Tag Archives: vietnamese music

ĐÀI TUẤN – NGUYÊN KHOA : Trang trọng Lễ vinh danh Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh


Trang trọng Lễ vinh danh Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh
Tin đăng ngày: 1/2/2015
Tối 31/1/2015, tại Quảng trường Hồ Chí Minh (Thành phố Vinh – Nghệ An), Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh long trọng tổ chức lễ vinh danh và đón nhận Bằng của UNESCO công nhận dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Chương trình vinh danh được tổ chức tại Quảng trường Hồ Chí Minh
Chương trình vinh danh được tổ chức tại Quảng trường Hồ Chí Minh
Tham dự lễ vinh danh có các đồng chí: Nguyễn Sinh Hùng – Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; Tòng Thị Phóng – Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Xuân Phúc – Ủy viên Bộ Chính trị,  Phó Thủ tướng Chính phủ; Nguyễn Mạnh Cầm – nguyên Ủy viên Bộ chính trị, nguyên Phó thủ tướng Chính phủ; Lê Xuân Tùng – nguyên Ủy viên Bộ chính trị – nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Vũ Đức Đam-Phó Thủ tướng Chính phủ, Uông Chu Lưu – Phó chủ tịch Quốc Hội, Vương Đình Huệ -Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Phan Đình Trạc – Phó trưởng ban Nội chính Trung ương, Nguyễn Thế Trung – Phó Trưởng ban Thường trực Ban dân vận Trung ương, Hồ Mậu Ngoạt -Trợ lý Tổng Bí thư; Trần Tuấn Anh – Bộ trưởng Bộ VHTT&DL; Nguyễn Minh Quang-Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; Nguyễn Thị Kim Tiến – Bộ trưởng Bộ Y tế, Phan Xuân Dũng-Phó chủ nhiệm Ủy ban KHCNMT của Quốc hội, Thuận Hữu -Tổng biên tập Báo Nhân dân; Nguyễn Đắc Vinh-Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng-Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn;…, lãnh đạo các bộ, ngành trung ương…
Về phía Quân khu 4 có đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Sỹ Hội, Phó Tư lệnh Quân khu 4, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước-nguyên Tư lệnh QK4.
Đại biểu quốc tế có bà Katherine Muller Marin-Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, ông Park Nark Gong-tham tán văn hóa kiêm Giám đốc Trung tâm văn hóa Hàn Quốc tại Việt Nam, lãnh đạo tỉnh Xiêng Khoảng, tỉnh Khăm Muộn, tỉnh Boly Khămxay, tỉnh Hủa Phăn – nước CHDCND Lào. 
Về phía các tỉnh bạn có:  lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Bắc Giang, Bình Dương, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Thái Bình.
Về phía tỉnh Nghệ An có các đồng chí: Hồ Đức Phớc- Bí thư Tỉnh ủy, Trần Hồng Châu-Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy-Chủ tịch HĐND tỉnh, Nguyễn Xuân Đường-Phó Bí thư Tỉnh ủy-Chủ tịch UBND tỉnh, Lê Quang Huy-Phó bí thư Tỉnh ủy, các đồng chí trong Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo các ban, sở, ngành cấp tỉnh, các huyện thành thị.
Về phía tỉnh Hà Tĩnh có các đồng chí: Nguyễn Thanh Bình-Ủy viên Trung ương Đảng-Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh, Võ Kim Cự-Phó Bí thư Tỉnh ủy-Chủ tịch UBND tỉnh, Lê Thành Long- Phó bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh, các đồng chí trong Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo các ban, sở, ngành cấp tỉnh, các huyện thành thị của tỉnh Hà Tĩnh. Các CLB dân ca 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.
c
Các đại biểu quốc tế, Trung ương dự lễ vinh danh
f
Lãnh đạo 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và các bộ, ngành Trung ương dự lễ
Các đại biểu tham dự buổi lễ
Các đại biểu trung ương tham dự buổi lễ
Đồng chí Nguyễn Thiện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh điều hành buổi lễ.
Đồng chí Nguyễn Thiện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh điều hành buổi lễ
Phó thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam phát biểu tại buổi lễ
Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam phát biểu tại lễ vinh danh
Bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội phát biểu
Bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội phát biểu
Đại diện UNESCO trao bằng công nhận cho Bộ VHTT&DL
Đại diện UNESCO trao Bằng công nhận cho Bộ VHTT&DL
Lãnh đạo tỉnh Nghệ An trao bằng vinh danh của UNESCO cho các nghệ nhân - những chủ nhân nhân của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh
Lãnh đạo tỉnh Nghệ An trao bằng vinh danh của UNESCO cho các nghệ nhân – những chủ nhân nhân của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh
Đại diện UNESCO chúc mừng Bộ VHTT&DL, lãnh đạo và nhân dân 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh
Đại diện UNESCO chúc mừng Bộ VHTT&DL, lãnh đạo và nhân dân 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh
Đồng chí Võ Kim Cự, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh phát biểu
Đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh phát biểu
Ví, giặm là hai lối hát dân ca không nhạc đệm được cộng đồng người Nghệ Tĩnh sáng tạo ra từ hàng trăm năm nay. Ví, giặm được thực hành trong lao động và đời sống thường nhật như lúc ru con, khi làm ruộng, chèo thuyền, lúc quay tơ, dệt vải, khi trèo non, lội suối. Vì vậy, các điệu hát cũng được gọi tên theo các hoạt động như Ví phường vải, Ví đò đưa, Ví phường cấy, Ví trèo non, giặm ru, giặm kể, giặm vè…
Đồng chí Nguyễn Xuân Đường - Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An phát biểu
Đồng chí Nguyễn Xuân Đường – Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An phát biểu
Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được tổ chức giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại trong phiên họp ngày 27/11/2014 tại Paris, Pháp. Điều này cho thấy thế giới đánh giá cao loại hình nghệ thuật dân gian đặc biệt này, đồng thời giúp cho cộng đồng và chính quyền địa phương có trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn, truyền dạy, khuyến khích thế hệ trẻ tích cực học tập và tham gia trình diễn nhằm bảo tồn và phát huy một cách bền vững di sản văn hóa phi vật thể này.
Phát biểu tại lễ nhận bằng và vinh danh, đồng chí Nguyễn Xuân Đường, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An khẳng định, việc dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO vinh danh thực sự là niềm vinh dự, tự hào không chỉ của tỉnh Nghệ An,  Hà Tĩnh mà của cả nước. Từ đây dân ca Nghệ Tĩnh đã có trên bản đồ văn hóa thế giới, thực sự trở thành một phần của di sản văn hóa nhân loại.
Bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội khẳng định, hồ sơ đề cử di sản văn hóa phi vật thể dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đáp ứng cả 5 tiêu chí để trở thành di sản đại diện của nhân loại và được các thành viên của Ủy ban Liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể đánh giá cao. UNESCO mong muốn chính quyền và người dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh sẽ có những biện pháp để phát huy giá trị của dân ca ví, giặm xứ Nghệ, thực hiện những nội dung trong chương trình hành động quốc gia đã được xây dựng để di sản phát triển hơn nữa.
Ngày 31/1, UNESCO chính thức trao bằng công nhân Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.
Tiết mục đương đại mang âm hưởng dân ca ví, giặm xứ Nghệ
Tiết mục đương đại mang âm hưởng dân ca ví, giặm xứ Nghệ
Những tiết mục của câu lạc bộ dân ca Phường Cấy, huyện Thanh Chương.
Những tiết mục của câu lạc bộ dân ca Phường Cấy, huyện Thanh Chương.
Đông đảo người dân theo dõi chương trình.
Đông đảo người dân theo dõi chương trình.
Các tiết mục biểu diễn thể hiện cuộc sống lao động của người dân xứ Nghệ
Các tiết mục biểu diễn thể hiện cuộc sống lao động của người dân xứ Nghệ
Đông đảo người dân theo dõi chương trình.
Đông đảo người dân theo dõi chương trình.
Phát biểu tại lễ vinh danh, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam khẳng định, xứ Nghệ là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, hiếu học. Người dân lao động xứ Nghệ đã sáng tác, trao truyền nên những làn điệu dân ca ví, giặm đặc sắc, góp phần hun đúc nên cốt cách, tinh thần con người xứ Nghệ, điển hình cho con người Việt Nam.
Thay mặt Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, đồng chí Phan Thanh Bình, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh cảm ơn sự ghi nhận của bạn bè quốc tế, của các cơ quan, ban ngành trung ương. Trong thời gian tới, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh sẽ tiếp tục nỗ lực phát huy giá trị của dân ca Ví, Giặm để nâng tầm những giá trị văn hóa dân tộc, xứng đáng là di sản văn hóa phi vật thể điển hình của nhân loại.
Sau phần lễ trao Bằng công nhận, chương trình vinh danh dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh với chủ đề “Về miền ví giặm” với những tiết mục dân ca đặc sắc với sự tham gia của các ca sĩ, nghệ sĩ hàng đầu cùng các câu lạc bộ, nghệ nhân dân gian ở hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh.
Đào Tuấn – Nguyên Khoa-Baonghean.vn

