Tag Archives: vĩnh bảo

TRẦN QUANG HẢI : Thử tìm hiểu nguồn gốc bản Dạ cổ hoài lang và sự diễn biến của bản này cho tới ngày nay qua cuộc phỏng vấn nhạc sư VĨNH BẢO


Thử tìm hiểu nguồn gốc bản Dạ cổ hoài lang và sự diễn biến của bản này  cho tới ngày nay  qua cuộc phỏng vấn nhạc sư VĨNH BẢO

Trần Quang Hải

 

 130815164031_vinh_bao_traditional_vietnamese_musician_640x360_bbc_nocreditchan-dung-vinh-bao

Nhạc sư Vĩnh Bảo

Nhân dịp đại hội liên hoan đờn ca tài tử lần thứ nhứt được tổ chức tại Bạc Liêu từ 24 tới 29 tháng 4, 2014, cùng với sự tôn vinh bộ môn đờn ca tài tử được UNESCO nhìn nhận trong danh sảch  di sản văn hóa phi vật   của nhân loại vào ngày 5 tháng 12, 2013, và đặc biệt là bài « dạ cổ hoài lang » do nhạc sĩ Cao Văn Lầu tự Sáu Lầu đã sáng tác bài này vào năm 1919 tại Bạc Liêu. Một số người cho ông Sáu Lầu là « Vua vọng cổ ». Tôi muốn biết rõ cội nguồn của sự sáng tác bài « Dạ cổ hoài lang » được sinh ra trong trường hợp nào , và muốn làm sáng tỏ một số nghi vấn trong đầu tôi là một người nghiên cứu nhạc dân tộc.  

Tôi được may mắn là được nhạc sư Vĩnh Bảo truyền dạy lý thuyết cổ nhạc miền Nam qua nhiều cuộc đàm thoại viễn liên và qua hệ thống mạng SKYPE từ nhiều năm qua , tôi đã lĩnh hội một số kiến thức về sự phong phú của cổ nhạc miền Nam , được gọi là « đờn ca tài tử » và thấm nhuần sự tinh vi của 20 bài tổ qua 4 điệu Bắc, Lễ, Nam, Oán do nhạc sư Vĩnh Bảo minh họa với tiếng đờn tranh và đờn kìm .

Để hiểu rõ tường tận hơn , tôi mới gọi điện thoại cho nhạc sư Vĩnh Bảo để minh giải những điều thắc mắc trong đầu tôi về bài « dạ cổ hoài lang » .  Rất may cho tôi là nhạc sư Vĩnh Bảo không bị bận và sẵn sáng tiếp tôi và bằng lòng cho tôi phỏng vấn .

Sau đây là nội dung của cuộc phỏng vấn .

Trần Quang Hải (TQH) : Kính chào Bác . Con rất  may mắn có được cơ hội hầu chuyện cùng Bác để hiểu rõ thêm về bài « dạ cổ hoài lang » ra đời 95 năm nay . Trước khi con đặt câu hỏi về bài « dạ cổ hoài lang », con muốn được biết qua một chút ít về Bác và gia đình của Bác để tìm hiểu nguyên do nào đưa Bác vào con đường âm nhạc dân tộc .

Nhạc sư Vĩnh Bảo (VB) : Chào con Hải . Con muốn biết vì sao Bác hấp thụ nhạc cổ truyền thì Bác sẽ kể tóm tắt như sau . Bác sanh ngày 19 tháng 9, năm 1918 tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc. Ba của Bác là ông Nguyễn Hàm Ninh sanh năm 1877, và má của Bác tên Nguyễn thị Cận, sanh năm 1885. Ba Bác là địa chủ, rất đam mê nhạc và thơ phú . Ông thường mời mấy ông thầy đờn về ở luôn trong nhà để học đờn . Nhờ có khiếu trời ban, ông rất điêu luyện và nắm vững cơ bản của cổ nhạc và nhạc lễ miền Nam qua tiếng đờn của đờn kìm, đờn tranh và đờn cò . Gia đình Bác gồm có 7 anh em (4 trai và 3 gái), ai cũng mang trong người dòng máu đam mê âm nhạc của cha . Anh Hai Bác chơi đờn kìm và đờn tranh những bản cổ nhạc . Nhưng ngón đờn khô khan . Anh Ba Bác đờn kìm , đờn xến và đờn mandoline . Ngón đòn vừa tươi mướt, vừa mùi mẩn, đua cho nhiều nhạc sư thời bấy giờ trong ấy có nhạc sư Huỳnh văn Sâm (Sáu Tửng ), tay đờn kìm rất tên tuổi nể phục. Anh Bảy Bác đờn kìm, đờn tranh và đờn cỏ. Ngón đờn rất tươi và mùi mẩn, nhưng do lười biếng, bản đờn nào cũng thuộc man mán, và khi đờn là dựa người cùng đờn với mình . Hai chị và cô em gái Bác cũng chơi đờn theo kiểu qua loa . Các anh chị Bác và Bác đều tây học . Chơi đờn là môn giải trí. Riêng Bác thì âm nhạc gắn liền với cuộc sống sâu kín của Bác, nên Bác ôm chầm lấy nó từ khi lên năm cho tới bây giờ là 97 tuôỉ và vẫn chưa chịu ngừng . (nhạc sư Vĩnh Bảo cười )

TQH : Úi cha ! Như vậy là Bác đã có hơn 90 tuổi nghề với cổ nhạc miền Nam ! Quả thật hiếm có . Bác đúng là « cây đại thu » của cổ nhạc miền Nam ! Bác biết đờn bản « dạ cổ hoài lang » lúc nào  vậy thưa Bác ?

VB : Bác biết đờn từ năm lên 5. Tới 7 tuổi (năm 1925) Bác được thầy Sáu Ký , ở làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh dạy Bác đờn kìm hai bản « dạ cổ hoài lang » và « hành vân » qua lối truyền ngón truyền khẩu. Thầy dạy sao Bác đờn vậy. Ở tuổi con nít , Bác không tò mò tọc mạch hỏi và cũng không nghe ông nói ông học hai bản này của ai, học với ai hay theo bài viết ra . Trong quyển « cầm ca tân điệu » do ông Lê văn Tiếng tự Cư Thiện ở Tân An xuất bản năm 1926 (nhà in Joseph Nguyễn văn Viết) trong ấy có bản « dạ cổ hoài lang » lẫn bản « hành vân » nhưng cũng không thấy ghi ai là người sáng tác .

TQH : Con lấy làm lạ là ngày chào đời của bản « dạ cổ hoài lang » của ông Sáu Lầu không thống nhứt . Có người viết là bài đó chào đời  năm 1918. Rồi có người cho là bài « dạ cổ hoài lang » được sáng tác vào  năm 1919 (theo lời hai người con của ông Sáu Lầu là Cao Kiến Thiết và Cao Văn Hoài) . Mà cũng có người cho rằng bài này viết xong năm 1920 . Bác nghĩ sao về bản « dạ cổ hoài lang » ? Tác giả có phải là ông Sáu Lầu hay không ? và những giả thuyết ly kỳ hóa để thêu dệt sự chào đời của bản này ?

VB : Bác thấy chỉ có năm sáng tác bản này mà còn không thống nhứt thì làm sao có thể tin vào những chuyện bao quanh sự hình thàng bản « dạ cổ hoài lang ». Không có tư liệu bằng văn bản, bút tích hay tiếng đàn nào của ông Cao Văn Lầu (sáng tác được ghi với ký âm theo quốc ngữ Hò , xự, xang, xê, cống  hay theo kiểu ký âm Trung hoa) được lưu lai để chứng minh một cách thuyết phục rằng ông Sáu Lầu là người sáng tác ra bản « dạ cổ hoài lang ». Tuy nhiên phần đông nhạc sĩ đã nhìn nhận và không thấy có phản biện . Riêng Bác, Bác cũng biểu đồng tình, xem ông là người có công sanh ra nó, nhưng có sanh mà không có dưỡng . Việc nuôi dưỡng nó thành nhơn chi mỹ, nghĩa là phát triển nó ra « vọng cổ nhịp tư, nhịp tám , nhịp mười sáu ,và 6 câu nhịp 32 là do sự tận dụng tài năng , với tim óc của nhiều nhạc sĩ , nhạc sư ẩn danh từ nhiều năm qua, đưa cho nhiều người, dù khó tính cũng tìm nghe và học.  Để tỏ lòng tri ân ông Cao Văn Lầu, một số người tôn vinh ông là « Vua Vọng Cổ ». Ông Cao Văn Lầu vốn người chất phác hiền hòa, có thễ sẽ không vui gì trước cái tôn vinh tâng bốc quá đáng này và vô tình tạo ra sự hiểu lầm đáng tiếc .

