Tag Archives: việt hải

VIỆT HẢI : QUỠN hay HƯỠN


 
Viet-Hai_1Về ý nghĩa, quỡn tức là ”rảnh rỗi, ở không”, là từ ngữ mang ý nghĩa bình dân dân dã của địa phương miền Nam. Nếu nói ”hổng quởn” nghĩa là ”tui hổng có quởn làm ba cái chiện đó đâu nà!”. Chữ quỡn bản thân nó gây ra tranh cãi rất nhiều. Nguyên văn, viết là “hưỡn” nhưng mà người miền Nam hay đọc H thành QU, ví dụ anh Hòang thành anh “Quàng”, hóa học phát âm hay nói thành “quá” học.
Khi đọc chính tả cho con cái ta thì phải phát âm là “huỡn”. “Huỡn” là biến âm của hoãn (ví dụ trì hoãn). Người miền Nam hay nói huỡn đãi với nghĩa là rảnh rỗi, chậm chạp (xem truyện Mối Tình Năm Cũ của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư). Tuy nhiên, khi người miền Nam phát âm thì huỡn hay quỡn hay “quởn”, hay “quởng” thì đều “xêm xêm” như nhau, đều phát âm thành “guởng”. Vì vậy mà nhiều người khi nghe “guởng” thì tự động “dịch” ngược ra tiếng “chuẩn” văn phạm là “quởn” mà không biết rằng huỡn mới đúng chính tả.
 
Chữ “huỡn” là một chữ rất đặc biệt Nam Kỳ Lục Tỉnh. Tự điển Phương Ngữ Miền Nam của nhà ngôn ngữ học Nguyễn Văn Ái có chữ này, Ðại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của (Quỳnh Tịnh Của có từ ngữ này nhé!).
 
Vì vậy như nói trên “hưỡn” là một từ ngữ vui vui, chữ đặc sệt nam kỳ và không phải là một chữ đứng riêng hoàn toàn với ý nghĩa riêng, mà là chữ nói trại đi từ chữ “hoãn” như chữ “hoãn binh”, “trì hoãn”. Tại sao lại từ “hoãn” mà ra “huỡn” và đọc là “quỡn” hay “quởn” (theo giọng Nam) thì còn nhiều đề tài tranh luận dài dài, như chuyện anh Võ Quang Đạt hỏi thầy Dương Ngọc Sum của môn sử địa năm xưa, giảng bài say mê.
 
 
 
Miền Nam chuyên môn kỵ húy, sợ đọc trùng tên. Thí dụ như ở Mỹ Tho có cổ tự Vĩnh Trường, vì sợ phạm húy tên của vua Minh Mạng đặt mà chùa cói tên Vĩnh Tràng. Số là ở Mỹ Tho có ngôi chùa Vĩnh Trường với ngụ ý mong ước cho chùa luôn được:
“Vĩnh cửu đối sơn hà. Trường tồn tề thiên địa”
Rồi lịch sử truân chuyên do sự phạm húy của vua. Về từ ngữ gọi Vĩnh Trường, phải đổi là Vĩnh Tràng vì có nguồn gốc hi hữu như sau:

Thứ nhất: Do hai câu thơ trên, tên chùa phải là Vĩnh Trường mà đến nay vẫn quen gọi là chùa Vĩnh Tràng, vì người ta kể là ngày xưa do huý kỵ trong bản đế hệ của Nhà Nguyễn. Đó là bốn câu do vua Minh Mạng đặt ra:
 
Miên Hồng Ưng Bủu Vĩnh
Bảo Quý Định Long Trường
Hiền Năng Kham Kế Thuật
Thế Thụy Quốc Gia Xuong.
 
(Cũng giống như vậy nên thay vì cầu Trường Tiền ở Huế người ta gọi là cầu Tràng Tiền.) Nhưng dồi trường được miễn gọi là dồi tràng, trường túc bất chi lao được miễn theo nguyên tắc này.
Thứ hai: Trong từ Việt chữ “tràng” gốc nôm chỉ có nghĩa là dài ra, như “tràng hạt”  “tràng pháo” “tràng áo tức là vạt áo”…, chớ không có nghĩa là dài lâu của từ “Vĩnh Tràng”. Còn trong chữ Hán “trường” có ba lối viết khác nhau và ba nghĩa khác nhau như: một là dài lâu trong “trường cữu, trường tồn”, hai là ruột như “tá tràng, trường dịch”, ba là chỗ đất rộng, nơi tụ tập đông người như “trường ốc, công trường”. Người ta có thể đọc tùy tiện là “trường” hay “tràng” tùy theo âm điệu của hai từ ngữ gần nhau chẳng hạn như “trường tồn” mà không đọc “tràng tồn” như “Tràng An” mà ít người đọc “Trường An”. Riêng người miền Nam thường thích phát âm một cách dễ dãi, đơn giản, thoải mái… ”Vĩnh Tràng” nói dễ hơn “Vĩnh Trường” cũng như văn tui xin bổ túuc bằng câu nầy: “Thắng cha nầy nói chiện tràng giang đại hải quá trời!”.
 
Thầy Sum viết:
“Có Em nào “hưởn” ghé qua cho Thầy quá giang với. Thầy cũng có đôi điều cần bàn với các Em. Nhớ thông báo để Thầy chuẩn bị. Thầy SUM”.
 
Câu văn tương đương:
“Có Em nào rảnh ghé qua nhà cho Thầy đi quá giang với nghe. Thầy cũng có đôi điều cần bàn với các Em. Nhớ thông báo để Thầy chuẩn bị. Thầy SUM”.”
Tuy nhiên chữ “quỡn” mang ý nghĩa thân mật hơn, gần gủi hơn trong ý nghĩ riêng tư của người nói với đối tượng của mình.
 
Đôi điều quỡn quỡn tán gẫu…  idle chat.
 
Việt Hải Los Angeles
 
Việt Hải Viết Về Học Giả Trương Vĩnh Ký

VIỆT HẢI : ĐÊM THƠ NHẠC CUNG TRẦM TƯỞNG


Kính gửi Ông/Bà ______________________
 
CLB Tình Nghệ Sĩ sẽ tổ chức “Đêm Thơ Nhạc Cung Trầm Tưởng” vào ngày 29 tháng 6 sắp tới.  Thay mặt CLB TNS, xin kính mời Ông/Bà đến tham dự chương trình này. Để tiện việc sắp xếp, xin Ông/Bà cho BTC biết số người tham dự trước ngày Thứ Tư, 25 tháng Sáu.   
 
Rất mong có sự hiện diện của Ông/Bà trong chương trình rất có ý nghĩa này.  Xin chân thành cảm tạ.
 
Kính,
 
Ban Tổ Chức

đêm thơ nhạc cung trầm tưởng

 

Đêm Thơ Nhạc Cung Trầm Tưởng

 

cung trầm tưởng

 

Bơi trong cõi văn chương Cung Trầm Tưởng

 

Trong một bài viết bàn bạc về ngôn ngữ, chữ nghĩa, nhà thơ Cung Trầm Tưởng dùng câu nói của nhà phê bình văn học Pháp Roland Bartheskhi đề cập: “C’est le frisson du sens que j’interroge en écoutant le bruissement du langage”. Phải chăng khi ta nghe tiếng xào xạc của chữ nghĩa, ta tự hỏi lòng nỗi cảm giác rung cảm ấy? Đối với nhà văn, nhà thơ, hình như mỗi người có những kiểu nói, những chữ viết riêng, có thể là đặc thù, dù duyên dáng hay ngộ nghĩnh, đó là biểu tượng của họ và từ họ mà ra.

Hôm nọ nhạc sĩ Trường Sa bên Canada email đến chúng tôi bài nhạc Kiếp Sau, phổ từ thơ Cung Trầm Tưởng cùng tựa, do ca sĩ Minh Châu (Los Angeles), tâm tư tôi dâng lên những thích thú, thơ nhạc hay hay như sự đột phá, lạ lẫm. Thơ Kiếp Sau có những câu như:

 

“Bù em một tháng trời gần

Đơm hoa kết mộng cũng ngần ấy thôi

Bù em góp núi chung đồi

Thiêu nương đốt lá cũng rồi hoang sơ.

