Tag Archives: unesco intangible cultural heritage

Ví and Giặm folk songs of Nghệ Tĩnh (Viet Nam) , Intangible Cultural Heritage UNESCO 2014


Ví and Giặm folk songs of Nghệ Tĩnh (Viet Nam)
Liste représentative – 2014

Dossiers en cours (2014)

Vous trouverez ci-dessous les dossiers pour le cycle 2014. Cette liste n’est pas encore complète et est mise à jour quodiennement au fur et à mesure de l’enregistrement des dossiers éligibles reçus.

Il s’agit de dossiers de candidatures pour la Liste de sauvegarde urgente ou la Liste représentative, de propositions pour le Registre des meilleures pratiques de sauvegarde ainsi que de demandes d’assistance internationale supérieure à 25 000 dollars des États-Unis. Le Comité sera amené à les examiner lors de sa neuvième session en novembre 2014.

Files under process (2014)

Below are the files for 2014 cycle. This list is not yet complete and is updated daily as eligible files are being registered.

This list includes nominations for the Urgent Safeguarding List or the Representative List, proposals for the Register of Best Safeguarding Practices and requests for International Assistance of more than US$ 25,000. The Committee will examine them during its ninth session in November 2014.

http://www.unesco.org/culture/ich/index.php?lg=en&pg=00581&include=slideshow.inc.php&id=01008&width=620&call=slideshow&mode=scroll

DƯƠNG QUANG : Công diễn kết quả khảo sát Nghi lễ Chầu văn của người Việt


Công diễn kết quả khảo sát Nghi lễ Chầu văn của người Việt

Thứ hai, 06/05/2013, 12:40 (GMT+7)

(SGGPO).- Buổi công diễn kết quả khảo sát nội bộ Nghi lễ Chầu văn của người Việt toàn quốc lần thứ II đã được tổ chức vào tối hôm qua, 5-5, tại Quần thể Di tích lịch sử văn hóa Tiên Sơn, phường Trung Lương, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Đây là hoạt động do Liên hiệp các Hội Unesco Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Tĩnh tổ chức, nhằm khảo sát hoàn thiện hồ sơ khoa học để trình Unesco công nhận Nghi lễ Chầu văn là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại theo tinh thần nội dung công văn số 1586/ BVHTTDL-DSVH ngày 24-5-2012 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch.

Một tiết mục biểu diễn trong nghi lễ Chầu văn của người Việt

Tham dự có 16 thanh đồng tiêu biểu được lựa chọn từ 17 tỉnh, thành có hoạt động diễn xướng chầu văn như Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Hà Nội,  Hà Tĩnh…

Một cán bộ Liên hiệp Unesco Việt Nam cho biết: Sau hai ngày khảo sát (ngày 4 và 5-5) các tiết mục diễn xướng được chúng tôi chọn ra để làm căn cứ bổ sung cho việc lập hồ sơ khoa học trình Unesco công nhận Nghi lễ Chầu văn là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại…

Chầu văn hay hát bóng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (Đạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo), nghi lễ tín ngưỡng dân gian của Việt Nam. Bằng cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với các lời văn chau chuốt nghiêm trang, chầu văn được coi là hình thức ca hát mang ý nghĩa chầu thánh. Hát Chầu văn bao gồm 4 hình thức biểu diễn là hát thờ, hát thi, hát hầu và hát văn nơi cửa đền.

Dương Quang – Bách Khoa

http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2013/5/317686/

QUANG LÊ : Giáo dục di sản: Những nút thắt phải gỡ, VIETNAM


Giáo dục di sản: Những nút thắt phải gỡ

 

Thứ Bảy, 02/02/2013 09:42

Giáo dục di sản là một bộ phận không thể tách rời của giáo dục truyền thống dân tộc, từ chính trị, kinh tế đến quân sự, ngoại giao, lịch sử và văn hóa… Việc này đã được đề cập đến trong các Nghị quyết của Đảng, Chương trình hành động của Chính phủ và đã được các cấp, các ngành triển khai thực hiện từ nhiều năm nay. Đây là việc làm vô cùng cần thiết, nhưng xem ra kết quả lại chưa được như mong muốn. Vì sao?