TQH : Con có đọc là bài « dạ cổ hoài lang » chịu ảnh hưởng của hai bài « hành vân » và « xuân nữ » . Bác nghĩ sao về khía cạnh này ?

VB : « dạ cổ hoài lang » thường đờn cập với bản « hành vân » mà không với bản khác , chẳng hạn như Lưu thủy, Bình bán hay Kim Tiền .Bác cho con thấy sự giống nhau giữa hai bản này . Cả hai bài đều có 20 câu . Qua 20 câu của bài « dạ cổ hoài lang » , những câu 2,3,4, 9, 10, 14, 16, 19 và 20 của bài « hành vân »   đều được thấy trong bài « dạ cổ hoài lang » (tổng cộng 16 câu bài « hành vân » dùng cho 20 câu bài « dạ cổ hoài lang »). Lúc đầu bài « dạ cổ hoài lang » lên dây Bắc , đờn có âm hưởng Huế như bài « hành vân » . Mãi tới năm 1924, mới sữa lại đờn với chữ Xang rung nhẹ (chữ xang già , và cống non) tạo thành đờn hơi ai thay vì dây Bắc là sol la do re mi , trở thành sol si do re mi man mác hơi ai .

 DẠ  CỔ  HOÀI  LANG    những câu giống HÀNH VÂN

 1      Hò   là   xg   hò  xg  xê   CỐNG  xê         câu 4                              

 2     Liêu  xề  liêu  cổng      cống  xê  xg

                                       liêu

3     Hò     liêu  cống   xê  xg                                9                                                

4     Xề  xg     là   hò     __

5     Xề   là  liêu  xáng  ú   liêu    cống  xệ

6     Liêu  xáng  xàng   xề   liêu  liểu     liêu     14  

                                                           ú

7     Hò  là  xg  hò  xg  xê  cống                                       4

8     Xê  cống  xừ  xg  xê  xự  xg                             3

9     Hò     cống  xê  xg  xự                                             10       

10   Xừ .  xg   xừ  xg  xê  xừ  xg                                        19        

11   Xừ .  xg  xừ  cống  xê  xang                                 2

12   Xề  xg    là  hò    __            

13   Cống  xê  xang  tồn  là  xg  xê  cống        20       

14    Xê  cống  xừ  xg  xê  xừ  xg   xang                       3

15   Liêu  xề  liêu  cộng      cống  xê   xg                    16

                                     liêu                                   

16   Liêu  xáng  xàng  xề  liêu  liểu     liêu             14                                                                      

                                                                     ú

17   Là   xự  xang . cống xê xang                                2     

18   Xê  xg  xự  xang  hò  xự  xang                                    3

19   Liêu    liêu  cống       cống  xê  xg                       16

                                    liêu    

20    Liêu  xáng  xàng  xề  liêu  liểu     liêu.             14

                                                           ú        

 Để cho dễ nhận diện sự giống nhau giữa hai bài “dạ cổ hoài lang” và “hành vân”, Bác ghi tóm tắt như sau :

Dạ cổ hoài lang                     giông giống Hành vân

Câu 1                                              câu 4

Câu 2

Câu 3                                              câu 9

Câu 4

Câu 5

Câu 6                                               câu 14

Câu 7                                                câu 4

Câu 8                                                câu 3

Câu 9                                                câu 10

Câu 10                                              câu 19

Câu 11                                               câu 2

Câu 12

Câu 13                                             câu 20

Câu 14                                             câu 3

Câu 15                                             câu 16

Câu 16                                             câu 14

Câu 17                                              câu 2

Câu 18                                             câu 3

Câu 19                                             câu 16

Câu 20                                            câu 14

Năm 1924, « dạ cổ hoài lang » mở ra nhịp tư, gọi là « vọng cổ hoài lang » với 20 câu, mỗi câu 4 nhịp. Song lang gõ ngay nhịp 2 và 3, còn nhịp tư là câu chầu. Tới năm 1934, từ bản nhịp tư mở ra nhịp tám gọi là « vọng cổ » (bỏ hai chữ «hoài lang » ; vẫn giữ 20 câu mỗi câu 8 nhịp. Song lang gõ nhịp 4 và 6. Còn nhịp 7 và 8 là câu chầu. Tới năm 1937, bản nhịp 8 mở ra nhịp 16, gọi là « vọng cổ » cũng giữ  20 câu mỗi câu 16 nhịp . Song lang gõ ngay nhịp 8 và 12. Bốn nhịp 13,14,15, và 16 là câu chầu . Khoảng năm 1955, bản nhịp 16 mở ra nhịp 32, thu lại còn 6 câu, mỗi câu 32 nhịp . Theo nguyên tắc,song lang gõ ngay nhịp 16 và 24 (còn 8 nhịp : nhịp 25 tới 32 là câu chầu). Nhưng các nhạc sĩ nhứt trí sửa lại. Song lang gõ ngay nhịp 24 và 32 (còn 8 nhịp của câu chầu đua qua làm đầu câu 2). Không có vọng cổ nhịp 64 như người ta thường tưởng hay nói .

TQH : Không biết Bác có thường đờn bản “dạ cổ hoài lang” không ? Con có nghe Bác minh hoạ bài này khi đờn có âm hưởng huế và một kiểu khác man mác điệu ai .

VB : Riêng Bác thì Bác thường xuyên đờn bài “dạ cổ hoài lang”, tìm cách đánh bóng , trang trí theo cách riêng của Bác như con đã nghe . Bác cảm thấy thích bản này . Bài “dạ cổ hoài lang” nếu có viết ra bản thì chỉ thấy có tên nốt đờn, còn trang trí như rung, mổ, nhấn, luyến láy thì không có, rất là mộc mạc. Thời điểm năm 1925 là lúc Bác học bản này, Bác thấy ít nhạc sĩ đờn , và nếu có thì mỗi người mỗi trang trí khác nhau .

TQH : Thưa Bác, Bác cho con biết vai trò trang trí (ornementation) trong nhạc truyền thống Việt Nam và đặc biệt trong bản Dạ cổ hoài lang ?

VB : À, khía cạnh này vô cùng quan trọng. Đối với nhạc truyền thống, cái tinh thần của bản nằm trong cái trang trì nốt như RUNG, MỔ, NHẤN, LUYẾN LÁY . Nếu không cái trang trí đó thì bản đờn chỉ có cái XÁC mà không có HỒN. Cách chép bản Dạ Cổ Hoài Lang là theo Hò, Xự, Xang, Xê, Cống tạm dịch là Sol La Do Ré Mi. Những nốt này không nói lên cái buồn của tác giả bị cha mẹ buộc lấy vợ lẻ nối dõi tông đường . Chỉ lời ca mới nói lên được điều này . Điểm thú vị nữa là lúc bản Dạ Cổ Hoài Lang ra đời, đờn kìm sử dụng dây Bắc với thang âm HÒ Xự Xang Xê Cống (sol la do re mi) và trang trí nốt đờn theo điệu Bắc (Mode Bắc) nghĩa là những nốt HÒ, XANG, XÊ (Sol Do Ré) Mổ. Còn XỰ, CỐNG (La Mi) thì RUNG và đờn cặp với bản Hành Vân Huế chỉ nói lên cái vui . Vài năm sau đó Dạ Cổ Hoài Lang được chuyển qua hơi BUỒN. Đờn tranh lên dây theo thang âm Hò Xư Xang Xê Cống (Sol Si Do Ré Mi), còn đờn kìm thì vẫn sử dụng dây Bắc, nhưng nốt Xự (La) phải nâng lên môt cung thành Xư (Si) và các nốt Liều, Xang (Sol Do) RUNG còn Xự Xê Cống (La Ré Mi ) MỔ

TQH : Nhạc đờn tài tử có phải là loại nhạc điệu (musique modale) hay không , thưa Bác ?

