuôn mặt chở đầy dấu tích của năm tháng, của phong trần, của phong sương, của chịu đựng, đã đón tôi với một nụ cười thật tươi, thật sáng, với một cái nhìn thật thẳng thắn, thật sắc, thật lâu: có chút gì thật đặc sắc trong cái tương phản giữa nét trẻ trung của nét cười ấy, cái nhìn ấy với những nếp hằn sâu trên trán rộng, những đường nhăn bên hai má. Ðiếu thuốc lá đang cháy dở trên tay, anh Nguyễn ngoắt:

“Vô, vô.”

Cái ngoắt tay ấy của một con người từng trải, lịch duyệt, có vẻ như bất chấp mọi ước lệ trong lối chào hỏi xưa nay của người mình, cái ngoắt tay thân mật ấy coi vậy mà lịch sự ra phết.

Mặt đàn dương cầm cũ cũng chở đầy năm tháng như gương mặt của chủ nhân nó: Hai tấm ảnh bán thân đóng khung. Một của J. S. Bach và một của Beethoven. Cái tủ thấp kê gần giànstereo nhỏ đầy dĩa CD nhạc cổ điển tây phương.

– “Âm nhạc và anh tình cờ mà gặp nhau. Hay là anh tìm đến âm nhạc?”

Không một chút lưỡng lự, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đáp:

“Tôi tìm đến âm nhạc. Từ nhỏ, mình sống xung quanh âm nhạc rồi. Mình hát trong nhà thờ từ hồi nhỏ, cũng nhờ vậy mà mình biết là mình thích âm nhạc, yêu âm nhac… ”

– “Anh sớm khám phá ra là anh có khiếu âm nhạc?”

“Biết mình thích âm nhạc thì biết khá sớm nhưng mãi cho đến bây giờ mình cũng không biết là mình có khiếu hay không?”

– “Khiêm nhượng rồi anh nói vậy chứ ai không biết rằng anh là một nhạc sĩ có tài, thành danh đã từ lâu với rất nhiều bài được cả nước yêu chuộng, nổi tiếng nhất là bản Nắng Chiều.

“Anh khua tay ngắt lời tôi:

“Bản Nắng Chiều thật ra chỉ là một trong một số bài của tôi được phổ biến rộng rãi, nhưng mà tôi cũng không thích nó lắm, dù tình cảm tôi gửi vào đó rất mặn nồng. ”

– “Tại sao ?”

Anh Nguyễn cười phá lên, rất sảng khoái. Rồi im lặng, trầm ngâm một lúc anh chậm rãi đáp:

“Mình cũng không biết vì sao mình không thích bài Nắng Chiều lắm, dù khi viết xong bản đó mình rất khoái, dù bài đó rất chững chạc, chững vô cùng, nó cân phương đủ mặt… Ðây cũng là một loại tâm trạng. Người ta hát nhiều quá, mình đâm ra ghét. Người ta cứ giới thiệu Nắng Chiều, Nắng Chiều mà không biết thằng Nguyễn là ai cả.”

– “Kể cũng không có chi lạ. Có một bản Sonate của Robert Schumann mà chính nhạc sĩ cũng từng nói là ông không thích chỉ vì bản đó là bản ruột của danh cầm Clara Schumann. Mà Clara Schumann như anh cũng đã biết rồi, lại chính là vợ của nhạc sĩ. Ông thấy thiên hạ tán thưởng bài đó, tán thưởng nghệ thuật trình tấu của vợ – hình như bài sonate đó khó đánh lắm – mà không biết đến ông nên ông bực… rồi cũng đâm ra ghét bản sonate đó. Nhưng mà, để trở lại với sáng tác của anh, không phải vì có quá nhiều người hát bài Nắng Chiều mà giá trị nội tại của nó bị giảm đi. Anh viết bài Nắng Chiều vào năm nào và viết ở đâu ?”

“Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng chiến về thành… Tâm sự tôi trong bài Nắng Chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 3 năm 45, có một gia đình công chức Nam triều từ Qui Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy!”

– “Khi anh về qua sân nắng chạnh nhớ câu thề…” Hỏi cho đáo kỳ lý luôn? Biết rằng anh viết bản đó ở Huế, nhưng mà tại nơi nào ở Huế ?

“Tại cung An Ðịnh. ”

Cung An Ðịnh được cất riêng cho vua Khải Ðịnh, không thuộc hệ thống kiến trúc cũ của hoàng thành Huế, nằm bên bờ sông An Cựu. Cùng với nhiều kiến trúc khác ở Huế, cung An Ðịnh đã bị Việt Minh đặt chất nổ, phá sập khi họ áp dụng chính sách tiêu thổ kháng chiến vào đêm 19 tháng 12 năm 1946.

Từ cổng chính nhìn vào, lúc ấy chỉ còn dãy nhà phía bên phải, tuy hư hỏng nhưng vẫn còn ở được. Và đó cũng là nơi mà bà Từ Cung, thân mẫu của Cựu Hoàng Bảo Ðại, đã cư ngụ sau khi bà hồi cư từ Mỹ Lợi.

– “Tại sao mà anh lọt vào cung An Ðịnh?”

“Lúc bấy giờ, tôi làm việc ở đài phát thanh Huế, chơi thân với anh Vũ Ðức Duy. Anh ta có họ với bà Từ Cung, cũng nhờ quen anh mà anh đưa tôi qua ở bên cung An Ðịnh… Thật ra cái ý định viết một bài cho mối tình ở Hội An nó nhen nhúm lên trong lòng tôi đã từ lâu, nhưng phải chờ có một tia lửa thiệt âm ỉ ấy nó mới bốc lên được… ” hẳn không phải là tình câm mà tuyệt vọng?”

“Lúc bấy giờ tôi còn nhỏ còn trẻ mà, đâu 19, 20 gì đó. Platonique (lý tưởng) thôi. Rồi sau đó tản cư, kháng chiến… có cảm tưởng như mình còn thiếu người ấy một món nợ. Vì tôi viết bản Nắng Chiều ở Huế nên có nhiều người lầm tưởng rằng tôi viết cho một người Huế mà tôi đã yêu. Nhưng sự thật thì như tôi vừa kể, không phải như vậy. Viết xong bài Nắng Chiều tôi khoái lắm, biết rằng mình đã trả được món nợ ấy. ”

“Và cái tia lửa đó là một người thiếu nữ họ Hoàng, một thời hoa khôi ở đế đô, có họ với bà Từ Cung… Một chiều, ngồi cạnh hồ sen của cung An Ðịnh, bóng dáng thướt tha của người thiếu nữ ấy đã gợi cảm cho tôi, đưa tôi về với mối tình cũ vậy là tôi viết bài Nắng Chiều, đâu có trong vòng nửa tiếng đồng hồ là xong. Thời gian ở Huế là lúc mà tôi biết chắc là tôi quả yêu âm nhạc thiệt sự, trước đó viết vớ vẩn vậy thôi. ”

– “Anh học nhạc với ai ?”

“Tôi tự học trong giai đoạn đầu. Lúc bấy giờ tôi tham gia các phong trào thanh niên đi cắm trại, họp bạn ở tỉnh nhà, tỉnh Quảng Nam. Ca khúc đầu tiên của tôi là bài Ngày Mai Trời Lại Sáng, tuổi trẻ mà, luôn lạc quan tin tưởng ở tương lai. Tuy là sáng tác đầu tay nhưng mà bây giờ xemlại, tôi thấy bài đó cũng chỉnh. Sau đó thì đi tản cư. Dạo ấy có cái buồn cười thế này, có một số anh em yêu thích âm nhạc nói tôi thảo một bản nhạc như nhạc ngoại quốc, loại hòa tấu mà không có lời, họ cho vậy là nhạc cổ điên tây phương, tôi cũng chiều anh em mà có viết một bài đặt tên là Adieu Les Soirées Intimes. Cái buồn cười là khi bắt đầu viết nhạc, ưng viết cho khúc mắc, cho khó khăn. Sau này đọc thêm, học thêm, nghe nhiều mới thấy được cái simplicité (giản dị) mà đạt được mới là khó. Cũng nhờ một phần vào sinh hoạt văn nghệ và những cuộc hội thảo về quan niệm sáng tác khi tôi còn phụ trách âm nhạc cho toàn thể Liên Khu Năm, một đơn vị hành chánh trong vùng kháng chiến, gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên… Lúc đó, tôi có viết một bài tên là Binh Nhì Ca, viết cho bộ đội hát chơi mà. Bản này được tuyên dương. Tôi viết theo lối của tôi, khi tập cho anh em bộ đội hát, họ hát không được. Tôi sửa lại cho đúng với cách mà họ thích hát, họ hát được liền. Nhịp điệu của họ giản dị thôi, mà mình ưng viết cho khó thành ra họ hát không được. Có gì đâu. ”

– “Anh tự ý sửa hay là ai bảo anh sửa ?”

“Tôi tự ý sửa. Vì lúc đó mình nghĩ mình viết cho bộ đội mà, không phải cho riêng mình. Cho nên tự ý sửa, không có đau lòng chi cả. Bộ đội hát được, mình cũng vui vậy.”

– “Có bao giờ anh phải viết một bài theo chỉ thị của cấp trên không?”

“Tuyệt đối không. Tôi tuyệt đối chống lại cái gọi là nhạc đột kích, nghĩa là loại bài hát mà người ta khuyên anh cứ nên làm sẵn trước, chờ một phong trào, chiến dịch, đại hội nào đó, đúng lúc sẽ tung ra. Tôi chống cái chuyện đó lắm. Tôi làm nhạc là vì tôi thích thôi, trong số những bài tôi viết hồi đó có bản Bài Ca Của Ðoàn Văn Nghệ, lời của Tôn Thất Mạnh Hào, anh Mạnh Hào hiện vẫn còn sống ở ngoài Bắc, làm thơ hay lắm, bút hiệu là Hạo Nhiên. Tôi viết là tôi décharger một điều gì đó trong tôi. Tôi không có lý luận gì cả.”

Tôi thầm mến cái ngay thẳng thật thà của con người xứ Quảng này. Anh không quên những kẻ đã góp phần vào sự nghiệp của chính mình. Mến là vì, xung quanh mình, không riêng gì trong âm nhạc, mà trong nhiều bộ môn, lĩnh vực khác nữa, số người có khả năng nhận vơ đếm không hết.

– “Bạn văn nghệ cũ của anh từ thời kháng chiền gồm những ai, nay còn những ai.”

“Ở Liên Khu Năm, lúc ấy có anh Phan Huỳnh Ðiểu, tác giả bài Có Một Ðàn Chim, anh Văn Ðông. Về sau họ ra Bắc cả. Có hai anh em anh Dương Minh Ninh và Dương Minh Hòa. Anh Ninh không biết nhiều về nhạc lý nhưng mà trời phú cho cái khả năng ghi nhận nhạc điệu. Thời đó, đi xem ciné, nghe được một bài nào mà anh thích là anh ghi lại không thiếu một nốt. Anh Ninh có viết bài Trai Ðất Việt. Anh lớn hơn tôi chừng bốn năm tuổi, chuyên về cổ nhạc, vọng cổ, hiện còn sống ở Việt Nam. Anh Hòa có lúc phải đi vùng Kinh Tế Mới, bây giờ sống lây lất ở Việt Nam, đi dạy nhạc vớ vẩn, thỉnh thoảng có làm những bài hát thiếu nhi. ”

– “Những người bạn văn nghệ đó, có ai chỉ dẫn thêm gì cho anh về nhạc lý không?”

“Không. Nhưng mà lúc bấy giờ tôi có cái may mắn tìm được một tủ sách, trong đó có sách nhạc lý của một trường công giáo ở Chương Hòa, Tam Quan, Bình Ðịnh. Tôi dạy học ở đó. Nhờ vào tủ sách đó mà tôi tự học thêm về harmonie (hòa âm) về contrepoint (đối điểm)… Vì tự học nên tôi học mà không có làm bài tập… ”

– “Sau contrepoint rồi đến composition (soạn nhạc) phải không anh?”

“Ðúng vậy, mãi về sau này, khi vào thành rồi, tôi mới học composition. Nhưng có cái buồn cười là lúc đó, mình chưa học composition mà lại viết nhạc, viết được có lẽ nhờ mình nghe nhiều, sống nhiều với âm nhạc. Cũng như có nhiều người có học luật lệ gì về thi ca đâu nhưng mà vẫn làm thơ, vẫn làm được thơ. Riêng trong âm nhạc, tôi nghĩ muốn viết cho vững, tối thiểu phải học harmonie, nó giúp cho mình chấm câu dứt đoạn. Người sáng tác nhạc ít nhất cũng phải biết hòa âm. Thiếu kỹ thuật đó, nhạc phẩm không có được mạch lạc chặt chẽ.

Các nhạc sư Pháp cho rằng âm nhạc là sự vận chuyển của tâm trạng và tư tưởng. Sự vận chuyển này được tạo ra bởi hai trạng thái động và tĩnh. Có nghĩa là căng thẳng (tension) và buông dãn (détente). Ðể dễ hiểu, khi nghe một bài vọng cổ, đến đoạn nói lối (có khi kéo dài đến hàng trăm chữ), có lúc tiết điệu và âm điệu đang tạo sự căng thẳng, người nghe nín thở chờ đợi, chờ đợi gì, chờ đợi sự buông dãn của âm Hò chấm câu, là lúc cả rạp vỗ tay. Lúc này là lúc âm nhạc chủ động, lời văn của bài ca là thứ yếu, chỉ có âm Hò họa điệu (chute) để cho người nghe thở phào. Có tiết điệu trống (rythme masculin), tiết điệu chiều ý người nghe theo nét nhấn (accent) của nhịp ấn định. Và tiết điệu mái (rythme féminin) là tiết điệu đưa lệch nét nhấn mà người nghe chờ đợi. Ðấy là một vài chi tiết của composition.

Sau khi vào thành rồi, tôi bắt đầu học thêm khóa hàm thụ với Ecole Universelle ở bên Pháp. Tháng tháng gửi mandat-poste cho họ, theo học cours de composition. Sau khi học xong tôi được chấp nhận là hội viên của SACEM Hội Nhạc sĩ Pháp. Lúc bấy giờ tôi quyết tâm đeo đuổi ngành nhạc. ”

– “Nhưng mà nhạc có nuôi nổi anh không?”

Thoáng một nét cười khá chua chát qua một hơi khói thuốc lá có đầu lọc, hít rất dài, hãm rất kỹ:

“Không. Lúc mới ở kháng chiến về tôi đi dạy vớ vẩn. Lúc bấy giờ ở Ðà nẵng, có gia đình ông Huỳnh Sau, con cái đều chơi nhạc giỏi cả, trong nhà có đủ dương cầm vĩ cầm. Giống như gia đình ông Henri Richard ở Huế vậy. Tôi chơi thân với gia đình đó, họ giới thiệu cho tôi dạy vớ vẩn, thỉnh thoảng họ cũng nhờ tôi làm partition. Thỉnh thoảng cũng có tham dự những hoạt động âm nhạc trong thành phố. Dạo ấy tôi có viết bài Vác Ðàn Ði Ðâu và bài liên khúc nhịp ba (suites des valses) Sóng Ðà Giang, Ðà Giang đây là sông Thu Bồn ở Quảng Nam. Tôi gửi bài đó cho chương trình của ông Ðan Trường bên Pháp và được phổ biến ngay.”

Vào những năm đầu thập niên 50, đài Pháp-Á vẫn cho phát thanh lại một chương trình tiếng Việt thu thanh trước ở Paris, của ban Nhạc Ðan Trường, nội dung thường xoay quanh sinh hoạt của Việt Kiều ở nước Pháp. Chương trình dài 30 phút được phát thanh lại vào trưa chủ nhật mỗi tuần, một phần nào thỏa mãn được cái tò mò của người trong nước đối với cuộc sống của bạn đồng hương ở Pháp. Ngày nay, hơn bốn mươi năm sau, nhiều nơi trên thế giới đã có tiếng nói vọng về quê hương, nhưng có lẽ không có đài nào có một câu mở đầu bằng một lời rất lãng mạn, rất trữ tình, dài dòng mà dễ thương như chương trình Ðan Trường dạo ấy: “Muôn dặm xa xôi, quan san cách trở, tưởng nhớ đến quê hương cho nên anh em chị em chúng tôi mượn nghệ thuật âm thanh để bắc cầu liên lạc với tổ quốc…”

Dài dòng thật, chả bù nhưng mà thì giờ thời bấy giờ có vẻ như chưa phải là tiền bạc.

– “Tại sao anh bỏ kháng chiến?”

“Dạo ấy em gái tôi đau nặng. Ði kháng chiến cực khổ quá, mẹ già xoay ra buôn bán vớ vẩn. Nhà tôi ở Bồng Sơn lúc đó là một cái trạm liên lạc của anh em văn nghệ sĩ, ai đi ngang cũng ghé vào nhà ăn cơm. Sống cực khổ quá, tôi nghĩ đến chuyện về thành, bán nhà cửa đi học tiếp. Cực khổ quá, mình ở không nổi thì bỏ đi thôi, chứ không có bất mãn chuyện chi cả. Lúc đó bộ mặt cộng sản của Việt Minh chưa lộ hẳn. Phong trào đấu tố lúc đó chỉ mới được phát động đâu ngoài Bắc thôi, chứ ở Liên Khu Năm chưa có. Vào trong này, định đi học lại nhưng hoàn cảnh kinh tế của gia đình lúc đó cũng đã khác, không cho phép mình tiếp tục học nữa.”

– “Trước 75, dù đã sống với Việt Minh, anh không có kinh nghiệm đau thương với cộng sản, tại sao sau ngày mệnh danh là giải phóng anh lại bỏ đi qua đây ?”

“Hồi tháng Tư năm 75 mình không có ý định đi. Lúc bấy giờ thật ra đầu óc mình không có ý thức chính trị gì cả, cứ nghe nói có ba thành phần nọ kia. Mãi cho đến ngày 28, một người bạn Mỹ, làm thuyền trưởng một chiếc tàu của SeaLand gửi cho tôi mấy chữ tàu đang chờ gia đình anh mà rồi tôi cũng không đi. Tôi nghĩ đem vợ con qua Mỹ lấy gì mà sống, làm gì mà sống, trong khi đó thì ở Saigon mình có sẵn cơ sở rồi, không giàu có gì nhưng mà sống được. Riêng bản thân mình cũng không có liên hệ với một đảng phái chính trị nào. Tôi nghĩ có thể có được một cuộc sống… bình thường. Nhưng mà mơ ước tầm thường vậy mà rồi cũng không ở được với Việt Cộng. Mãi tháng 3 năm 83 tôi mới qua đây… ít lâu sau ngày Việt Cộng chiếm miền Nam, tôi có gặp lại anh Nguyễn Xuân Khoát ở Saigon. Anh vào Nam, hỏi Phạm Trọng Cầu về tôi, biết tôi còn ở lại Sài gòn, anh tìm đến nhà thăm tôi. Tâm sự hàn huyên xong, anh khuyên tôi nên tìm cách đi. Nguyên văn câu nói anh Khoát như thế này: “Cậu đi đi, không ở được đâu.”

– “Anh quen nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát từ hồi nào?”

“Từ hồi tôi còn học ở Hà Nội. Khoảng năm 42 cho đến năm 45.”

Cái ngày đầu tiên quen biết nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát có lẽ không quan trọng bằng cả một thời kỳ sống ở Hà Nội trong những năm tháng nhiều biến cố lịch sử khắp nước. Cái đầu đã hói ấy hơi cúi xuống trong một dáng suy nghĩ như đang cố ôn lại những hình ảnh cũ. Im lặng một hồi, anh tiếp:

“Tôi quen anh Khoát từ hồi anh còn đàn ở quán Tân Nghệ Sĩ ở Bờ Hồ. Tối tối, tôi vẫn ra Tân Nghệ Sĩ nghe nhóm nhạc sĩ này đàn. Có cả nhạc sĩ vĩ cầm Nguyễn văn Diệp. Cái quán Tân Nghệ Sĩ nổi tiếng này nằm cạnh hàng kem Zéphyr, tức là hàng kem của cô Cúc. ”

– “Chắc cô Cúc này phải là một trong nhiều thiếu nữ đẹp ở Hà Thành nên đến hơn nửa thế kỷ rồi mà anh còn nhớ tên.

“Thật ra tôi cũng không biết nữa, nhưng tôi nhớ là vì sau này cô lấy ông Phạm Văn Ðồng…. Như tôi vừa nói, hàng kem Zéphyr nằm cạnh Quán Nghệ Sĩ là nơi tôi gặp và quen anh Nguyễn Xuân Khoát. Anh Khoát cũng có đàn ở Taverne Royale nữa. Hồi đó ngoài Hà Nội còn có một phòng trà nữa tên là Tuyết Sơn, vì hay lui tới phòng trà đó mà tôi biết hai nhạc sĩ vĩ cầm, đó là hai anh Lê Ngọc Châu và Ðỗ Thế Phiệt. Các anh Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Nguyễn Thiện Tơ lúc đó tôi cũng đã biết tiếng, nhưng họ ở lớp đàn anh, lớn hơn tôi. Sau này vào Saigon rồi, tôi mới quen anh Dương Thiệu Tước và Thẩm Oánh. Thật ra thì anh Nguyễn Xuân Khoát cũng hơn tôi đến 10 tuổi, nhưng mà tôi biết anh Khoát một phần cũng qua liên hệ công giáo.

Những năm tháng sống ở Hà Nội hẳn đã để lại nhiều kỷ niệm vui trong đời, nên anh Nguyễn thao thao về những mẩu chuyện vụn vặt, hết chuyện này sang chuyện khác. Sống ở Hà Nội mấy năm “học ít chơi nhiều”, đổi chỗ ở lung lung, lang thang hết nơi nay đến nơi khác, có lúc vào ở ngay trong đại học xá, tại khu dành cho sinh viên trường Kiến Trúc “dù mình chưa lên đại học”. Tại đó anh đã gặp bạn đồng hương là anh Vương Quốc Mỹ, người vẽ kiểu cho lăng “Bác”. Nghe anh vui vẻ thú nhận là mình học ít chơi nhiều, tôi hỏi:

– “Anh có đóng đô ở Khâm Thiên không?”

“Không, dạo ấy mình còn trẻ quá. Tôi chưa bao giờ nghe hát ả đào, nghe ca trù ở Khâm Thiên cả. Ðối với một người Việt Nam làm nhạc, đó là một thiếu sót. ”

– “Chuyện vui buồn của một thời lãng du, một đời lãng tử?”

“Nhiều lắm. Nhưng mà vừa nhắc đến anh Nguyễn Xuân Khoát… có một chuyện mà bây giờ những người liên hệ trong đó đã chết cả rồi tôi mới dám nói. Hồi 45-46, ở Hà Nội có ban nhạc kịch Anh Vũ, có vào Huế và Hội An trình diễn vở Tục Lụy của Khái Hưng, Lưu Hữu Phước viết nhạc. Trưởng đoàn nhạc kịch lúc đó là anh Võ Ðức Diên, ngoài ra còn có các anh Thế Lữ, Văn Chung, Bùi Công Kỳ, Nguyễn Xuân Khoát và một số các anh khác nữa, tôi không nhớ hết. Lúc ban kịch Anh Vũ vào đến Quảng Nam thì ở tại Ðà Nẵng. Từ Ðà Nẵng vào Hội An phải qua một khúc đường 30 cây số mà lúc ấy lại đúng vào mùa lụt lội. Kịch thì dự định diễn ở Hội An , làm thế nào để chở dương cầm từ Ðà Nẵng vào Hội An? Vì quen với anh Khoát từ trước ở Hà Nội, anh Khoát nhờ tôi phụ trách việc đó. Kết quả là có đàn cho ban kịch Anh Vũ, nhưng cái khám phá… bên lề chuyện đó là trong khi tìm cách vận chuyển cây đàn, anh Khoát nói với tôi là ở Hội An có một nhóm Hoa Kiều theo Trùng Khánh, tức là theo phe Tưởng Giới Thạch. Trong số có anh La Hối, tác giả bài Xuân Và Tuổi Trẻ, đã bị Quân đội Nhật sát hại cùng với 12 người Hoa Kiều khác. Lúc đó tôi mới biết rằng phần lớn các anh trong ban Anh Vũ nếu không phải là đảng viên thì cũng có cảm tình với Việt Nam Quốc Dân Ðảng. Trong chuyến đi Hội An kỳ đó, hình như họ có nhiệm vụ liên lạc gì đó với Quốc Dân Ðảng Trung Hoa là vì Hội An tuy nhỏ nhưng lại có một chi bộ lớn ở hải ngoại của phe Tưởng Giới Thạch. Chính vì cái liên hệ đó mà anh Thế Lữ, khi nghe anh La Hối bị Nhật giết, mới cảm động mà đặt tên và lời ca cho bản nhạc của La Hối, bài Xuân Và Tuổi Trẻ như chúng ta biết ngày nay. Trước đó, nó không có lời Việt Nam. Một người Việt ở tận ngoài Hà Nội, một người Hoa Kiều ở trong Quảng Nam này, hai người đâu có hề quen biết nhau. Chuyện cũng ngoài năm mươi năm nhưng trước đây vì sợ anh Nguyễn Xuân Khoát và Thế Lữ bị cộng sản trù nên tôi không dám nói ra. Bây giờ cả hai anh đều qua đời cả rồi. “.

