Tag Archives: tran van khe

HỒNG BÍCH : GS. Trần Văn Khê – Lá đã rụng về cội


GS. Trần Văn Khê - Lá đã rụng về cội

GS. Trần Văn Khê – Lá đã rụng về cội

Thứ Tư, 01/07/2015 09:30 (GMT+7)

 

Doanh nhân Sài GònNhững ngày tháng 6 giữa mùa Hè, truyền thông đưa tin sức khỏe GS. Trần Văn Khê ngày một xấu đi, và ông đã giã từ cõi tạm vào sáng ngày 24/6, để lại bao nỗi tiếc nhớ trong lòng những người yêu kính ông. Lá đã rụng về cội thật rồi, nhưng ông vẫn tình nguyện làm một chiếc lá bồi đắp cho đất mẹ thêm phong phú, màu mỡ!

Đọc E-paper

GS. Trần Văn Khê được Giải thưởng lớn Hàn lâm viện Đĩa hát Pháp, Giải thưởng Đại học Pháp, Giải thưởng Dân tộc Nhạc học năm 1960 và 1970, Tiến sĩ danh dự về Âm nhạc Đại học Ottawa (Canada, 1975), Giải thưởng lớn về Âm nhạc UNESCO và Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (1981), Huân chương Nghệ thuật và Văn chương cấp Officier do Bộ Văn hóa Chính phủ Pháp tặng (1991), Giải thưởng Quốc tế về Dân tộc Nhạc học KOIZUMI Fumio (Nhật, 1995), Tiến sĩ danh dự về Dân tộc Nhạc học Đại học Moncton (Canada, 1999).

Giáo sư đã về với cội nguồn của mình. Lần thứ nhất ông về, không phải ngay tại Việt Nam, mà ở Paris, bằng tài năng thiên phú, ông hướng con đường nghệ thuật của mình vào phục vụ văn hóa dân tộc từ thập niên 1960. Thành lập Trung tâm Nhạc học Đông phương tại Paris chuyên dạy các môn âm nhạc truyền thống châu Á theo phương pháp truyền khẩu và truyền ngón (năm 1959). Tại đây ông làm nhiệm vụ Giám đốc Nghệ thuật và chuyên dạy đờn ca tài tử (tranh, kìm, cò).

Suốt 30 năm, trung tâm này đã đào tạo được trên 150 sinh viên Pháp và các nước am hiểu về nhạc tài tử Việt Nam. Ông làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học Pháp từ chức vụ khởi đầu là tùy viên đến giám đốc nghiên cứu với chuyên ngành ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam, đặc biệt trong đờn ca tài tử và các cách chuyển hệ (Metabole); so sánh âm nhạc đờn ca tài tử với âm nhạc thính phòng của nhiều nước khác ở châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn Độ. Và còn rất nhiều việc khác như xuất bản băng đĩa, viết báo về âm nhạc dân tộc Việt Nam bằng tiếng nước ngoài để truyền bá văn hóa Việt rộng rãi.

Lần thứ hai ông trở về với cội nguồn bằng ý chí và quyết tâm, tha thiết muốn về sống tại Việt Nam, đưa gia tài văn hóa của ông về đây để cống hiến và phục vụ ngay trong lòng cái nôi văn hóa Việt. Những hồ sơ hàng nghìn trang để trình UNESCO xem xét về nghệ thuật đờn ca tài tử, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đều có sự tư vấn quan trọng của GS. Trần Văn Khê.

Chúng tôi đã gặp ông ngồi trên xe lăn đi đến tận các bản làng Tây Nguyên vào năm 2007. Ở đấy ông đắm mình vào một bản nhạc hoang dã của người Bana, hay sẵn lòng nói chuyện hàng tiếng đồng hồ về giá trị âm nhạc của từng dân tộc với các nhạc công núi rừng, dặn dò họ cố gắng gìn giữ, đừng để du lịch và thương mại lấn át, làm phôi phai các giá trị văn hóa nguyên bản.

Khi lắng nghe ông nói chuyện, tôi thấy rất xúc động trước hình ảnh con người đã đi đến chặng cuối cùng của đời người, sức khỏe không còn bao nhiêu mà ông vẫn tận tụy với từng nhạc công vô danh nếu như họ biết trân trọng âm nhạc của dân tộc họ giữa chốn núi rừng hoang sơ.

Và khi những tin tức xấu về sức khỏe của ông lan truyền, nhiều người Hội An bỗng nhớ đến hình ảnh một người thầy nhỏ bé nhưng có sức mạnh lan truyền cảm hứng khi ông ngồi xe lăn ở quảng trường sông Hoài nói chuyện giữa trời nắng chang chang. Sức mạnh của văn hóa đôi khi kết nối bất chấp tuổi tác, thời gian và sự khắc nghiệt của đời sống là vậy.

Chắc chắn người Hội An, người Tây Nguyên, người đờn ca tài tử vùng sông Tiền, sông Hậu sẽ nhớ ông da diết. Những em bé học sinh ở TP.HCM đã từng được ông đến tận trường nói chuyện về âm nhạc sẽ nhớ ông, và biết đâu sẽ có những hạt giống nảy nở, lớn mạnh. Và một người bạn đi trước, nhạc sĩ Phạm Duy, sẽ chờ đón ông, bởi hai người đã từng có những khoảng thời gian quý giá bên nhau trao đổi về âm nhạc.

Nhạc sĩ Phạm Duy xúc động vì một người bạn uy tín đã chiêm nghiệm âm nhạc của mình một cách sâu sắc và bài bản qua một cuốn sách nhỏ. GS. Trần Văn Khê thì khiêm cung đáp lại rằng ông chỉ thưởng thức một tài hoa âm nhạc qua cái nhìn văn hóa dân tộc. Tình bạn Phạm Duy – Trần Văn Khê sẽ nối dài ở cõi khác, từ nay!

Sự trở về Việt Nam của ông đã hình thành nên một địa chỉ văn hóa mới cho người Sài Gòn. Ngôi nhà ông ở giống như một điểm sinh hoạt âm nhạc dân tộc, một thư viện lớn cho thế hệ sau muốn tìm kiếm kiến thức âm nhạc dân tộc một cách hệ thống.

Rồi sau sự ra đi của ông sẽ còn có một Quỹ học bổng Văn hóa Trần Văn Khê, ông vẫn chìa tay cho thế hệ mai sau với những ấm áp, ân cần và hết sức thực tế như thế! Gia tài văn hóa đồ sộ ông để lại vừa hữu hình, vừa vô hình tùy theo cảm nhận của từng người. Nhưng cách sống, làm việc và cống hiến của ông là một hình ảnh và kinh nghiệm vô giá cho người hoạt động văn hóa trong nước học hỏi sự chuyên nghiệp.

> GS-TS Trần Văn Khê – Đại thụ âm nhạc, chuyên gia văn hóa ẩm thực

> Âm nhạc dân tộc chứa đựng những câu chuyện tâm linh

> Âm nhạc dân tộc về Thăng Long hội tụ

> Thủy chung với nghề làm đàn dân tộc

HỒNG BÍCH

Giới thiệu sách: Trí Huệ Để Lại Cho Đời /TRẦN VĂN KHÊ


tran van khe tu truyen

Ngày 24/6/2015, GS.TS Trần Văn Khê qua đời để lại một mất mát to lớn đối với Việt Nam, đặc biệt là nền âm nhạc nước nhà. Bởi GS.TS Trần Văn Khê không chỉ là người có công đầu trong việc quảng bá nền âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới mà còn là “một nhà văn hóa phi thường”. Trong hơn 90 năm, Giáo sư đã để lại một kho tư liệu đồ sộ, không chỉ về âm nhạc truyền thống Việt Nam mà còn là văn hóa Việt Nam mà suốt một đời ông đã miệt mài nghiên cứu. Trong những tư liệu quý giá đó, còn có một tư liệu quan trọng không kém, đó chính là cuộc đời của Giáo sư với những bài học, kinh nghiệm sống của ông qua hai thập kỷ. Tất cả được gửi gắm trong cuốn sách Tự truyện Trần Văn Khê – Những câu chuyện từ trái tim.
Tự truyện Trần Văn Khê – Những câu chuyện từ trái tim được Công ty Văn Hóa Sáng Tạo Trí Việt First News xuất bản vào tháng 7 năm 2010 nhân dịp Giáo sư tròn 90 tuổi. Quyển sách đã phác họa một cách giản dị, ấm áp chân dung một cây đại thụ trong nền âm nhạc Việt Nam, được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt với gần 15.000 cuốn sách qua 5 lần tái bản. Quyển sách đã mang lời động viên chân tình đến những ai đang đối diện với bão táp cuộc đời, hay đang chùn bước trong hành trình chinh phục ước mơ hoặc đang băn khoăn trước những ngã rẽ cuộc sống.

https://tranvankhe1921.wordpress.com/2015/09/03/gioi-thieu-sach-tri-hue-de-lai-cho-doi-tran-van-khe/

ÁI LAN : Lịch sử hai cây đờn đã giúp anh Trần-văn-Khê đoạt giải ở đại nhạc hội BUDAPEST, năm 1949


http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20150625/tho-cho-ban-o-parislich-su-hai-cay-don-da-giup-anh-tranvankhe-doat-giai/766872.html

THƠ CHO BẠN Ở PARIS

Lịch sử hai cây đờn đã giúp anh Trần-văn-Khê đoạt giải

Ba tuần sau khi đăng trân trọng ngay ảnh bìa nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê dự Đại hội âm nhạc sinh viên Budapest (Hunggari), Việt báo số 21-1949 tiếp tục đăng ảnh bìa về người nhạc sĩ trẻ này với bài viết bên trong về hai cây đờn mang đi thi của nhạc sĩ sinh viên Trần Văn Khê.

 tvk trên đường sang Hongrie ghé Thụy sĩ 1949
 
Nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê trên đường sang Thụy Sĩ và Hunggari khi dự Đại hội âm nhạc Budapest (Hungari) – Ảnh bìa Việt báo số 21-1949

Bài viết ký tên Ái Lan, gửi cho một người bạn ở Pháp.

[Bài đăng xin được phép giữ nguyên cách hành văn, từ dùng và quy cách chính tả của người Nam bộ, người Sài Gòn lúc ấy (1949)]

.