VB: Như con biết, nhạc đờn tài tử thuộc nhạc điệu (musique modale). ĐIỆU gồm cấu trúc (structure) của câu đờn, thang âm của dây đờn (échelle musicale) bản nào dây nấy, tốc độ (tempo). Về HƠI (có người gọi là GIỌNG) (air, nuance)y hệt như những giọng lên xuống (tons) của tiếng Việt – ma, má , mà, mạ, mả , mã . HƠI nằm trong trang trí nốt đờn như Rung, mổ, nhấn, luyến láy (ornements). Tương tơ như hội họa (peinture), nó mang lại màu sắc, cái đẹp, cái màu sắc cho bản đờn. Bản đờn không có màu sắc thì bản đờn đó nghe khô khan . Vấn đề trang trí nốt đờn cho mỗi bản đờn đều được hệ thống hóa (système répertorié) mà con đã thấy ớ các bản ký âm của Bác do Bác sáng chế ra . Phương pháp này giúp cho người học bài bản nắm vững màu sắc của bài bản tùy theo dây Bắc, Lễ, Nam, Oán .

TQH : Ai là người hát vọng cổ nhịp  8 nổi tiếng và vọng cổ nhịp 16 ?

VB : Vào thời điểm Vọng cổ nhịp 8, có nhiều tay ca như anh Ba Tuất (Sa Đéc), Tám Thưa, Năm Bé (Nha Mân), Sáu Hướng, Tám Kỉnh (Cao Lãnh) giọng ấm, ca rất ngọt và mùi, nhưng toàn là ca những vọng cổ với lời ca trữ tình hay nặng về sữ . Còn Vọng cổ nhịp 8 mà anh Lư Hòa Nghĩa ca (anh Hòa đệm đờn Ghita-mando lõm phím 4 dây), bài ca do anh Lê Kim Hải (Sáu Hải ở Bạc Liêu) soạn, đặt tên là ” Vì tiền lỗi đạo”, lời ca mở đầu là “văng vẳng tiếng chuông chùa” do hãng dĩa nhựa ASIA thu vào năm 1936. Dĩa này bán rất chạy, một phần do anh Lư Hòa Nghĩa ca mùi, phần khác là do lời ca đượm màu tu hành , lại thêm dĩa hát xuất hiện vào thời điểm người ta hay đi chùa lễ Phật. Chuyện này y hệt trường hợp gánh hát cải lương Tân Thinh, đêm nào cũng chật rạp là nhờ biết tâm lý khán giả, hát toàn tuồng nói về Phật : như Phật Thích Ca ra đời, Phật Thích Ca đắc đạo …. Các gánh hát khác vắng người xem bởi hát tuồng sử, tuồng tây.

TQH : Ông Trần Phước Thuận ở Bạc Liêu có viết  câu « nên dùng hai chữ Vọng cổ để đặt tên cho các bài đã được canh tân này ». Bác nghĩ sao về việc dùng chữ « canh tân » ?

VB : Vọng cổ là bản phát triển từ Dạ cổ hoài lang . Gọi « canh tân » là sai . Từ « canh tân » là giữ nguyên xi « dạ cổ hoài lang » rồi tô điểm hoa lá khác với « dạ cổ hoài lang » nguyên thủy . Ví dụ trường hợp 1. Dạ cổ hoài lang đờn theo Bắc, hao hao hơi Huế (đờn kìm sử dụng dây Bắc , thang âm hò, xự, xang, xê, cống  hay sol la do ré mi. 2. Đàn chuyển sang man mác hơi ai , vẫn thang âm hò , xự, xang, xê, cống (sol la do ré mi) nhưng rung nhẹ nốt xang . 3. Đàn hơi ai, thang âm hò, xư, xang, xê, cống (sol si do re mi) xang già rung .

TQH : Con mới xem qua hai chương trình truyền hình về “viên ngọc quý của đờn ca tài tử” . Bài “dạ cổ hoài lang” được cho là “tuyệt tác” . Bác nghĩ sao về điểm này ?

VB : Thời điểm “dạ cổ hoài lang” ra đời , các nhạc sĩ đờn cổ nhạc xem nó như những bài hành vân, lưu thủy, bình bán vắn, kim tiền , và cũng ít ai đờn bản “dạ cổ hoài lang” trong các buổi sinh hoạt đờn ca tài tử. Nó chỉ tạo sự chú ý đôi chút cho người nghe lẫn người đờn. Tập thể nhạc sĩ ẩn danh, với tài năng , tim óc, làm việc riêng rẻ, phát triển nó ra thành “vọng cổ hoài lang” nhịp tư, rồi “vọng cổ” nhịp tám. Nhưng được ưa chuộng nhứt là từ khi nó trở thành “vọng cổ” nhịp 16 và 6 câu vọng cổ nhịp 32.

TQH : Con cám ơn Bác đã bỏ nhiều thì giờ trả lời những câu hỏi của con . « Dạ cổ hoài lang » ra đời cách nay gần 100 năm , trở thành một hiện tượng âm nhạc hiếm có ở Việt Nam . Từ một sáng tác cá nhân đã trở thành sáng tác của tập thể, khai sinh ra cả một loại hình mới : sáu câu vọng cổ .

VB : Con nói đúng . Theo Bác , việc tôn vinh là phải tôn vinh tập thể cho tất cả những nhạc sĩ nhạc sư đã đóng góp một cách âm thầm để nâng cao giá trị của bài « vọng cổ » thoát thai từ bài « dạ cổ hoài lang ». Ngày nay ở bất cứ buổi sinh hoạt nào cũng đều có bản « vọng cổ » (6 câu chỉ còn hát có hai , ba hoặc bốn câu) . Bài « dạ cổ hoài lang » ít ai hát vì chỉ hát với một lời ca cố định . Còn bài « vọng cổ », đúng hơn là một bài theo điệu vọng cổ bao trùm nhiều đề tài rộng lớn , và nhạc sĩ có dịp đờn phóng khoáng hoa lá theo trình độ tài năng . Bài « Vọng cổ » là viên ngọc quý trong đờn ca tài tử . Cái tôn vinh quá mức này gián tiếp khuyến khích những nhạc sĩ nhẹ dạ chểnh mảng trong việc rèn luyện trau dồi 20 bản tổ. Rồi một ngày nào đó, mục đờn ca tài tử sẽ bị thu hẹp lại còn có môt bản tổ là « vọng cổ ». Đây nè, Bác thử so sánh cho con thấy giữa bản Vọng cổ và những bản điệu Nam, Oán trong 20 bản tổ . Vọng cổ ví như trà Huế, musique moderne, vỏ dừa . Các bản điệu Nam , Oán như trà tàu , musique classique, trầm hương . Trà Huế , dùng tô uống, uống vô tháy đã khát liền . Trà tàu, uống bằng chung nhỏ, uống vô đã khát ngầm, cái hậu nhân nhận còn đọng lại trong cổ . Musique moderne phát lên, nghe cảm thấy hấp dẫn liền, nghe nhiều lần đâm ra chán, hạp với thính giả bình thường (auditeurs profanes). Musique classique, cao siêu, càng nghe càng thấm thía, rất kén người nghe. 100 người nghe nhạc classique, có bao nhiêu ngưởi hiểu ? Vỏ dừa đốt lên khói bay ngập nhà, làm cay mắt . Trầm hương, một miếng bằng lóng tay, đốt lên nghe thơm cả nhà .

TQH : Con thương chúc Bác luôn vui khỏe, tiếp tục truyền dạy cho tất cả những ai muốn tìm hiểu chân giá trị của nghệ thuật đờn ca tài tử . Thương chúc Bác ngủ ngon .

vinh-bao-tqh-12-2007

 Trần Quang Hải và nhạc sư Vĩnh Bảo 

MAÎTRE VĨNH BẢO : LE GRAND ART NE S’ENSEIGNE PAS ….


vinh-bao_21

– 1 –

LE GRAND ART NE S’ENSEIGNE PAS ….

Cet écrit, fruit de mes soixante-dix années de travail ne légue qu’à mes fidèles disciples.

—x—

Un bon enseignement, c’est indiquer le chemin qui donne accès à l’art.

Il éveille chez l’élève la sensibilité musicale et dans la mesure de ses possibilités, les facultés créatrices elles-mêmes.