HOÀI NAM : Bạn trẻ kiều bào tìm hiểu về âm nhạc dân tộc


Thứ Tư, 23/07/2014 – 01:10

Bạn trẻ kiều bào tìm hiểu về âm nhạc dân tộc

(Dân trí) – Chiều 22/7, 60 bạn trẻ là thanh thiếu niên Việt kiều sinh sống tại nhiều nước trên thế giới cùng tham gia hoạt động tìm hiểu âm nhạc dân tộc tại nhà giáo sư Trần Văn Khê (quận Bình Thạnh, TPHCM).

Không chỉ được nghe Trần Văn Khê chia sẻ về âm nhạc dân tộc như đờn ca tài tử, dân ca quan họ, nhạc đồng giao… các bạn trẻ còn được giáo sư tập hát nhiều ca khúc âm nhạc dân tộc.

Bạn trẻ kiều bào tìm hiểu về âm nhạc dân tộc
Giáo sư Trần Văn Khê chia sẻ với thanh thiếu niên Kiều bào về những giá trị của âm nhạc dân tộc Việt.

Ngoài ra, các bạn được tham quan, khám phá phòng dụng cụ âm nhạc dân tộc tại nhà giáo sư với nhiều dụng cụ quý như đàn đá, đàn tỳ bà, đàn nguyệt…

Trong buổi gặp mặt này, khi giáo sư Trần Văn Khê hỏi, các bạn muốn thầy nói tiếng Pháp, Anh hay tiếng Việt, các bạn trẻ kiều bào cùng đồng thanh: “Nói tiếng Việt đi thầy ơi”. Cho dù không ít bạn nghe nói tiếng Việt chưa thật tốt.

Hoạt động này nằm trong khuôn khổ Trại hè Thanh thiếu niên kiều bào và tuổi trẻ thành phố năm 2014 với chủ đề “Biển xanh quê em”. Trong lễ khai mạc sáng nay 22/7, thanh thiếu niên Kiều bào đã tham dự lễ dâng hoa tại Tượng đài Bác Hồ, đi thăm và tặng quà cho các bạn học sinh khiếm thị tại Trường Phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu.

Bạn trẻ kiều bào tìm hiểu về âm nhạc dân tộc
Tham dự trại hè ở Việt Nam, các bạn Kiều bào có nhiều cơ hội để tìm hiểu về cuộc sống, truyền thống lịch sử Việt Nam.

Trại hè do Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài phối hợp với Thành Đoàn TPHCM tổ chức hàng năm nhằm tạo điều kiện cho thế hệ trẻ kiều bào ở khắp nơi trên thế giới có dịp về nước tìm hiểu về truyền thống lịch sử, nét đẹp văn hóa dân tộc và giao lưu với thế hệ trẻ trong nước. qua đó nâng cao lòng tự hào, gắn bó với quê hương, đất nước.

Trại hè năm nay diễn ra từ ngày 22 đến 25/7 tại TPHCM và Khu du lịch Hồ Mây (TP Vũng Tàu). Bệnh cạnh các bạn trẻ Việt Nam, trại hè thu 60 trại sinh là thanh thiếu niên Việt kiều đang sinh sống ở 10 quốc gia ở khắp thế giới như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nga, Bỉ, Ukraine, Thái Lan…

Hoài Nam

http://dantri.com.vn/nhip-song-tre/ban-tre-kieu-bao-tim-hieu-ve-am-nhac-dan-toc-904613.htm

TRAN QUANG HAI on ITUNES


Tran Quang Hai

Afficher sur iTunes

Pour écouter un extrait d’un morceau, survolez son titre avec la souris et cliquez sur Lecture. Ouvrir iTunes pour acheter et télécharger de la musique.

Biographies

The collected musical activities of this great Vietnamese artist would have kept busy all five generations of musicians preceding him in his family. The husband of popular folksinger Bach Yen, Hai is a composer of pop songs, a virtuoso performer on more than a dozen traditional Vietnamese instruments, a collaborator in edgy electro-acoustic avant-garde projects, an educator who has taught and lectured throughout the world, and the author of dozens of published articles. Did we mention that he’s a movie star? Well, not exactly, but he was the main actor in The Song of Harmonics, a film Hai co-produced with Hugo Zemp in 1990, focusing on the art of overtone singing, just one of Hai’s many outlets for making music. He began his musical education at the National Conservatory of Music in Saigon.

The early ’60s were a good time to get out of Dodge if you were Vietnamese, and Hai was fortunately able to continue his studies in Paris beginning in 1961. In one way, it wasn’t like leaving home at all because he was able to study oriental music with his father Tran Van Khe in the French metropolis. He began building up an arsenal of instruments which has grown to some 15 different music-making devices from Vietnam, China, India, Iran, Indonesia, and Europe. Listeners who are fond of the teeth-shattering sounds of the Jew’s harp may have encountered Hai playing the Vietnamese bamboo variation on compilations produced in the Netherlands by Phons Bakx. The Vietnamese Jew’s harp, or “trump”, has also spent time onstage with the Irish variety in the hands of John Wright, all in creation of a kind of international mouth music. Hai is also an innovator on the spoons, a percussion utensil that is also common in Appalachia. In the ’90s, he began a new series of compositions for the dan tranh, a Vietnamese 16-string zither. Hai doesn’t need an instrument case of any kind for one of his main specialties, the art of overtone, or throat singing. This approach to vocalizing is another style that crops up in various cultures around the world, such as the Inuit and Siberian people. The documentary film about Hai’s mastery of this art won awards in several international film festivals and helped establish the Vietnamese multi-instrumentalist as a master of this difficult vocal art.

