Tag Archives: vọng cổ

TRẦN VĂN KHÊ : TỪ “DẠ CỔ HOÀI LANG” ĐẾN “VỌNG CỔ NHỊP 32”


TỪ “DẠ CỔ HOÀI LANG” ĐẾN “VỌNG CỔ NHỊP 32”

Vào những năm 10 của thế kỷ XX, trong giới Cải lương Tài tử các nghệ nhân bắt đầu nghĩ đến việc sáng tác những bài bản mới để làm phong phú hơn di sản những bài xưa để lại.

Từ năm 1917, tại Vĩnh Long, Kinh lịch Trần Quang Quờn (thường được gọi là thầy Ký Quờn) có sáng tác vài chục bài bản mới theo các hơi dùng trong đờn Tài tử và Cải lương như “Hiệp điệp xuyên hoa” nghĩa là một bầy bướm hút nhụy hoa, “Cứ hổ báo nhập trọng địa” (hơi Bắc) nghĩa là con hổ và con beo vào trong vùng nguy hiểm, “Dạ bán chung thinh” (hơi Ai Oán) nghĩa là nửa đêm nghe tiếng chuông chùa. Và mãi tới năm 1920, tại Bạc Liêu bài “Dạ Cổ Hoài Lang” được ra đời và mọi người đều công nhận bản này của cụ Cao Văn Lầu (thường được gọi là ông Sáu Lầu) sáng tác lời và nhạc.

Nhiều nhà nghiên cứu đã viết về xuất xứ bài Dạ Cổ Hoài Lang, lý do tác giả đặt bản nhạc và bài ca đó và bài được ra đời đúng năm nào. Tôi chưa có đủ điều kiện để xác nhận hai điểm đó. Tôi chỉ trích ra một số ý kiến và thử xem ý nào có thể gần sự thật nhất theo suy nghĩ của tôi nhưng tôi thấy rõ vì sao mà bài “Dạ Cổ Hoài Lang” được nhiều người ưa thích, phổ biến rộng rãi và được phát triển không ngừng đến ngày nay.

Trong bài tham luận này, tôi sẽ chia ra hai phần:

– Phần thứ nhứt: Xuất xứ và phát triển bài “Dạ Cổ Hoài Lang”

– Phần thứ nhì: Tại sao bài “Dạ Cổ Hoài Lang” được phổ biến rộng rãi

  1. XUẤT XỨ VÀ PHÁT TRIỂN BÀI “DẠ CỔ HOÀI LANG”
  2. Xuất xứ bài “Dạ Cổ Hoài Lang”:

Đến nay, rất nhiều người đều cho rằng ông Sáu Cao Văn Lầu là tác giả bài “Dạ Cổ Hoài Lang”. Về năm sinh của tác giả và năm ra đời của bài “Dạ Cổ Hoài Lang” cũng có nhiều điều khác biệt. Cho nên xuất xứ của bài này vẫn còn nằm trong nhiều giả thuyết. Nhưng theo chúng tôi thì ông Sáu Lầu sanh tại xã Thuận Lễ (nay là Thuận Mỹ), tỉnh Tân An, năm 1890. Lên năm tuổi, ông theo cha về Bạc Liêu. Năm 21 tuổi ông cưới vợ. Tám năm sau vì vợ không sanh con, nối dòng, mẹ của ông buộc ông phải ly dị. Năm 29 tuổi, xa vợ buồn, ông đặt bài “Hoài Lang” (Nhớ bạn). Ông Bảy Kiên đề nghị thêm hai chữ Dạ Cổ (Nghe tiếng trống ban đêm) – Theo bài của Thanh Cao phỏng vấn Ông Sáu Lầu đăng trong báo Dân Mới.

  1. Phát triển của bài “Dạ Cổ Hoài Lang”:

Lời ca của Bài “Dạ Cổ Hoài Lang”, nhịp đôi có nhiều “dị bản”. Thông thường nghệ sĩ Cải lương ca bài sau đây và coi đó là lời ca chánh thức:

  1. Từ là từ phu tướng
  2. Báu kiếm sắc phán lên đàng
  3. Vào ra luống trông tin nhạn
  4. Năm canh mơ màng
  5. Em luống trông tin chàng
  6. Ôi ! gan vàng thêm đau
  7. Đường dầu xa ong bướm
  8. Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
  9. Còn đêm luống trông tin bạn
  10. Ngày mỏi mòn như đá Vọng Phu
  11. Vọng phu vọng (?) luống trông tin chàng
  12. Lòng xin chớ phụ phàng
  13. Chàng  chàng có hay
  14. Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
  15. Biết bao thuở đó đây sum vầy
  16. Duyên sắc cầm đừng lợt phai.
  17. Là nguyện – cho chàng
  18. Hai chữ an – bình an
  19. Trở lại – gia đàng
  20. Cho én nhạn hiệp đôi.

Khi Phạm Duy chép lời bài “Dạ Cổ Hoài Lang” có một vài chỗ thay đổi như:

Câu 5: Luống trông tin chàng

Và trong một dị bản khác thì chép:

Câu 5: Trông luống trông tin chàng

Tôi không vội khẳng định là lời ca nào đúng nhứt. Nhưng đứng về mặt ngôn ngữ thì có nhiều điều làm tôi phải suy nghĩ. Tôi xin tuần tự đưa ra những nhận xét của tôi:

  1. Từ là từ phu tướng (không có gì đổi)
  2. Báu kiếm sắcphán lên đàng: theo tôi chữ “báu” là tiếng Nôm thường không ghép chung chữ “kiếm”. Nếu có ghép thì nói là “kiếm báu” vì thế mà hai chữ “bảo kiếm” (hay là “bửu kiếm”) theo tôi là đúng hơn. Chữ “sắc” là chiếu chỉ của nhà vua. “Phán” là quyết định của nhà vua nhưng thường trong các truyện Tàu dịch ra tiếng Việt thường là những câu “sau khi nghe triều thần tâu Vua thì Vua phán rằng…”. Thường dùng chữ “phán” là có mặt ông Vua mới dùng. Còn chữ “phong” là phong tước, phong lộc, ban ơn cho triều thần. Trong từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh có cụm từ “sắc phong” mà không có “sắc phán”. Huống chi câu nhạc là “líu, công, líu, công, xê, xàng” nếu chữ đàn “liu” để ca chữ “sắc” thì chữ “cống” phải thấp hơn chữ “liu” một chút mới dễ ca. Bởi vậy “sắc phong” dễ ca hơn “sắc phán”.

