Tag Archives: unesco

Xây dựng Hồ sơ đề cử “Then Tày, Nùng, Thái” lên UNESCO


Xây dựng Hồ sơ đề cử “Then Tày, Nùng, Thái” lên UNESCO

18 Tháng Tám 2015

(Cinet – DTV) – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) vừa phê duyệt Kế hoạch tổng thể xây dựng Hồ sơ đề cử quốc gia “Then Tày, Nùng, Thái” đề nghị UNESCO đưa vào Danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Xây dựng Hồ sơ đề cử “Then Tày, Nùng, Thái” lên UNESCO. Ảnh: Internet

Theo Quyết định số 2703/QĐ-BVHTTDL của Bộ VHTTDL, giao Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam phối hợp với các tỉnh có di sản gồm: Tuyên Quang, Bắc Kạn, Bắc Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Yên Bái thực hiện Kế hoạch xây dựng hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể “Then Tày, Nùng, Thái”.

Hồ sơ sẽ được xây dựng theo mẫu ICH-02 dành cho di sản đăng ký vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, theo hướng dẫn thực hiện Công ước 2003 của UNESCO, bản cập nhật tại thờ điểm xây dựng hồ sơ năm 2015.

Viện Âm nhạc Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam là đơn vị chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của hồ sơ; cộng đồng các tộc người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam và UBND, Sở VHTTDL các tỉnh (Tuyên Quang, Bắc Kạn, Bắc Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Yên Bái), Cục Di sản văn hóa, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam sẽ là thành phần tham gia xây dựng hồ sơ.

Về lộ trình xây dựng hồ sơ, từ ngày 12/5 đến 17/8/2015, Viện Âm nhạc tiến hành khảo sát lần lượt 12 tỉnh có di sản Then, chuẩn bị cho việc thực hiện kế hoạch điền dã thu thanh, quay phim, thu thập tư liệu phục vụ cho hồ sơ.

Từ ngày 26/6 đến 15/9/2015, Viện Âm nhạc hoàn thiện tài liệu Kiểm kê di sản Then, xây dựng bộ tài liệu giới thiệu về Then gửi các nhà khoa học quốc tế.

Từ ngày 24/8 đến 24/11/2015, Viên Âm nhạc tiến hành thu thập tài liệu, tổ chức ghi hình, thu thanh, phỏng vấn, dịch thuật nội dung trong các hình thức lễ Then tại các địa phương (bao gồm cả việc dịch từ tiếng Tày, tiếng Nùng, tiếng Thái sang tiếng Việt).

Từ ngày 15/9 đến 20/12/2015, Viện Âm nhạc phối hợp với các chuyên gia, các nhà khoa học viết Hồ sơ khoa học theo mẫu ICH-02.

Từ ngày 20/10 đến 22/12/2015, Viện Âm nhạc tiến hành xây dựng bộ sản phẩm công nghệ cho hồ sơ; phối hợp tổ chức hội thảo khoa học quốc tế về “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật Hát Then, Đàn Tính di sản văn hóa dân tộc Tày, Nùng, Thái” vào dịp Liên hoan Hát Then – Đàn Tính lần thứ V năm 2015 tại Tuyên Quang trong khoảng thời gian từ 24-26/9/2015.

Từ ngày 25/12/2015 đến 10/01/2016, xin ý kiến góp ý trước Hội đồng khoa học Viện Âm nhạc, Ban Chỉ đạo, Ban xây dựng hồ sơ quốc gia và tiến hành chỉnh sửa hồ sơ theo các ý kiến góp ý.

Từ ngày 15/01 đến 28/02/2016, Xin ý kiến Cục Di sản Văn hóa; trình, xin ý kiến Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia; hoàn thiện hồ sơ theo góp ý của Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia và trình Bộ VHTTDL bộ hồ sơ đã hoàn thiện.

http://dantocviet.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=62715&sitepageid=25

Ví and Giặm folk songs of Nghệ Tĩnh , VIETNAM


Ajoutée le 27 nov. 2014

UNESCO: Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity – 2014
URL: http://www.unesco.org/culture/ich/RL/…
Description: Ví and Giặm songs are performed by communities in north-central Viet Nam. They are sung while people cultivate rice in the fields, row boats, make conical hats or lull children to sleep. Songs focus on key values and virtues including respect for parents, loyalty, care and devotion, and the importance of honesty and a good heart. Singing provides people with a chance to ease hardship while working, to relieve sorrow in their lives and to express sentiments between men and women.
Country(ies): Viet Nam
© 2013 Institut de la Culture et des Arts du Viêt Nam [2013]
Duration: 00:09:54 – Support: DVD (0100800004)

BÍCH NGỌC : “Về miền Ví, Giặm” là điểm sáng văn hóa đầu năm 2015


Văn hóaThứ Sáu, 26/12/2014 – 09:46
“Về miền Ví, Giặm” là điểm sáng văn hóa đầu năm 2015

Dân trí Tháng 1/2015, hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh sẽ phối hợp tổ chức lễ vinh danh và đón bằng công nhận của UNESCO dành cho dân ca Ví, Giặm. Xung quanh câu chuyện “muôn thuở” về vấn đề bảo tồn di sản, nhiều góc nhìn đa dạng đã được các nhà quản lý văn hóa đưa ra.
>> Người thổi lửa cho dân ca ví, giặm xứ Nghệ
>> Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh chính thức được UNESCO công nhận
Ngày 24/12, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức cuộc họp báo cung cấp thông tin cho báo chí về việc vinh danh dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là Di sản Văn hóa Phi vật thể của nhân loại.
vi giam 1
(Ảnh: Bích Ngọc)
(Ảnh: Bích Ngọc)

Tại cuộc họp báo, những giá trị của loại hình diễn xướng dân gian Ví, Giặm, quá trình bảo tồn từ trước đến nay, cùng kế hoạch cụ thể cho buổi lễ đón bằng công nhận của UNESCO đã được đưa ra rất chi tiết, cụ thể.