Bạn NGỌC-LAN, 

​Trong số báo trước, tôi đã hứa với bạn sẽ kể lại lịch-sử hai cây đờn của anh Khê. Chắc bạn đã mỉm cười, nếu bạn không bỉu môi thầm bảo: Lịch-sử quái gì hai cây đờn ấy.

Thì cứ ra chợ Cầu ông Lãnh mà mua, hay là mua lại đờn cũ của ai đó chớ gì.

Vâng, chính thế, nhưng bạn ạ, bạn có biết đâu trong hai cây đàn đó, nó còn ẩn náu bao nhiêu niềm uẩn khúc đầy triết lý của cái nghèo nơi một nghệ-sĩ chơn chánh như anh Khê chẳng hạn.

Vậy, mời bạn hãy đọc dưới đây một mẫu giai thoại… vui vui về hai cây đờn “bạch chãng” của anh Khê, nhưng tôi cấm bạn cười… ra nước mắt đấy!

Tại nhà ở, chúng tôi đang ngồi nói chuyện phiếm để đỡ sốt ruột trong lúc chờ anh Khê và vài người bạn khác, để dự một bữa tiệc tiễn chơn anh Khê sang Pháp, bỗng một tiếng két của chiếc xe xích-lô thắng ngoài ngõ, và tiếp theo một giọng cười đặc biệt của anh Khê là lúc nào cũng hồn nhiên, sung sướng, từ ngoài cửa ném vào. Một người bạn nói khẽ với tôi: “Anh ấy đi đến đâu là mang cả một vũ-trụ lạc quan đến đó”.

Lời phê-bình vắn tắt, nhưng rất đúng. Bạn không thể nào giữ được nỗi buồn, nếu bạn nghe giọng cười của anh Khê một khi đã cất lên.

Trong lúc chúng tôi nói lén anh, thì anh đã bước vào với hai cây đàn, một cũ, một mới. Cây cò còn mới tinh của anh, làm bằng một thứ cây gì trắng tươi như cây thông mà anh Khê gọi là màu “bach chãng”.

Tôi vội thuật lời nói lén của người bạn khi nãy với anh Khê, anh phá lên cười một chuổi dòn tan trong lúc anh cẩn thận đặt hai cây đờn xuống ván. Bỗng anh Khê hạ thấp giọng:

“Không biết giờ này, vợ tôi đã chạy ra tiền đi chợ chưa? Nhà chỉ còn có vài chục bạc, tôi đã lấy hết đi mua đờn từ sáng tới giờ”. Nói xong, anh lại cười, để cho chúng tôi… ra nước mắt!

– Anh mua đờn làm gì mà gấp đến phải vét cả tiền chợ?, tôi hỏi.

Anh Khê cho hay rằng anh định đem hai cây đờn đó sang Pháp đờn bậy chơi. Nhứt là trong lúc ở dưới tàu, linh-đinh trên mặt biển gần trót tháng.

Anh lại cho biết, cây cò anh mua ở Cầu ông-Lãnh, còn cây tranh, anh xin của cậu anh đem về chữa sửa lại mấy chỗ hư hỏng, vì nó đã cũ kỹ.

–  “Chưa đủ, anh phải đem theo một cái lon, hay cái nón lá xe kéo để người ta bỏ xu, khi anh ngồi đờn nơi mấy cái nhà ga xe điện”. Một người bạn nói đùa.

– “Mua thêm cây độc huyền và một cuốn thơ Lục vân Tiên”.

Tất cả các bạn đều rộ lên cười.

Sau khi cười dứt, anh Khê nghiêm trang nói:

“Được chớ! Nếu ngày nào thấy cần, tôi sẽ làm thế”.

– Anh không mắc cở à? Tôi hỏi.

Khê nhìn tôi với đôi mắt trách thiện:

“Tôi làm gì mà mắc-cở? Nghèo, đi đờn mướn, hát dạo, kiếm tiền ăn, học, nếu nghề ấy có thể giúp tôi học”.

Sau khi dùng cơm xong, anh Khê đờn cho chúng tôi nghe trước khi anh lên đường.

Tối hôm ấy, một bác sĩ ở Cholon lại tiễn anh Khê và thết luôn chúng tôi một bữa cơm Tàu. Bộ đồ “vía” của anh Khê để dành mặc trong lúc đặc biệt, được nó trang hoàng vào người anh, huê dạng như… một chánh khách… chầu rìa.

Sau khi ăn uống xong, chúng tôi đón xe “tắc-xi” về Saigon. Trước khi lên xe, anh Khê kê miệng vào tai H… nói nhỏ: “Ê! H trả tiền xe nhé”.

Cách đó vài tháng, chúng tôi được đọc một bức thơ của anh Khê từ Pháp gởi về cho một người bạn tên H. Trong ấy, có một câu đã làm cho tôi cảm động và ghi nhớ mãi: “H… ạ! Sự sống của tôi ở Paris lúc nầy nguy ngặt quá vì số tiền bà gia tôi dự bị để gởi lần cho tôi tạm lúc đầu đã bị gián đoạn, do một việc rủi-ro bất ngờ. Lắm lúc, tôi muốn thực-hành lời nói đùa của các bạn trong buổi tiệc tại nhà P. là đem đờn kéo dạo ở mấy nhà ga. Nhưng bạn ạ! Chỉ vì một lẽ là tôi đã lên diễn đàn mấy lần trong những cuộc lễ của Tổng Hội Sanh Viên V.N tổ chức. Nếu tôi ra ngồi đờn hát như thế, sợ mất thể diện cho Hội. Còn về cá nhân tôi, tôi không ngại gì việc ấy…”

Hôm nay, tôi không ngờ hai cây đờn mà gia-đình anh Khê đã nhịn ăn một ngày để lấy tiền mua nó, nó đã giúp anh Khê đoạt giải nhì về âm nhạc cổ Việt Nam trước mấy ngàn đại-biểu sanh viên quốc-tế ở Budapest.

………./.

TRẦN VĂN KHÊ : TẠI ĐẠI NHẠC HỘI BUDAPEST TRƯỚC HÀNG 70 NƯỚC KHẮP NĂM CHÂU Bạn Trần-văn- Khê đã lãnh giải nhì cho Việt-Nam về cổ-nhạc


TẠI ĐẠI NHẠC HỘI BUDAPEST TRƯỚC HÀNG 70 NƯỚC KHẮP NĂM CHÂU

Bạn Trần-văn- Khê đã lãnh giải nhì cho Việt-Nam về cổ-nhạc

Năm 1949, nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê đã “đơn thân độc mã” thi âm nhạc tại Đại nhạc hội Budapest (Hungari) với 70 nước tham gia rất “hoành tráng”. Ngay sau kỳ thi, chàng Trần Văn Khê đã gửi thư về nước báo tin vui. 

 tvk budapest 1949 1
TRẦN-VĂN-KHÊ trước khi Đại Hội Budapest – Ảnh Việt báo 18-1949

Tuần san Việt báo số 18-1949 ở Sài Gòn đã đăng toàn văn lá thư – bài viết này của chàng nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê, ngay sau trang 3 xã luận. Và hình bìa tạp chí là hình nhạc sĩ Trần Văn Khê.

TTO xin mạn đăng bài viết cách đây 66 năm này của chàng nhạc sĩ trẻ tài hoa Trần Văn Khê mà ngay từ lúc ấy đã có một  tình yêu dân tộc, quê hương mãnh liệt khi “đem chuông đi đấm xứ người”. 

[Bài đăng xin được phép giữ nguyên cách hành văn, từ dùng và quy cách chính tả của người Nam bộ, người Sài Gòn lúc ấy (1949)]

 tvk budapest 1949 2
 
Hình bìa tuần san Việt báo số 18-1949

“…Vẫn biết rằng nhờ toàn-dân Việt-Nam đang anh-dõng tranh-đấu, nhờ những lý-do chánh-trị, họ phải để cho Việt-Nam có một hai kết-quả gì, nhưng tôi sung-sướng vì đã được đem chút tài mọn mà phụng-sự Tổ-quốc: nước Việt-Nam yêu quý của chúng ta”. – TRẦN-VĂN-KHÊ

Tại…

Gửi những anh chị em quen biết,

Budapest, 25-8-49

Tôi gởi thơ nầy để các bạn chia vui với tôi và để khoe với các bạn rằng trong kỳ thi đàn cổ với các nước tại Budapest, tôi đã đem GIẢI NHÌ cho Việt-Nam ngang hàng với Mông-cổ, thua Nga mà hơn Lỗ-ma-ni (Rumani) và Hung-gia-lợi (Hunggari).

Hôm tôi được mời lại Phòng Văn-Hóa của Đại-Nhạc-Hội Budapest để bàn về những cuộc tranh tài về nhạc và khiêu-vũ, tôi đã nói với những nhân-viên Phòng Văn-Hóa rằng: Nước Việt-Nam đã xa xôi lại còn đang tranh-đấu giành tự-do thành ra các nhân-tài vì nhiệm-vụ kháng chiến không thể dự Hội-nghị. Chúng tôi là những sinh-viên ở Âu-châu, bất tài, chỉ cố gắng trình-bày phần nào của văn-hóa Việt-Nam, vì đó là bổn-phận của chúng tôi chứ ra mà tranh tài với các nước thì chúng tôi không dám”.

Nhưng nhân-viên Phòng Văn-Hóa nói rằng: “Nếu Việt Nam không tranh tài về các môn đờn piano hay violon thì ít ra Việt-Nam cũng có một lối nhạc cổ đặc biệt và các nước như Mông-cổ, Hung-gia-lợi cũng sẽ đem nhưng cây đàn cổ thô sơ ra dự thi, anh cố gắng để Việt-Nam có thể góp mặt với các nước chớ!”.

Bảo tôi ra tranh tài thì tôi không dám. Nhưng bảo tôi rán dự thi để Việt Nam được góp mặt với các nước thì tôi khó thể chối từ. Thế là tôi nhận lời.

Về nhà tôi nói với anh em:

“Chắc chắn thể nào mình cũng hạng chót, nhưng ít ra trong lúc dự thi và khi có kết-quả, dầu hạng chót đi nữa, mình cũng làm cho tên tuổi Việt-Nam được người ta để ý thêm một chút. Tôi kỳ này thật là “liều mạng già” làm lý ra dự thi để cho tên Việt-Nam được nhắc nhở đến”.

Tuy nghĩ thế nhưng lòng vẫn phập phồng. Và chiều ngày 17-8-49 tôi o cây đàn cò “chết nhát” của tôi lại, gắn cục tòng chỉ cho ngay, thay dây mới, phủi bụi cây đàn tranh và nhấn dây cho nó êm dây. Đúng 4 giờ chúng tôi lại Magyar Synhez mà dự thi.