Bù em xuôi có ngàn thơ

Vẫn nghe trắc trở bên bờ sông thương…”

 

Tôi nói với hai vị thi sĩ và nhạc sĩ là tôi thích 2 chữ “bù em”. Phải chăng thơ là thể văn rút ngắn, thay vì nói dài cho rõ hơn trong văn xuôi là “anh đền cho em…”, nhà thơ dùng kéo tỉa gọn ra thơ. Trong thi ca, sự lạ lẫm về chữ nghĩa lao xao, xào xạc (rustling, bruissement) như thật có đấy, nhiều lắm. Ví dụ nhé, trong bài thơ Ngậm Ngùi của thi sĩ Huy Cận:

 

“Cây dài bóng xế ngẩn ngơ…

– Hồn em đã chín mấy mùa thương đau ?

Tay anh em hãy tựa đầu,

Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi…”

Chữ nghĩa lao xao ở các chữ “Hồn em đã chín mấy mùa” hay “trái sầu” trong thơ, nếu diễn dịch rõ nghĩa trong văn xuôi văn chương bút tạp ghi bình phẩm sẽ dài. Trong thơ 

Nguyên Sa, bài Tuổi 13 tôi thích thú khi chữ nghĩa lao xao:

“Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng

Mưa tôi chả về bong bóng vỡ đầy tay

Trời nắng ngạt ngào tôi ở lại đây

Như một buổi hiên nhà nàng dịu sáng”

Ậy, lại chữ nghĩa lao xao ở chỗ “mưa… bong bóng vỡ đầy tay”, rồi “Trời nắng ngạt ngào”, những chữ nghĩa của người thơ là thế, nắng sao lại ngạt ngào ? Tĩnh từ ngạt ngào hay ngào ngạt ám chỉ có mùi thơm lan toả rộng và kích thích mạnh vào khứu giác như khi ta nói hương thơm ngào ngạt, mùi hoa ngào ngạt, hoặc giả mùi phở, mùi trầm ngạt ngào khứu giác,… chữ nghĩa của những lao xao rồi, mà sao không là nắng gay gắt, hay nắng như thiêu đốt cremation của lò thiêu Peek family, thế còn gì lãng mạn tính, còn gì thơ mộng mị tính khi mà nắng ngọt ngào vì có em, còn không có em thì như bài ca Tây Ninh nắng cháy da người, cháy luôn da em chứ nhỉ?

Nguyên Sa bồi tiếp những lao xao chữ nghĩa như những ví von, những ẩn dụ (metaphor), những so sánh áo vàng lại yêu hoa cúc, chứ không là Áo Vàng như Mai Thảo, tên tựa tác phẩm của Mai Thảo, rồi tại sao áo nàng xanh lại mến lá sân trường, mà không mến màu áo của Con Ma Áo Xanh (Litte Green), tiểu thuyết nổi danh của nhà văn Mỹ Walter Mosley ? Chữ nghĩa của những lao xao… Oui, le voilà qui se remet à rire!

 

“Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc

Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường.

Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương

Tôi thay mực cho vừa màu áo tím.”

 

Thế giới văn học vốn thắc mắc hai vị phù thủy của chữ nghĩa lao xao trong thi ca văn học, Thanh Tâm Tuyền của sự thể “Ôm em trong tay mà nhớ em ngày sắp tới” và Du Tử Lê của sự thể “Con dế buồn tự tử giữa đêm sương”. Chữ nghĩa của những lao xao chạy sang thơ Du Tử Lê nhé. Bài Ơn Em của thi sĩ  Du Tử Lê lao xao ở chỗ: “Ơn em ngực ngải môi trầm”, rồi lao xao tiếp “Cho ta cỏ mặn, trăm lần lá ngoan”…

 

“Ơn em thơ dại từ trời,

Theo ta xuống biển, vớt đời ta trôi.

Ơn em dáng mộng mưa vời,

Theo ta lên núi, về đồi yêu thương.

Ơn em ngực ngải môi trầm,

Cho ta cỏ mặn, trăm lần lá ngoan.

Tạ ơn em… tạ ơn em..”

 

Thật vậy, bần bút tôi trố mắt như cá thòi lòi, mắc chứng bứt rứt tóc tai (trichotillomania), khi âm thầm lẩm bẩm vì những lao xao, bruissement, “Con dế buồn tự tử giữa đêm sương”. Mà tại sao “Con dế buồn tự tử giữa đêm sương”? Trong khi ngày xưa tôi là vua đá dế, nuôi cả bầy dế than, dế lửa mà chả thấy con dế nào buồn lại tự tử giữa đêm sương cả, dế thua dế ôm xác bỏ chạy te te như đồng minh tháo chạy vì chứng diarrhea bị Tào Tháo đuổi, hay hiện tượng “hit-and-run” của sự thể Clinton- Lewinsky bị bọn Cộng Hòa truy kích, truy đuổi. Rồi sự thể lạ lẫm “Ơn em ngực ngải môi trầm”, những biểu tượng thiêng liêng của người nữ trong sứ mạng truyền giống, nghĩa vụ sinh sản để dòng sông đời còn những đẹp đẽ nối tiếp nhau. Nếu đời này chỉ có những nam giới, những mày râu thôi, eo ơi chán bỏ sừ, chỉ có nam với nam lặng lẽ nhìn nhau nơi khuê phòng, chán chết, văn học romantisme sẽ cụt hứng. Thế giới này chả chóng thì chầy sẽ triệt sản. Sự thể ca tụng “Ơn em ngực ngải môi trầm”, cũng nên vinh danh những tubib phù thủy sửa sang sắc đẹp, nào những đôi môi trầm khêu gợi, những núi đồi diệm sơn, sự cần thiết cho vẻ đẹp cần có cho âm phái. Thế giới sẽ tận thế, sẽ vô nghĩa khi không có những xôn xao của “ngực ngải môi trầm”, đẹp biết bao với những vệ nữ kiều diễm Bo Derek, Dolly Parton, Rachel Welch hay Brigitte Bardot. Còn ngược lại chỉ có nam, tức chỉ có những hệ quả yếm thế, những u buồn của những Al Qaeda, những Hamas, những Taliban mà thôi. Buồn lắm, chán lắm.

Thế Cung Trầm Tưởng luận bàn về chữ nghĩa lao xao, chữ nghĩa lao xao của ông ra sao? Ít hay nhiều? Tôi xem những chữ nghĩa lao xao mà ông dùng lãng đãng nhiều, nhiều lắm trên các trang sách, “Cung Trầm Tưởng Một Hành Trình Thơ (1948-2008)”, các trang 75 có bài Kiếp Sau, rồi  trang 76 bài Kiếp Sau Nữa, như một extension của bài trước thi sĩ hứa đền bù cho em nhiều kiếp quá, tôi ước gì bà đầm Michèle của “Lên xe tiễn em đi có ga Lyon đèn vàng” hiểu chữ Việt và đọc thơ thạo chữ Việt nhỉ ?

Trang 82 là bài thơ Râu Xanh điển hình với chữ nghĩa lao xao lênh láng hãy xem suốt 17 câu, ví dụ ý tưởng tác giả khôi hài khi tự nhận mình như “anh yêu râu xanh”:

 

“Đến anh thì đến hôm nay

Lỡ mai gió lật chở đầy mưa qua

Đến anh thân thể lụa là

Dài đuôi con mắt, ngắn tà váy yêu

Đến anh lưng thắt chiết yêu

Sểnh tâm phá giới con diều ái ân

Gót ngờ rớt chín phân vân

Để sau một hóa mười lần đến anh

Chờ em anh để râu xanh

Lòng xây bốn bức tường thành giam em

Hồn anh em thắp lên xem

Ác như một chiếc lồng đèn kéo quân

Tình anh sương giá đầy sân

Cần em mái phủ cho thân ấm nhờ

Chuyện mình mói nửa trang thơ

Phải hai cùng viết trang thơ vẹn tình

Chờ em anh để râu xanh.”