Préparer, éduquer, discipliner l’organisme afin de permettre la personalité de l’exécutant de s’exprimer librement et de régler la dépense harmonieuse de ses forces.

Dans l’éducation musicale, le rôle le plus important revient aux fonctions cérébrales et non au mécanisme des doigts.

Quand je regarde les doigts de l’élève que je fais travailler, je vois tout ce qui se passe dans sa tête: ce ne sont pas les doigts, c’est la tête qui m’intéresse.

– 2 –

Je n’aime pas les mains entrainées, mais les mains disciplinées. Si l’on n’éveille pas les yeux

qui dorment dans ses mains, on n’arrivera rIen de bon.

Pour savoir qu’on est imparfait, il faut se connaitre. Il faut lutter contre cette erreur.

Pour se corriger, il faut se vaincre.

Pour se vaincre, il faut savoir en quoi consiste le perfectionnement et la pratique.

L’instinct de l’artiste est un raisonnement inconscient. C’est toujours un phénomène spontané et mystérieux du à l’émotion éprouvée par l’artiste  en face de la beauté, de la vie et de ses maninfestations.

Le grand art ne s’enseigne pas; il procède de l’inspiration. Cependant la technique et l’art sont intimement liés, l’un agissant sur l’autre, dans une croissance simultanée. Il faut le dire, ce n’est pas la musique telle qu’elle est écrite par le compositeur que nous entendons, mais c’est la transfiguration idéale de cette musique

– 3 –

Le perfectionnement de l’art musical doit se former à travers nos trois principaux sens – le toucher, l’ouie et la vue -. Lorsqu’une oeuvre d’art nous émeut, nous vibrons “à l’unissons” avec elle. La mesure est dans le sens musical comme le rythme dans le vers.

La seule connaissance des lois, certes, ne suffit pas pour créer l’oeuvre d’art. Il faut l’apprendre à utiliser les hasards. Si l’on cultivait tous les hasards, comme l’on serait savant.

8-4-2014

Nguyển Vĩnh Bảo 

NGUYỄN QUANG LONG : Giật mình với những ”báu vật” sắp biến mất


Giật mình với những ”báu vật” sắp biến mất

  Thứ Sáu, 04/04/2014 14:07
GiadinhNet – Họ là những “báu vật” sống, những mạch nối giữa quá khứ với hiện tại của dân tộc, cho nên sự góp mặt của họ là vô cùng quan trọng. Nhưng có một thực tế dường như họ đang bơ vơ giữa tình thương của nhân dân và “biến mất” dần trong nay mai vì đã tuổi cao sức yếu.
Image
giật mình với những ”báu vật” sắp biến mất 1
Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, báu vật của đờn ca tài tử đã ở vào tuổi 97. Ảnh: TL
 
Sống dựa vào dân

Hôm về Ngãi Cầu thăm nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc, tôi chợt giật mình nghĩ: “Nghệ nhân tinh nghề như cụ giờ còn có mấy đâu”. Những người còn đều đang như lá vàng cuối mùa thu. Tính ra, đối với ca trù, bên cạnh cụ Chúc chỉ còn cụ Nguyễn Phú Đẹ (91 tuổi), cụ Phó Thị Kim Đức (85 tuổi) là 3 “báu vật” sống. Trong khi đó, ở đờn ca tài tử, vọng cổ cũng không còn nhiều, sau sự ra đi của cụ Bảy Huệ (SN 1933) vào năm 2013, hiện tại ngoài cụ Nguyễn Vĩnh Bảo (97 tuổi), chỉ còn một vài tên tuổi lừng danh như: NSND Viễn Châu (tức Bảy Bá – 91 tuổi), nhạc sĩ Ba Tu (gần 80 tuổi), lớp sau có NSƯT Văn Giỏi cũng đã ngoài 60 tuổi.

Ngoài ra, trên suốt hành trình hàng chục năm tìm hiểu âm nhạc cổ truyền, tôi cũng chỉ biết thêm vài nghệ nhân thuộc dòng “báu vật” nữa thôi. Chẳng hạn, hát Xoan có hai cụ, Bài chòi Bình Định chừng vài ba cụ… Tất nhiên, có thể còn có những nghệ nhân xứng đáng mà tôi chưa được tiếp xúc hoặc chưa biết đến. Như thế thì tới một thời điểm không xa, rất có thể chúng ta sẽ phải đối mặt với nguy cơ biến mất các “báu vật” sống của dân tộc. Cho nên, nghe thì buồn nhưng cũng phải nhìn thẳng vào sự thật này, rằng nó đang diễn ra. Trong khi, chính sách ưu đãi các nghệ nhân của chúng ta đã rục rịch từ lâu nhưng biết bao năm trôi qua, nó vẫn còn trong giai đoạn điều chỉnh và chưa biết đến bao giờ có thể thực thi.

Về chính sách, tôi tin nghệ nhân thực sự sẽ không ai xin. Nghề đàn hát dân gian xưa nay chẳng mấy ai có cuộc sống sung túc, nhưng khổ thì phổ biến. Mà dường như ai nấy trước khi vào cái nghề này đều đã biết và sẵn sàng tinh thần sống chung cùng cái khó. Chả thế mà các nghệ nhân xẩm xưa, khó khăn bộn bề nhưng vẫn mượn ý thơ Nguyễn Du rằng: “Trót mang cái nghiệp vào thân/ Cũng đừng nên trách trời gần, trời xa”; thậm chí là trần trụi: “Lúc sướng thì họ vơ vào/ Lúc sau hoạn nạn thì nào có ai” như liều thuốc tinh thần giúp họ thêm vững vàng và duy trì nghiệp đàn ca. Nói thế để biết các nghệ nhân dù khó khăn nhưng không cần ai đỡ cũng có thể tự sống được. Cách sống – bí quyết truyền đời của họ – chính là sống dựa vào dân!

Muốn “thắp lửa” lại quá nghèo

Image

Ca nương NGUYỄN THỊ CHÚC và nghệ nhân NGUYỄN PHÚ ĐẸ

Kể từ sau Tết Giáp Ngọ, nghệ nhân ca trù Nguyễn Thị Chúc đang yếu dần. Hiện tại sức khỏe của cụ đã có những tiến triển tốt nhưng sự sống vẫn thật mong manh. Những người yêu cổ nhạc và học trò thì ví cụ như một “báu vật” sống của nghệ thuật ca trù. Cụ được tôn vinh nghệ nhân bởi bên cạnh giọng hát đặc sắc (nhất là lối ngâm có cái nét rất riêng khó ai có thể bắt chước được) cụ còn là một nhân chứng của thời ca trù đất Thăng Long còn hiện hữu trong đời sống xã hội, chứ không phải dạng bảo tồn hay gìn giữ như hiện nay.
 
giật mình với những ”báu vật” sắp biến mất 2

Nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ (95 tuổi) đến thăm nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc. Ảnh: Q.L

Nhưng đấy mới chỉ là danh hiệu mà mọi người (tức nhân dân) tự phong cho xứng với “tầm vóc” của cụ chứ trước đây khi còn đang hoạt động ca hát, cụ chưa bao giờ tự nhận mình là “báu vật”. Còn đối với Nhà nước, cho tới thời điểm này, chỉ duy nhất cụ được nhận một cái bằng khen công nhận là một Nghệ nhân dân gian của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam. Trong khi, cái từ “nghệ sĩ” hay “nghệ nhân” đã là chính cụ và thậm chí xa hơn nữa là mấy đời gia đình cụ đã như thế rồi. Ngoài ra, cụ chưa được nhận một sự ưu đãi nào của Nhà nước. Mấy tháng nay “báu vật” sống vẫn được đưa đi chữa trị bằng tiền của gia đình cùng các học trò.

Image

NSUT HÀ THỊ CẦU

Nhớ lại vài năm trước, nghệ nhân xẩm Hà Thị Cầu cũng có cuộc sống vô cùng khó khăn, ốm đau bệnh tật liên miên. Cũng vì thế mà chúng tôi đã trực tiếp tổ chức nhiều đêm xẩm và vận động bạn bè, cùng những người yêu cổ nhạc giúp đỡ một khoản khi phí cho bà. Đặc biệt, khi đau ốm, Bệnh viện K đã cử hẳn một xe ô tô cùng các bác sĩ về tận nhà bà ở Yên Mô, Ninh Bình khám và sẵn sàng đưa bà theo xe ra Hà Nội điều trị miễn phí. Nhưng việc làm này của bệnh viện cũng không nằm trong chính sách nghệ nhân được hưởng, mà chỉ là sự giúp đỡ của một vài cá nhân với sự trân trọng di sản quý của dân tộc mà bệnh viện đã hành động.