Trong lúc chờ đợi, tôi nghe người giới thiệu đọc bằng tiếng Nga, Pháp, Anh, Hung rằng hôm nay có những nước Tiệp-khắc, Hung-gia-lợi, Lỗ-ma-ni, Bảo-gia-lợi (Bungari) và Việt-Nam dự thi về nhạc và khiêu-vũ theo xưa; tôi đâm ra lo.

Đoàn Tiệp-khắc ra sân khấu với trên 80 thanh niên nam nữ hát những bài hát cổ và múa nhưng điệu đặc-biệt theo đồng quê.

Đoàn Bảo-gia-lợi đem trên 100 thanh-niên hợp-xướng những bản xưa và nhảy múa rầm rộ. Lại thêm có giàn nhạc violon đờn theo điệu triganest. Mặc dầu trời không nóng lắm mà tôi toát mồ hôi. Trời ơi! Người ta đi dự thi với hàng trăm người, với bao nhiêu bài hát điệu múa với cả giàn nhạc, mà tôi “đơn thân” với hai cây đàn quèn nầy tôi sợ làm xấu hổ cho Việt-Nam quá. Tôi nhớ lại ân hận rằng không năn nỉ anh Tư Huyện mượn cây đàn-cò cần, để cây đàn-cò bạch chảng của tôi ra sân-khấu dự-thi coi kỳ quá.

Trong khi đoàn Hung-gia-lợi ngoài nhiều lối khiêu-vũ theo xưa còn có thêm một giàn nhạc xưa với cây đàn giống như cây tam-thập-lục với mấy ống sáo bằng đồng bằng cây.

Đoàn Lỗ-ma-ni lựa ra hai người kỳ tài. Một em bé 13 tuổi thổi ông sáo 5 lỗ thổi những bài nhạc xưa giống tiếng sáo của mấy mục đồng đuổi trâu về xóm; một thiếu-nữ chỉ dùng một lá cây mà thổi một điệu nhạc xưa tiếng kêu tương tự như giọng kèn tiểu của nhạc ta. Rồi giàn đờn gồm có mấy cây đàn tam-thập-lục, đàn hình bầu dục như cây tỳ-bà. Thêm vào đấy bao nhiêu điệu múa tưng-bừng.

Chết tôi rồi! Áo tôi ướt đẫm mồ hôi, khi bỏ màn, người giới thiệu ra nói: “Bây giờ đến phiên anh V.K. biểu-diễn cổ nhạc Việt-Nam”.

Trái lại với quang cảnh tưng bừng màu sắc, rầm-rộ với những điệu khiêu-vũ trên sân khấu minh-mông chỉ “đơn thân” và “độc mã” với cây đàn xấu-xí.

Màn kéo lên.

Khán giả hơn ngạc nhiên vì từ 4 giờ tới bây giờ toàn những ban nhạc, những đoàn khiêu vũ bây giờ chỉ một người ngồi với một cây đàn dị kỳ.

Phóng viên các báo chụp hình. Ánh magne-sium làm chóa mắt tôi.

Khi lên dây xong, định thần lại, tôi thấy trên lầu 8 người giám khảo ngồi trước 8 tờ giấy trắng. Thính giả lặng thinh. Tôi nghe tim tôi đập mạnh.

“Cầu xin ông Tổ nhạc giúp cho tôi trong phen nầy”.

Những tay đàn lỗi lạc như Sáu Tửng, Tư Huyện, Sáu Quý, Chín Kỳ,v.v… các anh ở đâu để tôi lãnh trách nhiệm nặng nề là thay mặt cho cổ nhạc Việt- Nam đây?

Tôi bắt đầu rao ít câu. Tôi không rao theo các điệu cải lương. Tôi phỏng theo điệu sa-mạc rồi đặt ra nhiều câu với nhiều ngón run, ngón vuốt.

Hôm nay tôi để cả tâm hồn tôi vào đấy, tôi đàn bực trên rồi xuống bực đưới. Cả rạp im lặng nghe.

Dạo đàn trong 5 phút tôi ngâm 5 câu sa mạc vừa ngâm vừa đàn phụ họa theo. Dứt bài tiếng vỗ tay vang dậy cả rạp và họ vỗ mãi trong vòng gần 2 phút không ngừng. Tôi hơi vững lòng “lên tinh thần” lấy đàn tranh ra. Tôi nhấn trên một sợi dây đến 9 chữ đàn khác nhau. Phóng-viên các báo lại chụp hình một lần nữa. Tôi rao đàn tranh trong 5 phút lại bắt đầu ca bản “Bắc Cung Ai”. Lại cũng vừa đàn vừa ca. Trước khi ca tôi có cắt nghĩa sơ bằng tiếng Anh và tiếng Pháp ý nghĩa bài hát: “một thiếu phụ than thân trách phận”.

Tôi cố diễn tả sự đau đớn của thiếu-phụ bằng giọng ngân, bằng chữ nhất, bằng nét mặt, và khi dứt bài một tràng pháo tay vang dậy. Tôi phải trở ra chào thính-giả mấy lượt. Nhưng tôi nghĩ rằng chẳng qua là lối xã-giao chứ so với các giàn nhạc kia tôi còn cho mình kém quá.

Nhưng tôi đã rán hết sức tôi và tôi đã thành công: tôi đã làm được một số thính giả cảm động vì bài hát.

Nhiều phóng-viên các báo Hung, Tiệp, Lỗ đến hỏi tôi về cây đàn cò và đàn tranh và họ nói rằng đây là đầu tiên trong lịch-sử mà cây đàn tranh và đàn cò lên tiếng tại kinh đô nước Hung.

Cùng đi với tôi, anh Nguyễn-ngọc-Hà đờn bản Thiên-Thai bằng “guitare electrique” nhưng khi nhà báo đến hỏi cây đàn gì anh Hà bảo là cây đàn Lục-huyền cầm Hạ-uy-di cho nó có cái tên Việt-Nam. Anh Hà rất được hoan-nghinh với cây đờn ấy và có điều lạ là dân chúng Hung chưa nghe guitare hawaienne lần nào cả và rất thích giọng đàn uốn éo.

Làm xong phận sự, chúng tôi về ra sung sướng ở chỗ VIỆT-NAM CŨNG ĐÃ GÓP MẶT VỚI CÁC NƯỚC KHÁC trong cuộc tranh tài nầy.

Vài hôm sau nước Nga với một nhạc công danh tiếng biểu diễn balalaika và những cây đàn cổ khác, nước Mông Cổ với cây đàn tami lúc khẩy lúc kéo. Nhạc sĩ Mông-cổ kéo rất hay tiếng kêu như tiếng violoncelle.

Đến bữa 24-8-49, sau khi ban giám khảo cọng điểm lại thì cô thông ngôn hối hả chạy cho tôi hay. “Anh Khê này! Bốn giờ chiều nay anh lại Âm-nhạc-viện mà lãnh thưởng. Phòng Văn-hóa vừa cho hay anh được giải thưởng về nhạc. Anh thay đồ đi mau. Tôi có mấy lời khen anh đấy!”.

Thay đồ đi mà tôi vẫn nghĩ rằng có lẽ mình hạng chót nhưng họ cho giải an ủi hoặc một cấp bằng danh dự chi chi chớ chẳng lẽ mình hơn người ta.

Đến Âm-nhạc-viện thấy bao nhiêu đại biểu các nước ngồi thật. Trên bàn danh dự có Chủ-tịch Thanh niên thế giới, Chủ-tịch sinh viên thế giới, 14 viên giám khảo, các nhạc sư nhạc trưởng các nước.

Hôm ấy, Nga được tất cả 50 giải thưởng đàn violon, đàn piano, hợp xướng, độc xướng, kèn trompette v.v… các anh nhạc sĩ Nga hạng nhứt cả.

Đến phiên cổ nhạc, hạng nhứt anh Garayev (Nga) hạng nhì Biemian (Mông Cổ) và tôi (Việt-Nam), hạng ba Florika (Lỗ-ma-ni) và Beres (Hung-gia-lợi).

Khi kêu đến tên tôi, tôi đi lên sân khấu và trong lúc Chủ-tịch phiên nhóm bắt tay tôi và cả rạp vỗ tay, phóng-viên báo chụp hình, tôi sung sướng vì đại-biểu các nơi không phải hoan-nghinh cá nhân tôi mà hoan nghinh cả một nền cổ nhạc Việt-Nam, tôi sung-sướng vì tôi đã không làm hổ mặt Việt-Nam.

Và nói ra chắc bạn cười tôi sao yếu tánh chớ trong những trường-hợp thế nầy tôi thấy mặt tôi nóng bừng và nước mắt từ đâu tuôn dài theo má khi tôi trở về chỗ ngồi.

Lúc đứng trên sân khấu tôi cố dằn và rán cười nhưng khi về đến chỗ ngồi lại thấy nước mắt đâu nó tuôn ra như thế?

Dở quá bạn nhỉ? Nhưng nhạc-sĩ nào lại chẳng dễ cảm xúc hơn người!

Hôm sau, khi các báo đăng kết quả, khi các đài phát thanh loan báo tin các cuộc tranh tài, nhiều bạn nhạc-sĩ các nước tìm tôi hỏi thăm về âm-nhạc Việt-Nam, về những cây đàn cổ. Tiếc rằng tôi không có những cây đàn sến, đàn kìm, đàn tỳ bà, đàn độc huyền để cho họ biết thêm, vì khi qua Pháp tôi chỉ đem được có hai cây đàn cũ mua lại của người ta. Nhưng hiện giờ tôi quí hai cây đàn ấy lắm. Chúng nó đã giúp tôi trong khi tôi trình bày cổ nhạc Việt-Nam và hôm 24-8, có lẽ tôi đã sống được một phút cảm động nhứt trong đời nhạc của tôi.

Vẫn biết rằng nhờ toàn dân V.N. đang anh-dõng tranh-đấu, nhờ những lý do chính-trị họ phải để cho Việt-Nam có một hai kết quả gì, nhưng tôi sung sướng vì đã được đem chút tài mọn mà phụng-sự Tổ-quốc: nước Việt-Nam yêu quí của chúng ta.