(thơ Cung Trầm Tưởng, 1965)

 

Đọc Râu Xanh có lẽ nhiều ông đang để râu, ví dụ Ngô Thụy Miên, Phan Anh Dũng, Lưu Anh Tuấn, Lê Tuấn, Nam Lộc, Trọng Nghĩa, Đặng Hùng Sơn, Cát Biển, Yên Sơn, Hoàng Thy, Phan Đình Minh,… Quý chư liệt vị để râu màu gì nhỉ? Nên lưu ý mode Râu Xanh nhé… Ông Bill Clinton muốn để Râu Xanh như Cung Trầm Tưởng có lẽ sẽ sớm phai màu, không silver thì cũng platinum mà thôi:

 clinton

Ông Bill mà để râu xanh

Phai màu chóng bạc râu thành silver.

 

 

Là một người yêu thi ca âm nhạc và nhất thơ nhạc giao duyên dưới hình thức nhạc phổ từ thơ, tôi hân hạnh được nhà thơ Cung Trầm Tưởng gửi biếu tập thơ của ông, tác phẩm này có tên “Cung Trầm Tưởng Một Hành Trình Thơ (1948-2008)”. Ông cho phép tôi xem ông như là một người bạn thơ vong niên trong phạm vi thi ca văn học. Cung Trầm Tưởng như Nguyên Sa, hay như Hoàng Anh Tuấn cùng nhiều người khác nữa, xuất dương sang Pháp du học, chuyện từ thế kỷ trước, năm 1948. Thế hệ ít nhiều ảnh hưởng nền văn hóa Pháp thuộc, bởi thời thế thuở trước ấy, đi học đồng nghĩa với việc theo tây học. Khi đến thế hệ tôi lớn lên, khi mà nước Hoa Kỳ mang quân sang Nam Việt Nam tham chiến bảo vệ VNCH, nhưng rồi tình thế bi đát cho nhân dân miền Nam, bằng thủ đoạn phía Bắc đã thắng cuộc, thi sĩ Cung Trầm Tưởng phải đi tù chính trị, sau cuộc chiến tôi may mắn sang Mỹ trước ông, dù là ông đã sang Pháp và Mỹ học khi những năm cuối mùa của sự đô hộ Pháp hay những năm Hoa Kỳ bành trướng thanh thế tại vùng Đông Nam Á, vì nước Mỹ bị ám ảnh cái hội chứng Domino thuở ấy, tôi còn nhớ, và nhớ rõ lắm.

 

Mấy ngày hôm nay ông và tôi có những hôm ôm đường dây viễn liên khá lâu, vì khi soạn thơ hay viết bài tôi phải thấu triệt ý của bài thơ. Nhiều bài thi sĩ sáng tác mà ông ươm mầm những ẩn ý triết học, những ví von so sánh tỷ đối (simile, comparison metaphor), những điển tích (allusion, anecdote), hay ẩn dụ (metaphor), dù chỉ là ý niệm mà thôi (conceptional metaphor). Vì thế nên tôi cần ông diễn giải, hoặc là bạch hóa những ý tưởng sâu sắc kia. Hôm qua trong 2 giờ đàm đạo qua phôn, riêng bài thơ “Núi và Suối Một Huyền Sử” đã chiếm mất tiêu 45 phút để ông lướt qua 5 trang thơ, từ trang 444 đến 448. Bài trường thi này dài 96 câu, về bố cục theo tôi phân đoạn đầu (mở đề) gồm 4 câu:

 

“Hãy chu đáo yêu nhau giờ cuối

Hứng môi mê uống cả chiều tà

Rồi mai anh chấp cánh bay xa

Gửi núi giữ gìn em đơn chiếc”

 

Đoạn intro mở đề là giới thiệu nhà thơ hay câu chuyện của mội vị sĩ quan miền Nam bị tù giam trong trại Hàm Tân có tên là trại Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận. Đây là căn cứ 5 của quân đội Đồng minh cũ, nằm dọc theo Quốc lộ 1, tọa lạc gần khu vực Mây Tào, về hướng bắc núi Mây Tào có suối Nước Trong rất đẹp, và núi Mây Tào có đỉnh cao từ 500 đến 650 thước. Trại Hàm Tân là một trại giam giữ khá đông đảo tù nhân, có khi hơn 6.000 người, chia làm hai khu, khu cũ và khu mới, ngăn cách nhau bởi hàng rào kẽm gai. Khu mới xây lợp tôn, có bệ nằm bằng xi-măng, khu giam tù này được ngăn đôi, trại nam và trại nữ. Vì địa thế sát bên trại tù nam là nhà tù nữ, thơ cho biết nàng con gái Ngọc Tiên mỗi khi chiều vàng rơi xuống nàng là biểu tượng cho một hình ảnh thủy chung Juliette với Roméo của truyện xưa kia tại nước Ý, một đại danh tác của Shakespeare, hay một Penelope truyện kỳ tích thần thoại Hy Lạp chờ đợi Odysseus trở về tái hợp duyên tình yêu thương. Câu 43 đến 47:

 

“Đáy mắt có chiều sâu tráng lệ

Tháp Chàm ảnh ảo ngậm hoàng hôn

Tóc lăn tăn gió cỏ đuôi chồn

Lời vuốt ve ru hồn ngủ võng”

 

Chính tựa đề “một huyền sử” nói lên mối tình khi hai tâm hồn thương nhau nơi trại giam, trước cái khắt khe của trại giam, tình yêu platonic, sự trong sáng, thánh thiện, yêu nhau bằng ánh mắt, bằng lời tình nồng chia sẻ qua hàng rào kẽm gai ngăn đôi hai tâm hồn:

 

“Núi giãi tâm tư, bày ước vọng

Chở chiều vàng lộng nắng rừng buông

Ôm nguyên thanh thoát một vùng hồng

Thụ phấn lòng em tình lẫm liệt”

 

Núi rừng chứng giám cho tâm tư và ước vọng yêu thương, mối tình cách ly, rồi tình xa nhau, kẻ ở lại bị giam tiếp, người nam được ra đi, người nữ nguyện lòng yêu thương mãi khi tiễn nhau như loài cây buông trong rừng Mây Tào, cứ mỗi chu kỳ 60 năm buông chết di và tái sinh. Tình của Ngọc Tiên trao, người có ánh mắt đẹp, sâu lánh, nhuốm nét u buồn, mái tóc cỏ đuôi chồn, nàng như sự thủy chung của Juliette hay Penelope.:

 

“Hãy nhớ và yêu nhau tha thiết

Giũ tim cho hết cái tầm thường

Lời thề cháy chỉ trong vành hương

Cũng đã thơm mùi vĩnh viễn”

 

Đôi tình nhân xa nhau nhưng họ dâng lời thề nguyền yêu thương, do đó tôi trích 4 câu trên của thân bài làm nên cho bài thơ rút ngắn cho đề nghị cho lyrics, vì ý nghĩa đầy đủ cho tựa bài.

 

Ở phần kết bài, thi sĩ thấy mối tình quá đẹp giữa hai người khi Ngọc Tiên không có chồng (chồng quá vãng), chàng sĩ quan không có vợ tình yêu của họ là tình cảnh tù đày, trại tù giam hãm, tình yêu là niềm hy vọng sưởi ấm cho nhau, đem nhau qua những túng quẩn, cay nghiệt của cuộc sống, để yêu thương, để hy vọng. Tác giả nhớ lại phong cảnh suối và núi, cùng chuyện tình thánh thiện, platonic love, ông xây dựng cốt chuyện thật thành nội dung của một câu truyện thơ huyền sử mà bài thơ là đứa con tinh thần, được nuôi dưỡng vào thiên thu. Câu 87 đến 90:

 

“Núi đặt tên con Thần Thọai

Rửa tội cho con bằng nửa đời cha

Pha lưu ly ánh mắt mẹ chan hòa

Nuôi lớn con ngang tầm huyền sử”

 

Tình yêu phân ly khi người nam được ra từ cõi tù, người nữ tình nhân bị tội nặng nên bị giam giữ tiếp, mối tình phải chan hòa nước mắt khi tiễn đưa nhau, khi em ở anh về, núi non, rừng suối chứng giám cảnh biệt ly chia bôi.

 

(*):  Insertion for coda: xem bên dưới.

 

Đoạn kết tôi 6 câu cuối thơ Cung Trầm Tưởng để kềt bài tôi soạn cộng thêm hai nhà thơ xứ ngoài:

 

“Xin tặng em son vàng vinh dự

Ngọc huyền tinh khiết, tình đau thương

Cành hoa thiên lý, hương nghìn dặm

Về ủ tom vơi nỗi đoạn trường

 

Một ngày xa em dài như thê kỷ

Núi dứng lặng thầm, đăm chiêu, kỳ vĩ.”