– “Bạn thân nhất của anh là ai?”

“Phạm Ðình Chương. Chỉ có Phạm Ðình Chương thôi. Hoài Bắc là một người có tâm hồn lắm. Một tri kỷ.”

– “Hai anh có khen nhau không? Có chê nhau không?”

“Mỗi đứa sáng tác một đường. Không có phê bình nhau chi cả. Xem nhạc của nhau, đứa nào viết… sạch sẽ là được rồi. ”

Nói đến đây, anh khẽ chép miệng. Thoáng một nét buồn. Ðôi mắt lơ đãng nhìn theo làn khói thuốc. Phải rồi, khi người ta trót mang trong cái biệt nghiệp của mình chút nợ cầm ca, ai là người không tự thấy rằng mình vay cuộc đời nhiều mà trả không được mấy. Mất đi một người hiểu được tâm hồn mình ở vào cái tuổi bắt đầu vào thu, cái tuổi mà chỗ giao du lác đác như những chiếc lá trong gió lạnh đầu mùa, nói như Tùng Thiện Vương, lòng ai mà lại không se đôi chút.

“Có chuyện này nữa, có liên hệ đến anh Nguyễn Xuân Khoát. Trong thời kỳ chiến tranh, trong số những tài liệu mà quân đội mình bắt được của Việt Cộng, có một tập nghiên cứu nhạc dân gian, nhạc cổ truyền cả ba miền, tác giả là anh Nguyễn Xuân Khoát, phần nghiên cứu về cổ nhạc miền Trung có nhắc đến công trình của anh Nguyễn Hữu Ba. Dạo ấy, ông Lữ Liên có được tài liệu đó trong tay. Ðưa cho một sĩ quan trong ngành Tâm Lý Chiến. Ông sĩ quan này đưa tập tài liệu đó cho ai thì tôi không biết, nhưng mà sau này có một người kể như mạo nhận là của mình, dùng tài liệu đó để viết về dân ca ba miền, nói rằng đó là công sưu tập của mình, mà không nhắc chi đến anh Khoát hay anh Ba cả. Chuyện cũng đáng buồn Ông Lữ Liên biết rõ chuyện này lắm. Anh muốn biết thêm nữa thì tìm gặp ông Lữ Liên. ”

– “Tội chi mà anh buồn cho nó mệt cái thân, cho nó nhọc cái xác. Trong thiên hạ thiếu chi người có trí nhớ phi thường như Trương Tòng, đọc Mạnh Ðức Tân Thư của Tào Tháo có một lượt mà thuộc lòng ngay, vậy mà mà khi dùng đến những điều mình nhớ kỹ thì lại ‘Quên’ ghi xuất xứ. Ngoài anh Nguyễn Xuân Khoát ra, anh có gặp ai ngoài Bắc vào sau 75 không?”

“Anh Văn Cao. Trong một đêm sinh hoạt hết sức thú vị”

– “Xin nghe”

“Sau 75 một hôm anh Lê Thương tìm đến nhà tôi nói có anh Văn Cao ở Hà Nội mới vào. Bắc Nam gì không kể, anh Văn Cao là một nhạc sĩ có tiếng, mình cũng nên tính chuyện tiếp rước cho vui vẻ. Lúc bấy giờ tụi này nghèo lắm, may có một người bạn tên là Bá Châu, có nhà in ở đường Lê Lai, thích âm nhạc, nhà lại có đàn dương cầm. Anh bạn này bảo tụi này cứ mời anh Văn Cao còn chuyện ăn uống, nhậu nhẹt anh ta bao hết. Vậy là chúng tôi đón tiếp vợ chồng anh Văn Cao ở đó. Hôm ấy có anh Lê Thương và Phạm Ðình Chương, nay chết cả rồi, ngoài ra có chị Thái Thanh, anh Nguyễn Xuân Nghĩa hiện vẫn còn ở tại Mỹ này. Cả anh Nghiêm Phú Phi nữa. Mình kéo anh Nghiêm Phú Phi đến là để đệm cho chị Thái Thanh hát. Ðêm hôm ấy, chị Thái Thanh hát toàn nhạc của Văn Cao. Chị Văn Cao chảy nước mắt nói: “Em lấy anh suốt đời, hôm nay mới được nghe nhạc anh như thế này.”

– “Vậy trước đó, người ta không cho nghe nhạc của Văn Cao ở ngoài Bắc chăng?”

“Có, nhưng mà ý chị Văn Cao muốn nói trong mấy chục năm ở ngoài Bắc, cũng có nghe nhạc của chồng, nhưng không được hay như lần nghe chị Thái Thanh hát hôm ấy. Có rượu vào anh Văn Cao cao hứng ngồi vào dương cầm, ngâm một bài thơ mà tôi không nhớ, chỉ nhớ đại ý nói không nên bắn tổ chim. Anh Nguyễn Xuân Nghĩa có xin ghi lại, nhưng anh Văn Cao có ý ngại không cho. Trong không khí thân mật và cởi mở ấy, chị Văn Cao tiết lộ một vài điều cũng… đau lòng. Anh có biết là anh Văn Cao bị Ðỗ Nhuận phang không?”

– “Nghĩa đen hay nghĩa bóng?”

“Bóng gì. Ðỗ Nhuận đánh anh Văn Cao bị thương.”

– “Tại sao vây?”

“Lần đánh Văn Cao thì lý do tôi không nhớ rõ. Nhưng thực sự thì Ðỗ Nhuận ganh tỵ với Văn Cao là nguyên nhân sâu kín. Anh Văn Cao là tác giả bài Tiến Quân Ca, được chọn làm quốc ca từ thời Việt Minh. Thật ra nếu không có bài đó thì anh Văn Cao cũng tiêu rồi. Nhờ bài đó, mà sau khi dính vào vụ Nhân Văn Giai Phẩm, anh bị đì thì có bị đì mà không đến nỗi thiệt mạng. Hôm ấy, nhắc đến Ðỗ Nhuận chị Văn Cao chỉ biết lắc đầu. Sau đó mấy hôm người ta gọi anh Văn Cao ra Bắc vì liên lạc với văn nghệ sĩ ngụy.”

– “Bản nào anh ưng ý nhất trong số các tác phẩm của anh?”

“Cũng khó nói. Chỉ kể cho anh nghe hoàn cảnh rất thú vị khi tôi viết bản Sao Ðêm. Lâu lắm rồi. Tôi viết bản đó bên đèn tiên nâu của thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Hôm ấy tôi đi chơi về khuya, gặp một anh bạn tên Hoàng thổi saxo trong dancing Hòa Bình, gần nhà hàng Thanh Thế. Hoàng rủ tôi đi ăn khuya ở Phan Ðình Phùng. Khúc phía dưới, chỗ gần Vườn Chuối có một cái quán mở cửa rất khuya, bọn anh em ca nhạc sĩ “ru đời” xong vẫn kéo nhau đến đấy ăn miến gà, bánh cuốn. Nhưng mà tới nơi thì quán đã chật, mà bạn tôi thì lại đang đến giờ cần cơm đen. Tôi kéo Hoàng vào gõ cửa nhà thi sĩ Vũ Hoàng Chương gần đấy. Lúc ấy cũng đã gần hai giờ sáng. Ông Vũ Hoàng Chương hỏi tôi: “Nguyễn, giờ này còn lò mò đi đâu đây.” Tôi đáp: “Bạn tôi cần thuốc phiện.” Ông Vũ Hoàng Chương, mặc bộ đồ bà ba, tay ôm con mèo nhỏ, chỉ cái bàn đèn, để cho hai anh em tôi hoàn toàn tự do sử dụng. Ông vào ngủ tiếp. Trong khi bạn tôi hút thì tôi nhìn ngọn đèn dầu lạc mà nẩy ra cái ý sao đêm. Do đó mà có bài Sao Ðêm. Mấy chữ “trời sao chín mọng” là những viên thuốc nho nhỏ mà ông Vũ Hoàng Chương để sẵn cho tụi này trên bàn đèn.”

– “Anh có hút nhiều không?”

“Nhiều lần thì có. Trong bối cảnh cần thiết của bạn bè. Nhưng mà không ghiền.”

– “Anh sống có phóng đãng lắm không? Trụy lạc không?”

Một chuỗi cười vang lên giữa căn phòng im lặng, có thứ ánh sáng mờ mờ cùa một buổi sáng nhiều sương. Anh Nguyễn cười rất lớn, rất đã, đến chảy cả nước mắt.

“Phóng đãng có. Trụy lạc có. Nhưng mà chỉ có hại cho mình thôi. Không làm phiền đến ai cả. Lúc bấy giờ tôi làm ra tiền cũng khá dễ dàng. Ðêm nào cũng đi vũ trường…. ”

– “Cái lối sống ấy có giúp ích gì cho sáng tác của anh không?”

“Có chứ. Nó là một phần của cái cachet mà tôi muốn tự tạo cho mình. Và tôi nghĩ rằng tôi đã tạo được cái cachet đó trong nhạc phẩm của tôi.”

– Trong những nơi mà anh đã từng sống trong nước, chỗ nào làm cho anh quyến luyến khác thường, nói theo một bài tập đọc trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư?”

“Huế”

– “Không phải Quảng Nam à ? Không phải chỗ quê hương đẹp hơn cả?”

“Tôi không có tinh thần địa phương. Ai nói những chuyện như thằng đó Huế, thằng đó Bắc tôi không thích. Nhạc của tôi cũng vậy. Tôi không chú ý đến dân tộc tính, tộc tiếc gì cả. Không bao giờ tôi tự đặt cho mình cái mục đích là nên viết cho ra Việt Nam, cho ra Pháp… ”

– “Xin phép đưa anh về với sông Hương núi Ngự. Tại sao anh thích Huế?”

“Là vì tôi đã Sống (anh nhấn mạnh chữ sống) nhiều, yêu nhiều, khổ nhiều ở đó. Huế cũng là nơi mà tôi có nhiều người bạn rất thương tôi. Tôi yêu phong cảnh ngoài đó lắm. Nhất là sinh hoạt trên giòng sông Hương. Dạo ấy có khi hàng tháng tôi ở lì dưới đò. Sáng, đò cập bến cho mình đi làm ở đài phát thanh, trước Morin, chiều lại xuống đò”

– “Bạn anh ngoài Huế”

“Nhiều lắm. Có các anh Tôn Thất Cảnh, anh Vũ Ðức Duy. Anh Vũ Ðức Duy là người đưa tôi đến trú ngụ ở cung An Ðịnh. Trong số các anh em nhạc sĩ ngoài đó, tôi quen các anh Nguyễn Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, anh Vang thổi saxo ở đài phát thanh, anh Văn Giảng, anh Vĩnh Phan. Anh Vĩnh Phan có một tâm hồn rất nghệ sĩ, còn ngón đàn tranh của anh thì thôi hết nói, tuyệt. Anh Văn Giảng, tác giả bài Ai về Sông Tương tôi chơi thân lắm. Văn Giảng giỏi lý thuyết âm nhạc. Có một dạo Văn Giảng được học bổng đi học nhạc ở Hawaii. Khóa học hai năm, nhưng mà mới có một năm thì anh về vì nhớ nhà quá. Văn Giảng có tâm hồn lắm. Con người ấy, gắn bó với quê hương như vậy chắc là không sung sướng trong cuộc sống lưu vong tại bên Úc hiện nay.”

– “Còn anh?”

Thêm một điếu thuốc nữa. Anh cau mày suy nghĩ lung lắm.

“Từ ngày qua đây tôi cảm thấy mình già, lỗi thời. Cảm thấy mình già rồi, không làm gì được nữa. Cũng có lúc sáng tác. Nhưng nhiều khi lại tự hỏi viết cho ai. Tôi xưa lắm anh ơi. Những cảnh trước mắt làm tôi bực mình. Cuộc sống vật chất ở đây làm mình bỡ ngỡ kinh hoàng. Những giá trị cũ trong nước, qua đây hình như vứt đi cả. Viết cho khuây khỏa, nhưng cũng khuây khỏa một phần nào thôi. Xoay sang đọc sách đủ loại, đặc biệt sách nhạc tôi đọc cũng nhiều. Buồn. Con cái lớn nó dọn đi cả rồi. Bạn bè xung quanh cũng không còn được mấy. Già rồi, dù không đau yếu chi nhưng mà sức khỏe cũng có kém… ”

Thoáng trong đầu, hai câu thơ của Nguyễn Du than thở về cái cảnh đường còn dài mà ngày đã tàn, bạn bè mới lại không có mấy, trong khi đó thì chứng bệnh cũ lại tái phát, ngồi một mình trong căn phòng đầy khí lạnh ngày xuân (trường đồ nhật mộ tân du thiểu, nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa.). Còn vài chuyện nữa định hỏi, nhưng mà thôi. Khơi thêm một vài mẩu chuyện cũ có thể là vui đấy, nhưng mà cái tâm sự ấy. Tôi hiểu rồi.

Tôi với tay tắt cái máy ghi âm. Uống nốt chén trà đậm đã nguội.

le Trong Nguyen 2le-trong-nguyen1le trong nguyen sáng tácHinhLTN06HinhLTN102-le-trg-nguyen-6le-trong-nguyen-1

TRẦN VIỆT HẢI : XIN CHIA TAY CHÀO BÁC VÕ PHIẾN


Sáng hôm nay thứ Ba, ngày 29 tháng 9, 2015 anh Việt Hưng của Việt Phố TV và họa sĩ Lưu Anh Tuấn của Hội NATV thông báo tin nhà văn Võ Phiến đã mãn phần,  ngày thứ Hai, 28/09/2015. Tin đến tôi cảm nhận sự se lòng lại với muôn vàn nuối tiếc nhớ câu hỏi chân thật của nhà văn trẻ Lotus Diệp Minh Nguyệt hỏi tôi: “Sao những nhà văn lớn lại ra đi vậy anh?”, khi tin nhà văn biên khảo André Trần Cao Tường đã mệnh chung. Ý tưởng của Lotus Minh Nguyệt chỉ hàm chứa sự tiếc nuối, và rồi bây giờ là nhà văn Võ Phiến.

Thật vậy, Võ Phiến là một đại thụ văn học Việt Nam, tên thật là Đoàn Thế Nhơn. Sinh ngày 20/10/1925 tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Năm 1933, khi ông lên 8 tuổi cha mẹ ông vào Rạch Giá lập nghiệp, Võ Phiến ở lại Bình Định sống với bà nội, học trường làng, trung học ở Quy Nhơn. 1942 ra Huế học trường Thuận Hóa và bắt đầu viết văn. Bài tùy bút đầu tiên tựa đề Những Đêm Đông viết năm 1943 đăng trên báo Trung Bắc chủ nhật, ký tên Đắc Lang.

Võ Phiến còn dùng bút hiệu Tràng Thiên, bút hiệu này vốn là một bút hiệu chung của vài tác giả hợp tác với nhóm nhà văn trong Tạp chí Bách Khoa (1957-1975) sau được nhà văn Võ Phiến sử dụng cho các tác phẩm chuyển ngữ như Hăm Bốn Giờ Trong Đời Một Người Đàn Bà (Vingt Quatre Heures Dans La Vie d’une Femme hay Twenty-Four Hours in the Life of a Woman, của nhà văn người Áo Stefan Zweig, 1881-1942), sách dịch được in vào năm 1963. Đọc văn Võ Phiến bao la với tôi, văn ông miêu tả đời sống dồng quê dân dã Việt Nam đến những tư tưởng văn chương phương Tây, nào những Albert Camus, JP Sartre, André Malraux, Victor Hugo, Hector Malot, Gustave Flaubert,…

Trong bài viết về chủ đề “Sách và Nhà”, khi nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng phỏng vấn nhà văn Võ Phiến, Võ Phiến tâm tình văn chương như sau, Võ Phiến kể:

“Đã có một thời, ở Sài Gòn ta, giới văn nghệ hễ mở miệng là toàn Sartre với Camus. Ông lại là giáo sư, dạy văn dạy triết, sớm chiều đụng đầu mấy ông này hàng ngày, chán là phải. Nhưng xin nói ngay là những điều tôi sắp đưa ra không liên quan gì đến triết học với văn chương cả. Chẳng qua chuyện đời sống.

Như ông đã biết, cha mất sớm, Sartre với mẹ về ở nhà ngoại. Ông ngoại là nhà giáo dạy Đức ngữ, cũng có soạn một cuốn sách giáo khoa được in đi in lại. Vậy ngoại là một tác giả, một hãnh diện của gia đình. Tác giả tất nhiên có tủ sách gia đình. Cậu bé Sartre từ nhỏ đã lân la vào phòng sách của ngoại, và sống những giờ mê tơi. Về già, lúc gần tuổi sáu mươi, trong cuốn Les mots, ông viết: “Tôi đã bắt đầu và chắc chắn rồi cũng sẽ kết thúc cuộc đời mình giữa các cuốn sách.” (“J’ai commencé ma vie comme je la finirai sans doute: au milieu des livres.”)

Sống và chết giữa các cuốn sách không giống như sống và chết giữa vựa lúa của một nhà nông, hay giữa kho hàng của một nhà buôn, hay giữa bàn ghế trong công thự của một viên quan lại nào đó trong guồng máy cai trị của các chế độ. Sách là thứ lạ lùng hơn nhiều. Ở một đoạn khác của tác phẩm vừa kể, ông viết: “Tôi đã tìm ra cái tôn giáo của tôi: tôi thấy không có gì quan trọng hơn là một cuốn sách. Cái phòng sách, tôi xem nó như một ngôi đền.” (“J’avais trouvé ma religion: rien ne me parut plus important qu’un livre. La bibliothèque, j’y voyais un temple.”)…

Xem bộ ông băn khoăn mãi về cái “nội dung”. Không hề gì, ông ơi. Phòng sách không phải là kho sách. Kho sách là nơi chứa sách: cốt nhiều. Phòng sách là nơi để đọc sách: cốt ta tìm thấy hứng thú say mê ở trong đó hơn 11 phút mỗi ngày.

Tủ sách của ông ngoại có thể đồ sộ, nhưng cậu bé Jean-Paul Sartre lúc bấy giờ tôi e không đọc được mấy đâu. Đêm đêm cu cậu ôm vào giường cuốn Sans famille của Hector Malot đã thuộc làu. Lớn hơn chút nữa, cậu đọc đi đọc lại hoài đoạn cuối của cuốn Madame Bovary đến nỗi thuộc từng đoạn dài, cậu thắc mắc mãi về chuyện anh chồng mất vợ vừa tìm ra được mấy lá thư và râu anh ta mọc tùm lum: tại sao vậy cà? có phải râu mọc vì thư tình không nhỉ? thắc mắc về cái vụ anh chồng nhìn Rodolphe cách ai oán: ai oán cái gì vậy cà? v.v… Cậu bé loay hoay mãi về những đoạn văn mình hiểu mà vẫn không hiểu, cậu mê tơi về cái hấp dẫn của cuộc sống bí ẩn, hàm hồ… Về già, Jean-Paul Sartre viết mấy nghìn trang về Gustave Flaubert. Có phải mấy nghìn trang nọ đã bắt nguồn mãi tận những ngày lẩn quẩn trong cái phòng sách thời thơ ấu?”.

Tôi nhớ hai anh trong văn giới Phạm Kim và Phạm Quốc Bảo biếu tôi hai bộ sách quý giá, gồm những tư liệu về nhà văn Võ Phiến, là Văn Học Miền Nam và Võ Phiến Tuyển Tập.

image029


Trong Võ Phiến Tuyển Tập được nhà xuất bản Người Việt ấn hành. Bộ sách dầy cộm, tiêu biểu của những góc nhìn trong văn học Việt Nam, mà Võ Phiến là một chân dung văn chương đa diện và là một ngòi bút tận tụy góp mặt hơn nửa thế kỷ văn học, một quảng đường dài, dài hơn kiếp sống của ông Tần Thủy Hoàng (秦始皇, 259 TCN – 210 TCN),  hưởng dương 49 tuổi thôi.

Trong sự góp mặt văn học đó được nhà văn cho cảm nghĩ từ góc diện của một người Việt Nam trong hoàn cảnh khá đặc biệt trong lịch sử, thời Pháp thuộc rồi thời đất nước phân ly, rồi cuộc sống ly hương tị nạn,… Trong bài viết Đọc Nguyễn Vy Khanh về Võ Phiến qua “Võ Phiến Những năm 1960” của hai tác giả Hoàng Nam và Lưu Anh Tuấn, những tác phẩm của Võ Phiến được Nguyễn Vy Khanh điểm qua như “Chữ Tình”, “Mưa Đêm Cuối Năm” đến lúc viết “Thư Nhà”, “Thương Hoài Ngàn Năm”, “Bắt Trẻ Đồng Xanh”,  “Nguyên Vẹn”, “Quê”, “Thư Gửi Bạn”, “Đêm Xuân Trăng Sáng”, “Giọt Cà Phê”, … Tôi thích khía cnh khác của Võ Phiến, ông phân biệt rõ lằn ranh Quốc Cộng, về ý thức hệ chính trị vững chắc và ông nêu tính nhân bản trong bút văn của mình.

Nhà văn Nguyễn Vy Khanh đưa ra nhận định về Võ Phiến như sau:

“Đọc Võ Phiến không dễ, vì đọc ông không phải để cho qua thì giờ. Đọc xong thường người đọc bàng hoàng, nghi ngờ, có thể ý thức mệt mỏi, lo hơn, dằn vặt hơn: những cuộc đời quê mùa, những kẻ bình thường nhưng sao phải khốn cùng, khắc khoải? Nhân vật của Võ Phiến là những con người cục mịch, quê mùa, với những cái tên gợi hình như chị Bốn Chìa Vôi, anh Bốn Thôi, Ba Càng Cua, Ấm Sứt, Hai Mỏ Gẫy, Tư Huệ Héo, gợi cảm như ông tú Từ Lâm, anh Nam Hà, Thập Tam,… Họ, nhiều người nét mặt “rầu rầu, nguội lạnh như một người ngoại cuộc”, một rầu rầu bình thản hoặc rầu rầu vì lạc loài, phải sống âm thầm nhưng tâm hồn thì sôi sục đầy khắc khoải, khát vọng thường cũng rất bình thường, có khi là một nỗi cô đơn hiu hắt, có khi là những mất quân bình đáng thương hại. Họ sống cho kỳ vọng của mẹ cha hoặc sống vì người khác.

Võ Phiến không dựng những nhân vật lạc quan hoặc có cuộc sống hạnh phúc từ đầu đến cuối. Không chiến tranh thì cũng ai đó trong gia đình dòng họ xóm làng làm rốt cuộc đời lặng lẽ. Mà cái lặng lẽ này cũng đầy nghi ngờ vì ngầm chứa những oán thù, nợ nần, truân chuyên… chỉ đợi lúc bùng vỡ. Làm người dân thường như những nông dân của Võ Phiến cũng không dễ, mà những nông dân cục mịch đó cũng ngày càng biến dạng trong văn chương Việt Nam và ở ngoài đời họ cũng đô thị hóa tại chỗ với TV, ca nhạc, vật dụng thường nhật và y phục. Nhưng tâm hồn họ? Trong tình cảnh lưu vong của nhiều người Việt hiện nay, nhất là lưu vong dứt khoát không ỡm ờ, đọc chuyện nông dân của Võ Phiến lại càng thấm thía hơn, một thấm thía trong bất lực, như một dĩ vãng đã quá tầm tay với!”.

Đếm lại tất cả tổng số tác phẩm của Võ Phiến có hơn năm chục cuốn trên  nhiều phạm vi văn học khác nhau như tùy bút, thơ, truyện ngắn, truyện dài, phê bình văn học, biên khảo, lý luận văn học. Võ Phiến Tuyển Tập là một công trình quý báu khi mang tất cả những nét đặc thù, những tinh hoa của nhà văn mà hôm nay chúng ta được tin buồn.