Chuyện không mới, vẫn cần cách làm mới

Từ bao đời nay, các thế hệ người Việt Nam vẫn luôn truyền dạy cho con cháu mình từ những việc nhỏ đến những việc lớn, từ lễ phép trong nhà ra họ hàng đến xóm giềng, rồi cộng đồng, xã hội, đất nước, dân tộc và thế giới. Tất cả những việc làm ấy phần lớn đều tự giác và mang tính tự phát, chưa trở thành hệ thống, có qui mô và qui chuẩn khoa học rõ ràng. Chẳng hạn như khi mẹ dắt con vào vãn cảnh chùa đầu xuân, con định giơ tay bẻ một cành hoa, mẹ bảo con không được làm như thế. Con nghe lời mẹ không bẻ cành hoa. Vậy là người mẹ cảm thấy yên tâm là con mình ngoan, biết vâng lời. Còn vì sao con không nên bẻ cành hoa thì người mẹ rất ít khi giải thích rõ, nhiều khi con hỏi, mẹ cũng giải thích “trật kheo” luôn. Phải chăng giáo dục di sản ở ta mới chỉ dừng lại mức ấy (!?).

 

 

Trường THPT Lương Văn Tri – Lạng Sơn đưa Di sản Hát then vào dạy cho các em học sinh. Ảnh: CTV

Gần đây, nhiều cuộc hội thảo khoa học về bảo tồn và phát huy di sản đã tổ chức. Được Văn phòng UNESCO Việt Nam tài trợ, Chương trình “Giáo dục di sản trong nhà trường tại Việt Nam” ra đời và hoạt động từ năm 2009. Một số trường học đưa chương trình này vào nhà trường như là những thí nghiệm bước đầu. Các trường gồm: Tư thục Nguyễn Văn Huyên, THCS Lê Ngọc Hân, THCS Cầu Diễn, THCS Ngô Sĩ Liên (Hà Nội), THCS Tử Nê, THCS Thanh Hối (Hòa Bình) đã tham gia dự án. Ở Quảng Ninh đang triển khai thực hiện Xây dựng bộ tài liệu về Giáo dục môi trường có tên là “Giáo dục bảo tồn di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long” dành cho giáo viên. Còn ở Phú Thọ cũng đưa Di sản Hát xoan vào một vài chương trình ngoại khóa tại một số trường. Ở Hà Nội và Đăk Nông đang triển khai Dự án “Tăng cường năng lực tiếp cận và phản ánh thông tin cho giới trẻ nhằm bảo tồn các giá trị di sản văn hóa”…

Riêng với Nghệ An, cách làm có vẻ bài bản và có tầm nhìn xa, trông rộng hơn. Trung tâm Bảo tồn và Phát huy Di sản Dân ca xứ Nghệ đã và đang từng bước đưa bộ môn dân ca xứ Nghệ vào trường học bằng nhiều hình thức, trong đó có đề án “Thực hiện đưa dân ca vào trường học” giai đoạn 2008 – 2015 của trung tâm.

Trước hết, trung tâm xúc tiến việc nắm bắt thực trạng dân ca xứ Nghệ trong đời sống lứa tuổi học đường thông qua việc điều tra, sưu tầm và lưu giữ các làn điệu hò, hát ví, dặm Nghệ Tĩnh ngay từ đầu những năm 2000. Sau đấy họ đưa ra một chương trình giảng dạy rất cụ thể đối với từng lứa tuổi học đường. Chẳng hạn như trong hệ thống các trường mầm non chỉ là tập làm quen với các làn điệu dân ca xứ Nghệ. Đến bậc tiểu học, học hát dân ca trở thành một bộ môn văn hoá chính thức khoảng 8 năm trở lại đây. Đến cấp trung học cơ sở, âm nhạc đã được đưa vào chính thức, trở thành một trong những môn văn hóa, mỗi tuần một tiết trải đều trong cả năm học, có tổ chức kiểm tra, chấm điểm. Lên đến cấp trung học phổ thông, âm nhạc là chương trình ngoại khóa được tổ chức nhân dịp kỉ niệm những ngày đại lễ của đất nước, những ngày lễ của địa phương, nhà trường, những dịp phát động thi đua…

Cần nhưng chưa đủ…

Tại các cuộc hội thảo, có nhiều ý kiến khác nhau về cách thức đưa giáo dục di sản vào trường học. PGS.TS. Nguyễn Văn Huy – Hội Di sản văn hóa cho rằng, các dự án đưa di sản vào trường học vài năm qua dù ít nhiều thu được tác động tích cực, nhưng còn không ít thách thức đối với các nhà quản lý giáo dục, văn hóa.