Đoàn Việt Nam vỡ òa khi Ví, Giặm được UNESCO công nhận

Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO vinh danh là Di sản Văn hóa Phi vật thể của nhân loại trong phiên họp ngày 27/11/2014 diễn ra tại Paris, Pháp.

Ví, Giặm là hai lối hát dân ca không nhạc đệm được người Nghệ Tĩnh sáng tạo ra từ hàng trăm năm nay. Ví, Giặm gắn liền với đời sống lao động thường nhật như lúc ru con, khi làm ruộng, lúc chèo thuyền, khi quay tơ, kiếm củi, trèo non… Vì vậy, các lối hát được gọi theo tên của hoạt động như Ví phường vải, Ví đò đưa, Ví phường cấy, Ví trèo non, Giặm ru, Giặm kể, Giặm vè…
vi giam 2
(Ảnh: VOV)
(Ảnh: VOV)

Bà Đinh Thị Lệ Thanh, Phó Chủ tịch tỉnh Nghệ An, thành viên đoàn Việt Nam tham gia bảo vệ hồ sơ dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh tại kỳ họp của UNESCO vừa qua đã chia sẻ những cảm xúc rưng rưng của đoàn khi tiếng búa công nhận của UNESCO vang lên:

“Với sự tham gia của hơn 900 đại biểu đến từ 129 nước, đoàn Việt Nam hồi hộp chờ đợi, bởi có 46 hồ sơ được đưa ra xem xét thì có tới 14 hồ sơ bị loại. Nhìn vẻ mặt buồn bã, thậm chí là những giọt nước mắt của những đoàn có hồ sơ bị loại, đoàn Việt Nam càng căng thẳng.

Khi vị chủ tọa kỳ họp giơ cao chiếc búa và tiếng gõ vang lên chính thức tuyên bố dân ca Ví, Giặm trở thành Di sản Văn hóa Phi vật thể của nhân loại, đoàn Việt Nam vỡ òa trong những tiếng reo mừng, vỗ tay và tiếng hô Việt Nam, Việt Nam… vang dậy hội trường.

Các bạn bè quốc tế đến chúc mừng. Các thành viên trong đoàn xúc động nghẹn ngào, không cầm được nước mắt bởi niềm hạnh phúc và sự tự hào”.

Sắp tới đây, buổi lễ vinh danh chính thức và đón bằng công nhận của UNESCO sẽ được tổ chức trọng thể vào hồi 19h30 ngày 31/1/2015 tại Quảng trường Hồ Chí Minh (TP. Vinh, tỉnh Nghệ An). Chương trình sẽ được truyền hình trực tiếp trên sóng quốc gia (qua VTV1 & VTV4).
vi giam 3
(Ảnh: Sưu tầm)
(Ảnh: Sưu tầm)

Chương trình sẽ gồm hai phần – lễ và hội. Phần lễ xoay quanh việc đón bằng công nhận của UNESCO sẽ diễn ra long trọng, cô đọng; phần hội chiếm thời lượng chủ đạo trong chương trình sẽ gồm các tiết mục trình diễn những làn điệu dân ca Ví, Giặm với tiêu đề “Về miền Ví, Giặm”.

Trước câu hỏi Nghệ Tĩnh sẽ có được gì từ việc Ví, Giặm được UNESCO vinh danh, bà Phó Chủ tịch tỉnh Nghệ An khẳng định Nghệ Tĩnh sẽ “được rất nhiều”, chính quyền hai tỉnh sẽ biến “cái được” thành hiệu quả thực tế, gắn việc UNESCO vinh danh dân ca Ví, Giặm với phát triển du lịch.

Hiện tại, hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đang gấp rút chuẩn bị cho buổi lễ vinh danh sắp diễn ra, đồng thời những kế hoạch bảo tồn – phát huy di sản cũng được đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Đại diện chính quyền hai tỉnh có mặt tại buổi họp của Bộ đã chia sẻ rằng nguồn kinh phí cho các hoạt động này được xã hội hóa khá nhiều, bên cạnh nguồn kinh phí của Nhà nước.

Thực tế, hoạt động bảo tồn và phát huy dân ca Ví, Giặm đã được cả hai tỉnh quan tâm thực hiện từ lâu, không phải chỉ khi được vinh danh mới “cấp tập” bảo tồn. Theo ông Phạm Tiến Dũng, Phó Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Nghệ An, phong trào hát Ví, Giặm ở Nghệ Tĩnh chưa bao giờ phổ biến rộng khắp như lúc này, vừa phát triển cả chiều sâu lẫn chiều rộng.
vi giam 4
(Ảnh: Người lao động)
(Ảnh: Người lao động)

Trong suốt những năm qua, hoạt động bảo tồn Ví, Giặm đã được tiến hành theo kế hoạch từng năm, giờ đây, hoạt động này sẽ được nâng tầm, không phải ở cấp tỉnh nữa mà sẽ lên tầm quốc gia, với tầm nhìn trung và dài hạn, từ năm 2015 – 2030.