Hai has released recordings under his own name and in collaboration with his wife. Their first recordings were released in the late ’70s on labels such as Playasound, and Hai also recorded on several of his instruments for the Lyrichord label. He has also recorded with Philip Peris, a didjeridu player. He has also written hundreds of pop songs in French, English, and his native tongue. Hai is an extremely active performer, claiming nearly 3,000 stage appearances since the late ’70s. He has probably performed at more international events than any other Vietnamese musician and seems to be the man to call for historical anniversary celebrations. Hai was called on, for example, to entertain at the Australian bicentennial in 1988, and a similar commemoration of the French Revolution a year later. In 1992, there was the 350th anniversary of the founding of Montreal, the 500th anniversary of the discovery of America in 1992, a 600th anniversary celebration of Korea, and topping it all off, the 1,000 Years of Trondheim in Norway. He has participated in radio and television broadcasts all over the globe.

No discussion of Hai is complete without mention of his massive academic credentials. He has lectured throughout the United States and Europe and in Canada, South Africa, Australia, the Phillipines, Southeast Asia, and Russia. From 1995, he was employed by the Department of Ethnomusicology at the Musee de l’Homme in Paris, following appointments at the National Center for Scientific Research. He has written hundreds of articles for Vietnamese publications and is consulted as an expert in oriental music for English reference books such as the New Grove Dictionary of Music and Musicians. He wrote the book Musics of the World in the early ’90s, and it has been published in five languages.

…suite

Classement morceaux

Nom Album Durée Prix
1

Cliquettes à Sapèques Hai Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 1:24 0,99 € Afficher sur iTunes
2

Cuillères Taps Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 1:34 0,99 € Afficher sur iTunes
3

Guimbarde En Métal Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 2:28 0,99 € Afficher sur iTunes
4

Guimbarde En Bambou Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 1:55 0,99 € Afficher sur iTunes
5

Chant Diphonique Hai Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 1:00 0,99 € Afficher sur iTunes
6

Pièces De Vièle Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 2:36 0,99 € Afficher sur iTunes
7

Monocorde Doux Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 2:05 0,99 € Afficher sur iTunes
8

Les Cinq Veillées Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 2:49 0,99 € Afficher sur iTunes
9

Chant D’amour Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 3:09 0,99 € Afficher sur iTunes
10

Lamentations Méridionales Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 4:46 0,99 € Afficher sur iTunes
11

Le Chant Du Cheval Noir Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 3:05 0,99 € Afficher sur iTunes
12

Voyage Sur Terre Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 4:05 0,99 € Afficher sur iTunes
13

Les Pièces D’or Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 1:07 0,99 € Afficher sur iTunes
14

Mesures égales Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 1:19 0,99 € Afficher sur iTunes
15

L’eau Du Torrent Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 1:03 0,99 € Afficher sur iTunes
16

Prélude Introductif Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 1:00 0,99 € Afficher sur iTunes
17

Quand On S’aime Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 1:35 0,99 € Afficher sur iTunes
18

Déclamation Poétique Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 2:01 0,99 € Afficher sur iTunes
19

Sommeil De L’enfant Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 2:10 0,99 € Afficher sur iTunes
20

Madame Berceuse Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 1:49 0,99 € Afficher sur iTunes
21

En Grimpant La Pente Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 1:43 0,99 € Afficher sur iTunes
22

Traversée De La Rivière Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 3:25 0,99 € Afficher sur iTunes
23

Bien Cueillir Les Fleurs Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 1:48 0,99 € Afficher sur iTunes
24

Chant Dialogué Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 3:22 0,99 € Afficher sur iTunes
25

Le Chant De La Cigogne Les Maîtres De La Musique Vietnammienne 3:28 0,99 € Afficher sur iTunes

https://itunes.apple.com/fr/artist/tran-quang-hai/id4422251

HUY PHƯƠNG : Gặp gỡ nhạc sĩ Văn Giảng ở Úc Châu / LÊ DINH : TIỂU SỬ NHẠC SĨ VĂN GIẢNG


Image
Nhạc sĩ LÊ VĂN KHOA cùng ông bà nhạc sĩ VĂN GIẢNG
Chúng tôi vô cùng thương tiếc loan tin:
Ông NGÔ VĂN GIẢNG ( nhạc sĩ THÔNG ĐẠT)
Pháp danh NGUYỄN THÔNG

 
            Tu tran vao 8:40 PM ngay 09/05/2013, huong duong 89 tuoi
                                         
            Tang Le tai Chua Quang Minh
            18 Burke St – Braybrook Vic 3019 – Melbourne, Australia.

Tang le se cu hanh vao Chu Nhat va Thu Hai: 12 & 13/05/2013. Gio tham vieng tu 6 pm den 9 pm, hoa tang vao 8:00 am Thu Ba 14/05/2013

Cầu chúc vong linh anh Văn Giảng được thanh thản nơi chốn vĩnh hằng

Trần Quang Hải & Bạch Yến

Gặp gỡ nhạc sĩ Văn Giảng ở Úc Châu
Monday, April 25, 2011 6:10:33 PM
Huy Phương/Người Việt

 
“Ðường trường xa, muôn vó câu bay dập dồn…”
Anh em cựu quân nhân VNCH, nhất là những sĩ quan xuất thân từ trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức không thể nào không biết đến bài hát Lục Quân Việt Nam mà mỗi buổi sáng, buổi chiều vẫn thường cất tiếng hát khi đi trong hàng quân: “Ðường trường xa, muôn vó câu bay dập dồn…”, hay bài “Thúc Quân”, nhưng ít ai biết hay còn nhớ tên của người nhạc sĩ: Nhạc sĩ Văn Giảng, cũng là Thông Ðạt, tác giả bài tình ca nổi tiếng một thời: “Ai về Sông Tương”.

Tấm hình vợ chồng nhạc sĩ Văn Giảng chụp năm 1949, tới nay ông còn giữ.

