Ví and Giặm folk songs of Nghệ Tĩnh (Viet Nam) , Intangible Cultural Heritage UNESCO 2014


Ví and Giặm folk songs of Nghệ Tĩnh (Viet Nam)
Liste représentative – 2014

Dossiers en cours (2014)

Vous trouverez ci-dessous les dossiers pour le cycle 2014. Cette liste n’est pas encore complète et est mise à jour quodiennement au fur et à mesure de l’enregistrement des dossiers éligibles reçus.

Il s’agit de dossiers de candidatures pour la Liste de sauvegarde urgente ou la Liste représentative, de propositions pour le Registre des meilleures pratiques de sauvegarde ainsi que de demandes d’assistance internationale supérieure à 25 000 dollars des États-Unis. Le Comité sera amené à les examiner lors de sa neuvième session en novembre 2014.

Files under process (2014)

Below are the files for 2014 cycle. This list is not yet complete and is updated daily as eligible files are being registered.

This list includes nominations for the Urgent Safeguarding List or the Representative List, proposals for the Register of Best Safeguarding Practices and requests for International Assistance of more than US$ 25,000. The Committee will examine them during its ninth session in November 2014.

http://www.unesco.org/culture/ich/index.php?lg=en&pg=00581&include=slideshow.inc.php&id=01008&width=620&call=slideshow&mode=scroll

DƯƠNG QUANG : Công diễn kết quả khảo sát Nghi lễ Chầu văn của người Việt


Công diễn kết quả khảo sát Nghi lễ Chầu văn của người Việt

Thứ hai, 06/05/2013, 12:40 (GMT+7)

(SGGPO).- Buổi công diễn kết quả khảo sát nội bộ Nghi lễ Chầu văn của người Việt toàn quốc lần thứ II đã được tổ chức vào tối hôm qua, 5-5, tại Quần thể Di tích lịch sử văn hóa Tiên Sơn, phường Trung Lương, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Đây là hoạt động do Liên hiệp các Hội Unesco Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Tĩnh tổ chức, nhằm khảo sát hoàn thiện hồ sơ khoa học để trình Unesco công nhận Nghi lễ Chầu văn là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại theo tinh thần nội dung công văn số 1586/ BVHTTDL-DSVH ngày 24-5-2012 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch.

Một tiết mục biểu diễn trong nghi lễ Chầu văn của người Việt

Tham dự có 16 thanh đồng tiêu biểu được lựa chọn từ 17 tỉnh, thành có hoạt động diễn xướng chầu văn như Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Hà Nội,  Hà Tĩnh…

Một cán bộ Liên hiệp Unesco Việt Nam cho biết: Sau hai ngày khảo sát (ngày 4 và 5-5) các tiết mục diễn xướng được chúng tôi chọn ra để làm căn cứ bổ sung cho việc lập hồ sơ khoa học trình Unesco công nhận Nghi lễ Chầu văn là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại…

Chầu văn hay hát bóng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (Đạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo), nghi lễ tín ngưỡng dân gian của Việt Nam. Bằng cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với các lời văn chau chuốt nghiêm trang, chầu văn được coi là hình thức ca hát mang ý nghĩa chầu thánh. Hát Chầu văn bao gồm 4 hình thức biểu diễn là hát thờ, hát thi, hát hầu và hát văn nơi cửa đền.

Dương Quang – Bách Khoa

http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2013/5/317686/

QUANG LÊ : Giáo dục di sản: Những nút thắt phải gỡ, VIETNAM


Giáo dục di sản: Những nút thắt phải gỡ

 

Thứ Bảy, 02/02/2013 09:42

Giáo dục di sản là một bộ phận không thể tách rời của giáo dục truyền thống dân tộc, từ chính trị, kinh tế đến quân sự, ngoại giao, lịch sử và văn hóa… Việc này đã được đề cập đến trong các Nghị quyết của Đảng, Chương trình hành động của Chính phủ và đã được các cấp, các ngành triển khai thực hiện từ nhiều năm nay. Đây là việc làm vô cùng cần thiết, nhưng xem ra kết quả lại chưa được như mong muốn. Vì sao?

Chuyện không mới, vẫn cần cách làm mới

Từ bao đời nay, các thế hệ người Việt Nam vẫn luôn truyền dạy cho con cháu mình từ những việc nhỏ đến những việc lớn, từ lễ phép trong nhà ra họ hàng đến xóm giềng, rồi cộng đồng, xã hội, đất nước, dân tộc và thế giới. Tất cả những việc làm ấy phần lớn đều tự giác và mang tính tự phát, chưa trở thành hệ thống, có qui mô và qui chuẩn khoa học rõ ràng. Chẳng hạn như khi mẹ dắt con vào vãn cảnh chùa đầu xuân, con định giơ tay bẻ một cành hoa, mẹ bảo con không được làm như thế. Con nghe lời mẹ không bẻ cành hoa. Vậy là người mẹ cảm thấy yên tâm là con mình ngoan, biết vâng lời. Còn vì sao con không nên bẻ cành hoa thì người mẹ rất ít khi giải thích rõ, nhiều khi con hỏi, mẹ cũng giải thích “trật kheo” luôn. Phải chăng giáo dục di sản ở ta mới chỉ dừng lại mức ấy (!?).

 

 

Trường THPT Lương Văn Tri – Lạng Sơn đưa Di sản Hát then vào dạy cho các em học sinh. Ảnh: CTV

Gần đây, nhiều cuộc hội thảo khoa học về bảo tồn và phát huy di sản đã tổ chức. Được Văn phòng UNESCO Việt Nam tài trợ, Chương trình “Giáo dục di sản trong nhà trường tại Việt Nam” ra đời và hoạt động từ năm 2009. Một số trường học đưa chương trình này vào nhà trường như là những thí nghiệm bước đầu. Các trường gồm: Tư thục Nguyễn Văn Huyên, THCS Lê Ngọc Hân, THCS Cầu Diễn, THCS Ngô Sĩ Liên (Hà Nội), THCS Tử Nê, THCS Thanh Hối (Hòa Bình) đã tham gia dự án. Ở Quảng Ninh đang triển khai thực hiện Xây dựng bộ tài liệu về Giáo dục môi trường có tên là “Giáo dục bảo tồn di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long” dành cho giáo viên. Còn ở Phú Thọ cũng đưa Di sản Hát xoan vào một vài chương trình ngoại khóa tại một số trường. Ở Hà Nội và Đăk Nông đang triển khai Dự án “Tăng cường năng lực tiếp cận và phản ánh thông tin cho giới trẻ nhằm bảo tồn các giá trị di sản văn hóa”…

Riêng với Nghệ An, cách làm có vẻ bài bản và có tầm nhìn xa, trông rộng hơn. Trung tâm Bảo tồn và Phát huy Di sản Dân ca xứ Nghệ đã và đang từng bước đưa bộ môn dân ca xứ Nghệ vào trường học bằng nhiều hình thức, trong đó có đề án “Thực hiện đưa dân ca vào trường học” giai đoạn 2008 – 2015 của trung tâm.

Trước hết, trung tâm xúc tiến việc nắm bắt thực trạng dân ca xứ Nghệ trong đời sống lứa tuổi học đường thông qua việc điều tra, sưu tầm và lưu giữ các làn điệu hò, hát ví, dặm Nghệ Tĩnh ngay từ đầu những năm 2000. Sau đấy họ đưa ra một chương trình giảng dạy rất cụ thể đối với từng lứa tuổi học đường. Chẳng hạn như trong hệ thống các trường mầm non chỉ là tập làm quen với các làn điệu dân ca xứ Nghệ. Đến bậc tiểu học, học hát dân ca trở thành một bộ môn văn hoá chính thức khoảng 8 năm trở lại đây. Đến cấp trung học cơ sở, âm nhạc đã được đưa vào chính thức, trở thành một trong những môn văn hóa, mỗi tuần một tiết trải đều trong cả năm học, có tổ chức kiểm tra, chấm điểm. Lên đến cấp trung học phổ thông, âm nhạc là chương trình ngoại khóa được tổ chức nhân dịp kỉ niệm những ngày đại lễ của đất nước, những ngày lễ của địa phương, nhà trường, những dịp phát động thi đua…

Cần nhưng chưa đủ…

Tại các cuộc hội thảo, có nhiều ý kiến khác nhau về cách thức đưa giáo dục di sản vào trường học. PGS.TS. Nguyễn Văn Huy – Hội Di sản văn hóa cho rằng, các dự án đưa di sản vào trường học vài năm qua dù ít nhiều thu được tác động tích cực, nhưng còn không ít thách thức đối với các nhà quản lý giáo dục, văn hóa.

Tuy nhiên, nhược điểm của đa số dự án là những người thực hiện chỉ hiểu về di sản văn hóa và truyền thống văn hóa ở mức chung chung, theo lối mòn. Chưa kể đến hàng loạt thách thức mà chính những người thực hiện vấp phải như thiếu và không có sự tham gia, giám sát của các cơ quan quản lý giáo dục. Bản thân ngành văn hóa chưa thực sự cung cấp đủ thông tin tại các di sản, di tích và bảo tàng.

Tại Phú Thọ, vào cuối tháng 11/2012 đã tổ chức Hội thảo khoa học thực tiễn giáo dục di sản văn hóa trong trường phổ thông. Ông Hoàng Dân Mạc – Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ khẳng định, việc đưa giáo dục di sản vào trong trường phổ thông là việc làm cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường sự hiểu biết cho thế hệ trẻ về di sản văn hóa, lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông trên quê hương đất Tổ nói riêng và của đất nước Việt Nam nói chung, từ đó tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của giá trị di sản truyền thống trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam, tạo điểm tựa tinh thần, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc…

Cũng tại Hội thảo này, bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Phó trưởng phòng GD&ĐT thị xã Phú Thọ đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục di sản văn hóa trong nhà trường tiểu học. Còn PGS.TS. Đỗ Văn Trụ – Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng Thư ký Hội Di sản Văn hóa Việt Nam lại có quan điểm, việc đưa di sản vào trường học là cần thiết, tuy nhiên theo tôi, chúng ta không cần thiết phải có hẳn một môn Di sản văn hóa trong chương trình học mà chỉ cần lồng ghép nội dung về di sản văn hóa trong trường học. Tất nhiên trong quá trình lồng ghép chúng ta cũng nên chọn lọc những di sản tiêu biểu gắn với thực tế địa phương mà các em sinh sống, chứ không thể dạy những cái chung chung, xa vời so với tầm hiểu biết của các em.

Ai cũng biết đưa giáo dục di sản vào nhà trường là cần thiết, nhưng đưa cái gì và đưa như thế nào xem ra vẫn còn là một bài toán chưa có lời giải một sớm, một chiều. Dẫu biết rằng để có một di sản được cả nước và thế giới công nhận như hôm nay, các thế hệ cha ông chúng ta đã phải mất hàng trăm, hàng ngàn năm và lâu hơn nữa mới tạo lập nên, nhưng nếu các em – những thế hệ tương lai của dân tộc chưa thấy việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản là một phần trách nhiệm của chính mình thì mọi cố gắng của người lớn chúng ta xem ra cũng chỉ như muối bỏ bể mà thôi.

Quang Lê

http://suckhoedoisong.vn/20130202094023754p0c15/giao-duc-di-san-nhung-nut-that-phai-go.htm

TRIẾT GIANG : Đầu tư vào “chất” cho di sản đề cử , VIETNAM


Đầu tư vào “chất” cho di sản đề cử (06/04/2013)
Thông tin từ Văn phòng đại diện UNESCO Việt Nam vừa cho biết, năm 2013 Việt Nam sẽ chỉ có một đại diện di sản giành chiến thắng. Trong khi đó số lượng hồ sơ đại diện cho mỗi hạng mục hiện tại của ta đang ít nhất có 2 và nhiều nhất là 4. Hóa ra, sự việc không đơn giản.
 
 
Làng cổ Đường Lâm
Ảnh: Hòang Long
 
Số lượng nhiều
 
Hiện Việt Nam có khoảng trên dưới 10 di sản đã và đang trong quá trình lập hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa của nhân loại, Di sản thiên nhiên thế giới. Đó là nghi thức chầu văn (Nam Định), nghệ thuật hát then (Tuyên Quang), tranh dân gian  Đông Hồ (Bắc Ninh), làng cổ Đường Lâm (Hà Nội), hát Ví dặm (Nghệ Tĩnh) … Trước đó, có những di sản đã xếp hàng từ cách đây ít nhất 3 năm như cụm danh thắng Tràng An (Ninh Bình) – Di sản hỗn hợp; đảo Cát Bà (Hải Phòng) – Di sản thiên nhiên; nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ – Di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu…
 
Đặc biệt, mới đây nhất vào ngày ngày 28-3, tỉnh Quảng Ninh cũng đã có buổi báo cáo với Bộ VHTT& DL về kế hoạch lập hồ sơ cho cụm di tích Yên Tử, đệ trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Theo đó, quần thể di sản văn hóa và danh thắng Yên Tử có tổng diện tích khoảng trên 20.000 ha thuộc địa bàn thành phố Uông Bí và huyện Đông Triều. Quần thể di sản này bao gồm 2 cụm di tích chính là: Khu Di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử  và Khu di tích lịch sử nhà Trần tại Đông Triều. Được biết, về lâu dài, tỉnh Quảng Ninh cũng có ý tưởng xây dựng hồ sơ đề cử UNESCO hệ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam- vốn gắn liền với khu di tích Yên Tử và vua Trần Nhân Tông cho hạng mục Di sản văn hóa phi vật thể. 
 
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Mạnh Thắng- Phó Tổng thư ký Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, đến thời điểm hiện tại tất cả các ứng cử viên Di sản thế giới như nghi thức chầu văn, tranh Đông Hồ, quần thể di tích Yên Tử… vẫn chỉ đang dừng ở giai đoạn thu thập hồ sơ hoặc chờ sự đồng ý từ Thủ tướng Chính phủ để chính thức triển khai. Và ngày 31-3 vừa qua thời hạn nhận hồ sơ ứng thí Di sản của UNESCO đã kết thúc. Chính vì vậy những ứng viên chưa kịp hoàn thiện hồ sơ chắc chắn sẽ phải xếp hàng đăng ký vào năm 2014. Đồng thời cũng phải chờ kết quả một năm sau đó- tức là năm 2015.
 