Những trăn trở xung quanh câu chuyện bảo tồn di sản

Tại buổi họp báo, rất nhiều ý kiến thẳng thắn đã được đưa ra xung quanh câu chuyện bảo tồn di sản. GS.TS Nguyễn Chí Bền – trưởng ban xây dựng đề án chia sẻ:

“Việt Nam hiện mới có 9 Di sản Văn hóa Phi vật thể được UNESCO công nhận, nhưng đã có một số dư luận bắt đầu cho rằng chúng ta bị lạm phát di sản UNESCO. Tôi chỉ xin lấy một ví dụ như thế này, năm 2009, Việt Nam chỉ nộp một hồ sơ lên UNESCO đề xuất công nhận dân ca quan họ Bắc Ninh, nhưng nước láng giềng Trung Quốc nộp tới 32 hồ sơ và được công nhận 22 hồ sơ, Nhật Bản nộp 20 bộ và được công nhận 12 bộ…

Trong việc đệ trình di sản lên UNESCO, chúng tôi chỉ làm theo một nguyên tắc tối cao, đó là tính hiệu quả. Trước đó, nhóm xây dựng đề án chúng tôi đã nhận được 5 bộ hồ sơ do các địa phương gửi về, nhưng chúng tôi chỉ làm một bộ cho Ví, Giặm để trình lên UNESCO và hiệu quả cuối cùng chính là việc UNESCO đã công nhận đề xuất đó”.
vi giam 5
(Ảnh: Vietnamnet)
(Ảnh: Vietnamnet)

Về lo ngại sân khấu hóa Ví, Giặm sau khi được công nhận di sản, ông Bùi Đức Hạnh – Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Hà Tĩnh khẳng định: “Cội nguồn của Ví, Giặm là do nhân dân sáng tạo ra, không gian biểu diễn Ví, Giặm truyền thống gắn liền với nông thôn, nông nghiệp, nhưng tất cả đều phải tuân theo quy luật vận động.

Xưa có Ví phường cấy, nhưng bây giờ người nông dân cấy, cày, gặt đều bằng máy cả, không hát Ví, Giặm ngoài đồng được nữa, có Ví phường vải, nhưng không ai quay tơ dệt lụa nữa… Những không gian truyền thống đó biến mất theo những vận động của thời cuộc, vì vậy, biểu diễn Ví, Giặm, trong các câu lạc bộ, các hội thi – chương trình văn nghệ… cũng là một cách để bảo tồn Ví, Giặm”.

Trước sự quan tâm của báo chí đối với nguồn kinh phí đầu tư vào quá trình làm hồ sơ đệ trình di sản lên UNESCO cũng như hoạt động bảo tồn – phát huy di sản tiếp theo đây, ông Bùi Đức Hạnh chia sẻ thẳng thắn rằng Hà Tĩnh sẽ bảo tồn Ví, Giặm bằng một nguồn kinh phí đủ mạnh trên nguyên tắc tiết kiệm. “Nhưng dù tiết kiệm đến mấy cũng cần phải có một lượng kinh phí nhất định, chúng ta cần để kinh tế và văn hóa phát triển ngang bằng”.

“Đầu tư một con đường 10 tỉ – cần đấy, để người dân đi lại, nhưng đầu tư một chương trình văn hóa 10 tỉ – nhiều khi cũng rất cần! Có văn hóa mới có nội lực để phát triển. Đầu tư cho văn hóa chính là đầu tư cho phát triển” – ông Hạnh khẳng định.

Buổi họp báo còn có sự tham gia của ông Phạm Tiến Dũng, Phó Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Nghệ An (thân sinh nữ ca sĩ Hương Tràm). Ông Dũng từng tham gia dạy hát Ví, Giặm trên truyền hình tỉnh Nghệ An trong suốt 5 năm, tại cuộc họp, ông đã thể hiện một vài câu Ví, Giặm bằng chất giọng ấm áp, truyền cảm đầy ấn tượng.

Bích Ngọc

http://dantri.com.vn/van-hoa/ve-mien-vi-giam-la-diem-sang-van-hoa-dau-nam-2015-1012501.htm

Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại, 27 tháng 11, 2014


Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại

(TTXVN/Vietnam+) lúc : 28/11/14 08:26

Đoàn Việt Nam vỗ tay chào mừng chiến thắng sau tiếng gõ búa của Chủ tịch hội nghị chính thức vinh danh dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh. (Ảnh: Bích Hà/Vietnam+)

Vào lúc 17 giờ 10 ngày 27/11 giờ Paris (tức 23 giờ 10 cùng ngày giờ Hà Nội), dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Quyết định trên được công bố trong khuôn khổ kỳ họp thứ chín của Ủy ban Liên chính phủ Công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể tổ chức.