Văn Giảng tên thật là Ngô Văn Giảng, sinh năm 1924 quán làng Bác Vọng Ðông, Thừa Thiên. Ông sinh ra trong một gia đình Phật Giáo thuần thành, song thân làm nghề thương mãi, và ông thú nhận học lực của ông không qua hết bậc trung học. Sau khi học ở trường tiểu học Paul Bert, rồi Phú Xuân, ông phải nghỉ học sớm để ở nhà giúp cha mẹ. Trong suốt thời ấu thơ, Ngô Văn Giảng chịu ảnh hưởng của nhạc cổ điển qua những ban nhạc tài tử dân giả của đất Thần Kinh. Không qua một trường lớp âm nhạc nào, nhưng ông đã trở thành một người chơi đàn hạ uy cầm, tây ban cầm và đại hồ cầm nổi tiếng ở Huế, là trưởng ban nhạc của đài Phát Thanh Huế, từ lúc đài này mới thành lập (1949), và sau đó là giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế (1963).
Ðài phát thanh Huế, dưới thời của Giám Ðốc Ngô Ganh, ban nhạc của Văn Giảng tuy là một ban nhạc nhỏ, nhưng quy tụ nhiều ca, nhạc sĩ nổi tiếng sau này như Lê Quang Nhạc, Trần Văn Tín (về sau là đại tá ngành quân nhạc), ca sĩ Minh Trang, Tôn Thất Niệm (nay là bác sĩ tại Nam California)… Năm 1963, Văn Giảng được bổ nhiệm làm giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế và sau đó hai năm, ông được cấp học bổng du học Hoa Kỳ, theo học âm nhạc tại đại học ở Honolulu. Sau biến cố Mậu Thân, theo ý nguyện muốn được rời Huế, Văn Giảng được Bộ Văn Hóa mời vào giảng dạy tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon, trong thời gian này, gặp nhạc sĩ Châu Kỳ, người bạn đã chỉ dẫn ông đi vào con đường làm giàu nhờ viết nhạc, ông bắt đầu sáng tác những tình khúc “hái ra tiền”. Ký bản quyền cho hãng dĩa xuất bản Asia, Sóng Nhạc, Văn Giảng đủ tiền mua một căn nhà khang trang mặt tiền trên đường Thoại Ngọc Hầu. Thị hiếu của quần chúng bình dân cả nước lúc bấy giờ là mua những bản nhạc “bolero” thịnh hành của các nhạc sĩ. Những bản nhạc của Văn Giảng như “Hoa Cài Mái Tóc”, “Tình Em Biển Rộng Sông Dài”, “Ðôi Mắt Huyền” đã được ấn hành hàng chục nghìn bản, phổ biến rộng rãi trên thị trường, điều mà trước đây, khi còn là một “nhạc sĩ công chức” ở Huế, Văn Giảng không hề nghĩ đến.
Nhưng nói đến nhạc tình của Văn Giảng chúng ta không thể quên “Ai Về Sông Tương” được viết năm 1949, đã dẫn đầu như một bản nhạc “top”, bản nhạc được thính giả yêu cầu nhiều nhất của đài phát thanh Pháp Á trong hai năm 49-50 dưới một cái tên “lạ hoắc” là Thông Ðạt, mới nghe lần đầu trong giới nhạc sĩ. Bản nhạc đó đã được phổ biến trong vòng 25 năm dài tại miền Nam và ra đến hải ngoại sau biến cố tháng 4-1975. Hỏi vì sao nhạc sĩ không dùng tên Văn Giảng để ký dưới ca khúc này, ông cho biết, là một thanh niên lớn lên trong thời loạn, ông muốn dùng âm nhạc để kích động lòng yêu nước của thanh niên, mặc dù ông chỉ phục vụ trong Ban 5 (tâm lý chiến) một thời gian rất ngắn tại Quân Khu I. “Ai Về Sông Tương” là một bản nhạc thử nghiệm của ông trong loại nhạc tình viết theo sự thách đố của bạn bè đã trở thành một bản nhạc nổi tiếng. Lúc bấy giờ, thính giả của đài phát thanh chỉ biết Văn Giảng qua các bản hùng ca reo vui, phấn khởi mà không hề biết ông cũng là Thông Ðạt khi bản nhạc này được ra đời, do nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành và được phổ biến trên đài Pháp Á lần đầu tiên qua giọng hát của Mạnh Phát và Minh Diệu.
 
“Từ Ðàm Quê Hương Tôi”
Tên Thông Ðạt cũng là sự kết hợp của hai pháp danh Nguyên Thông của Văn Giảng và Tâm Ðạt của người vợ ông. Cuộc hôn nhân này đã kéo dài 62 năm trong hạnh phúc từ trong nước ra đến hải ngoại của một người nhạc sĩ đa tài, mà tiếng đàn hạ uy di trên đài phát thanh Huế trong thập niên 50 đã làm thổn thức bao nhiêu con tim của những cô gái Huế. Các cô gái khuê các xứ Huế đã có một phong trào đi học đàn hạ uy cầm và lớp nhạc Văn Giảng luôn luôn đông học viên, cũng có nhiều cô đem lòng yêu thầy, nhưng cuối cùng, họ không hề đi ra ngoài vòng lễ giáo.
Và giới Phật tử cũng ít ai biết Văn Giảng là tác giả bản nhạc “Từ Ðàm Quê Hương Tôi” viết sau mùa Pháp nạn ở Huế năm 1966, được ký bằng pháp danh Nguyên Thông.

Nhạc sĩ Văn Giảng tại nhà riêng ở Footscray, Melbourne. (Hình: Huy Phương/Người Việt)

Năm 1981, Văn Giảng từ Cần Thơ vượt biển với người con trai đầu lòng đến Nam Dương. Ðã từng du học tại Hawaii, ông đủ điều kiện định cư tại Mỹ, nhưng vì muốn sớm bảo lãnh cho vợ và 6 đứa con còn lại, ông bằng lòng chọn Úc làm quê hương thứ hai.
Ðến Melbourne, Văn Giảng sinh sống bằng nghề dạy nhạc tại tư gia về các môn sáng tác hòa âm cũng như sử dụng các nhạc khí như tây ban cầm, hạ uy cầm và đại hồ cầm cho người Việt mới đến định cư cũng như cho các sinh viên Úc. Gần 30 năm nay, Văn Giảng đã soạn nhiều sách dạy nhạc, sử dụng nhạc cụ bằng cả hai thứ tiếng Việt, Anh, nhưng chưa được xuất bản. Ông hy vọng có một nhà xuất bản tiếng Việt ở Mỹ nào đó có thể giúp ông ấn hành các tác phẩm này trước khi ông qua đời, cũng như số tiền từ tác quyền từ những trung tâm băng nhạc trả cho ông, ông dành hết để làm việc thiện.
Năm nay đã 87 tuổi, nhạc sĩ Văn Giảng hiện đang sống với gia đình trong một căn nhà nhỏ, xinh xắn tại thành phố Footscray, tiểu bang Victoria. Ông còn minh mẫn, nghe rõ và còn thích đọc sách. Ở Úc bạn bè ông không nhiều, nhạc sĩ Văn Giảng muốn chúng tôi ghi số điện thoại của ông ở đây, mong có thể tìm lại bạn bè ngày xưa để hàn huyên tâm sự trong “tuổi già đất khách”. Cố tri, người yêu nhạc Văn Giảng-Thông Ðạt có thể liên lạc với ông qua số điện thoại 613- 9689 9623.
(Melbourne, 4/16)

LINK:http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=130128&zoneid=3#.UY3LakpfEhg

BAI CUA NHAC SI LE DINH:

Tiểu Sử Nhạc Sĩ Văn Giảng

Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn
Đoàn hùng binh trong sương lướt gió reo vang
Đi đi đi, lời thề nguyền, tung gươm thiêng, thi gan trai
Đời hùng cường quyết chiến đấu đoàn quân ra đi…


Trên đây là lời ca 8 trường canh đầu của bài hành khúc “Lục Quân Việt Nam” của Văn Giảng mà mọi người Việt Nam, từ cậu học sinh đến anh tân binh ở quân trường cũng như tất cả quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đều biết. Bài hát được tác giả viết vào năm 1950 với cung Ré trưởng, khi được đồng ca bởi một số đông người, đem lại cho người nghe một cảm giác như hăng say cương quyết, như nung chí anh hùng:

… Phá tan tành ầm ầm đoàn quân xông pha
Thét oai linh tung gươm giết tan quân thù
Đoàn hùng binh say sưa nhìn trong trời sương
Ta anh hùng đời đời lục quân Việt Nam…


Nhạc sĩ Văn Giảng sinh ngày 12 tháng 5 năm 1924 tại Huế trong một gia đình trung lưu. Thừa hưởng năng khiếu thiên phú gia tộc về âm nhạc vì ông nội của Văn Giảng cũng là một nhạc sĩ cổ nhạc rất giỏi cho nên Văn Giảng cũng có khiếu về âm nhạc từ lúc nhỏ và ngày còn bé, nghe người ta chơi một loại nhạc khí nào là ông có thể về mò mẫm tự học lấy và thành công trong việc xử dụng loại nhạc khí đó. Cũng như mọi người thích âm nhạc và quyết tâm chơi nhạc, loại đàn dễ học nhất cho mọi người là đàn mandoline, nhạc sĩ Văn Giảng cũng vậy, khi bắt đầu ông học đàn măng cầm và sau đó lần đến lãnh vực tây ban cầm.