Tuy nhiên, nhược điểm của đa số dự án là những người thực hiện chỉ hiểu về di sản văn hóa và truyền thống văn hóa ở mức chung chung, theo lối mòn. Chưa kể đến hàng loạt thách thức mà chính những người thực hiện vấp phải như thiếu và không có sự tham gia, giám sát của các cơ quan quản lý giáo dục. Bản thân ngành văn hóa chưa thực sự cung cấp đủ thông tin tại các di sản, di tích và bảo tàng.

Tại Phú Thọ, vào cuối tháng 11/2012 đã tổ chức Hội thảo khoa học thực tiễn giáo dục di sản văn hóa trong trường phổ thông. Ông Hoàng Dân Mạc – Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ khẳng định, việc đưa giáo dục di sản vào trong trường phổ thông là việc làm cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường sự hiểu biết cho thế hệ trẻ về di sản văn hóa, lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông trên quê hương đất Tổ nói riêng và của đất nước Việt Nam nói chung, từ đó tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của giá trị di sản truyền thống trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam, tạo điểm tựa tinh thần, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc…

Cũng tại Hội thảo này, bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Phó trưởng phòng GD&ĐT thị xã Phú Thọ đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục di sản văn hóa trong nhà trường tiểu học. Còn PGS.TS. Đỗ Văn Trụ – Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng Thư ký Hội Di sản Văn hóa Việt Nam lại có quan điểm, việc đưa di sản vào trường học là cần thiết, tuy nhiên theo tôi, chúng ta không cần thiết phải có hẳn một môn Di sản văn hóa trong chương trình học mà chỉ cần lồng ghép nội dung về di sản văn hóa trong trường học. Tất nhiên trong quá trình lồng ghép chúng ta cũng nên chọn lọc những di sản tiêu biểu gắn với thực tế địa phương mà các em sinh sống, chứ không thể dạy những cái chung chung, xa vời so với tầm hiểu biết của các em.

Ai cũng biết đưa giáo dục di sản vào nhà trường là cần thiết, nhưng đưa cái gì và đưa như thế nào xem ra vẫn còn là một bài toán chưa có lời giải một sớm, một chiều. Dẫu biết rằng để có một di sản được cả nước và thế giới công nhận như hôm nay, các thế hệ cha ông chúng ta đã phải mất hàng trăm, hàng ngàn năm và lâu hơn nữa mới tạo lập nên, nhưng nếu các em – những thế hệ tương lai của dân tộc chưa thấy việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản là một phần trách nhiệm của chính mình thì mọi cố gắng của người lớn chúng ta xem ra cũng chỉ như muối bỏ bể mà thôi.

Quang Lê

http://suckhoedoisong.vn/20130202094023754p0c15/giao-duc-di-san-nhung-nut-that-phai-go.htm

TRIẾT GIANG : Đầu tư vào “chất” cho di sản đề cử , VIETNAM


Đầu tư vào “chất” cho di sản đề cử (06/04/2013)
Thông tin từ Văn phòng đại diện UNESCO Việt Nam vừa cho biết, năm 2013 Việt Nam sẽ chỉ có một đại diện di sản giành chiến thắng. Trong khi đó số lượng hồ sơ đại diện cho mỗi hạng mục hiện tại của ta đang ít nhất có 2 và nhiều nhất là 4. Hóa ra, sự việc không đơn giản.
 
 
Làng cổ Đường Lâm
Ảnh: Hòang Long
 
Số lượng nhiều
 
Hiện Việt Nam có khoảng trên dưới 10 di sản đã và đang trong quá trình lập hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa của nhân loại, Di sản thiên nhiên thế giới. Đó là nghi thức chầu văn (Nam Định), nghệ thuật hát then (Tuyên Quang), tranh dân gian  Đông Hồ (Bắc Ninh), làng cổ Đường Lâm (Hà Nội), hát Ví dặm (Nghệ Tĩnh) … Trước đó, có những di sản đã xếp hàng từ cách đây ít nhất 3 năm như cụm danh thắng Tràng An (Ninh Bình) – Di sản hỗn hợp; đảo Cát Bà (Hải Phòng) – Di sản thiên nhiên; nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ – Di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu…
 