Thay mặt Hội đồng thẩm định thuộc Ủy ban Liên chính phủ Công ước UNESCO, Phó Chủ tịch Ủy ban Liên chính phủ đọc báo cáo thẩm định cho biết, hồ sơ trình UNESCO vinh danh dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được trình bày rõ ràng và thuyết phục. Hồ sơ cho thấy loại hình dân ca này được phổ biến và thực hành trong một cộng đồng dân cư rộng lớn, phân bố tại nhiều vùng miền của Bắc Trung Bộ.

Trong hồ sơ đề nghị, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã cung cấp cho Hội đồng thẩm định thông tin đầy đủ và thống nhất về một loại hình dân ca đề cao và tôn vinh các giá trị đạo đức, được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Các thành viên của Hội đồng nhất trí đánh giá cao nội dung và giá trị tinh thần của dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh và đề nghị ghi danh dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Sau tiếng gõ búa của Chủ tịch Ủy ban Liên chính phủ, ông José Manuel Rodriguez Cuadros chính thức thông qua nghị quyết, toàn thể hội trường UNESCO đã đứng lên chúc mừng đoàn Việt Nam.

Phát biểu nhân dịp này, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đặng Thị Bích Liên cho rằng đây là một quyết định có ý nghĩa to lớn đối với Việt Nam khi một loại hình dân ca ở các làng quê hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, gắn bó với sinh hoạt hàng ngày của người dân như làm ruộng, làm nón, chèo thuyền, kéo lưới, ru con… được UNESCO vinh danh.

Thứ trưởng cũng cho biết dân ca Ví, Giặm chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Nghệ Tĩnh, thể hiện bản sắc văn hóa của người dân địa phương, luôn luôn được các thế hệ kế thừa và phát huy trong cuộc sống. Hát Ví, Giặm là để chia sẻ, đối thoại, giao lưu, mối quan tâm chung của cộng đồng, thông qua đó, cộng đồng gắn kết bền chặt.

Thứ trưởng cũng khẳng định Việt Nam nhận thức rõ rằng từ nay dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã trở thành tài sản văn hóa của nhân loại, Việt Nam cam kết thực hiện chương trình hành động nhằm bảo tồn sức sống của loại hình dân ca này và triển khai những chính sách nhằm tôn vinh các nghệ nhân để thực hành, trao truyền và giáo dục thế hệ trẻ, sao cho di sản mãi trường tồn, xứng đáng là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Quan điểm trên cũng được đại diện lãnh đạo hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh chia sẻ vào thời khắc lịch sử. Ông Nguyễn Thiện, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và bà Đinh Thị Lệ Thanh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An, đều bày tỏ sự xúc động và niềm tự hào vì dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh đã góp phần làm phong phú và đa dạng di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Đại diện lãnh đạo hai tỉnh cũng nhận thức được trách nhiệm nặng nề cũng như sự cần thiết xây dựng kế hoạch cụ thể để tiếp tục bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản, đặc biệt là đẩy mạnh việc tuyên truyền quảng bá để người dân cũng như chính quyền các cấp nhận thức sâu sắc hơn về các giá trị của di sản nhằm phát huy các giá trị đó, để dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh mãi mãi trường tồn và góp phần tích cực vào việc phát triển bản sắc văn hóa cũng như sự phát triển bền vững của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.

Về phần mình, nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Quang Hải cho biết ông rất tự hào vì sau quan họ, hát xoan và đờn ca tài tử, dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO ghi danh. Theo ông, dân ca Ví, Giặm có ca từ bằng thơ dân gian, là hình thức hát đối đáp đi liền với sinh hoạt hàng ngày như hát trên sông La, hát chèo thuyền… Lời hát bộc lộ được thể chất thi phú của Việt Nam, tức là thơ lục bát hoặc song thất lục bát. Nhiều tiết tấu của dân ca Ví, Giặm toát lên nhạc ngữ, có thể điệu phong phú dựa trên các thang âm ngũ cung, tứ cung đã cho thấy sự phong phú của các thể loại dân ca Việt Nam.

Cũng tại kỳ họp thứ chín, Ủy ban Liên chính phủ Công ước UNESCO đã công nhận 34 Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại trên tổng số 46 hồ sơ đề cử.

Bên cạnh dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, UNESCO cũng đã công nhận nghệ thuật biểu diễn trống và múa nhào lộn Nongak (Hàn Quốc), nghệ thuật làm giấy có vân đá Ebrui (Thổ Nhĩ Kỳ), nghệ thuật pha trò Askiya (Uzbekistan), truyền thống tắm xông hơi Voru (Estonia), nghệ thuật ngâm thơ Al-Zajal (Liban)… Như vậy, cho đến nay, 314 loại hình nghệ thuật đã được vinh danh trên toàn thế giới cho hạng mục này./.

http://www.vietnamplus.vn/dan-ca-vi-giam-nghe-tinh-la-di-san-van-hoa-phi-vat-the-nhan-loai/293637.vnp

NGỌC ANH : Bảo tồn và phát huy giá trị dân ca trong xã hội đương đại


Bảo tồn và phát huy giá trị dân ca trong xã hội đương đại

03/07/2014 8:25:37 SA

Trong hai ngày 14 – 15/5/2014, tại TP Vinh, tỉnh Nghệ An, Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tổ chức hội thảo khoa học quốc tế “Bảo tồn và phát huy giá trị dân ca trong xã hội đương đại”.