 

 (*):  Insertion for coda: Phần extension tôi mượn ý thơ của hai nhà thơ Edmond Haracourt với  bài “Rondel de L’Adieu” tức “Ca Khúc Biệt Ly” và ý thơ của thi sĩ Emily Dickenson, bài “The Mystery of Pain” tức “Bí Mật Khổ Đau”, bởi vì khi chia tay nhau, người nam ra xứ ngoài, số phần người nữ không rõ còn hay mất. Trong cái khổ đau của vòng tù tội, cái khổ đau nhớ nhung khi mà biệt ly là chết trong lòng một tí như thơ Haracourt, người ra đi để lại mối tình yêu thương thân thiết, theo thơ Dickenson thì khổ đau bao quanh ta hãy chôn vùi vào quên lãng, và không lời thầm trách. Những ý tưởng trên khổ đau khi chia ly, nỗi buồn vô hạn là đoạn insertion vào bài như phần điệp khúc.

Diễn tả phần này ca sĩ Bình Trương, một cựu chiến binh sĩ quan Cọp Biển sẽ ca và diễn hoạt cảnh cùng ca sĩ Thúy Quỳnh.

ca sĩ bình trương và thúy quỳnh

Ca sĩ Bình Trương và Thúy Quỳnh.

 

Với nhạc sĩ Cao Minh Hưng, một nhân tài trẻ anh thuộc lớp bạn ra đời 1969, nhưng đầy triển vọng cho cộng đồng, với sự suy tư củua tôi tôi, nếu Bùi Thế Phát(Phát Bùi), một thành viên trong đại gia đình Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, sáng tác nhạc, sở trường là kéo violon, kéo nhuyễn lắm, về ý thích ngoài cộng đồng Phát Bùi thích tham chính, ra tham gia ngoài dòng chính, mainstream. Cao Minh Hưng cũng sáng tác nhạc, ghiền môn piano, gõ phím khá mùi, Hưng thiên về phạm trù văn hóa, đây là hai trong số nhiều người trẻ của cộng đồng tích cực xây đắp và đóng góp, vun xới và phát huy cái chân thiện mỹ của đời sống vươn lên.

hoạt cảnh

Hoạt cảnh kịch vui CLBTNS

 

Trở lại, Cao Minh Hưng được nhìn bởi giới đàn anh chú đi trước, ví dụ như nhạc sĩ Anh Bằng cho ý kiến của ông về Hưng như sau:

“Tôi nghĩ, trái tim Cao Minh Hưng có 3 ngăn. Ngăn thứ nhất cho người vợ hiền, rất hiền và con cái. Ngăn thứ hai dành cho lương tâm của một bác sĩ chuyên môn, là nha sĩ. Và ngăn thứ ba dành cho văn học nghệ thuật, cho thơ và nhạc. Tôi biết 3 ngăn này đủ làm cho Cao Minh Hưng rất bận rộn.

 Nói cho cùng thì tinh thần nghệ sĩ tính của Cao Minh Hưng dành cho sự đam mê văn học nghệ thuật một chỗ đứng trang trọng trong trái tim của anh. Chính tâm hồn đam mê âm nhạc đã tạo nên một Cao Minh Hưng nhạc sĩ với những giòng nhạc tình mang thật nhiều nét dấu yêu và say đắm. Ngày hôm nay, nhạc sĩ Cao Minh Hưng còn trẻ, nhạc khúc của Cao Minh Hưng còn mới chưa được khán thính giả biết đến nhiều, nhưng tôi nhận thấy Cao Minh Hưng sẽ là một đóng góp rất quan trọng cho văn học và nghệ thuật hải ngoại cũng như quê hương Việt Nam sau này.”

 

Cách đây vài năm một vị khác như Giáo sư tiến sĩ âm nhạc Trần Quang Hải bên Paris nhận định về Cao Minh Hưng như sau:

“Nếu Cao Minh Hưng là một nhạc sĩ sáng tác chuyên nghiệp thì tôi không lấy làm lạ khi nghe. Nhưng Cao Minh Hưng là một nha sĩ nhà nghề từ nhiều năm. Rồi bỗng dưng anh bị âm nhạc ru hồn biến anh thành một người viết nhạc và luôn lời để đưa 12 ca khúc tuyển chọn vào một CD…

Tôi rất vui mừng thấy trong làng nhạc hải ngoại có thêm một bông hoa mới đầy hứa hẹn. Bông hoa đó là nhạc sĩ – nha sĩ Cao Minh Hưng sẽ làm thơm ngát vườn hoa âm nhạc Việt Nam trong tương lai.”

 

Trong dịp Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ cùng nhiều thân hữu bắt tay nhau cùng vinh danh một nhà thơ, một vị sĩ quan của QLVNCH bị tù đày bởi CSVN sau 1975, ông là một nghệ sĩ hay một thi sĩ mang linh hồn và máu đỏ nghệ sĩ tính trời ban, show hát “Chiều Thơ Nhạc Cung Trầm Tưởng”. Hưởng ứng chương trình gồm một số nhạc sĩ đã gửi nhạc được phổ từ thơ Cung Trầm Tưởng như các nhạc sĩ: Trường Sa, Nguyên Phan, Võ Vĩnh Thuận, Nguyễn Tuấn (Pennsylvania), Võ Tá Hân, Phan Ni Tấn, Ngọc Loan, Hạnh Cư, và Cao Minh Hưng. Hai nhạc sĩ Ngọc Loan và Hạnh Cư với niềm cảm tác dâng cao, mỗi vị gửi 2 bài, nên tổng cộng là 11 bài được thu xếp vào chương trình.

Trong bài nhạc Tiếng Gọi Yêu Thương của nhạc sĩ Hạnh Cư, do ca sĩ Huỳnh Anh trình bày, lời nhạc dựa vào bài thơ Tiếng Gọi của thi sĩ Cung Trầm Tưởng, ông sáng tác bài thơ này khi được tin Bùi Giáng qua đời. Cung Trầm Tưởng vốn mến mộ các nhà thơ Bùi Giáng, Rabindranath Tagore, và Khalil Gibran. Nhiều tác phẩm của họ nhuốm tính chất triết lý hay nhân bản, hoặc cho ý tưởng về tình thương, cuộc sống,… Bài thơ nền Cung Trầm Tưởng:

 

Ta đi trong chữ tình ta

Thắp nhang trầm niệm đọc ra linh hồn

Còn nồng ấm nụ đời hôn

Thuở tròn trĩnh mẹ đỏ hòn máu thơ

Dẫu âm môi ấy ẵm ờ

Mà nghe tiếng gọi nứt bờ thời gian

Con yêu tiếng mẹ vô vàn

Một lời mẹ rót ra ngàn cổ thư

Nhớ này giòn giã tâm tư

Chữ thi nhân đốt hư vô lửa bùng

Si ca ra cũng một dòng

Vần thơ điên ném làm cùng không gian.

Cung Trầm Tưởng

Saint Paul 1998

(Đêm nghe tin Bùi Giáng qua đời).

 

Trong bài thơ Tiếng Gọi Yêu Thương, ngoài bài thơ chính là Tiếng Gọi,  còn được lồng vào những câu thơ nguyên thủy của ba nhà thơ này như Mưa Nguồn của Bùi Giáng do cảm đề tác phẩm La Porte Étroite của nhà văn André Gide:

Bình minh thơ dại hai môi

Lời chưa nói cũng là lời đã trao.

(Mưa Nguồn, Bùi Giáng).

 

Ta về ngóng lại mưa sa,

Giọt dài ly biệt nghe ra giọng chào,

(André Gide;Thơ cảm đề La Porte Étroite,

Bùi Giáng).

 

 Bài thứ hai, mượn ý thơ Rabindranath Tagore, bài Em Là Một Áng Mây Vàng (You Are the Evening Cloud).

Gót em thấp thoáng đỏ lên,

Trong lung linh lửa tình em mặn nồng.