Nhưng xét ra ngôn ngữ thì tôi có một nhận xét khác: chữ “lên đường” đúng giọng người miền Nam hơn “lên đàng” là ngôn ngữ thường dùng ở miền Trung hay miền Bắc. Như cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đặt ra bài “Lên Đàng” là lúc ông đang ở tại Hà Nội. Trong ngôn ngữ, ông có dùng một số từ miền Bắc trong một số bài ca. Một số nhạc sĩ miền Nam trong đó có Tôn Thất Lập, trong những bài “Hát cho đồng bào tôi” có bài “Xuống đường”. Nhưng nếu dùng chữ “đường” thì không cùng một vần với những câu sau:

Luống trông tin chàng

Năm canh mơ màng…

Và dài theo phía dưới:

Phụ nghĩa tào khang

Chớ phụ phàng v.v

  1. Vào ra luống trông tinnhạn: Về thanh giọng và câu ca thì “tin nhạn” không ổn vì theo bản đờn, chữ chót là chữ , nếu để chữnhạn, khi ca cho đúng thì nghe ra chữ Xự. Nếu muốn dùng chữ nhạn thì nên đọc là nhàn. Theo dị bản “vào ra luống trông tin chàng” cũng có nghĩa và cũng dễ ca.

Hai chữ “vào ra” cũng không thực đúng giọng miền Nam. Trong những bài ghi cho quần chúng thường có câu “vô ra thong thả”. Khi đặt tên con cũng dùng chữ “vô ra” bằng chứng là tên hai nhạc sĩ đồ đệ của ông Nhạc Khị là “Bảy Vô”, “Tám Ra” nhưng chữ “vào ra” lại dễ ca hơn “vô ra” vì câu đờn là hò, xê, hạp với “vào ra” hơn “vô ra”.

  1. Năm canh mơ màng:có dị bản ghi “đêm năm canh mơ màng”. Hai câu đều được cả.
  2. Emluống trông tin chàng: có dị bản “trông luống trông tin chàng” thì theo tôi câu sau đúng phong cách người Việt hơn vì vào những năm 1919 và 1920 ít có người vợ nào xưng “em” với chồng mà thường nói “tôi” với “mình”.
  3. Ôi gan vàngthêm đau: có dị bản “ôi tim vàng thêm đau”. Theo tôi, khi đau khổ, người Việt thường nói “bầm gan tím ruột” nên tôi thấy dị bản “ôi gan vàng quặn đau” thì chữ “quặn đau” dễ ca hơn “thêm đau” vì câu đờn là “liu, liu, xàng, xệ, liu”. Vậy chữ “quặn đau” gần với chữ đờn hơn.
  4. Đường dầu xaong bướm: có dị bản để “Đường dù xa ong bướm”. Chữ “dù” là không phải tiếng “dầu” của miền Nam và “ong bướm” thường chỉ mối tình không chính thức như “ong bướm hút nhụy hoa”. Vợ chồng xa nhau không ai nói “ong bướm xa nhau” mà có thể dùng “loan phụng”. Vì vậy mà câu trong dị bản “chàng dầu say ong bướm” tức là trong khi đi xa nếu chàng có vài mối tình vụn vặt thì cũng xin “đó đừng phụ nghĩa tào khang”. Theo tôi phù hợp hoàn cảnh của người vợ trong bài ca.
  5. Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang:Không thay đổi
  6. Cònđêm luống trông tin bạn: Chữ “còn” là tiếng đệm. Các dị bản khác chép lại: “Đêm luống trông tin nhạn” hay “Đêm luống trông tin bạn” đều đúng cả. Theo tôi, chữ “tin nhạn” phù hợp hơn chữ “bạn” vì trong xã hội Việt Nam cổ người vợ không dám xem chồng như bạn. Thường dùng chữ “phu quân”. Và chữ “nhạn” còn có nghĩa mong tin người ở xa nhắn tin về.
  7. Ngày mỏi mòn như đá vọng phu
  8. Vọng phu vọng luống trông tin chàng: hai câu này không đổi
  9. Lòng xinchớ phụ phàng: có dị bản ghi “Xin chàng chớ phụ phàng” thì câu sau rõ nghĩa hơn.
  10. Chàng chàng có hay: có dị bản “chàng ôi chàng có hay”. Hai câu đều được.
  11. Đêm thiếp nằm luống những sầu tây:Tất cả các bản đều giống nhau.
  12. Biết bao thuở đó đây sum vầy?
  13. Duyênsắc cầm đừng lợt phai: Chữ sắc nên viết lại thành sắt, vì đây là đờn cầm, đờn sắt chứ không phải sắc diện, sắc đẹp. Đa số đều giống nhau chỉ có trong dị bản của Phạm Duy hai chữ chót là “tình thương” không cùng vần với “sầu tây”, “sum vầy”. Vì thế tôi nghĩ rằng “Duyên sắt cầm đừng lợt phai” đúng hơn.
  14. Là nguyện cho chàng:có dị bản chép “Thiếp nguyện cho chàng”. Hai câu đều được. Nhưng câu “Là nguyện cho chàng” gần câu đờn hơn.
  15. Hai chữ bình an:Có dị bản “Đặng chữ bình an” theo tôi câu sau có chữ “đặng” không phải cách nói người miền Nam “được chữ bình an”. Vì vậy mà câu “hai chữ bình an” dễ ca hơn.
  16. Trở lại gia đàng
  17. Cho én nhạn hiệp đôi.

Sau những nhận xét trên tôi đề nghị các bạn xem lại dị bản sau đây rồi nên có một Ủy ban để quyết định dị bản nào là phù hợp với tinh thần của bản “Dạ Cổ Hoài Lang” và đúng với ngôn ngữ người Việt thời đó:

  1. Từ là từ phu tướng
  2. Bửu kiếm sắc phong lên đàng
  3. Vào ra luống trông tin nhàn
  4. Năm canh mơ màng
  5. Trông luống trông tin chàng
  6. Ôi gan vàng quặn đau !
  7. Chàng dầu say ong bướm
  8. Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
  9. Đêm luống trông tin nhạn
  10. Ngày mỏi mòn như đá Vọng Phu
  11. Vọng phu vọng luống trông tin chàng
  12. Xin chàng chớ phụ phàng
  13. Chàng ơi ! Chàng có hay ?
  14. Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
  15. Biết bao thuở đó đây sum vầy ?
  16. Duyên sắt cầm đừng lợt phai.
  17. Là nguyện cho chàng
  18. Hai chữ an bình an
  19. Trở lại gia đàng
  20. Cho én nhạn hiệp đôi.

Năm 1922, ông Phạm Công Bình đặt vở tuồng “Tối độc phụ nhân tâm” trong đó bài “Dạ Cổ Hoài Lang” theo nhịp hai.

Năm 1925, theo ông Trương Bỉnh Tòng (“Nhạc tài tử, nhạc sân khấu cải lương”), ông Huỳnh Thủ Trung, tự Tư Chơi sáng tác lời ca cho bài “Vọng cổ” nhịp tư mang tên” tiếng nhạn kêu sương”:

“Nhạn đành kêu sương nơi biển Bắc

Én cam khóc hận dưới trời Nam”

Ông Bùi Trung Tín, dẫn theo lời của ông Giáo Thinh, thì năm 1927, môt thầy đồng nghiệp với ông Giáo tại Vĩnh Long sáng tác năm 1927 bài “Con nhạn kêu sương” tên khác mà lời giống như lời trong bài “Tiếng nhạn kêu sương” Vọng cổ nhịp tư.