 
Làng cổ Đường Lâm – một trong những
 ứng viên di sản xếp hàng chờ đến lượt năm 2014
 
Đầu tư vào “chất” cho hồ sơ ứng thí
 
Được biết, từ vài năm nay, UNESCO khuyến cáo các nước tham gia nên chủ động xếp thứ tự ưu tiên trong trường hợp gửi nhiều hồ sơ đề cử cho danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể. Ngoài ra, tổ chức này cũng khuyến khích ưu tiên các bộ hồ sơ được xây dựng liên thông bởi nhiều quốc gia, hoặc thuộc về các nước chưa có danh hiệu nào. UNESCO chỉ chấp nhận các quốc gia gửi một hồ sơ mỗi năm cho từng thể loại: Di sản tự nhiên, Di sản văn hóa, Di sản hỗn hợp. 
 
Với cánh cửa hẹp này, hi vọng lớn nhất trong năm 2013  là di sản Đờn ca tài tử Nam Bộ sẽ có nhiều khả năng được UNESCO xét công nhận (hồ sơ gửi đi từ năm 2012). Theo kế hoạch, số phận của bộ hồ sơ này sẽ chính thức được định đoạt trong phiên họp của Hội đồng UNESCO tại Azerbaizan vào cuối tháng 11-2013. Và nếu Đờn ca tài tử được vinh danh, sẽ là một điều đáng tự hào bởi  liên tục trong 5 năm qua, Việt Nam đều đặn nhận về các danh hiệu Di sản thế giới cho mọi loại hình.
 
Nhưng cũng từ bài học làm hồ sơ ứng thí cho di sản tư liệu thế giới khu vực châu Á- Thái Bình dương là Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, một bài học được rút ra đó là phải đầu tư nhiều vào “chất” cho di sản Việt Nam đề cử. Cụ thể đó là sự tỉ mỉ trong quá trình lập hồ sơ Di sản. Trước khi được vinh danh, hồ sơ Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đã từng bị thất bại ở “lượt đi”. Bởi theo ông Nguyễn Mạnh Thắng, bộ hồ sơ di sản này không đủ sức thuyết phục UNESCO một cách  tường tận về vai trò và ý nghĩa của Phật giáo Việt Nam – khi mà hầu hết thành viên thuộc Hội đồng chuyên môn và IOCMOS (cơ quan tư vấn độc lập) của Ủy ban Di sản thế giới đều đến từ các nước châu Âu. Theo đó, năm 2011 hồ sơ của Mộc bản Vĩnh Nghiêm gần như được nghiên cứu viết lại để hướng về những giá trị đậm chất “châu Á”. Đơn cử như tinh thần của Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam- nội dung chính được khắc trên mộc bản trong bộ hồ sơ được nhắc tới trong sự so sánh về mối quan hệ với Phật giáo của Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan. Còn trong sự độc đáo riêng, Thiền phái Trúc Lâm được tập trung phân tích như một bước phát triển mới về việc con người đặt niềm tin vào việc thuận theo quy luật tự nhiên, trong khi nhiều hệ Phật giáo khác hướng tới niềm tin vào các thế lực thần bí.. 
 
Theo cách nói dân dã là Việt Nam ra ngõ… gặp di sản. Mừng nhiều nhưng nỗi lo cũng lớn bởi hiện tại chúng ta đang quá chú trọng vào việc “di sản hóa”. Trong khi việc giữ gìn “chất” của di sản: đưa di sản về cho cộng đồng, giải quyết vấn đề bảo tồn và phát huy di sản (câu chuyện làng cổ Đường Lâm là ví dụ điển hình); quảng bá di sản sau vinh danh cũng như khai thác tiềm năng của di sản cho phát triển du lịch… vẫn còn quá nhiều nhiều việc phải bàn.
 
Triết Giang

Xoan singing of Phú Thọ Province, Viet Nam , VIETNAM 2011


Mise en ligne le 21 nov. 2011

UNESCO: List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding – 2011
URL: http://www.unesco.org/culture/ich/USL…
Description: Xoan singing is practised in Phú Thọ Province, Viet Nam, in the first two months of the lunar year. Xoan guilds traditionally performed in sacred spaces such as temples, shrines and communal houses for the spring festivals. Xoan singing is accompanied by dancing and musical instruments such as clappers and a variety of drums. Knowledge, customs and techniques for singing, playing and dancing are traditionally transmitted orally by the guild leader. In recent years the singing has been taken up by clubs and other performing groups.
Country(ies): Viet Nam
© Vietnamese Institute for Musicology, Vietnam
Duration: 00:09:59 – Support: DVD (0053800013)

HÁT XOAN – DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ THẾ GIỚI, VIETNAM 2011


Uploaded on Nov 24, 2011

Tổng quan về hát Xoan – Phú Thọ khi chưa được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể thế giới! Đến ngày 24/11/2011, HÁT XOAN PHÚ THỌ CHÍNH THỨC ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ DSVHPVTTG CẦN BẢO VỆ KHẨN CẤP

BÙI TRỌNG HIỀN’s INTERVIEW / PRESERVING TRADITIONAL MUSIC UPLIFTING ART, VIETNAM 2009


  PRESERVING TRADITIONAL MUSIC UPLIFTING ART

Viet Nam News 13/9/2009

http://vietnamnews.vnagency.com.vn/showarticle.php?num=01INN130909

Traditional musicologist Bui Trong Hien, of the Viet Nam Institute for Culture and Arts Research, has helped prepare documents for Viet Nam’s intangible cultural heritage applications for submission to UNESCO. He talks to Trung Hieu about the work.

Bui Trong Hien was born in 1966 and began to study music at the Ha Noi Music Conservatory when he was 10. For a few years, he was also a lecturer at his alma mater, now known as the Viet Nam National Academy of Music.

He began working for the Viet Nam Institute for Culture and Arts Research in 1996. He has prepared the UNESCO application documents for the Tay Nguyen (the Central Highlands) gong culture, ca tru (ceremonial songs) and quan ho (northern Delta love duets).

His most recent documents were for quan ho, which Viet Nam submitted at the end of last year. Results from UNESCO are expected early next month. If quan ho is recognised, it will be Viet Nam’s third art (after Hue royal music and gong culture) to become recognised as a world intangible cultural heritage.

Inner Sanctum: Do you believe that Viet Nam’s quan ho will be recognised by UNESCO as an intangible cultural heritage?

Compared to our previous documents, such as those for the Tay Nguyen gongs and ca tru, the files for northern Delta love duets were not as perfect.

For example, love duets traditionally consist of ask-and-respond singing sessions between two groups of male and female singers, each group with only five or six people.

However, in the video tapes submitted as part of the file there is a group of a dozen men and another with about twenty women, both young and old.

There are also several other mistakes in the settings.

However, despite these mistakes, I hope UNESCO’s critical expert will be attracted by the sweet and attractive melodies of the art.

 

http://www.baodatviet.vn/Home/vanhoa/Ho-so-Quan-ho-gio-chot-van-lac-duong/20089/14697.datviet

Inner Sanctum: As someone who spent many years studying traditional music and directly participated in preparing cultural heritage documents, including Tay Nguyen gongs, ca tru and quan ho, can you point out the difficulties for persuading UNESCO experts to recognise Vietnamese ancient folk music?

The candidates must be really attractive, with implicit values. Particularly for quan ho, as a musical art, the documentation must highlight this value to persuade UNESCO’s critical expert. I think this is the most difficult thing. In a critical role as a scientist, if this expert is persuaded, he or she would explain our proposal to the board of examiners in the best way. UNESCO often selects a board of examiners made up of representatives from many different social classes, such as politicians, royal figures and business people. During the approval process, the examiners will also depend a lot on the critical expert’s report. All of our submissions to UNESCO for recognition as a cultural heritage are traditional music with high artistic values, so I hope everything will be good!

Inner Sanctum: Currently, many localities are trying to lobby for their local cultural heritage to be recognised as a world heritage. It has even become a race. But many of these proposals and ideas are not very practical. What do you think about this situation?

There are two reasons: First, many people are seeking fame, which is common among our wet rice culture. They want their local heritage to be internationally recognised, so that they will have fame in the international community.

Second, the effort involved in collecting and assembling the documentation for submission to UNESCO can create jobs and income for many people. If they are able to implement the projects successfully, they can earn fame and promotion opportunities.

For the researchers, assembling the files also provides a good opportunity because the project would provide them with funds to implement their studies. For example, assembling the files for ca tru for UNESCO approval was a success. Thanks to project expenditures, researchers were able to take historical field trips between 2005-07 in the 14 cities and provinces where ca tru existed.

Actually, we should be aware that local arts, whether they are compiled into files or not, and whether they are acknowledged by UNESCO or not, are still our nation’s heritage, which were nourished by our forefathers for the last several thousand years.

For example, many ethnic minority people in Tay Nguyen I spoke with did not really care if their local art was recognised by UNESCO or not.

When we, the researchers, came and asked them to play gongs for us to record, then okay, they played the gongs. Afterwards they went on with their daily chores and on to their forest gardens. Many did not even know what UNESCO was.

We have our national pride. I think the way we respect our heritage is more important than recognition from the international community.

In our modern integrated world, all values will become mankind’s common assets.

If our heritage’s are recognised by UNESCO, but we could not preserve them, this would be more painful.

Inner Sanctum: A lot of ancient cultural values in many localities are eroding, and the people who are involved in documentation projects only focus on organising festivals, popularisation and tourism development. What is your opinion about the core of this problem?

This situation is obvious. Many people wish to have the “UNESCO heritage” title for both sincere and self-seeking targets. In truth, many people involved in making these files do not have a real love for ancient values. Some of them have to do it because they are required to do so.

In addition to negative elements, position elements are clear: a local art recognised by UNESCO is very encouraging to the local community, especially local artisans who still preserve the heritage.

As for quan ho, you should remember that its traditional singing sessions are no longer held. All the current sessions are recovered versions, performed mostly to entertain tourists.

In the current market, popularisation for tourism is necessary to help preserve quan ho. The taste among the people for entertainment has changed; so it is very difficult to preserve this art.

Inner Sanctum: After quan ho, what other folk music could be proposed to UNESCO for recognition as an intangible cultural heritage?

I think tai tu (amateur’s music) – cai luong (reformed theatre) from southern Viet Nam could be persuasive candidates after quan ho and ca tru. The reason is, among traditional Vietnamese folk music, this represents the top of stringed musical instruments.

Moreover, people in the South still preserve a lot of ancient songs, musical pieces and plays.

Cheo (traditional operetta) and tuong (classical drama) are valuable, but many of their ancient plays have been lost and the modern versions have changed a lot.

Inner Sanctum: What is the last thing on your mind?

Preserving ancient cultural heritage is really very tiring work. I do it because it’s my passion, because I love it. I do not lay much hope on the work. I just feel anxious for these aspects of our cultural heritage – the things I love – and I hope to share my concerns with my friends. I don’t think about anything bigger. VNS

http://siphubacha.multiply.com/journal/item/96

DI SẢN VĂN HOÁ CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN


DI SẢN VĂN HOÁ CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN

 

 

1. Ngày hội Cồng chiêng Tây Nguyên

2. Phát triển không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên

3. Không nên biến cồng chiêng thành chuyên nghiệp và cung đình

4. Di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – định hướng bảo tồn và phát huy

5. Những giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – Cơ hội và thách thức!

6. Cồng chiêng Tây Nguyên – Kiệt tác văn hóa của nhân loại

7. Bộ VHTT lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Cồng chiêng Tây Nguyên là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại

8. Những bước chuyển mình của văn hoá Cồng chiêng

9. Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên

10.Giá trị văn hóa của các nhạc cụ gõ bằng đồng

11.Tây Nguyên – “cái nôi” của cồng chiêng Đông-Nam Á

 

Ngày hội Cồng chiêng Tây Nguyên

 

Lễ đón nhận bằng Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại sẽ được tổ chức trang trọng vào tối 28/3 tới tại  TP Pleiku – Gia Lai. Đây cũng chính là tâm điểm của Liên hoan Cồng chiêng chào mừng đại hội đại đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên (28-29/3).

Bộ Văn hóa – Thông tin đã chỉ đạo Viện Văn hoá – Thông tin chủ trì tổ chức Lễ đón nhận sự kiện văn hoá quan trọng này. Theo đó, Cục Văn hoá Thông tin Cơ sở sẽ chỉ đạo tổ chức các hoạt động liên quan trên địa bàn 5 tỉnh Tây Nguyên; đồng thời chủ trì tổ chức đêm liên hoan giao lưu văn hoá cồng chiêng mừng thành công của Đại hội Đại đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên tại công viên Diên Hồng, thành phố Pleiku. Trung tâm Triển lãm Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với Cục Văn hoá – Thông tin cơ sở tổ chức các hoạt động triển lãm tại trung tâm văn hoá – thể thao thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên. Kịch bản của buổi lễ đón nhận bằng Di sản sẽ do Viện Văn hoá thông tin đảm nhiệm.

Cùng với lễ đón nhận bằng vào đêm 28/3, các hoạt động đáng chú ý khác là Giao lưu văn hoá cồng chiêng, Triển lãm về đặc trưng văn hoá và thành tựu đổi mới của Tây Nguyên, Tuần lễ phim Việt Nam, dựng bia ghi thư của Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku năm 1946. Cục Điện Ảnh sẽ chủ trì Tuần phim Việt Nam, với các phim như Đất nước đứng lên, Hồn chiêng, Tiếng cồng định mệnh

Diễn ra trên khắp TP. Pleiku trong khoảng một tuần vào trung tuần tháng 3, liên hoan cồng chiêng sẽ tạo nên một không gian thấm đẫm chất lửa truyền thống Tây Nguyên. Cồng chiêng sẽ được chính các nghệ nhân dân tộc trình diễn với các giai điệu gốc. 15 đội cồng chiêng của 5 tỉnh Tây Nguyên sẽ diễn tấu các giai điệu xoay quanh chu kỳ vòng đời của con người, chu kỳ một năm sản xuất… Đội ngũ nghệ nhân cao tuổi – những người ít ỏi còn lại đang nắm giữ các bí quyết và làn điệu cồng chiêng truyền thống – sẽ là nhân tố nắm giữ linh hồn của những buổi trình diễn này.

Liên hoan Cồng chiêng cũng là cơ hội để những chủ nhân đích thực của Không gian văn hoá này thể hiện niềm tự hào của mình trước cả nhân loại. Không có nhiều yếu tố cải biên như cồng chiêng ở các lễ hội khác; ở đây, những giá trị gốc, cổ truyền được tôn vinh.

Tổ chức UNESCO đã công nhận cồng chiêng Tây Nguyên là “Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu nhân loại”. Đây là niềm tự hào không chỉ của riêng vùng đất Tây Nguyên mà còn là niềm tự hào của nền văn hóa Việt Nam, mở ra nhiều cơ hội hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, tạo điều kiện để gìn giữ vốn văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam.