TRẦN-VĂN-KHÊ

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20150625/ban-tranvan-khe-da-lanh-giai-nhi-cho-vietnam-ve-conhac/766839.html

http://chengdec.blogspot.fr/2015/06/giao-su-tran-van-khe.html

DOMINIQUE DE MISCAULT : TRAN VAN KHE : REMARQUABLE FIGURE DE LIBERTÉ


tran van khe photo funeral

Trần Văn Khê ou une remarquable figure deLIBERTE, s’est éteint à Hochiminhville où ilrésidait à nouveau depuis 2005 dans sa maison-musée dont il avait dessiné le jardin, le 24 juin 2015 à l’âge de 94 ans

Trần Văn Khê, est né le 24 juillet 1921 à Binh Hoà Dông, un village, à une centaine de kilomètres à l’ouest d’Hochiminhville dans une famille de musiciens depuis plusieurs générations. Orphelin de mère, puis de père, à 10 ans, il est recueilli par son oncle numéro 5, Nguyễn Tri Khương (1890-1962) 1. Fabuleusement doué,  après des études de médecine à Hanoi, partisan du Viet Nam libre Trần Văn Khê mène une campagne ouverte anti- française. Arrêté en 1949, il aurait du être fusillé mais grâce à un engagé volontaire,

il part pour la France qu’il combattait. A Paris, il rentre à Sciences Po tandis qu’il affronte pendant plus de 3 ans une maladie qui l’invalidera pour le reste de sa vie. Erudit mais avec une sensibilité d’artiste, il choisira définitivement et par vocation la musique qui en a fait ce génial ethnomusicologue reconnu dans le monde entier. Trần Văn Khê n’a jamais obtenu la nationalité française et définitivement libre, il avait prévu ne pas vouloir de funérailles nationales…

Il avait choisi ce poème en 2014 qu’il chantait de sa voix venue des profondeurs de son 2Lý Trường MÃN GIÁC 滿覺 (1052 – 1096)

Il dit avant de mourir :

春去 百 花 落

春到 百 花 開

事逐 眼 前 過

老從 頭 上 來

莫 謂春 殘 花 落 儘

庭 前昨 夜 一 枝 梅

Le printemps est passé, cent fleurs jonchent le sol,

Le printemps est revenu, cent fleurs s’épanouissent.


Doucement la vieillesse s’empare de nos têtes.

La nuit dernière devant la cour, une branche de prunier a fleuri.

Ainsi file la vie,

Ne pensons plus à toutes ces fleurs fanées,

Xuân ruổi, trăm hoa rụng,

Xuân tới, trăm hoa cười.

Trước mắt, việc đi mãi,


Trên đầu, già đến rồi.


Ðừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,

Ðêm qua, sân trước, một cành mai.

http://www.aafv.org/tran-van-khe-1921-2015

1 Erudit et célèbre évêque Caodaï

2 Un livre des moines Bouddhistes dans le Viêt Nam d’autrefois, 2005 page 92 – « murmures aujourd’hui »2014

Un hommage lui sera rendu le 26 novembre 2015 à la maison des cultures du Monde 101 boulevard Raspail avec Simha Arom, François Picard, Cheng Shui Sheng, Tran Quang Hai, son fils ethnomusicologue et Bach Yen et Hô Thuy Tien.

NGỌC HÂN : Quê nhà Vĩnh Kim đón hương linh GS Trần Văn Khê


Quê nhà Vĩnh Kim đón hương linh GS Trần Văn Khê

24/08/2015 – 20:09 PM
Sau lễ chung thất 49 ngày GS Trần Văn Khê tại địa chỉ 32 Huỳnh Đình Hai, phường 24, quận Bình Thạnh, do chưa thể thực hiện theo di nguyện của Giáo sư, thân quyến và gia đình trong ban tang lễ đã quyết định đưa hương linh giáo sư về đặt tại nơi chôn nhau cắt rốn.

Sáng 21/8/2015 (8 tháng bảy, Ất Mùi), tại nhà 32 Huỳnh Đình Hai, đại diện gia đình cùng một số môn sinh, bằng hữu của giáo sư Trần Văn Khê đã tiến hành lễ di dời bàn thờ ông bà họ Trần-Nguyễn và bàn thờ GS Trần Văn Khê. Những người có mặt ai nấy đều xúc động nghẹn ngào khi hương hồn GS Trần Văn Khê sắp rời khỏi ngôi nhà từng ghi lại bao nhiêu kỷ niệm trong 9 năm ông sinh sống. Căn bếp nho nhỏ có chiếc bàn tròn mỗi ngày giáo sư dùng bữa và tấm tắc khen món ăn ngon. Phòng khách từng in hình ảnh khoan thai và giọng nói sang sảng của giáo sư khi trình bày về âm nhạc truyền thống, nhiệt huyết từ trái tim trước một hai người khách hay hàng trăm người vẫn say sưa như thế. Chiếc bàn mỗi sáng nguyên đán ông ngồi sáng tác bài thơ khai bút, chiếc bàn vi tính mà ông ngồi làm việc từ sáng đến tối mỗi ngày, sân vườn nho nhỏ mỗi sáng ông làm vài động tác thể dục và dạo quanh trên chiếc xe lăn,…

Lễ cúng tiễn đưa GS Khê về Tiền Giang

Chuyến xe đưa hương linh giáo sư Trần Văn Khê về ấp Vĩnh Bình, xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, Tiền Giang tựa như ông Trạng Nhạc quy cố hương về trong vòng tay ông bà, cha mẹ, họ hàng, làng xóm sau gần thế kỷ bôn ba năm châu bốn biển tiếp nối sự nghiệp của tổ tiên. Ngày rời quê xa xứ hành trang nhẹ tênh, nay quay về người đã thành danh rạng rỡ với bảng thành tích vẻ vang muôn người bái phục, rạng rỡ dòng họ Trần-Nguyễn.

Ở quê nhà Vĩnh Kim, sự chuẩn bị chu đáo đã làm mọi người một lần nữa xúc động. Ngay trước cổng trang trọng treo bảng màu tím trang trí hoa sen hồng CUNG KÍNH ĐÓN HƯƠNG LINH CỐ GIÁO SƯ TIẾN SĨ TRẦN VĂN KHÊ TRỞ VỀ CỐ HƯƠNG. Từ cổng vào trong hai hàng con cháu mỗi bên hơn 10 người đang trông ngóng chờ đón thành viên vẻ vang của dòng họ vinh quy bái tổ. Ông Nguyễn Tri Triết, người cháu bên họ ngoại Nguyễn Tri Phương của giáo sư tiến ra chào đón đoàn và kính cẩn cầm bát nhang của bàn thờ GS Trần Văn Khê tiến vào trong nhà thờ họ Nguyễn Tri. Sư thầy và gia đình sắp xếp bàn thờ GS Khê kế bên bàn thờ tổ tiên. Lễ cúng rước hương linh giáo sư về Từ đường dòng họ diễn ra trong không khí ấm cúng. Ngoài hai người thay mặt dòng họ chịu lạy là ca sĩ Bạch Yến (con dâu trưởng của GS Trần Văn Khê) và bác Nguyễn Tri Triết, còn có những bà con thuộc hai họ Trần-Nguyễn và những bằng hữu, môn sinh thân thuộc của GS Trần Văn Khê:  ông Trần Bá Thùy (phu quân của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương – em kết nghĩa của GS Khê), NGUT Thúy Hoan và nhóm Tiếng hát quê hương, NSND Kim Cương, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, TS Nguyễn Nhã và phu nhân, các môn sinh Tina Thiên Nga và Ngọc Hân, cô Nguyễn Thị Na (người giúp việc cho GS Khê suốt hơn 9 năm), …. Nhân dịp này, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã trân trọng chuyển cho ông Nguyễn Tri Triết tập gia phả phái nhì hệ Nguyễn Tri ngoài Huế nhờ chuyển đến gia đình Nguyễn Tri ở Vĩnh Kim. Ông Nguyễn Tri Triết và một môn sinh của GS Khê cũng hé lộ dịp này điều trùng hợp bất ngờ mà những ai được chia sẻ đều xem như sự an bài của ông bà tổ tiên: lúc sinh thời, GS Khê từng dặn dò Nguyễn Tri Triết (người cháu mà GS tin tưởng và khen ngợi rất chu đáo trong việc thờ cúng tổ tiên và giữ gìn di sản của ông bà): hãy cúng GS Khê vào ngày giỗ của ba Triết, chẳng ngờ ngày ra đi của GS cũng trùng với ngày mất của ba bác Triết (mùng 9 tháng 5 âm lịch); thêm nữa, khi môn sinh hỏi “giả sử mai đây quy định của nhà nước không cho phép đặt bàn thờ của Thầy trong nhà lưu niệm thì sao?”, GS Khê đã trả lời: nếu vậy thì Thầy muốn được đem về Vĩnh Kim chôn cất gần cha mẹ và cô Ba của Thầy. Vậy là hôm nay ý nguyện đó của Giáo sư Trần Văn Khê đã được thành toại, hương linh ông đã vinh quy bái tổ, thăm viếng và cận kề cha mẹ, tổ tiên …

Ý nguyện của Giáo sư Trần Văn Khê đã được thành toại

Sau buổi lễ, những người tham dự được hướng dẫn thăm viếng mộ của thân sinh GS Trần Văn Khê ông Trần Văn Triều-bà Nguyễn Thị Dành; bà Ba Trần Ngọc Viện, cô ruột và người trực tiếp chăm sóc dạy dỗ 3 anh em giáo sư Khê khi cha mẹ mất sớm; cậu Năm Khương, người thai giáo GS Khê bằng tiếng nhạc truyền thống và là soạn giả tài hoa sáng tác vở Giọt lệ chung tình cho gánh hát Đồng nữ ban của bà Ba Viện.