 
Hội thảo này nhằm tiếp tục hoàn thiện, bổ sung hồ sơ trình UNESCO công nhận Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.

Hội thảo đã thu hút sự quan tâm của 60 nhà khoa học, nhà quản lý trong nước và 20 nhà khoa học quốc tế đến từ nhiều nước, vùng lãnh thổ trên thế giới và các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong nước và các nghệ nhân đến từ Nghệ An và Hà Tĩnh với hơn 80 tham luận. Hội thảo chia thành 4 tiểu ban để thảo luận về 4 vấn đề: “Một số vấn đề lí thuyết, phương pháp tiếp nhận dân ca”; “Nghiên cứu nghệ thuật và tính đa dạng của dân ca”; “Sự biến đổi và sức sống của dân ca”; “Bảo tồn và phát huy giá trị dân ca”. Tại hội thảo, các đại biểu khẳng định trong các loại hình dân ca ở Việt Nam, dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là một loại hình đặc biệt, chứa đựng những sáng tạo độc đáo của những cư dân Việt.

Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là di sản tinh thần vô giá, đã thấm sâu vào tâm hồn, trí tuệ, đời sống người dân của 2 tỉnh miền Trung này. Những câu hát đơn sơ, mộc mạc và khúc điệu đầy biểu cảm được cất lên từ những tâm hồn mộc mạc mà tinh tế, giản dị mà sâu sắc đã dần dần định hình thành thể hát dân ca sinh hoạt trữ tình, chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân Nghệ Tĩnh, trở thành nét bản sắc riêng của tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ.

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, các làn điệu dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh vẫn chứng tỏ sức sống lâu bền, tiếp tục được trao truyền và gìn giữ trong đời sống đương đại. Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh gồm 3 thể loại: Ví, Giặm và Hò. Có lẽ không ở đâu như Nghệ An và Hà Tĩnh, bất cứ người dân nào cũng biết ít nhất đôi ba câu Ví, Giặm. Đã từ lâu, phong trào hát dân ca được duy trì đều đặn ở mỗi địa phương và được người dân ở đây coi như món ăn tinh thần không thể thiếu. Môi trường diễn xướng của hát Ví, Giặm Nghệ Tĩnh rất đặc biệt, không cần phải chờ đến mùa vụ, hay hội hè mà vừa lao động vừa ca hát. Những năm gần đây, Ví, Giặm mới được đưa lên sân khấu biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp để biểu diễn trong các chương trình nghệ thuật lớn của đất nước. Theo thống kê năm 2013, hiện nay tại hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh có 260 làng có thực hành dân ca Ví, Giặm, 75 nhóm dân ca Ví, Giặm đang hoạt động với trên 1.500 thành viên. Với những giá trị văn hóa và nghệ thuật độc đáo, năm 2012, dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ đã được đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và hiện nay thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch đang xây dựng hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại. Điểm mạnh của dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ là sức sống, sự lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng. Đây cũng là điểm tựa tạo nên sự tự tin cho Ví, Giặm trong hành trình tiến đến sự công nhận của UNESCO để trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tuy nhiên, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay, cũng như nhiều loại hình dân ca khác ở các địa phương của Việt Nam và trên thế giới, dân ca Ví, Giặm đang đứng trước những thách thức không nhỏ đối với việc bảo tồn và phát huy. Tại hội thảo, NSND Hồng Lựu cho rằng một trong những tiêu chí quan trọng nhất để dân ca Ví, Giặm được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại là dân ca phải được trở về với cộng đồng, tức là dân ca phải trở thành sinh hoạt thường ngày của đa số người dân. Nhà nghiên cứu âm nhạc Đặng Hoành Loan cũng khẳng định: “Người xứ Nghệ đã biết chuyển đổi vị trí và chức năng của nó cho phù hợp với đời sống xã hội trải qua tất cả các thời kì. Người xứ Nghệ đã làm cho Ví, Giặm thích nghi, tương tác với tất cả phương thức sinh hoạt. Ví, Giặm không chỉ tồn tại trong đời sống, được bảo tồn từ phía các nhà quản lý văn hóa, các cuộc liên hoan văn nghệ quần chúng, mà còn là cảm hứng trong sáng tác âm nhạc”.

Đa số các đại biểu tham dự hội thảo đều khẳng định Dân ca Ví, Giặm có sức sống vô cùng mạnh mẽ, dù đời sống có phát triển đến đâu chăng nữa thì cội rễ của những câu hát dân ca ngọt bùi này cũng đã ăn sâu vào tâm hồn những người con quê hương. Do đó, để bảo tồn di sản dân ca Ví, Giặm được phát huy một cách bền vững rất cần đưa dân ca vào giáo dục học đường, bởi thế hệ trao truyền, nắm giữ di sản này chính là lớp trẻ.

Hát Ví, hát Giặm ra đời gắn liền với những nghề thủ công: làm nón, dệt vải, hay những điệu Giặm lại gắn với những phường cày, phường cấy. Cuộc sống hiện đại khiến cho môi trường diễn xướng bị thay đổi. Không gian diễn xướng cũng chính là thách thức lớn khi chúng ta đưa hồ sơ dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ trình UNESCO. Do đó, cùng với việc thu thập thông tin, tư liệu về dân ca Ví, Giặm để tiếp tục hoàn thiện, bổ sung hồ sơ trình UNESCO thì những vấn đề nêu ra tại hội thảo này sẽ là cơ sở để hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh có những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, đồng thời đây cũng là cơ hội để hai tỉnh giới thiệu, quảng bá rộng rãi hơn di sản dân ca Ví, Giặm tới bạn bè trong nước và quốc tế.