Năm 1935, Năm Nghĩa ca bài “Văng vẳng tiếng chuông chùa” Vọng cổ nhịp 8. Ngoài ra có bài “Gió bấc lạnh lùng”.

Năm 1938, Nhạc sĩ Vĩnh Bảo đờn cho cô Năm Cần Thơ ca Vọng cổ nhịp 16. Dĩa Beka thâu Vọng cổ nhịp 8, nhịp 16. Sáu Hải (Lê Kim Hải) chuyên đặt lời cho Vọng cổ nhịp 16 như bài “Bầu tâm sự”, “Tình cao thượng” do cô Ba Bến Tre ca. Các bài khác như “Gió bấc lạnh lùng”, “Tôi khóc đã mấy năm rồi” cũng rất nổi tiếng.

Năm 1946 cô Tư Sạng ca bài “Mẹ dạy con” Vọng cổ 16.

Năm 1948 Út Trà Ôn ca bài “Tôn Tẫn giả điên” Vọng cổ nhịp 16. Ngoài Út Trà Ôn ra các nghệ sĩ Tám Thưa, Bảy Bé cũng là những người ca Vọng cổ hay.

Năm 1955 Vọng cổ 32 được phổ biến rộng rãi tới ngày nay.

  1. TẠI SAO BÀI VỌNG CỔ ĐƯỢC PHỔ BIẾN RẤT RỘNG RÃI?
  2. Nét nhạc của bài “Dạ cổ hoài lang” có mấy chỗ giống như nét nhạc của bài “Hành Vân” đang được thịnh hành. Không quá đơn giản và quen thuộc như “Hành Vân”, mà cũng không dài như “Tứ Đại” và những bài oán trong đờn tài tử. Bài “Dạ Cổ Hoài Lang” lại mang hơi của cách ru em miền Nam nên dễ đi vào lòng người.
  3. Lời ca bài “Dạ Cổ Hoài Lang” được những người có chồng đi đánh giặc bên Pháp rất thích vì trong bài ca có cảnh chồng ra biên ải và vợ thì ở lại nhà.
  4. Bài “Dạ Cổ Hoài Lang” vừa đặt ra đã có nhiều gánh Cải lương giới thiệu nó, có nhiều nghệ sĩ danh tiếng ca Vọng cổ cô Hai Đá, cô Ba Bến Tre, cô Bảy Phùng Há, Năm Châu và Tư Út.
  5. Bắt đầu có dĩa hát như hãng Pathé-Phono; Beka; Columbia in thành dĩa, công chúng có thể mua về nghe Vọng cổ.
  6. Các Đài phát thanh được thành lập và đã phát trên sóng những bài Vọng cổ.
  7. Bản thân nhạc Miền Nam đã có tính cách động, có thể biến hoá dễ dàng theo phong cách “chân phương hoa lá”. Bài “Dạ Cổ Hoài Lang” nhờ đó mà phát triển rất mau.

Kết luận:

Nhờ nét nhạc phù hợp với cách ru em và đờn ca miền Nam, nhờ lời ca hợp với hoàn cảnh của nhiều người chinh phụ có chồng đi lính sang Pháp, và nhứt là nhờ ngoại cảnh thuận tiện như: việc thành lập Cải lương; kỹ nghệ dĩa hát và Đài phát thanh phổ biến, nên bài “Dạ Cổ Hoài Lang” như diều gặp gió, đã được phổ biến và phát triển rất mau. Khi bài “Dạ Cổ Hoài Lang” trở thành “Vọng cổ nhịp tám” đến sau, thì đã trở nên một sáng tác “tập thể”, chớ không còn là sáng tác riêng của cụ Cao Văn Lầu.

Dầu sao, uống nước vẫn nhớ nguồn, chúng ta vẫn nhớ ơn người sanh ra bài “Dạ Cổ Hoài Lang” lần đầu. Ngoài cụ Cao Văn Lầu, có lẽ cũng nên nhắc lại tên vài người đã hợp sức với cụ Sáu Lầu đổi tên “Dạ Cổ Hoài Lang” và đặt lời ca.

Kính chúc Hội thảo thành công.

Bình Thạnh, ngày 22-07-2009

GSTS Trần Văn Khê

TRẦN PHƯỚC THUẬN : BÀN VỀ XUẤT XỨ VÀ Ý NGHĨA CỦA TỪ “VỌNG CỔ”


NGUỒN GỐC VỌNG CỔ
—o0o —
1
Bàn về xuất xứ và ý nghĩa của từ “Vọng cổ” 
 
Trần Phước Thuận 

Vọng cổ là một tên gọi rất quen thuộc với người Việt Nam, nhất là ở Bạc Liêu, ai cũng biết nó là một bản nhạc phổ thông nhất và tiêu biểu nhất trong cổ nhạc Nam Bộ. Vọng cổ hiện nay còn là đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu âm nhạc và thực tế đã có nhiều sách vở, nhiều cuộc hội thảo khoa học đề cập đến. Tuy nhiên tên gọi Vọng cổ từ đâu mà có và ý nghĩa đích thực của nó là gì thì đến nay vẫn chưa có lời đáp thỏa đáng. Lý giải vấn đề này có 2 ý kiến tiêu biểu. Một là, ông Cao Kiến Thiết [1] cho rằng: Theo ba tôi kể thì năm 1919 thầy Thống tức ông Trần Xuân Thơ [2] người miền Bắc, giỏi chữ Nho, ngụ tại An Trạch Đông, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đã đề nghị ba tôi thay chữ Dạ cổ (tiếng trống đêm) thành Vọng cổ (tiếng trống vọng lại). Lý do là ba tôi lấy điển tích “Tô Huệ chức cẩm hồi văn” làm nội dung của bài ca và bản nhạc. Bởi lòng Tô Huệ khi chức Cẩm hồi văn thì nghe tiếng trống đánh từ xa vọng lại, chứ không phải là tiếng trống đêm, cho nên chữ Dạ cổ thì tối nghĩa còn chữ Vọng cổ thì càng làm rõ điển tích này đã chọn. Và trong cuộc họp đó ba tôi đã đồng ý đổi chữ Dạ cổ hoài lang thành Vọng cổ hoài lang, nghĩa là theo tiếng trống vọng lại mà nhớ chồng. Nhưng lúc đó bản Dạ cổ hoài lang đã được phổ biến rộng rãi ở nhiều nơi, nên phải mất thời gian khá lâu mới thống nhất được tên gọi “Vọng cổ”. Đây là lời phát biểu của ông Cao Kiến Thiết trong cuộc hội thảo khoa học về Cao Văn Lầu tổ chức tại Bạc Liêu năm 1989 [3].