Có một người bạn lớn tuổi hơn ông biết đàn tây ban cầm, Văn Giảng muốn tầm sư học đạo, đến nhà ông này để nhờ chỉ dạy nhưng người này bắt ông phải trả công bằng một cây đàn guitare. Làm gì có tiền ở lứa tuổi còn nhỏ ? Văn Giảng về nhà tìm tòi tự học lấy và chỉ một thời gian sau, ông vượt qua tài nghệ của ông “thầy hụt” kia và ông này phải nhờ Văn Giảng chỉ lại cho. Nhờ có biệt tài như vậy mà nhạc sĩ Văn Giảng có thể xử dụng rành rẽ nhiều nhạc khí cổ kim, trở thành một nhạc sĩ tài giỏi và đào tạo rất nhiều môn sinh có trình độ sau này.

Không những chỉ trong lãnh vực âm nhạc mà thôi, nhạc sĩ Văn Giảng còn nổi bật trong lãnh vực văn hóa, mọi thứ, mọi việc ông đều tự học như vừa làm giáo sư âm nhạc ở Huế, ông vừa tự học để rồi sau đó lặn lội vào Saigon thi lấy bằng tú tài và bằng cử nhân.

Ông tốt nghiệp Anh văn ở Hội Việt Mỹ và trúng tuyển cuộc thi tuyển sinh viên nghiên cứu về âm nhạc ở ngoại quốc, được xuất dương du học tại trường Âm nhạc lớn của Hoa Kỳ ở Hawaii và Bloomington. Ở Hoa Kỳ, Văn Giảng đã tốt nghiệp với lời khen của Ban Giám khảo và được cấp thêm học bổng để nghiên cứu bậc cao học âm nhạc. Sau đó ông trở về nước và được đề cử làm Giám đốc trường Quốc gia Âm nhạc Huế.

Phần đông những sáng tác của nhạc sĩ Văn Giảng thuộc loại hùng ca như “Thúc Quân” (1949), “Lục Quân Việt Nam” (1950), “Đêm Mê Linh” (1951), “Quân Hành Ca” (1951), “Qua Đèo” (1952), “Nhảy Lửa” (1953) v.v… nhưng ít người được biết nhạc sĩ Văn Giảng còn có một biệt hiệu khác là “Thông Đạt” với ca khúc bất hủ “Ai Về Sông Tương” mà mọi người trong giới học sinh, sinh viên và ở lứa tuổi 40 trở lên đều biết:


Ai có về bên bến sông Tương
Nhắn người duyên dáng tôi thương
Bao ngày ôm mối tơ vương
Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương
Tâm hồn mơ bóng em luôn
Mong vài lời em ngập hương…


Bài ca này được tác giả viết vào năm 1949 với cung La trưởng, uyển chuyển tha thướt trong phần lời lãng mạn, trữ tình, là một bản nhạc gối đầu giường, nằm lòng của thanh thiếu niên nam nữ trong những thập niên 50 – 60.

Về ca khúc này, có một câu chuyện khá thú vị như sau: Trong những thập niên 1940, 1950, ở Huế ai ai cũng biết ông Tăng Duyệt, giám đốc nhà Xuất bản Tinh Hoa Huế (xin đừng lẫn lộn với nhà xuất bản Tinh Hoa miền Nam ở Saigon do nhạc sĩ Lê Mộng Bảo làm giám đốc) in ấn và phát hành một số nhạc phẩm ít oi của thời đó.

Là nhạc sĩ, đương nhiên Văn Giảng chơi thân với ông Tăng Duyệt vì một số hành khúc của ông đều do nhà xuất bản Tinh Hoa Huế của ông Tăng Duyệt ấn hành. Một hôm trong lúc vui miệng, ông Tăng Duyệt có ngụ ý bảo rằng nhạc sĩ Văn Giảng chỉ viết được những bài hùng ca thôi còn về những bài tình ca không phải sở trường của Văn Giảng.

Nghe vậy hay vậy, không cần phải trả lời. Nhạc sĩ Văn Giảng về nhà, âm thầm lấy giấy bút viết bài “Ai Về Sông Tương”, không ghi tên tác giả là Văn Giảng như mọi khi mà đề tên tác giả là Thông Đạt, một bút hiệu mới toanh trong làng tân nhạc Việt Nam thời đó. Bản “Ai Về Sông Tương” được tác giả Thông Đạt gửi đến các đài phát thanh ở Hà Nội, Huế và Saigon và cả nước đều nghe “Ai Về Sông Tương” của Thông Đạt trong thời gian sau đó:


… Thu nay về vương áng thê lương
Vắng người duyên dáng tôi thương
Mối tình tôi vẫn cô đơn
Xa muôn trùng lưu luyến nhớ em
Mơ hoài hình bóng không quên
Hương tình mộng say dịu êm…


Sau nhiều lần được nghe bài “Ai Về Sông Tương” quá hay trên làn sóng điện, qua các đài phát thanh, ông Tăng Duyệt gặp Văn Giảng và hỏi ở trong giới nhạc, Văn Giảng có biết Thông Đạt, tác giả bài “Ai Về Sông Tương” là ai không để ông thương lượng mua bản quyền xuất bản nhạc phẩm này nhưng Văn Giảng tảng lờ như không biết Thông Đạt là ai!

Rồi một hôm có hai người bạn trẻ của Văn Giảng là nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng, tác giả bài “Mùa Thi” (Thi ơi là thi, sinh mi làm chi, “bay” nghẹn ngào, “bám”, ồn áo, buồn vui vì mi) và nhà văn Lữ Hồ tình cờ đến nhà Văn Giảng chơi và thấy bản thảo bài “Ai Về Sông Tương” với tuồng chữ và lối chép nhạc của nhạc sĩ Văn Giảng trong xấp nhạc trên bàn viết nên nói cho ông Tăng Duyệt biết. Ông này mới lái xe ngay tới nhà Văn Giảng và vài ngày sau đó, giới ngưỡng mộ tân nhạc mới có một ca khúc với thể điệu “Blues” tha thướt trong tay để mà ngân nga cho đỡ thương đỡ nhớ những khi trái tim rung động vì một bóng hình nào đó.