Với điều suy tư cá nhân của tôi, một hành trình văn chương hơn nửa thế kỷ Võ Phiến là một ngòi bút tôi mê thích từ thuở trung học rồi ra xừ ngoài, như vậy thì từ những trang sách của Võ Phiến tiêu biểu cho những bài viết tùy bút, những truyện ngắn, những bài biên khảo, tham luận, phê bình văn học cho tôi sự học hỏi, thích thú.

Trong làng văn hải ngoại còn hai đại thụ văn học khác, tuổi Quý Hợi 1923, niên kỷ 92, là Thinh Quang và Doãn Quốc Sỹ, hai cụ vẫn còn khỏe. Cầu Trời cho ý tưởng của Lotus Minh Nguyệt ở về khía cạnh tích cực vậy. Khi bạn bè văn chương chúng tôi thực hiện Sách Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ, do Văn Đàn Đồng Tâm ấn hành, tôi có xin bài của nhà văn Võ Phiến. Hôm ra mắt sách DQS có ông bà Võ Phiến đến tham dự, tôi đến chào họ. Nhà văn phục sức lịch lãm, khoác veston xám nhạt và đầu đội mũ “kết” (casquette) như mấy ông Tây tài tử cinéma Jean Gabin hay André Bourvil. Có lúc ông bông đùa hỏi: “Chừng nào anh làm sách cho tôi?”. Tôi cười hỏi lại: “Bác cho phép con mới làm được chứ!”, chúng tôi cùng cười bắt tay. Trong cái kỷ niệm cũ có đọc Võ Phiến, tôi có cảm nhận là  nói chuyện thoải mái với ông như một người đã nói chuyện ngoài đời như khi tâm sự với ông mang vẻ bên ngoài hiền lành, nhưng bên trong bộ óc ấy là những ý tưởng văn học khó tìm được một Võ Phiến thứ hai, tôi lãng đãng với tâm thức như vậy.

Trong bài viết của Nguyễn Vy Khanh, ông đề cập sự tài ba của bút pháp  Võ Phiến, là lối viết được ví là “chẻ sợi tóc làm tư làm tám”, hàm ý là văn ông trình bày những phần sâu thẳm của nội tâm con người, sự thành công khi khám phá được những góc cạnh sâu thẳm của kiếp nhân sinh của chúng ta. Tôi suy tư vì điều này không phải dễ, những trăn trở giằng co trong cuộc sống, như nhuốm triết tính khi ta đi tìm trong những điều bình thường nhưng lậi bất thường, rồi như khi tìm những điều hợp lý nhưng lại nghịch lý. Chính Võ Phiến đã thú nhận văn ông chịu ảnh hưởng tư tưởng của Marcel Proust (1871–1922), tác giả của bộ tiểu thuyết “Đi Tìm Thời Gian Đã Mất” (À La Recherche du Temps Perdu, hay In Search of Lost Time). Tiểu thuyết này được xếp vào trong số 10 cuốn tiểu thuyết được thanh niên Pháp ưa thích nhất trong thế kỷ 20. Tạp chí Time cũng bình chọn tác phẩm này nằm trong số mười cuốn sách vĩ đại nhất mọi thời đại (The 10 Greatest Books of All Time, printed on the Time magazine). Điều này cho thấy sự hiểu hiểu biết của Võ Phiến từ cánh đồng quê Qui Nhơn hay Rạch Giá bung ra tới chân trời Âu châu xa xăm kia.

Nhà văn Võ Phiến.


Nhà văn Nguyễn Quang (phu quân của nhà văn Minh Đức Hoài Trinh) có kể tôi nghe chuyện của thế kỷ trước khi
đôi uyên ương nhà văn này sở hữu một căn nhà có hoa anh đào có trúc xanh vàng trước ngỏ, được gọi là Ngỏ Trúc. Nó là nơi mà  Nguyễn Quang và Minh Đức Hoài Trinh tiếp đón bạn bè, giới tao nhân mặc khách ghé qua hàn huyên văn chương, văn học. Người em gái của nhà văn Võ Phiến là cô Diệu Ngọc (bạn thân thiết với Minh Đức Hoài Trinh) và nhà văn Võ Phiến vẫn thường ghé qua  Ngỏ Trúc. Một kỷ niệm với Võ Phiến theo nhà văn Nguyễn Quang là vào năm 2000 khi nhà văn Minh Đức Hoài Trinh là chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, bà tiến cử nhà văn Võ Phiến tranh giải văn chương Nobel Stockholm, kết quả giải năm 2000 nặng màu sắc chính trị. Tổ chức này cần sự công minh, vì người của phe ta chưa được giải văn chưong Nobel nào cả, ngoại trừ viên CSVN ác ôn đáng ghét được Nobel Stockholm ban cho nửa giải Nobel “hòa bình” dỏm vào năm 1973, chỉ báo hại dân tộc Việt Nam thêm.

Cần nói thêm người đoạt giải văn chương Nobel 2000 là nhà văn Cao Hành Kiện, (Gao Xingjian, 高行健, sinh 4 tháng 1 năm 1940), là một nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình người Trung Hoa đầu tiên và là công dân Pháp thứ 13 được trao Giải Nobel Văn học trong suốt 100 năm qua. Ông cũng còn được biết đến với tư cách là một dịch giả, đạo diễn sân khấu và họa sĩ. Cao Hành Kiện đã cổ võ, đấu tranh cho quyền từ do sáng tác cho giới văn nghệ. Chính phủ Tàu HD-981 đã coi ông là một phần tử “phản động” chống đối nhà nước Bắc Kinh và các tác phẩm của ông đã bị cấm chỉ lưu hành từ năm 1986. Ông đã từ bỏ Đảng Cộng sản Tàu HD-981 vào năm 1989 sau vụ thảm sát Thiên An Môn. Năm 1988 ông sang Pháp xin tị nạn chính trị và nhập quốc tịch Pháp từ 1998, hiện cư ngụ tại ngoại ô Paris. Tôi lẩm bẩm tại sao là Cao Hành Kiện mà không là Võ Phiến. Mấy ông giám khảo trong Ủy Ban Chấm Giải tại Nobel Stockholm thiên vị biến cố Thiên An Môn, lại mang nhãn hiệu “Littérature française et savants parisiens”, là lá bùa đoạt giải Nobel. Đả đảo Nobel Stockholm, Bravo Võ Phiến!

Nào, bây giờ thử bàn về tác phẩm khác liên quan đến Võ Phiến, ôm bộ sách Văn Học Miền Nam (Tổng Quan) sẽ mỏi tay, gồm 7 tập, một công trình sưu khảo công phu của Võ Phiến. Văn Học Miền Nam: Tổng Quan gồm có ba phần chính, không kể 2 phần Lời nói đầu dẫn nhập và phần Kết luận, tuần tự như sau:

Phần 1: Khái quát như trong phần mà tác giả khảo lược một số vấn đề chính trong sinh hoạt văn học miền Nam như: nhà văn, độc giả, và xuất bản; sau đó, ông lần lượt trình bày các giai đoạn chính và phân tích những đặc điểm nổi bật nhất; cuối cùng, đối chiếu sơ lược văn học miền Nam với văn học miền Bắc và văn học tiền chiến.

Phần 2: Các giai đoạn mà tác giả đào sâu vào các đặc điểm nổi bật trong từng giai đoạn: 1954-63 và 1964-75.

Phần 3: Các bộ môn văn học mà tác giả phân tích năm bộ môn chính là tiểu thuyết, tuỳ bút, thi ca, kịch và ký. Đối với mỗi bộ môn ông duyệt qua bằng cách phân tích chi tiết của sự kiện hầu độc giả thấu rõ quan điểm ông trình bày.

Trong lãnh vực nghiên cứu văn học ở hải ngoại từ sau năm 1975, bộ Văn Học Miền Nam mang tính tham khảo đối với những ai cần đến nó như sự góp nhặt các sự kiện văn học. Mặc dù chính nó cũng tạo ra nhiều tranh cãi sôi nổi, dù là bất đồng hay đồng thuận. Cái giá trị không chối cãi là nó không những giúp người đọc nhận diện một khía cạnh khác thường trong tài năng văn chương của Võ Phiến mà còn cung cấp cho người đọc một khối tài liệu dồi dào, thật đồ sộ và đáng tin cậy về một nền văn học ngỡ đã bị quên lãng. Do vậy diễn trình văn học Miền Nam từ năm 1954 đến 1975 mang ý nghĩa như thế thì bộ sách Văn Học Miền Nam của nhà văn Võ Phiến là một tác phẩm giá trị, vì tác phảm này đã được đón nhận nồng nhiệt. Bộ sách đã được tái bản nhiều lần.

Đã có nhiều nhà văn viết về nhận định tác phẩm của Võ Phiến, và sau đây là phần trích dẫn trong bài viết Thế Giới Nhân Vật của Võ Phiến. Đây là bài phê bình văn học tỉ mỉ của nhà văn Thụy Khuê, Paris:

“Nghệ thuật của Võ Phiến bộc lộ trong những không gian nhỏ, khép kín, từ truyện ngắn đến truyện dài. Có thể nói, bốn tác phẩm Giã từ, Lại thư nhà, Một mình, và Đàn ông, đã tạo nên sườn chính của tư tưởng và nghệ thuật Võ Phiến. Mỗi tác phẩm mang một sắc thái, nhưng đều đạt đến đỉnh cao nghệ thuật, một nghệ thuật tỉ mỉ, sâu sắc. Ngòi bút ông xoáy sâu vào những cử chỉ nhỏ nhặt, vô nghĩa nhất để vẽ nên toàn bộ con người. Thế giới nhân vật của ông được hình thành qua những chân dung rõ nét, cá tính bộc lộ sâu sắc, luôn luôn bị dày vò trong ám ảnh nhục dục. Về mặt tư tưởng, Võ Phiến đi sâu hơn nữa về phía vô thần và duy vật. Về cách thể hiện, ông chuyển từ lối viết truyền thống, sang lối viết hiện đại hơn, tức là ông không còn đứng ở vị trí bên ngoài của người kể chuyện mà dần dần ông thâm nhập vào trong da thịt nhân vật để mô tả. Giã từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên, một truyện vừa, khoảng 80 trang, là sự bắc cầu giữa hai lối viết truyền thống và hiện đại. Lại thư nhà, hơn 60 trang, là tác phẩm chủ yếu, cô đọng không gian Võ Phiến, đưa chúng ta vào thế giới những nhân vật của ông. Đàn ông, chiếu vào những nhân vật ấy, nói đúng hơn là những người đàn ông ấy, qua con mắt của Chị Lê, người đàn bà làm điếm, nhìn khách hàng của mình dưới những khía cạnh trần trụi nhất. Chị Lê tìm ra “cái chung” của đàn ông: trong bất cứ hoàn cảnh nào, vẫn là nhục dục, chỉ là nhục dục, là cõi mà họ tự do nhất, cõi mà họ sống thật nhất với chính mình. Một mình phân tâm nỗi cô đơn bệnh hoạn của con người khi chỉ còn có mình đối diện với chính mình.

Võ Phiến dùng những nhận xét tế vi, lấy chi tiết làm nên đại sự, để thăm dò lòng người dưới nhiều hình thức: Bằng phân tâm của Freud chiếu vào nội tâm u uẩn, ẩn ức tính dục của nhân vật. Bằng biện pháp hoán dụ, ông chiếu rọi vào một phần của cơ thể, để nói lên ẩn ức dục tính toàn diện của con người, những người sống ngoài lề xã hội, từ người tù đến gái điếm, từ già đến trẻ. Nhờ ảnh hưởng triết học hiện sinh, con người nhìn lại chính mình, không ai thoát khỏi sự cô đơn. Với những chi tiết chằng chịt, Võ Phiến dệt nên cấu trúc nội tâm phức tạp và bi đát của con người. Lại thư nhà tiêu biểu cho cấu trúc toàn bộ tiểu thuyết của Võ Phiến. Không hiểu sao ông lại xếp Lại thư nhà vào loại tùy bút. Thực ra, đây là một truyện vừa và cũng là tác phẩm nền móng, xây dựng nên vũ trụ tiểu thuyết của ông, với nhân vật Bốn Thôi. Lại thư nhà tạo ra không khí và bối cảnh Võ Phiến, thế giới của những kẻ ở ngoài lề. Bốn Thôi tuy ở trong xứ, nhưng đã bị cách ly với người khác, với thế giới chung quanh. Bốn Thôi là kẻ ly hương trong thân phận mình, là đại diện sâu xa nhất cho những kẻ sau này phải bỏ nguồn cội đi tha phương cầu thực…”

Sau cùng, những ý tưởng riêng tư về khía cạnh tình yêu nậng nghĩa phu thê sâu đậm của nhà văn Võ Phiến, người viết bài xin trích dẫn một điểm đặc sắc mang tính nhân bản mà qua nét bút của nhà văn Túy Hồng viết về một nhà văn bạn trong nhóm Bách Khoa, nhà văn Võ Phiến vừa ra đi. Bài viết có đề cập đến Lê Tất Điều, Mai Thảo, Thanh Nam,… và dĩ nhiên có Võ Phiến, bà kết luận một nhận xét quý giá về cố nhà văn này, một đại thụ văn học miền Nam hay của nước VNCH của chúng ta như sau: “Tôi chưa thấy một người đàn ông nào thương vợ nhiều như thế, yêu vợ kỹ như thế. Vợ anh, vợ anh… cái miệng cứ tía lia vợ anh vợ anh, làm như người ta sắp giựt mất. Bà Võ Phiến tên cúng cơm là Viễn Phố.”

Từ tên vợ, ông đặt bút hiệu cho văn chương mình qua cách nói lái trại đi tí ti. Bravo hai bác Võ Phiến và Viễn Phố. Ôi, thật quý hóa. Ngày tiễn đưa nhạc sĩ Nguyễn Hiền tôi cung kính vị nhạc sĩ lão thành này với ý niệm trân quý về người phối ngẫu của ông. Và giờ đây là nhà văn Võ Phiến, hay bác Võ Phiến.

Cầu chúc bác Võ Phiến về cõi trên được bình an vĩnh cửu.

Trần Việt Hải

VietHai-PhotoIndex-1


Nhà văn Võ Phiến qua đời, thọ 90 tuổi.


tr-phan-uu1


***


People (4)
TRAN VIET HAI
 

Bộ ảnh 74 tấm về tiểu sử, trường và ngôi mộ Petrus Ky.


TRẦN QUANG HẢI : TIỂU SỬ GSTS TRẦN VĂN KHÊ


 

Trần Văn Khê

 

Vietsciences-Trần Quang Hải                      16/08/2004

 

Cái khó nhứt của tôi là viết về cha tôi , một người rất nổi tiếng trong giới nghiên cứu nhạc Việt Nam và Á châu. Nếu viết khen nhiều hơn chê thì thiên hạ sẽ cho là thiên vị, là người trong nhà khen lẫn nhau. Dù ai có muốn nói gì, nghĩ gì, đối với tôi không quan trọng.
Tôi viết về cha tôi cũng như tôi đã viết về nhiều nhạc sĩ, ca sĩ khác. Tôi chỉ ghi những gì tôi biết về cha tôi với một cái nhìn khách quan tối đa. Nhân dịp Lễ Các Người Cha (Father’s Day), tôi ghi lại một số hình ảnh của một người cha, một người thầy và một nhà nghiên cứu âm nhạc đã mang lại cho nền âm nhạc Việt Nam những hào quang rực rỡ chói sáng trên thế giới mà chưa có ai có thể làm được cho tới ngày hôm naỵ

I. Thời thơ ấu


Đêm rằm tháng 6 âm lịch năm Tân Dậu (1921), chú bé Trần Văn Khê chào đời trong một gia đình bốn đời nhạc sĩ.

Cụ cố Trần Quang Thọ trước kia là nhạc công Triều đình Huế. Ông nội là Trần Quang Diệm, tục danh là Ông Năm Diệm, biết đàn kìm, đàn tranh nhưng chuyên đàn tỳ bà theo phong cách Thần kịnh Cha là Trần Quang Triều, mà giới tài tử trong Nam thường gọi là Ông Bảy Triều biết đờn nhiều cây, mà đặc biệt nhứt là đờn độc huyền (đàn bầu), và đờn kìm (đàn nguyệt). Với đờn độc huyền, Ông Bảy Triều đã bắt chước tiếng đào thán, tiếng ca nỉ non, nũng nịu của một người con gái, và ông đã chế ra cách lên dây đờn kìm mà ông gọi là “dây Tố Lan, thuộc hò nhì, lấy ch xự làm hò mà dây Tồn cao bằng giọng hò trầm, thường dùng để đờn Văn Thiên
Tường và Tứ đại oán, mà giới tài tử trong Nam đều biết và còn sử dụng. Người cô thứ ba Bà Trần Ngọc Viện, tục gọi là Cô Ba Viện, trước dạy nữ công tại trường Áo Tím, năm 1926 vì để tang Cụ Phan Châu Trinh nên bị sa thải , về Vĩnh Kim lập gánh hát đồng Nữ Ban, toàn diễn viên con gái, con nông dân vùng Vĩnh Kim, đông Hoà, Long Hưng, đàn tranh rất hay và đã truyền ngón cho Trần Văn Khê trong những bài Nam Xuân, Nam Ai.

Cụ cố ngoại là Nguyễn Tri Phương, đã làm đến chức Khâm sai Kinh Lược Nam Kỳ, tuyệt thực tử tiết khi Pháp chiếm thành Hà Nội lúc Cụ đang gi chức Tuyên sát đồng sức đại thần miền Bắc. Ngoại tổ là Nguyễn Tri Túc, lúc sinh thời đã nuôi rất nhiều nhạc sĩ danh tiếng vùng
Cần đước, Vĩnh Kim để cho hai người con là Nguyễn Tri Lạc và Nguyễn Tri Khương học các thứ đờn. Ông Nguyễn Tri Khương, cậu thứ năm của Trần Văn Khê mà cũng là thầy dạy Trần Văn Khê đánh trống nhạc lễ và trống hát bội, đã sáng tác nhiều bản nhạc theo truyền thống
như “Yến tước tranh ngôn, “Phong xuy trịch liễu” mà Trần Văn Khê đã ghi âm vào dĩa hát CD OCORA số C 56005. Mẹ là Nguyễn Thị Dành không được Cha cho học nhạc, nhưng thường thích nghe hoà nhạc trong gia đình.

Trần Văn Khê chẳng những được may mắn sanh trong một gia đình mà hai bên nội ngoại đều là nhạc sĩ , mà lại được “thai giaó” một cách rất đặc biệt. Nhà phía bên nội ở gần lò heo, nên người cậu thứ năm ông Nguyễn Tri Khương đã xin phép nội tổ được đem mẹ Trần Văn Khê về dưỡng thai trong miếng vườn riêng có trồng nhiều thứ hoa đẹp lại xa lò heo, không nghe tiếng heo kêu la khi bị thọc huyết. Mỗi ngày ông lại thổi sáo và đàn tranh cho người em gái là thân mẫu Trần Văn Khê nghe mỗi sáng, trưa, chiều. Mắt không xem hát bội, không xem đá gà, chỉ thường đọc những sách như “Nhị Thập Tứ Hiếu”, “Gia Huấn Cạ” Sau khi chào đời, mỗi ngày Trần Văn Khê vẫn tiếp tục được nghe đàn sáo của cậu Năm Nguyễn Tri Khương, và cậu Mười Nguyễn Tri Ân cũng là người thổi ống tiêu rất hay.

Sau khi cúng thôi nôi, được ông nội rước về ở gần Ông và hàng ngày nghe ông đờn tỳ bà, cha đờn độc huyền, cô đờn tranh, chú bé đã sống trong một không khí đầy nhạc. Khách tới, ông nội đờn bài Lưu Thuỷ, để cho chú bé Trần Văn Khê nhảy cà tưng trong tay người cô hay người khách, cho thấy chú bé biết theo nhịp , hễ ông đờn mau, thì nhảy mau, ông đờn chậm thì nhảy chậm.

Sáu tuổi đã biết đờn kìm (đàn nguyệt) , đờn mấy bản dễ như “Lưu Thuỷ”, “Bình Bán văn, “Kim Tiền, “Long Hổ Hội”. Bảy tuổi đã tập cho các chị diễn viên gánh đồng Nữ Ban của cô Ba Viện hát bài “La Madelon để chưng màn đầu cải lương. Tám tuổi biết đờn cò. Mười hai tuổi biết đờn tranh và đánh trống nhạc, biết cùng với người anh họ, anh Ba Thuận, con của cậu Năm Khương chơi trò làm chai, xô giàng, khai xá, đề phang.

Nhưng Trần Văn Khê lại bị mồ côi rất sớm. Ba tuổi ông ngoại qua đời. Năm tuổi đến phiên ông nội. Mẹ mất năm 9 tuổi, và năm sau 10 tuổi cha từ trần. Cô Ba Viện nuôi ba anh em Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch và Trần Ngọc Sương đến ngày khôn lớn. Tuy mới lên 10 tuổi, mà cô ba đã lo việc đào tạo con người cho cháu. Trước hết phải biết đi xe đạp, phải đạp đi lần từ nhà ra ngả ba chim chim, rồi đi đến Xoài hột, rồi tới Mỹ Tho cách nhà 14 cây số. Phải biết lội. Hàng ngày cô nhờ mấy anh em bà con tập cho lội lần đến lúc bỏ bập dừa lội sang sông, cô mới cho tắm sông. Rồi cho học võ Thiếu Lâm với anh Ba Thuận, với mấy thày dạy võ trong vùng. Cho học để tự vệ, để khỏi sợ ma, mà không cho đi đấu. Cô lại mua cho một cây đờn kìm nhỏ vừa tay như bên Châu Âu con nít phải đờn violon 2/4 để khỏi hư ngón. Lúc nào đờn chơi, cô cũng nghe và vừa sai là sửa liền.


II. Thời kỳ học tập


Sơ học

10 tuổi đậu Tiểu học. Sang Tam Bình Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. đến Tam Bình , Trần Văn Khê được học chữ Hán trong ba năm với Nhà thơ và nhà nho Thượng Tân Thị và trong kỳ Sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu Sơ Học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có
Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán.

Trung học

Vào trường trung học Trương Vĩnh Ký năm 1934, được cấp học bổng. Năm nào cũng đứng đầu lớp, và năm thứ tư học Pháp văn với ông Champion, được chấm đậu kỳ thi tuyển một học sinh xuất sắc nhứt trong năm đệ tứ để được du lịch trên chiếc xe lửa xuyên Việt năm 1938
từ Saigon đến Hà nội, ghé qua Phan Thiết, Tourane (Ðà Nẵng), Nha Trang, Huế. Thêm một cái may trong đời học sinh là được học Việt văn và Hán văn với Giáo sư Phạm Thiều.

Đậu tú tài phần nhứt năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, và nhờ vậy được Giải thưởng đặc biệt của đô đốc Decoux, để đi viếng cả nước Cao Miên (Kampuchea) xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng đế Thiên đế Thích và trên đường về Việt Nam, ghé Hà Tiện Nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu, được nhà thơ Ðông Hồ tiếp đãi trong một tuần, dẫn đi xem thập cảnh mỗi nơi được nghe một bài thơ hay do thi sĩ Ðông Hồ đọc để vịnh cảnh đẹp.

Trong lúc học tại trường trung học Trương Vĩnh Ký, đã cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong Câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của Hội SAMIPIC (đức Trí Thể Dục Nam Kỳ). Trần Văn Khê chỉ huy hai dàn nhạc đó, vừa phối khí dàn nhạc dân tộc có chen đàn Tây như mandoline, ghi-ta (guitar), vừa diễn trong khuôn khổ dàn nhạc Scola Club, những bài hát Tây loại “Les Gars de la Marine”, “Sunset in
Vienna”, làm trưởng ban tổ chức lễ Ông Táo trước ngày lễ nghỉ vào dịp Tết Ta, Tổng thư ký hội Thể Thao, và gi tủ sách của trường trong ba năm Tú Tài.

Được học bổng của chánh phủ thuộc địa, lại được bổng đặc biệt của hội SAMIPIC , Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa.

Đại Học

Tại đại Học Hà Nội, cùng với các bạn Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng Hội Sinh Viên mà Chủ tịch là Dương Ðức Hiền và sau này là Phạm Biểu Tâm.

Trần Văn Khê đứng trong ban tổ chức đêm hát trường đại học hằng năm, không được học nhạc Tây phương bao giờ, chỉ học dương cầm (piano) vài giờ với Bình Minh , con gái của đốc Công đức, sau tự học piano, mà dám phê bình các nhạc sĩ trong dàn nhạc trường đại học, mà phê bình đúng, nên được các nhạc sĩ cử làm chỉ huy dàn nhạc trường đại học. Trần Văn Khê thừa dịp đó để có thể , ngoài những bản thông thường của nhạc Tây phương như “La Veuve Joyeuse”, “Marche Turque”, “Monument Musical”,v.v. giới thiệu những bài hát thanh niên và lịch sử của Lưu Hữu Phước.