Hai là, nhạc sĩ Trần Tấn Hưng [4] nói rằng: “Chính soạn giả Trịnh Thiên Tư [5] trong buổi lễ giỗ tổ cổ nhạc ở Bạc Liêu năm 1935 đã đề nghị với ông Sáu Lầu và mọi người như sau: Bản nhạc gốc 20 câu của ông Sáu vẫn nên gọi là Dạ cổ hoài lang vì đó chính là cái tên gốc, cái tên lịch sử không nên sửa đổi. Hơn nữa nhớ chồng lúc ban đêm là điều thích hợp với người chinh phụ, lại hợp với nội dung bản nhạc của ông Sáu. Chúng ta không thể lấy ý nghĩa và hoàn cảnh của nàng Tô Huệ như thầy Thống đã nói lúc trước để sửa đổi cái tên Dạ cổ hoài lang, vì đây là hai tác phẩm khác nhau, cũng như không thể lấy Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để sửa Truyện Kiều của Nguyễn Du được. Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay bản Dạ cổ hoài lang đã được biến thể sang nhịp 8, vậy cũng nên dùng 2 chữ Vọng cổ để đặt tên cho các bản đã được canh tân này. Nhưng Vọng cổ do tôi đề nghị hôm nay cũng không theo nghĩa “tiếng trống vọng lại” mà lại mang ý nghĩa “trông về truyền thống xưa”, vì các bản nhịp 8 tuy chữ đàn đã khác xa bản gốc, nhưng vẫn từ Dạ cổ hoài lang mà ra, vì vậy “truyền thống xưa” ở đây chính là bản Dạ cổ hoài lang. Ý kiến của ông Trịnh Thiên Tư được ông Sáu cùng mọi người chấp thuận và hoan nghênh nhiệt liệt. Và cũng từ đó đến nay mọi người đều gọi bản nhạc gốc là Dạ cổ hoài lang và gọi chung các bản được canh tân là Vọng cổ”.

Như vậy, từ Vọng cổ được xuất hiện do lời đề nghị của hai ông Trần Xuân Thơ và Trịnh Thiên Tư, nhưng từ Vọng cổ được sử dụng là của ông Tư hay ông Thơ ? Muốn giải quyết vấn đề này ắt hẳn phải xác định cái nghĩa đang được sử dụng của nó, nói cách khác bản Vọng cổ ngày nay – cái tên của nó mang ý nghĩa gì ?

Như trên đã nói từ Vọng cổ (望 鼓) của ông Trần Xuân Thơ, thì có nghĩa là “tiếng trống vọng lại” ? còn từ Vọng cổ (望 古) của ông Trịnh Thiên Tư có nghĩa là “trông về xưa”. Như vậy về phần nghĩa của hai từ này không dính dáng với nhau nhưng phần âm lại đồng âm nên thường hay nhầm lẫn. Muốn xác định từ Vọng cổ mang ý nghĩa nào, tốt nhất là dùng tên gốc của nhạc bằng chữ Hán để chứng minh và dùng phương pháp so sánh để giải quyết vấn đề này?

Hiện nay có một bản rất phổ thông gọi là Tân cổ giao duyên (新 古 交 緣), bản được thành lập do phương pháp gối đầu Vọng cổ của soạn giả Mộng Vân và sau đó được nhiều soạn giả khác thực hiện bằng cách kết hợp giữa tân nhạc và bản Vọng cổ. Chúng tôi tạm mượn cái tên Tân cổ giao duyên này để làm cơ sở để truy tìm ra cái nghĩa đang được sử dụng của từ Vọng cổ. Tạm nêu ra hai trường hợp như sau:

1. Nếu từ cổ ở đây có nghĩa là cái trống thì Tân cổ giao duyên (新 鼓 交 緣) sẽ được hiểu là “cái trống mới giao duyên”. Nghĩa là không phù hợp với kết cấu và nội dung của bản Tân cổ giao duyên. Nếu cố hiểu là “mới” và “cái trống” giao duyên với nhau lại càng không có ý nghĩa gì cả.

2. Nếu từ cổ ở đây có nghĩa là xưa thì Tân cổ giao duyên (新 古 交 緣) theo nghĩa đen là “mới” và “cũ” giao duyên, nghĩa bóng muốn nói tân nhạc và cổ nhạc cùng hòa hợp, thật đúng với kết cấu và nội dung bản Tân cổ giao duyên.

Rõ ràng là trường hợp thứ nhất không hợp lý. Và như vậy, cổ ở đây được xác định là xưa thì Vọng cổ phải mang nghĩa “trông về xưa” hay “chiêm ngưỡng truyền thống xưa”, ý nghĩa này là do ông Trịnh Thiên Tư đề xuất.

Tóm lại, Từ Vọng cổ có xuất xứ tại Bạc Liêu và được sử dụng từ tháng 08 năm ất Hợi (1935) do lời đề nghị của soạn giả Trịnh Thiên Tư.

Căn cứ vào lời phát biểu của ông Tư và xét theo thực tế thì Dạ cổ hoài lang và Vọng cổ là hai bản khác nhau, nhưng Vọng cổ do Dạ cổ hoài lang mà có, vì vậy Vọng cổ phải mang ý nghĩa “trông về truyền thống xưa”.

Chú thích :
(1) Con trai lớn của ông Cao Văn Lầu.
(2) Thầy tuồng đoàn hát bộ của ông Ba Xú, một trong những đoàn hát đầu tiên ở Bạc Liêu.
(3) Từ Dạ cổ hoài lang, Nxb. Mũi Cà Mau, 1992, tr.84-85.
(4) Nhạc sĩ Năm Nhỏ (1921-1982), học trò nhỏ nhất của Nhạc Khị, cũng là người thừa kế thờ Tổ Cổ nhạc Bạc Liêu sau khi thầy qua đời.
(5) Tác giả sách Ca nhạc cổ điển – 1962, nhà ở xã Vĩnh Mỹ, huyện Vĩnh Lợi tỉnh Bạc Liêu, ông cũng là bạn đồng môn với nhạc sĩ Cao Văn Lầu.


2
DẠ CỔ HOÀI LANG

Sáng tác: Cao Văn Lầu

Bài Dạ cổ hoài lang ra đời trong cái nền của dòng nhạc tài tử Nam Bộ càng làm cho dòng nhạc tài tử Nam Bộ phong phú hơn, gắn bó thuyết phục hơn với mọi người, mặc dù bài ”Dạ cổ hoài lang ” sanh sau đẻ muộn nhưng lại sớm chiếm được ưu thế, cảm tình trong giới và khán thính giả mộ điệu. Tính độc đáo ở đây là sự biến đổi phát triển không ngừng của bài Dạ cổ hoài lang, từ nhịp 4 chuyển sang nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32 và 64 chính là bài vọng cổ bây giờ.