Trở về

Phát triển không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên

Ngày 8/1 vừa qua, Thứ trưởng Bộ VHTT Đặng Quang Ngữ đã có buổi làm việc với Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, ông Phạm Thế Dũng quyết định sẽ tổ chức lễ công bố Bằng công nhận của UNESCO về không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là di sản phi vật thể của nhân loại tại TP.Pleiku (Gia Lai) vào tháng 3/2006. Đây thực sự là một tin vui đối với các đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Tuy nhiên, một thực tế đang làm mọi người lo lắng đó là hồn thiêng của tiếng chiêng đang dần mất đi theo năm tháng.

Tuy nhiên hiện nay có một vấn đề đang làm cho các nhà khoa học lo lắng đó là không gian và hồn thiêng trong tiếng cồng đang ngày một dần mất đi. Điều đáng quan tâm hiện nay là, ở lớp người trẻ tuổi, không những đơn giản hóa những quan niệm về chiêng cồng mà khả năng tiếp thu để diễn tấu các bài bản chiêng của họ cũng rất hạn chế. Trong cộng đồng Mạ, Cơho ở Lâm Đồng, nhiều nghệ nhân trẻ không thể nhớ hết nổi “36 điệu chiêng” của ông bà họ để lại. Cũng như vậy, ở cộng đồng Mnông tỉnh Đăk Lăk, vẫn có những người không thể phân biệt đâu là bài bản chiêng dùng trong lễ phát rẫy, lễ phơi rẫy, lễ xuống giống và đâu là bài bản chiêng trong lễ tạ ơn rìu rựa, lễ tắm lúa, lễ cúng bến nước…

Nguy hiểm hơn, xu thế mất dần tính thiêng của chiêng cồng Tây Nguyên còn được thể hiện ở chỗ: Ngày nay, nhiều người đã tỏ ra rất tùy tiện trong việc sử dụng các bộ chiêng thiêng và tùy tiện sử dụng các bài bản. Trong các buôn làng ngày xưa, cồng chiêng thường chỉ được sử dụng trong các lễ lớn của gia đình, dòng tộc hoặc buôn làng thì nay, cũng ngay trong cái không gian buôn làng ấy, việc “mua vui” cho “người ngoài” đã trở nên một hiện tượng không hiếm, nếu như không muốn nói là khá phổ biến.

Chương trình hành động quốc gia sau khi cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới sắp tới sẽ là một chương trình dài hơi và đòi hỏi cần được đầu tư nhiều về vật chất và đặc biệt là trí tuệ. Nhưng với thực trạng như hiện nay, việc triển khai chương trình sẽ rất nhiều khó khăn cần phải vượt qua.

Trở về

Không nên biến cồng chiêng thành chuyên nghiệp và cung đình

 

“Cồng chiêng vẫn ở trong tay người dân, tức là vẫn của cộng đồng, là tài sản của toàn dân chứ không bó hẹp của tầng lớp quý tộc như các nước khác”.

Nhiều quốc gia Đông Nam Á có cồng chiêng, nhưng chỉ có Cồng chiêng Tây Nguyên (CCTN) được UNESCO công nhận, điều này chứng minh giá trị văn hoá phi vật thể của loại nhạc cụ này trong dòng chảy văn hoá nhân loại.

Cồng chiêng rất phổ biến ở Đông Nam Á, thậm chí nó là một nét văn hoá có tính chất cơ tầng của khu vực này. Nhưng nhiều nước đã biến văn hoá cồng chiêng của mình thành chuyên nghiệp và cung đình, như Indonesia, Thái Lan, Malaixia, Mianma, Lào. Còn riêng ở VN, cồng chiêng vẫn ở trong tay người dân, tức là vẫn của cộng đồng, là tài sản của toàn dân chứ không bó hẹp của tầng lớp quý tộc như các nước khác. Thêm nữa, nghệ thuật cồng chiêng gắn chặt với đời sống con người. Người ta có thể ví “cuộc đời dài như tiếng chiêng”. Rồi bất cứ hiện tượng hệ trọng nào đối với đời sống đều có sự góp mặt của chiêng cồng.

Về kỹ thuật, ở các nước khác, mỗi người đánh một chục cái chiêng, cả dàn chiêng. Nhưng riêng ở VN, mỗi người đánh chỉ một chiêng. Và như thế dàn chiêng có bao nhiêu cái thì có bấy nhiêu người. Điều đó chứng tỏ tính âm nhạc phổ biến đến từng người và để thực hiện được một bài chiêng thì mỗi người tuy đánh một chiêng nhưng phải biết tất cả các chiêng khác đánh thế nào! Thế là tài năng của toàn dân rồi! Tiếp nữa, ở Indonesia, người ta ca ngợi rằng dàn cồng chiêng đưa ra được hai hàng âm thanh (musical scales), gọi là slendropelog. Nhưng chúng ta không giống thế. Chúng ta có một hệ âm thanh riêng và tôi đã đề nghị công nhận nó là Musical scales of Vietnam Highlanders (Hàng âm thanh riêng của những người Tây Nguyên VN). Ban thường vụ ICTM nghe tôi trình bày vậy, liền bảo: Được, thế thì chúng tôi bỏ phiếu cho VN!

Tuy nhiên, có một thực tế là hiện nay đồng bào theo đạo Tin Lành rất nhiều, nên không cần cồng chiêng nữa. Vì vậy, ngày càng nhiều cồng chiêng bị bán làm sắt vụn, mà theo tôi biết là chỉ có 3000 đồng/kg. Trong điều kiện tự do tôn giáo tín ngưỡng, thì đây trở thành vấn đề rất phức tạp mà ngành văn hoá cũng không giải quyết được.

Bên cạnh đố là những yếu tố tác động từ những cán bộ văn hoá quần chúng. Họ khăng khăng đòi cải tiến chiêng, bằng cách bảo dân gò lại theo đúng như hàng âm thanh châu Âu – đồ rê mi pha son… Thế thì tức là vứt đi hàng âm thanh mà tôi đã đề nghị thế giới công nhận là của riêng VN (musical scales of Vietnam Highlanders). Bây giờ họ cho hàng âm thanh đó là lỗi thời. Ở Gia-lai đã có những dàn chiêng bị gò lại để đánh các bài mới và không thể đánh được các bài dân tộc nữa… Tôi cho rằng trong chuyện này, người dân cũng không muốn, họ chỉ là nạn nhân thôi…

Có một thực tế hiện nay là số cồng chiêng Tây Nguyên đã giảm đi đáng kể, đồng bào vì cái đói, cái nghèo đã không thể giữ lại đồ vật quý bên mình. Để  ngăn chặn việc chảy máu cồng chiêng, điều cần nhất là phải xoá đói giảm nghèo cho họ, mà việc này thì VN đã có thành tích làm rất tốt. Hai nữa, Nhà nước phải quan tâm và có những biện pháp để có thể duy trì các sinh hoạt cồng chiêng trong các cộng đồng buôn làng Tây Nguyên. Quan trọng nữa là tổ chức việc truyền dạy cho lớp trẻ; quảng bá tuyên truyền giá trị của cồng chiêng.

Để văn hóa cồng chiêng không bị mai một, nhiều người đã đề xuất ý tưởng phục hồi, xây dựng các xưởng chế tác cồng chiêng phục vụ cho người dân tộc, việc này là thiết thực nhưng  từ xưa đến nay, chiêng mà đồng bào sử dụng không phải tự họ đúc ra. Chiêng được mua từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, của người Kinh, dân tộc Lào, Campuchia… Không bao giờ có cái chiêng mua sẵn có âm thanh đúng như người ta cần, mà người Kinh có muốn cũng không thể làm thay họ được! Mỗi một hoặc vài làng bản lại có một người chuyên lên chiêng (hay gọi là người chỉnh chiêng, tiếng Banah là Tul Cheng), sửa để chiêng có một âm thanh đúng như mong muốn. Vậy thì cần gì phải thay đổi nữa? Chỉ cần anh tiếp tục sản xuất nhiều, bán rẻ cho họ để họ tự chỉnh.

Trở về

Di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – định hướng bảo tồn và phát huy

Trong số 43 di sản của 46 quốc gia được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại đợt 3 công bố ngày 25-11-2005, có không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam.

Danh tiếng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ nay đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, trở thành tài sản của nhân loại. Những giá trị đặc sắc của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, một bộ phận của di sản và tinh hoa văn hóa Việt Nam được cộng đồng quốc tế biết đến và được tôn vinh. Di sản Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã hoàn toàn đáp ứng được những tiêu chuẩn của một Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại do UNESCO đưa ra.

Giá trị nổi bật của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là nơi đây chứa đựng những giá trị sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại. Chủ nhân của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Cư dân Tây Nguyên không tự đúc được cồng chiêng, nhưng với đôi tai và tâm hồn âm nhạc nhạy cảm họ đã nâng giá trị của một sản phẩm hàng hóa thành một nhạc cụ trình diễn tuyệt vời. Trong tay các nghệ sĩ dân gian tài hoa ở cộng đồng, mỗi chiếc chiêng giữ nhiệm vụ một nốt nhạc trong một dàn nhạc, để biểu diễn các bản nhạc chiêng khác nhau. Ðồng thời, tùy theo từng dân tộc, họ đã sắp xếp, định biên thành các dàn nhạc khác nhau.

Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời. Từ xa xưa, cộng đồng cư dân Tây Nguyên đã biết thổi hồn và tiếp thêm sức sống cho cồng chiêng Tây Nguyên để những âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người Tây Nguyên, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên.

Cồng chiêng Tây Nguyên giữ vai trò là phương tiện để khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hóa chung các dân tộc Tây Nguyên cũng như của từng tộc người trên mảnh đất muôn mầu, muôn sắc Tây Nguyên. Mỗi dân tộc Tây Nguyên có một cách chơi chiêng khác nhau. Người dân bình thường ở Tây Nguyên tuy không phải là những chuyên gia âm nhạc, nhưng chỉ cần nghe tiếng chiêng là họ phân biệt được đó là dân tộc nào.

Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu luyện của người chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác. Từ việc chỉnh chiêng đến biên chế thành dàn nhạc, cách chơi, cách trình diễn, những người dân trong các p’lei, p’lơi, buôn, bon, v.v. dẫu không qua trường lớp đào tạo vẫn thể hiện được những cách chơi điêu luyện tuyệt vời.

Cồng chiêng Tây Nguyên là bằng chứng độc đáo, là nét đặc trưng của truyền thống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên. Nó là một loại hình sinh hoạt gắn liền với đời sống văn hóa, tinh thần và tín ngưỡng của con người từ lúc được sinh ra cho đến khi trở về với đất trời, với vũ trụ. Trong khi đa số các dân tộc ở Tây Nguyên, chơi chiêng phải là nam giới, thì cũng có một số dân tộc phụ nữ là nghệ nhân trình diễn chiêng; đồng thời phụ nữ tham gia múa cùng với nghệ nhân trình diễn chiêng. Ðiều ấy không chỉ minh chứng cho truyền thống lâu đời của cồng chiêng Tây Nguyên mà còn cho thấy tính độc đáo văn hóa của nó.

Cồng chiêng Tây Nguyên đã gắn bó với cuộc sống của người dân Tây Nguyên từ ngàn đời nay, nhưng nay đang đứng trước nguy cơ bị mai một rất cao do rất nhiều nguyên nhân. Trước hết, đó là những nguyên nhân bắt nguồn từ những biến đổi hết sức lớn lao trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân, cùng với những biến đổi của môi trường tự nhiên và xã hội mà cư dân Tây Nguyên sinh sống. Như những sự thay đổi trong phương thức canh tác; sự thay đổi trong mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên và thiên nhiên Tây Nguyên; sự bùng nổ công nghệ thông tin, v.v. Những sự biến đổi ấy dẫn đến sự thờ ơ của một bộ phận dân cư, nhất là trong lớp trẻ đối với văn hóa cồng chiêng.

Ðã trở thành một kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại, bên cạnh niềm tự hào là một trách nhiệm hết sức nặng nề và to lớn đặt lên vai chúng ta: Trách nhiệm bảo vệ di sản văn hóa cho dân tộc và cho nhân loại – điều mà lâu nay nhiều người chưa thấy hết. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ đây đặt ra những vấn đề to lớn trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị của nó. Muốn làm tốt công việc nặng nề mà vẻ vang ấy, chúng ta cần phải sớm bắt tay thực hiện hàng loạt công việc có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Cùng với việc nâng cao lòng tự hào, cần nêu cao vai trò, trách nhiệm của cộng đồng trong việc giữ gìn, bảo vệ giá trị của cồng chiêng, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Ðây không chỉ là nguyên lý của khoa học bảo tồn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, mà còn là việc thực hiện chủ trương xã hội hóa văn hóa của Ðảng và Nhà nước ta. Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là sáng tạo của cộng đồng. Bao đời nay, cộng đồng lưu giữ, trao truyền di sản văn hóa vô giá này. Nét đặc sắc của cồng chiêng Tây Nguyên so với cồng chiêng của một số nước trong khu vực là cồng chiêng Tây Nguyên chưa bị biến thành chuyên nghiệp hóa, vẫn tồn tại một đời sống dung dị nơi p’lei, p’lơi, buôn, bon, v.v.  của người Ba Na, Gia Rai, Ê Ðê, Mạ, v.v. Hàng trăm, hàng nghìn năm nay, những thăng trầm lịch sử không tách cồng chiêng ra khỏi đời sống cộng đồng. Ðặc điểm này của cồng chiêng Tây Nguyên vừa là thuận lợi, đồng thời cũng vừa là khó khăn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của Không gian văn hóa công chiêng Tây Nguyên. Vì thế, vấn đề nâng cao lòng tự hào và ý thức giữ gìn của cộng đồng dân cư có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Cần phải đẩy mạnh công tác sưu tầm, ghi chép những bài chiêng, những sinh hoạt văn hóa, âm nhạc gắn bó với cồng chiêng. Ghi âm, ghi hình các tài liệu, tư liệu về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên để lưu giữ, bảo quản và phát huy lâu dài.

Tiếp tục nghiên cứu khoa học về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên một cách hệ thống và toàn diện ở năm tỉnh Tây Nguyên và vùng phụ cận.