Trong chuyến đi này, gia đình và bằng hữu, môn sinh của giáo sư Trần Văn Khê đã cùng nhau phác thảo những miếng ghép đầu tiên cho những hoạt động giữ gìn di sản Trần Văn Khê gắn liền với việc phát huy các giá trị âm nhạc truyền thống Việt Nam. Các hoạt động ấy, dù nằm bên trong hay bên ngoài ngôi nhà Trần Văn Khê đều là những công việc hữu ích mà những người đương thời cần làm và phải làm cho hậu thế. Ngọc  Hân

http://nguoidothi.vn/vn/news/van-hoa-giai-tri/doi-nghe-si/6432/que-nha-vinh-kim-don-huong-linh-gs-tran-van-khe.ndt

61Cr5vx2MceIZH98IvbSvMIzNZngcRziREj4coc83Cw

NX6piT_KaxxZ0Zmed1F-Ea_bLBQv3Vyz87EbEElOttU

aaFSGAIBcHgVWMXbpDJfJhPtXlc36gK5uTSll_-eHmQ

N0wQDBb1923p1X8ZemSCTaBdX_d_iZIKssMyWGqaZTE

m79WTLz-ni55fHHexf5KU2-fEmSphsQKgSLdrBBFrIop_seBupFb25EhAMrGAFjMhJz20rmWwo3DbCYfZQ5CUA

9hJCw_uRORMMxAAHZy3LQcTPkJt0WHgWazeH7sqdMbQ

e1WzYjoZEx65v5yUPDXV-gdN8tvPE-Vb3Too8WUd2d8

xgzT5_ft2eUU7uyG8pxV7QQLncH_iSC2PaXKON78c4M N0wQDBb1923p1X8ZemSCTaBdX_d_iZIKssMyWGqaZTE

xnIZ2BFx2pI1n0dhkktKlIBwrMqlveU51SbHjkwAXCQ

Hw7hAsJuSmkhb8eBfuOwzC07gA8Rg-3oT6jajjF_-Ko

SONG KỲ – NAM YÊN : Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê: Từ làng Vĩnh Kim tới Đại học Sorbonne Pháp


Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê: Từ làng Vĩnh Kim tới Đại học Sorbonne Pháp

(LĐĐS) – Số 27 Song Kỳ – Nam Yên – 6:50 PM, 19/07/2015

GS.TS Trần Văn Khê và nhạc sĩ Phạm Duy.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình “đại thụ âm nhạc”, được thừa hưởng truyền thống và những tố chất âm nhạc, nhưng cuộc đời không trải thảm để Trần Văn Khê bước đến vinh quang. Những biến cố trong gia đình cộng với hoàn cảnh đất nước bị xâm lược… đã làm cho những năm tháng tuổi trẻ của ông gặp không ít thăng trầm.

Nhưng với tài năng bẩm sinh, nhiệt huyết cháy bỏng, ông đã vượt qua mọi trở ngại để đạt đến đỉnh cao tài năng trong âm nhạc, góp phần quan trọng làm cho âm nhạc truyền thống Việt Nam được vinh danh trên thế giới.

Từ Vĩnh Kim ra đi

Trần Văn Khê sinh ngày 24.7.1921, là anh cả trong gia đình có 3 anh em. Năm 9 tuổi, ông mồ côi mẹ, đến năm 10 tuổi lại mồ côi cha. Ba anh em Trần Văn Khê đã được cô ruột Trần Ngọc Viện (cô Ba Viện) nuôi và dạy dỗ chu đáo. Ông học tiểu học tại Mỹ Tho, đến năm 13 tuổi ông được cô Ba Viện đưa lên Sài Gòn học tại Trường Trung học Pétrus Ký. Tại đây, Trần Văn Khê cùng 2 bạn học là Lưu Hữu Phước và Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường và dàn nhạc trong câu lạc bộ học sinh mang tên Scola Club của Hội Đức trí Thể dục.

Năm 1941, ông được học bổng của chính phủ thuộc địa và học bổng của Hội Đức trí Thể dục ra Hà Nội học y khoa tại Đại học Đông Dương. Tại đây, Trần Văn Khê có một kỉ niệm nhớ đời. Ông kể: “Ngày khai giảng ở trường đại học (nay là số 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội) để lại ấn tượng không phai mờ trong tôi. Từ nhỏ đến lớn sống ở miền Nam, mỗi lần có lễ lạc gì chỉ nghe bài La Marseillaise trỗi lên cùng với lá cờ tam tài – quốc ca và quốc kỳ của nước Pháp. Nhưng trong ngày khai giảng này, sau khi dứt bài La Marseillaise, một điệu nhạc lạ tai trỗi lên tiếp theo cùng với một lá cờ màu vàng được kéo lên. Một anh bạn miền Bắc đứng kế bên khẽ nói: “Quốc kỳ và quốc ca của ta đấy!”. Tôi vô cùng xúc động, ngây người ngắm lá cờ đang lần lần vươn lên cao, lắng nghe giai điệu mới mẻ mà cả hai dòng nước mắt chảy dài”…

Kể từ ngày đó, trong ông có một ý nghĩ thôi thúc tìm hiểu thêm về đất nước, dân tộc. Tại Đại học Đông Dương, ông cùng các bạn Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Nguyễn Thành Nguyên, Phan Huỳnh Tấng (tức Phạm Hữu Tùng)… hoạt động trong tổng hội sinh viên, tham gia ban nhạc, khuấy động phong trào thanh niên lành mạnh, khơi dậy tình dân tộc thể hiện qua các hành khúc đầu tay của Lưu Hữu Phước như: “Người xưa đâu tá”, “Bạch Đằng giang”, “Ải Chi Lăng”…

Cũng năm đó, chàng thanh niên 20 tuổi Trần Văn Khê đã đứng trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội chỉ huy dàn nhạc, hát bằng tiếng Pháp và giới thiệu dân ca 3 miền Việt Nam. Báo La Volonté Indochinoise đã viết khen ngợi: “Việt Nam có một sinh viên trẻ tuổi chỉ huy dàn nhạc với phong cách một nhạc sĩ nhà nghề”. Đó là một kỉ niệm đẹp về đêm nhạc sinh viên đầu tiên của Trần Văn Khê.

Năm 1943, khi còn đang học ngành y ở Đại học Đông Dương, Trần Văn Khê trở về Nam lập gia đình với bà Nguyễn Thị Sương – người bạn học cùng lớp triết ở Trường Pétrus Ký Sài Gòn. Bị sốt rét nặng, rồi nạn đói ở miền Bắc hoành hành, Trần Văn Khê và nhiều bạn bè phải rời trường về Nam. Tại quê nhà, ông dạy học và đi khắp nơi để hát các bài hát của Lưu Hữu Phước nhằm nhắc lại những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.

Trở thành Giáo sư Đại học Sorbonne

Năm 1945, Trần Văn Khê tham gia kháng chiến, cùng Lưu Hữu Phước đặt các điệu kèn cho quân đội để thay thế các điệu kèn Tây thổi lúc sáng sớm thức dậy, lúc chào cờ, lúc đi ngủ. Các ông tổ chức đoàn quân nhạc gồm các nhạc sĩ công giáo làng Lương Hoà (Bến Tre), đi khắp vùng Đồng Tháp, chợ Thiên Hộ, tới Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… giúp ban tuyên truyền vận động toàn dân kháng chiến, vừa quyên góp tiền để giúp nhà thương quân đội, đàn hát cho thương binh nghe.

Cuối năm 1946, Trần Văn Khê về Sài Gòn vừa viết cho báo Thần Chung, Việt Báo, tạp chí Sông Hương, tạp chí Mai, vừa dạy Anh văn. Được phân công phê bình âm nhạc và sân khấu, Trần Văn Khê thường gặp gỡ các đào kép cải lương như Tư Chơi, Năm Châu, Bảy Nhiêu, Duy Lân… để bàn về sự phát triển của cải lương. Năm 1948, vì các hoạt động yêu nước, Trần Văn Khê bị thực dân Pháp bắt giam tại khám Catinat. Sau khi được trả tự do, năm 1949, Trần Văn Khê cùng một số bạn rời Việt Nam sang Pháp, vừa “lánh nạn” vừa đi du học. Ông ra đi với hai bàn tay trắng, một bộ đồ vải tropical và bản hợp đồng làm “phóng viên” với các báo kể trên. Ông bắt đầu cuộc sống tự lập nơi đất khách quê người bằng cách vừa học, vừa làm nhiều nghề.

Suốt thời gian từ 1949 – 1951, ông viết mục “Điểm báo”, làm phóng viên về các sinh hoạt của Việt kiều, viết du kí, phóng sự cắt gửi về toà soạn những bài xã luận về chính trị quốc tế và chính trị liên hệ đến Việt Nam. Sau đó, Trần Văn Khê thi đỗ vào Viện Khoa học Chính trị nổi tiếng mang tên Sciences Po và tốt nghiệp hạng cao (hạng 5) Khoa Giao dịch quốc tế sau hai năm miệt mài học tập và học thêm Anh văn tại Đại học Văn khoa Paris. Sau khi tốt nghiệp, ông phải đi điều trị bệnh và giải phẫu 4 lần. Ngay trên giường bệnh, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu, đọc nhiều sách tại thư viện Paris và học tiếng Ả Rập từ những bệnh nhân cùng phòng.

Cuối năm 1954, ông theo học và làm luận án tiến sĩ tại Khoa Anh văn và Âm nhạc học, Trường Đại học Sorbonne, Paris, Pháp. Để có tiền sinh hoạt, ông đã làm nhiều công việc như thuyết trình về âm nhạc, kịch nghệ, kể chuyện cổ tích Việt Nam cho đài BBC, đóng phim, lồng tiếng… Tháng 6.1958, ông bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ với đề tài “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” và hai đề tài phụ “Khổng Tử và âm nhạc”, “Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam”. Từ đây, ông bắt đầu đi những bước đầu tiên trên chặng đường dài mà mình đã chọn: Sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Kể từ khi ông trở thành một giáo sư – tiến sĩ ở Đại học Sorbonne danh tiếng, thế giới bắt đầu biết đến hình ảnh một “thầy đờn” Việt Nam độc đáo và hấp dẫn kỳ lạ. Ông không bỏ lỡ một dịp nào để đem lời ca, tiếng nhạc Việt Nam đến khắp năm châu dù đó là những lần thuyết trình trên các đài truyền thanh, truyền hình hay trong các chuyến đi tham dự hội nghị âm nhạc.

GS.TS Trần Văn Khê và NSND Phùng Há. 

Về với cội nguồn

Năm 1975, ông trở về Việt Nam với tư cách Giám đốc nghiên cứu Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp, thành viên Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO. Ông không ngần ngại thừa nhận rằng, công trình khoa học về âm nhạc truyền thống Việt Nam làm nên tấm bằng tiến sĩ của ông còn nhiều thiếu sót, hạn chế do được thực hiện trong hoàn cảnh xa đất nước.