Ký âm cổ nhạc: (theo loại đàn dây Bắc)

1

Từ là từ phu tướng, Hò lìu xang xê cống

2

Báu kiếm sắc phán lên đàng. Líu cống líu cống xê xang

3

Vào ra luống trông tin chàng. Xừ xang xê hò líu cống xê xang hò

4

Năm canh mơ màng. Liu xế xang xự xề xang lìu hò

5

Em luống trông tin chàng, Xừ liu xáng ũ liu cống xề

6

Ôi gan vàng quặng đau. (í a) Liu xáng xàng xề liu xề xáng ú liu

 

   

7

Đường dù say ong bướm, Hò lìu xang xang xế cống

8

Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang. Xê xê líu xừ, líu lĩu xừ xang

9

Đêm luống trông tin bạn, Xừ xang xế, líu xê xang xư’’

10

Ngày mỏi mòn như đá Vọng phu. Xê líu xừ, líu lĩu xừ xang

11

Vọng phu vọng luống trông tin chàng. Xừ, xê líu xừ, líu cống xê, líu hò

12

Sao nỡ phũ phàng … Liu xề xang xự cống xê xang lìu hò

 

   

13

Chàng là chàng có hay? Xừ xang xừ cống xế

14

Đêm thiếp nằm luống những sầu tây. Xê líu xừ, líu lĩu xừ xang

15

Bao thuở đó đây sum vầy, Xừ xang xề hò líu cống xế xang hò

16

Duyên sắc cầm lợ phai. (í a) Lưu xáng xàng, xề liu xề xáng ú liu

 

   

17

Là nguyện cho chàng Hò xự cống xê xang hò

18

Hai chữ an bình an. Xê líu xừ, líu lĩu xừ xang

19

Trở lại gia đàng, Xừ xang xế, hò líu cống xê xang hò

20

Cho én nhạn hiệp đôi. (í a) Liu xáng xàng xề liu xề xáng ú liu

  Ký âm: Vũ Đức Sao Biển.

Bản Dạ cổ hoài lang sử dụng thang âm lên tới 7 cung, thuộc hệ thang âm Ai, Oán.

  

Nhạc Pháp 

Bài “Dạ cổ hoài lang” có 20 câu, hai nhóm đầu mỗi nhóm 6 câu, hai nhóm sau mỗi nhóm 4 câu. Mỗi câu trong bài có 2 nhịp, gọi là nhịp đôi.

Ngay từ thời chỉ mới có nhịp đôi, bản “Dạ cổ hoài lang” đã được đặt lời khác. Việc đặt (ngôn ngữ nhạc Việt gọi là “soạn”) lời ở các bản cổ nhạc không giống như đặt lời tân nhạc. Một bài tân nhạc khi đặt lời thì theo sát câu nhạc của lời trước, tức là theo đúng hay rất sát nốt nhạc trong mỗi stanza. Đặt lời một bản cổ nhạc giống như làm bài thơ họa: Theo đúng nốt nhạc (ngôn ngữ nhạc Việt gọi là chữ nhạc) ở cuối câu (chỗ dứtnhạc) và theo giọng bình – trắc ở những chữ đó.

Câu 2 nhịp, tuy nhiên, không thỏa mãn được nhu cầu của các nhà soạn nhạc. Bản nhạc (bản vọng cổ luôn gọi là “bản”, không gọi là “bài”) được tăng lên 4 nhịp, tức nhịp tư, trong khoảng thời gian 1927-1935. Sau đó tăng lên nhịp tám năm 1936-1945, và cũng khoảng thời gian này được mang tên bản “Vọng cổ“. Từ nhịp tám lên nhịp 16, 32, 64, 128,… Bản thông dụng nhất hiện nay là bản nhịp 32.

Bản vọng cổ nhịp đôi, nhịp tư chỉ theo sát chữ nhạc ở chỗ dứt câu. Nhưng khi bản nhạc có nhiều nhịp, phải theo đúng chữ nhạc ở một số nhịp nhất định.

Thí dụ, câu 1 của bản nhịp đôi chỉ cần dứt ở chữ cống, theo chuẩn của bản Dạ cổ hoài lang.

Nhưng câu 1 của bản nhịp 32 phải có chữ hò ở nhịp 16, hò ở 20, xê ở 24, xang ở 28, cống ở 32. Ở bản 32 nhịp, tất cả các câu đều có xề (gọi là “xuống” xề) ở nhịp 4. (Trên thực tế, bản 32 nhịp thường câu 1 và 4 ngắn, chỉ có 16 nhịp sau, còn 16 nhịp đầu nói thơ hoặc nói lối hoặc xen tân nhạc.

Khi câu nhạc còn ngắn, bản nhạc chỉ gieo vần ở cuối câu. Lên tới nhịp 32, 64, các soạn giả bắt đầu gieo vần liên kết bên trong mỗi câu.

Nguồn: WIKIPEDIA.COM

LÊ PHƯỚC : ĐIỀU KỲ DIỆU CỦA BÀI VỌNG CỔ


 

Điều kỳ diệu của bài vọng cổ
By Lê Phước

Trong nghệ thuật sân khấu cải lương Nam Bộ, có nhiều mỹ danh gắn liền với những nghệ sĩ tài hoa: Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn, Vua ca vọng cổ hài Văn Hường, Vua xàng xê Minh Chí, Hoàng đế đĩa nhựa Tấn tài, Nữ vương sầu nữ Út Bạch Lan, Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga, Nữ hoàng kiếm hiệp Mỹ Châu… Đối với tất cả các nghệ sĩ thành danh này, một trong những thước đo chính để trao vương miện cho họ chính là tài năng ca vọng cổ.

Nói cách khác, trên sân khấu cải lương, bản vọng cổ được xem là bài bản “xương sống”. Ra đời cách đây hơn 90 năm, đến hiện tại dù cải lương đang hồi khó khăn, nhưng bản vọng cổ dường như vẫn khỏe mạnh và tiếp tục phát triển. Vì sao thế? Bởi vì bản vọng cổ có những điều kỳ diệu của nó.
Từ cuộc tình chung thủy đến bản Dạ cổ hoài lang

Bài tổ của bản vọng cổ chính là bài Dạ cổ hoài lang của nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Sự ra đời của bài ca này gắn với một cuộc tình son sắt.

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu (tức Sáu Lầu) sinh năm 1892 tại rạch Cây Cui, thôn Thuận Lễ, tổng Thạnh Hội Hạ, phủ Tân An, tỉnh Gia Định, bây giờ là Mỹ Thuận, Tân An, Long An. Năm lên 6 tuổi, gia đình của cậu bé Sáu Lầu cùng với 19 gia đình khác dắt dìu nhau về lập nghiệp tại Gia Hội, Bạc Liêu. Ở đó, cậu bé Sáu Lầu đã thọ giáo với nhạc sĩ Hai Khị, một nhạc sĩ đàn ca tài tử có tiếng khắp lục tỉnh Nam Kì lúc bấy giờ.