Trần Văn Khê và Lưu Hữu Phước tập cho học sinh trường Thành Nhân hát bài hát “Thiếu Sinh”, các cô trường đồng Khánh hát bài “Thiếu Nữ Việt Nam”, sinh viên đại Học Hà Nội hát bài “La Marche des Etudiants”, và đầu năm 1943, dựng ca nhạc kịch “Tục Luỵ” (Thơ của Thế Lữ, nhạc phổ Lưu Hữu Phước) với nữ sinh trường đồng Khánh Hà Nội, hè 1943, dựng ca kịch “Tục Luỵ” với nữ sinh trường áo tím nữ học đường (sau đổi thành trường Gia Long cho tới năm 1975 đổi thành trường Nguyễn Thị Minh Khai).

Trần Văn Khê tham gia phong trào “Truyền bá quốc ngữ trong ban của Bà Hoàng Xuân Hãn, “Truyền bá vệ sinh” của các sinh viên trường Thuốc, và cùng các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng tổ chức những chuyến “đi Hội đền Hùng”, và đi viếng sông Bạch đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà.


III Lập Gia đình và Hoạt động Xã hội


Năm 1943 , Trần Văn Khê lập gia đình với Nguyễn Thị Sương, người bạn gái học cùng lớp Triết ở trường Pétrus Ký. Bà Sương là một trong bốn nữ sinh học ban Tú Tài của trường con trai Pétrus Ký vì lúc đó trường Áo Tím không có lớp trình độ trung học nhị cấp như bây giờ. Nguyễn Thị Sương rất giỏi về triết lý, bài viết đã từng được trên đài phát thanh. Lúc đó còn đang học trường thuốc, Trần Văn Khê nghe lời người cô Trần Ngọc Viện, người đã lo cho ăn học từ nhỏ tới lớn, để lập gia đình, với hy vọng có con trai nối dòng họ Trần. Trong gia đình họ Trần, thân phụ Trần Văn Khê đã qua đời sớm , để lại hai trai là Trần Văn Khê và Trần Văn Trạch (từ trần năm 1994 tại Paris, Pháp). Nếu không may hai cậu trai ấy qua đời mà chưa có con trai nối dòng thì dòng họ Trần sẽ tuyệt. Nghe theo lời của cô, Trần Văn Khê chịu lập gia đình. Trần Văn Khê yêu cô Nguyễn Thị Sương, bạn học cùng lớp Tú tài ở trường Pétrus Ký, người con gái thuỳ mị, dễ thương, học giỏi nhứt bên phía nữ, con gái đầu lòng của ông Hanh (Nguyễn Văn Hanh), giáo viên tại Saigon và sau đó làm đốc học tại Thủ Đức. Vào mùa hè năm 1943, sau mấy năm đeo đuổi hình bóng người con gái miền Nam kiều diễm, hiền hoà,
Trần Văn Khê đã cùng Nguyễn Thị Sương sánh duyên, mang lại cho dòng họ Trần 4 đứa con: hai trai (Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở Saigon) và hai gái (Trần Thị Thuỷ Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thuỷ Ngọc, nữ nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris). Sự hy sinh cao cả của người vợ hiền suốt thời gian tranh đấu cho đất nước đã giúp cho Trần Văn Khê làm tròn sứ mạng của một thanh niên yêu nước có đủ thì giờ tranh đấụ Từ 1949 khi Trần Văn Khê lên đường sang Pháp để lại quê nhà một vợ, 3 con thơ dại và một đứa con còn nằm trong bụng mẹ , người vợ đã trở thành cô giáo dạy Pháp văn vaÀnh văn để nuôi và dạy dỗ 4 con cho tới ngày trưởng thành. Sự hy sinh đó đã được đền bù xứng đáng là các con ngày nay đều thành danh, mang lại cho đất nước những tiếng thơm tốt đẹp qua những thành quả gặt hái khắp năm châu bốn biển của con trai đầu lòng Trần Quang Hải.

Mùa thu năm 1943, sau khi thi đậu đầu từ năm thứ nhứt đến năm thứ nhì trường Thuốc, đã bắt đầu chuẩn bị thi ngoại trú (Externe des Hơpitaux) thì nhiều sự kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học để trở về Nam.
Thứ nhứt là tại vấn đề sức khoẻ: bị rét rừng rất nă.ng. Trần văn Khê không có vi trùng lao trong cơ thể thử theo cách tiêm dưới da (intra dermo) cũng không thấy có vi trùng, thì khi học đến những bịnh truyền nhiễm , thì không đủ sức để kháng cự

Thứ hai là lúc đó có phong trào “Xếp bút nghiên.” Lưu Hữu Phước đặt nhạc và Huỳnh Văn Tiểng viết lời bản nhạc “Xếp bút nghiên đã được các sinh viên thời đó hát hăng say.

Lúc quê hương cần người
Dứt là tơ vương
Giã trường lên yên…

Nhiều bạn trong đó có Lưu Hữu Phước và Huỳnh Văn Tiểng đã rời nhà trường, không phải lên yên ngựa mà lên xe đạp đi về Nam bằng xe đạp. Trần Văn Khê lúc đó đau rét rừng mới hết, còn yếu, nên về Nam bằng xe lửa.
Lý do thứ ba là lúc ấy bắt đầu có nạn đói tại miền Bắc. Trần Văn Khê và Lưu Hữu Phước định về Nam để lập một gánh hát sinh viên đi các tỉnh vừa giới thiệu bài hát thanh niên, lịch sử của Lưu Hữu Phước, vừa góp tiền mua gạo gởi ra cứu đói ngoài Bắc. Và gánh hát không chuyên nghiệp và lưu động của sinh viên đã đi trong mấy tháng tại các tỉnh miền đông và miền Tây để hát.

Về Nam, cùng với các bạn sinh viên , Trần Văn Khê tham gia tổ chức “Đêm Lam Sơn” tại Saigon, để ủng hộ học sinh trại “Suối Lồ Ồ”. Rồi tham gia phong trào “Thanh Niên Tiền Phong” đầu năm 1944, Trần Văn Khê dạy học tại hai trường tư lớn nhứt tại Saigon: trường Lê Bá Cang và trường Nguyễn Văn Khuê.

Ngày 13 tháng 5 dương lịch, năm 1944, Trần Quang Hải , con trai đầu lòng của Trần Văn Khê ra đời tại nhà bảo sanh Thủ Đức. Lưu Hữu Phước đã viết một ca khúc “Trần Quang Hải bao nỗi mừng” để chào mừng con trai đầu tiên của người bạn chí thân của mình. Đứa cháu trai nối dòng họ Trần.

Các trường tản cư xuống tỉnh. Trường Pétrus Ký do Giáo sư đặng Minh Trứ làm Giám đốc, được chuyển về Bến Tre. Trần Văn Khê trong khi chuẩn bị dạy trường ấy, dạy học trường tư thục của bác sĩ Nguyễn Văn Còn.

Lúc ấy, ngoài việc dạy học, còn tham gia Ban tuyên truyền của tỉnh Bến Tre cùng với Đặng Ngọc Tốt, đi các nơi trong tỉnh Bến Tre, Sa đéc. Anh Đặng Ngọc Tốt diễn thuyết, Trần Văn Khê hát các bài nhạc của Lưu Hữu Phước để nhắc lại những trang lịch sử oai hùng của dân tộc Việt Nam.

Sau ngày 9 tháng 3, năm 1945, Nhựt đảo chánh, Trần Văn Khê cùng các bạn sinh viên đại Học Hà nội, ủng hộ  “Chánh phủ cách mạng lâm thời ” và thành lập nhóm “Hoàng Mai Lưu” (Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ và Lưu Hữu Phước). Lúc đó Trần Văn Khê bắt đầu quen biết Phạm Duy, và giới thiệu Phạm Duy cho Lưu Hữu Phước.


IV- Tham Gia Kháng Chiến

Từ tháng 8, năm 1945, Ông Phạm Văn Bạch lúc ấy làm chánh chủ tỉnh Bến Tre đã ký giấy cho Trần Văn Khê lên chợ Thiên Hộ gặp Huỳnh Văn Tiểng, lúc đó làm Phó Chủ tịch uỷ ban kháng chiến Nam bộ. Trần Văn Khê được Huỳnh Văn Tiểng ký tên bổ nhậm làm “Nhạc trưởng quân đội Nam bộ” với cấp đại đội trưởng trong Cộng hoà vệ binh.

Trước khi vào khu kháng chiến , Trần Văn Khê đưa gia đình về Vĩnh Long. Tại đó gặp Phạm Duy, lúc đó Phạm Duy theo gánh hát cải lương “Đức Huy  Charles Miều” đêm đêm hát tân nhạc giữa hai màn cải lương. Mỗi đêm sau khi vãn hát, Trần Văn Khê và Phạm Duy gặp nhau nói chuyện về nhạc mới.

Lưu Hữu Phước đã cùng Trần Văn Khê đặt các điệu kèn cho quân đội để thay thế các giọng kèn Tây thổi lúc sáng thức dậy, lúc chào cờ, lúc đi ngủ , v.v. Lưu Hữu Phước tình nguyện đi làm thuốc súng và lựu đạn với Nguyễn Mỹ Ca tại Hoả Lựu (Rạch Giá). Trần Văn Khê đi kháng chiến, mà hiếu hoà, không ưng cầm súng, nên đi khắp nơi thay đổi các điệu kèn quân đội, tổ chức đoàn quân nhạc gồm các nhạc sĩ công giáo làng Lương Hoà. đi khắp vùng đồng Tháp, Chợ Thiên Hộ , đi đến Hậu giang, các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, đi đến Cà Mau, Năm Căn, Cái Nước vừa giúp ban tuyên truyền Nam bộ trong việc huy động toàn dân kháng chiến, vừa thâu tiền lẻ để giúp nhà thương quân y, như nhà thương ở Lẫm Biện Tú, vùng Cái Nước do bác sĩ Nguyễn Tú Vinh cai quản. Uỷ lạo chiến sĩ ngay mặt trận, đàn và hát cho thương binh nghe những điệu hát câu hò dân gian, và nhứt là những bài nhạc của Lưu Hữu Phước.

Tháng 3, năm 1946, đứa con trai thứ nhì Trần Quang Minh ra đời. Như vậy là Trần Văn Khê đã làm cho cô ba Viện an lòng nơi chín suối. Gia đình họ Trần đã có con trai nối dòng rồi! Và lúc ấy cả gia đình của Trần Văn Khê đều tản cư đến Cái Nước.

Cuối năm 1946,Trần Văn Khê trở về thành để tham gia với nhóm “kháng chiến tại thành” do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, sau Mai Văn Bộ chỉ huy, bằng cách viết báo cho nhóm Thống Nhứt, liên lạc với các giới nghệ sĩ cải lương Lúc ấy Trần Văn Khê vừa viết cho báo Thần Chung, Việt Báo, tạp chí Sông Hương, tạp chí Mai, vừa dạy Anh Văn tại hai trường Huỳnh Cẩm Chương, Ngô Quang Vinh, và mở lớp dạy tư Anh văn tại nhà. Được phái cho phận sự phê bình âm nhạc và sân khấu , Trần Văn Khê lúc ấy gặp gỡ rất thường càc đào kép cải lương như Tư Chơi, Năm Châu, Bảy Nhiêu, Duy Lân, và hằng tháng gặp các anh có cả anh Tư Trang để bàn về sự phát triển của cải lương.

Năm 1948, các tổ kháng chiến tại thành bị lộ, Trần Văn Khê bị bắt và giam tại khám Catinat cùng một lúc với các giáo sư tư thục Nguyễn Văn Hiếu (sau này là Bộ trưởng Văn Hoá, Trần Thọ Phước (sau này là Giám đốc Air Vietnam ở đông Nam Á ). Năm ấy vào mùa thu, con gái đầu của Trần Văn Khê chào đời.


V. Những năm đầu tiên trên đất Pháp

Năm 1949, vì bị lộ nên Trần Văn Khê, sau khi bàn với các bạn, rời nước Việt Nam sang Pháp, vừa “lánh nạn”, vừa du học.

Tới Pháp với hai bàn tay trắng, một bộ đồ vải tropical, và bản hợp đồng với các báo kể phía trên để làm “phóng viên” Trần Văn Khê lúc ấy thành ký giả chuyên nghiệp, có được thẻ nhà báo chuyên nghiệp do sở Thông tin Pháp cấp cho.

Vừa tới Pháp tháng 5, thì tháng 8 cùng đi với học sinh Việt Nam tham dự Liên hoan thanh niên tại Budapest (HungGia Lợi). Cùng với anh Nguyễn Ngọc Hà (hiện giờ chức Phó trưởng ban Việt kiều trung ương), tổ chức chương trình văn nghệ giới thiệu nước Việt Nam đang tranh đấu dành tự do. Trần Văn Khê dự thi nhạc cụ dân tộc, với hai cây đàn cò và đàn tranh, được Giải nhì , sau Liên Xô , đồng hạng với Mông Cổ, trước Hung Gia lợi và Bảo Gia lợi. đồng thời Trần Văn Khê được anh đại diện Kháng chiến Việt Nam từ chiến khu sang Miến điện để đi Bupadest, tặng “Lá cờ thi đua” vì đã giới thiệu có hiệu quả nhứt trong đoàn, tinh thần kháng chiến anh dũng của dân tộc Việt Nam cho thanh niên nhiều nước biết.
Sau chuyến đi Budapest, Trần Văn Khê mất học bổng sắp được để học Khoa báo chí tại đại học Michigan, và không được thẻ tạm trú tại Pháp, mỗi ba tháng phải lên sở cảnh sát Paris trình diện.
Tự làm việc để sinh sống, từ năm 1949 tới 1951 đọc các báo Pháp để viết tiết mục “điểm báo”, làm phóng viên về các sinh hoạt Việt kiều, và viết du ký, phóng sự, và cắt gởi về toà soạn những bài báo xã thuyết về chánh trị quốc tế, và chánh trị liên hệ đến Việt Nam. Nhân làm báo, mới thi vào trường chánh trị nổi tiếng là “Sciences Po” Paris thử chơi. được đậu vào năm thứ nhì của trường, Trần Văn Khê học hai năm trong môn Giao dịch quốc tế, và học thêm Anh văn tại đại học văn khoa Paris.

Tiền học nhờ báo bên nhà hàng tháng chuyển ngân. Nhưng báo thường bị đóng cửa. Trần Văn Khê phải đi đờn mỗi tối thứ năm, và tối chủ nhựt tại hiệu cơm “La Paillote” của bà Từ Bá Hoà để được một bữa cơm ngon và chút ít tiền túi. Trong năm sau, mỗi cuối tuần, giới thiệu đờn cò, đờn tranh tại nhà hàng “Bồng Lai” của ông Bùi Văn Tuyền, tại vùng Champs Elysées. Ghi âm cho hãng dĩa hát ORIA, hơn 30 bài nhạc mới của Lưu Hữu Phước, Phạm Duy, Võ đức Thu, Nguyễn Hữu Ba, Lê Thương, Hùng Lân, với bí danh là Hải Minh (tên của hai đứa con trai ghép lại ).

Ngày 10 tháng giêng năm 1950, con gái út của Trần Văn Khê ra đời. Trần thị Thuỷ Ngọc sanh tại tỉnh Vĩnh Lọng Lúc ấy Trần Văn Khê đã ở Pháp hoạt động văn nghệ cho Hội Ái Hữu Việt Kiều do GS Phạm Huy Thông làm hội trưởng, chơi thân với nhà viết báo Khuông Việt, nhà thơ Nguyễn Văn Cổn, Lê Văn Sáu, lúc ấy là sinh viên trường Chánh trị và đại học văn khoa (cựu giáo sư đại học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh). Trần Văn Khê khi rời Việt Nam đi sang Pháp thì vợ mới cấn thai có 10 ngàỵ đứa con gái út mở mắt chào đời không thấy mặt
cha và cũng không biết cha cho tới năm 1969 mới được sang Pháp để nhìn thấy mặt cha lần đầu.

Mùa hè năm 1950, Trần Văn Khê sang La Haye, Hoà Lan học về luật quốc tế, một khoá với Lê Thành Khôi (từng làm giáo sư đại học Paris, người viết quyển Histoire du Vietnam được nổi tiếng)

Hè năm 1951, thi đậu ra trường Chánh trị Khoa giao dịch quốc tế. Nhờ đậu hạng 5, nên được tuyển vào ngạch thư ký quốc tế cho Liên Hiệp Quốc, năm ấy họp đại hội tại Paris.

Trong khi chờ đợi nhậm chức vào mùa thu 1951, thì tháng 8, hai tháng sau khi đậu bằng Chánh trị, bị đưa vào nhà thương Cochin, bị giải phẩu gấp và từ đó đến tháng 10 năm 1954, phải bị sống “bên lề cuộc đời”, đi từ bịnh viện này, đến trung tâm dưng bịnh nọ , bị giải phẩu 4 lần, và đã phải uống, và bị tiêm bao nhiêu thứ thuốc có thể chữa bịnh này gây bịnh khác. Ba năm hai tháng, mới được trở về cuộc sống bình thường. Nhưng cũng nhờ bị “nhốt” trong nhà thương mà Trần Văn Khê có cơ hội, có thì giờ đọc bao nhiêu sách tại thư viện Paris. Ghi tên soạn luận án Tiến sĩ đại học Paris năm 1952, Trần Văn Khê được các uỷ viên văn hoá (délégué culturel) của các nhà thương dành cho sinh viên như Centre de Cure Universitaire tại Arie sur l’Adour, Postcure Universitaire tại vùng Sceaux, ngoại ô Paris, lo việc mượn, và trả sách.

Từ năm 1954, ra khỏi nhà thương, cho đến 1958, theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án Tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone, và André Schaeffner.

Ngoài ra Trần Văn Khê làm nhiều công việc để mưu sống . đáng kể nhứt là bốn việc sau đây:

1. Thực hiện 52 buổi nói chuyện bằng tiếng Việt cho đài BBC Luân đôn với các đề tài âm nhạc kịch nghệ và chuyện cổ tích Việt Nam

2. Ðóng phim cho hãng “Arthur Rank Corporation” bên Anh. Phim tên là “A Town Like Alice” (Một thành phố giống như Alice Springs, một thành phố giữa sa mạc bên châu Úc). Phim dựa theo tiểu thuyết của Nevil Shute, Pháp dịch tên phim là “Ma vie commence en Malaisie” (Đời tôi bắt đầu từ Mã Lai ). Ðóng vai đại uý Nhựt Sugaya, cai quản trại tù binh Anh và Úc. Đóng chung với Peter Finch và Virginia Mac Kenna. Phim được lựa chiếu tại Liên hoan phim Cannes năm 1957.

3. Trong phim Pháp “La Rivière des Trois Joncques” (Ba chiếc thuyền trên con rạch) , phim gián điệp. Trần Văn Khê đóng hai vai: vai chánh cảnh sát trưởng Việt Nam trong cơ quan phản gián điệp, vai phụ: ông già Tàu bán đồ cổ. Đóng với Jean Gaven và Dominiques Wilms.

4. Lồng tiếng phim “Gengis Khan” trong vai Thừa tướng Kao Lịnh Vai do tài tử Mỹ James Mason đóng. Tiếng Pháp do Trần Văn Khê nói.

Còn lồng tiếng cho phim “Tarzan nổi giận” trong vai Rokov do dược sĩ Nguyễn Trọng Thu, người tiền phong trong việc lồng tiếng phim ngoại quốc ra tiếng Việt chủ trương, và hai phim Mễ Tây Cơ do Vạn Ý Phim phát hành. Giám đốc: ông Huỳnh Tấn đốc.

Lồng tiếng phim cho mấy chục phim Mỹ chuyển sang tiếng Pháp cho các hãng Kikoine, Hen, vv. đóng phim quảng cáo cho xe Renault 4, cho hãng rượu Martini, v.v.

Tháng 6 năm 1958: đậu Tiến sĩ Văn Khoa (Môn Nhạc Học) đại học Sorbonnẹ Tối ưu với lời ban khen của giám khảo (Mention Très Honorable avec félicitations du Jury). Luận án chánh: Âm nhạc truyền thống Việt Nam (La musique vietnamienne traditionnelle / The Traditional Vietnamese Music). đề tài phụ:


1.
Khổng Tử và âm nhạc (Confucius et la Musique / Confucius and Music).
2. Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam (Place de la musique dans la société vietnamienne / Place of Music in the Vietnamese Society).


VI. Sau khi đậu Tiến sĩ Văn Khoa


Tháng 8 năm 1958: dự hội nghị quốc tế đầu tiên tại trụ Sở UNESCO Paris. Tham luận và Hoà nhạc chung một chương trình với Ravi Shankar (Ấn độ), Ebadi và Hossein Malek (Ba Tư), Yuize Shinichi (Nhựt Bổn) và Yehudi Menuhin (Mỹ gốc Nga. Danh cầm thế giới về violon / violin). Năm 1959: Hội Singer Polignac cho học bổng một năm để nghiên cứu và phổ biến nhạc Việt Nam và nhạc châu Á tại Paris. Sáng lập Trung Tâm Nghiên cứu nhạc đông Phương (Centre d’Etudes de Musique Orientale / Center of Studies for Oriental Music). Gi chức Giám đốc học vụ và Giáo sư nhạc Việt Nam. Từ năm 1979 chủ tịch Trung tâm kiêm Tổng giám đốc học vụ đến năm 1989. Trung tâm này giải tán khi Trần Văn Khê hưu trí, sau 30 năm hoạt động.

Từ khi đậu Tiến sĩ đến lúc về hưu năm 1987, các hoạt động đi vào 5 hướng chánh:

1. Nghiên cứu âm nhạc

Năm 1960, được bổ nhiệm vào Trung Tâm nghiên cứu khoa học Pháp (Centre National de la Recherche Scientifique / National Center for Scientific Research) với chức Tuỳ viên (attaché de recherche), 1964 lên chức Chuyên viên nghiên cứu (chargé de recherche), năm 1968 lên chức nghiên cứu sư (mtre de recherche), và từ năm 1971 lên chức Giám đốc nghiên cứu (Directeur de recherche).

Đề tài nghiên cứu: trước hết là âm nhạc truyền thống Việt Nam rồi đi lần đến đề tài “đối chiếu nhạc cụ, nhạc lý và ngôn ng âm nhạc các nước Châu Á”.
Trong mỗi đề tài đi dài trong thời gian và rộng trong không gian. Trong thư viện tìm thư mục, trong các Bảo tàng viện nghe các băng từ, dĩa hát làm phiếu, và nhứt là đi diền dã (recherche sur le terrain / field research), và tự ghi âm , chụp ảnh trên thuộc địa. Mỗi năm báo cáo kết quả và phải có ít nhiều bài đăng trong các tạp chí chuyên môn.

Phải tham gia giảng trong các trường đại học, và tham luận tại các hội nghị quốc tế.

Không thể đi sâu vào chi tiết, nhưng chỉ đưa ra vài con số điển hình:

– Trần Văn Khê đã đăng trong 27 năm làm việc, gần 200 bài đa số viết bằng tiếng Pháp, một số nhỏ bằng tiếng Anh có một số bài được dịch ra tiếng Đức, tiếng Trung quốc, tiếng Ả Rạp trong đó có hơn 130 bài đăng trong từ hai ba chục đến cả trăm trang đánh máy, và những bài đăng trong tạp chí Le Courrier de l’UNESCO được dịch ra hơn 15 thứ tiếng.

– Trần Văn Khê được các nước mời hay được Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp và UNESCO phái đi dự gần 200 hội nghị quốc tế trên 67 nước trên thế giới.

– đã tghi âm trên 600 giờ âm nhạc và trao đổi với nghệ nhân, nghệ sĩ Việt Nam, trên 300 giờ âm nhạc Châu Á, châu Phi, chụp hơn 8.000 tấm ảnh, dương bản, ảnh màu hoặc đen trắng về sinh hoạt âm nhạc tại Việt Nam và tại nhiều nước đãi qua, thu thập được gần 500 dĩa hát
của các nước trên thế giới, thực hiện được hơn 15 dĩa hát về âm nhạc truyền thống Việt Nam, 4 dĩa được 5 giải thưởng lớn của Hàn lâ m viện dĩa hát Pháp, năm 1960, 1970, dĩa hát đức quốc năm 1969, Diapason dór của tạp chí chuyên về giới thiệu và phê bình dĩa hát tại Pháp,
và Giải các nhà phê bình dĩa hát tại đức quốc năm 1994
.