Từ năm 1976 – 1990, năm nào ông cũng về Việt Nam, lặn lội khắp các miền đất nước, ghi âm, chụp hình trên 500 bài dân ca, dân nhạc các loại nhằm tìm hiểu cặn kẽ một nền âm nhạc đa dạng và sâu rộng. Mỗi năm, ông dành ra 2-3 tháng để thuyết trình tại các trường đại học trong nước. Những kiến thức bác học và cách thuyết trình tài hoa của GS.TS Trần Văn Khê đã gieo vào lòng nhiều thế hệ sinh viên tình yêu âm nhạc truyền thống và niềm tự hào về quê hương, dân tộc. Ông không chỉ nổi tiếng là người phổ biến âm nhạc dân gian Việt Nam với thế giới mà còn là người cực kỳ am hiểu âm nhạc dân tộc của nhiều nước.

Gần nửa thế kỉ nghiên cứu, hoạt động và giảng dạy âm nhạc ở 67 quốc gia trên thế giới, GS.TS Trần Văn Khê đã viết hàng trăm bài báo và tham luận về đề tài âm nhạc dân tộc Việt Nam được dịch ra 14 thứ tiếng. Ông đã thực hiện được gần 30 đĩa hát 33 vòng và CD về âm nhạc Việt Nam và âm nhạc một số nước châu Á; đã tham dự 210 hội nghị quốc tế về âm nhạc và âm nhạc học trên 67 quốc gia, gần 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc khắp năm châu. GS.TS Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội quốc tế về âm nhạc và nghiên cứu âm nhạc.

Năm 2003, sau hơn nửa thế kỉ hoạt động âm nhạc ở nước ngoài, GS.TS Trần Văn Khê đã trở về Tổ quốc với dự định tiếp tục làm công việc nghiên cứu, giảng dạy, gặp gỡ bạn bè trong và ngoài nước để góp phần bảo vệ, bảo tồn và phát huy vốn âm nhạc truyền thống. Với nhiều đóng góp cho sự nghiệp âm nhạc thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, GS.TS Trần Văn Khê là người Việt Nam đầu tiên được ghi danh và tiểu sử vào cuốn “Đại từ điển âm nhạc thế giới”, được tặng Giải thưởng đặc biệt về âm nhạc của UNESCO (1981), Huân chương Văn hoá nghệ thuật của chính phủ Pháp (1991), Huân chương Lao động hạng Nhất của nước CHXHCN Việt Nam (1999), giải thưởng “Vinh danh nước Việt”…

GSTS Trần Văn Khê có 4 người con. Hai con trai là GS.TS Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris và Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở TPHCM. Hai con gái của ông là Trần Thị Thuỷ Tiên (sống tại Paris) và Trần Thị Thuỷ Ngọc (nữ nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho Ban nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia ở Paris). Nối nghiệp cha, GS.TS Trần Quang Hải (SN 1944) đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học năm 1973, đã trình diễn khoảng 3.000 buổi giới thiệu nhạc Việt Nam tại 65 quốc gia trên thế giới, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Châu Âu, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học trên thế giới, tham dự hơn 130 liên hoan âm nhạc quốc tế. Ông là người sáng tạo ra lối hát đồng song thanh độc đáo, là hội viên của 20 hội nghiên cứu nhạc học quốc tế; một chuyên gia về âm thanh học và âm nhạc dân tộc.

Ông được tặng thưởng Huy chương vàng của Hàn lâm viện Văn hóa Á châu (1986); Tiến sĩ Danh dự của International – Hoa Kỳ (1987); Giải thưởng đặc biệt của Đại hội thế giới về đàn môi (1998 và 2002), vinh dự được Tổng thống Pháp Jacques Chirac tặng Bắc đẩu Bội tinh.

Kỳ cuối: “Quái kiệt” Trần Văn Trạch – người làm sôi động cả Sài Gòn

http://laodong.com.vn/am-nhac/giai-ma-tai-nang-am-nhac-gsts-tran-van-khe-tu-lang-vinh-kim-toi-dai-hoc-sorbonne-phap-355020.bld

Tin bài liên quan

  • Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê
  • Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê – Kỳ 2: Một gia đình đại thụ âm nhạc
,

,

,

SONG KỲ – NAM YÊN : Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê – Kỳ 2: Một gia đình đại thụ âm nhạc


Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê – Kỳ 2: Một gia đình đại thụ âm nhạc

(LĐĐS) – Số 26 Song Kỳ – Nam Yên – 2:20 PM, 15/07/2015
Gánh hát Đồng Nữ Ban của cô Ba Viện.

Đất Vĩnh Kim (thuộc huyện Châu Thành, tỉnh tiền Giang ngày nay) nổi tiếng từ xưa là miền đất sinh ra nhiều tài năng âm nhạc dân tộc. Gia tộc họ Trần của GS.TS Trần Văn Khê là một tộc họ nổi danh về âm nhạc và là niềm tự hào không chỉ cho Tiền Giang mà cho cả dân tộc Việt Nam.

Bốn đời âm nhạc dân tộc

Dòng họ Trần trên đất Vĩnh Kim có xuất xứ là nhạc quan của triều đình Huế. Bất mãn cảnh nước mất nhà tan, ông Trần Quang Thọ – một nghệ nhân nổi tiếng trong ban nhạc cung đình Huế – đã từ bỏ kinh thành, di cư vào Nam vào khoảng năm 1860. Tại làng Vĩnh Kim, ông đã dừng chân và dạy nhạc. Người con của ông tên Trần Quang Diệm (Năm Diệm, 1853-1925) cũng tiếp tục nghề nhạc của cha. Ông Diệm có người con là Trần Văn Triều (Bảy Triều, 1897-1931) rất nổi tiếng trong giới cổ nhạc qua ngón đàn kìm. Ông Bảy Triều kết hôn với bà Nguyễn Thị Dành (Tám Dành, 1899-1930, cháu nội của danh tướng Nguyễn Tri Phương), cũng là một người xuất thân trong gia đình âm nhạc. Ông Bảy Triều và bà Tám Dành sinh 3 người con, con trai trưởng là Trần Văn Khê, một tài năng âm nhạc dân tộc kiệt xuất sau này.

Ông Bảy Triều có người chị thứ ba tên là Trần Ngọc Viện (Ba Viện, 1884-1944) biết hát nhiều điệu hát, biết sử dụng nhiều nhạc cụ dân tộc, nhưng điêu luyện nhất là đàn thập lục (đàn tranh) và đàn tì bà. Ngoài ra, bà còn có tài thêu thùa may vá và chính nhờ nghề này, bà đã nuôi sống cả gia đình. Chồng cô Ba Viện là con một ông Phán mê âm nhạc ở đất Mỹ Tho, họ lấy nhau được hơn một năm thì sinh con, nuôi được ba tháng thì mất; sau đó không lâu, chồng bà cũng mất theo. Cảm thương tình cảnh góa bụa sớm, gia đình bên chồng cho bà về lại quê nhà. Thuở đó, người ta nói bà là hồng nhan bạc phận, một kiếp lênh đênh trên cõi đường tình duyên.

Khoảng năm 1915-1916, bà Ba Viện lên Sài Gòn dạy đàn ở trường nữ sinh Áo Tím (Trường Gia Long cũ, nay là Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai). Ở trường, bà đọc nhiều sách báo tiến bộ của các nhà yêu nước, các chí sĩ tiền bối nên ý thức chính trị được giác ngộ, nâng cao hiểu biết rộng rãi hơn nhiều phụ nữ đương thời. Nhưng cũng vì thế mà bà bị mật thám Pháp tình nghi làm “quốc sự” cùng với em rể là giáo sư Nguyễn Văn Bá – chủ bút tờ báo Thần Chung. Đến năm 1926, sau lần đi dự đám tang cụ Phan Chu Trinh, bà bị nhà trường đuổi việc. Từ đó, trường Áo Tím cũng dẹp luôn môn dạy đàn.

Gánh hát Đồng Nữ Ban

Về lại quê nhà Vĩnh Kim, bà Ba Viện tham gia hoạt động kháng Pháp. Lúc bấy giờ, nhiều người yêu nước nghe tiếng, thường xuyên tới lui thăm viếng, trong số đó có ông Nguyễn An Ninh và ông xem bà như người chị ruột. Năm 1927, Tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội Mỹ Tho thành lập, sau đó Chi bộ xã Vĩnh Kim, thuộc tổ chức trên cũng được thành lập. Để góp phần tuyên truyền, kêu gọi lòng yêu nước của nhân dân, đồng thời tạo ngân quỹ cho chi bộ xã, bà Ba Viện – với sự góp sức của người em dâu là Nguyễn Thị Dành – đã hăng hái đứng ra thành lập gánh hát Đồng Nữ Ban, đảm nhiệm vai trò bầu gánh và đạo diễn.

Nói thêm về bà Nguyễn Thị Dành (1899-1930) còn gọi là Tám Dành, sinh trong một gia đình có truyền thống âm nhạc ở xã Vĩnh Kim. Bà là cháu nội danh tướng Nguyễn Tri Phương và là con của ông Nguyễn Tri Túc – một nghệ nhân nhạc tài tử ở địa phương – và là em gái của soạn giả Nguyễn Tri Khương – người sáng tác tuồng “Giọt máu chung tình” nổi tiếng một thời. Năm 1918, bà Dành kết hôn với ông Trần Văn Triều. Năm 1927, bà là người đầu tiên ở xã được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Năm 1930, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản và được Tỉnh ủy Mỹ Tho chỉ định làm Bí thư đầu tiên của Chi bộ xã Vĩnh Kim…

 GS.TS Trần Văn Khe (lúc nhỏ) và mẹ.

Ngày 3.5.1930, sau một cuộc biểu tình của hàng ngàn người tại Cao Lãnh, bà bị lính đối phương đâm trọng thương. Dù được đưa lên Sài Gòn điều trị, nhưng do vết thương quá nặng lại bị đau tim và sảy thai nên bà đã mất vào ngày 25 tháng 6 năm Canh Ngọ (1930), hưởng dương 31 tuổi. Bà qua đời để lại 3 người con nhỏ, về sau đều nên danh, đó là GS.TS Trần Văn Khê, quái kiệt Trần Văn Trạch và ca sĩ  Thủy Ngọc (tên thật làTrần Ngọc Sương) .