Em đi giữa tiếng tơ lòng,

Lượm lời anh hát nhuộm hồng chiều hôm

Môi em ngọt đắng rượu buồn,

Bởi men đau khổ không lường của anh.

Của anh, em của riêng anh,

Em trong những giấc mơ lành cô đơn.

 

Tương tự, bài thứ 3, mượn ý thơ Khalil Gibran qua bài Giọt Lệ và Nụ Cười (A Tear and A Smile).

“Lệ lòng thanh tịnh tim tôi

Thương tâm huyền diệu ẩn sâu đáy lòng

Cười vang hoa nở nhân tình

Từ tâm màu nhiệm bình sinh cuộc đời”

tập thơ cung trầm tưởng

Hôm cô em Jennifer Đinh Hạnh trao tôi quyển “Cung Trầm Tưởng Một Hành Trình Thơ (1948-2008)”, như duyên van nghệ tôi lật quyển sách dậy cộm 640 trang, cái lật đầu tiên dừng ngay trang 91 có bài thơ ngắn ngủn, vỏn vẹn chỉ 4 dòng mà tác giả làm tại Đà Lạt vào năm 1959, voilà khi ấy tôi mới tập tểnh vào lớp 5 (tức lớp 1 sau này), còn cô bé Jennifer Hạnh chắc chưa tròn thôi nôi đầy năm, còn nằm trong nôi, lên xe phút lít bảo ngồi carseat, ba cô ca sĩ trong ban tam ca ba con lăng quăng Thanh Vân, Thùy Châu và Mỹ Dung giã từ tu sữa Babilac hay sữa Guigoz chưa nữa, và ca sĩ Thúy Quỳnh ca lancer bài hát phổ thơ Thinh Quang Đêm Trăng Trên Dòng Sông Xuân rất tới, nhưng rồi con số kỳ diệu 1959 khi mà thi sĩ tác giả viễn du xứ anh đào có ngàn hoa tươi thắm, nào những đóa hoa: glaieul, oeillet, marguerite, gerbera, coquelicot,lys, arum, hortensia, mimosa,… để ông ngẩu hứng ươm thơ Một Gam Ru Hời, thời gian quay về thế kỷ trước xa xôi, khi mà cô nhiếp ảnh gia kiêm phó nhòm bé Nguyệt Lê hay ca sĩ bé Thúy Quỳnh đã ở tinh cầu nào.

 

“Sương rơi thầm âm nhạc

Chiều buồn lạc thanh âm

Hoang sơ vào khuya tối

Linh hồn tôi dương cầm”

(Đà Lạt 1959)

 

Vì sự ngắn ngủn và ý tưởng của bài thơ, cũng như hồn thơ chợt đến, tôi làm một extension nối dài thêm, và nhờ nhạc sĩ Cao Minh Hưng phổ nhạc. Khi Hưng gửi đến nhà thơ CD nghe thử, ông nghe nhiều làn và tâm đắc, thích thú, tôi cho ông biết trong Đêm Thơ Nhạc Cung Trầm Tưởng bạn bè, thân hữu và ông sẽ nghe hết các nhạc sĩ trên đã trân quý ông, từ quý anh chị  Trường Sa, Nguyên Phan, Võ Vĩnh Thuận, Nguyễn Tuấn, Võ Tá Hân, Phan Ni Tấn, Ngọc Loan, Hạnh Cư và Cao Minh Hưng đã gửi tặng ông những tác phẩm từ tim óc, hư nhữnmg món quà tinh thần nhân sinh nhật 83 tuổi, một chiến sĩ Không quân của QLVNCH với 13 năm tù, 10 năm tù giam ở các trại từ Bắc vào Nam và 3 năm “quản chế” tại gia.

Dạ Khúc Chiều Xưa – Thơ: Cung Trầm Tưởng & Việt Hải – Nhạc: Cao Minh Hưng: http://www.youtube.com/watch?v=b7s9Z4ch5sw

x

Nhân tiện đây chúng tôi xin cám ơn quý anh chị nhạc sĩ, quý anh chị ca sĩ, ngâm sĩ, quý anh chị thân hữu bạn bè và các thành viên của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ đã chung tay nhau thực hiện đêm ca nhạc ngâm thơ để  cùng vinh danh một nhà thơ, một vị sĩ quan của QLVNCH bị tù đày bởi ác chế CSVN sau năm 1975, ông là một nghệ sĩ hay một thi sĩ mang linh hồn và máu đỏ nghệ sĩ tính trời ban:  Cung Trầm Tưởng.

 

Việt Hải Los Angeles

 

_______________________________________________________________________________________________________________________________

 

 

 

  • Ref. link:

 

http://www.caulacbotinhnghesi.net/index.php?option=com_content&view=article&id=1930

TRẦN VIỆT HẢI (VHLA) : Bơi trong cõi văn chương Cung Trầm Tưởng


 Subject: Bơi trong cõi văn chương Cung Trầm Tưởng – VHLA 

Image
Sans Elle –  Xa Em Rồi – Trung Hành:http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/xa-em-roi-sans-elle-trung-hanh.9-g35bbc-H.htm
Hãy Nói Lời Yêu Thươnghttp://www.ninh-hoa.com/VietHai-HayNoiLoiYeuThuong.htm

Image

Một Hành Trình Thơ 1948-2008 – Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng 
Bơi trong cõi văn chương Cung Trầm Tưởng
Việt Hải Los AngelesTrong một bài viết bàn bạc về ngôn ngữ, chữ nghĩa, nhà thơ Cung Trầm Tưởng dùng câu nói của nhà phê bình văn học Pháp Roland Barthes khi đề cập: “C’est le frisson du sens que j’interroge en écoutant le bruissement du langage”. Phải chăng khi ta nghe tiếng xào xạc của chữ nghĩa, ta tự hỏi lòng nỗi cảm giác rung cảm ấy? Đối với nhà văn, nhà thơ, hình như mỗi người có những kiểu nói, những chữ viết (từ vựng) riêng, có thể là đặc thù, dù duyên dáng hay ngộ nghĩnh, đó là biểu tượng của họ và từ họ mà ra.

Hôm nọ nhạc sĩ Trường Sa bên Canada email đến chúng tôi bài nhạc Kiếp Sau, phổ từ thơ Cung Trầm Tưởng cùng tựa, do ca sĩ Minh Châu (Los Angeles), tâm tư tôi dâng lên những thích thú, hay hay như sự đột phá, lạ lẫm. Thơ Kiếp Sau có những câu như:

“Bù em một tháng trời gần

Đơm hoa kết mộng cũng ngần ấy thôi

Bù em góp núi chung đồi

Thiêu nương đốt lá cũng rồi hoang sơ.

Bù em xuôi có ngàn thơ

Vẫn nghe trắc trở bên bờ sông thương…

Tôi nói với hai vị thi sĩ và nhạc sĩ là tôi thích 2 chữ “bù em”. Phải chăng thơ là thể văn rút ngắn, thay vì nói dài cho rõ hơn trong văn xuôi là “anh đền cho em…”, nhà thơ dùng kéo tỉa gọn ra thơ. Trong thi ca, sự lạ lẫm về chữ nghĩa lao xao, xào xạc (rustling, bruissement) như thật có đấy, nhiều lắm. Ví dụ nhé, trong bài thơ Ngậm Ngùi của thi sĩ Huy Cận:

“… Cây dài bóng xế ngẩn ngơ

Hồn em đã chín mấy mùa thương đau ?

Tay anh em hãy tựa đầu,

Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi…”

Chữ nghĩa lao xao ở các chữ “Hồn em đã chín mấy mùa” hay “trái sầu” trong thơ, nếu diễn dịch rõ nghĩa trong văn xuôi văn chương bút tạp ghi bình phẩm sẽ dài. Trong thơ Nguyên Sa, bài Tuổi 13 tôi thích thú khi chữ nghĩa lao xao:

“Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng

Mưa tôi chả về bong bóng vỡ đầy tay

Trời nắng ngạt ngào tôi ở lại đây

Như một buổi hiên nhà nàng dịu sáng”

Ậy, lại chữ nghĩa lao xao ở chỗ “mưa… bong bóng vỡ đầy tay”, rồi “Trời nắng ngạt ngào”, những chữ nghĩa của người thơ là thế, nắng sao lại ngạt ngào, mà không là nắng gay gắt, hay nắng như thiêu đốt cremation của lò thiêu Peek family, nói toạc móng heo như thế còn gì lãng mạn tính, còn gì thơ mộng tính khi mà nắng ngọt ngào vì có em, còn không có em thì như bài Tây Ninh nắng cháy da người, cháy luôn da em  <?>.