– đã thực hiện nhiều phim ngắn dài về dân tộc nhạc học như phim về lối hát cổ điển Dhrupad( Ấn độ), vế ong Sheng Trung quốc (Sanh hầu), đàn Gu Quin (cổ cầm Trung quốc), đàn tranh Việt Nam.

2. Giảng dạy trong các trường đại học

Từ năm 1963 dạy trong Trung Tâm Nghiên cứu nhạc đông  Phương , dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc Học Paris (Institut de Musicologie de Paris / Institute of Musicology) môn thực tập đàn tranh và lớp lý thuyết, ngôn ng” âm nhạc các nước Châu Á đến năm 1980 chỉ lo về hành chánh và tổ chức chương trình giảng dạy.

Từ năm 1965 được mời dạy một lớp về âm thanh, thang âm điệu thức trong các truyền thống tại châu Á.

Từ năm 1970 đến sau dạy môn dân tộc nhạc học cho lớp cử nhân và Cao học. Có cả Séminaire cho các thí sinh Tiến sĩ. GS Trần Văn Khê chỉ đạo nghiên cứu, đỡ đầu và làm giám khảo cho hơn 50 thí sinh bảo vệ tiểu luận án cao học và luận án tiến sĩ về nhạc châu Á châu Phi. Trong số đó chỉ có một tiến sĩ Việt Nam là Nguyễn Thuyết Phong là có thời gian được dạy âm nhạc Việt Nam tại trường đại học Kent bên Mỹ.

Ngoài ra còn giảng ba năm cho trường Cao học Khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales), giảng nhiều lần tại Nhạc viện Paris lớp về nhạc cụ Châu Á của bà bá tước Genivieve de Chambure, và được thỉnh giảng trên 15 đại học năm châu, chỉ nhắc đến một vài nơi như Hàn Lâm viện List tại Budapest, đại học Varsovie, đại học Vicenza, Venise, Iran (Ba Tư), Tây Nam Úc châu, Perth, Trường nhạc Algerie, 3 lần tại đại học Hawaii, 2 lần UCLA,
Los Angeles, Carbondale (Southern Illinois), 3 lần tại Nhạc Viện Hà nội, và nhiều lần tại lớp thể nghiệm dạy nhạc dân tộc trên cấp đại học của Viện Nghiên cứu âm nhạc và múa do cố GS Lưu Hữu Phước làm Viện trưởng, v.v.

GS Trần Văn Khê thường nói trong 20 năm vừa qua đã “đốt đuốc tìm học trò”. Và trong nhiều buổi thuyết trình Giáo sư có nhắc đến người môn sinh theo dõi và thực hiện được một số công trình mà Giáo sư mơ ước là Nhà giáo ưu tú Phạm Thuý Hoan, giảng viên đờn tranh tại Nhạc viện Thành Phố HồChí Minh.

3. Nhạc sĩ truyền thống Việt Nam

Tuy Giáo sư Trần Văn Khê dạy về nhạc học, nhưng vẫn không quên mình là nhạc sĩ truyền thống. Trong các hội nghị quốc tế, thường được mời tham dự với hai tư cách: người nghiên cứu tham luận trong các buổi họp và tối còn đàn như một nghệ sĩ.

– Trần Văn Khê còn dự rất nhiều nhạc hội, liên hoan âm nhạc Châu Á như Nhạc Hội Rennes, Royan bên Pháp, Ajaccio tại đảo Corsica, Bá Linh bên đức, Pamplona, bên Tây ban nha,
Venise, Roma bên Ý, Bratislava vàBrno (Tiệp Khắc), Shiraz (Ba Tư), Sao Paulo bên Nam Mỹ, Wellington bên Tân Tây Lan, v.v.

– Trần Văn Khê đã dạy đờn tranh trong Trung Tâm Nghiên Cứu Nhạc đông Phương và kết quả rõ nhứt là hai người con của Giáo sư, Trần Quang Hải và Trần Thị Thuỷ Ngọc đều biết đờn tranh và đã dạy lại cho nhiều trẻ em và thanh niên Việt Nam tại Pháp. Riêng Trần Quang Hải rất có khiếu về âm nhạc. Tốt nghiệp nhạc viện Saigon về vĩ cầm (học với nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt), sang Pháp học rất giỏi về đàn tranh, đỗ đầu các cuộc thi về nhạc Ba Tư, nhạc Ấn độ, nhạc Trung quốc, lý thuyết và thực tập. Trần Quang Hải là nhạc sĩ Việt Nam thực hiện 3
dĩa 33 vòng về đàn tranh và dân ca Việt Nam với người em cô cậu Hoàng Mộng Thuý từ năm 1975 tới 1978, 7 dĩa 33 vòng về nhạc Việt Nam với vợ là nữ ca sĩ Bạch Yến (từng nổi tiếng qua bài Đêm đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương và các thể loại nhạc thời trang bằng tiếng ngoại quốc. Trần Quang Hải tổng cộng làm 15 dĩa 33 vòng , 8 CD về nhạc Việt Nam, và 10 CD cộng tác với các nhạc sĩ khác, và là người Việt Nam duy nhứt được hai giải thưởng dĩa hát của Pháp (giải thưởng Hàn lâm viện Charles Cros / Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros năm 1983 và năm 1996). Trần Quang Hải vừa là nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học, làm việc cho Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp (viết 4 quyển sách, 300 bài viết về nhạc Á châu và hát đồng song thanh, giảng dạy tại trên 100 trường đại học tại 60 quốc gia ), vừa là nhạc sĩ trình diễn nhạc dân tộc Việt Nam (tham dự trên 140 đại hội liên hoan nhạc cổ truyền). Trần Quang Hải trở thành một chuyên gia về hát đồng song thanh nổi tiếng nhứt thế
giới sau 32 năm nghiên cứu. Ngoài ra còn được tặng cho danh hiệu là “Vua Muỗng “(Le Roi des Cuillers / The King of Spoons) sau khi thắng giải tại một đại hội liên hoan nhạc dân tộc tại tỉnh Cambridge (Anh quốc) năm 1967, và “Người đánh đàn môi giỏi nhứt thế giới “(The Best Jew’s Harp player in the World) trong một đại hội liên hoan thế giới về đàn môi (The 3rd World Festival of Jew’s Harp) tại tỉnh Molln (Áo quốc) năm 1998 với trên 300 nghệ nhân đàn môi giỏi nhứt trên thế giới tham dự Trần Quang Hải vừa là con và là học trò có khiếu nhứt của Trần Văn Khê, vừa bảo vệ truyền thống âm nhạc gia đình (đời thứ 5), vừa phát huy nhạc truyền thống thế giới qua sự giao lưu âm nhạc trình diễn trên các sân khấu đại nhạc hội trên
thế giới từ trên 30 năm qua. Con đường của Trần Quang Hải hoàn toàn khác con đường của Trần Văn Khê nhưng cả hai đều hướng về nhạc dân tộc. Trần Thị Thuỷ Ngọc, con gái út của Trần Văn Khê, rất chăm học đàn tranh, luyện tập rất kỹ và nắm vững truyền thống gia đình.
Cô Thuỷ Ngọc đã giúp đỡ người cha trong việc dạy nhạc Việt và đàn tranh tại Trung tâm nghiên cứu nhạc đông phương gần 10 năm trời và đã cộng tác với hai dĩa nhạc Việt Nam với cha của cô. Hiện nay Thuỷ Ngọc làm việc cho một toán nghiên cứu đông Nam Á của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp.Tại Pháp, Trần Văn Khê có ba môn sinh người Pháp, Nelly Felz, André Lant, và Kim Lý, đã học đờn tranh rồi sau đó tiếp tục học với ái nữ là Trần Thị Thuỷ Ngọc. Cả ba đều đờn được các hơi Bắc, Quảng, Nhạc, Xuân, Ai , đảo, Oán.

– Nhạc sĩ truyền thống Trần Văn Khê đã thực hiện những dĩa hát trong đó nhạc sĩ đờn độc tấu, vừa đờn vừa ca những bản xưa như “Bắc Cung Ai”, đờn hoà với con gái Trần thị Thuỷ Ngọc, con trai Trần Quang Hải, với bạn tri âm là nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo và nữ nhạc sĩ đàn tranh Nguyễn thị Hải Phượng. Nhạc sĩ có giới thiệu những cách tuỳ hứng đờn nguyệt (đờn kìm) , đờn tranh trong một dĩa hát mang tên là “Âm nhạc truyền thống mới” (Nouvelle Musique Traditionnelle/New Traditional Music). đây là sự phối hợp gia Trần Văn Khê (đờn kìm, đờn tranh, trống) với Trần Quang Hải (muỗng, sinh tiền). Cả hai người đã thử tìm một hướng đi cho nhạc cổ truyền Việt Nam, biến đổi cách rao, cách phát triển bài bản dựa theo tuỳ hứng như trong nhạc Jazz, nhạc Ấn độ, thêm vào đó tiết tấu cho hấp dẫn dựa theo chu kỳ tiết tấu (cycles rythmiques /rhythmical cycles). Cuộc thể nghiệm đầu tiên tại đại hội liên hoan nhạc cổ truyền tại tỉnh Shiraz (Ba Tư) gia đàn kìm và muỗng đã gặt hái một sự thành công ngoài sức tưởng tưng. Sau vài năm thử thách tại các đại nhạc hội , hoà tấu với sự phụ hoạ tiếng gõ song lang của Trần Thị Thuỷ Ngọc, một thể loại mới cho nhạc cổ truyền Việt Nam được thành hình. Năm 1973, hãng dĩa OCORA của Pháp mời ba cha con thu một dĩa nhạc cổ truyền Việt Nam theo thể loại mới. Sau ba năm bị “ngâm” trong học tủ , dĩa 33 vòng “Âm nhạc truyền thống mới” được xuất bản, đánh dấu một bước đường mới trong việc vạch một hướng đi mới lạ cho nhạc Việt. Từ đó, Trần Văn Khê có dịp về Việt Nam mang ý kiến này về xứ, thử thách với các nhạc sĩ trẻ (đặc biệt nhóm nhạc gõ Phù đổng) và được giới trẻ tiếp nhận và phát triển mạnh mẽ. Một dĩa CD khác với các thể loại ngâm thơ cổ , thơ mới và ca những bài cổ như Ngũ đối hạ, Nam Xuân với sự cộng tác của con gái Trần Thị Thuỷ Ngọc

– Giáo sư Trần Văn Khê đã nhận lời thuyết trình cho Thanh niên yêu nhạc Thụy Sĩ , Nam Tư, cho các đài phát thanh, đài truyền hình nhiều nước trên thế giới về nhạc Việt Nam.

– 43 nước trên thế giới đã mời GS Nhạc sĩ Trần Văn Khê thuyết trình và biểu diễn âm nhạc truyền thống Việt Nam

4. Nhiệm vụ quốc tế

Giáo sư Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc trong nước Pháp, Mỹ, Trung Quốc, và trên trường quốc tế:

– Hội nhà văn Pháp (Société des Gens de Lettres) (Pháp)
– Hội âm nhạc học (Société Francaise de Musicologie) (Pháp)
– Hội dân tộc nhạc học Pháp (Société Francaise d’Ethnomusicologie) (Pháp)
– Hội âm nhạc học quốc tế (Société Internationale de Musicologie)
– Hội dân tộc nhạc học (Society for Ethnomusicology) (Mỹ)
– Hội nhạc học Á châu (Society for Asian Music) (Mỹ )
– Hội Âm nhạc Á châu và Thái Bình Dương (Society for Asian and Pacific Music)
– Hội quốc tế giáo dục âm nhạc (International Society for Music Education)

– Thành viên và chủ tịch hội đồng khoa học Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc với phương pháp đối chiếu (International Institute for Comparative Music Studies (Đức)
– Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống (International Council for Traditional Music) nguyên phó chủ tịch (Mỹ)
– Hội đồng quốc tế âm nhạc (International Music Council / UNESCO), nguyên uỷ viên ban chấp hành, nguyên phó chủ tịch, đương kim Chung sanh hội trưởng danh dự (Pháp)
– Viện sĩ thông tấn, Hàn lâm viện Châu Âu, Khoa Học, Văn chương, Nghệ Thuật

Từ 14 năm nay, thành viên ban giám khảo quốc tế Giải thưởng cho cổ nhạc thế giới của đài phát thanh Insbruck (Áo quốc)

Từ 27 năm nay, thành viên và từ 10 năm nay chủ tịch ban tuyển lựa quốc tế của Diễn đàn âm nhạc châu Á do Hội đồng quốc tế âm nhạc tổ chức

Ban giám đốc của chương trình viết lại lịch sử âm nhạc thế giới (UNESCO đề xướng và tài trợ)

Với nhiều nhiệm vụ đó, GS Trần Văn Khê trong 36 năm nay đã tham dự rất nhiều Hội nghị quốc gia Pháp, đức, và Hội nghị quốc tế. Tất cả gần 200 hội nghị cử hành trong số 67 trên thế giớị

Xin đơn cử một số thí dụ:

Hội nghị các hội quốc tế

1. Hội đồng quốc tế âm nhạc (Unesco) , Paris 1958; Paris 1960; Roma 1962; Hambourg 1964; Rotterdam 1966; New York 1968; Moscou 1971; Geneva 1973; Ottawa, Montreal 1975; Bratislava, Praha 1977; Perth, Merbourne, Sydney 1979; Budapest 1981; Stockholm 1983; Berlin Est 1985; Brasilia 1987; Paris 1989.

2. Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống, Jerusalem
1961; Honolulu 1977; Oslo 1979; Seoul 1981; New York 1983; Stockholm-Helsinki 1985; Berlin Est 1987; Schladming (Áo) 1989.

3. Hội quốc tế âm nhạc học, Copenhague 1972; Berkeley (Mỹ) 1977; Strasbourg (Pháp) 1982.

4. Hội quốc tế giáo dục âm nhạc , Perth 1979; Varsovie 1980.

5. Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc theo phương pháp đối chiếu , Berlin 1965, 1967, 1971, 1986, 1989

6. Diễn đàn âm nhạc châu Á, Paris 1969; Paris 1971, Alma Ata (Nga sô) 1975; Manila (Phi luật tân) 1976; Bagdad 1979; Bình Như”ng (Bắc Hàn) 1983; Ulan Bator (Mông cổ) 1985; Thành phố HồChí Minh 1990; Bombay 1993.

+ đề tài: Bảo vệ và giới thiệu truyền thống âm nhạc

Teheran 1967; Berlin 1968; Berlin 1969; Lisbonne 1971; Montreal 1975; Manila 1976; Manila 1978; Baghdad 1979; Brest 1982; Wellington (Tân Tây Lan) 1982; Madagascar 1985; Dakar 1985.

+ đề tài: Các phương tiện truyền thống và âm nhạc

Tokyo 1961; Jerusalem 1963; Paris 1967; Hyderabad (Ấn độ) 1978; Baden Baden (đức) 1980; New York 1983; Tây Bá Linh, 1986.

+ đề tài giáo dục âm nhạc

Teheran 1967; Tây Bá Linh 1969; Perth (Úc châu) 1979; Varsovie1982; Budapest 1982; Cannes 1984; Nice 1985; Paris 1988.

Giải thưởng, Huy Chương, Bằng Danh Dự

* 1938: Bng du lịch Saigon-Hànội-Saigon trên đường xe lửa xuyên Việt, cho học sinh xuất sắc các trường trung học miền Nam.

1941: Bng Toàn quyền đô đốc Decoux, cho học sinh đậu Thủ khoa Tú tài phần nhì và được toàn thể Giáo sư của lớp đề nghị

* 1949: Giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest.

* 1960: Giải thưởng lớn của Hàn lâm viện dĩa hát Pháp (Grand prix de l’Academie du Disque Français) Giải thưởng đại
Học Pháp (Prix des Universit(‘s de France). Dĩa hát về nhạc
Việt Nam của Boite à Musique số BM LD 365.

* 1969: Deutscher Schallplatten Preis, Giải thưởng dĩa hát đức quốc cho Dĩa về nhạc Việt Nam Truyền thống miền Trung , dĩa Barenreiter Musicaphon số BM 30 LD 2022. Dĩa UNESCO Collection

* 1970: Giải thưởng lớn Hàn lâm viện dĩa hát Pháp (Grand Prix du disque de l’Academie du Disque Français), Prix de l’Ethnomusicologie (Giải thưởng dân tộc nhạc học), dĩa Barenreiter Musicaphon số BM 30 LD 2022, UNESCO Collection.

* 1974: được cử làm hội viên danh dự của hội nghệ sĩ ái Hữu và được bằng ban khen của hội do ba nghệ sĩ lớn trong bộ môn cải lương ký tên: Năm Châu, Phùng Há, Kim Cương.

Huy chương bội tinh hạng nhứt của chánh phủ Việt Nam cộng hoà

Văn hoá bội tinh hạng nhứt của bộ giáo dục Việt Nam cộng hoà

* 1975: Tiến sĩ âm nhạc danh dư (Docteur en musique , honoris
căusa đại học Ottawa (Canadă

* 1981: Giải thưởng âm nhạc của Unesco Ợ Hội đồng quốc tế âm nhạc (Prix Unesco Ơ.CIM de la Musique)

* 1991: Officier de l’Ordre des Arts et des Lettres. Ministère de la Culture et de l’Information du Gouvernement francais (Huy chương về Nghệ Thuật và Văn Chương của Bộ Văn Hoá Chánh phủ Pháp).

* 1993: Cử vào Hàn Lâm Viện Châu Âu về Khoa Học, Văn Chương, Nghệ Thuật. Viện Sĩ thông tấn, Membre correspondant de l’Académie européenne des Sciences, des Lettres et
des A.rts

* 1993: được Tổng Thống Pháp Francois Mitterrand mời tháp tùng chuyến công du của Tổng thống tại Việt Nam

* 1994: Giải thưởng của các nhà phê bình đĩa hát Ðức quốc (Deutscher SchallplattenKritik Preis)

* 1995: Giải thưởng Koizumi Fumio về dân tộc nhạc học (Koizumi Fumio Prize for Ethnomusicology, Nhựt Bổn)

* 1998: Huy chương Vì Văn Hoá Dân Tộc Bộ Văn Hoá (CHXHCNVN)

* 1999: tháng 5 dương lịch: Tiến sĩ danh dự đại học Monoton (Nouveau Brunswick, Canadă

* 1999: Tháng 8 dương lịch: Huân chương Lao động hạng nhứt do Chủ Tịch Trần đức Lương cấp (CHXHCNVN)

Danh sách dĩa hát do Trần Văn Khê đờn hay thu thanh điền dã:

– 1950-1952: 14 dĩa 78 vòng do hãng dĩa ORIA sản xuất bên Pháp, phát hành bên Việt Nam, gồm có 28 bản tân nhạc của các nhạc sĩ Lê Thương, Phạm Duy, Võ đức Thu, Hoàng Quý,
Thẩm Oánh, Hùng Lân, Nguyễn Hữu Ba, Hoàng Quý, Lưu Hữu Phước, vv & Lấy bí danh là ca sĩ Hải Minh.

– 1959: “Musique du Vietnam”(Nhạc Việt Nam), hãng La Boite a Musique số LD 365 (17cm/33 vòng), Paris. Grand Prix de l’Academie du Disque Français 1960. Prix des Universites de France (Giải thưởng Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp 1960)

– 1969: “Viet Nam 1”, hãng Barenreiter Musicaphon số BM 2022 (30cm/33 vòng), collection Unesco, Kassel, đức. Deutscher Schallplatten Preis 1969 (Giải thưởng dĩa hát đức 1969),
Grand Prix de l’Acad(‘mie du Disque Français 1970 Prix d’ethnomusicologie (Giải thưởng Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp 1970 Giải thưởng Dân tộc nhạc học )

– 1970: “Viet Nam 2”, hãng Barenreiter Musicaphone số BM 2023 (30cm/33 vòng) , collection Unesco, Kassel, đức.

– 1972: “Musique du Viet Nam , Tradition du Sud” (Nhạc Việt Nam, truyền thống miền Nam với Nguyễn Vĩnh Bảo và Trần Văn Khê), hãng OCORA số 68 (30cm/ 33 vòng) , Paris.

– 1972: “South Viet Nam , Entertainment Music” (Miền Nam Việt Nam,
Nhạc Tiêu Khiển với Nguyễn Vĩnh Bảo) , hãng Philips số 6586 028 ( 30cm/33 vòng) collection Unesco: Musical Sources, Hoà Lan
.

– 1972: “Inde du Nord / Pandit Ram Narayan/ Le Sarangi” (Ấn độ miền Bắc/ Nhạc sư Ram Narayan / đàn Sarangi), hãng OCORA số OCR 69 (dĩa 30cm/33 vòng), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn
Khê.

– 1972: “Narendra Bataju, Sitar/Surbahar” (Nhạc sĩ Narendra Bataju/đàn Sitar và Surbahar), hãng CETO SELAF Ợ ORSTOM số W 751, Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.

– 1976: “Viet Nam: Nouvelle Musique Traditionnelle” (Việt Nam: Nhạc cổ truyền kiểu mới, với Trần Văn Khê, Trần Quang Hải, Trần thị Thuỷ Ngọc), hãng dĩa OCORA số 558 512 (30cm / 33 vòng) , Paris.

– 1978: “Viet Nam / Ca Trù and Quan Họ” hãng EMI ODEON số 064-183113 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Atlas Musical, Venise, Ý đại lợi.

– 1979: “Hát chèo / Vietnamese Traditional Folk Theatre”, hãng Philips số 658 6035 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Sources Musicales, Amsterdam, Hoà Lan.

– 1983: “Viet Nam, Instruments et ensembles de musique traditionnelle” (Việt Nam, Nhạc khí và Ban nhạc cổ truyền), hãng ARION số ARN 38783 (30cm /33 vòng), Paris

– 1985: “Viet Nam, Court Theatre Music” (Việt Nam , nhạc tuồng hoàng giă , hãng EMI Ợ ODEON số 260 2821 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Musical Atlas

– 1985: “Musique du Vietnam” (Nhạc Việt Nam), hãng ACCT (Agence de
Coopération Culturelle et Technique) số 18110 (30cm/33 vòng),
Paris.

– 1990: “Viet Nam / Hat Cheo”, hãng AUVIDIS số đ8022 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa “Hat Cheo/Vietnamese Traditional Folk Theatre” của hãng Philips số 6586035 (30cm/33 vòng). Một băng cassette của CD này được xuất bản cùng một lúc.

– 1991: “Viet Nam / Ca Tru & Quan Ho”, hãng AUVIDIS đ8035 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa cùng tên của hãng Emi-Odeon số 064-183113 (30cm / 33 vòng). Một băng cassette của CD này được xuất bản cùng một lúc.

– 1994: “Viet Nam: Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe”, dĩa OCORA số C 580043 (dĩa CD), Paris. được giải Diapason dÓr. Tái bản của dĩa OCORA số 68 (30cm/ 33 vòng, năm 1972)

– 1994: “Viet Nam / Poésie et Chants / Tran Van Khe & Tran Thi Thuy Ngoc” (Việt Nam / Ngâm thơ và Hát), hãng OCORA số C 560044 (dĩa CD), Paris.

– 1995: “Viet Nam / Le Dan Tranh: Musique d’Hier et d’Aujourd’hui” (Việt Nam / đàn Tranh: Nhạc quá khứ và hiện taị” với Nguyễn Thị Hải Phượng và Trần Văn Khê, hãng OCORA số
560045 (dĩa CD), Paris. Grand Prix de la Critique Allemande (Giải thưởng Phê Bình đức), CHOC de la revue Le Monde de la Musique
.

– 1996: “Viet Nam / Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe”, hãng AUVIDIS số đ8049 (dĩa CD), collection Unesco, Paris.

– 1998: “Viet Nam / Improvisations/ Tran Van Khe, Tran Quang Hai, Tran Thi Thuy Ngoc”, hãng OCORA số C 580070 (dĩa CD), Paris. Tái bản của dĩa OCORA số 558 512 (30cm / 33 vòng, năm 1976).

– 1997: “Viet Nam Ca Tru”, hãng INEDIT số W 260070 (dĩa CD), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.

– 1997: “Viet Nam: Tradition de Hue” (Việt Nam: Truyền thống Huế/ Nhạc cung đình và Nhạc thính phòng), hãng INEDIT số W 260075 (dĩa CD), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.

– 1998: “Viet Nam: Tradition du Sud” (Việt Nam: Truyền thống miền Nam), hãng AUVIDIS đ8070 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tài liệu thu thanh và lời dẫn giải: Trần Văn Khê &
Nguyễn Hữu Ba.

– 1998: “Viet Nam: Musique bouđhique” (Việt Nam: Nhạc Phật giáo), hãng INEDIT số &&. (dĩa CD), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.