Image

Nhạc sư NGUYỄN VĨNH BẢO

Cũng tương tự, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, năm nay đã 97 tuổi, một cây đại thụ, một di sản quý của đờn ca tài tử hàng chục năm nay, lúc khỏe lúc yếu, căn bệnh tai biến đã đến hai lần khiến sức khỏe của nhạc sư ngày càng yếu đi. Con cháu gia đình cụ đều là dân lao động bình thường cho nên việc chăm sóc cụ cũng là một khó khăn. Tôi còn nhớ, lần thứ 2 cụ phải cấp cứu vì bệnh tai biến đã cần tới tấm lòng nhiệt thành với người nghệ sĩ tài năng lớn tuổi mà GS. Hoàng Chương đã gọi điện nhờ một vài người bạn ở một bệnh viện trong TP.HCM hỗ trợ, chứ nhạc sư không được hưởng chính sách nào cho nghệ nhân. 

Càng để lâu càng có lỗi

“Ai cũng biết xây dựng chính sách đối với nghệ nhân là chủ trương của Nhà nước đã có từ lâu nhưng những người chịu trách nhiệm xử lý thì vẫn chưa hoàn thành mà thôi. Nhớ hồi nghệ nhân Hà Thị Cầu còn sống, bà đã rất vui khi chúng tôi thông báo sắp có chính sách hỗ trợ. Vậy nhưng, cho tới thời điểm này, khi bà đã mất được hơn một năm, “chính sách” vẫn còn nằm trên bàn của cơ quan có thẩm quyền. Cho nên để càng lâu càng có lỗi với các bậc tiền nhân”.

(Nhạc sỹ Nguyễn Quang Long)

 

Nguyễn Quang Long (Nhạc sĩ – Nhà lý luận phê bình âm nhạc)

http://m.giadinh.net.vn/van-hoa/giat-minh-voi-nhung-bau-vat-sap-bien-mat-2014040410376278.htm

NHẠC SƯ VĨNH BẢO : SUY NGHĨ RIÊNG


 

Image

 

 

SUY NGHĨ RIÊNG

Âm nhạc gắn liền với cuộc sống sâu kín của tôi và tôi ôm chầm lấy nó.

« Nắn cung giọng oán từng hơi thở,

Gởi với đường tơ muôn mảnh lòng.

Công danh phú quý, tranh vân cẩu,

Ai lợi, ai danh, mặc tình ai….. »

CHÂN DUNG TỰ HỌA    

Chín mươi bảy tuổi, tâm huyết vẫn còn,

Như cây cổ thụ, che bóng cành non,

Muốn trao báu vật, cả đời tích lũy,

Cho cả mọi người,  không chỉ cháu con….

Mắt vẫn sáng, không danh lợi che lấp,

Tinh thần trẻ trung, vật chất xem thường,

Nặng đời người chỉ hai chữ Tình Thương.

 

Mỗi khi ngồi lại đàn, tôi cảm thấy mình đang đắm chìm trong trạng thái tỉnh lặng gần với Thiền. Điều này giúp cho tôi thắng được chính mình, hầu bằng lòng với cái tối thiểu mà cuộc sống mang lại . Phản kháng cũng chẳng được gì bỡi nó chỉ đãi ngộ cho những ai ít đòi hỏi, biết phục tùng…

Thế kỷ của chúng ta, đã cho chúng ta chứng kiến sự chinh phục sáng chói của khoa học trong tất cả các lĩnh vực. Trong thế giới tân tiến, không ai chối cãi được sự quan trọng của chất xám.   

Người trí thức có quyền được hưởng sự kính trọng và khâm phục của cả nhân loại.

Trí thức đích thực, nhân cách đi đôi với văn hóa, có lối sống khép kìn, không để lộ tâm tư.                .

Giao tiếp với trí thức mà chỉ dựa theo sách vở, dư luận, cấp bằng, chọn người cùng đồng phục, cùng suy nghĩ, như thế là thiếu suy nghĩ sâu xa và đứng đắn.

 

04-03-2014

NGUYỂN VĨNH-BẢO

Khắc khoải tâm tư gởi phím đàn

Nhặt khoang từng nhịp nỗi niềm riêng

Nhạc sư VĨNH BẢO : Đờn ca cổ nhạc ngày xưa


Nhạc sư VĨNH BẢO : Đờn ca cổ nhạc ngày xưa

Image

Đờn ca tài tử ngày nay bắt nguồn từ Đờn ca cổ nhạc ngày xưa, như Cầm Kỳ Thi Họa, mang tính cách giải trí thanh tao lúc nhàn rỗi, được tổ chức vào đêm trong nhà, dưới ánh đèn dầu, về sau ánh đèn măn-xông (manchon), sau này là đèn điện, đèn néon với ánh sáng mờ mờ hay đêm trăng .

Làng cũng như xóm, nơi nào cũng có người biết đàn biết ca, trong tuần tụ họp lại, xóm nào theo xóm nấy, làng nào theo làng nấy, đàn chơi với nhau, và đôi khi xóm này, làng này chơi giao lưu với xóm kia làng kia để phô tài, tìm hiểu, trao đổi và học hỏi lẫn nhau. Không phân biệt tuổi tác, giàu nghèo giữa người đàn , người ca, lẫn người nghe.

Tụ điểm chơi là di động, luân phiên, lần này tại nhà anh A , lần khác tại nhà anh B, anh C.

NHẠC CỤ : gồm có đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn độc huyền, tuyệt đối không có đàn ghi-ta (guitare), đàn vĩ cầm (violon), đàn gắng điện và micro như ngày nay, nhạc sĩ ngồi hàng ngang trên sân khấu ngó xuống thính giả ngồi trên ghế bên dưới cách mình năm bảy thước . Điều này vô tình triệt tiêu phần nào nguồn cảm hứng của nhạc sĩ trên sân khấu bởi nghĩ rằng những người đang nghe mình đàn chưa hẳn là khách mộ điệu, do hiếu kỳ mà có mặt.

PHỐI KHÍ DÀN ĐỜN :

Độc tấu : đàn kìm hay đàn tranh

Song tấu : đàn tranh và đàn kìm

Tam tấu : đàn kìm, đàn tranh, đàn cò hoặc đàn kìm, đàn độc huyền, đàn cò và ống tiêu

Hoà tấu trơn và hòa tấu có ca

Nhạc mục gồm 20 bản tổ trong 4 điệu Bắc, Nhạc lễ, Nam và Oán

ĐIỆU BẮC : 6 bản (xếp theo thứ tự nhứt định)

Lưu Thủy Trường

Phú Lục chấn

Bình Bán chấn

Xuân Tình

Tây Thi

Cổ Bản

ĐIỆU NHẠC LỄ : 7 bản (tục gọi là 7 bài cò)

Xàng Xê

Ngũ Đối Thượng

Ngũ Đối Hạ

Long Ngâm

Lang Đăng

Vạn Giá

Tiểu Khúc

ĐIỆU NAM : 3 bản

Nam Xuân

Nam Ai

Đảo Ngũ Cung

ĐIỆU OÁN : 4 bản

Tứ Đại Oán

Phụng Cầu Hoàng

Phụng Hoàng Cầu

Giang Nam

Đờn ca cổ nhạc ngày xưa người đàn ngồi theo kiểu đối diện nhau trên bộ ván gõ, trên ghế , trên chiếu trải trên nền nhà. Người nghe thì ngồi xen kẽ hay xung quanh những người đàn. Người đàn không chỉ là người diễn tấu đơn thuần mà là còn là người theo tâm tư tình cảm ngay khi đàn ứng tác ứng tấu, chấm phá câu đàn, tô điểm vẻ vời từng nốt đàn để mang lại sức sống mới cho bản mình đàn, do đó cách ngồi như thế nó tạo hào hứng cho người đàn lẫn người ca. Ăn mặc thì ai có gì mặc nấy, áo quần vá cũng được miễn là chỉnh tề, không khăn đóng áo dài, hay ở trần, mặc áo lá, hay quần cụt, đầu đội nón, đội khăn rằn, khăn rằn quấn cổ.