Đặc biệt, mới đây nhất vào ngày ngày 28-3, tỉnh Quảng Ninh cũng đã có buổi báo cáo với Bộ VHTT& DL về kế hoạch lập hồ sơ cho cụm di tích Yên Tử, đệ trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Theo đó, quần thể di sản văn hóa và danh thắng Yên Tử có tổng diện tích khoảng trên 20.000 ha thuộc địa bàn thành phố Uông Bí và huyện Đông Triều. Quần thể di sản này bao gồm 2 cụm di tích chính là: Khu Di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử  và Khu di tích lịch sử nhà Trần tại Đông Triều. Được biết, về lâu dài, tỉnh Quảng Ninh cũng có ý tưởng xây dựng hồ sơ đề cử UNESCO hệ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam- vốn gắn liền với khu di tích Yên Tử và vua Trần Nhân Tông cho hạng mục Di sản văn hóa phi vật thể. 
 
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Mạnh Thắng- Phó Tổng thư ký Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, đến thời điểm hiện tại tất cả các ứng cử viên Di sản thế giới như nghi thức chầu văn, tranh Đông Hồ, quần thể di tích Yên Tử… vẫn chỉ đang dừng ở giai đoạn thu thập hồ sơ hoặc chờ sự đồng ý từ Thủ tướng Chính phủ để chính thức triển khai. Và ngày 31-3 vừa qua thời hạn nhận hồ sơ ứng thí Di sản của UNESCO đã kết thúc. Chính vì vậy những ứng viên chưa kịp hoàn thiện hồ sơ chắc chắn sẽ phải xếp hàng đăng ký vào năm 2014. Đồng thời cũng phải chờ kết quả một năm sau đó- tức là năm 2015.
 
 
Làng cổ Đường Lâm – một trong những
 ứng viên di sản xếp hàng chờ đến lượt năm 2014
 
Đầu tư vào “chất” cho hồ sơ ứng thí
 
Được biết, từ vài năm nay, UNESCO khuyến cáo các nước tham gia nên chủ động xếp thứ tự ưu tiên trong trường hợp gửi nhiều hồ sơ đề cử cho danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể. Ngoài ra, tổ chức này cũng khuyến khích ưu tiên các bộ hồ sơ được xây dựng liên thông bởi nhiều quốc gia, hoặc thuộc về các nước chưa có danh hiệu nào. UNESCO chỉ chấp nhận các quốc gia gửi một hồ sơ mỗi năm cho từng thể loại: Di sản tự nhiên, Di sản văn hóa, Di sản hỗn hợp. 
 
Với cánh cửa hẹp này, hi vọng lớn nhất trong năm 2013  là di sản Đờn ca tài tử Nam Bộ sẽ có nhiều khả năng được UNESCO xét công nhận (hồ sơ gửi đi từ năm 2012). Theo kế hoạch, số phận của bộ hồ sơ này sẽ chính thức được định đoạt trong phiên họp của Hội đồng UNESCO tại Azerbaizan vào cuối tháng 11-2013. Và nếu Đờn ca tài tử được vinh danh, sẽ là một điều đáng tự hào bởi  liên tục trong 5 năm qua, Việt Nam đều đặn nhận về các danh hiệu Di sản thế giới cho mọi loại hình.
 
Nhưng cũng từ bài học làm hồ sơ ứng thí cho di sản tư liệu thế giới khu vực châu Á- Thái Bình dương là Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, một bài học được rút ra đó là phải đầu tư nhiều vào “chất” cho di sản Việt Nam đề cử. Cụ thể đó là sự tỉ mỉ trong quá trình lập hồ sơ Di sản. Trước khi được vinh danh, hồ sơ Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đã từng bị thất bại ở “lượt đi”. Bởi theo ông Nguyễn Mạnh Thắng, bộ hồ sơ di sản này không đủ sức thuyết phục UNESCO một cách  tường tận về vai trò và ý nghĩa của Phật giáo Việt Nam – khi mà hầu hết thành viên thuộc Hội đồng chuyên môn và IOCMOS (cơ quan tư vấn độc lập) của Ủy ban Di sản thế giới đều đến từ các nước châu Âu. Theo đó, năm 2011 hồ sơ của Mộc bản Vĩnh Nghiêm gần như được nghiên cứu viết lại để hướng về những giá trị đậm chất “châu Á”. Đơn cử như tinh thần của Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam- nội dung chính được khắc trên mộc bản trong bộ hồ sơ được nhắc tới trong sự so sánh về mối quan hệ với Phật giáo của Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan. Còn trong sự độc đáo riêng, Thiền phái Trúc Lâm được tập trung phân tích như một bước phát triển mới về việc con người đặt niềm tin vào việc thuận theo quy luật tự nhiên, trong khi nhiều hệ Phật giáo khác hướng tới niềm tin vào các thế lực thần bí.. 
 