Phim

Một số phim do Trần Văn Khê thực hiện và một số phim về Trần Văn Khê

1. Một phim về kỹ thuật hát Dhrupad của Ấn độ điệu thức Raga Todi do hai anh em Dagar trình diễn, do trung tâm GRM (Groupe de Recherche Musicale của ông Pierre Schaeffer), Paris , 1964. Một phim về cách lên dây đàn Tanpura Ấn độ và một phim về kỹ thuật đánh trống Pakhawaj và chu kỳ tiết tấu Chautala với 12 đơn vị.Một đoạn phim về cách đọc thơ và sau đó hát theo thể điệu Dhruapd và những thí dụ hát theo thể điệu Dhrupad, Kheyal và Thumri.

2. Phim “Histoire du riz”, phần 1 về sắc tộc Ifugao ở Phi Luật Tân, phần 2 ở Việt Nam , phim nói bằng tiếng Pháp do Trần Văn Khê đọc. Thực hiện bởi Điier Mauro và Hồ Thuỷ Tiện Sản xuất: Orchidees.

3. Phim “Dis moi, Philippines” do Trần Văn Khê đọc tiếng Pháp và do Eric Dazin thực hiện. Sản xuất: Orchidees.

Tài liệu băng thu thanh

1. Les Traditions musicales de l’Asie (Truyền thống âm nhạc Á châu ) , nói tiếng Pháp

2. Le Dhrupad: un art vocal de l’Inde du Nord (Dhrupad: nghệ thuật hát Ấn độ miền Bắc) , nói tiếng Pháp

3. Le Tabla et les cycles rythmiques dans la musique hindoustane (Trống Tabla và chu kỳ tiết tấu trong nhạc ấn theo trường phái hindoustane), nói tiếng Pháp.

4. La musique arabe (Nhạc ả rạp), 6 tập, với sự cộng tác của Giáo sư Amnon Shiloah, nói tiếng Pháp.

Băng Video

Với sự cộng tác của cơ quan thính thị của trường đại học ParisĐauphine, INALCO (viện quốc gia ngôn ng” và văn minh đông phương) đặc biệt với Guy Senelle, Điier Tauin và Paul Hervé.

1. Le Sheng, orgue à bouche avec Cheng Shui Cheng (đàn Sanh Hầu với nhạc sĩ Cheng Shui Cheng). Quá trình lịch sử, cách chế tạo nhạc khí. Diễn giả: Trần Văn Khệ Khái quát về “Sanh
Hầu ở Á châu”

2. Le Quin, cithare chinoise à 7 cordes sans chevalets (đàn Cổ Cầm 7 dây không có nhạn với các nữ nhạc sĩ Liu, Yip Ming Mei). Quá trình lịch sử, kỹ thuật đàn, một vài bài cổ điển của đàn tranh cổ cầm. Diễn giả: Trần Văn Khê.

3. Le “Dan Tranh”, cithare vietnamienne à 16 cordes (đàn Tranh Việt Nam 16 dây ) với sự cộng tác của Trần Thị Thuỷ Ngọc. Quá trình lịch sử , miêu tả , kỹ thuật đàn, một vài bản cổ truyền. Giải thích về điệu thức theo truyền thống miền Nam, đối chiếu với các loại đàn tranh Trung quốc, Nhựt Bổn, đại Hàn và Mông Cổ.

4. Le “Dan Tranh”, cùng một đề tài nhưng với bài bản khác. Với sự cộng tác của Trần Thị Thuỷ Ngọc. Trình bày và giải thích bằng tiếng Pháp: Trần Văn Khê , thực hiện cho Trung tâm nghiên cứu nhạc đông Phương.

Tài liệu thu hình video tại Việt Nam:

1. Nhạc dân gian và tuồng ở Việt Nam năm 1982

– Lễ Giỗ Tổ Cải lương miền Nam ở TP HồChí Minh (29/09/1982)
– Trích đoạn tuồng “Thần nữ dựng ngũ linh kỳ”(29/09/1982)
– Nhạc dân gian vùng Huế (làng Xuân Long) (29/09/1982)
– Hát Tuồng, truyền thống Quảng Nạm Trang điểm, đọng tác, đấu võ (25/10/1982)
– Hát Tuồng , truyền thống Bình định: Nhạc, Diễn xuất, minh hoạ đọng tác, những cách ngâm do ông Võ Sĩ Thừa biểu diễn (27/10/1982)
– Tuồng dân gian Hát Bài chòị Minh hoạ và trích đoạn một vài tuồng cổ truyền (18/10/ 1982)
– Viếng thăm nữ nghệ sĩ nhân dân Phùng Há (tháng 11, 1982)

Đời sống âm nhạc ở Việt Nam năm 1987

– Tiết tấu cổ truyền dùng trong múa và tân nhạc với Văn Thinh
– Sáng chế cây đờn độc huyền Lạc Cầm phối hợp chung với đàn tranh 12 dây và 2 đàn kìm 4 dây do Mạc Tuyên sáng tạo Trình bày và thể nghiệm minh hoạ do các nhạc sĩ và giáo sư nhạc của trường âm nhạc Hà nội. Giáo sư Lưu Hữu Phước và Trần Văn Khê dẫn giải (17/11/1987)
– Nhạc truyền thống và dân ca trong các lớp mẫu giáo ở Củ Chi, và trường Lê Lợi (TP HCM) (27 /11/1987)
– Buổi hoà nhạc của nhóm Tiếng Hát Quê Hương, nhóm Tao đàn do Phạm Thuý Hoan, giáo sư trường Âm nhạc HCM xếp đặt đặc biệt cho Giáo sư Trần Văn Khê (29/11/1987)
– độc tấu đàn tranh do Hải Phượng đàn những bản cổ truyền và sáng tác mới của Phạm Thuý Hoan (30/11/1987)
– Nhóm đàn gõ Phù đổng tại TP HCM (04/12/1987)
– Lễ đặc biệt dành cho GS Trần Văn Khê do 3 nhóm trẻ “Tiếng Hát QuêHương”, “Tao đàn”, “Bình Thạnh” (06/12/1987)
– Dạ Hội nhạc cổ truyền Việt Nam tại toà Tổng Lãnh Sự Pháp ở TP HCM. Phần giới thiệu bằng tiếng Pháp: TrầnVăn Khê (07/12/1987)
– Âm nhạc truyền thống Việt Nam tại Montreal (Canada, ngày 19 và 27 tháng 4, 1987.
Thu hình video năm 1989:
– 5 chương trình nhạc truyền thống Việt Nam cho Viện nghiên cứu âm nhạc và múa được chiếu trên đài truyền hình của TP HCM (5 tháng 3, 1989) với GS Trần Văn Khê là diễn giả và với sự tham gia của nhạc sĩ Phạm Đức Thành (đàn bầu) và nhóm Phù đổng (nhạc cụ gõ).
– Buổi họp của nhóm nhà thơ Quỳnh Dao do nhà thơ Tôn nữ Hỷ Khương tổ chức vinh danh GS Trần Văn Khê (2 tháng 9, 1989) (video NTSC)
– Lưu Hữu Phước, cuộc đời, sự nghiệp, nghệ thuật, thuyết trình bởi Trần Văn Khê với minh hoạ của nhiều nhóm nhạc sĩ tại nhà hát Thành phố (TP HCM) vào hai ngày 11 và 12 tháng 9, 1989 (6 giờ phim video)
– Đêm Trung Thu do bà Phạm Thuý Hoan tổ chức và GS Trần Văn Khê trong vai tuỳ hứng Ông Tiên Già (phim video NTSC)
– Hội nghị quốc tế âm nhạc tại Osaka với bài tham luận bằng tiếng Anh “International Reception of Music in VietnameseTraditionữ (22/07/1990), tham gia bàn tròn về
“International Recepion in Music” (24 tháng 7, 1990) (phim video NTSC)
– Hội nghị về nhạc Á châu và Thái Bình Dương tại Kobe (Nhựt Bổn) (28 tháng 7, 1990) (phim video NTSC)
– Lễ 70 tuổi của GS Trần Văn Khê do hội các nhà thơ Gia đình Quỳnh Dao do nhà thơ nữ Tôn nữ Hỷ Khương tổ chức tại TP HCM (14 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)
– Giới thiệu nhạc đàn tài tử miền Nam do Trần Văn Khê thuyết trình do đài Truyền hình Cần Thơ thực hiện (16 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)
– Đêm vinh danh GS Trần Văn Khê do nhóm Tiếng Hát Quê Hương tổ chức (16 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)
– Buổi nói chuyện của GS Trần Văn Khê về các hoạt động của giáo sư ở hải ngoại tại Thuỳ Khương trang (22 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)
– Kỷ niệm Nguyễn Tri Phương, ông cố ngoại của GS Trần Văn Khê tại phường Bửu Hội, tỉnh Biên Hoà (đồng Nai )
(2 tháng 12, 1990) (phim video NTSC)
– Chương trình âm nhạc của nhóm Tiếng Hát Quê Hương cho đài truyền hình TP HCM (1 và 2 tháng 12, 1990) (phim video NTSC)

Ngoài ra từ 1991 tới nay (2001) hàng trăm chương trình phim video đã được thực hiện tại Việt Nam.

Về băng thu thanh, GS Trần Văn Khê đã thu trên 600 giờ nhạc cổ truyền Việt Nam về ca trù, hát chèo, hát tuồng, ca Huế, nhạc cung đình Huế, đàn tài tử miền Nam rất Hữu ích cho việc nghiên cứu lịch sử nhạc Việt sau này.

Sách mới

– 2000 : “Văn Hoá với Âm Nhạc Dân Tộc”, Nhà Xuất Bản Thanh Niên, 158 trang, TP HCM, Việt Nam

Tiểu luận của GS Trần Văn Khê về cải lương, ca trù, Tán Tụng trong nhạc Phật giáo, nét nhạc dân tộc trong nhạc Lưu Hữu Phước, và một vài nhận xét về những nghệ sĩ trẻ Phương Phương,

Nguyễn Thanh Hằng và Ea Sola

– 2000 : “Trần Văn Khê & Âm Nhạc Dân Tộc”, Nhà Xuất Bản Trẻ, 432 trang, TP HCM, Việt Nam

Sách gồm có hai phần : hồi ký và bút ký ghi lại những kỷ niệm của tác giả ở Việt Nam và hải ngoại qua âm nhạc trong thời gian 50 năm , và khảo cứu với 10 bài viết về ngôn ng và âm nhạc Việt / Á Châu, dân ca Quan Họ, đàn đá Khánh Sơn, cải lương với ưu và nhược điểm, và
liên hệ gia âm nhạc và kiến trúc.

– 2001 : “Hồi ký Trần Văn Khê: ướm mầm trổ nụ ” tập 1, Nhà Xuất bản Trẻ , 303 trang, TP HCM, Việt Nam

Giai đoạn đầu tiên của GS Trần Văn Khê từ lúc sơ sinh tới lúc đi vào kháng chiến. Lúc nhỏ học ở Pétrus Ký, gặp Xuân Diệu, Huy Cận , Phạm Duy, và hoạt động lúc học trường thuốc ở Hà nội cùng với Lưu Hữu Phước , Mai Văn Bộ. Có liên hệ với giai đoạn sơ khai của lịch sự
tân nhạc Việt Nam.

– 2001: “Hồi ký Trần Văn Khê: đất khách quê người”, tập 2, Nhà Xuất Bản Trẻ, 287 trang, TP HCM, Việt Nam

Giai đoạn đi sang Pháp năm 1949 đưa tới việc đậu xong tiến sĩ âm nhạc và phát huy vốn cổ nhạc Việt ở hải ngoại (Pháp và các diễn đàn hội nghị quốc tế) cho tới đầu thập niên 70.

Xin xem thêm về sự nghiệp âm nhạc của GS Trần Văn Khê:

Prof. Dr.Tran Van Khés Homepage :

http://www.philmultic.com/tran

Tôi sẽ phát triển thêm về khía cạnh nghiên cứu nhạc Á châu cũng như ảnh hưởng của GS Trần Văn Khê trong ngành dân tộc nhạc học (ethnomusicology) trên thế giới trong một dịp khác.

 

© http://vietsciences.free.fr  Trần Quang Hải

http://vietsciences.free.fr/vongtaylon/profs/tranvankhe.htm

   

Người Biên soạn: Phan Anh Dũng : DANH CA MỘC LAN – KHI ÁNH CHIỀU RƠI …


NỮ DANH CA MỘC LAN – KHI ÁNH CHIỀU RƠI … Biên soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail

                    NỮ DANH CA MỘC LAN – KHI ÁNH CHIỀU RƠI … Biên soạn: Phan Anh Dũng

Sáng ngày 11 tháng 5, 2015 nhận được email của Nhạc sĩ Trần Quang Hải (Paris) gởi cho môt số thân hữu với tin buồn là nữ danh ca Mộc Lan vừa qua đời ở Sài Gòn. Email có kèm thư của Bà Tâm Vấn, một bạn thân của Mộc Lan gởi cho Ca sĩ Bạch Yến, cho biết đang đợi cô con gái của Mộc Lan ở Hoa Kỳ về lo tang lễ.

Nhắc đến Mộc Lan, tôi không thể quên giọng hát đặc biệt của Bà, theo tôi, có âm hưởng tương tự như Ca sĩ Kim Tước trong ban tam ca nổi tiếng Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà; và các bài viết về chuyện tình của Mộc Lan với các cố Nhạc sĩ Châu Kỳ, Đoàn Chuẩn và Hoàng Trọng … (qua ngòi bút của Trần Áng Sơn, em ruột của Mộc Lan và nhà báo Hà Đình Nguyên).
                    Từ trái: Kim Tước, Mộc Lan, Châu Hà và Ban Hoàng Trọng 1958
Tôi nghe lại ca khúc Khi Ánh Chiều Rơi” của Tạ Tấn và Trịnh Kính với giọng ca điêu luyện của Mộc Lan, hát 3 bè, có lời giới thiệu mở đầu và tâm tình của cố Nhạc sĩ Hoàng Trọng ở cuối ca khúc về hoàn cảnh bi đát của Mộc Lan sau 1975.
Khi nhận thông báo Mộc Lan qua đời, nhà thơ Hoàng Song Liêm ở Virginia cho biết khi về thăm Việt Nam năm 2010, Ông đã được cô Hàm Anh chở đến thăm viếng Mộc Lan. Trước khi ra về, Ông có chụp một hình kỷ niệm và tặng Bà một số tiền:
  Nhà thơ Hoàng Song Liêm & Ca sĩ Mộc Lan 2010
Năm ngoái, gia đình cố Ca sĩ Quỳnh Giao có gởi cho tôi một tấm ảnh hiếm quý, chụp trước 1975 ở Đài Phát Thanh hay Truyền Hình Sài Gòn. Trong hình này, các ca sĩ Mộc Lan, Như Thủy, Thái Thanh, Hà Thanh, Châu Hà, Mai Hương và Quỳnh Giao đều tươi mát và trẻ trung:
Không khỏi ngậm ngùi khi nghĩ đến thời kỳ vàng son của danh ca Mộc Lan và những khổ đau Bà âm thầm gánh chịu lúc về già. Xin thành kính chia buồn với tang quyến, những người bạn thân của Bà và cầu mong Bà được an bình nơi chốn vĩnh hằng.

Phan Anh Dũng (Richmond, Virginia USA – 18/5/2015)

Tang Lễ Danh Ca Mộc Lan tại Sài Gòn – tháng 5, 2015

Một số ca khúc do danh ca Mộc Lan trình bày 

  Youtube Playlist 1 /   Youtube Playlist 2Jonathan Tran thực hiện

Tiếng hát Mộc Lan30 bản nhạc chọn lọc (mp3)

Anh Sẽ Về – Hoàng Giác                                      Biệt Ly – Doãn Mẫn
Bóng Người Đi – Văn Phụng                                Chiều – Dương Thiệu Tước – Hồ Dzếnh
Chung Thủy – Văn Phụng                                   Chuyển Bến– Đoàn Chuẩn & Từ Linh
Còn Gì Nữa Đâu – Phạm Duy                               Dạ Khúc – Nguyễn Mỹ Ca
Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa – Tô Vũ        Hoài Cảm – Cung Tiến

Hồ Lãng Bạc – Xuân Tùng                                   Khi Ánh Chiều Rơi -Tạ Tấn & Trịnh Kính
Lời Vũ Nữ – Lê Thương                                       Mộng Đẹp Ngày Xanh – Hoàng Trọng
Một Đời Hoa – Đào Duy                                      Mừng Xuân – Hoàng Trọng
Mùa Hoa Thắm – Hoàng Trọng                            Ngày Trở Lại – Thanh Hiếu
Nhớ Nhung – Thẩm Oánh                                    Nhớ Quê Hương – Phạm Ngữ

Phố Buồn – Phạm Duy                                        Ra Đi Một Chiều Mưa – Văn Thủy
Suối Tóc – Văn Phụng                                         Tha Hương – Hoàng Trọng
Thoi Tơ – Đức Quỳnh                                          Thu Ly Hương – Đan Thọ & Nhật Bằng
Tình Nghệ Sĩ – Nhật Bằng                                    Tống Biệt – Phạm Duy; thơ: Tản Đà
Trở Về Huế – Văn Phụng                                     Ước Hẹn Chiều Thu – Dương Thiệu Tước

                  

            Môt số hình ảnh

Mộc Lan hát với Ban hợp xướng và dàn nhạc của Ban Tiếng Tơ Đồng do Nhạc sĩ Hoàng Trọng điều khiển

  Mộc Lan hát ở Đài Phát Thanh Huế

         Chuyện tình nghệ sĩ Mộc Lan Hà Đình Nguyên

Bài 1: Gặp nữ danh ca

Những người am hiểu và gắn bó với nền tân nhạc Việt Nam, hẳn vẫn còn nhớ về một thế hệ nữ ca sĩ cách đây hơn 60 năm. Đó là những giọng ca: Mộc Lan, Tâm Vấn, Châu Hà, Kim Tước… Thời may, tôi được gặp một người trong số họ: danh ca Mộc Lan.

Tiếng tăm của nữ danh ca một thời Mộc Lan thì tôi đã từng nghe biết từ lâu qua những lời truyền tụng và sách báo. Thời hoàng kim của bà đã cách đây hơn nửa thế kỷ nên một kẻ hậu bối như tôi dù rất ao ước cũng khó lòng gặp được, bởi bà đã “mai danh ẩn tích” từ rất lâu… Qua sự giới thiệu của một nhà thơ, được biết nhà văn Trần Áng Sơn (vốn là chỗ quen biết với tôi) chính là em ruột của bà, tôi nhờ anh Sơn dẫn đến thăm bà. Một ngày cận Tết, anh Trần Áng Sơn đưa tôi đi, nhưng dặn nhỏ: “Hạn chế hỏi chuyện đời tư nhé!”. Tôi vâng dạ mà… buồn thiu bởi thú thực tôi đang rất muốn hỏi bà một số chuyện tình cảm liên quan đến các nhạc sĩ Châu Kỳ, Đoàn Chuẩn…, đành gặp trước rồi tính sau.

Dù đã được anh Trần Áng Sơn báo trước nhưng tôi cũng không thể ngờ người đàn bà tài sắc một thời này, nay lại có hoàn cảnh khó khăn như thế. Bà hiện sống – có thể nói là cô độc trong một căn nhà chỉ chừng mười mấy mét vuông ở cuối con hẻm nhỏ trên đường Lê Văn Sỹ (Q.3, TP.HCM). Càng cô độc hơn khi một mình bà phải nuôi nấng, chăm lo cho người con gái trên 50 tuổi bị bệnh tâm thần. Mảnh lưng ong ngà ngọc một thời nay đã còng xuống, trí nhớ có phần mai một nhưng vẻ xuân sắc ngày ấy vẫn chưa phai nét trên khuôn mặt mà mái tóc đã gội tuyết sương… Bà khoe: “Tôi mới vừa nói chuyện qua điện thoại với nhạc sĩ Trịnh Văn Ngân ở bên Mỹ gọi về (nhạc sĩ Trịnh Văn Ngân là tác giả các ca khúc Buồn thu, Đường tơ lưu luyến, Người đưa thư đã đi qua…). Bây giờ buồn lắm, bạn bè chỉ còn dăm người, ai nhớ đến mình, gọi điện hỏi thăm hay gửi cho chút quà là mừng lắm, cảm động lắm… Châu Hà, Kim Tước đang ở nước ngoài, chỉ có Tâm Vấn thỉnh thoảng có ghé thăm. Tất cả đều già yếu rồi nên chẳng ai trách ai…”.

* Cô đi hát từ bao giờ và bài hát đầu tiên cô biểu diễn trước công chúng là bài nào?

– Tôi tên thật là Phạm Thị Ngà, sinh năm 1931, tuổi Mùi. Đi hát từ thời 14 – 15 tuổi ở Đài Pháp Á. Nghệ danh Mộc Lan do nhạc sĩ Lê Thương đặt cho tôi. Bài hát đầu tiên thì không nhớ nổi nhưng tôi nổi tiếng với bài hát Em đi chùa Hương (thơ Nguyễn Nhược Pháp, nhạc Trần Văn Khê). Ông Khê viết bài này rất kỳ công, có xen kẽ những đoạn vừa nói vừa diễn tả rồi lại hát, cho nên bài hát rất dài và rất kén người hát. Tôi may mắn được coi là người đầu tiên thể hiện thành công bài hát này… Nghe nói ông Khê về nước mấy năm nay rồi, lẽ ra tôi phải đến thăm ông vì cái ơn hồi đó ông uốn nắn cho giọng hát của tôi từng chút một, nhưng giờ cả hai đều già yếu. Tôi nhớ dạo ông ấy còn ở bên Tây, tôi đã từng về quê của ông ấy ở xã Vĩnh Kim (Cái Bè, Mỹ Tho) hát. Mới đó mà đã hơn 50 năm rồi…

Nhạc sĩ Trần Văn Khê thời trẻ

* Ngoài Em đi chùa Hương, cô còn hát thành công những ca khúc nào nữa?

– Nhiều lắm. Tiếng thời gian, Hình ảnh một buổi chiều (Lâm Tuyền), Gởi gió cho mây ngàn bay, Chuyển bến (Đoàn Chuẩn), Thoi tơ (Đức Quỳnh), Nhớ nhung (Thẩm Oánh), Phố buồn (Phạm Duy)… Sau này, tôi hát trong ban Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng. Lúc đó, Hoàng Trọng được mệnh danh là “Vua Tango” nên những bài tango của Hoàng Trọng đều do tôi hát đầu tiên…

* Hiện cô còn giữ băng đĩa nào ghi âm những bài hát này không?

– Hồi xưa, tôi ghi âm nhiều lắm. Thu vào đĩa 45 vòng, vào băng Magne, Akai… nhưng rồi mấy lần dọn nhà đâm ra thất lạc, cái nào giữ được thì ẩm mốc, hư hỏng hết… Có mấy người bạn ở nước ngoài gửi cho vài đĩa nhạc nhưng nhà chẳng có máy mà nghe nên cũng chỉ để đó.

*Nhiều người cho rằng bài hát Gởi người em gái là của Đoàn Chuẩn viết riêng cho Mộc Lan. Điều này đúng không?

– (cười…). (Anh Trần Áng Sơn gật đầu xác nhận: “Đã có rất nhiều tài liệu cho rằng nhân vật nữ trong Gởi người em gái của Đoàn Chuẩn chính là chị Mộc Lan”)… Thực ra thế này, dạo đó tôi ở trong Nam, còn ông Đoàn Chuẩn ở ngoài Bắc, ông ấy sáng tác và gửi bài hát vào Nam cho các ca sĩ, không cứ gì gửi cho riêng tôi. Tôi vào Nam từ rất sớm do ông anh tên là Long dắt vào. Mấy năm sau, khi tôi chung sống với ông Châu Kỳ ở Huế thì tôi đón Trần Áng Sơn vào ở chung (1952).

* Cô nhận xét thế nào về nhạc sĩ Châu Kỳ?

– Ông ấy rất hiền lành, đã hứa làm cái gì thì làm tới nơi. Riêng với phong trào âm nhạc thì ông ấy rất nhiệt tình. Sống có tình cảm nên bạn bè rất quý. Có điều nhậu vô là nói lèm bèm. Tính tôi nghe nhiều không chịu được, bực lắm! Mình đi hát thì phải tiếp xúc với nhiều người mà ông ấy lại quá ghen…

* Nhạc sĩ Châu Kỳ mất, cô có biết tin không?