Năm 21 tuổi, chàng thanh niên Sáu Lầu được mai mối kết hôn với cô Trần Thị Tấn. Dù trong cảnh nghèo khó, nhưng đôi vợ chồng son vẫn yêu thương nhau rất mực. Số phận trớ trêu, tám năm ân ái mà họ vẫn chưa có được mụn con nào. Theo đúng truyền thống phong kiến “Tam niên vô tử bất thành thê” (cưới nhau đã ba năm mà không thể sinh con thì không được xem là vợ nữa), mẹ ông đã buộc ông phải trả vợ.

Nếu phải chìu lòng thân mẫu vì cái câu ác nghiệt “Tam niên vô tử”, thì chàng thanh niên Sáu Lầu cũng hiểu rõ cái câu “Nhất nhật phu thê bá dạ ân” (Một ngày là vợ chồng thì trăm năm ân nghĩa). Bởi thế, Sáu Lầu ngày đêm thương nhớ vợ hiền, mong mỏi ngày đoàn tụ. Trong tâm trí, ông nghĩ rằng vợ ông chắc cũng đang chịu cảnh sầu thảm nhớ nhung giống như ông. Cám cảnh thay cho người vợ tuổi mới đôi mươi buộc phải xa chồng, chịu bao tiếng đời ác nghiệt, để rồi đêm đêm mong ngống chồng mòn mõi như thiếu phụ trông ngóng chinh phu ngoài vạn lý xa xôi.

Tức cảnh sinh tình, người chồng Sáu Lầu đã viết nên một bài ca mang tên là “Hoài Lang” (Trông chồng), như để nói dùm nổi lòng của người vợ tào khang. Sau đó ông Bảy Kiên đề nghị thêm vào chữ “Dạ cổ” (Tiếng trống đêm khuya). Và thế là bài “Dạ cổ hoài lang” (Đêm nghe tiếng trống nhớ thương chồng) đã ra đời.

Nỗi lòng ông đã được người mẹ vợ cảm thông nên bà âm thầm tạo điều kiện cho hai người được bí mật gặp nhau. Trời như thương kẻ có lòng, chính những lần gặp gỡ âm thầm đó, vợ ông đã có mang. Gia đình ông Sáu Lầu vui mừng đến đón dâu trở lại. Vợ chồng đoàn tụ trong niềm hân hoan. Sau đó bà sinh cho ông đứa con trai đầu lòng trong tổng số bảy người con, năm trai, hai gái sau này.

Ông Sáu Lầu mất ngày 13 tháng 8 năm 1976 tại Bạc Liêu. Mộ hai vợ chồng ông hiện được đặt cạnh nhau như một minh chứng cho cuộc tình thủy chung gắn bó của đôi vợ chồng nghèo dẫn đến sự ra đời một bài bản bất hủ của sân khấu cải lương Nam Bộ.

Từ tác phẩm cá nhân trở thành sáng tác tập thể

Bài “Dạ cổ hoài lang” được nhạc sĩ Sáu Lầu viết vào năm 1919. Khi ấy bài này có 22 câu nhịp đôi. Theo soạn giả Viễn Châu-danh cầm Bảy Bá, ông Sáu Lầu đã bỏ hai câu cuối để còn 20 câu nhịp đôi. Từ nhịp đôi lúc mới vừa được sáng tác, bài “Dạ cổ hoài lang” dần phát triển theo thời đại để đáp ứng nhu cầu sáng tạo và thưởng thức của khán giả.

Theo giáo sư Trần Văn Khê, năm 1922, ông Phạm Công Bình đặt vở tuồng “Tối độc phụ nhân tâm” trong đó có bài “Dạ cổ hoài lang” nhịp hai. Năm 1925, ông Huỳnh Thủ Trung, tức Tư Chơi, sáng tác lời ca cho bài “Vọng cổ” nhịp tư mang tên “Tiếng nhạn kêu sương” trong đó có đoạn:

“Nhạn đành kêu sương nơi biển Bắc
Én cam khóc hận dưới trời Nam”.

Đến năm 1935, ông Lư Hòa Nghĩa, tức nghệ sĩ Năm Nghĩa, ca bài “Văng Vẳng tiếng chuông chùa” vọng cổ nhịp 8. Năm 1938, nhạc sĩ Vĩnh Bảo đàn cho cô năm Cần Thơ ca vọng cổ nhịp 16. Đĩa Beka thâu vọng cổ nhịp 8, nhịp 16. Khoảng đầu thập niên 50 của thế kỷ trước. Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn đã khởi đầu ca bài vọng cổ nhịp 32 mà đa số nghệ sĩ cải lương hiện nay vẫn còn hát. Vọng cổ nhịp 64 và 128 cũng bắt đầu phát triển, nhưng không mấy phổ biến.

Đi vào chi tiết về ngày tháng, tên họ của các nhạc sĩ, nghệ sĩ góp phần phát triển cho bản vọng cổ từ nhịp 2 đến nhịp 128, hiện còn khá nhiều điểm chưa tương đồng giữa các nhà nghiên cứu cổ nhạc. Thế nhưng, có một điều chắc chắn là, bản “Dạ cổ hoài lang” của cụ Sáu Lầu ngày ấy đã không ngừng lớn lên theo năm tháng, đặc biệt là có biết bao nhạc sĩ, nghệ sĩ đã đóng góp cho việc định hình một bài vọng cổ nhịp 32 hoàn hảo cho người mộ điệu thưởng thức như ngày nay.

Bài ca vua của sân khấu cải lương

Bản vọng cổ được xem là “Bài ca vua” của sân khấu cải lương. Có nhiều lí do để giải thích cho “cái vị thế” đó. Trước tiên, bài vọng cổ được xem là thước đo chính để khán giả đánh giá nghệ sĩ, các nghệ sĩ muốn được nổi tiếng và thành công thì phải hát thật mùi bài vọng cổ. Nó giống như cái dáng vẻ bên ngoài của một con người, dù chưa biết tâm tính thế nào, lòng dạ ra sao, nhưng nếu có dáng vẻ bên ngoài dễ nhìn, thì tất nhiên đó là một lợi thế để lấy được thiện cảm của người khác. Đối với nghệ sĩ, nếu ca vọng cổ mà khán giả nghe mùi, thì nghệ sĩ sẽ dễ dàng chiếm được cảm tình của khán giả. Nếu ca vọng cổ mà được khán giả chấp nhận, thì tức là người nghệ sĩ đã có được một giấy thông hành loại ưu tiên để tiếp tục con đường chinh phục trái tim người mộ điệu. Bởi vậy mà tất cả các đào kép chánh đều buộc phải ca vọng cổ cho hay. Và hầu như tất cả những nghệ sĩ thành danh, khán giả nhớ đến họ trước hết là nhớ đến một giọng ca vọng cổ đặc sắc nào đó.

Còn khi đến rạp xem diễn cải lương trực tiếp, trên sân khấu, nghệ sĩ ca, múa biết bao nhiêu bài bản cải lương. Nhưng lạ thay, như một luật bất thành văn, hễ nghệ sĩ trên sân khấu vô vọng cổ, là lập tức khán giả im phăng phắt để lắng nghe từng câu, từng lời, từng cách nhả chữ, luyến láy, đến khi nghệ sĩ xuống vọng cổ thì lập tức cả khán phòng vỗ tay tán thưởng. Trong khi các bài bản cải lương khác, dù nghệ sĩ có ca thật hay, thật mùi, cũng không hề được ưu ái dành cho một luật bất thành văn như vậy.