Nguyên Sa bồi tiếp những lao xao chữ nghĩa như những ví von, những ẩn dụ (metaphor), những so sánh áo vàng lại yêu hoa cúc, chứ không là Áo Vàng như Mai Thảo, tên tựa tác phẩm của Mai Thảo, rồi tại sao áo nàng xanh lại mến lá sân trường, mà không mến màu áo của Con Ma Áo Xanh (Little Green), tiểu thuyết nổi danh của nhà văn Mỹ Walter Mosley. Chữ nghĩa của những lao xao.

“Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc

Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường.

Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương

Tôi thay mực cho vừa màu áo tím.”

Thế giới văn học vốn thắc mắc hai vị phù thủy của chữ nghĩa lao xao trong thi ca văn học, Thanh Tâm Tuyền của sự thể “ôm em trong tay mà nhớ em ngày sắp tới” và Du Tử Lê của sự thể “Con dế buồn tự tử giữa đêm sương”. Chữ nghĩa của những lao xao chạy sang thơ Du Tử Lê nhé. Bài Ơn Em của thi sĩ Du Tử Lê lao xao ở chỗ: “Ơn em ngực ngải môi trầm”, rồi lao xao tiếp “Cho ta cỏ mặn, trăm lần lá ngoan”…

Image

“Ơn em thơ dại từ trời,

Theo ta xuống biển, vớt đời ta trôi.

Ơn em dáng mộng mưa vời,

Theo ta lên núi, về đồi yêu thương.

Ơn em ngực ngải môi trầm,

Cho ta cỏ mặn, trăm lần lá ngoan

.

Tạ ơn em… tạ ơn em..”

Thật vậy, bần bút tôi trố mắt thò lò, mắc chứng bứt rứt tóc tai (trichotillomania), khi âm thầm lẩm bẩm vì những lao xao, bruissement, “Con dế buồn tự tử giữa đêm sương”. Mà tại sao “Con dế buồn tự tử giữa đêm sương”?, trong khi ngày xưa tôi là vua đá dế, nuôi cả bầy dế than, dế lửa mà chả thấy con dế nào buồn lại tự tử giữa đêm sương cả, dế thua dế ôm xác bỏ chạy te te như đồng minh tháo chạy vì chứng diarrhea bị Tào Tháo đuổi, hay hiện tượng “hit-and-run” của sự thể Clinton- Lewinsky bị bọn Cộng Hòa truy kích, truy đuổi. Rồi sự thể lạ lẫm “Ơn em ngực ngải môi trầm”, những biểu tượng thiêng liêng của người nữ trong sứ mạng truyền giống, nghĩa vụ sinh sản để dòng sông đời còn những đẹp đẽ nối tiếp. Nếu đời này chỉ có những nam giới, những mày râu thôi, eo ơi chán bỏ sừ, chỉ có nam với nam lặng lẽ nhìn nhau nơi khuê phòng, chán chết, văn học romantisme sẽ cụt hứng , như dế chết queo râu. Thế giới này chả chóng thì chầy sẽ triệt sản. Sự thể ca tụng “Ơn em ngực ngải môi trầm”, cũng nên vinh danh những tubib phù thủy sửa sang sắc đẹp, nào những đôi môi trầm khêu gợi, những núi đồi diệm sơn, sự cần thiết cho vẻ đẹp cần có cho âm phái. Thế giới sẽ tận thế, sẽ vô nghĩa khi không có những xôn xao của “ngực ngải môi trầm”, đẹp biết bao với những vệ nữ kiều diễm Bo Derek, Dolly Parton, Rachel Welch hay Brigitte Bardot. Còn ngược lại chỉ có nam, tức chỉ có những hệ quả yếm thế, những u buồn của những Al Qaeda, những Hamas, những Taliban mà thôi. Buồn lắm, chán lắm.

Như vậy những ngôn ngữ, chữ nghĩa lao xao trong văn học có cần không? Thưa, rất cần cho sự thăng hoa văn học chắp cánh bay cao…

Image

Thấy mồ rồi, xe chạy xa đề tài Cung Trầm Tưởng quá rồi, xin U-turn quẹo lại đi nhe. Bài trường bút, còn tiếp lê thê… Kính mời  quý netters  nghe giải lao bài tình ca Tương tư 4, nhạc Mặc Thế Nhân, thơ Cung Trầm Tưởng:

Bài nhạc “Tương tư 4” của Mặc Thế Nhân, phổ từ thơ Cung Trầm Tưởng:
http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/tuong-tu-elvis-phuong.wH1dVIaEnX.html       

“Phải chi em đừng có chồng và anh còn đơn côi  

Thì giờ đây em đâu buồn, anh đâu sầu, đâu lo lắng, đâu phân vân 

Chiều qua ru em ngủ, chiều nay em theo chồng 

thế hỏi lòng có buồn không?    

Tiếc thương cũng rồi, đành thôi ván đóng thuyền

Còn đâu ước mơ gì cũng thế   

Nhưng lỡ yêu rồi, em ơi biết bao giờ    

lòng mới quên được người xưa, hỡi em?   

 
Phải chi em đừng có chồng và anh không là riêng ai

Thì ngày nay duyên đôi mình không âm thầm

không xa cách, không đau thương    

Lòng anh không than thở, lệ em không chan nhòa,

những khi mình đến tìm nhau     

 

Tiếc thương cũng rồi, đành thôi ván đóng thuyền

Còn đâu ước mơ gì cũng thế    

Nhưng lỡ yêu rồi, em ơi biết bao giờ    

Lòng mới quên được người xưa, hỡi em?”    

Image

 _________________________________________________Subject: Bơi trong cõi văn chương Cung Trầm Tưởng – VHLA

VIỆT HẢI : DẠ CỔ HOÀI LANG – CAO VĂN LẦU


 

Dạ Cổ Hoài Lang – Cao Văn Lầu

Image

VIỆT HẢI Los Angeles

 

Dạ Cổ Hoài Lang là một bản nhạc cổ do nhạc sĩ Cao Văn Lầu (1892-1976) sáng tác, nói về tâm sự người vợ nhớ chồng lúc về đêm. Từ bản Dạ cổ hoài lang mỗi câu 2 nhịp, các nghệ sĩ sau này chuyển lên 4 nhịp rồi 8 nhịp, mà thành bài vọng cổ đầu tiên… 

 Image

 Dạ Cổ Hoài Lang – Cao Văn Lầu 

Nguyên nhân ra đời, Cao Văn Lầu (tức ông Sáu Lầu) đã thổ lộ với bạn thân rằng:

Tôi đặt bài này bởi tôi rất thương vợ. Năm viết bản Dạ Cổ Hoài Lang, tôi đã ăn ở với vợ tôi được 3 năm mà không có con… Tiếng ra, tiếng vào của gia đình buộc tôi phải thôi vợ, nhưng tôi không đành. Tôi âm thầm chống lại nghiêm lệnh của gia đình, không đem vợ trả về cho cha mẹ mà đem gởi đến một gia đình có tấm lòng nhân hậu… Tác giả bài báo kể tiếp: Trong thời gian dài, phu thê phải cam chịu cảnh “đêm đông gối chiếc cô phòng”, Sáu Lầu thường mượn tiếng đàn để vơi cơn phiền muộn. Và bản Dạ Cổ Hoài Lang đã ra đời trong bối cảnh như thế…
Đi tìm nguồnn gốc để bổ sung chi tiết, tác giả Trung Tín trong một bài viết, cho biết thêm hai lời kể nữa như theo lời kể của nhạc sĩ Hai Ngưu, trong một đêm ông Sáu Lầu trực gác tại Nhà đèn Bạc Liêu vào năm 1920, do đau khổ trong hoàn cảnh nợ duyên ngang trái, ông xúc cảm viết thành bản nhạc lòng Dạ cổ hoài lang (Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng). Sau khi bản Dạ Cổ Hoài Lang ra đời… ít lâu sau (nhờ vợ ông có thai) hai vợ chồng ông được tái hợp, để rồi sau đó hai ông bà đã có với nhau 6 người con.