Vào đàn là khởi sự với vài bản thuộc điệu Bắc, độc tấu , song tấu hay tam tấu trơn hay có ca .

Ngừng nghỉ, hút thuốc lá, uống trà, cà phê (không có rượu), khen, góp ý về phong cách đàn của nhau, trao đổi sự hiểu biết, học hỏi lẫn nhau, kể chuyện vui cho nhau nghe rồi đàn tiếp vài bản thuộc điệu nhạc lễ, điệu Nam . Đàn tới đây thì nửa đêm, nghỉ, dùng cháo trắng hay cháo gà.

Tiếp theo là điệu oán: tứ đại oán, phụng cầu hoàng, phụng hoàng , giang nam.  Khi đàn hết các bản oán thì gà gáy canh ba, nghỉ đàn . Nhạc sĩ chia tay nhau, nhạc sĩ nhà xa ở lại ngủ đêm, sáng về.

Người ta có câu : “nhạc cổ điển chơi tới kiểng đổ”.

Tư thế ngồi ôm đàn nghiêm trang ra vẻ tiên phong đạo cốt, cách sắp nhịp sắp chữ đàn sắc sảo, tròn vành rõ nghĩa, cung bực phân minh chửng chạc, chắc chiu uốn nắn tô điểm từng nốt đàn âm vang tròn trịa phong phú gợi cảm cho người cùng đàn lẫn người nghe, khi đàn khi nghỉ, lặng mọc , ra vô, kẻ tung người hứng theo kiểu mượn tiếng đàn để đàm đạo với nhau

Người ca ngồi nghiêm chỉnh, không ra điệu bộ, ca từ đầu bài đến cuối bài. Không có lối ca giao lưu giữa hai ca sĩ , nữ nữ, nam nữ như thường thấy trên sân khấu hát cải lương .

Người nghe phần đông là biết thưởng thức. Họ lắng nghe kỹ tiếng đàn của từng cây đàn, giọng của ca sĩ, nội dung của lời lẫn lối hành văn .

Trong số người nghe cũng có vài người biết đàn biết ca. Giỏi dở vẫn được vào đàn chơi vài bản. Điều này cho thấy đây là sân chơi chung rất là tri âm và thân thiện .

Image

NHẠC SƯ VĨNH BẢO : SỰ HÌNH THÀNH CỦA CÂY ĐỜN GHI TA PHÍM LÕM


NHẠC SƯ VĨNH BẢO : SỰ HÌNH THÀNH CỦA CÂY ĐỜN GHI TA PHÍM LÕM

Image

Thời Pháp thuộc ít nhạc sĩ  nhạc truyền thống được thấy mặt mũi cây đàn Mandoline, một loại đàn thùng bầu dục, cần ngắn, tra 4 dây đôi bằng thép, bởi loại đàn này chỉ có vài bà đầm già khi rỗi rãnh, ngồi nhà ôm đàn chơi giải muộn.

Chợt năm 1930, tại Rạch Giá có thầy giáo TIÊN là người đầu tiên dùng đàn Mandoline để đàn bản Việt.

Lúc bấy giờ bản đàn truyền thống soạn đơn giản, ít có nhấn nhá, nên nhờ ngón đàn tươi mát của thầy giáo TIÊN , một số người chơi nhạc truyền thống bắt đầu noi theo mà sử dụng nó, trong đó có nhạc sư Vĩnh Bảo .

Tại Saigon, nơi đường Lagrandière (Gia Long) nay là đường Lý Tự Trọng có tiệm làm đàn hiệu MELODIA của ông Hội Khanh (một họa sĩ), và nhà sản xuất Trần Đình Thư ở Hà Nội.  Đàn sản xuất do hai nơi này dáng vóc đẹp, âm thanh tốt, nhưng đàn sản xuất do nhà làm đàn Trần Đình Thư chót đầu cần đàn làm cong lại thành hình con dơi, còn phím đàn, thay vì khảm bằng dây thau thì được khảm bằng cọng thủy tinh lấy từ bóng đèn điện, không bị dây đàn làm trầy đầu phím đàn .

Do gợi ý của người chơi, đàn Mandoline được nhà sản xuất móc cần cho lõm phím .

Chưa hài lòng, khoảng năm 1934, dựa vào ý kiến của người chơi đàn, những nhà sản xuất đàn tại đường Hamelin (Hồ Văn Ngà, nay là đường Lê Thị Hồng Gấm) đóng ra đàn ghi ta nhỏ hơn ghi ta thông thường môt 10 một 6, móc phím sâu, điều chỉnh khoảng cách của các phím theo cung bực nhạc truyền thống và tra 4 dây, gọi là đàn Guitare-Mando, và có người cho nó cái tên là đàn Octavina (danh từ nầy  không có mặt trong tự điển.

Thời điểm này, có những nhà sản xuất loại đàn này như Phùng Dinh, Trầ Rắc, Mười Út. Đàn sản xuất do anh Mười Út đóng đẹp, âm thanh trội hơn, phím chính xác so với 2 tiệm Phùng Dinh và Trần Rắc.

Những người chơi đàn Guitare-Mando được nhiều người biết đến là anh Armand THIỀU, cựu sinh viên trường trung học Huỳnh Khương Ninh, anh Hai DUYÊN Cần Thơ, anh Nguyễn văn KẾ (vũ sư), anh Bảy BÁ (soạn giả Viễn Châu), anh Hai LONG.

Khoảng đầu năm 1945, người chơi đàn lại xoay qua dùng đàn ghi ta kích thước thông thường, và dần dần đi đến gắn điện khuếch đại âm thanh, và được sung vào dàn đờn sân khấu cải lương, đồng thời được xem như cây đàn chánh (leader instrument) thay cho đàn kìm, bởi cả đào kép khi ca thường lắng nghe đàn ghi ta hơn các cây đàn khác.

Đàn thay vì 6 dây, giờ đây bớt đi một dây còn lại 5, bởi dây thứ 6, chơi nhạc truyền thống không có nhu cầu .

TRẦN QUANG HẢI VIẾT VỀ NHẠC SƯ VĨNH BẢO : tiểu sử, thành tích, sự nghiệp


TRẦN QUANG HẢI VIẾT VỀ NHẠC SƯ VĨNH BẢO : tiểu sử, thành tích, sự nghiệp
14.02.2014 14:09
Xem hình
 

Có rất nhiều người viết về nhạc sư VĨNH BẢO . Cũng có rất nhiều nhạc sinh biết và học với nhạc sư VĨNH BẢO. Nhưng rất ít người biết rõ quá trình âm nhạc cũng như sự đóng góp của nhạc sư VĨNH BẢO trong lĩnh vực ĐỜN CA TÀI TỬ miền Nam . Tôi may mắn có hai người “khai quang điểm nhãn” giúp tôi hiểu và học hỏi gia tài âm nhạc cổ truyền Việt Nam . Đó là thân phụ tôi (GSTS Trần Văn Khê) về sự hiểu biết gia đình tôi 5 đời nhạc sĩ cổ truyền cũng như phương pháp nghiên cứu dân tộc nhạc học , và nhạc sư VĨNH BẢO về truyền thống đờn ca tài tử qua nhiều cuộc đàm thoại trên mạng cũng như thừa hưởng tiếng đờn tranh có một không hai của nhạc sư .

 

 

o-b-vinh-bao-12-2007

nhạc sư VĨNH BẢO và phu nhân

Đối với tôi, một hậu sinh trong lĩnh vực tìm hiểu nguồn gốc nhạc cổ truyền Việt Nam, tôi đã học hỏi rất nhiều nơi hại vị “đại thụ” của nhạc truyền thống việt nam . Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ viết về nhạc sư VĨNH BẢO đã cống hiến trọn cuộc đời cho nhạc đờn ca tài tử miền Nam. 