Giữa sự phong phú và đa dạng của đời sống âm nhạc hiện đại, những điệu hát dân ca đằm thắm, mộc mạc được cất lên từ hồn quê Xứ Nghệ vẫn trường tồn cùng thời gian bởi sức sống nội sinh mạnh mẽ trong từng khúc điệu, lời ca đậm dấu ấn văn hoá Hồng Lam. Việc trình hồ sơ “Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh” lên UNESCO để công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, được xem là hành động kịp thời và cần thiết để vinh danh loại hình nghệ thuật độc đáo này. Đồng thời thúc đẩy công tác bảo tồn, giữ gìn và phát huy nét sinh hoạt văn hoá mang đầy tính nhân văn trong đời sống ở nông thôn nước ta, góp phần không nhỏ tạo nên sắc thái văn hoá độc đáo của dân tộc Việt Nam.

Ngọc Anh / Hội NSSKVN

Prof.Dr. BÙI QUANG THANH :General Report on the Scientific Inventory of VÍ and GIẶM Folksongs of Nghệ Tĩnh


Prof.Dr. BÙI QUANG THANH :General Report on the Scientific Inventory of VÍ and GIẶM Folksongs of Nghệ Tĩnh

http://vicas.org.vn/Home/images/Tinkhoahoc/vigiam.e%20.pdf

1008
Return to top
Viet Nam EN: Ví and Giặm folk songs of Nghệ TĩnhFR: Les chants populaires ví et giặm de Nghệ Tĩnh

Representative List

File reference: 1008

Nomination form ICH-02: English|French 27 Jan 2014
Consent of communities: Vietnamese/English 27 Jan 2014
ICH inventory – Online resources: Inventorysnapshot  7 Jun 2013
ICH inventory: English|Vietnamese 27 Jan 2014
Mandatory photographs: Slideshow
Film ‘Ví and Giặm Folk Songs of Nghệ Tĩnh’ (09:54): English|French|Vietnamese  3 Apr 2013

08851-LRG08852-LRG08853-LRG08854-LRG08855-LRG08856-LRG08857-LRG08858-LRG08859-LRG08860-LRG

QUỲNH PHẠM : Nâng tầm lan tỏa cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh


DÂN CA, VÍ GIẶM 
  Nâng tầm lan tỏa cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

Không biết chính xác dân ca ví, giặm có từ bao giờ, chỉ biết rằng điệu hát này xuất phát từ sinh hoạt cộng đồng của người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Khi mới xuất hiện, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh còn thô sơ, mộc mạc, giản dị nhưng sau đó theo thời gian loại hình này đã phát triển lên tầm cao mới với bố cục chặt chẽ, câu từ trau chuốt, vần điệu chắt lọc để hấp dẫn và làm say đắm lòng người nghe…

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản giao Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) làm các thủ tục cần thiết gửi hồ sơ “Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh” trình Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) xem xét đưa vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.


Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, một loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc

Theo quyết định mới của UNESCO, mỗi năm một nước chỉ được trình 1 loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Năm 2012, Việt Nam có hồ sơ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại); năm 2013 là hồ sơ Đờn ca tài tử và đang chờ kết quả từ UNESCO trong cuối năm nay. Vì thế, hồ sơ Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh sẽ trình UNESCO xét duyệt là Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại vào năm 2014.

Cần phải nhắc lại, cuối tháng 6/2012, để góp phần gìn giữ, bảo tồn, tôn vinh và phát triển những giá trị bền vững của loại hình nghệ thuật dân ca ví, giặm, hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã từng phối hợp tổ chức “Liên hoan dân ca ví, giặm xứ Nghệ lần thứ nhất năm 2012” với chủ đề “Dâng Người câu hát dân ca”. Đây là bước quan trọng và là tiền đề để các cơ quan chức năng, hội nghề nghiệp có thêm niềm tin, căn cứ để lập hồ sơ trình UNESCO công nhận Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại.

Không biết chính xác dân ca ví, giặm có từ bao giờ, chỉ biết rằng điệu hát này xuất phát từ sinh hoạt cộng đồng của người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Khi mới xuất hiện, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh còn thô sơ, mộc mạc, giản dị nhưng sau đó theo thời gian loại hình này đã phát triển lên tầm cao mới với bố cục chặt chẽ, câu từ trau chuốt, vần điệu chắt lọc để hấp dẫn và làm say đắm lòng người nghe.

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, các làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay và mỗi loại hình lại mang những đặc trưng riêng. Bởi thế, dân ca, ví, giặm Nghệ Tĩnh là di sản tinh thần vô giá, đã thấm sâu vào tâm hồn, trí tuệ, đời sống người dân của 2 tỉnh miền Trung này.