Phục hồi và giữ gìn các sinh hoạt văn hóa, các lễ hội gắn với vòng đời người và vòng đời cây trồng ở các cộng đồng dân tộc thiểu số tại năm tỉnh Tây Nguyên để tạo môi trường diễn xướng của cồng chiêng và sinh hoạt văn hóa cồng chiêng.

Từng bước xây dựng Phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại Trung tâm Dữ liệu Di sản văn hóa (Viện Văn hóa – Thông tin) và tại Bảo tàng các tỉnh Tây Nguyên.

Xây dựng một chiến lược dài hạn cho việc phục hồi, bảo tồn và phát huy di sản cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Ðẩy mạnh công tác đào tạo trong các trường nghệ thuật về cồng chiêng và Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Tổ chức biểu diễn, giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng, ở các trường học để nâng cao trình độ thưởng thức của mọi tầng lớp nhân dân về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Mở rộng công tác tuyên truyền đến khách du lịch trong nước và nước ngoài để mọi người hiểu được một tài sản văn hóa phi vật thể vô giá đang được lưu giữ tại Tây Nguyên.

Tăng cường hợp tác, giao lưu văn hóa để quảng bá cồng chiêng trong phạm vi quốc gia và quốc tế, nhằm xây dựng các chương trình nghiên cứu và phục hồi Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là niềm tự hào của cả nước và đồng thời vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị của nó cũng lại là vấn đề không kém phần quan trọng và cũng là nhiệm vụ của tất cả mọi người chúng ta. Làm tốt công việc ấy không chỉ có ý nghĩa đối với hôm nay mà cả với mai sau.

Tiến sĩ PHẠM QUANG NGHỊ

Bộ trưởng Văn hóa – Thông tin 

Trở về

Những giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – Cơ hội và thách thức!

 

Sự kiện Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại ngày 25-12, là một trong những sự kiện văn hóa nổi bật nhất của năm 2005.

Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên chứa đựng những giá trị nổi bật ngang tầm kiệt tác sáng tạo của nhân loại

Cồng chiêng không do cư dân Tây Nguyên tự đúc ra mà xuất phát từ một sản phẩm hàng hoá (mua từ các nơi khác về) được nghệ nhân chỉnh sửa thành một nhạc cụ. Phương pháp chỉnh sửa chiêng cộng với tai âm nhạc nhạy cảm của nghệ nhân sửa chiêng đã thể hiện trình độ thẩm âm tinh tế và hiểu biết cặn kẽ về chế độ rung và lan truyền âm thanh trên mặt chiêng và trong không gian. Có hai phương pháp chỉnh sửa mà người nghệ nhân ở Tây Nguyên sử dụng: Gõ, gò theo hình vảy tê tê và theo hình lượn sóng. Do vậy, kỹ thuật gõ, gò theo đường tròn trên những điểm khác nhau quanh tâm điểm của từng chiếc chiêng là một phát hiện vật lý đúng đắn, khoa học (mặc dù trình độ phát triển xã hội của người Tây Nguyên thuở xưa chưa biết đến vật lý học). Đây là sáng tạo lớn của cư dân các dân tộc ít người Tây Nguyên.

Để đáp ứng các yêu cầu thể hiện bằng âm nhạc khác nhau, các tộc người Tây Nguyên đã lựa chọn nhiều biên chế dàn cồng chiêng khác nhau:

Dàn chiêng có 2 hay 3 chiếc: Biên chế này tuy nhỏ nhưng theo quan niệm của nhiều tộc người Tây Nguyên, đây là biên chế cổ xưa nhất. Dàn 2 chiêng bằng gọi là chiêng Tha, của người Brâu; dàn 3 cồng núm của người Churu, Bana, Giarai, Gié-Triêng… cũng thuộc loại này.

Dàn chiêng có 6 chiêng phổ biến ở nhiều tộc người: Dàn 6 chiêng bằng của người Mạ; dàn Stang của người Xơđăng; dàn chiêng của các nhóm Gar, Noong, Prơng thuộc dân tộc Mnông; dàn chiêng Diek của nhóm Kpạ người Êđê. Cũng có dàn gồm 6 cồng núm như nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê. Dàn chiêng 6 chiếc có thể đảm trách nhịp điệu như dàn cồng núm của nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê, dàn Diek của nhóm Kpạ dân tộc Êđê, dàn chiêng của nhóm Noong dân tộc Mnông.

Dàn chiêng 11 hoặc 12 chiếc gồm 3 cồng núm và 8-9 chiếc chiêng bằng của các tộc người Giarai (ngành Aráp), Bana (ngành TồLồ, Kon K’Đeh), người Xơđăng (ngành Steng).

Các dàn chiêng có biên chế 3 chiêng trở lên thường có chiếc trống lớn và cặp chũm choẹ. Riêng dàn 3 cồng núm của người Churu thì phải có chiếc khèn 6 âm phối hợp.

Hầu hết các nghệ nhân đánh cồng chiêng ở Tây Nguyên là nam giới, kể cả hai tộc người Êđê, Giarai đang duy trì chế độ mẫu hệ hoặc người Bana, Xơđăng đang duy trì cả chế độ mẫu hệ lẫn chế độ phụ hệ. Riêng ở ngành Bih tộc người Êđê, chỉ nữ giới mới được đánh cồng, ở người Mạ thì cả hai giới đều được đánh chiêng nhưng thường chia làm 2 dàn: Dàn chiêng nam, dàn chiêng nữ. Ngày nay, đã có dàn chiêng hỗn hợp các nghệ nhân cả nam lẫn nữ. Việc nữ giới đánh chiêng cho thấy vị trí xã hội và vai trò quan trọng của họ trong tâm thức các tộc người này.

Ngoài ra, ở nhiều tộc người như Churu, Xơđăng, Mnông và đặc biệt tộc người Giarai, Bana, phụ nữ (nhất là các cô gái trẻ) làm thành một dàn múa đồng hành với bản nhạc chiêng. Điều đáng nói là các điệu múa này được coi là thành tố không thể thiếu của việc diễn tấu các bài cồng chiêng  (không được dùng bên ngoài diễn tấu cồng chiêng hoặc trình diễn giải trí). Nói cách khác, sinh hoạt văn hoá cồng chiêng của các dân tộc ở Tây Nguyên là sinh hoạt cộng đồng, cuốn hút tất cả các thành viên tham gia. Đây là bằng chứng chứng tỏ lịch sử lâu đời của cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên.

Cồng chiêng là một nhạc cụ nghi lễ, các bài nhạc cồng chiêng trước hết là sự đáp ứng cho yêu cầu của mỗi lễ thức và được coi như một thành tố hữu cơ của lễ thức đó. Như thế, mỗi nghi lễ có ít nhất một bài nhạc chiêng riêng. Trong mỗi nghi lễ, lại có thể có nhiều công đoạn có nhạc chiêng riêng: Người ngành Aráp dân tộc Giarai ở vùng Ea H’Leo tỉnh Đắc Lắc có các bài nhạc chiêng cho các lễ đâm trâu, khóc người chết trong tang lễ, mừng nhà rông mới, mừng chiến thắng, lễ xuống giống, lễ cầu an cho lúa, mùa gặt… Ngoài ra, còn có những bài chiêng dùng cho các sinh hoạt cộng đồng như: Lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, mừng nhà mới, chúc sức khoẻ…

Các bài chiêng cũng đạt đến một trình độ biểu cảm âm nhạc phù hợp với trạng thái tình cảm của con người trong mỗi nghi lễ: Chiêng tang lễ hay bỏ mả thì chậm rãi, man mác buồn; chiêng mùa gặt thì thánh thót, vui tươi; chiêng đâm trâu thì nhịp điệu giục giã…

Có thể nói, văn hoá và âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện tài năng sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại. Cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng của các dân tộc ở Tây Nguyên rất đa dạng, nhưng thống nhất. Đây chính là đặc điểm rất cơ bản của vùng văn hoá Tây Nguyên và cũng là đặc điểm của văn hoá Việt Nam.

Văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên bắt rễ từ truyền thống văn hoá và truyền thống lịch sử của cộng đồng có liên quan

 

Từ cơ tầng văn hoá Đông Nam Á thời tiền sử, vào khoảng cuối nửa đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, trên đất nước Việt Nam ngày nay đã hình thành và phát triển 3 trung tâm văn hoá lớn thuộc thời đại đồ đồng (Bronze Age): Văn hoá Đông Sơn ở miền Bắc; văn hoá Sa Huỳnh ở miền Trung; văn hoá Đồng Nai ở Nam Bộ. Các cộng đồng dân cư của 3 trung tâm này có những mối giao lưu văn hóa thường xuyên và nhiều chiều với nhau. Cả 3 trung tâm đều có kỹ nghệ đúc đồng đặc biệt phát triển, sáng tạo nên những công cụ, vũ khí, đồ trang sức, đặc biệt là các loại nhạc cụ bằng đồng rất độc đáo. Các hiện vật khảo cổ của văn hoá Đông Sơn như trống đồng, cây đèn Lạch Trường có những hình chạm khắc cách chơi các loại nhạc cụ đó.

Khu vực Tây Nguyên hiện nay nằm trong các tuyến văn hoá truyền thống giao thoa và phát triển của 3 trung tâm đó, đồng thời cũng nằm trong bối cảnh chung của khu vực Đông Nam Á. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy di chỉ khảo cổ Lung Leng (tỉnh Kon Tum), cũng như ở các di chỉ khảo cổ khác tại Tây Nguyên nhiều hiện vật đồ đồng, đồ sắt, nhất là khuôn đúc rìu đồng (Nguyễn Khắc Sử, Thông báo khảo cổ học, 2004). Điều đó có nghĩa là, cư dân cổ xưa ở Tây Nguyên đã từng có một kỹ nghệ đúc đồng, một nền văn hoá thời kim khí.

Điều đáng nói là tất cả các nhạc cụ trên, nhất là cồng chiêng, đều tiếp tục được sử dụng và tồn tại đến ngày nay như một thành tố hữu cơ trong nền âm nhạc của các dân tộc Việt Nam, dù là họ sinh sống ở phía Bắc hay ở duyên hải miền Trung.

Cồng chiêng đóng vai trò là phương tiện khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hoá dân tộc của cộng đồng các dân tộc ít người ở Tây Nguyên

Di sản văn hoá của các thế hệ tộc người ở Tây Nguyên gồm: Kho tàng ngữ văn dân gian, nghệ thuật điêu khắc dân gian, tri thức dân gian, nhưng nổi trội nhất là sử thi và cồng chiêng. Người dân nơi đây có cồng chiêng để ứng xử với thiên nhiên, cầu xin, giãi bày với thần linh, tổ tiên, đối thoại với cộng đồng và với chính mình. Khó có nhạc khí nào, sinh hoạt văn hoá nào lại có nhiều vai trò đến vậy. Với các dân tộc ít người ở Tây Nguyên, phương tiện để khẳng định cộng đồng và bản sắc cộng đồng là cồng chiêng và văn hoá cồng chiêng.

Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên có một cách tổ chức dàn cồng chiêng khác nhau, cách chơi cũng khác nhau. Có ít nhất 3 phong cách âm nhạc lớn của cồng chiêng Tây Nguyên: Cồng chiêng Êđê nhịp điệu phức hợp, tốc độ nhanh, cường độ lớn; cồng chiêng Mnông cường độ không lớn mặc dù tốc độ khá nhanh; cồng chiêng Bana – Giarai thiên về tính chất chủ điệu (một bè trầm của cồng có núm vang lên âm sắc vững chãi, hùng tráng, một bè giai điệu thánh thót của chiêng không có núm với âm sắc đanh gọn, lảnh lót).

Bản sắc văn hoá các dân tộc ít người Tây Nguyên thể hiện đậm đà nhất trong cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng. Tín ngưỡng, lễ hội, nghệ thuật tạo hình, múa dân gian và ẩm thực dân gian… đều thể hiện, gắn bó mật thiết với cồng chiêng (các tượng tròn ở nhà mồ của các dân tộc Tây Nguyên chỉ trở nên đẹp hơn với ngày lễ bỏ mả trong một không gian huyền ảo đầy những tiếng cồng chiêng sâu lắng).

Với các dân tộc Tây Nguyên, phương tiện để nối kết cộng đồng cũng lại là cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng vang lên để nối kết cá thể với cộng đồng, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác của cùng một dân tộc. Điều đáng lưu ý là Tây Nguyên có nhiều dân tộc, nhưng các dân tộc luôn hoà hợp lẫn nhau trong văn hoá cồng chiêng mà vẫn giữ được bản sắc văn hoá của dân tộc mình, không có hiện tượng loại trừ hay đồng hoá văn hoá của nhau trong sinh hoạt văn hoá cồng chiêng. Các dân tộc đều có thể đến với nhau khi sinh hoạt văn hoá cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng luôn đem đến một cảm xúc rạo rực khó tả trong mỗi con người, như sự đồng thanh tương ứng khiến họ tìm đến với nhau.

Cư dân các dân tộc ít người ở Tây Nguyên đã đạt đến những hiểu biết sâu và có các kỹ thuật điêu luyện trong việc sử dụng cồng chiêng trong văn hoá và âm nhạc của mình

Điều này thể hiện ở việc chỉnh âm chiêng mua về với tư cách là một hàng hoá để nó trở thành một nhạc cụ trong dàn cồng chiêng của dân tộc; thể hiện ở việc lựa chọn các biên chế dàn chiêng, ở việc quy định giới tính, tư thế và kỹ xảo diễn tấu. Ngoài ra, họ còn sáng tác nhiều bản nhạc chiêng cho những công dụng khác nhau.

Cồng chiêng Tây Nguyên có giá trị như một bằng chứng độc đáo của đặc trưng truyền thống văn hoá

Cồng chiêng có mặt trong nền văn hoá của nhiều nước trên thế giới (nhất là châu Á). Tuy nhiên, dạng cồng chiêng được tổ chức thành dàn để diễn tấu độc lập hoặc kết hợp với các nhạc cụ khác thì chủ yếu thấy ở các nước Đông Nam Á. Ở Việt Nam, hầu như tất cả các tộc người đều sử dụng cồng chiêng. Nhưng các dân tộc thường chỉ dùng 1-2 cồng phối hợp với một trống dùng trong nghi lễ hoặc giữ nhịp cho múa. Người Mường ở các tỉnh miền núi phía Bắc có dàn cồng sắc bùa, bao gồm một biên chế 8-12 chiếc cồng núm. Biên chế chiêng thành dàn là đặc trưng trong văn hoá của các tộc người Tây Nguyên.