Ông là người đã sống với nhạc cổ miền Nam gần 80 năm (sinh năm 1918) , một thời gian quá dài mà không có một nghệ nhân nào ở Việt Nam so sánh nổi. Ông là người đã gặp hầu hết những nhạc sư đờn ca tài tử, có dịp hòa đờn chung, biết rõ sự nghiệp của từng nhạc sư đã quá vãng cũng như những nhạc sư còn sinh tiền. Ông là người duy nhứt phổ biến phương pháp dạy đờn tranh qua mạng (internet) để phổ biến đờn tranh khắp thế giới. Ông còn là người sáng tạo đờn tranh từ 16 dây lên 17, 19 và 21 dây để cho tiếng đờn tranh phong phú hơn, dồi dào hơn, tự chế cách ký âm cho đờn tranh một cách hoàn mỹ hơn. 

Ký âm cho đờn tranh do nhạc sư VĨNH BÁO sáng chế.

notation for dan tranh vinh bao

tu dai oan

tu dai oan notation vinh bao

Ông là nhạc sư sử dụng ngoại ngữ thông thạo : viết, đọc, thuyết trình bằng tiếng Việt, Pháp, Anh mà không có một nghệ nhân nào ở Việt Nam có thể đạt được . Ngoài ra ông còn là một nhà thơ lỗi lạc đã làm rất nhiều bài thơ đủ loại bằng tiếng Việt, tiếng Pháp và tiếng Anh . Đó là khía cạnh rất ít người biết về tài năng của nhạc sư VĨNH BẢO .

  1. 1.     SƠ LƯỢC ĐẴC ĐIỂM, TÌNH HÌNH

-Họ và tên : NGUYỄN VĨNH BẢO

-Sinh ngày : năm 1918, tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp), Việt Nam

-Giới tính : Nam

-Đơn vị cộng tác : cựu giáo sư trường quốc gia âm nhạc Saigon (1955-1964), cựu giảng viên âm nhạc của trường đại học Southern Illinois University, Hoa Kỳ (1970-72)

-Trình độ chuyên môn nghiệp vụ : giảng dạy âm nhạc cổ truyền việt nam , đàn tranh cho nhạc sinh Việt Nam và ngoại quốc theo phương pháp vi tính trên mạng từ nhiều năm qua cho tới ngày nay .

10940599-vinhbaotovinh bao day don tranh cho ngoai quoc

Nhạc sư VĨNH BẢO dạy trên mạng và học trò ngoại quốc

      2. THÀNH TÍCH ĐẠT ĐƯỢC

         80 năm trong nghề nghiệp âm nhạc . Ông khởi sự đóng đờn cò từ năm 12 tuổi . Ông sở trường đàn tranh, đàn kìm, đàn cò, đàn gáo. Ngoài ra ông còn biết đàn độc huyền, măng cầm (mandoline ) tây ban cầm (guitare espagnole ), vĩ cầm (violon), và dương cầm (piano).

Ông học đờn từ nhỏ với các thầy Hai Lòng (Vĩnh Long), Sáu Tý, Năm Nghĩa (Trà Ôn). Tính ra ông đã học với gần 200 “thầy) (theo nghĩa nhứt tự vi sư, bán tự vi sư) khắp ba miền Nam Trung Bắc trên xứ Việt .

Năm 1935, ông sang chế ra dây Tỳ (hò – liu – sol – sol) và dây Xề (Re – sol) trên cây đàn gáo.

Vào cuối thập niên 30, ông đã tạo một chỗ đúng quan trọng  trong hang ngũ nhạc sĩ trẻ miền sông Cữu Long .

Năm 1938 ông được hãng dĩa BEKA mời đàn cho cô Ba Thiệt (chị của cô Nam Cần Thơ) ca.

  1. 1.     Được mời giảng dạy và thuyết trình ở ViệtNam và hải ngoại

–         Từ năm 1955 tới năm 1964, ông được bổ nhiệm với chức vụ trưởng ban cổ nhạc miền Nam ở trường quốc gia âm nhạc Saigon với sự cộng tác của các nhạc sư Chín Kỳ, Hai Biểu, Chín Trích, Hai Khuê, Bảy Hàm.

–         Năm 1963, ông được mời tham dự hội nghị về âm nhạc với 11 nước Đông Nam Á tại Tân gia ba (Singapour)

–         Năm 1969, ông đã thực hiện hai cuồn băng nhạc đờn ca tài tử do ông Nam Bình sản xuát và do ông điều khiển chương trình với sự cộng tác của 11 nhạc sư đờn tài tử lúc bấy giờ . Tất cả đã ra người thiên cổ ngoại trừ ông và nhạc sĩ Bảy Bá còn sống .(1)

–         Năm 1970, ông được đài truyền hình NHK của Nhật Bản mời sang Đông Kinh (Tokyo) để thuyết trình về nhạc cổ truyền Việt Nam với phần minh họa đàn tranh

–         Từ giữa năm 1970 tới 1972, trường đại học Hoa kỳ (Southern Illinois University) mời ông sang dạy nhạc cổ truyền Việt Nam với tư cách giáo sư biệt thính. Trong dịp này GSTS Trần Văn Khê cũng có mặt và đã cùng ông góp mặt tại nhiều buổi hội thảo về âm nhạc học (musicology) với các nhà dân tộc nhạc học Mỹ .

vinh bao tvk

–         Năm 1972, ông được trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương (Centre d’Etudes de Musique Orientale) ở Paris mời sang Pháp trong một tháng để cùng với GSTS Trần Văn Khê trao đổi kiến thức về nhạc cổ truyền việt nam , đồng thời thuyết trình nhiều buổi về nhạc đờn ca tải tử nam bộ cho khan giả Pháp. Ông cũng có thuyết trình về nghệ thuật đóng đờn theo phương pháp của ông tại trung tâm âm thanh học (Laboratoire d’Acoustique musicale) của cố giáo sư âm thanh học Emile Leipp . Ngoài ra trong thời gian này ông đã cùng GSTS Trần Văn Khê thực hiện 2 dĩa hát về nhạc tài tử miền Nam (VIETNAM : tradition du Sud với hãng dĩa OCORA , và một dĩa về nhạc đờn tài tử nam bộ “ VIETNAM : Tradition of the South” do hãng dĩa Philips sản xuất ở Hà Lan , collection UNESCO / Musical Sources) 

disque ocora vinh bao tvk

–         Từ năm 1975 tới ngày hôm nay, nhạc sư Vĩnh Bảo vẫn tiếp tục dạy đờn tại gia và đóng đờn. Công việc của ông là dạy trực tiếp hay hàm thụ qua băng nhạc hay với máy vi tính trên mạng cho một số người Việt  hay nhạc sinh ngoại quốc tới Việt Nam (Pháp , Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ). Năm 1967, nhạc sĩ dân ca người Mỹ, Stephen Addiss (bây giờ là GSTS của trường đại học University of Richmond, School of Arts and Sciences) sang Saigon học đàn tranh và đàn bầu với nhạc sư Vĩnh Bảo. Năm 1973, sinh viên cử nhân đàn vĩ cầm John Paul Trainor từ Denver, tiểu bang Colorado (Hoa kỳ) sang Saigon, ở nhà nhạc sư Vĩnh Bảo một năm để học nhạc tài tử nam bộ và sau đó bảo vệ luận án tiến sĩ về đề tài này vào năm 1977. Năm 1997, giáo sư Jean Christophe Maillard, nhạc sĩ nhạc baroque, dạy nhạc học ở trường đại học Le Mirail, tỉnh Toulouse (Pháp) tới thăm nhạc sư Vĩnh Bảo để tìm hiểu nhạc tài tử nam bộ. Từ năm 2008 tới nay, TS Alexander Cannon, phó giáo sư trường đại học Michigan (Hoa Kỳ) sang Saigon một hai tháng để học đàn tranh và lý thuyết về nhạc tài tử nam bộ với nhạc sư Vĩnh Bảo . GSTS Trần Quang Hải, dân tộc nhạc học gia của trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS) thường xuyên liên lạc với nhạc sư Vĩnh Bảo qua thơ từ, điện thoại để học hỏi thêm về bài bản và nguồn gốc đờn ca tài tử.

–         Năm 1998-1999, trường Colette ở TP Hồ Chí Minh mời ông dạy nhạc cổ truyền Việt Nam cho học sinh người Pháp .

–         Năm 2002, hãng dĩa OCORA (Pháp) đã phát hành một CD về cổ nhạc đờn tài tử nam bộ với nhạc sư Vĩnh Bảo, và ban nhạc đờn tài tử gồm nhạc sĩ Ba Tu  nhạc sĩ Sáu Tỵ, nhạc sĩ Hoàng Cơ Thụy.