Môi trường diễn xướng của hát ví Nghệ Tĩnh rất đặc biệt, không cần phải chờ đến mùa vụ, hay hội hè mà vừa lao động vừa ca hát. Những năm gần đây, ví giặm mới được đưa lên sân khấu biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp để biểu diễn trong các chương trình nghệ thuật lớn của đất nước. Hát ví chỉ giới hạn trong đối đáp, giao duyên. Trai thanh, gái lịch hát đối đáp với nhau, hát vọng từ ngoài đường vào nhà, từ trong nhà với ra, hay cũng có thể là từ trên sông vọng lên bờ…

Do hát ví gắn liền với lao động, nên mỗi một loại hát ví lại gắn với một loại hình lao động riêng biệt như: hát ví của những người đi cấy thì gọi là ví phường cấy, hát ví của những người đi củi thì gọi là ví phường củi, hát ví của những người dệt vải thì gọi là ví phường vải…

Theo điều tra, kiểm kê của UBND tỉnh Nghệ An thì hiện nay trên toàn tỉnh có 52 Câu lạc bộ đàn và hát dân ca ví, giặm với khoảng hơn 2.000 thành viên, trong đó có 8 người đã được tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian.

Hát ví Nghệ Tĩnh đa dạng về thể loại, mỗi nghề nghiệp, mỗi công việc lao động đều được ghép tên theo hát ví và những người lao động chính là những người sáng tạo ra hát ví. Nhưng dựa theo tính chất kết cấu trong âm nhạc cũng như cách gọi tên các lối ví trong nhân dân, ta có thể chia hát ví thành hai hình thức:

Ví phường vải (hay còn gọi là giọng phường vải) và ví đò đưa (hay còn gọi là giọng đò đưa). Ví phường vải thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức nam xuân, vừa tình tứ lại lửng lơ, bay bổng, không nghiêng về màu sắc của điệu trưởng (Bắc) mà cũng không nghiêng về điệu thứ (Nam).

Ví đò đưa thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức Nam ai, tạo được tính chất nhẹ nhàng, bâng khuâng, lại thêm chút vương buồn sâu lắng, có thế ổn định, nghiêng về màu sắc của điệu thứ (Nam). Cùng là một câu thơ lục bát nhưng ví đò đưa hát khác mà ví phường vải hát khác.

Ví phường vải là lối hát bắt nguồn từ nghề trồng bông, nuôi tằm, dệt lụa. Còn ví đò đưa là lối hát bắt nguồn từ sông nước. Người hát thường là những trai bạn chèo chống trên thuyền xuôi ngược dọc sông, hoặc các phường buôn, phường nón… Họ cho hai thuyền đi song song, có khi ghép hai thuyền lại cùng xuôi, cùng ngược và hát với nhau thâu đêm suốt sáng. Tuy nhiên, giọng ví phường vải không chỉ hát trên cạn, trên làng và giọng đò đưa không chỉ hát dưới sông, dưới thuyền mà trong hát phường vải có giọng đò đưa, trong ví đò đưa có giọng phường vải.

Như vậy, việc trình hồ sơ “Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh” lên UNESCO để công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, được xem là hành động kịp thời và cần thiết để vinh danh loại hình nghệ thuật độc đáo này. Đồng thời thúc đẩy công tác bảo tồn, giữ gìn và phát huy nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh, mang đầy tính nhân văn trong đời sống nông nghiệp ở nông thôn nước ta, góp phần không nhỏ tạo nên sắc thái văn hoá độc đáo của dân tộc Việt Nam.

Bài và ảnh Quỳnh Phạm

http://ngheantourism.gov.vn/index.asp?options=items&code=1886

Đờn ca tài tử Nam bộ được vinh danh


Publiée le 8 déc. 2013
Chiều 5/12, trong khuôn khổ cuộc họp của Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể thuộc tổ chức UNESCO (diễn ra từ 2 – 7/12 tại Cộng hòa Azerbaijan), nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ (ĐCTTNB) của Việt Nam đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

PHAN TỪ : Toàn cảnh sống động của đờn ca tài tử Nam bộ – Việt Nam, phần 1


Nghệ thuật Đờn ca tài tử Thứ Ba, 01/04/2014, 13:35
Toàn cảnh sống động của đờn ca tài tử Nam bộ – Việt Nam
Ban Biên tập Website Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất – Bạc Liêu 2014 trân trọng giới thiệu toàn cảnh sống động của nghệ thuật ĐCTT qua tập hồ sơ khoa học về nghệ thuật ĐCTT đã đệ trình trước Tổ chức UNESCO
LTS: Chỉ được trình bày trước Hội đồng thẩm định của Tổ chức UNESCO trong thời gian 10 phút, nhưng với sự chuẩn bị công phu trên nền tảng thống nhất cao giữa 21 tỉnh, thành có nghệ thuật ĐCTT và bằng những tính chất độc đáo vốn có của mình, Hồ sơ khoa học nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ – Việt Nam (gọi tắt là ĐCTT) đã minh chứng sinh động về sức lan tỏa của văn hóa truyền thống Việt Nam trong dòng chảy hội nhập của văn hóa thế giới. Cùng với kết quả 100% phiếu đồng thuận vinh danh ĐCTT trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Tổ chức UNESCO cũng đã đánh giá cao chất lượng của hồ sơ khoa học khi đã tạo cơ hội để người dân trên toàn thế giới được thưởng thức và hiểu rõ hơn về nền văn hóa tươi đẹp và phong phú của Việt Nam…

 

 

 

Đại diện các địa phương nhận Bằng của UNESCO vinh danh Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại – Ảnh: chinhphu.vn

Bài 1: Chân dung và “chủ nhân” của ĐCTT

Mô tả ngắn gọn về di sản thế giới để giới thiệu với người đối diện chưa bao giờ thấy, biết và trải nghiệm về nó mà chỉ cho phép gói gọn trong… vài trăm từ, đó là một khó khăn lớn! Tuy nhiên, Hồ sơ khoa học về nghệ thuật ĐCTT (do Viện Âm nhạc Việt Nam chủ trì thực hiện) cũng đã phác thảo thành công được chân dung và chủ nhân của ĐCTT bằng những đường nét tinh gọn nhất.