Còn theo lời kể của nhà giáo Trịnh Thiên Tư với ông Chín Tâm (nguyên giảng viên Trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn), năm ông Sáu Lầu 28 tuổi, ông được lệnh mẹ phải thôi vợ vì lý do “tam niên vô tự bất thành thê”. Ông Sáu Lầu đau khổ nhưng không dám cãi lời mẹ dạy. Chiều chiều ông ôm cây đàn kìm ra sau vườn làm bạn tâm tình…

Bài này lúc đầu có 22 câu và ông đặt tên là Hoài Lang. Danh ca Bảy Kiên nhận thấy có vài câu trùng ý, đề nghị rút lại còn 20 câu. Đồng thời ông Kiên còn thêm vào hai chữ “dạ cổ”, thành ra “Dạ Cổ Hoài Lang”. Về lời ca, nhạc sĩ Sáu Lầu phóng tác theo bài thơ “Chinh phụ thán” của nhạc sư Nguyệt Chiếu – trụ trì chùa Phật Hòa Bình ở Bạc Liêu. Bài thơ mang âm hưởng tích “Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn” đời nhà Tần bên Tàu. Nhưng theo Trần Tấn Hưng (có biệt danh Năm Nhỏ) và những người đồng môn với ông Cao Văn Lầu, thì ông Lầu đã soạn được phần nhạc trước khi xa vợ. Ông Hưng kể, ông Cao Văn Lầu cùng các bạn học đồng thời đã được thầy là nhạc sư Lê Tài Khí (tức Nhạc Khị) hướng dẫn sáng tác theo một chủ đề là “Chinh phụ vọng chinh phu”, được rút ra từ bản Nam ai Tô Huệ chức cẩm hồi văn. Lúc đó có nhiều người sáng tác, riêng ông Cao Văn Lầu trong năm Đinh Tỵ (1917) đã sáng tác một bản nhạc 22 câu, nhưng gặp phải hoàn cảnh vợ chồng ly tán…Vì quá đau buồn nên ông không thể tiếp tục đặt lời ca, mãi đến năm sau vợ chồng hàn gắn lại ông mới có đủ tinh thần chỉnh lý bản nhạc. Ông đã theo lời khuyên của bạn đồng môn là Ba Chột, tác giả bản Liêu Giang, tác phẩm được sáng tác cùng thời và cùng một chủ đề vừa nêu trên, bỏ bớt 2 câu trùng lắp còn lại 20 câu và tiếp tục đặt lời ca… Và cũng theo ông Hưng, cái tên Dạ Cổ Hoài Lang là của một nhà sư đặt cho bản nhạc.

Bản nhạc và lời ca đã sáng tác xong nhưng chưa có tên. Lại vừa đến rằm Trung thu (Mậu Ngọ, 1918) ông Lầu cùng các bạn đến thăm thầy luôn tiện đem bản nhạc ra trình. Ông Lầu đã dùng chiếc đàn tranh vừa độc tấu một lần và vừa đàn vừa ca thêm một lần nữa. Lúc đó, ngoài các thầy trò còn có mặt nhà sư Nguyệt Chiếu, một người rất tinh thâm Hán học và nhạc cổ truyền, chính thầy Nhạc Khị đã nhờ nhà sư đặt tên cho bản nhạc vừa tấu và nhà sư đã đặt tên là Dạ cổ hoài lang. Vậy, bản Dạ Cổ Hoài Lang 20 câu nhịp đôi đã chính thức ra đời kể từ đêm đó…

Tác giả Trần Đức Thuận ở Bạc Liêu trong một bài viết đã kết luận là bản Dạ Cổ Hoài Lang về nguyên nhân sáng tác tuy có dính líu một phần nào với hoàn cảnh chia ly của vợ chồng Cao Văn Lầu, nhưng nguyên nhân chính vẫn là nhờ sự hướng dẫn sáng tác của thầy Nhạc Khị với một tiêu đề định sẵn…

Bàn về thời điểm Dạ Cổ Hoài Lang ra đời, ngoài những chi tiết khá khác nhau qua lời kể ở phần trên, còn có nhiều ý kiến chưa được thống nhất, tương thuận nữa, kể cả hai ông Cao Kiến Thiết và Cao Văn Bỉnh, là hai người con của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu cũng chưa xác định được thời điểm, vì có lúc hai ông nói năm 1919 là năm ra đời bản Dạ Cổ, có lúc hai ông lại nói năm 1919 là năm đổi tên Dạ Cổ thành Vọng Cổ.

Và theo các nhà biên khảo, nghiên cứu khác thì như ông Thành Châu trên báo Văn học nghệ thuật, nhà thơ kiêm soạn giả cải lương Kiên Giang đồng thuận cho rằng bài Dạ cổ hoài lang ra đời năm 1917.

Theo trang Wikipedia, nhạc sĩ Trọng Nguyễn viết trong Kỷ yếu Từ Dạ Cổ Hoài Lang (trang 40), nghệ sĩ cổ nhạc Ba Vân tức Lê Long Vân trong bài Kể chuyện cải lương (trang 67), cho là bài Dạ Cổ Hoài Lang ra đời năm 1918. Riêng về nhạc sĩ Trương Bỉnh Tòng trong Kỷ yếu Từ Dạ cổ hoài lang, và tác giả Lâm Tường Vân trong Đặc san Quí Dậu 1993, của Hội Ái Hữu Bạc Liêu vùng Nam Cali anh đi mà chợt mát, đăng ở trang 28, và tác giả Nguyễn Tư Quang viết bài trong Tạp chí Bách Khoa số 63, Sài Gòn như Hòn Ngọc Viễn Đông xưa, 1959 thì năm ra đời của bài Dạ cổ hoài lang là năm 1919.

Chưa hết đâu bà con, ông anh lớn của Trần Văn Tui, một tiến sĩ âm nhạc học tại Paris, gốc Petrus Ký, GS. Trần Quang Hải (cháu của cố nghệ sĩ Trần Văn Trạch, và cũng là cháu của Đại danh tướng Nguyễn Tri Phương (1800-1873), phục vụ trong triều đình thời nhà Nguyễn. Ông là vị võ tướng thao lược binh bị, một tham mưu trưởng chỉ huy quân đội triều đình nhà Nguyễn chống chọi lại quân thực dân bá quyền Pháp xâm lược ác ôn qua các trận thư hùng như các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873).Ông anh Paris của Ba Nhà Mùa Văn Tui kể lại là ca khúc Dạ Cổ Hoài Lang ra đời vào năm 1920 và nhà biên khảo và nghiên cứu văn học Toan Ánh đồng ý cho là tác phẩm bất hủ của ông Sáu Lầu khai sanh vào khoảng năm 1920, ông anh Paris được hai phiếu thuận nhé. 

Do vậy, chúng ta thấy gì ? Bài ca Dạ Cổ Hoài Lang có nguồn gốc về năm sanh khá bí hiểm như nụ cười lâm li kín đáo La Joconde hay như tông tích của thi nhân TTKH vẫn là sự huyền bí sẽ mãi mãi chưa được xác định rõ. Chúng ta chỉ biết nó ra đời ở cuối hay sau thế chiến thứ nhứt, maybe okay thế thôi nhé.

Trở lại bài Dạ Cổ Hoài Lang với giọng hát bi ai, bùi ngùi của nữ nghệ sĩ Ngọc Quỳnh đóng trong vai “Chinh phụ vọng chinh phu”, thui thủi chờ đợi ở khuê phòng cô đơn lạnh lẽo của nhiệt kế 50 độ Fahrenheit, xêm xêm 10 độ Celsius hay 238 độ trên nhiệt kế Kelvin, khi mà máy sưởi của khuê phòng của madame NQ chỉ độ nhiệt lượng với công suất dưới một ngựa (one horse power) hay 9000 BTU/Hr, khá khiêm nhường theo phép tính của môn Heat Transfer mà Văn Tui còn nhớ bì bõm của năm junior tại đại học của thuở học đại thôi, khuê phòng lạnh giá mà nỗi buồn chờ mong về hình ảnh của đức lang quân từ chiến trường xa xăm khi vinh quang trở về của thi ca: “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu, Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?”. Ý tưởng ít nhiều liên quan tới bản Dạ Cổ Hoài Lang mà ca sĩ Ngọc Quỳnh đã trình diễn trong ngày Gia Long hội ngộ toàn thế giới năm nào đã qua rồi.