Các dàn cồng chiêng Tây Nguyên có nhiều điểm tương đồng với cồng chiêng Đông Nam Á. Tuy vậy, nó có những nét khác biệt: Văn hoá và âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên là văn hoá và âm nhạc dân gian. Nó là sở hữu cộng đồng, là chuẩn mực văn hoá cho thành viên cộng đồng thực hiện. Ở những tộc người mà cồng chiêng dành riêng cho nam giới thì mọi chàng trai tộc người đó phải biết đánh chiêng. Ở những tộc người, nơi cồng chiêng do nữ giới đảm nhiệm thì mọi cô gái phải biết thực hiện nhiệm vụ này (ở nhóm Noong dân tộc Mnông thì đó là nhiệm vụ của cả nam lẫn nữ). Là sở hữu của cộng đồng, cồng chiêng Tây Nguyên có vai trò như một biểu tượng cho năng lực sáng tạo văn hoá, âm nhạc của người dân trong không gian văn hoá Tây Nguyên. Cho đến nay, cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá gắn bó với cồng chiêng vẫn tồn tại trong từng gia đình, p’lei, bon, buôn. Trong khi ở một số nước Đông Nam Á, cồng chiêng hầu như đã trở thành hoạt động âm nhạc có tính chuyên nghiệp như các dàn Gamelan của Inđônêxia, dàn Khong wong trong Mahori của Thái Lan, trong Pin Peat của Campuchia. Đặc điểm này cho thấy cồng chiêng Tây Nguyên có thể còn lưu giữ nhiều yếu tố cổ xưa hơn.

Văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ của sự mai một

Trước hết là sự suy giảm nhanh chóng về số lượng các dàn cồng chiêng. Theo thống kê của Sở Văn hoá Thông tin Gia Lai, trước năm 1980 trong các p’lei/p’lơi của người Giarai, Bana trong tỉnh có hàng chục ngàn bộ cồng chiêng. Có gia đình sở hữu 2-3 bộ, mỗi p’lei có hàng chục bộ. Đến năm 1999, cả tỉnh có 900 p’lei và chỉ còn 5.117 bộ, năm 2002 còn lại chưa đến 3.000 bộ. Tỉnh Lâm Đồng chỉ còn lại 3.113 bộ. Từ năm 1982 đến 1992, tỉnh Đắc Lắc đã mất 5.325 bộ chiêng, từ năm 1993 đến 2003 lại mất tiếp 850 bộ, hiện tại cả tỉnh chỉ còn 3.825 bộ cồng chiêng.

Nguy cơ mai một cồng chiêng còn thể hiện ở các bài bản nhạc chiêng dần dần bị lãng quên. Các nghệ nhân trải qua thời gian, do nhiều tác động khác nhau đã quên nhiều bản nhạc chiêng. Người Mnông trước đây có 40 bản nhạc chiêng, nay các nghệ nhân chỉ còn nhớ, lưu truyền và trình diễn được 10 bản nhạc chiêng. Mặt khác, những nghệ nhân có đôi tai thẩm âm, có năng khiếu trong việc chỉnh chiêng cũng thưa vắng dần trong các cộng đồng cư dân.

Đáng tiếc nhất là khi những người già, những nghệ nhân Tây Nguyên chết đi đã mang theo cả kho tàng di sản văn hoá cồng chiêng mà không dễ dàng tạo dựng và khôi phục được. Sự đứt gãy dòng chảy của văn hoá truyền thống dẫn đến sự thờ ơ, hờ hững của lớp trẻ với văn hoá của các thế hệ tiền nhân, trong đó có văn hoá âm nhạc cồng chiêng.

Trở thành kiệt tác truyển khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại, Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên đặt ra những vấn đề cấp thiết trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị của nó. Bài toán bảo tồn sẽ cực kỳ phức tạp, vất vả. Vì, khác với Nhã nhạc cung đình Huế, là một hiện tượng văn hóa, để bảo tồn chúng ta chỉ cần đầu tư cho công tác nghiên cứu và phát triển nghệ nhân biểu diễn, cồng chiêng không chỉ là nghệ thuật biểu diễn đơn thuần, mà gắn bó chặt chẽ với nghi lễ, với đời sống hằng ngày, với chính không gian của vùng đất ấy. Vì vậy, cần có một chương trình tổng thể, quy mô cho công việc này. Trước mắt, cần đẩy mạnh công tác sưu tầm, ghi chép và nghiên cứu một cách bài bản, hệ thống về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Tiến hành phục hồi và giữ gìn các sinh hoạt văn hóa để tạo môi trường diễn xướng của sinh hoạt văn hóa cồng chiêng trên quan điểm kế thừa có chọn lọc. Từng bước xây dựng phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại Trung tâm Dữ liệu Di sản văn hóa (Viện Văn hóa-Thông tin) và tại các bảo tàng tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Ðác Lắc, Ðác Nông và Lâm Ðồng. Ðồng thời có kế hoạch đào tạo dài hạn, cơ bản đội ngũ cán bộ khoa học am hiểu về âm nhạc truyền thống, văn hóa, lịch sử Tây Nguyên, chú trọng đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số. Mở lớp truyền dạy kinh nghiệm đánh chiêng, chỉnh chiêng tại cộng đồng.

Muốn làm tốt công việc này cần phải xác định một số định hướng như sau:

Cần có một chương trình nghiên cứu khoa học cho Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên với 3 nhóm công việc: Sưu tầm và nghiên cứu; bảo tồn và phục hồi; truyền dạy và quảng bá. Trước mắt, phải chặn đứng nạn “chảy máu” cồng chiêng, tiến hành bảo tồn tĩnh lẫn bảo tồn động đối với di sản văn hoá này, tiến hành đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu là người dân tộc ít người tại địa phương.

Bản chất của cồng chiêng Tây Nguyên là sáng tạo của cộng đồng và cũng chính cộng đồng bảo tồn, lưu giữ, trao truyền nó. Vì vậy, phát huy vai trò của cộng đồng phải là yêu cầu có tính nguyên tắc trong hệ thống các công việc trên.

Xử lý thoả đáng, biện chứng quan hệ giữa hai phạm trù “bảo tồn và phát huy” đối với hàng loạt vấn đề đặt ra của đời sống hàng ngày trong Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên. Muốn bảo tồn cồng chiêng và văn hoá cồng chiêng, phải giữ gìn, khôi phục các sinh hoạt văn hoá – tín ngưỡng liên quan đến cồng chiêng, trong đó không nhất thiết phải kế thừa y nguyên (không nên đưa cồng chiêng thành đoàn văn công chuyên nghiệp, sân khấu hoá việc trình diễn cồng chiêng).

Khai thác tiềm năng kinh tế của kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể này nhưng không phá vỡ hay làm tăng thêm nguy cơ mai một của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Là một sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại, Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên có khả năng hấp dẫn, thu hút khách du lịch. Đây cũng là cơ hội tốt để tuyên truyền, quảng bá về giá trị của di sản: Tạo ra các tour du lịch, đưa khách du lịch đến xem, nghe trình diễn cồng chiêng tại cộng đồng, in ấn, xuất bản những sản phẩm như sách, băng đĩa, tờ rơi… để khai thác tiềm năng kinh tế của di sản, phục vụ sự phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, bảo vệ sự bền vững của kiệt tác này cũng là yêu cầu đặt ra và là cam kết của chúng ta với cộng đồng thế giới.

Những nỗ lực đưa Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là Di sản văn hoá Phi vật thể của nhân loại đã được đền bù xứng đáng.

Việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO là công việc rất vất vả, khó khăn. Trong đợt xét duyệt đầu tiên (2001), Việt Nam đã đệ trình hai hồ sơ là múa rối nước và hát chèo tàu, nhưng do chưa có kinh nghiệm nên di sản chưa được công nhận. Ðối với Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, chúng ta chưa có sự nghiên cứu toàn diện, các nhà khoa học nước ngoài cũng chưa có chuyên luận nào. Ðịa bàn của không gian văn hóa cồng chiêng lại trải rộng trên năm tỉnh, với 11 dân tộc. Mà thời gian để chuẩn bị hồ sơ lại không nhiều, chỉ vỏn vẹn có sáu tháng. Vấn đề quan trọng là phải xây dựng bộ hồ sơ theo đúng mẫu của UNESCO, gồm: các băng video 120p, 40p, 10p; một bộ ảnh (kèm phim âm bản, phim dương bản); 1 băng ghi âm, 1 báo cáo khoa học đánh giá di sản và chương trình hành động để phục hồi, bảo tồn và phát huy giá trị di sản; 1 thư mục nghiên cứu về di sản; cam kết và thỏa thuận của cộng đồng và cơ quan quản lý, ngoài ra là các tài liệu tham khảo như sơ đồ, các công trình nghiên cứu, giới thiệu về di sản…, tất cả đều phải được dịch và giới thiệu bằng tiếng Anh.  Ðể xây dựng hoàn chỉnh hồ sơ về cồng chiêng, ngoài các tư liệu lưu trữ sẵn có, cán bộ của Viện đã phải chia thành nhiều bộ phận, phụ trách những phần việc khác nhau như đi điền dã, biên tập, dịch thuật, lồng tiếng…

Với danh nghĩa là nghệ thuật biểu diễn của từng dân tộc thì cồng chiêng cũng đã có mặt trong một số ngày hội của quốc gia, đã từng đi trình diễn ở nước ngoài, nhưng với tư cách là cồng chiêng Tây Nguyên, thì chuyện lại không đơn giản. Sau lễ công bố danh hiệu, đã có lời mời đưa cồng chiêng đi biểu diễn ở nước ngoài, Bộ Văn hóa – Thông tin đã đồng ý trên nguyên tắc, nhưng phương thức tiến hành thì chúng tôi đang phải cân nhắc. Cần nhấn mạnh đây là một không gian văn hóa, vì vậy, khi giới thiệu, nhất là ra quốc tế, cần hết sức thận trọng. Tôi không đồng ý quan điểm sân khấu hóa nghệ thuật cồng chiêng. Chúng ta đã có bài học đau xót từ việc sân khấu hóa, chuyên nghiệp hóa quan họ Bắc Ninh. Với cồng chiêng, tất nhiên sẽ phải có hình thức quảng bá cho giá trị độc đáo của Di sản, nhưng làm thế nào, thì cần có sự bàn soạn và đồng thuận của các nhà khoa học, và nhất là các cộng đồng làng, những chủ thể trực tiếp của Di sản.

Tìm giải pháp để đưa các đoàn nghệ nhân đi biểu diễn và xây dựng một số buôn làng thành điểm du lịch, với đầy đủ một không gian sinh hoạt và diễn xướng cồng chiêng. Sắp tới, Bộ Văn hóa- Thông tin sẽ tiến hành xây dựng một trung tâm bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể tại TP Hồ Chí Minh, hy vọng sẽ kéo gần một không gian văn hóa đến với đông đảo nhân dân. Hiện nay, chúng tôi đang xây dựng kịch bản cho lễ đón bằng công nhận Kiệt tác truyền khẩu và Di sản phi vật thể nhân loại, dự kiến sẽ tổ chức thành một liên hoan cồng chiêng tại Tây Nguyên, khoảng cuối tháng giêng năm Bính Tuất. Bởi vì nếu làm không khéo thì sẽ tăng nguy cơ mai một vốn truyền thống. Ðược trao danh hiệu là niềm tự hào lớn, nhưng cũng đừng nghĩ rằng điều đó là vĩnh viễn. Cứ hai năm một lần, UNESCO tiến hành xem xét lại các di sản được trao danh hiệu, và giám sát quá trình thực hiện các cam kết bảo tồn, nếu không làm tốt, có thể bị tước danh hiệu.

Thế hệ hôm nay tràn đầy niềm tự hào bởi trong 90 di sản của các nước trên thế giới được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại, Việt Nam có Nhã nhạc cung đình Huế và Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Niềm tự hào này cũng đặt trên vai chúng ta trách nhiệm phải bảo vệ, giữ gìn các di sản này cho hôm nay và mai sau.

PGS, TS NGUYYỄN CHÍ BỀN

Trở về

Cồng chiêng Tây Nguyên – Kiệt tác văn hóa của nhân loại

Ngày 25-11-2005, Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Sau Nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là di sản của thế giới. Điều đó khẳng định Việt Nam là một đất nước có bề dày truyền thống văn hóa, có nhiều nghệ thuật truyền thống cần được bảo tồn, gìn giữ và phát huy.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai… Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.

Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời. Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là “hậu duệ” của đàn đá. trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá… tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng… Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu.. . hay trong một buổi nghe khan… đều phải có tiếng cồng. Tiếng chiêng dài hơn đời người, tiếng chiêng nối liền, kết dính những thế hệ.

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng hai con voi hoặc 20 con trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.

Cồng chiêng đã đi vào sử thi Tây Nguyên như để khẳng định tính trường tồn của loại nhạc cụ này: “Hãy đánh những chiêng âm thanh nhất, những chiêng kêu trầm nhất. Đánh nhè nhẹ cho gió đưa xuống đất. Đánh cho tiếng chiêng vang xa khắp xứ. Đánh cho tiếng chiêng luồn qua sàn lan đi xa. Đánh cho tiếng chiêng vượt qua nhà vọng lên trời. Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến phải ngã xuống đất. Đánh cho ma quỷ mê mải nghe đến quên làm hại con người. Đánh cho chuột sóc quên đào hang, cho rắn nằm ngay đơ, cho thỏ phải giật mình, cho hươu nai đứng nghe quên ăn cỏ, cho tất cả chỉ còn lắng nghe tiếng chiêng của Đam San…”.

Tồn tại trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ đã hàng ngàn đời nay, nghệ thuật cồng chiêng ở đây đã phát triển đến một trình độ cao. Cồng chiêng Tây Nguyên rất đa dạng, phong phú.

Hiện nay, tại hầu hết các buôn làng Tây Nguyên đều có những đội cồng chiêng phục vụ đồng bào trong sinh hoạt cộng đồng, trong dịp hội hè. Vào ngày lễ tết, hình ảnh quen thuộc ”bên ngọn lửa thiêng, những vòng người say sưa múa hát trong tiếng cồng chiêng vang động núi rừng” lại xuất hiện trên khắp các buôn làng. Các nghệ nhân dân gian diễn tấu cồng chiêng kết hợp với nhau rất hài hòa, tạo nên những bản nhạc với các tiết tấu, hòa thanh rất phong phú, mang sắc thái riêng với muôn vàn cung bậc. Mỗi dân tộc đều có những bản nhạc cồng chiêng riêng để diễn tả vẻ đẹp thiên nhiên, khát vọng của con người… Người Giarai có các bài chiêng Juan, Trum vang… Người Bana có các bài chiêng: Xa Trăng, Sakapo, Atâu, Tơrơi…  Âm thanh của cồng chiêng còn là chất men lôi cuốn gái trai vào những điệu múa hào hứng của cả cộng đồng trong những ngày hội của buôn làng. Đây là sinh hoạt văn hóa dân gian nổi bật nhất ở nhiều dân tộc Tây Nguyên.

Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu luyện của người chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác. Từ việc chỉnh chiêng đến biên chế thành dàn nhạc, cách chơi, cách trình diễn, những người dân dẫu không qua trường lớp đào tạo vẫn thể hiện được những cách chơi điêu luyện tuyệt vời. Với người Tây Nguyên, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là tài sản vô giá. Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là một giá trị nghệ thuật đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồn thiêng sông núi qua bao thế hệ. Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là “tiếng nói” của con người và của thần linh theo quan niệm “vạn vật hữu linh”.

Mỗi một dàn cồng chiêng là tiếng nói tâm linh, tâm hồn của người Tây Nguyên, để diễn tả những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ. Các tộc người ở Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng theo cách thức riêng để chơi những bản nhạc của riêng dân tộc mình. Trải qua bao năm tháng, cồng chiêng đã trở thành nét văn hoá đặc trưng, đầy sức quyến rũ. Cồng chiêng chính là cuộc sống của người Tây Nguyên. Nghe cồng chiêng thì thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội… Tây Nguyên.

Mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có những đặc trưng riêng của cồng chiêng. Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ, hoặc dùng theo dàn, theo bộ từ 2 đến 12 chiếc, cũng có bộ 18 đến 20 chiếc như bộ chiêng của người Giarai. Dàn cồng chiêng Tây Nguyên được tổ chức như một dàn nhạc có thể diễn tấu những bản nhạc đa âm với các hình thức hòa điệu khác nhau. Điều đặc biệt trong dàn nhạc này mỗi người chỉ đánh một chiếc cồng, hoặc chiêng (cồng là loại có núm, chiêng không có núm).

Trong lễ công bố Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác văn hóa phi vật thể của nhân loại, ông Koichiro Matsuura – Tổng Giám đốc UNESCO đã phát biểu: “Tôi đã được thưởng thức loại hình âm nhạc cồng chiêng rất riêng của Việt Nam và cũng được thấy những nhạc cụ rất độc đáo trong dàn nhạc cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên. Đây là nét văn hóa truyền thống rất riêng của Việt Nam, rất tuyệt vời và đặc sắc. Việc công nhân Danh hiệu Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại đối với Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên là rất xứng đáng”.

 

Lễ đâm trâu diễn ra trong âm thanh cồng chiêng Đánh cồng chiêng cổ vũ cho ngày hội đua voi ở Bản Đôn (Đăk Lăk)
Các thanh niên Giarai luyện tập nghệ thuật đánh cồng chiêng Lễ bỏ mả của người Bana
Trở về

Bộ VHTT lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Cồng chiêng Tây Nguyên là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại

Hồ sơ đề cử Vùng Văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại sẽ được hoàn tất chậm nhất là vào ngày 30/8 để 15/9/2005 trình Chính phủ.

Cồng chiêng Tây Nguyên trong  đời sống đồng bào

Mới đây, Văn phòng chính phủ đã có công văn đồng ý cho Bộ VHTT lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên của VN là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào đợt II năm 2005. Các cơ quan được Bộ VHTT giao phối hợp xây dựng hồ sơ gồm: Viện Văn hóa Thông tin, Cục Di sản văn hóa, Sở Văn hóa Thông tin các tỉnh Đăk Lăk, Đắc Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng; Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Viện Nghiên cứu Văn hóa (thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) và Viện Âm nhạc (Nhạc viện Quốc gia Hà Nội).

GS Tô Ngọc Thanh, Tổng thư ký Hội Văn nghệ Dân gian VN, cho biết: “Không phải bây giờ chúng tôi mới bắt tay vào chuẩn bị Hồ sơ ứng viên. Hiện nay êkíp làm hồ sơ đang lăn lộn trong Tây Nguyên. Họ đã quay phim, ghi âm xong ở Lâm Đồng, đang chuyển về Đắc Nông. Phải mất chừng một-hai tháng lấy các tư liệu thô, sau đó về còn phải biên tập lại. Bên cạnh đó, phải có lời giới thiệu, gồm hai phần, một là giá trị và thực trạng, hai là chương trình hành động bảo vệ.”

GS Tô Ngọc Thanh cũng nhấn mạnh, lập hồ sơ là khâu quan trọng trong tiến trình đề nghị công nhận danh hiệu thế giới cho một di sản, và không phải ngẫu nhiên mà ngần ấy cơ quan được đưa vào danh sách thành viên xây dựng hồ sơ ứng cử. Bởi vì, ta “phải bán cái thứ hàng mà người ta muốn mua, chứ không phải là bán thứ hàng mà mình có trong tay”! Do đó, một mặt, cần nhấn mạnh những ưu điểm nào của Văn hoá cồng chiêng mà hợp với các tiêu chuẩn của danh hiệu Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại. Mặt khác, lại không được phép “đánh bóng mạ kền”, sân khấu hoá di sản. Hiện tượng mang đi phải là hiện tượng của thực tế, người chơi cà răng, đóng khố, cởi trần, đen đúa,…đấy, nhưng nó là nguyên bản, ở trong không gian của chính đồng bào các dân tộc.

Cồng chiêng có giá trị đặc biệt trong đời sống tinh thần các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ bỏ mả, lễ mừng lúa mới, tiễn đưa người chết…, đều không thể thiếu tiếng cồng, tiếng chiêng. Tới đây, nhiều tỉnh ở Tây Nguyên sẽ tích cực tổ chức nguyên bản các lễ hội cồng chiêng truyền thống, một phần để phục vụ cho việc quay phim, chụp ảnh lập hồ sơ, một phần khởi đầu cho việc khôi phục lại nhiều lễ hội lớn mà trong đó cồng chiêng được coi là linh hồn.

Trở về

Những bước chuyển mình của văn hoá Cồng chiêng

Ngày 13-10-2004, Viện Văn hóa – Thông tin cùng các nghệ nhân Tây Nguyên gấp rút hoạch định chương trình hành động 5 năm nhằm điều tra, sưu tầm, nghiên cứu bảo tồn di sản văn hóa cồng chiêng. Đây cũng là một bước trong kế hoạch chuẩn bị hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận cồng chiêng Tây Nguyên là di sản của nhân loại.

1. Từ nguy cơ mai một của văn hoá Cồng chiêng

Hiện nay, nhiều người trong các buôn làng M’nông không còn biết hết các nghi lễ truyền thống. Việc tập hợp đủ người đánh chiêng cũng không dễ dàng như xưa bởi trong một buôn, mọi người lại theo những tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Trong khi đó, bản thân những bản nhạc cồng chiêng còn giữ lại đến nay cũng quá ít ỏi. Với lớp trẻ, nhiều bài cồng chiêng trở nên đơn điệu, nhàm chán, khó hiểu. Người ta không thể thực hiện những bài cồng chiêng cúng lúa trên rẫy giờ đã trồng toàn cà phê, tiêu. Nhiều gia đình mang bán những bộ cồng chiêng

quý để lấy vốn sản xuất và giải quyết đời sống.

Nhịp sống hiện đại có sức hút mạnh mẽ với lớp trẻ. Không ít thanh niên con em dân tộc Ê Đê, M’ nông tuy được giáo dục truyền thống dân tộc, nhưng vẫn bị ảnh hưởng của văn hóa hiện đại của phương Tây, coi sinh hoạt văn hóa cồng chiêng của buôn làng mình là lạc hậu và không phù hợp với hiện đại. Thậm chí họ vận động người già mang bán những bộ cồng chiêng quý để mua những thiết bị âm thanh điện tử hiện đại.

Trước đây, một số nghệ nhân biết sử dụng cồng chiêng ở các buôn làng tỉnh Đác Lắc khá nhiều (trung bình mỗi buôn từ 50 – 70 người), nhưng hiện nay, mỗi buôn chỉ còn chừng dăm bảy người.

2. Đến kế hoạch bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể

Từ trước đến nay, công tác quản lý về văn hóa cồng chiêng chưa được đặt ra một cách cụ thể. Chúng ta chỉ coi trọng các hoạt động quản lý video, băng nhạc, văn hoá phẩm… mà bỏ quên công tác quản lý cồng chiêng. Đội ngũ cán bộ quản lý chuyên trách về công tác này hầu như không có. Bên cạnh đó, các nhà quản lý cũng chưa tuyên truyền cho nhân dân hiểu được giá trị văn hóa cồng chiêng của dân tộc mình để cùng gìn giữ, bảo vệ phát huy nó trong nền văn hóa cộng đồng.

Trước thực trạng này, ngày 13-10-2004, Viện Văn hóa – Thông tin cùng các nghệ nhân cồng chiêng Tây Nguyên đã gấp rút hoạch định Chương trình hành động năm năm tới với phương hướng tập trung vào việc điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, phục hồi, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa cồng chiêng trong không gian văn hóa Tây Nguyên. Theo đó, khoảng 500.000 USD sẽ được chi cho việc nghiên cứu bảo tồn di sản này trong năm năm (2005 – 2009).

Theo thống kê, năm 1993, Đác Lắc có 4.675 bộ cồng chiêng, Đác Nông có hơn 100 bộ cồng chiêng. Năm 2003, Đác Lắc chỉ còn 3.825 bộ và con số này ở Đắc Nông là 360 bộ.

Ngoài việc đẩy mạnh công tác khảo cứu điền dã, trao đổi với các nghệ nhân, xây dựng phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng, sẽ còn tổ chức đội ngũ nghiên cứu có chuyên môn về âm nhạc truyền thống, thành lập xưởng chế tác cồng chiêng… Bảo tồn, phát huy di sản cồng chiêng Tây Nguyên còn được thể hiện cụ thể bằng việc đẩy mạnh công tác đào tạo trong các trường nghệ thuật của hai tỉnh Gia Lai, Đác Lắc, trường ĐH Tây Nguyên về cồng chiêng.

Theo GS-TS Tô Ngọc Thanh – Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Dân gian và Phó Tổng thư ký Hội Di sản: ” Trước mắt chúng tôi sẽ ngăn chặn có hiệu quả sự mai một, nguy cơ biến mất di sản văn hóa cồng chiêng; sẽ phấn đấu để có một giáo trình cồng chiêng và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong các trường này”.

Trở về

Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên

Ai đã đặt chân lên đất Tây Nguyên đều bị cuốn hút mạnh mẽ bởi những cuộc trình diễn cồng chiêng. Không chỉ trong tháng “ning nơng”, “mùa con ong đi lấy mật”, quanh năm ở cao nguyên đất đỏ tràn ngập tiếng cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng theo suốt cuộc đời con người, theo suốt vòng đời cây trồng…

Tiếng cồng chiêng trầm hùng trong tiếng reo hò của cộng đồng khi những chàng trai đâm trâu để hiến tế thần linh ngày bỏ mả; thổn thức trong lễ cầu sức khỏe; da diết ước mong trong ngày lễ phát rẫy trỉa lúa; phấn khởi, mừng vui trong ngày lễ mừng thần lúa. Tiếng cồng chiêng luôn đem đến một cảm xúc rạo rực khó tả trong mỗi con người, để họ tìm đến với nhau.

Âm thanh cồng chiêng là sợi dây kết nối cá thể với cộng đồng, cộng đồng với cộng đồng một cách linh thiêng và thế tục, cộng niệm và cộng cảm. Chiêng cồng đã trở thành biểu tượng cuộc sống các dân tộc Tây Nguyên.

Bắt rễ từ truyền thống văn hóa Ðông Sơn, văn hóa âm nhạc cồng

chiêng Tây Nguyên có lịch sử lâu đời, là phương tiện khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hóa dân tộc của cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên. Khác với cồng chiêng của các nước trong khu vực, cồng chiêng Tây Nguyên chưa bị chuyên nghiệp hóa, vẫn gắn bó với p’ lei, p’ lơi, buôn, bon, vẹn nguyên dáng vẻ dân gian, thô mộc mà chắc khỏe, tinh tế và sâu lắng nơi núi rừng đại ngàn, cùng với tiếng thác nước ào ạt chảy ngày đêm, tạo nên một không gian văn hóa đậm chất Tây Nguyên.

Giá trị nổi bật của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là chứa đựng những sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại. Tài nghệ của cư dân Tây Nguyên là biến một sản phẩm hàng hóa vốn không được chính họ chế tạo thành một nhạc cụ tuyệt vời.

Người dân chưa biết đến vật lý học, mà lại chỉnh sửa chiêng rất tài tình. Với đôi tai âm nhạc nhạy cảm, họ sửa chiêng, chỉnh chiêng với trình độ thẩm âm tinh tế, với hiểu biết cặn kẽ về chế độ rung và lan truyền âm thanh trên mặt chiêng trong không gian. Ðây là sáng tạo lớn của các dân tộc Tây Nguyên.

Ðể đáp ứng các yêu cầu thể hiện âm thanh khác nhau, đồng bào đã biên chế dàn chiêng cồng không giống nhau: có thể là 6, 8, thậm chí 14 chiếc.

Ở hầu hết các dân tộc Tây Nguyên, nghệ nhân đánh chiêng

Đội chiêng xã Hyao, huyện Krông Pa (Gia Lai).

cồng phải là nam giới. Riêng ở ngành Bin, dân tộc Ê Ðê, chỉ nữ giới mới được đánh cồng; người Mạ thì cả hai giới đều được đánh chiêng, nhưng thường chia làm hai dàn: chiêng nam, chiêng nữ. Ngoài ra, ở nhiều dân tộc, dàn múa gồm nhiều thiếu nữ trẻ luôn đồng hành với bản nhạc chiêng. Các điệu múa được coi là thành tố không thể thiếu khi diễn tấu các bài chiêng cồng.

Sinh hoạt văn hóa cồng chiêng của các dân tộc ở Tây Nguyên là sinh hoạt cộng đồng. Người nghệ nhân Tây Nguyên đánh chiêng theo hai cách chính: dùng nắm tay đấm hay dùng dùi gõ vào chiêng. Là nhạc cụ nghi lễ, các bài nhạc cồng chiêng trước hết là đáp ứng yêu cầu của mỗi lễ thức và là một thành tố hữu cơ của lễ thức đó. Mỗi nghi lễ có ít nhất một bài nhạc riêng cho nó. Văn hóa và âm nhạc cồng chiêng thể hiện tài năng sáng tạo văn hóa – nghệ thuật ở đỉnh cao của các dân tộc Tây Nguyên.