Một thế mạnh nữa của bài vọng cổ để giúp nó ngồi vững trên ngai vàng, đó chính là tính phổ biến của nó trong xã hội, đối với người mê cải lương cũng như người thích tân nhạc. Trong xã hội hiện đại ngày nay, cái thời mà hằng ngày bằng phương tiện này hoặc phương tiện khác, người ta đều nghe nói đến cái gọi là “cải lương xuống dốc”, “cải lương suy thoái”… nói chung là những từ ngữ chỉ sự suy yếu của cải lương trước những loại hình giải trí hiện đại khác. Ấy thế mà, dù mê cải lương hay không, có mấy ai ở Miền Nam Việt Nam khi nghe nói đến từ “vọng cổ” lại không biết đó là cái gì. Còn khi nghệ sĩ cải lương phải chạy sô cho các chương trình tân nhạc, thì khi nhìn thấy họ trên sân khấu, khán giả có mấy ai yêu cầu họ ca một bản Nam ai hay một bài Trường tương tư, mà hầu như chỉ yêu cầu duy nhất vọng cổ và vọng cổ.

Sáu câu vọng cổ nghe hoài không chán

Nhờ bài vọng cổ mà biết bao giọng ca đã trở nên bất tử trong lòng người mộ điệu: Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Thanh Sang, Minh Cảnh, Minh Vương, Minh Phụng, Tấn Tài, Hà Bửu Tân, Út Bạch Lan, Thanh Hương, Ngọc Giàu, Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Mộng Tuyền, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ… và còn biết bao giọng ca bất tử khác nữa. Thế nhưng mà lạ thay, trong rất nhiều giọng ca nổi danh ấy, không giọng nào giống giọng nào, mỗi giọng có một nét rất riêng mà hễ vừa nghe là khán giả nhận ra ngay, không nhầm lẫn vào đâu được.

Dù nhiều nhà nghiên cứu cố gắng xếp nhiều nghệ sĩ vào trong một trường phái ca vọng cổ cụ thể, thế nhưng sự phân chia đó vô cùng tương đối, bởi cái tính đa dạng trong giọng ca giữa những nghệ sĩ qua cách nhấn nhá, vô vọng cổ, xuống xề, xấp chữ… Ngay cả đối với bản thân nghệ sĩ, thì trong mỗi bài vọng cổ, tùy theo nội dung và tâm trạng họ cũng có những cách nhấn nhá khác nhau. Thế mới biết, chỉ có sáu câu vọng cổ nhưng lại hàm chứa muôn hình vạn trạng kiểu ca, cách hát: Như cách xấp chữ và ca chẻ nhịp của nghệ sĩ Út Trà Ôn đến hiện tại vẫn chưa có ai kế thừa, hay lối xuống xề ở cuối câu 5 và 6 của Sầu nữ Út Bạch Lan cũng là có một không hai, hoặc cách dứt câu 2 ngân dài của nghệ sĩ Mộng Tuyền cũng là độc nhất vô nhị trong làng cổ nhạc Miền Nam.

Nhờ sự đa dạng này, mà bản vọng cổ chỉ có 6 câu ca tới ca lui từ xưa đến giờ với biết bao ngàn bài, thế mà mỗi lần nghe, là người ta có cảm giác như mới vậy. Khi một soạn giả viết ra một bài ca vọng cổ mới, thì cái mới ở đây chỉ là lời ca, chứ còn bản đờn 6 câu vọng cổ vẫn y vậy, không có gì thay đổi. Tuy nhiên, với lời ca mới, khán giả khi nghe không hề thấy nhàm chán với 6 câu đờn, mà lời ca mới đã khiến cho cả bản vọng cổ trở nên hoàn toàn mới. Hơn nữa, cùng một bài vọng cổ, nhưng mỗi nghệ sĩ có cách thể hiện khác nhau, bởi thế nó vẫn luôn như mới.

Vọng cổ đâu chỉ có u buồn!

Khán giả tìm đến với cải lương bởi ở đó là một cuộc đời thu nhỏ. Các bài bản cải lương rất đa dạng, có thể diễn tả được đủ loại thất tình lục dục của con người. Thường thì sân khấu cải lương có 20 bài bản tổ bao gồm:

– Ba bài Nam: Nam Xuân, Nam Ai + Nam Ai Lớp Mái , Đảo Ngũ Cung + Song Cước .
– Sáu bài Bắc: Lưu Thủy, Xuân Tình, Phú Lục , Bình Bán, Tây Thi, Cổ Bản.
– Bảy bài Lễ: Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc.
– Bốn bài Oán: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu Hoàng, Phụng Hoàng Cầu.
– Bốn bài Oán phụ: Văn Thiên Tường, Bình Sa Lạc Nhạn, Thanh Dạ Đề Quyên, Xuân Nữ

Hai mươi bản tổ này chia ra 4 loại theo 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông) và 4 hướng (Ðông, Tây, Nam, Bắc), được sử dụng biểu đạt những cung bậc tình cảm khác nhau. Chẳng hạn như để diễn tả tình cảm vui tươi rộn rã thì sử dụng bài Xuân Tình, sự hùng tráng uy nghi thì có điệu Xàng Xê, buồn ão não thì có Phụng Hoàng, Tứ Đại Oán hay Nam Ai, biểu lộ sự sảng khoái thì dùng điệu Nam Xuân, thổ lộ tâm tình trong tâm trạng u hoài thì có Văn Thiên Tường….
Thế còn bài vọng cổ thì sao? Vọng cổ có thể diễn tả được hết thảy các loại tình cảm đó.

Trước tiên, vọng cổ là u buồn ão não. Bản “Dạ cổ Hoài Lang” vốn là một bài buồn tê tái, thì bản vọng cổ ngày nay đương nhiên phải đượm nét u sầu. Đã có biết bao bài vọng cổ kể lể chuyện thương đau làm rung cảm biết bao con tim mộ điệu: Tình anh bán chiếu-Út Trà Ôn, Tiếng Ve Sầu-Út Bạch Lan, Cô gái bán đèn hoa giấy-Thanh Hương, Bạch Thu Hà-Lệ Thủy, Bông Ô Môi-Tấn Tài, Hòn Vọng Phu-Mỹ Châu, Tình là dây oan-Hữu Phước+Thanh Nga, Tình mẫu tử-Ngọc Giàu…

Thế nhưng, bài vọng cổ không chỉ có u sầu, mà còn có thể khiến người nghe cười ra nước mắt. Người mê vọng cổ làm sao quên được giọng ca độc nhất vô nhi của vua vọng cổ hài Văn Hường, với hàng loạt các bài vọng cổ để đời: Vợ tôi nói tiếng Tây, Chó mực đầu cáo, Lá sớ táo quân, Văn Hường đi Suzuki, Tề Thiên đại thánh, Văn Hường đi hớt tóc, Tư ếch lên sài Gòn, Tư Ếch đại chiến Văn Hường… Hay giọng ca Hề Minh trong bài Tôi mến làng tôi, Hề Sa với bài Pháp sư giải nghệ.