Theo cách nói dân dã là Việt Nam ra ngõ… gặp di sản. Mừng nhiều nhưng nỗi lo cũng lớn bởi hiện tại chúng ta đang quá chú trọng vào việc “di sản hóa”. Trong khi việc giữ gìn “chất” của di sản: đưa di sản về cho cộng đồng, giải quyết vấn đề bảo tồn và phát huy di sản (câu chuyện làng cổ Đường Lâm là ví dụ điển hình); quảng bá di sản sau vinh danh cũng như khai thác tiềm năng của di sản cho phát triển du lịch… vẫn còn quá nhiều nhiều việc phải bàn.
 
Triết Giang

Xoan singing of Phú Thọ Province, Viet Nam , VIETNAM 2011


Mise en ligne le 21 nov. 2011

UNESCO: List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding – 2011
URL: http://www.unesco.org/culture/ich/USL…
Description: Xoan singing is practised in Phú Thọ Province, Viet Nam, in the first two months of the lunar year. Xoan guilds traditionally performed in sacred spaces such as temples, shrines and communal houses for the spring festivals. Xoan singing is accompanied by dancing and musical instruments such as clappers and a variety of drums. Knowledge, customs and techniques for singing, playing and dancing are traditionally transmitted orally by the guild leader. In recent years the singing has been taken up by clubs and other performing groups.
Country(ies): Viet Nam
© Vietnamese Institute for Musicology, Vietnam
Duration: 00:09:59 – Support: DVD (0053800013)

HÁT XOAN – DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ THẾ GIỚI, VIETNAM 2011


Uploaded on Nov 24, 2011

Tổng quan về hát Xoan – Phú Thọ khi chưa được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể thế giới! Đến ngày 24/11/2011, HÁT XOAN PHÚ THỌ CHÍNH THỨC ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ DSVHPVTTG CẦN BẢO VỆ KHẨN CẤP

BÙI TRỌNG HIỀN’s INTERVIEW / PRESERVING TRADITIONAL MUSIC UPLIFTING ART, VIETNAM 2009


  PRESERVING TRADITIONAL MUSIC UPLIFTING ART

Viet Nam News 13/9/2009

http://vietnamnews.vnagency.com.vn/showarticle.php?num=01INN130909

Traditional musicologist Bui Trong Hien, of the Viet Nam Institute for Culture and Arts Research, has helped prepare documents for Viet Nam’s intangible cultural heritage applications for submission to UNESCO. He talks to Trung Hieu about the work.

Bui Trong Hien was born in 1966 and began to study music at the Ha Noi Music Conservatory when he was 10. For a few years, he was also a lecturer at his alma mater, now known as the Viet Nam National Academy of Music.

He began working for the Viet Nam Institute for Culture and Arts Research in 1996. He has prepared the UNESCO application documents for the Tay Nguyen (the Central Highlands) gong culture, ca tru (ceremonial songs) and quan ho (northern Delta love duets).

His most recent documents were for quan ho, which Viet Nam submitted at the end of last year. Results from UNESCO are expected early next month. If quan ho is recognised, it will be Viet Nam’s third art (after Hue royal music and gong culture) to become recognised as a world intangible cultural heritage.

Inner Sanctum: Do you believe that Viet Nam’s quan ho will be recognised by UNESCO as an intangible cultural heritage?

Compared to our previous documents, such as those for the Tay Nguyen gongs and ca tru, the files for northern Delta love duets were not as perfect.

For example, love duets traditionally consist of ask-and-respond singing sessions between two groups of male and female singers, each group with only five or six people.

However, in the video tapes submitted as part of the file there is a group of a dozen men and another with about twenty women, both young and old.

There are also several other mistakes in the settings.