– (ứa nước mắt)… Trước đó ít lâu, tôi có việc đi ngang Hội quán Nghệ sĩ trên đường Trần Quốc Thảo (Q.3), thấy Châu Kỳ ngồi phía bên ngoài. Thấy tôi, Châu Kỳ ngoắc lia lịa: “Bà vào đây chút đã!”. Tôi xua tay: “Tôi mắc công chuyện phải đi gấp!”… Ít lâu sau nghe tin ông ấy mất. Tâm Vấn và Thanh Nhạn gọi điện thoại bảo tôi nên đến viếng ông ấy một chút nhưng tôi bệnh quá không đi được. Để chừng nào tôi khỏe khỏe một chút, tôi với Tâm Vấn sẽ đến thắp cho ông ấy một nén hương…

…Chia tay người của một thời mà lòng tôi nặng trĩu. Nhan sắc ấy, giọng ca ấy từng khuấy đảo sân khấu ca nhạc cả trong Nam lẫn ngoài Bắc. Kẻ đưa người đón dập dìu mà nay vò võ còng lưng trong căn nhà chật hẹp. Có tâm sự cũng chẳng biết sẻ chia với ai bởi bên cạnh bà giờ chỉ còn người con gái ngờ nghệch, khật khùng… Anh Trần Áng Sơn bảo thậm chí đến cơm nước bà cũng không thể tự nấu, phải đặt cơm tháng, người ta mang đến nhà cho mẹ con bà… Buồn ghê!

 Bài 2: Hương sắc 60 năm trước

Khi biết tôi có ý định viết về nữ ca sĩ một thời vang bóng Mộc Lan, nhà văn Trần Áng Sơn không nói gì nhưng trao cho tôi bộ “Những trang sách khép mở” (3 tập). Để bạn đọc hình dung được một Mộc Lan hương sắc của 60 năm về trước, xin trích từ những trang viết của Trần Áng Sơn:

“Khi tôi chưa đầy một tuổi thì mất cha. Mẹ tôi, người đàn bà chân quê không đủ sức nuôi dưỡng, dạy bảo 8 đứa con đang sức ăn sức lớn. Tình cảnh gia đình thật bi đát, 8 anh chị em tôi ở trong tình trạng xẻ nghé tan đàn bất cứ lúc nào… Cuối cùng người lãnh trách nhiệm hy sinh để cứu những đứa em còn quá nhỏ dại là anh hai tôi – anh Long. Anh phải từ bỏ trường học, từ bỏ võ đài – nơi anh ấy đang nổi lên như một võ sĩ quyền Anh trẻ tuổi đầy hứa hẹn. Anh dắt theo hai chị tôi: chị Ngọc, chị Ngà từ Hải Phòng vào Sài Gòn tha phương cầu thực. Cảnh chia ly ấy diễn ra khi tôi vẫn còn là một đứa trẻ lẫm chẫm tập đi. Tôi lớn dần lên trong cơ cực, trong đạn bom Thế chiến thứ hai, và khi tiếng súng toàn quốc kháng chiến nổi lên cũng là lúc gia đình tôi hoàn toàn bị đứt liên lạc với các anh chị tôi ở Sài Gòn…

Ngày các anh chị rời xa gia đình, tôi còn quá nhỏ nên không hình dung được họ ra sao, nhưng qua lời mẹ tôi kể lại thì các anh chị tôi đều rất đẹp: anh Long cao lớn, đẹp như thầy chúng tôi. Còn chị Ngà (sau này là nữ danh ca Mộc Lan – PV) đẹp như tranh vẽ, mẹ kể da của chị trắng như trứng gà bóc, răng đều tựa như hạt cườm, tay cứ như tay tiên. Tóm lại trong 5 chị gái, chị Ngà tôi đẹp nhất. Tôi giữ hình ảnh đẹp như tranh vẽ của người chị trong tâm hồn như một niềm kiêu hãnh…

Một hôm vừa đi học về, tôi ngạc nhiên thấy nhà có khách – một người phụ nữ sang trọng, rất đẹp, cái đẹp sắc như dao cau. Tôi ngỡ ngàng ngộ nhận đó là chị Ngà tôi ở Sài Gòn mới về. Nhưng không phải, người ấy là chị Thanh, chị dâu tôi – vợ anh Long. Đúng là chị về từ Sài Gòn để tìm lại gia đình sau hơn 10 năm thất lạc. Mẹ tôi rất mừng, cơn ác mộng những đứa con thất lạc trong chiến tranh không còn phủ cái bóng ảm đạm lên gia đình tôi nữa. Mẹ tôi còn cho biết chị Ngà tôi bây giờ đã trở thành ca sĩ nổi tiếng khắp Bắc – Trung – Nam. Chị ấy đang lưu diễn ở Hà Nội theo lời mời của Đài phát thanh Hà Nội cùng với nữ ca sĩ số một của Hà Nội bấy giờ là Minh Đỗ. Tin này đối với tôi thật bất ngờ. Thời thơ ấu khổ cực nhưng tôi luôn giữ hình ảnh người chị đẹp như tranh trong ký ức, chị ấy đã phải rời xa tổ ấm để chia bớt phần ăn cho những đứa em. Thế mà cô gái nghèo ấy sau hơn 10 năm xẻ nghé tan đàn đã trở thành ca sĩ danh tiếng. Tuy chưa biết khi hát chị tôi lấy nghệ danh là gì nhưng tôi tin chắc cái tên phải xứng với sắc đẹp và giọng hát của chị ấy. Vào thời điểm này (1952), tôi sắp bước sang tuổi mười lăm…

Sau chuyến lưu diễn ở Hà Nội, chị Ngà tôi và anh Long về Hải Phòng thăm mẹ và các em sau hơn 10 năm đứt liên lạc. Đúng như mẹ tôi nói, chị tôi đẹp thật, đẹp hơn cả lời miêu tả với tất cả niềm âu yếm của mẹ tôi. Các anh chị tôi nhìn thấy cảnh mẹ và các em sống quá cơ cực đã đi đến quyết định làm thay đổi cuộc đời tôi. Cuối năm 1952, các anh chị tôi về thăm mẹ lần thứ hai và chuyến bay của hãng Air France cất cánh từ sân bay Gia Lâm đến Huế có tôi bay cùng…

Nhà thơ Trần Áng Sơn

Những ngày đầu ở Huế, tôi sống chung với chị và anh rể – đôi vợ chồng ca nhạc sĩ Mộc Lan – Châu Kỳ trong một căn phòng nhỏ phía sau Ty Thông tin Huế dưới chân cầu Tràng Tiền. Căn phòng quá nhỏ cho một đôi uyên ương quá nổi tiếng ở đất Thần Kinh. Tôi cứ ngỡ đẹp và hát hay như chị tôi thì phải ở trong lâu đài khuê các. Vậy mà thực tế lại như thế này ư? Nó khác xa với hình ảnh rực rỡ của chị tôi khi đứng trên sân khấu cất tiếng hát họa mi làm say mê biết bao tâm hồn mơ mộng, đa tình, trong đó có cả tôi. Tiếng hát của chị tôi nâng tâm hồn tôi bay theo cánh diều căng gió trên bầu trời xanh ngắt…

Anh rể tôi – nhạc sĩ Châu Kỳ khá đẹp trai, giỏi nhạc hát hay, không cao lớn nhưng đứng trên sân khấu không đến nỗi bị khuất lấp bởi sự rực rỡ của chị tôi. Giọng hát của anh chị tôi là một sự tô điểm cho nhau, khi họ song ca, cảnh vật trở nên tưng bừng, lòng người rộn rã. Mặc dù lúc đó ở Huế có cặp song ca nổi tiếng Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết nhưng họ thuộc về một lớp khán giả riêng biệt, khác hẳn với đôi uyên ương Mộc Lan – Châu Kỳ, họ thuộc về mọi lứa tuổi, mọi thành phần nhưng trước hết là giới trẻ bởi sự trẻ trung của mình và cũng vì nghệ thuật ca hát mới mẻ mà họ cống hiến mỗi khi xuất hiện…

Nhạc sĩ Châu Kỳ

Ít lâu sau, anh Long có lệnh gọi nhập ngũ. Anh Châu Kỳ và chị tôi vào Sài Gòn và họ chia tay nhau. Tôi rất buồn vì cuộc chia ly này. Người chị đẹp như tranh của tôi bước chân xuống đời cũng vấp váp như bất kỳ cô gái nào, vì yếu đuối, vì ảo vọng. Thế là Huế để lạc mất con chim họa mi của mình. Liệu có còn ai nhớ đến bản nhạc Đi chơi chùa Hương (thơ Nguyễn Nhược Pháp, Trần Văn Khê phổ nhạc) khi duy nhất thời đó chỉ một ca sĩ hát thành công, đó là chị tôi – Mộc Lan.

Mấy năm sau tôi cũng từ biệt Huế vào Sài Gòn. Tôi lại về sống chung với chị tôi đang trong tình trạng phòng không chiếc bóng. Trên bước đường công danh, chị tôi đã tiến một bước dài. Khác với Thái Thanh, Tâm Vấn, chị tôi bước lên sân khấu như một nữ hoàng. Không sân khấu đại nhạc hội nào vắng bóng chị tôi. Các ban nhạc trên đài phát thanh, các câu lạc bộ, phòng trà, nơi nào cũng muốn có ca sĩ Mộc Lan hiện diện…”.

Bài 3: Giai thoại cuộc tình Đoàn Chuẩn – Mộc Lan

Bấy lâu nay, trong giới nghệ sĩ vẫn lưu truyền có một mối tình thật lãng mạn giữa chàng nhạc sĩ phong lưu Đoàn Chuẩn và nữ ca sĩ lừng danh Mộc Lan. Chuyện tình này mang đậm phong cách hào hoa của “Đoàn công tử”. Thực hư như thế nào chỉ những người trong cuộc mới rõ.

Ở đây chúng tôi xin thuật lại như là một giai thoại. Xuất phát của giai thoại này có lẽ là từ bộ sách Chuyện tình các nhạc sĩ tiền chiến (2 tập) do nhạc sĩ Lê Hoàng Long biên soạn, trong đó có bài viết Gởi gió cho mây ngàn bay(Vũ Thái Hòa hát) nói về cuộc gặp gỡ và lối tỏ tình ly kỳ của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn với ca sĩ Mộc Lan. Nhiều bài viết (trên báo chí, trên mạng internet) và cả những lời kể hầu như đều dựa theo những tình tiết mà nhạc sĩ Lê Hoàng Long đã viết.

Nhạc sĩ Lê Hoàng Long

Người viết bài này cũng đã từng gặp gỡ những người trong cuộc (Lê Hoàng Long, Mộc Lan, Châu Kỳ) chỉ trừ nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (do ông ở ngoài Bắc và nay đã mất). Cuối năm 2002, khi thực hiện bài phỏng vấn tác giả ca khúc Gợi giấc mơ xưa(Vũ Khanh hát) tại tư gia của ông ở đường Cách Mạng Tháng Tám (gần Bệnh viện Thống Nhất – ngã tư Bảy Hiền), nhạc sĩ Lê Hoàng Long có tặng cho người viết bộ “Chuyện tình các nhạc sĩ tiền chiến”, do đó mới “thắc mắc” chuyện tình cảm giữa nữ danh ca sắc nước hương trời Mộc Lan và “Ông hoàng nhạc tình” Đoàn Chuẩn.

Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn

Như ở bài trước chúng tôi đã từng nói đến, nữ ca sĩ Mộc Lan nổi tiếng cả nước với bài hát Đi chơi chùa Hương của nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp. Bài hát này có những đoạn xen kẽ giữa hát và nói thơ cho nên rất dài và kén người hát. Dạo ấy (đầu những năm 1950), bài hát này hầu như chỉ có Mộc Lan độc diễn. Nàng là người gốc Hải Phòng nhưng vào Sài Gòn khá sớm (khoảng cuối thập niên 1940), lập gia đình với ca sĩ kiêm nhạc sĩ Châu Kỳ, rồi về quê chồng ở cố đô Huế sinh sống. Tuy nhiên, thỉnh thoảng nàng vẫn được mời đi lưu diễn, kể cả ra Bắc (sau năm 1954, chia đôi đất nước mới cách ngăn sự đi lại giữa hai miền). Và trong một lần hát Đi chơi chùa Hương ở Nhà hát Lớn (Hà Nội), giọng ca và sắc đẹp của nàng đã khiến một anh chàng đẹp trai, tài hoa và phong lưu bậc nhất thời đó ngây ngất. Chàng chính là nhạc sĩ Đoàn Chuẩn…

Thời ấy ở miền Bắc có những sản vật nổi tiếng được truyền khẩu và trở thành “ca dao, thành ngữ”: “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét” (dưa của làng La, cà của làng Láng, nem do làng Báng gói, tương do làng Bần làm, nước mắm của hãng Vạn Vân, cá rô sống ở Đầm Sét mới là món ngon đích thực). Đoàn Chuẩn chính là con của chủ hãng nước mắm Vạn Vân giàu có nức tiếng ở Hải Phòng. “Cái nết” ăn chơi của Đoàn công tử cũng là đề tài râm ran từ Hải Phòng đến tận Hà Nội (có lẽ chỉ thua bậc tiền bối là công tử Bạc Liêu ở trong Nam mà thôi). Chàng có hai thú đam mê, đó là âm nhạc và… ô tô! Về âm nhạc, ông từng học đàn guitar với nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ và học guitar Hawaii với nhạc sĩ Wiliam Chấn. Sáng tác đầu tay của ông là ca khúc Ánh trăng mùa thu (1947) ký tên Đoàn Chuẩn – Từ Linh (kể cả sau này, tất cả tác phẩm của Đoàn Chuẩn đều ký tên Đoàn Chuẩn – Từ Linh. Nhiều người cho rằng đến nay Từ Linh vẫn là một ẩn số, nhưng theo tìm hiểu của người viết thì Từ Linh tên thật Hà Đình Thâu, vốn là nhiếp ảnh gia và là em ruột một người bạn thân của Đoàn Chuẩn. Người được nhạc sĩ chia sẻ từng bản nhạc khi vừa viết xong cũng như trút hết bầu tâm sự về những bóng hồng đi qua đời mình. Sau 1954, Từ Linh vào Nam và mất năm 1992. Một tình bạn “tri âm, tri kỷ” rất đáng trân trọng. Về ô tô thì vào thời điểm đó ông có đến 6 chiếc, trong đó có chiếc Ford Frégatte (cả Việt Nam chỉ có 2 chiếc của ông và… Thủ hiến Bắc kỳ). Tài tử Ngọc Bảo, người cùng thời với nhạc sĩ đồng thời là giọng hát được coi là hát nhạc Đoàn Chuẩn thành công nhất từng thú nhận: “Tôi là tay ăn chơi có hạng nhất Bắc kỳ nhưng còn thua xa người lịch lãm, hào hoa Đoàn Chuẩn”… Đoàn Chuẩn kết hôn từ rất sớm (năm 1942), vợ ông là cô bạn cùng lớp, cùng 18 tuổi – tên Xuyên, đẹp người đẹp nết, chịu đựng sự hào hoa của chồng cũng như chung thủy chăm sóc ông cho đến cuối đời một cách rất đáng khâm phục…

Trở lại với sự kiện sau khi nghe nữ danh ca Mộc Lan hát Đi chơi chùa Hương ở Nhà hát Lớn (Hà Nội), “Đoàn công tử” quyết tâm chinh phục người đẹp nhưng thời gian nàng lưu lại Hà thành quá ngắn, không đủ thời gian cho công tử “xuất chiêu”. Khi Mộc Lan trở về Sài Gòn thì ít lâu sau chàng cũng đáp máy bay theo vào. Nhưng rồi qua dọ hỏi, chàng lâm vào tình trạng bẽ bàng khi biết được cành lan kia đã có chủ, nàng đã là vợ của nhạc sĩ Châu Kỳ. Tuy thế với cách “chơi ngông công tử”, Đoàn Chuẩn đã đặt một khoản tiền rất lớn cho một tiệm hoa, để mỗi buổi sáng người đẹp sẽ nhận được một bó hoa hồng tươi thắm mà không hề có tên người gửi tặng. Suốt 3 tuần đều đặn như thế, Mộc Lan không khỏi xúc động cũng như rất tò mò muốn biết người tặng hoa “mai danh ẩn tích” kia là ai? Nghĩ hết cách, nàng đành phải nhờ chủ tiệm hoa chuyển tới người ấy một bức thư cảm ơn với những lời lẽ chân thành nhưng cũng có những đoạn đầy ẩn ý. Được sự đồng ý của Đoàn Chuẩn, người chủ tiệm hoa đã tiết lộ tên và địa chỉ của “gã tình si hào hoa” – chính là… “Ông vua slow” Đoàn Chuẩn vang danh khắp nước. Mộc Lan thật bất ngờ và xúc động. Đoàn Chuẩn lại tiếp tục gửi tiền vào để tiệm hoa đều đặn tặng hoa cho nàng trong suốt hai tháng nữa… Rồi một ngày, Mộc Lan nhận được một cánh thư gửi từ phương Bắc. Trong phong bì không phải là những lời tỏ tình yêu thương mà là một bài hát. Khuông nhạc được kẻ bằng tay cẩn thận, ca từ được viết nắn nót trên tờ giấy pơ-luya xanh mỏng tang: “Gởi gió cho mây ngàn bay. Gởi bướm đa tình về hoa. Gởi thêm ánh trăng, màu xanh lá thư về đây với thu trần gian…”. Và dường như Đoàn Chuẩn cũng nhận biết đây là mối tình vô vọng nên lời ca càng trở nên da diết: “Nhưng thôi tiếc mà chi, chim rồi bay, anh rồi đi. Đường trần quên lối cũ, người đời xa cách mãi. Tình trần không hàn gắn thương lòng…”.

Ca sĩ Tâm Vấn

Cũng theo nhạc sĩ Lê Hoàng Long thì nhạc sĩ Đoàn Chuẩn còn viết Gởi người em gái (Tuấn Ngọc hát) tựa cũ: Gởi người em gái miền Nam, tặng riêng cho… ca sĩ Tâm Vấn (bạn thân của Mộc Lan). Người viết đã có may mắn được gặp bà Tâm Vấn trong một cuộc triển lãm tranh ở đường Lê Thánh Tôn (Q.1, TP.HCM), bèn đánh bạo hỏi bà chuyện này. Bà cười xòa: “Không, ông ấy làm bài này là để tặng cho Mộc Lan, bạn tôi”.

 Bài 4: Châu Kỳ – Mộc Lan dìu nhau vào mộng

Nàng là chim họa mi với tiếng hát lảnh lót, chàng là con bướm đa tình gieo rắc giọng hát tiếng đàn và cả những mối tình trên chặng đường lưu diễn…

Những năm đầu thập niên 1950, khởi đầu ở Sài Gòn và sau đó là ở Huế nổi lên một đôi uyên ương rực rỡ trên sân khấu ca nhạc, đó là đôi Châu Kỳ – Mộc Lan.

Người viết có được may mắn là chơi rất thân với nhạc sĩ Châu Kỳ khi ông đã gần… 80 tuổi. Tình bạn vong niên này kéo dài được khoảng 10 năm thì nhạc sĩ mất. Quen nhau bên những ly bia ở Hội quán Văn nghệ (81 Trần Quốc Thảo, Q.3, TP.HCM – gọi tắt là 81 TQT), người viết thuộc rất nhiều những ca khúc của Châu Kỳ và thường hát cho ông nghe (say mới dám hát). Ông ngồi im gật gù, đôi lúc “nhắc tuồng”. Dạo ấy, nhà ông ở tuốt bên Tân Quy Đông (Nhà Bè). Hằng ngày, ông đạp xe hơn 20 km đến 81 TQT chỉ để uống vài ly bia, nhìn mặt bạn bè, người quen cho đỡ nhớ rồi lại đạp xe về nhà. Có lẽ nhờ “hoạt động thể thao” này mà sức khỏe của ông khá dẻo dai, 80 tuổi vẫn còn minh mẫn. Ông cũng lập một “kỷ lục” ngồ ngộ: mất 18 chiếc xe đạp chỉ vì ham vui với bạn bè. Bạn bè sau đó cũng gom góp mua lại chiếc khác cho ông, nhưng ít bữa sau… lại mất! (nên họ nhại bài Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa của ông để trêu: “Mất xe này ta sắm xe kia…”). Đến khi nhà ông chuyển về phường Phước Bình (Q.9) xa đến 50 km ông mới giã từ chiếc xe đạp để chuyển qua đi xe ôm. Dăm bữa lại thấy ông đi xe ôm đến 81 TQT gặp bạn bè…

Châu Kỳ sinh năm 1923 tại làng Dưỡng Mong (Thừa Thiên-Huế). Cha ông là Châu Huy Hà, một nghệ nhân ca Huế. Chị ruột là Châu Thị Minh, được xem là nữ minh tinh duy nhất của miền Trung trong “Ngũ nữ minh tinh” (miền Nam có Phùng Há, Năm Phỉ, miền Trung: Châu Thị Minh, miền Bắc: Ái Liên, Bích Hợp). Ở Lycée Khải Định, Châu Kỳ được học nhạc với sư huynh Pière Thiều – giáo sư âm nhạc đầu tiên ở Huế. Vị này còn dạy cho Châu Kỳ kỹ thuật hát. Dạo đó hầu như chưa có nhạc Việt nên Châu Kỳ thường hát những bài do danh ca Pháp Tino Rossi thể hiện như J’ai deux amours, Tant qu’il aura étoiles, Òu vous étiez… đến nỗi bạn bè gọi ông là “Deuxième Tino Rossi”. Khi người chị Châu Thị Minh lập đoàn ca Huế hiệu Hồng Thu, Châu Kỳ trở thành ca sĩ chính của đoàn và nghiệp cầm ca khoác lên đời ông từ đấy.

Năm 1942, đoàn Hồng Thu lưu diễn ở Savanakhet rồi Thakhet (Lào). Ở Thakhet khi đang diễn vở kịch Hồn lao động thì Châu Kỳ bị mật thám Pháp bắt, đem lên giam ở Ba Vì. Rời nhà giam trở về Huế, Châu Kỳ bàng hoàng nghe tin mẹ mình bị chết đuối trong một cơn lũ. Những buổi chiều bên dòng Hương giang ngổn ngang tâm sự, Châu Kỳ viết nhạc phẩm đầu tay Trở về (1943): “Về đây nhìn mây nước bơ vơ. Về đây nhìn cây lá xác xơ. Về đây tìm bóng chiều mơ. Mong tìm mái tranh chờ. Mong tìm thấy người xưa…”. Nhạc phẩm Trở về đã gây một tiếng vang trong giới tân nhạc lúc đó với âm hưởng buồn man mác, càng nghe càng thấm thía. Từ đó cho đến cuối đời, Châu Kỳ đã viết khoảng 200 nhạc phẩm. Về ca từ, ông đã viết được những câu “xuất thần”, chẳng hạn để tả nét đẹp của cô gái Huế, ông chỉ cần 3 câu: “Buổi trưa em che nón lá, cá sông Hương liếc nhìn ngẩn ngơ, lũ chim quyên ngất ngây từ xa…” (Huế xưa)…

Tài hoa như thế nên Châu Kỳ cũng là khách đa tình. Từ những cô gái Lào gặp trên đường lưu diễn, rồi cô tiểu thư con quan thượng thư triều đình Huế (nhân vật chính trong ca khúc Giọt lệ đài trang) đến cô nữ sinh Đoàn Thị Sum ở Nha Trang đã vì tình mà quyên sinh bởi bị bố dượng ngăn cấm (mối tình này được nhạc sĩ viết thành nhạc phẩm Nha Trang, sau này bà Kha Thị Đàng – vợ ông sửa tựa thành Nha Trang hoài nhớ). Bi kịch này xảy ra khi Châu Kỳ đang đi diễn ở Phan Rang. Nghe tin cô Sum tự tử, Châu Kỳ cũng quyết hủy mình theo, nhưng bà chị Châu Thị Minh khóc lóc, khuyên giải nên Châu Kỳ bỏ vào Sài Gòn (năm 1947) để tìm quên.