Trong cuộc sống, những bậc anh hùng có khi cũng phải lệ rơi vì một hoàn cảnh trái ngang nào đó. Giọt nước mắt ở đây không phải là giọt nước mắt “bi lụy” mà là giọt lệ “bi hùng”. Cũng vẫn là những câu vọng cổ quen thuộc, nhưng người ca đòi hỏi phải cho khán giả cảm được nỗi u buồn, nhưng buồn với khí khái anh hùng. Những bài vọng cổ cho thể loại này cũng không hiếm: Nguyễn Trãi-Út Trà Ôn, Phàn Lê Huê-Út Bạch Lan, Hận Kinh Kha-Tấn Tài, Trống Loạn Thăng Long thành-Minh Cảnh, Men Rượu Sa Kê-Hữu Phước…

Cái hồn của bài vọng cổ

Bài vọng cổ được xem là một bản nhạc cho người ca nhiều tự do nhất. Ví dụ như đối với bản vọng cổ 6 câu nhịp 32, người ca chỉ cần giữ đúng nhịp ở cuối câu, còn trong lòng bản thì hoàn toàn tự do nhấn nhá, luyến lái, xấp chữ … Chính nhờ có tự do mà các nghệ sĩ tha hồ sáng tạo ra cái riêng để người nghe không nhàm chán. Thế nhưng, cũng như khi nấu một nồi canh chua Nam Bộ, tùy ý thích mà người ta có thể nêm gia vị chua nhiều hoặc ngọt nhiều, nhưng phải nêm nếm làm sao để cho nồi canh chua còn là nồi canh chua, chứ để nhiều đường quá cũng không được mà bỏ nhiều me quá cũng không hay. Bản vọng cổ cũng vậy, nó “tự do” mà không “vô lối”, tức dù có tự do, nhưng phải giữ những điểm cơ bản nhất của nó, nếu không nó sẽ không còn là vọng cổ nữa.

Những điểm cơ bản nào?

Vọng cổ trước tiên là “tự sự”, tức “kể chuyện lại cho người ta nghe”. Trong câu chuyện dĩ nhiên tùy lúc sẽ có Hỷ, Nộ, Ái, Ố, Ai, Cụ, Dục (mừng, giận, thương, ghét, buồn, sợ, muốn). Như vậy, mỗi bản vọng cổ đòi hỏi người viết phải cho nó một cốt truyện, người nghệ sĩ phải dùng lời ca để truyền tải cho được nội dung và tinh thần của cốt truyện đó đến người nghe.

Thứ hai, phải hiểu rằng nhiệm vụ chính của người thể hiện bài vọng cổ là “ca”, và cái đích chính đó là làm thỏa mãn sự “nghe” của người thưởng thức. Bởi vậy mà người ta thường nói “ca vọng cổ”, nhưng “hát cải lương”. “Ca”, tức là người nghệ sĩ phải sử dụng giọng ca của mình để biểu đạt nội dung và sắc thái tình cảm của bài vọng cổ, làm sao để cho người thưởng thức chỉ nghe giọng ca cũng cảm được những cung bậc tình cảm mà người viết bài ca gửi gắm. Trong khi đó, cái chính của cải lương là “hát”, tức “biểu diễn” để cho khán giả “xem”, lời ca khi ấy đóng vai trò bổ trợ cho động tác diễn. Hồi trước, trong rạp hát, khi nghệ sĩ trên sân khấu chuẩn bị vô vọng cổ là lập tức hệ thống chiếu sáng được tắt bớt, ánh sáng chỉ còn giữ đúng cho khán giả nhìn thấy người nghệ sĩ đang vô vọng cổ. Trong bóng đêm, âm thanh của câu vọng cổ ngân vang, người nghe tập trung vào âm thanh đó, lời vọng cổ bổng nhiên trở nên trang trọng và hay làm sao! Thế mới biết các bậc tiền bối coi trọng việc “nghe” vọng cổ đến dường nào.

Vọng cổ là “bình dị” bởi nó xuất phát từ nơi thôn dã, bởi nó giống như câu hò điệu lí của Miền Nam. Chính vì thế mà nó mới được công chúng yêu thương đến như vậy. Do đó, phải ca làm sao cho đúng cái thần của âm nhạc miền nam là “Chân phương hoa lá”. Tức khi ca vọng cổ là phải ca chân phương, nhưng không phải để bài ca chết khô, mà phải dùng chất giọng riêng tô điểm thêm hoa lá cho bài ca được tươi, được đẹp.

Ngày nay, có nhiều người lạm dụng quá mức các màn múa bổ trợ cho bài vọng cổ. Đến mức mà, khi nghệ sĩ đang vô vọng cổ trên sân khấu, người ta vẫn để đèn đuốc sáng trưng, nghệ sĩ ca đứng giữa, các nghệ sĩ múa chạy qua chạy lại tấp nập. Trong điều kiện như vậy, khán giả bị phân tâm, không thể tập trung vào việc “nghe” được, còn nghệ sĩ biểu diễn thì cũng không thể tập trung chăm sóc tối đa cho giọng ca của mình do bị chi phối bởi việc kết hợp cùng đội múa. Và kết quả là: người ca thì không thể “ca” hết mình, mà người nghe thì cũng không thể “nghe” hết sức.

Nhận định về thế hệ ca vọng cổ ngày nay qua các cuộc thi vọng cổ, Vua soạn lời vọng cổ Viễn Châu cho biết: “Hầu hết các cuộc thi tôi đều theo dõi, cảm thấy vô cùng vui mừng khi bộ môn cải lương vẫn còn nhiều người trẻ nối tiếp kế tục, sẵn sàng dấn thân đeo đuổi. Nhưng thú thật, có nhiều nghệ sĩ trẻ hát vọng cổ điệu đà, làm dáng quá đáng không đúng với cái chất của vọng cổ lắm. Theo ý kiến riêng của tôi, thể hiện bài hát vọng cổ cần phải thật giản dị, nhẹ nhàng giống như những lời mẹ ru, ngọt ngào và êm ái đưa con trẻ vào giấc ngủ say”. Đấy có phải chăng là lời cảnh báo cho thế hệ nghệ sĩ hiện tại đừng rời bỏ “cái hồn” của bản vọng cổ, để bảo tồn và phát huy “Bài ca vua của sân khấu cải lương”?

+5 EXP

Khách đã đọc qua những bài này ở cùng chuyên mục chưa? :

http://www.dacohoailang.com/forum/showthread.php?7672

This blog is focused on Trân Quang Hai