Tóm lược chân dung của ĐCTT

ĐCTT vừa bình dân, vừa bác học, ra đời ở miền Nam Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, được sáng tạo trên cơ sở nhạc lễ, nhạc cung đình, nhạc dân gian miền Trung và miền Nam. ĐCTT được sáng tạo không ngừng nhờ tính “ngẫu hứng”, “biến hóa lòng bản” theo cảm xúc trên cơ sở 20 bài gốc (bài tổ) và 72 bài nhạc cổ.

ĐCTT thực hành theo nhóm, câu lạc bộ (CLB) và gia đình. Người chơi ĐCTT say mê hát, biểu đạt tâm tư, tình cảm và đờn “ngẫu hứng” âm trang sức, sắc thái, nhịp điệu luôn được biến đổi mà vẫn đảm bảo tính thống nhất khi cả nhóm hợp vào âm, nhịp chính ở giữa hay cuối câu nhạc.

ĐCTT được thực hành ở lễ hội, ngày giỗ, cưới, sinh nhật, họp mặt. Khán giả có thể cùng tham gia thực hành, bình luận và sáng tạo. Người miền Nam coi ĐCTT là sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu và di sản quý giá của chính họ. Lễ giỗ Tổ được duy trì hàng năm vào ngày 12/8 âm lịch.

Theo kết quả kiểm kê năm 2011, Việt Nam có hơn 29.000 người đang thực hành nghệ thuật ĐCTT ở 21 tỉnh, thành miền Nam, gồm: An Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bến Tre, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Nai, Đồng Tháp, Hậu Giang, TP. HCM, Kiên Giang, Long An, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Tây Ninh, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long. Trong đó, những tỉnh, thành có nhiều người thực hành là Bạc Liêu, Bình Dương, TP. HCM, Tiền Giang.

Nghệ thuật ĐCTT chịu ảnh hưởng giao thoa với một số loại hình di sản văn hóa khác ở miền Trung, miền Nam như nhạc lễ, hát bội, dân ca và được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2012.

“Chủ nhân” của ĐCTT

“Chủ nhân” của nghệ thuật ĐCTT là những người thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau như nông dân, ngư dân, công nhân, trí thức…, họ thực hành theo nhóm, CLB và gia đình. CLB ĐCTT Cao Văn Lầu của tỉnh Bạc Liêu cũng đã vinh dự được nêu vào hồ sơ với tư cách là một trong những nhóm tiêu biểu của nghệ thuật ĐCTT.

Người chủ nhân trực tiếp nắm giữ, thực hành và có trách nhiệm lưu truyền di sản được đề cập bao gồm người dạy đờn (thầy đờn) là người có kỹ năng, kỹ thuật đờn giỏi, thông thạo những bài bản cổ, dạy chơi các nhạc cụ; người đặt lời (thầy tuồng) là người nắm giữ tri thức và kinh nghiệm, sáng tạo những bài bản mới; người dạy ca (thầy ca) là người nắm giữ tri thức, thông thạo những bài bản cổ, có kỹ thuật ca điêu luyện, dạy cách ca ngâm, ngân, luyến; người đờn (danh cầm) là người chơi nhạc cụ và người ca (danh ca) là người thể hiện các bài bản bằng lời.

Những nghệ nhân nổi tiếng được liệt kê trong hồ sơ khoa học này là các nghệ nhân Vĩnh Bảo (96 tuổi), Bạch Huệ (78 tuổi) ở TP. HCM, Tám Kỳ (68 tuổi) ở tỉnh Long An, Thanh Hiền (70 tuổi) ở tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Thiện Vũ (34 tuổi) ở tỉnh An Giang…

Ông Nguyễn Quang Đại, ông Lê Tài Khí (Nhạc Khị) được coi là hậu tổ – những bậc thầy nổi tiếng, sau khi mất được cộng đồng tôn vinh, lập đền thờ. Đầu thế kỷ XX, tại Bạc Liêu, ông Cao Văn Lầu (Sáu Lầu) đã sáng tác bản Dạ cổ hoài lang (vọng cổ) – bài hát nổi tiếng và phổ biến nhất của ĐCTT, được cộng đồng tiếp nhận, phát triển từ nhịp 2 đến các nhịp 4, 16, 32 đến 64…

Theo Phan Từ (tổng hợp) – Báo Bạc Liêu

http://festivaldoncataituquocgia.baclieu.gov.vn/nghethuatDCTT/lists/posts/post.aspx?Source=/nghethuatDCTT&Category=&ItemID=20&Mode=1

(Bài 2: ĐCTT – loại hình sinh hoạt gắn kết cộng đồng)