Nhạc phẩm “Ai Về Sông Tương” đã chiếm kỷ lục tái bản thời đó với 6 lần in thêm trong tháng đầu tiên và được thính giả Đài Phát thanh Pháp Á chọn là bài nhạc hay nhất trong năm 1949. Qua bút hiệu Thông Đạt, chúng ta còn được thưởng thức những sáng tác sau đây: “Đôi Mắt Huyền”, “Hoa Cài Mái Tóc”, “Tình Em Biển Rộng Sông Dài”, “Xin Đừng Chờ Em Nữa” v.v…

Ngoài hai bút hiệu trên, Văn Giảng – Thông Đạt còn một bút hiệu thứ ba để sáng tác những bài Phật giáo. Đó là bút hiệu Nguyên Thông được dùng để ghi trên những nhạc phẩm như “Từ Đàm Quê Hương Tôi”, “Mừng Đản Sanh”, “Ca Tỳ La Vệ”, “Vô Thường”, “Hoa Cài Áo Lam” v.v…

Trong thời gian làm nhạc trưởng Đài Phát thanh Huế và giáo sư âm nhạc tại các trường Trung học Hàm Nghi, Quốc Học và trường Sư phạm đào tạo giáo viên Tiểu học, nhạc sĩ Văn Giảng có sáng tác và ấn hành một tập nhạc dành cho thiếu nhi mang tên :”Hát Mà Học” gồm có 10 ca khúc: Đến Trường, Chơi Ná, Chê Trò Xấu Nết, Mèo Chuột, Tham Mồi, Gương Sáng Lê Lai, Quang Trung Hùng Ca, Trăng Trung Thu, Chúc Xuân và Tạm Biệt.

Cũng trong lãnh vực âm nhạc, nhờ xuất thân từ một gia đình có truyền thống âm nhạc, Văn Giảng thích tìm tòi và nghiên cứu nhạc cổ truyền Việt Nam. Năm 1956, ông đã tìm ra phương pháp ký âm cho nhạc sĩ cổ truyền có thể nhìn bài bản mà trình tấu chung với nhạc sĩ tân nhạc và từ đó, ông thành lập ban cổ kim hòa điệu “Việt Thanh”, một ban nhạc đầu tiên trong nước dưới hình thức tân cổ hòa điệu với những nhạc khí tranh, tỳ, nhị huyền, nhị hồ, đàn nguyệt… hoà tấu chung với dương cầm, tây ban cầm, đại hồ cầm…

Trong phạm vi này, ông đã hoàn thành tác phẩm độc đáo “Ai Đưa Con Sáo Sang Sông”, một bản đại hòa tấu, thời lượng 60 phút, trình diễn bởi các nhạc sĩ cổ truyền. Ông cũng đã soạn nhiều sách giáo khoa về âm nhạc, hoàn thành quyển “Kỹ Thuật Hoà Âm” dày 350 trang được dùng làm tài liệu dạy âm nhạc ở các trường.

Sau Tết Mậu Thân 1968, cảm thấy sinh sống ở Huế bất an – ông Tăng Duyệt, bạn thân của ông, đã chết trong biến cố này – nhạc sĩ Văn Giảng vào Saigon lập nghiệp từ năm 1969 và ông nhanh chóng hòa hợp với nhịp sống âm nhạc của thủ đô, soạn hòa âm cho hãng đĩa Asia – Sóng Nhạc, dạy nhạc tại trường Quốc gia Âm nhạc Saigon, tham gia sinh hoạt ca nhạc ở đài phát thanh, đài truyền hình.

Cũng trong thời gian này, một số nhạc phẩm tình cảm với bút hiệu Thông Đạt của ông được thành hình và tung ra thị trường. Đồng thời, Văn Giảng được Bộ Văn Hóa Giáo Dục đề cử làm Trưởng Phòng Học Vụ Nha Mỹ Thuật, đảm trách học vấn của các trường Âm nhạc Saigon, Huế và các trường Cao đẳng Mỹ thuật.

Năm 1970, ông được huy chương vàng giải Văn học Nghệ thuật của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (âm nhạc loại A) với sáng tác phẩm “Ngũ Tấu Khúc” (Quintet for Flute and Strings). Cùng năm này, ông được chỉ định làm Giám đốc Nghệ thuật điều hành Đoàn Văn nghệ Việt Nam gồm 100 nghệ sĩ tân cổ nhạc và vũ, ban vũ do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách, ban vũ cổ truyền đại nội Huế do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba điều khiển, để tham dự Hội chợ Quốc tế Expo 70 tại Osaka (Nhật Bản).

Sau 1975, nhạc sĩ Văn Giảng kẹt lại Việt Nam cho đến năm 1981 mới vượt biên đến đảo Natuna (Nam Dương) và sau đó được chuyển đến đảo Pulau Galang. Ở đây, trong 6 tháng, Văn Giảng sáng tác được một số bài nói lên thân phận lạc loài của người dân mất nước mà bài đầu tiên là “Natuna người tình đầu” cùng một số 70 ca khúc khác.

Ngày 20/5/1982, Văn Giảng định cư tại Úc, ở đây, ông tiếp tục con đường âm nhạc, soạn và xuất bản nhiều sách nhạc lý như cách dùng hợp âm, tự học tây ban cầm, hòa âm, sáng tác, học hát, học đàn v.v…

Ở đây, ông cũng đã sáng tác thêm nhiều tình khúc như: 12 tình khúc (Tập I), 12 Tình Khúc (Tập II) v.v… Những ai thiết tha với tân nhạc, muốn đi sâu, tìm hiểu hơn về sáng tác và hòa âm hoặc muốn trau dồi việc xử dụng các nhạc khí kim cổ, thiết nghĩ không gì bằng tìm các sách giáo khoa của nhạc sĩ Văn Giảng để đi đến nơi đến chốn. Văn Giảng hiện cư ngụ ở thành phố Footscray, bang Victoria (Úc Châu), điện thoại: (03) 9689-9623.
Ngoài một gia sản âm nhạc đồ sộ, từ những hành khúc hùng dũng đến những cung bậc uyển chuyển lả lướt của những bài tình ca qua những điệu nhạc vui tươi yêu đời dành cho thiếu nhi và những ca khúc uy nghiêm về Phật giáo, nhạc sĩ Văn Giảng còn đóng góp trong việc phổ biến âm nhạc Việt Nam ở hải ngoại với một số lượng đáng kể về sách dạy nhạc viết bằng Việt ngữ và Anh ngữ, chẳng những dành cho thế hệ trẻ Việt Nam ở hải ngoại mà cho cả người ngoại quốc muốn học hỏi và tìm hiểu về nền âm nhạc Việt Nam.

Một con người giản dị, khiêm nhường, không thích phô trương với một gia tài âm nhạc to lớn như thế của mình ẩn náu nơi một góc trời Đông sau ngày mất nước quả thật là một người đáng kính nể, đáng tôn thượng trong làng âm nhạc Việt Nam.

Lê Dinh

 

Đề xuất Ý chí kỷ lục: NSƯT Kim Sinh – Tiếng đàn và ánh sáng cuộc đời


Đề xuất Ý chí kỷ lục: NSƯT Kim Sinh – Tiếng đàn và ánh sáng cuộc đời
Số phận lấy đi của nghệ sỹ Cải lương Kim Sinh đôi mắt nhưng bù lại cho ông một tài năng thiên bẩm để rồi đã có biết bao thế hệ say mê tiếng đàn ấy.
Nghệ sĩ Kim Sinh luôn sống với những tiếng đàn.

Tiếng đàn đã cùng ông chia sẻ mọi nỗi đắng cay, hạnh phúc của cuộc sống, để rồi bây giờ, ông lại mang những ngón nghề của mình truyền cho lớp trẻ với hy vọng, văn hóa dân tộc không bị phôi pha.

Tài năng thiên bẩm

Khác với những gì tôi tưởng tượng trước khi đến thăm ông, căn phòng nhỏ bộn bề đồ đạc, ngổn ngang những cây đàn treo trên vách, đặt dưới sàn. Như hiểu được tâm trạng của khách, ông khẽ khàng: “Nhà nước cấp cho tôi một căn hộ nhưng nhà đông con, các em đã lớn nên bán đi chia cho mỗi đứa một ít”.