Và để bảo tồn, phát huy giá trị của Không gian văn hóa

cồng chiêng Tây Nguyên, một hệ thống công việc cần phải thực hiện là sưu tầm và nghiên cứu di sản văn hóa và âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên từ các bài chiêng, kỹ xảo chỉnh chiêng đến nghệ thuật trình diễn chiêng, múa xoang, v.v.

Bảo tồn và phục hồi các sinh hoạt văn hóa, lễ hội gắn với vòng đời người và vòng đời cây trồng ở các cộng đồng dân tộc thiểu số tại năm tỉnh Tây Nguyên, trên quan điểm kế thừa có chọn lọc; xây dựng phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng. Làm tốt việc truyền dạy và quảng bá giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nhất là ở một số trường nghệ thuật ở hai tỉnh Gia Lai, Ðác Lắc, Trường đại học Tây Nguyên.

PGS, TS NGUYYỄN CHÍ BỀN

Trở về

Giá trị văn hóa của các nhạc cụ gõ bằng đồng

Nói đến Tây Nguyên là nói đến nghệ thuật cồng chiêng, sử thi và mái nhà rông – những giá trị văn hóa đặc sắc nhất của đồng bào thuộc các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng. Các nhà nghiên cứu khẳng định có một vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên mà độ tập trung đậm đặc nhất tại 5 tỉnh Tây Nguyên, rồi từ đó lan ra những tỉnh lân cận.

Từ xuất phát điểm về giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, ngày 19-3-2004, Bộ VH-TT gửi công văn 814/VHTT-DSVH trình Thủ tướng Chính phủ về việc đề cử di sản văn hóa phi vật thể để UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại đợt III năm 2005. Ngày 24-3-2004, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý với đề nghị của Bộ VH-TT trong công văn 2557/VPCP-VX.

Để hoàn thiện bộ hồ sơ trình UNESCO, Viện VH-TT, Cục Di sản văn hóa và các sở VH-TT thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên đã khẩn trương thực hiện những công việc do Bộ VH-TT chỉ đạo. Kết quả, ngày 12 và 13-10-2004, cuộc tọa đàm khoa học Giá trị văn hóa của các nhạc cụ gõ bằng đồng của Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á được tổ chức tại Hà Nội, với sự tham dự của các nhà khoa học thuộc nhiều cơ quan của Bộ VH-TT, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và 3 nhà khoa học đến từ Nhật Bản, Philippin và Cămpuchia.

Chương trình tọa đàm được bắt đầu bằng buổi trình diễn cồng chiêng với sự tham dự của 138 nghệ nhân, vũ công của 5 tỉnh Tây Nguyên như là minh họa trực tiếp cho những giá trị đặc sắc của Tây Nguyên giữa lòng Thủ đô. Ngày làm việc thứ hai mở đầu bằng phát biểu khai mạc của Thứ trưởng Bộ VH-TT Lê Tiến Thọ. Tiếp theo, có thể tạm chia 27 tham luận tại tọa đàm thành ba cụm chủ đề: Giá trị văn hóa của các nhạc cụ gõ bằng đồng của Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á; Giá trị văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên dưới góc độ âm nhạc học. Giá trị văn hóa của cồng chiêng trong đời sống các dân tộc vùng Tây Nguyên.

Tiêu biểu cho cụm vấn đề thứ nhất có tham luận Những nhạc cụ bằng đồng, một di sản văn hóa chung của nhân dân vùng Đông Nam Á của GS. TSKH Tô Ngọc Thanh. Tác giả nhận định trong giai đoạn phát triển văn hóa đồ đồng Đông Sơn (gồm Đông Sơn sớm, phát triển, thịnh đạt và phát triển chuyển sang thời đại đồ sắt) cách nay (thời điểm năm 2004) trên dưới 3.500, Việt Nam đã tìm được nhiều hiện vật bằng đồng thau như mũi tên, dao găm, rìu, giáo, lưỡi câu, vòng tay, trống đồng, chuông đồng.v.v…, trong đó những nhạc cụ được trực tiếp sử dụng và tồn tại đến ngày nay như một thành tố hữu cơ của nền âm nhạc các tộc người ở Việt Nam. Cồng chiêng là loại nhạc cụ bằng đồng phổ biến nhất ở Việt Nam mà tên gọi khá phong phú, tuỳ theo từng cách gọi của mỗi tộc người. Ở người Việt, từ chiêng chỉ chiêng bằng, từ cồng chỉ chiêng núm. Các dân tộc Tây Nguyên cho rằng cồng núm cổ hơn chiêng bằng mặc dù về kỹ thuật chế tác, cồng núm khó chế tạo hơn. Bộ ba cồng núm được nhận định là cồng cổ xưa nhất. Theo tác giả, “chiêng cồng đã tràn vào mọi khía cạnh cuộc sống con người và của cộng đồng”.

Các giá trị văn hóa âm nhạc của bộ gõ bằng đồng ở Philippin với sự tham khảo đặc biệt về âm nhạc của cặp trống chiêng trong nghi lễ Agusan Manobo của TS Jose S. Buenconsejo (Trường đại học Hồng Kông) nêu rất rõ giá trị “tính châu Á” về âm nhạc của bộ gõ bằng đồng gồm các chiêng bằng (gangsa), chùm chiêng (kulintang), chiêng núm treo (tagunggo), chiêng nhỏ cầm tay. Việc tham dự các nghi lễ dân gian của người Agusan Manobos (Philippin) có sự tham dự đặc biệt quan trọng của cặp trống – chiêng (gimboe – agung) khẳng định vị trí không thể thiếu của loại nhạc cụ bằng đồng trong đời sống tín ngưỡng ở đảo Mindanao, nơi ít chịu ảnh hưởng của đạo Hồi và văn hóa thành thị.

Các dụng cụ bằng đồng và ý nghĩa quan trọng của chúng trong âm nhạc thế giới của GS. Tokumaru Yosihiko (Đại học Không gian, Nhật Bản) cho biết nhạc cụ chế tạo từ đồng thiếc và đồng thau gồm chuông, cồng syôko (loại lớn và nhỏ) có vị trí cực kỳ quan trọng trong các đền, chùa và dàn nhạc cung đình gagaku ở Nhật Bản. Các loại cồng – chiêng cũng có vị trí tương tự như ở Myanmar hay Philippin với các cách chơi gangsa (nhạc cụ) topayya và gangsa palook trong Kalinga.

TS. Sam Ang Sam (Đại học Hoàng gia về Mỹ thuật, Cămpuchia) bàn đến những nhạc cụ làm bằng đồng thau, đồng đỏ, sắt và hỗn hợp của những vật liệu trên và giới thiệu nguồn gốc xuất xứ, sự phát triển và chức năng của chúng ở cả phạm vi tôn giáo lẫn thế tục. Những chiếc cồng chiêng hình bán nguyệt, chũm chọe, chũm chọe sử dụng bằng ngón tay… là những nhạc cụ bằng đồng có hình thức, cách diễn tấu mang tính tương đồng khu vực cao.

Ở Việt Nam, vùng núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ với văn hóa trống đồng và dàn cồng chiêng 12 chiếc biểu thị 12 tháng trong năm của người Mường (Hòa Bình) hay coong giàm, chuông khánh, trống đồng, chiêng, cồng Mường (Thanh Hóa) cùng với thanh la, trống bột, trống bạt, trống con, cặp nắp, mõ… là những nhạc cụ thiêng gắn bó chặt chẽ với đời sống văn hóa tín ngưỡng của đồng bào (Tham luận Tỉnh Hòa Bình bảo tồn và phát huy trống đồng cồng chiêng trong thời kỳ mới Bạch Quốc Khánh, và Coong Giàm trong đời sống của đồng bào Thái tỉnh Thanh – Hoàng Minh Tường; Nhạc cụ gõ bằng đồng trong sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người Mường Thanh Hóa – Ngô Hoài Chung)

TS Đặng Văn Bài (Cục Di sản Văn hóa) nghiên cứu Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên biểu hiện cụ thể về sự đa dạng của nền văn hóa Việt Nam trong bối cảnh công ước Bảo vệ sự đa dạng của các nội dung văn hóa và các biểu đạt nghệ thuật (UNESCO) và Luật di sản văn hóa (Việt Nam). Đối với không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, “yếu tố văn hóa quốc gia và sắc thái văn hóa địa phương cần được đặt ngang hàng và bình đẳng. Phải hiểu là một dân tộc dù nhỏ bé, dân số không đông, nền kinh tế còn chưa phát triển nhưng hoàn toàn có khả năng đóng góp xứng đáng vào kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đây cũng là cơ sở quan trọng cho việc mở rộng đối thoại văn hóa trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế”.

PGS.TS Nguyễn Thụy Loan trong tham luận Giá trị văn hóa của cồng chiêng ở Việt Nam đã nhận định cồng chiêng có vị thế đặc biệt nổi bật trong hệ nhạc khí cổ truyền ở Việt Nam bởi nó bắt nguồn từ sự tổng hoà các giá trị văn hóa đa dạng, được chỉ mặt gọi tên bằng 10 giá trị như sau: Giá trị biểu thị đặc trưng và bản sắc văn hóa vùng; Giá trị biểu thị đặc trưng văn hóa tộc người hoặc nhóm tộc người, thậm chí cả đặc trưng văn hóa của những nhóm địa phương trong cùng một tộc người; Giá trị phản ánh đa chiều; Giá trị nghệ thuật; Giá trị sử dụng đa dạng; Giá trị vật chất; Giá trị biểu thị sự giàu sang và quyền uy; Giá trị tinh thần; Giá trị cố kết cộng đồng; Giá trị lịch sử.

Cồng chiêng từ góc nhìn nhân học (dẫn liệu các tộc người ở Trường Sơn – Tây Nguyên) của Thạc Sĩ Nguyễn Hữu Thông cũng chỉ ra 5 giá trị: Chiêng – cồng là biểu hiện đa diện sức sống cộng đồng; Chiêng – cồng biểu hiện sức mạnh vật chất; Chiêng – cồng biểu hiện thanh thế của gia đình – dòng tộc; Tiếng chiêng – tiếng cồng là những khúc nhạc theo suốt vòng đời người và chu kỳ sản xuất của cộng đồng; Chiêng cồng gắn kết với hoạt động nghệ thuật.

Tham luận thuộc cụm vấn đề thứ hai đi sâu tìm hiểu giá trị văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên dưới góc độ âm nhạc học.

Cồng chiêng Tây Nguyên từ góc nhìn âm nhạc học (Đặng Hoành Loan); Cồng chiêng Tây Nguyên – thang âm và nghệ thuật diễn tấu (PGS. TS Vũ Nhật Thăng); Cồng chiêng Tây Nguyên một số đặc điểm nghệ thuật cơ bản (Bùi Trọng Hiền); Phát biểu của PGS.TS Nguyễn Phúc Linh; Phải chăng cồng chiêng Tây Nguyên là hậu duệ lịch sử của đàn đá (Hoàng Hương) đặt cồng chiêng Tây Nguyên trong bối cảnh văn hóa, văn hoá âm nhạc, âm nhạc học để cân – đong – đo – đếm, định tính, định lượng những nét khác biệt và tương đồng khi so sánh cồng chiêng Tây Nguyên với các nước trong khu vực Đông Nam á. Nghiên cứu tương quan cao độ các âm, phương pháp hòa tấu bồi âm, kích âm, nghệ thuật diễn tấu…, các nhà khoa học đã “khẳng định sự phong phú, độc đáo và đa dạng từ toàn bộ đến từng phần của nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên. Từ chủng loại, phương pháp kích âm, biên chế và thang âm cho đến hệ thống bài bản và nghệ thuật diễn tấu, chúng ta sẽ bắt gặp những gì của một dải nghệ thuật đa diện từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều, từ đơn tuyến đến đa tuyến… Trong đó sẽ thấy cả những lớp cắt lịch sử của tiến trình phát triển âm nhạc” (Bùi Trọng Hiền).

Cụm vấn đề thứ ba gồm tham luận của các Sở VH-TT thuộc địa bàn Tây Nguyên. Tổng quan về văn hóa cồng chiêng và thực trạng văn hóa cồng chiêng trong đời sống các dân tộc bản địa Lâm Đồng (Sở VH-TT Lâm Đồng); Cồng chiêng trong đời sống của cư dân bản địa Gia Lai và các hoạt động nhằm bảo tồn văn hóa cồng chiêng ở địa phương (Vũ Ngọc Bình – Sở VH-TT Gia Lai); Đôi nét về giá trị nghệ thuật cồng chiêng (A Đôi – Sở VH-TT Kon Tum); Văn hóa cồng chiêng của các dân tộc bản địa Đắc Lắc (Krông YTuyên – Sở VH-TT Đắc Lắc); Cồng chiêng trong đời sống tinh thần của đồng bào Mnông tỉnh Đắc Nông xưa và nay (Tô Đình Tuấn – Sở VH-TT Đắk Nông). Những tham luận này đưa ra dẫn chứng và những con số thống kê đáng suy nghĩ về thực trạng cồng chiêng Tây Nguyên. Thực trạng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói chung đang đứng trước những nguy cơ và thách thức như:

Đạo Tin Lành, Thiên Chúa giáo gia tăng nhanh chóng khiến phong tục tập quán đồng bào dân tộc bị biến đổi. Bên cạnh thủ đoạn dùng lợi ích vật chất mua chuộc lôi kéo bà con, lực lượng đội lốt tôn giáo tiến hành xúi giục người dân bỏ hết các lễ hội truyền thống, không được dùng cồng chiêng, không uống rượu cần và múa hát công cộng.v.v… khiến một lượng lớn chiêng, cồng, ché quý bị mang bán hay đập vỡ, làm hỏng, gây ra nạn chảy máu cồng chiêng. Một nguyên nhân khác nữa là do cuộc sống khó khăn, trước đòi hỏi đổi mới tư liệu, công cụ sản xuất, nhiều gia đình đã chủ động bán đi một lượng lớn cồng chiêng để đầu tư phát triển kinh tế hộ gia đình. Đối với họ những tình cảm dành cho lễ hội dân gian đã bị mai một nên việc bán đi những bộ cồng chiêng của cha ông để lo cho cuộc sống đời thường việc làm bình thường. Theo thống kê, 5 huyện phía nam tỉnh Đắc Lắc số lượng cồng chiêng từ 1000 bộ (năm 1993) đã giảm xuống còn 360 bộ (năm 2004).