–      Năm 2010, nhạc sư Vĩnh Bảo thuyết trình và minh họa về đờn ca tài tử miên Nam tại trung tâm Trần Văn Khê, quận Bình Thạnh, TP HCM

vinh bao tvk bisNhạc sư VĨNH BẢO nói chuyện và minh họa về đờn ca tài tử tại trung tâm Trần Văn Khê

  1. 2.     Người sáng tạo cây đàn tranh từ 16 lên 17, 19 và 21 dây

Nhạc sư đã sáng chế ra cây đàn tranh cải tiến từ thập niên 50, từ cây đàn tranh 16 dây loại nhỏ, thành đàn tranh có kích thước lớn hơn với 17, 19 và 21 dây rất tiện lợi để có thể đờn các loại “hơi, điệu” mà khi đờn không cần phải sửa dây , kéo nhạn . Sau 60 năm , cây đàn tranh này đã được chấp nhận và ngày nay , hầu hết các đàn tranh thấy ở Việt Nam đều có 17 dây .

vinhbao-pix[1]

Nhạc sư VĨNH BẢO với đờn tranh do ông sáng chế

 

3.SÁCH và DĨA HÁT PHÁT HÀNH

 

“Vietnam / Tradition du Sud” do hãng  dĩa OCORA phát hành, OCR 68, Paris Pháp, 1973, với nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo và GSTS Trần Văn Khê. (dĩa 30cm/33 vòng)

“South Vietnam / Entertainment Music” do hang dĩa Philips phát hành, 658028, collection UNESCO/Musical Sources, Amsterdam , Hà Lan, 1973 (dĩa 30cm/33 vòng)  (2)

“Vietnam / Tradition du Sud” do OCORA sản xuất , C580043, Paris, Pháp, 1993 (dĩa CD) với nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo và GSTS Trần Văn Khê

“South Vietnam / Entertainment Music” do hang AUVIDIS phát hành, D8049, Paris , Pháp (dĩa CD) với nhạc sư Vĩnh Bảo và GSTS Trần Văn Khê.

“Vietnam / Ensemble Nguyen Vinh Bao” do OCORA sản xuất , C 560160, Paris , Pháp, 2002,(dĩa CD)

 

“Thử tự học đàn tranh” do Trung tâm Văn Hóa Thông Tin của tỉnh Long An ấn hành, 229 trang , 2003 .

dvd-bia-3-thu-tu-hoc-dan-tranh-vinh-bao

     Đây là công trình nghiên cứu khoa học rất có giá trị về mặt sư phạm và nghệ thuật âm nhạc cổ truyền do nhạc sư Vĩnh Bảo đã dày công nghiên cứu chú trọng về hai mặt lý thuyết và thực tạp tự học đàn tranh. Có dĩa CD kèm theo để minh họa , cho nên rất dễ học, dễ hiểu. Với hai phương pháp ký âm (do re mi vv…) và ký hiệu riêng do nhạc sư sang tạo rất chính xác và khoa học. Có khoảng 100 bài bản từ các bài đàn tài tử  đến các bài trong cải lương từ dễ tới khó

“Thử tự học đàn tranh” do một nhóm học trò Việt Nam ở Hoa Kỳ sản xuất , 4 DVD bằng tiếng Việt do nhạc sư Vĩnh Bảo dẫn giải và minh họa, 2004, Hoa Kỳ

“Self taught Vietnamese Zither” do một nhóm học trò Việt Nam của nhạc sư Vĩnh Bảo ở Hoa Kỳ sản xuất, 3 DVD bằng tiếng Anh do nhạc sư Vĩnh Bảo giải thích và minh họa, 2004, Hoa Kỳ

 

  1. Giải thưởng

–         2005 : Giải thưởng ĐÀO TẤN do hội đồng  giải thưởng Đào Tấn khen tặng ông là người đã có nhiều cống hiến trong sự nghiệp, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hóa nghệ thuật dân tộc

vinh bao dao tan

–         2006: GSTS Nguyễn Thuyết Phong tại hội thảo dân tộc nhạc học thế giới lần thứ 51 tại thành phố Honolulu (Hawaii, Hoa Kỳ) qua bài tham luận “Considering the Fate of Tài tử Music : Nguyễn Vĩnh Bảo , the Last Guardian of the Tradition” (Nỗi quan tâm đến vận mạng của đờn ca tài tử : Nguyễn Vĩnh Bảo, người bảo vệ vau cùng của truyền thống) đã đề nghị tôn vinh nhạc sư Vĩnh Bảo là một trong sáu nhạc sư của thế giới là người có công đóng góp cho nhạc dân tộc và nổi tiếng nhứt trong xứ

NT Phong & NV Bao

GSTS Nguyễn Thuyết Phong và nhạc sư Vĩnh Bảo

–         2009 : xứ Pháp ban tặng ông huy chương văn học nghệ thuật (médaille des Arts et des Lettres) cấp bực “officier” . Ở Việt Nam chỉ có hai người thuộc cấp bực này là GSTS Trần Văn Khê và nhạc sư Vĩnh Bảo. Sự vinh danh này không chỉ dành riêng cho nhạc sư Vĩnh Bảo mà cho toàn bộ mộn đờn ca tài tử nam bộ (lời phát biểu của nhạc sư trong buổi gắn huy chương tại toà Tổng lãnh sự Pháp ở TH Hồ Chí Minh)

vinh bao huan chuong arts et lettres

Nhạc sư VĨNH BẢO nhân huân chương Nghệ thuật và văn học đứng giữa ông đại sứ Pháp và GSTS Nguyễn Thuyết Phong

–         2010 : trung tâm kỷ lục Việt Nam trao bằng kỷ lục Việt Nam cho nhạc sư Vĩnh Bảo về việc truyền dạy cổ nhạc Việt Nam và đàn tranh trên toàn thế giới qua phương pháp mạng trên vi tính

vinh-bao-ordi

Nhạc sư VĨNH BẢO dạy trên mạng

 

3.KẾT LUẬN

130815164031_vinh_bao_traditional_vietnamese_musician_640x360_bbc_nocredit

     Nhạc sư Vĩnh Bảo là một nhân vật đã sống trọn vẹn cuộc đời cho đờn ca tài tử nam bộ qua việc dạy học, diễn giảng , biểu diễn, đóng đàn và sang tạo nhạc cụ và các loại lên dây (tunings),cùng với kỹ thuật diễn tấu cũng như tư duy mỹ quan âm nhạc Việt Nam. Ông là “cây cổ thụ, đại thụ”,  là “báu vật sống” , là “gia tài âm nhạc cổ truyền” , là “hậu tổ của đờn ca tài tử” (theo GSTS Trần Văn Khê), là “nhạc sĩ toàn tài – đàn, dạy và đóng đàn – duy nhứt của Việt Nam và Thế giới “ (theo GS Trần Quang Hải).

 

Muốn biết thêm về hoạt động âm nhạc của nhạc sư Vĩnh Bảo và những thành quả được trong nước và hải ngoại khâm phục qua báo chí, các chương trình phát thanh, truyền hình Việt Nam và nước ngoài (Hoa Kỳ, Pháp, Anh quốc), xin mời xem các trang nhà sau đây :

https://tranquanghai1944.wordpress.com/category/nguyen-vinh-bao-2/

http://tranquanghai.com/c41-tieu-su-nhac-si.html

http://vinhbao.theonly1.net

(1) danh sách các nhạc sư cộng tác với nhạc sư Vĩnh Bảo trong hai cuồn băng do ông Nam Bình sản xuất năm 1969:

Đàn KÌM
HUỲNH VĂN SÂM (Sáu Tửng)
VỎ VĂN TIỀNG    
Năm VỈNH
DƯƠNG VĂN CƠ (Năm Cơ)
Đàn CÒ
HỒNG TẤN PHÁT (Hai Phát)
HÀ VĂN TÂN  (Chín Trích)
NGUYỂN THẾ HUYỆN
Đàn TAM
HỒNG TẤN PHÁT
Đàn TRANH
TRƯƠNG VĂN BẢY (Bảy Bá)
NGUYỂN VĨNH BẢO
 

tancogiaoduyen (Theo GSTS Trần Quang Hải)

http://www.cailuongvietnam.com/clvn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1557