Là nghệ sỹ nhạc dân tộc nổi tiếng, có công khẳng định chỗ đứng của âm nhạc dân tộc với bạn bè quốc tế, ông đã kể cho chúng tôi nghe về những thành công trong sự nghiệp của mình. Năm 1992, NSƯT Kim Sinh được Công ty King Record của Nhật Bản thực hiện một CD mang tên “The art of Kim Sinh” (Nghệ thuật Kim Sinh). Sau khi ông được mời dự Festival Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan, năm 1995, hãng Fuji đến Việt Nam để thực hiện cuốn băng ghi hình về tiếng đàn dân tộc của ông. Năm 1996, ông lại được mời sang Nhật với tấm băng rôn “Kim Sinh – tiếng hát linh hồn Việt Nam” và năm sau, Hãng truyền hình Lilly Acoustic đã đón ông sang Hoa Kỳ ghi đĩa CD “The artistry of Kim Sinh” (Tài năng Kim Sinh). Cách đây chưa lâu, lại có một hãng nước ngoài đến Việt Nam với mong muốn đươc hợp tác với ông, khẳng định một tài năng thiên bẩm, khẳng định nét tinh hoa không những của riêng đàn gảy, của nghệ thuật Cải lương mà còn của cả văn hóa dân tộc Việt Nam.

Thành công là vậy nhưng Kim Sinh có một cuộc đời đầy bất hạnh và sóng gió. Mới 3 tháng tuổi, cậu con trai của cô hàng xén và thầy ký bị mù sau một trận đau mắt. Thầy ký muốn đem cho đứa bé đi, nhưng mẹ cậu không đành lòng; thầy bỏ đi, hai mẹ con bơ vơ phải đem nhau về nương nhờ ông ngoại ở cạnh chùa Vân Hồ. Không ai có thể ngờ, đứa trẻ tật nguyền ấy lại được trời bù đắp cho năng khiếu nghệ thuật tuyệt vời!. Tuổi thơ của Kim Sinh chìm trong bóng tối, nhưng ánh sáng cuộc đời lại được cậu thắp lên bởi lòng đam mê nghệ thuật. Những bài kèn lính Tây tập hằng ngày ngoài bãi cạnh nhà ông ngoại hay tiếng hát, tiếng trống chèo của những người phu xe tay trong các căn nhà tuềnh toàng hằng đêm đã gieo vào lòng cậu bé mà những âm thanh nghệ thuật đầu đời.

Cây đàn đầu tiên trong cuộc đời là cây đàn tự tạo từ hộp xi đánh giày, ấy thế mà cậu như bị thôi miên, hút hồn mỗi khi cầm cây đàn để gửi vào đó những cung bậc thanh, trầm bao buồn, vui của số phận.

Tài năng thiên bẩm của cậu bé mù càng có cơ hội phát triển hơn khi gia đình chuyển đến sống ở xóm Đình Phủ (Khâm Thiên – Hà Nội), sát ngay nhà Bích Thuận, Tường Vy- những nghệ sỹ Cải lương nổi tiếng. Những đĩa hát của người hàng xóm càng khiến cậu khao khát được đàn, hát. Cậu lao vào học đàn. Cậu thọ giáo ông Sinh “răng vàng”, rồi ông Thiệu tài tử về đàn nguyệt cầm và hát văn. Cậu đã học, không chỉ bằng sự nhạy cảm, mà bằng tất cả niềm đam mê cháy bỏng. Âm nhạc đã tưới lên tâm hồn khao khát của cậu từng giọt âm thanh mát lành, làm dịu đi bao xót xa của số phận. Năm 13-14 tuổi, Kim Sinh đã trở thành kép hát được các quan viên quý mến bởi tiếng đàn, lời ca lắng sâu, quyến rũ. Mỗi lần cậu cất lên giai điệu “Đêm đông”, “Thiên thai”, “Giọt mưa thu”… là mỗi lần làm mê đắm lòng người.

Cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra, một thời gian Kim Sinh làm việc tại Đài phát thanh Khoái Châu, đem lời ca tiếng đàn phục vụ nhân dân, rồi hát cổ động bình dân học vụ. Từ năm 1954, Kim Sinh trở thành nhạc công chủ chốt của Đoàn cải lương Chuông Vàng (nay là Nhà hát Cải lương Hà Nội), rồi giảng dạy Cải lương ở Trường Nghệ thuật Sân khấu Hà Nội. Năm 1983, ông là một trong những nghệ sĩ đầu tiên được phong tặng danh hiệu Nghệ sỹ ưu tú. Nghỉ hưu, NSƯT Kim Sinh tiếp tục cộng tác với Nhạc viện Hà Nội để dạy hát Cải lương.

Lẻ loi một tiếng đàn

Không chỉ hát hay, NSƯT Kim Sinh còn chơi giỏi nhiều loại nhạc cụ, từ đàn nguyệt, đàn tứ, đến ghi ta, vĩ cầm… Nhưng ông đam mê nhất là đàn nguyệt. Ông bảo, người thực sự yêu đàn nguyệt thì phải đánh đúng kiểu của dân tộc, tiếng đàn phải cất lên được tiếng nói của tổ tiên, lắng sâu hồn đất Việt! Kim Sinh chơi đàn điêu luyện đến mức có thể dùng tiếng đàn để nói chuyện. Ông bảo: “Để có tiếng đàn mang tên Kim Sinh là cả một hành trình lao động nghệ thuật vô cùng nghiêm cẩn”. Với người mù cả 2 mắt như ông, điều đó càng đòi hỏi sự khổ luyện, bởi âm nhạc truyền thống rất phong phú. Riêng hát văn đã có 60-70 điệu, mỗi điệu, mỗi lời lại phải có cách thể hiện riêng. Ông kể: “Cùng lối hát văn nhưng đàn và hát xá thương phải khác với điệu cờn; hát văn công đồng thì trang nghiêm, còn lời ông hoàng lại mang vẻ sang trọng. Đàn nguyệt có từ thời Bà Trưng, Bà Triệu, được cấu tạo cho lối chơi nhấn, để tiếng đàn trầm lắng, nhẹ nhàng, phù hợp với tâm lý, tình cảm người Việt. Thế mà giờ người ta đang biến tấu cách chơi đàn nguyệt thành lối vê giòn giã, chẳng còn đâu truyền thống nguyệt nhấn, nhị rền, tam vê, tỳ đối nữa!”.

Mặc dù cuộc sống của ông còn bộn bề khó khăn với bốn lần kết hôn, những tưởng cuối đời ông sẽ vui vầy bên con cháu để mang lại cho đời những tiếng đàn lay động tâm hồn người nghe, nhưng giờ đây ông vẫn vò võ một mình. Ông dành dụm những đồng tiền ít ỏi để mua đàn, thoả mãn niềm đam mê từ nhỏ. Có lẽ, với ông, những cây đàn này mới là tài sản đáng giá nhất. Lúc nào trong ông cũng ngời lên niềm lạc quan sống và tình yêu âm nhạc, như thể những bất hạnh chưa từng có trong đời.