Image 

Ca nghệ sĩ Ngọc Quỳnh

Nữ nghệ sĩ Ngọc Quỳnh là ai? 

Nàng là một giọng ca của sân trường Gia Long, gốc gia đình di cư từ đất Hà Thành vào Nam sau biến cố đất nước phân ly 1954, dù sinh trưởng và lớn lên tại Sài Gòn, nhưng giọng nói của cô vẫn đặc sệt chất Bắc. NQ có khiếu ca hát, cô xem sở thích cầm ca như thú vui nghiệp dư. Nghề kiếm cơm, dốp thơm dằn bao tử “bread and butter”, dốp chính của cô là dạy học bao năm với phấn trắng bảng đen của sân trường Huê Kỳ. Cô cho biết cô vẫn nhớ về thủ đô Sài Gòn Nhỏ, nơi mà những sinh hoạt văn hóa cội nguồn dân tộc đầy ắp, nên mỗi khi sinh hoạt cộng đồng cô phải lái xe từ Los Angeles xuống Orange County vác ngà voi. Nhờ ông xã dễ chịu, anh Vũ Văn Hòa tâm sự với bần bút, khi bà ấy công tác cộng đồng thì anh ở nhà trông nom, tếch-ke như Mr. Mom cho 3 cháu nhi đồng teenager. Anh Hòa là kỹ sư ngành thiết kế tàu bay chiến đấu cho một công ty lớn về quốc phòng, anh đùa là đi làm kiếm tí tiền còm cho bà nhà đổ xăng cho vợ đi phục vụ thiện nguyện xã hội của cộng đồng ta.

Năng khiếu của NQ chính ra về ca nhạc tiền chiến, nhạc thính phòng, nhưng cô còn hát nhạc dân ca Bắc Trung Nam, một lãnh thổ toàn vẹn đất đai, NQ hát Ả Đào, Ca Trù, Hò Huế, và cái món tôi chú trọng trong bài này là vọng cổ cải lương. Sau Đêm hát tưởng niệm về nhạc sĩ Trần Trịnh tại Emerald Bay vừa qua, NQ tâm sự là cô nghe nói giáo sư Nguyễn Thanh Liêm vốn thích nghe cổ nhạc Nam phần, mà chương trình hôm Mừng Thượng Thọ cho giáo sư Liêm tại đài TV VHN lại chật ních, con kiến bò vào không lọt thì làm sao cô dám đề nghị ca tặng cho cô thầy Liêm. Cô bèn gởi bần bút MP3 bài ca của cụ cố soạn giả Cao Văn Lầu đến Thầy Liêm vậy. Tôi bảo là đợi dịp lễ Cúng Kỳ Yên 2013 của Hội Lăng Ông Lê Văn Duyệt vậy. NQ nói hát bài Dạ Cổ Hoài Lang của cụ cố Cao Văn Lầu cần có một vị nam lưu trong vai tướng công “Nhứt tướng công thành vạn cốt khô”, vậy ai thủ vai ấy được <?>, tôi bảo cô là tôi có ông chú thích ca hát, tonton Phạm Kỳ Lân của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, gương mặt tonton hao hao như kép mùi Thanh Sang, dáng dấp cao ráo như kép đẹp Thanh Tú, hát vọng cổ khá lắm, dân Tây Ninh mà, đất Tây Ninh thì hai bộ môn hát bội hay cải lương vốn rất phổ thông. Tôi còn nhớ ngày tôi lên 6 hay 7 tuổi về thăm quê nội, người cô háo hức đưa tôi đi xem vở Phụng Nghi Đình do đoàn hát từ Sài Gòn đến, cô bảo là vở tuồng hay lắm, có danh nhân Lã Bố và Điêu Thuyền, thú thật suốt buổi hát, đứa bé 6, 7 tuổi chỉ ngủ gà ngủ gật, nếu có mơ ước phải chi khi ấy được đi xem phim hát Ấn Độ cà ri nị ở rạp Long Phụng trên đường Gia Long, tuồng ciné đen trắng, những thước phim đôi khi lắc twist nhảy giựt xốn xang đôi mắt, chắc là hàng triệu ông bà bảy chà Ấn độ cà ri xem xong rã rời hao mòn cuốn phim, rồi mang sang Việt Nam dụ khị kiếm thêm chút cháo bào ngư khi cho chúng tôi coi chứ gì nữa nhỉ <?>. Cuốn phim ngày xưa mãi mãi lâm li “Sữa rừng thay sữa mẹ”, nói về cậu bé lạc vào rừng hoang sống chung thích thú, vui vẻ với bầy dã nhân, bé Ấn Độ theo các mẹ dã nhân đu dây, tắm suối, hái nhãn lồng, hái dâu rừng, hái sim tím chiều hoang biền biệt,.., khi khát nước vạch ngực mẹ dã nhân ra bú sữa say sưa, mà đâu phải một mẹ có bình sữa quá khổ đâu, phim cho thấy 7 mẹ dã nhân lúc nào cũng tươi cười nhe răng trắng phếu như bảy Hynos, tiếng cười dòn tan thân thiện như sẵn sàng nuôi bé Ấn đầy đủ bằng sữa tươi nguyên chất bổ dưỡng của mình,.. Bỗng cô tôi đánh thức tôi dậy xem tuồng Phụng Nghi Đình, trong khi hồn đứa bé từ Sài Gòn về Tây Ninh lại bỏ quên con tim ở khu rừng Ấn quốc tại rạp Long Phụng ngày xưa.

 Image

Những Mẹ Rừng Xanh Dễ Thương Muôn Thuở

Lạ lẫm thay, tôi như cô em gái CLBTNS Ngọc Quỳnh càng về chiều càng mê món vọng cổ cải lương, dù tôi chỉ nghe hát mà thôi. Còn gái Bắc 100 phần dầu xà bông Cô Ba, em gái NQ ca vọng cổ giọng Nam air miệt lục tỉnh nhuyển nhừ…

Là một thành viên tích cực, NQ hứa tham gia cùng anh chị em Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ trong chương trình thiện nguyện, cô sẽ ca duet một liên khúc cùng nhạc sĩ Lâm Dung với hai bài tình ca “Yellow Bird” và “Jamaica Farewell” bằng song ngữ Mỹ Việt cho hôm hát tại OC do American Red Cross cùng Hồng Bàng Cultural Center tổ chức gây quỹ Sandy Relief, xoa dịu phần nào những khổ đau nạn nhân của bão Sandy. Thank you and bravo Ngọc Quỳnh !!!

Xin trân trọng giới thiệu nữ nghệ sĩ tân cổ nhạc Ngọc Quỳnh trong vở “Dạ Cổ Hoài Lang” của cụ cố soạn giả Cao Văn Lầu của đất BạcLiêu, nghe attached MP3, nơi gần cuối nước Việt, giáp ranh với Sóc Trăng và Cà Mau, cũng là quê hương của em gái Lâm Mai Thy có gốc xứ Bạc, xứ vàng.

 

Chấm hết.

VHLA

http://www.ninh-hoa.com/VietHai-DaCoHoaiLang-CaoVanLau.htm

 

On Mon, 11/19/12, ngocquynh nguyen wrote:

From: ngocquynh nguyen

Subject: Dạ Cổ Hoài Lang – Cao Văn Lầu
To: “VietHai Tran” <viethai712@yahoo.com>
Date: Monday, November 19, 2012, 8:48 PM

Anh Việt Hải ơi,

Bài Dạ Cổ Hoài Lang này của Nhạc Sĩ Cao Văn Lầu, hình như ông sáng tác bài này năm 1919,… Em trình diễn bài này vào năm 2007 ở Đại Hội Thế Giới Gia Long qua màn Từ Phu Tướng.  Em gửi anh vài tấm hình chụp của màn trình diễn này.  Hihihi…. Em đi làm đào thương cải lương có được không vậy?

Ngọc Quỳnh

 

  

 

 

Việt Hải Los Angeles