Sài Gòn chính là nơi định mệnh đã chọn để tạo nên một hiện tượng của làng ca nhạc thời đó với sự xuất hiện của cặp uyên ương Châu Kỳ – Mộc Lan. Chàng là ca sĩ – nhạc sĩ tài hoa, nàng là con họa mi giọng ca vang khắp Bắc – Trung – Nam. Chính nàng đã cho chàng nếm trải hạnh phúc và cũng chính nàng đã cứa vào tim chàng những vết thương đớn đau tưởng chừng không bao giờ nguôi…

Gần 60 năm sau (tức những năm 2000 – NV), mối tình này được nhạc sĩ Châu Kỳ nhiều lần kể riêng với người viết. Rằng khi vào Sài Gòn, ông ở đậu nhà nhạc sĩ Mạnh Phát. Hai người thành lập nhóm “Thần Kinh nhạc đoàn” (sau này là ban nhạc Tiếng Thùy Dương). Một năm sau, nàng ca sĩ gốc Hải Phòng cũng có mặt tại Sài Gòn. Những ngày “chân ướt, chân ráo” ở Sài thành, nàng được nữ ca sĩ Minh Diệu (vợ nhạc sĩ Mạnh Phát) cưu mang. Vậy là tài tử và giai nhân gặp nhau trong căn nhà của một cặp nghệ sĩ cũng rất ư “tài tử, giai nhân”. Tiếng sét ái tình đến ngay từ cái nhìn đầu tiên. Rồi chàng dắt dìu nàng đi hát ở các rạp Văn Cầm (gần cầu chữ Y), Aristo (đường Lê Lai), Thanh Bình (đường Phạm Ngũ Lão), Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), Khải Hoàn (đối diện chợ Thái Bình)… Chỉ chưa đầy nửa năm, họ chính thức trở thành vợ chồng. Rồi chàng đưa nàng về Huế ra mắt gia đình. Cả hai vợ chồng sau đó được ông Thái Văn Kiểm – Giám đốc Nha Thông tin và Đài Phát thanh Huế là chỗ thân tình tạo điều kiện cho được hát thường xuyên trên đài với mức lương 3.800 đồng/tháng – một mức lương khá hậu hĩnh vào thời điểm bấy giờ.

Ở Huế, danh tiếng của đôi uyên ương Châu Kỳ – Mộc Lan nhanh chóng nổi như cồn, mặc dù ở đất Thần Kinh lúc đó cũng có một đôi vợ chồng nghệ sĩ nổi tiếng không kém, đó là nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết và ca sĩ Ngọc Cẩm (song thân của ca sĩ Hồng Hạnh bây giờ). Có thể nói đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhưng cũng thật ngắn ngủi – một kỷ niệm đẹp nhưng đau thương của nhạc sĩ Châu Kỳ…

 Bài 5: Khúc ly ca

Chàng là nhạc sĩ tài hoa, nàng là ca sĩ nổi tiếng – định mệnh đã đưa họ đến với nhau, yêu nhau ngay lần gặp đầu tiên.

Rồi họ nên duyên vợ chồng, trở thành đôi uyên ương đẹp đôi và nổi tiếng một thời. Tiếc rằng, họ đã không dìu nhau đi hết con đường nghệ thuật cũng như đường đời, để cho nhạc sĩ Châu Kỳ phải đau đớn viết nên Khúc ly ca…

Như chúng tôi đã đề cập ở bài trước, Châu Kỳ và Mộc Lan gặp nhau ở Sài Gòn qua “nhịp cầu” của cặp vợ chồng nghệ sĩ Mạnh Phát – Minh Diệu. Chỉ ít tháng sau, họ tổ chức lễ cưới và đưa nhau về Huế ra mắt gia đình chồng. Tại Huế, họ được ông Thái Bá Kiểm – Giám đốc Nha Thông tin và Đài Phát thanh Huế nâng đỡ, tạo điều kiện cho họ được biểu diễn thường xuyên trước công chúng cũng như trên sóng phát thanh với mức lương khá hậu hĩ. Tuy nhiên, cái “tổ uyên ương” của họ chỉ là “… một căn phòng nhỏ phía sau Ty Thông tin Huế dưới chân cầu Tràng Tiền. Căn phòng quá nhỏ cho đôi uyên ương quá nổi tiếng ở đất Thần Kinh…” (trích trong Những trang sách khép mở – Trần Áng Sơn). Phải chăng đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho cuộc hôn nhân của họ mau chóng đổ vỡ?

Sinh thời, nhạc sĩ Châu Kỳ đã từng nhiều lần tâm sự với người viết: Chung sống ở Huế được 6 năm thì nàng “phải lòng” và đi lại với một người bạn học cũ của Châu Kỳ – người này là con một bà chúa (hoàng tộc), chủ sòng xóc đĩa ở Kim Long (Huế). Vì chuyện đau lòng này mà Châu Kỳ đành đưa vợ trở vào Sài Gòn để giấu không cho gia đình mình biết và cũng để ngăn trở đôi tình nhân. Tuy nhiên, Châu Kỳ vẫn không ngờ tình địch vẫn bám theo. Ở Sài Gòn, đôi nhân tình vẫn hẹn hò, gặp gỡ nhau… Lời ong tiếng ve râm ran nên Châu Kỳ quyết theo dõi vợ. Ông nhờ nhà thơ Đặng Văn Nhân (người đứng ra tổ chức đám cưới cho Châu Kỳ và nàng) chở đi bằng xe hơi bám theo nàng vào tận Chợ Lớn. Châu Kỳ không đủ can đảm chứng kiến người đã từng cùng mình “hương lửa mặn nồng” nay lại ở trong vòng tay người khác nên nhờ ông Đặng Văn Nhân đi bộ theo dõi, còn mình ngồi lại trong xe. Khi ông Nhân trở ra kể lại sự tình, Châu Kỳ thấy trời đất như sụp đổ, ông tông cửa xe, định đâm đầu xuống sông tự tử, may nhờ có ông Nhân ôm ghì lại. Người viết hỏi: “Rồi ông có gặp lại nàng?”. “Có, nhưng mà cũng lâu lắm rồi. Đó là hôm đám tang nhạc sĩ Lê Thương (1996 – NV), cô ấy đi cùng ca sĩ Tâm Vân đến phúng điếu. Chúng tôi chỉ chào hỏi xã giao. Không nói chuyện gì nhiều. Chuyện cũ cũng đã vời xa quá rồi!”.

Chuyện trên là do đích thân nhạc sĩ kể với người viết. Ông không nói tên tình địch, nhưng trong tập sách Những trang sách khép mở, nhà văn Trần Áng Sơn cũng có đề cập đến nhân vật này. Đó là một người đàn ông tuy lớn tuổi nhưng có ngoại hình rất thu hút, khuôn mặt quyến rũ, được mọi người kính trọng gọi là Mệ Phủ (“mệ” là tước hiệu chỉ người thuộc hoàng tộc). Mệ Phủ là trung úy Ngự lâm quân bảo vệ hoàng cung. “Ông ta thường đến thăm các chị tôi vào những buổi chiều, lúc nào cũng mang quà cáp cho mọi người, nhất là các chị tôi. Ông tự lái chiếc xe jeep hiệu “Lăng-Rô-vơ”, tiếng máy nổ rất êm… Mỗi lần ông đến, chị Ngọc tôi mừng rỡ như muốn reo lên. Cũng dễ hiểu, thường thì quà tặng chị là món quà lớn nhất, đẹp nhất. Sau đó, ông còn lái xe đưa cả nhà khi thì đi nhà hàng, khi xem phim ở rạp Morin, cũng có lúc ông đưa cả nhà đi thăm khắp các di tích, dinh thự các đời vua Nguyễn. Tuy tặng những món quà đắt nhất, đẹp nhất cho chị Ngọc nhưng người ông chú ý lại là cô em Mộc Lan, con họa mi tuyệt sắc của cố đô Huế. Tôi nhận ra điều này vì thời gian gần đây anh Châu Kỳ ít đi chung với chị tôi, nhất là trong những lần có sự hiện diện của vị khách quý tộc… Rồi, anh Châu Kỳ đã công khai phản đối gia đình tôi về sự hiện diện quá ư đặc biệt của Mệ Phủ. Với tư cách gia trưởng, anh Long tôi không chấp nhận thái độ của em rể. Cuộc xung đột đi đến kết quả đổ vỡ. Ít lâu sau, anh Long có lệnh gọi nhập ngũ. Anh Châu Kỳ và chị tôi vào Sài Gòn và họ chia tay nhau” (Những trang sách khép mở – Trần Áng Sơn).

Đây là giai đoạn đầy những đau thương, u uất chất chứa trong nhiều ca khúc của Châu Kỳ: Khúc ly ca (Phương Thanh hát), Từ giã kinh thành, Đàn không tiếng hát, Biệt kinh kỳ, Khuya nay anh đi rồi, Tìm nhau trong kỷ niệm, Hương giang tôi còn chờ, Đừng nói xa nhau, Tiếng ca đó về đâu (thơ Nguyễn Tiến Thịnh) và nhất là ông đặt lời cho ca khúc Mưa rơi (Hà Thanh hát) của anh bạn nhạc sĩ hoàng tộc Ưng Lang, lúc đó ở Huế đi đâu cũng nghe thanh niên hát: “Mưa rơi chiều nay vắng người. Bên thềm gió lơi. Mơ bóng ngàn khơi… Mưa rơi màn đêm xuống rồi. Mây sầu khắp nơi. Thương nhớ đầy vơi… Ai đi như xóa bao lời thề. Thuyền theo nước trôi không về, thấu cùng lòng ai não nề, riêng chốn phòng khuê… Mưa rơi đìu hiu dưới trời. Đêm dài vắng ai. Thương nhớ nào nguôi…”.

Nhạc sĩ Ưng Lang (sinh năm 1919, lớn hơn nhạc sĩ Châu Kỳ 4 tuổi), cũng vốn là chỗ thân thiết với người viết (ông từ trần ngày 17.8.2009 tại TP.HCM). Khi tôi hỏi ông về chuyện nhạc sĩ Châu Kỳ đặt lời cho bài Mưa rơi, ông nói: “Bài hát tôi làm lúc đó đã xong cả nhạc lẫn lời. Thế rồi Mộc Lan xa Châu Kỳ mà đi Hà Nội. Châu Kỳ có tâm sự buồn như vậy cho nên khi thấy bài hát của tôi thì đề nghị cho thay đổi vài chỗ trong lời hát cho gần với cảnh ngộ của mình! Tôi đồng ý để Châu Kỳ sửa vài chỗ như thế và đồng ý để Châu Kỳ đứng tên nơi phần lời ca cho đúng với nguyện vọng về mặt tình cảm riêng tư của anh ấy…”.

Đôi uyên ương rẽ cánh, mỗi người bay đi một ngả kể từ lúc ấy…

Bài 6: Hậu Châu Kỳ – Mộc Lan

Họ đã từng có một thời gian chung sống rồi chia tay… Dòng đời cuốn mỗi người về một phía, ở đó họ lại gặp ý trung nhân của riêng mình sau những trải nghiệm về hạnh phúc lẫn khổ đau.

Khoảng năm 1954, đôi uyên ương Châu Kỳ – Mộc Lan từ Huế vào Sài Gòn thì chia tay nhau. Mộc Lan trở về với nếp sống độc thân. Lúc này Mộc Lan đã rất thăng tiến trong lĩnh vực ca hát, tên tuổi của cô nổi như cồn. Cô thuê một căn phòng ở khách sạn Viễn Đông trên đường Phạm Hồng Thái mà hầu như lúc nào cũng nườm nượp khách ra vô. Khách của Mộc Lan phần đông là người trong giới nghệ thuật: nhạc sĩ, ca sĩ, kịch sĩ, họa sĩ, kịch tác gia… Hầu hết họ đến là để liên hệ công việc nghề nghiệp nhưng cũng có những người tự nguyện đến “trồng cây si” trước người phụ nữ “ngọt ngào như một thỏi sô-cô-la” (chữ dùng của Trần Áng Sơn).

Trong số những người ái mộ này có một “ông vua”. Đó chính là nhạc sĩ Hoàng Trọng – Trưởng ban nhạc Tiếng Tơ Đồng mà Mộc Lan đang là ca sĩ chính. Kể cũng lạ, số phận đưa đẩy để Mộc Lan luôn là đối tượng say mê của những ông vua, ông hoàng… không ngai. Hết nhạc sĩ Đoàn Chuẩn “ông hoàng slow” lại đến nhạc sĩ Hoàng Trọng “vua tango” (chưa kể nhạc sĩ Châu Kỳ cũng xứng đáng được gọi là “vua nhạc trữ tình”). Họ được giới mộ điệu xưng tụng và thừa nhận là “vua” của một thể loại âm nhạc nào đó, rồi nghiễm nhiên “lên ngôi” mà không một ai tranh chấp. Hoàng Trọng có nhiều ca khúc nổi tiếng như Gió mùa xuân tới, Dừng bước giang hồ, Ngàn thu áo tím…, nhưng những bài hát viết theo điệu tango mới được coi là “thương hiệu” của ông (Mộng lành, Mộng ban đầu…). Nhà văn Trần Áng Sơn nói về Hoàng Trọng như sau: “Trong con mắt tôi, anh không phải là mẫu người phụ nữ thích. Người tầm thước nhưng hơi nặng nề, nước da ngăm bì bì, gương mặt không có cá tính. Tuy nhiên, tính anh lại rất hiền, củ mỉ cù mì, ít nói, thuộc loại tán gái bằng cách ngồi lì, chẳng nói và có lẽ cũng chẳng liếc mắt đưa tình. Anh rất thường đến thăm chị tôi, mỗi lần anh đến, anh ngồi một đống. Đến âm thầm khi về cũng lặng lẽ. Lối tán này hình như làm chị tôi… hết chịu nổi! Có vẻ như anh không phải là kẻ đi chinh phục, lại không biết gì về tâm lý phụ nữ và thế là anh bị “knock-out” ngay ngưỡng cửa nhà tôi” (Những trang sách khép mở).

  Nhạc sĩ Hoàng Trọng

Điều đáng nói là Châu Kỳ và Hoàng Trọng có một tình bạn thâm giao. Họ từng đứng tên chung trong vài tác phẩm (nhạc Hoàng Trọng, lời Châu Kỳ) như: Nhắn người giang hồ, Tiếng nhạc trong sương, Hững hờ (bài Hững hờ chính là món quà tỏ tình của Châu Kỳ với người vợ sau của ông).

Riêng về Châu Kỳ, sau khi chia tay Mộc Lan, ông sống u uất một thời gian dài. Rồi số phận run rủi cho ông gặp cô nữ sinh Kha Thị Đàng ở nhà một người bạn. 18 tuổi, cô hoa khôi của trường Nữ trung học Gia Long đẹp e ấp như một đóa hoa hàm tiếu (liệt sĩ Kha Vạng Cân là con ông bác ruột, nhưng do cha mất sớm nên được thân phụ Kha Thị Đàng đem về nuôi, sau tham gia cách mạng). Trong hồi ký Thi Đàng Kỳ Duyên, bà Kha Thị Đàng (nay đã 73 tuổi) nhớ lại: “Có vài lần tôi gặp anh Châu Kỳ tại nhà Hương (bạn cùng lớp), anh được ba má và anh Triệu (anh của Hương) rất quý trọng. Riêng tôi cũng chào hỏi dăm ba câu chuyện nhỏ, dửng dưng và vô tư. Rồi một ngày định mệnh đã đến, anh tìm gặp riêng tôi và tặng tôi bài nhạc Hững hờ do anh mới sáng tác (thực ra là sáng tác chung của Hoàng Trọng và Châu Kỳ), với lời tặng “Trách ai khéo hững hờ…”. Sự xúc cảm đột ngột của đứa con gái mười tám tuổi đời như một sức mạnh an bài số phận cho tôi sau này. Tôi biết gia đình, tía má, anh chị đều không vui với tình duyên của chúng tôi nhưng với tình thương con, thương em, dù rất miễn cưỡng cũng có một tiệc cưới nhỏ trong gia đình và giúp chúng tôi tổ chức một tiệc cưới khá linh đình với hơn một trăm khách tại nhà hàng lớn ở đường Tản Đà. Bạn bè, khách yêu nhạc cùng tất cả nghệ sĩ tân nhạc và cả nghệ sĩ cải lương của thành phố đều có mặt. Đây là một đám cưới nghệ sĩ được tổ chức trong tình thương mến thương…”.

Là con gái một gia đình vọng tộc họ Kha, tổ tiên gắn bó với vùng đất Sài Gòn – Chợ Lớn từ thời khai hoang mở cõi, truyền thống gia đình thấm nhuần đạo lý Khổng Mạnh cho nên việc cô nữ sinh 18 tuổi yêu và quyết định lấy một anh chàng nghệ sĩ lớn tuổi, dở dang một đời vợ quả là một quyết định quá khó khăn với cô. Sau khi cưới, cô Đàng phải thích nghi với kiểu sống “lang bạt kỳ hồ” của đời nghệ sĩ: ăn cơm quán, ngủ nhà mướn. Sáng ngủ, trưa ăn sáng, chiều ăn trưa, tối đi hát, khuya ăn chiều. Thời gian này, Châu Kỳ vừa viết nhạc, vừa làm ca sĩ, rồi viết kịch kiêm luôn diễn viên. Rất nhiều nơi mời ông đến hát, nhất là các rạp chiếu bóng (dạo đó, trước khi chiếu phim, người ta thường tổ chức chương trình phụ diễn văn nghệ: hát vài bài tân nhạc hoặc diễn một vở kịch ngắn). Rồi Châu Kỳ thành lập đoàn Cổ kim hòa điệu Tiếng Thùy Dương. Có thể nói trên sân khấu Sài Gòn, Châu Kỳ là người đầu tiên đem các nhạc cụ cổ truyền như đàn tranh, đàn bầu, đàn cò, đàn nguyệt hòa tấu cùng guitar, piano, violon… Người giới thiệu chương trình (bây giờ gọi là MC) cho Tiếng Thùy Dương chính là Kha Thị Đàng, cô luôn xuất hiện trong trang phục toàn trắng: bộ áo dài lụa trắng, tay mang găng trắng, đi giày trắng… hết sức duyên dáng.

Khi Châu Kỳ bước vào thời kỳ đỉnh cao cũng là lúc ông lao vào những cuộc rượu thâu đêm suốt sáng với bạn bè và những người đẹp. Lúc đó, bà Kha Thị Đàng như sống ẩn mình, không thường xuất hiện bên ông nữa, cũng “không thèm” ghen với những bóng hồng luôn vây quanh ông. Để không bị mang tiếng là sống nhờ vào danh tiếng, tiền bạc của chồng, bà xin vào làm kế toán trong nhà máy giấy Tân Mai (Cogivina – Biên Hòa, nay thuộc tỉnh Đồng Nai)… Nhạc sĩ Châu Kỳ tuy đang “hư” như vậy nhưng vẫn có những điểm dễ thương: mỗi đêm dù về khuya đến mấy ông cũng vẫn mang về một món ngon cho vợ con. 6 giờ sáng ông chở vợ ra trạm đợi xe đến rước bà đi làm, 4 giờ rưỡi chiều lại có mặt tại trạm đón bà về hoặc chở vợ ra xa lộ hóng mát…

Những xa hoa, phù phiếm cũng tan sau ngày 30.4.1975, bà Kha Thị Đàng lại phải vừa nuôi 4 đứa con (3 trai, 1 gái) vừa “chăm sóc” chồng. Khi những khó khăn của cuộc sống qua đi thì ông bà cũng đã ở vào ngưỡng xế chiều, người viết vui mừng khi thấy họ luôn tay trong tay một cách hạnh phúc. Ông vẫn minh mẫn sáng tác cho đến cuối đời… Ông nằm liệt giường gần 2 tháng, khi người viết cùng ông Nguyễn Tiến Toàn (chủ doanh nghiệp xe lăn tay Kiến Tường) đến thăm, ông còn bảo bà mua bia về đãi khách… 6 giờ sáng ngày 6.1.2008, người viết đang leo đến lưng chừng núi Bà Rá (khi đi ghi nhận giải việt dã Chinh phục đỉnh cao Bà Rá) thì nhận được điện thoại của bà Kha Thị Đàng: “Nguyên ơi, anh Kỳ đã ra đi lúc 4 giờ sáng nay rồi!”. Tôi ngồi sụp xuống, không thể leo núi được nữa…

Hà Đình Nguyên

Nữ Danh Ca Mộc Lan, tiếng hát “Em đi Chùa Hương, Gái Xuân” đã vào cõi vĩnh hằng

              Ảnh chụp ca sĩ Mộc Lan và Trần Quốc Bảo tại nơi cô ở ngày mùng 6 Tết âm lịch năm 1996

Người viết gặp cô Mộc Lan lần đầu cũng là lần duy nhất, hình như đó là ngày mùng 6 Tết âm lịch của năm 1996. Chẳng nhớ ai đã chở đi nhưng sau nhiều lần tìm kiếm, hỏi han, tôi đã tìm được căn nhà cô ở cuối một con hẻm nhỏ đường Lê Văn Sỹ quận 3. Nơi người nữ danh ca này trú ẩn, chỉ có thể gọi là cái chái nhà, không thể nào đủ cho mấy mẹ con chui ra rúc vào thoải mái. Lúc ấy cô Mộc Lan còn phải săn sóc cho một cô con gái khoảng ba mươi mấy tuổi hình như đang bị bệnh tâm thần, vậy mà cô đã sống như thế – không một lời than van hay ta thán – suốt mấy chục năm trời trong cảnh bịnh tật và nghèo khổ.
Khoảng 5g sáng thứ hai ngày 11 tháng 5 tuần này (giờ Cali), người viết nhận được một lá thư email của nữ ca sĩ Bạch Yến gửi đến báo tin:
“EmTrần Quốc Bảo thân mến,
Chị vừa nhận được tin chị Tâm Vấn từ VN báo: “Chị đau buồn báo tin chị Mộc Lan đã mất sáng nay lúc 8g 30 ngày 11/5/2015, tin này do con gái của chị Mộc Lan ở Mỹ gửi về Sài Gòn cho chị biết. Ở đây đang chờ con chị Mộc Lan từ Mỹ về mới lo đám tang. Em nhận tin này, em cho ngay Thu Hương biết giùm chị. Chị đã thông báo nhiều nơi rồi. Nhớ hôm nào hai chị em mình đi thăm Mộc Lan còn hát vui vẻ”..”

Chỉ cần đọc đến đó, tôi cảm thấy một nỗi bàng hoàng lan tỏa tứ thân và có cảm giác mình không thể nào còn ngồi trên bàn viết được nữa. Nằm xuống giường chỉ được vài phút, tôi lại nhớ đến buổi tao ngộ lần đầu với cô Mộc Lan trong cái chái nhà bé nhỏ ở cái hẻm Lê Văn Sỹ hồi 19 năm xưa..Lúc đó phố xá ngoài kia đón Tết xôn xao, nhưng trong căn nhà của một danh ca lừng lẫy một thời, chỉ có những tiếng thở dài chứa biết bao niềm u uất. Tôi ngồi đối diện với cô, có lúc hình như Mộc Lan cố nhắm chặt đôi mắt như muốn ngăn giòng lệ tuôn trào. Dáng nàng bất động như một pho tượng đá đang hứng chịu những ngọn roi nghiệt ngã của thời gian và định mạng.
Tôi nhớ mình trước khi ra về, có hỏi cô Mộc Lan một câu hỏi chót: “Có khi nào cô nhớ đến ánh đèn sân khấu”, lúc ấy,cô mới thật sự bật khóc và nói: “Tất cả cực khổ tôi đều chịu đựng được, chỉ có nỗi nhục mới làm đau tôi.. Bạn bè, thân hữu ở hải ngoại có nhiều nhưng tôi không muốn làm phiền ai vì lòng tự trọng”..
Lời nói ngậm ngùi đó, đã làm người viết nhớ đến một câu nói của thi hào Tô Đông Pha: “Cố nhân các tại thiên nhất giác.Tương vọng lạc lạc như thần tinh”.. Bạn bè tản mác chia xa,mỗi người một nơi, nhìn quanh rải rác như sao ban mai.. Đêm mưa vắng lạnh, nỗi sầu vô hạn, nghẹn ngào biết khóc cho ai..
19 năm đã trôi qua, nhưng lời nói của cô Mộc Lan khi tiễn chân tôi ra cửa, vẫn còn ghi đậm trong lòng tôi mãi. Những ngày sắp tới, để tưởng nhớ về Mộc Lan, một tài năng đầy kính trọng, Thế Giới Nghệ Sĩ sẽ thực hiện một số báo hoài niệm về giọng ca tuyệt vời này. Mời bạn đọc đón xem.

(trích bài viết của Trần Quốc Bảo đăng trong tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 14 (trong báo Việt Tide) phát hành ngày thứ sáu 15 tháng 5 năm 2015)

Tài liệu từ Nhạc sĩ Trần Quang Hải, Nhà báo Hà Đình Nguyên, MC/Nhà báo Trần Quốc Bảo (Tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ). Phần lớn nhạc từ Jonathan Tran và website http://music.hatnang.com 

  ** VUI LÒNG GỞI THÊM TÀI LIỆU VÀ Ý KIẾN XÂY DỰNG VỀ PHAN ANH DŨNG: dathphan1@gmail.com **

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1240&Itemid=47