Theo Kinh Tế Nông Thôn

NNS : Nghĩ về ca nhạc Việt Nam hiện nay và những vấn đề liên hệ


Nghĩ về ca nhạc Việt Nam hiện nay và những vấn đề liên hệ
Việt Nam hiện nay không có chiến tranh, nhưng lại có những dấu hiệu (sắp) đang ở trong thời loạn. Bởi vì theo nhà xã hội học Tuân Tử thì “một trong những đặc trưng của thời loạn là âm nhạc nhố nhăng, bông lông” (Tuân Tử (Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê), Bàn Về Nhạc, trang 314). Mà âm nhạc của Việt Nam hiện nay thì quả thật quá nhố nhăng và bông lông. Thị trường âm nhạc ở Việt Nam tràn ngập những bài ca Việt không ra Việt mà Tây phương cũng chẳng ra Tây phương. Đó là thứ âm nhạc lai căng lợn cợn giữa nhạc sến Việt và nhạc sến Tây phương (tức là loại nhạc vỉa hè Rap, Hip-hop, R&B, v.v.).
Đã qua rồi cái thời có những ca khúc hay và đẹp của các nhạc sĩ có thực tài như Trương Quí Hải, Thanh Tùng, Dương Thụ, Trần Tiến, Trịnh Công Sơn, Quốc Dũng, Bảo Chấn, v.v. Ngày nay môi trường âm nhạc bị làm cho ô nhiễm bởi những người cũng được gọi là nhạc sĩ nhưng thực chất chỉ là những người “thợ làm nhạc”. Những tay thợ nầy làm nhạc rất nhanh và rất nhiều, theo đơn đặt hàng rẻ mạt của các ca sĩ hay các nhà thầu âm nhạc. Họ không cần cảm xúc để sáng tác và cũng chẳng cần tìm kiếm giai điệu hay đẹp, mà chỉ dùng kỹ thuật điện tử để tạo âm thanh cho những câu nói đời thường. Vì thế đã sản sinh những bài ca với giai điệu trúc trắc ngang phè, và lời ca thì thô thiển dung tục.
Nhưng tại sao thứ âm nhạc thấp kém như thế mà lại đang được phổ biến rầm rộ hiện nay? Lý giải cho hiện tượng nầy, ta có thể nhận ra một điều rõ nét là hiện nay ở Việt Nam những người thiếu văn hóa chiếm một tỷ lệ cao trong số những người giàu có mới nổi. Những đại gia mới nổi nầy và con cháu họ có trình độ thưởng thức nghệ thuật rất thấp. Người lớn thì chỉ thích nghe nhạc sến Việt với giai điệu lèn phèn và lời ca đơn sơ hợp với cái trí tuệ thô thiển của họ; còn con cái họ thì chỉ đủ sức cảm nhận loại nhạc sến Tây phương ồn ào thô tục. Đám nhà giàu nầy đã tung tiền để bảo trợ những chương trình ca nhạc nhảm nhí trên các sân khấu và đài truyền hình khắp các địa phương. Một đặc tính thường thấy ở những kẻ giàu có mà thiếu văn hóa là tính chơi ngông với tiền bạc, tương tự như công tử Bạc Liêu xưa và Cường Đô La ngày nay. Trong những dịp tiệc tùng như sinh nhật và cưới hỏi, họ dám thuê hàng chục ca sĩ tiếng tăm, với thù lao cả chục ngàn đô la Mỹ mỗi người, để hát những bài ca sến mà họ ưa thích. Cái lối tung tiền để lũng đoạn nghệ thuật ấy đã đẩy ca nhạc Việt Nam vào tình trạng tha hóa, đưa các ca sĩ sến lên ngôi thần tượng, và dìm chết những nghệ  sĩ thật tâm yêu âm nhạc và có tinh thần sáng tác vì nghệ thuật. Nhiều nhạc sĩ có tiếng trước đây nay đã công khai tuyên bố ngừng sáng tác, với lý do là không muốn những đứa con tinh thần của mình lẫn lộn trong đống rác hỗn độn của môi trường ca nhạc hiện nay.
Những năm gần đây, người ta còn mời nhiều ca sĩ sến ở hải ngoại về Việt nam và tổ chức những đêm nhạc “hoành tráng” trên khắp ba miền đất nước để các ca sĩ nầy hát những bài ca rên rỉ nỉ non đã một thời làm bại hoại một thế hệ thanh niên trước 1975 và góp phần làm sụp đổ chế độ Việt Nam Cộng hòa. Các đài truyền hình Việt Nam cũng bắt chước Tây phương lập ra những chương trình Việt Nam Idol, The Voice (Tiếng Hát Việt), v.v. để tuyển chọn ca sĩ mới theo mẫu Lady Gaga, Amy Winehouse, Madona, v.v. với giám khảo là những thần tượng sến mà tên tuổi gắn liền với những vụ tai tiếng như hôn môi nhà sư, tặng đại gia một đứa con, v.v. và kết quả các cuộc thi đã bị tiết lộ là được sắp đặt trước.
Thật là nực cười, sau bao nhiêu năm chửi bới đế quốc Mỹ về mọi phương diện, ngày nay ở Việt Nam cái gì cũng bắt chước Mỹ. Thật ra nước Mỹ có hằng ngàn điều hay và hằng vạn điều dở. Nhưng ở Việt Nam, người ta chỉ bắt chước những điều dở thôi. Chẳng hạn giới trẻ được tự do bắt chước lối sống thác loạn về tình dục, nhưng lại bị ngăn cấm triệt để trong phát biểu và trao đổi tư tưởng; Giới doanh nghiệp được cổ võ làm giàu nhưng chỉ phá hại rừng và biển để bán chứ không có một sáng chế nào giá trị để đóng góp cho xã hội; Giới quan chức đua nhau khoe bằng cấp và học vị, nhưng phần lớn là bằng giả hoặc bằng mua chứ không có một công trình nghiên cứu giá trị nào. Đặc biệt là giới ca sĩ, chỉ bắt chước lối trang phục hở hang và cách trình diễn quái dị của ca sĩ Mỹ, chứ không có một sáng tạo nào đáng kể.
Chưa bao giờ ở Việt Nam mà Âm nhạc và Nghệ thuật lại được tận dụng để thỏa mãn thị hiếu thấp kém của giới trẻ như hiện nay. Phải chăng đó là do nhu cầu của thị trường hay còn là phương cách làm cho giới trẻ trở nên yếu hèn, ham hưởng thụ, mà quên đi những vấn nạn của đất nước như chính trị bế tắc, kinh tế suy thoái, tham nhũng tràn lan, giáo dục phá sản, và đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng. Những vấn nạn nầy của đất nước hoàn toàn bị giới truyền thông Việt Nam tránh đề cập đến. Báo chí và truyền hình Việt Nam thường chỉ kể chuyện về các đại gia giàu có và các ca sĩ, diễn viên xinh đẹp, chứ hiếm khi đề cập đến những khó khăn của người dân ở nông thôn và những cảnh khốn cùng của công nhân ở thành thị. Dần dần xã hội được trình bày như là của người giàu và người đẹp, còn người nghèo và người thường chỉ đóng vai trò phục vụ cho hai giới trên mà thôi.
Ngày nay nếu vào những nhà hàng và khách sạn sang trọng, ta có thể gặp những cô gái xinh đẹp đi cùng những người đàn ông tóc muối tiêu, mặt mày bặm trợn và thái độ thì dương dương tự đắc. Ca nhạc Việt Nam hiện nay cũng như những cô gái nầy, phải ép mình phục vụ cho những thị hiếu thấp kém nhưng đầy quyền lực.…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….

Kính.
NNS