Lực lượng nghệ nhân mỏng đi nhanh chóng. Trước đây, trung bình mỗi buôn có từ 50 đến 70 người biết sử dụng thành thạo cồng chiêng, nay chỉ còn 7 đến 10 người (Đắc Lắc). Trước mắt, chưa có lực lượng kế cận nối tiếp vì lớp thanh niên lớn lên sau giải phóng không mặn mà với truyền thống sinh hoạt cồng chiêng tại buôn làng.

Công tác kiểm tra, quản lý sinh hoạt văn hóa cồng chiêng chưa được đặt ra cụ thể, chưa có những văn bản mang tính pháp lý (cồng chiêng chưa có tên trong danh mục đồ cổ do Bộ VH-TT ban hành) nên việc quản lý và bảo vệ cồng chiêng chưa được quan tâm thỏa đáng.

Việc phân chia thành ba cụm chủ đề chỉ có tính chất tương đối vì các bài viết thường đan xen nhiều thông tin. Do vậy, giải pháp đặt ra thường chưa mang tính tổng hợp và cặn kẽ bởi mỗi địa phương đều có những đặc thù riêng. Nhìn chung, trước mắt, việc cần làm đối với di sản vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên hiện nay là:

– Cần cụ thể hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng một cách toàn diện với sự chung tay góp sức của toàn xã hội, không chỉ riêng một ngành, cấp nào.

– Tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu để hoàn thiện hơn hồ sơ trình Chính phủ nhằm xin công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Kế hoạch hành động 5 năm tới (2005-2009) do Viện Văn hóa – Thông tin đề ra với sự phối hợp của 5 tỉnh Tây Nguyên, Cục Di sản văn hóa, Viện Âm nhạc, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Viện Khoa học xã hội Việt Nam), Viện Nghiên cứu văn hóa (Viện Khoa học xã hội Việt Nam), Trường đại học Tây Nguyên, Trường Văn hóa nghệ thuật Gia Lai, Trường Văn hóa nghệ thuật Đắc Lắc, Câu lạc bộ Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và nhân dân, nghệ nhân các tỉnh trong vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, đã đặt ra những mục tiêu trước mắt và lâu dài cho việc bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng. Hy vọng Kế hoạch hành động sẽ đem lại kết quả như mong đợi: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được phục hồi, bảo tồn và phát huy giá trị đích thực của các di sản văn hóa phi vật thể gắn với cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. Cồng chiêng và các sinh hoạt văn hóa gắn bó với cồng chiêng thực sự trở thành hành trang tinh thần của con người và trở thành động lực thức đẩy sự phát triển xã hội./.

Trở về

 Tây Nguyên – “cái nôi” của cồng chiêng Đông-Nam Á

 

Trước những ý kiến băn khoăn về “căn nguyên”, “cội rễ” của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, nhạc sĩ Tô Vũ – một trong những chuyên gia ở Việt Nam có thâm niên cao nhất về lĩnh vực này –  đã cho rằng, căn cứ vào nhiều yếu tố, có thể khẳng định rằng chiêng Tây Nguyên là cái nôi của cồng chiêng Đông-Nam Á.

Nghiên cứu cồng chiêng từ năm 1978, nhạc sĩ Tô vũ đã phát hiện ra nhiều điều thú vị. Về cội nguồn, cồng chiêng là “hậu duệ” của đàn đá – trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá theo “quy trình tiến hóa” cồng đá, chiêng đá, chiêng… tre, rồi mới tới cồng đồng, chiêng đồng…

Cồng chiêng Tây Nguyên là cái nôi của cồng chiêng Đông-Nam Á, bởi những yếu tố sau: Về vết tích hiện vật, những nét chạm khắc biểu hiện người đánh cồng chiêng (dáng đánh rất giống người Tây Nguyên) có trên trống đồng Đông Sơn vốn có lịch sử

Một “vua chiêng” ở Kông Chro,
Gia Lai, vẫn lưu giữ những bộ
chiêng quý do tổ tiên truyền lại.

hơn 4.000 năm. Về lối đánh, “rất nguyên thủy”, người Tây Nguyên vẫn “mỗi người một cái”, chưa kết thành dàn do một nghệ sĩ biểu diễn như các dân tộc ở Thái-lan, Malaysia, Lào, Campuchia (theo nguyên lý phát triển từ đơn giản đến phức tạp; càng đơn giản càng gần ý nghĩa là “vật tổ”); hình dáng cồng chiêng cũng thế, chưa phát triển theo dạng trống (tức chiêng có đế, vuông hoặc tròn).

Về mục đích, cồng chiêng Tây Nguyên vẫn mang ý nghĩa từ thuở sơ khai của nó: Dùng để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… qua các lễ thổi tai, bỏ mả v.v…, nghĩa là vẫn thuần chức năng phục vụ đời sống con người. Trong khi ở các vùng Đông -Nam Á khác, cồng chiêng đã “tiến hóa” đến mức thành phương tiện biểu diễn cung đình, mang chức năng giải trí.

Xét về lịch sử tiến hóa, mỗi sự biến chuyển tính năng nhạc khí (ở thời bấy giờ) diễn ra trong hàng mấy trăm năm. Và có thể khẳng định, căn cứ trên vết tích trống đồng (mà những gì quý giá mới được khắc lên đó), cồng chiêng Tây Nguyên đã có ít nhất 2.000 năm.

Trở lại vấn đề lịch sử. Năm 43 sau Công nguyên, khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, tướng Mã Viện của Nam Hán đã cho tịch thu tất cả đồ đồng (bấy giờ chỉ có cồng chiêng, được coi là vật thiêng của người Việt) đem đúc trụ chôn ở vùng biên giới, nhằm tiêu diệt ý chí của người Việt.

Đây là cơ sở giải thích việc thất tán mạnh mẽ loại nhạc khí này trong quá khứ đời sống tinh thần người Việt, song cũng có thể hiểu rằng tổ tiên người Việt đã đem cất giấu ở vùng núi (bắt đầu sự “giao thoa” văn hóa cồng chiêng với các tộc người khác).

Đồng thời, dựa vào tài liệu khảo cổ về nguồn gốc tộc người và ngữ hệ ở Việt Nam, vốn từ họ Nam Á và Nam Đảo (thậm chí gần đây còn có luận điểm gây bất ngờ rằng trống đồng Việt có nguồn gốc từ Trường Sơn), có thể khẳng định rằng cộng đồng Việt, Tày, các tộc người Tây Nguyên đã từng ở với nhau rất lâu đời, vì vậy sự “giao thoa” văn hóa cồng chiêng là hiển nhiên.

Suốt lịch sử văn hóa của mình, người Tây Nguyên không chế tác mà mua cồng chiêng từ người Kinh vùng Quảng Nam, rồi về “nắn” lại thanh âm theo cách của mình – đó là những hoạt động “giao thương” theo lối hàng đổi hàng có từ hàng nghìn năm nay. Ngay cả “chiêng Lào” mà người Tây Nguyên sở hữu cũng không phải được chế tác từ Lào mà chỉ là hàng hóa trao đổi, mua bán từ nơi khác về Tây Nguyên. Từ đó dẫn đến quan điểm nhất quán rằng cồng chiêng Tây Nguyên cũng chính là cồng chiêng Việt.

(Cinet Tổng hợp)

ANH THẾ : “Nghề làm tranh Đông Hồ” sẽ được đệ trình lên UNESCO, VIETNAM 2013


“Nghề làm tranh Đông Hồ” sẽ được đệ trình lên UNESCO

 

(Dân trí) – Được sự phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Bắc Ninh đã gấp rút chỉ đạo các cơ quan chuyên môn xây dựng hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” đệ trình UNESCO.

Trao đổi với PV Dân trí, ông Nguyễn Văn Giáp – Trường phòng Di sản, Sở VHTT&DL tỉnh Bắc Ninh cho biết: Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch vừa phê duyệt danh sách di sản văn hóa phi vật thể dự kiến lập hồ sơ trình UNESCO. Trong đó, “Nghề làm tranh Đông Hồ” đã được duyệt. UBND tỉnh Bắc Ninh đã gấp rút triển khai các thủ tục cần thiết để xây dựng hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” theo quy định của UNESCO”.

 Image

 
UBND tỉnh Bắc Ninh đang gấp rút triển khai các thủ tục cần thiết để xây dựng hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ”.

Theo ông Giáp, việc lập hồ sơ khoa học sẽ được tiến hành đúng các bước theo lộ trình và dự kiến hoàn thành vào năm 2015. Trước đó, “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” vừa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Tranh Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, là một dòng tranh dân gian với xuất xứ từ làng Đông Hồ – xã Song Hồ – Thuận Thành – Bắc Ninh.

Ngoài các đặc điểm về đường nét và bố cục, nét dân gian của tranh Đông Hồ còn nằm ở màu sắc và chất liệu giấy in. Giấy in tranh Đông Hồ được gọi là giấy điệp: người ta nghiền nát vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ rồi dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó. Chổi lá thông tạo nên những ganh chạy theo đường quét và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng với ánh lấp lánh những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng. Màu sắc sử dụng trong tranh là màu tự nhiên từ cây cỏ như đen (than xoan hay than lá tre), xanh (gỉ đồng, lá chàm), vàng (hoa hòe)…

 

 Image
Chỉ còn rất ít gia đình tại làng Đông Hồ giữ nghề làm tranh truyền thống.

Trên cơ sở những màu sắc cơ bản ấy, người dân đã tạo thêm nhiều màu sắc khác nhau từ việc trộn lẫn các màu. Để hoàn thành một sản phẩm, không kể khâu khắc tranh trên bản gỗ, có sẵn giấy và màu, người làm tranh phải rất công phu, cẩn thận trong từng giai đoạn.

Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ tồn tại từ thế kỷ 16, phát triển rực rỡ vào thập niên 40 của thế kỷ XX. Đến nay, do cơ chế thị trường khiến dòng tranh dân gian Đông Hồ đang bị mai một. Hiện nay, cả làng có gần 400 hộ với hơn 1.500 nhân khẩu, thì có hơn 90% số các hộ sản xuất và buôn bán vàng mã. Làng Đông Hồ chỉ còn một vài gia đình bám trụ với nghề như gia đình ông Nguyễn Đăng Chế, gia đình ông Nguyễn Hữu Sam, Trần Nhật Sở…

Việc làm hồ sơ khoa học trình UNESCO đưa “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp có ý nghĩa quan trọng nhằm tiếp tục gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa đặc biệt này.

 

Anh Thế

Thứ Bẩy, 09/03/2013 – 01:59

Space of gong culture, VIETNAM, UNESCO ICH 2005


Space of gong culture

Inscribed in 2008 (3.COM) on the Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity (originally proclaimed in 2005)

Country(ies): Viet Nam
Identification
Description

Space of gong culture
© Institute of Culture and Information / Duong Thanh Giang

The cultural space of the gongs in the central highlands of Vietnam covers several provinces and seventeen Austro-Asian and Austronesian ethno-linguistic communities. Closely linked to daily life and the cycle of the seasons, their belief systems form a mystical world where the gongs produce a privileged language between men, divinities and the supernatural world. Behind every gong hides a god or goddess who is all the more powerful when the gong is older. Every family possesses at least one gong, which indicates the family’s wealth, authority and prestige, and also ensures its protection. While a range of brass instruments is used in the various ceremonies, the gong alone is present in all the rituals of community life and is the main ceremonial instrument.

The manner in which the gongs of Vietnam are played varies according to the village. Each instrumentalist carries a different gong measuring between 25 and 80 cm in diameter. From three to twelve gongs are played by the village ensembles, which are made up of men or women. Different arrangements and rhythms are adapted to the context of the ceremony, for example, the ritual sacrifice of the bullocks, the blessing of the rice or mourning rites. The gongs of this region are bought in neighbouring countries, and then tuned to the desired tone for their own use.

Economic and social transformations have drastically affected the traditional way of life of these communities and no longer provide the original context for the Gong culture. Transmission of this way of life, knowledge and know-how was severely disrupted during the decades of war during the last century.Today, this phenomenon is aggravated by the disappearance of old craftsmen and young people’s growing interest in Western culture. Stripped of their sacred significance, the gongs are sometimes sold for recycling or exchanged for other products.
Slideshow
Download

© Institute of Culture and Information / Duong Thanh Giang
© Institute of Culture and Information / Duong Thanh Giang
© Institute of Culture and Information / Duong Thanh Giang
© Institute of Culture and Information / Duong Thanh Giang
© Institute of Culture and Information / Duong Thanh Giang
© Institute of Culture and Information / Duong Thanh Giang
© Institute of Culture and Information / Duong Thanh Giang
© Institute of Culture and Information / Duong Thanh Giang
Video

These videos (and many more) can also be consulted through the UNESCO Archives Multimedia website
Safeguarding project (06-2007/07-2009)

Throughout the Central Highlands of Viet Nam, Gong ensembles are part of various ceremonies and closely linked to the communities’ daily life and the cycle of the seasons. The instruments, measuring 25 to 80 centimetres, are played by men as well as women.

The main goal of this project is to safeguard the space of gong culture in one province of the Central Highlands of Viet Nam, Dak Nong Province. This project has been designed to develop a network of gong practitioners and enthusiasts and to support preservation and promotion of the Central Highland’s gong performance tradition in the actual cultural context where it was born and has been maintained in social life until today. The project will directly benefit the artisans, artists, the devoted people and caretakers who have greatly contributed to the safeguarding of the gong heritage, but will also benefit the broader Vietnamese people. By mobilizing all potential sectors from society, the project seeks to provide the foundations for transmitting the skills of playing and especially of tuning gongs to young generations, and to promote awareness of the significance of intangible cultural heritage not only at the local level, but also at the national level. It will include a systematic inventory of the practitioners of gong tuning and performance and establish a policy of recognition and valorization of older master artists.

The project’s goals are to:
safeguard gong culture in the present social situation in which modernization and globalization are rapidly occurring, and young people’s aesthetic taste has increasingly been deflected from traditional heritage;
assist ICH custodians and practitioners in their efforts to safeguard and transmit this heritage to future generations and to target young audiences and potential performers;
raise the awareness of young people in the local community of the important role they should have locally and nationally in Vietnamese society at large by ensuring the conservation and transmission of the know–how of gong tuning and performing ;
identify best practices in implementing the 2003 Convention on the Safeguarding of the ICH , in respect of community involvement.

http://www.unesco.org/culture/ich/index.php?lg=en&pg=00011&RL=00120