Vào khoảng giữa năm 1928, lần đầu tiên gánh hát Đoàn Nữ Ban ra mắt khán giả vở “Giọt máu chung tình”, nội dung là câu chuyện tình của hai nhân vật Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà, diễn tại cầu Ba Lung, xã Vĩnh Kim, được nhân dân háo hức cổ vũ. Trong một bài viết, GS Trần Quang Hải (con GS.TS Trần Văn Khê) đã nêu lên những đặc điểm của gánh Đồng Nữ Ban như sau: Gánh hát không có kép nam (do vậy mang tên là Đồng Nữ Ban), quy tụ con em tuổi từ 17 – 20 của những gia đình nông dân, điền chủ trong làng Vĩnh Kim và các làng lân cận Bình Hoà Đông, Rạch Gầm, Kim Sơn, Long Hưng.

Các diễn viên sống nội trú, có thời khoá biểu các môn học chữ, học nữ công, học võ thuật để dùng trong những lớp tuồng. Khi đi lưu diễn, cạnh chiếc ghe con chuyên chở thầy đàn, thầy võ, bà Ba Viện cùng tất cả diễn viên ở chung trong một chiếc ghe chài to chứa được mấy mươi người. Ngoại trừ lúc biểu diễn, tất cả diễn viên đều phải mặc áo dài tím (vì cô Ba Viện trước kia là giáo viên dạy đàn cho Trường Áo Tím, nên thích áo dài tím). Tích tuồng không dùng lịch sử Trung Quốc mà lấy trong sử Việt Nam như: Hai Bà Trưng, Trần Quốc Toản, Quang Trung – Nguyễn Huệ với chiến thắng quân Xiêm ở đoạn sông Rạch Gầm – Xoài Mút – quê hương Vĩnh Kim, máu chảy ruột mềm… Trong số đó, vở diễn chủ lực là “Giọt máu chung tình” của soạn giả Nguyễn Tri Khương.

Ngoài những bài bản nhạc tài tử thông thường như Tây Thi Cổ bản, Lưu thủy đoản, Lưu thủy trường, Hành Vân, Tứ đại Oán, Dạ cổ hoài lang, gánh Đồng Nữ Ban còn sử dụng nhiều bản mới do ông Nguyễn Tri Khương đặt thêm theo phong cách cổ truyền như Yến tước tranh ngôn, Phong xuy trịch liễu, Thất trĩ bi hùng… Cảnh trí, trang phục đều do cô Ba Viện thiết kế dàn dựng và may ráp, không lấy kiểu theo hát bội. Động tác diễn đều do cô Ba Viện sắp đặt, với phương châm diễn xuất phải “nhập tâm, nhập vai”, diễn xuất theo tình cảm chân thật của mình, không “cường điệu”.

Trong bài viết “Đồng Nữ Ban – gánh cải lương toàn phụ nữ đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam”, TS Nguyễn Phúc Nghiệp nhận xét: Nhận thấy tính cách “quốc sự” của gánh, nên giới cầm quyền thực dân ở Nam kỳ đã ra lệnh cho Đồng Nữ Ban phải ngưng hoạt động vào năm 1929. Tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, nhưng gánh Đồng Nữ Ban là niềm tự hào của nữ giới Tiền Giang trong công cuộc vận động giải phóng dân tộc và góp thêm vào sự đa dạng của sân khấu cải lương trong những năm 20 của thế kỉ vừa qua.

Đến khoảng giữa năm 1929, do sự khủng bố gắt gao của đối phương, gánh hát Đồng Nữ Ban phải giải tán. Khi không còn đoàn hát nữa, bà Ba Viện về ở nhà người em là ông Bảy Triều, sống một cuộc đời thanh bạch. Ở đây, bà đã hết lòng nuôi dạy các cháu của mình là Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch, Trần Thị Mộng Trung khi mẹ các cháu mất sớm. Bà Trần Ngọc Viện mất năm 1944, thọ 60 tuổi.

Cố học giả Vương Hồng Sển khen ngợi bà Ba Viện như sau: “Bà Trần Ngọc Viện là chị nhà tài tử vắn số Bảy Triều. Nay mộ (bà) chôn ở giữa hai mộ vợ chồng em trai Bảy Triều tại làng Vĩnh Kim… Bà biết ca và sử dụng cây thập lục tươi mướt. Bà từng làm cách mạng, không sợ vào khám và đã nếm cơm tù nhiều lần. Đứng về mặt mĩ thuật và văn hóa, bà có công đào tạo mớ đào cải lương và người lỗi lạc để tiếng nhắc đời không ai khác hơn là cô Năm Phỉ”. Nói về bà, trong bài ca trù “Địa linh nhân kiệt” của Hồng Thuận Đăng có đoạn viết như sau: “Người chợ Giữa đi khắp bốn phương hồ hải/Giỏi vạn nghề há phải một nghề thi/Nầy! Ngón tơ đồng trong sáu tỉnh chưa có tương tri/Chơi phong nhã, nói gì cờ với vẽ/So kim cổ biết bao nhiêu kẻ/Dẫu thoa quần cũng san sẻ gánh non sông/Chuyện năm xưa ai có nhớ không?/Ôi! Dân khí, dân quyền rền một lúc…”.

Trần Văn Khê (sinh ngày 24.7.1921) đã lớn lên, được giáo dục và thụ hưởng truyền thống âm nhạc dân tộc trong một gia đình như thế. Chỉ tính từ khi họ Trần từ kinh đô Huế vào đất Vĩnh Kim đến đời Trần Văn Khê đã có 4 đời làm nhạc sĩ. Năm 6 tuổi, Trần Văn Khê được cậu ruột Nguyễn Tri Khương (cháu nội danh tướng Nguyễn Tri Phương), vốn là một thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng hát có tiếng, dạy chơi đàn nguyệt (đàn kìm), đàn cò (đàn nhị) và được cô ruột Trần Ngọc Viện (tức cô Ba Viện) dạy đàn tranh. Từ đó, ba cây đàn chẳng rời ông nửa bước, kể cả khi ông là một sinh viên Trường Y Hà Nội hay là một giáo sư danh tiếng Đại học Sorbonne ở thủ đô Paris nước Pháp.

Kỳ tới: Từ làng Vĩnh Kim đến Đại học Sorbonne – Pháp

Tin bài liên quan

  • Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê
  • Người dân xúc động đưa tiễn GS -TS Trần Văn Khê về nơi an nghỉ cuối cùng
  • Nhiều nghệ sĩ xúc động viếng thăm GS Trần Văn Khê
  • Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến viếng GS Trần Văn Khê
  • Video: Hàng nghìn người tiễn biệt giáo sư Trần Văn Khê về cõi vĩnh hằng
  • Video: Hai cha con GS Trần Văn Khê hòa đàn điêu luyện khiến người nghe ngây ngất
  • Dàn nhạc dân tộc tấu khúc tiễn biệt giáo sư Trần Văn Khê
  • Phạm Duy qua hồi ức của Giáo sư Trần Văn Khê
  • http://laodong.com.vn/xa-hoi/giai-ma-tai-nang-am-nhac-gsts-tran-van-khe-ky-2-mot-gia-dinh-dai-thu-am-nhac-351433.bld

C.K. – Q.N. : Phát tang giáo sư Trần Văn Khê


Phát tang giáo sư Trần Văn Khê

26/06/2015 10:57 GMT+7

TTO – Đúng 10g ngày 26-6, lễ phát tang GS.TS Trần Văn Khê đã được tiến hành tại số 32 Huỳnh Đình Hai, Q.Bình Thạnh, TP.HCM.

 Thi hài giáo sư Trần Văn Khê trong lễ phát tang sáng nay - Ảnh: Quang Định
Thi hài giáo sư Trần Văn Khê trong lễ phát tang sáng nay – Ảnh: Quang Định

Đây cũng chính là căn nhà mà giáo sư Trần Văn Khê đã sống từ khi trở về Việt Nam. Trước đó, tim ông đã ngừng đập lúc 2g55 sáng 24-6 tại phòng hồi sức tích cực Bệnh viện nhân dân Gia Định.

Lễ phát tang giáo sư Trần Văn Khê diễn ra theo đúng nguyện ước lúc sinh thời của ông, theo nghi thức Phật giáo. Các nhà sư từ chùa Định Thành, Q.10, TP.HCM đã đến làm các nghi lễ từ lúc liệm cho đến lúc phát tang. Dàn nhạc dân tộc với tiếng nhạc nhẹ nhàng như mong muốn của giáo sư, rằng sẽ có một đám tang văn hóa, không phiền đến ai, không làm kinh động đến bà con chòm xóm.

Tại lễ phát tang sáng nay, ngoài con cháu của giáo sư Trần Văn Khê, trừ giáo sư Trần Quang Hải sáng 27 mới về đến VN, còn có nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, ông Trần Bá Thùy, nghệ sĩ Kim Cương, nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng…

Lễ viếng bắt đầu từ 12g hôm nay đến hết đêm 28-6. Giáo sư Trần Văn Khê sẽ được hỏa táng tại Bình Dương.

 Gia đình GS.TS Trần Văn Khê trong lễ phát tang sáng nay - Ảnh: Quang Định
Gia đình GS.TS Trần Văn Khê trong lễ phát tang sáng nay – Ảnh: Quang Định
 Nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng trong lễ phát tang giáo sư Trần Văn Khê - Ảnh: Quang Định
Nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng trong lễ phát tang giáo sư Trần Văn Khê – Ảnh: Quang Định
 Các cháu của giáo sư Trần Văn Khê đau đớn trong lễ phát tang sáng nay - Ảnh: Quang Định
Các cháu của giáo sư Trần Văn Khê đau đớn trong lễ phát tang sáng nay – Ảnh: Quang Định
 Nghệ sĩ Kim Cương tham dự lễ phát tang - Ảnh: Quang Định
Nghệ sĩ Kim Cương tham dự lễ phát tang – Ảnh: Quang Định
 Di ảnh giáo sư Trần Văn Khê - Ảnh: Quang Định
Di ảnh giáo sư Trần Văn Khê – Ảnh: Quang Định

C.K – Q.N

TÌNH LÊ : GS Trần Văn Khê từng chịu nhiều điều tiếng/ phỏng vấn nhạc sĩ Đặng Hoành Loan


Văn hóa – Giải trí ››

GS Trần Văn Khê từng chịu nhiều điều tiếng

 Lúc về Việt Nam để làm công tác giới thiệu âm nhạc truyền thống ra thế giới, GS Trần Văn Khê đã bị chịu nhiều điều tiếng, bị hiểu lầm là lấy tài liệu mang ra nước ngoài lấy tiền, làm ‘chảy máu’ âm nhạc truyền thống.