However, despite these mistakes, I hope UNESCO’s critical expert will be attracted by the sweet and attractive melodies of the art.

 

http://www.baodatviet.vn/Home/vanhoa/Ho-so-Quan-ho-gio-chot-van-lac-duong/20089/14697.datviet

Inner Sanctum: As someone who spent many years studying traditional music and directly participated in preparing cultural heritage documents, including Tay Nguyen gongs, ca tru and quan ho, can you point out the difficulties for persuading UNESCO experts to recognise Vietnamese ancient folk music?

The candidates must be really attractive, with implicit values. Particularly for quan ho, as a musical art, the documentation must highlight this value to persuade UNESCO’s critical expert. I think this is the most difficult thing. In a critical role as a scientist, if this expert is persuaded, he or she would explain our proposal to the board of examiners in the best way. UNESCO often selects a board of examiners made up of representatives from many different social classes, such as politicians, royal figures and business people. During the approval process, the examiners will also depend a lot on the critical expert’s report. All of our submissions to UNESCO for recognition as a cultural heritage are traditional music with high artistic values, so I hope everything will be good!

Inner Sanctum: Currently, many localities are trying to lobby for their local cultural heritage to be recognised as a world heritage. It has even become a race. But many of these proposals and ideas are not very practical. What do you think about this situation?

There are two reasons: First, many people are seeking fame, which is common among our wet rice culture. They want their local heritage to be internationally recognised, so that they will have fame in the international community.

Second, the effort involved in collecting and assembling the documentation for submission to UNESCO can create jobs and income for many people. If they are able to implement the projects successfully, they can earn fame and promotion opportunities.

For the researchers, assembling the files also provides a good opportunity because the project would provide them with funds to implement their studies. For example, assembling the files for ca tru for UNESCO approval was a success. Thanks to project expenditures, researchers were able to take historical field trips between 2005-07 in the 14 cities and provinces where ca tru existed.

Actually, we should be aware that local arts, whether they are compiled into files or not, and whether they are acknowledged by UNESCO or not, are still our nation’s heritage, which were nourished by our forefathers for the last several thousand years.

For example, many ethnic minority people in Tay Nguyen I spoke with did not really care if their local art was recognised by UNESCO or not.

When we, the researchers, came and asked them to play gongs for us to record, then okay, they played the gongs. Afterwards they went on with their daily chores and on to their forest gardens. Many did not even know what UNESCO was.

We have our national pride. I think the way we respect our heritage is more important than recognition from the international community.

In our modern integrated world, all values will become mankind’s common assets.

If our heritage’s are recognised by UNESCO, but we could not preserve them, this would be more painful.

Inner Sanctum: A lot of ancient cultural values in many localities are eroding, and the people who are involved in documentation projects only focus on organising festivals, popularisation and tourism development. What is your opinion about the core of this problem?

This situation is obvious. Many people wish to have the “UNESCO heritage” title for both sincere and self-seeking targets. In truth, many people involved in making these files do not have a real love for ancient values. Some of them have to do it because they are required to do so.

In addition to negative elements, position elements are clear: a local art recognised by UNESCO is very encouraging to the local community, especially local artisans who still preserve the heritage.

As for quan ho, you should remember that its traditional singing sessions are no longer held. All the current sessions are recovered versions, performed mostly to entertain tourists.

In the current market, popularisation for tourism is necessary to help preserve quan ho. The taste among the people for entertainment has changed; so it is very difficult to preserve this art.

Inner Sanctum: After quan ho, what other folk music could be proposed to UNESCO for recognition as an intangible cultural heritage?

I think tai tu (amateur’s music) – cai luong (reformed theatre) from southern Viet Nam could be persuasive candidates after quan ho and ca tru. The reason is, among traditional Vietnamese folk music, this represents the top of stringed musical instruments.

Moreover, people in the South still preserve a lot of ancient songs, musical pieces and plays.

Cheo (traditional operetta) and tuong (classical drama) are valuable, but many of their ancient plays have been lost and the modern versions have changed a lot.

Inner Sanctum: What is the last thing on your mind?

Preserving ancient cultural heritage is really very tiring work. I do it because it’s my passion, because I love it. I do not lay much hope on the work. I just feel anxious for these aspects of our cultural heritage – the things I love – and I hope to share my concerns with my friends. I don’t think about anything bigger. VNS

http://siphubacha.multiply.com/journal/item/96