Yêu âm nhạc dân tộc thiết tha

dang hoanh loan

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, người có nhiều năm gắn bó và được GS Trần Văn Khê hướng dẫn tận tình khi nghiên cứu, làm hồ sơ về âm nhạc vô cùng tiếc nuối trước sự ra đi của GS Trần Văn Khê.

Nhạc sĩ tâm sự: “Sự mất đi của bác là một mất mát lớn lao đối với nền âm nhạc truyền thống của Việt Nam bởi bác có một tiếng nói quốc tế trong lĩnh vực âm nhạc này. Cho tới cách nay hơn 1 tháng, bác vẫn viết bài trên mạng, giới thiệu miệt mài âm nhạc truyền thống Việt Nam với bạn bè quốc tế. Bác giới thiệu một người ta tin một, bác giới thiệu hai người ta tin hai. Bác có tiếng nói trong trường quốc tế, bác mất đi là Việt Nam mất vị thế quốc tế. Tiếng nói của Việt Nam ra ngoài nước thiệt thòi, hụt hẫng. Có thể sẽ có những vị khác nhưng để được như GS Khê chắc phải nhiều năm nữa”.

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan chia sẻ rằng, GS Trần Vân Khê là người đầu tiên giới thiệu, giảng dạy âm nhạc truyền thống Việt Nam trên toàn thế giới. Đây là việc làm rất quan trọng và vì công việc mà GS đã có học trò khắp các nước.

GS Trần Văn Khê, ca trù

Ảnh: Nguyễn Hoài Trung

Chính những học trò này, GS Trần Văn Khê luôn hướng họ làm các đề tài liên quan tới âm nhạc truyền thống Việt Nam. Từ đó, học trò khắc các nước của GS dù có làm đề tài theo hướng của ông hay không thì ít nhiều cũng biết được âm nhạc truyền thống Việt Nam nó như thế nào. “Đó là tình yêu đất nước thiết tha thông qua việc yêu âm nhạc truyền thống“, nhạc sĩ Hoành Loan nhấn mạnh.

GS Khê cũng là người giới thiệu âm nhạc Việt Nam trong các chương trình UNESCO và được đánh giá cao. Trong cuộc thi về băng đĩa, GS đã giới thiệu nhiều nghệ nhân như Quách Thị Hồ, Tống Văn Ngữ.

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan nhớ lại một lần mà ông phải bái phục GS Khê về lòng yêu thiết tha âm nhạc dân tộc. “Khi giới thiệu cho sinh viên Pháp về âm nhạc dân tộc, họ say sưa nghe không màng tới thời gian. GS thì nói liền mấy tiếng không ngừng nghỉ. Một con người hiểu âm nhạc Việt Nam tới sâu sắc như vậy quả là ít có ở Việt Nam”, nhạc sĩ Hoành Loan chia sẻ.

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan kể, đối với Viện Âm nhạc Việt Nam, GS Khê là người cộng tác, vừa là thầy, vừa là bạn, vừa là cha chú đối với Viện. GS toàn dùng tiền của mình giúp cho Viện từ máy ghi âm, thiết bị, hướng dẫn cán bộ nghiên cứu phương pháp điền dã. Điều này đã đóng vai trò quan trọng giúp viện đi đúng phương pháp sưu tầm của thế giới.

Những năm 1980, phương pháp sưu tầm âm nhạc của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở sưu tầm giai điệu, nốt nhạc trong sinh thái văn hóa. GS đã dạy lớp nghiên cứu của Viện hiểu rằng, để có công trình nghiên cứu âm nhạc còn phải có một nhãn quan văn hóa, phải đặt trong một sinh cảnh văn hóa, không gian và thời gian lịch sử nhất định.

Cùng với phương pháp điền dã, từ những năm 1990 lần nào ở Pháp về GS đều nói chuyện so sánh âm nhạc Việt nam với Thế giới để các cán bộ ở Viện nghe. GS nói nghiên cứu không thể thấu đáo được khi chỉ nghiên cứu trong nước mình mà không liên hệ với các nước trong khu vực. Chính điều này buộc các nhà nghiên cứu của Việt Nam phải mở rộng tầm nhìn, liên hệ quốc tế.

Những năm 1990, GS Khê đang còn là ủy viên hội đồng UNESCO, hướng dẫn Việt Nam xây dựng hồ sơ di sản văn hóa. Di sản Nhã nhạc là loại hình đầu tiên được làm hồ sơ.

Ca trù cũng vậy. Ca trù là nghệ thuật duy nhất của Việt Nam bị hắt hủi nhưng GS đã đánh giá và nói chuyện với vị lãnh đạo Việt Nam về giá trị văn học và âm nhạc. Năm 2005 nhiều ý kiến khác nhau khi đánh giá ca trù nhưng cuối cùng GS đã thuyết phục được nhà nước đồng ý làm hồ sơ di sản cho ca trù.

“GS là người đầu tiên hướng cho chúng ta phương pháp xây dựng di sản kiệt tác là như thế nào”, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan cho biết.

Lần đầu tiên được GS Khê hướng dẫn làm hồ sơ xây dựng Ca trù, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan mới thực sự biết được thế nào là văn bản chuẩn quốc tế, chuẩn về kỹ thuật, nội dung, ngôn ngữ. GS sửa từng nội dung, sửa chỗ nào chỉ ra tại sao sửa. “Tôi lớn lên từ những điều tưởng như nhỏ nhặt đó”, nhạc sĩ Hoành Loan nhớ lại.

Cũng chính lần đó, khi nói chuyện về nghệ thuật ca trù, trong lúc viện âm nhạc phân tích về cái hay, cái độc đáo của Ca trù, GS Khê đã thẳng thắn chỉ ra 2 cái hay nhất mà Viện thiếu vẫn chưa đưa ra được để thuyết phục nhiều người khó tính. “GS phân tích, cái độc đáo của ca trù là cái phách, tại sao phách ca trù lại có 3 lá. Phách 1, phách đôi để tạo ra 2 âm sắc khác nhau, đó mới là cái độc đáo, phát hiện tinh tế về âm nhạc.

GS phát hiện thêm cho Viện cái độc đáo khác nữa của giọng hát ca trù ngoài cái mà Viện phát hiện trước đó là giọng hát ca trù dung giọng. Nhưng dung giọng chưa độc đáo, giọng hát ca trù độc đáo ở cách hát đổ hột. GS bảo, nghệ nhân Quách Thị Hồ có giọng hát đổ hột như tiếng ngọc rơi trên mâm bạc. Chính GS đã cung cấp cách nhìn vào chi tiết nghệ thuật, âm nhạc dân tộc của Việt Nam mà phương Tây chưa có.

Một giáo sư bậc thầy

GS Trần Văn Khê, ca trù

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan kể, thời gian làm việc với GS Khê, nhạc sĩ chưa từng thấy GS cáu gắt bao giờ. “Khi làm việc với GS để lập hồ sơ Đờn ca tài tử. GS là bậc thầy đứng cách tôi vời vợi. Trao đổi với GS mới thấy mình ngu ngọng nhưng GS chỉ nói là cái này chú chưa biết, GS hướng dẫn tận tình, không cáu gắt, đặc biệt là không bao giờ hỏi đến tiền. Tôi không biết GS có bao nhiêu tiền, nhiều đến cỡ nào nhưng làm việc hăng say từ 2h đến 6h30 chiều, chỉ bảo tường tận mà chưa bao giờ đòi tôi một đồng thù lao nào cả”, nhạc sĩ Hoành Loan nhấn mạnh.

Mặc dù GS không ưng với Bộ VHTT&DL giao cho Viện âm nhạc làm hồ sơ Đờn ca tài tử bởi GS muốn Nam bộ làm hơn, vì chỉ có Nam bộ mới làm tốt hơn tất cả các vùng miền khác về Đờn ca tài tử.  Nhưng dù không ưng lắm, như nhiều người khác giận dỗi, nhưng GS vẫn tận tình chỉ bảo. Kể cả khi xong rồi, GS vẫn nói rằng giao cho Nam bộ vẫn tốt hơn nhưng vẫn không hề ‘ấm ức’.

“Như vậy cho thấy GS Khê trân trọng ngay cả với những quy định pháp luật mặc dù lúc đó, GS có thể yêu cầu đưa cho Nam Bộ làm”, nhạc sĩ Hoành Loan nhấn mạnh.

Nhạc sĩ Hoành Loan bảo, cũng có một thời gian GS làm việc ở Việt Nam bị nhiều hiểu nhầm. Người ta xôn xao GS về nước lấy tư liệu đem bán thế giới để thu về lợi cá nhân, làm chảy máu âm nhạc dân tộc dù đó chính là giai đoạn GS giới thiệu âm nhạc Việt Nam ra thế giới nhiều. GS đã nhận biết bao nhiêu tai tiếng nhưng ông không giận, chỉ nói rằng người ta chưa hiểu mình, rồi sẽ hiểu.

Đúng là người làm khoa học, không bực tức với câu chuyện xung quanh, bỏ qua tất cả chỉ tập trung vào chuyên môn của mình. Tôi khẳng định cả đời GS không có chuyện buôn bán tài liệu. Chỉ một lòng giới thiệu âm nhạc việt nam ra thế giới. GS toàn đi đi về về bằng tiền của mình để giới thiệu âm nhạc Việt Nam thôi“, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan tâm sự.

“GS Khê cũng có cách hành xử với âm nhạc dân tộc rất mở, tinh tế”, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan cho biết.

Ông kể, có lần khi nói chuyện về dân ca Việt Nam, GS bảo nhạc sĩ tổ chức chương trình để một số nghệ nhân có thể ca hát, giới thiệu âm nhạc truyền thống. Nhưng lúc đó  nhạc sĩ Hoành Loan nói quan họ cổ thì không còn, chỉ có quan họ người ta đệm đàn để hát. GS Khê nói: “Ngày nay người ta đã hát có đàn, cứ tổ chức hát có đàn, chứ không phải là nhất nhất cổ“.

“Điều này cho thấy cái hành xử với âm nhạc truyền thống, không cứ phải đẩy nó vào cổ sơ. Gợi mở cách ngẫu hững, không thể ép người ta chỉ hát những bài cũ. Quan điểm của GS rất gợi mở. Đúng là cách nhìn của GS bậc thầy”, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan nhấn mạnh.

Tình Lê

http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/244845/gs-tran-van-khe-tung-chiu-nhieu-dieu-tieng.html

This blog is focused on Trân Quang Hai