MAI XUÂN TÙNG : KTX Mễ Trì chật ních khán giả vì hát xẩm, VIETNAM 2009


KTX Mễ Trì chật ních khán giả vì hát xẩm

 

(Dân trí) – Giọng xẩm điêu luyện, lả lướt đậm chất ngẫu hứng, tiếng đàn nhị réo rắt, tiếng sênh đệm giữ nhịp, vừa đàn vừa hát, NSND Xuân Hoạch đã làm say đắm những sinh viên có mặt tại nhà văn hoá KTX Mễ Trì trong đêm thứ hai giới thiệu về nghệ thuật truyền thống

NSND Xuân Hoạch biểu diễn tại KTX Mễ trì tối 14/5Hội trường chật cứng khán giả thưởng thức xẩm

 

“Gánh xẩm” ông Xuân Hoạch của Trung tâm phát triển âm nhạc vẫn đều đặn chải chiếu hát “miễn phí” vào tối thứ 7 ở khu phố cổ của đất Hà Thành như: Hàng Ngang, Hàng Đào… Nhưng nay mới tối thứ 5(14/5) và ở một địa điểm khác là Nhà Văn hoá KTX Mễ Trì, cùng một số loại hình nghệ thuật cổ nữa, chiếu xẩm có ông và NSƯT Thanh Ngoan được chải trong chương trình “Giới thiệu văn hóa nghệ thuật truyền thống cho cán bộ và sinh viên ĐHQGHN”.

 

Xuất hiện trên sân khấu Mễ Trì với trang phục biểu diễn chỉnh tề, trông ông còn xuân và sung sức lắm. Ít ai có thể ngờ được, tính đến năm con trâu – Kỷ Sửu này “ông xẩm của nhân dân” Xuân Hoạch đã ở tuổi lục tuần.

 

Khoảng 19h30, màn “Trống hội” – hoà tấu nhạc cụ gỗ sôi nổi đã bắt đầu cho đêm diễn thứ hai trong loạt chương trình đưa nghệ thuật truyền thống đến với sinh viên. Khán giả như được sống trong không khí tưng bừng, hứng khởi của một ngày hội thực sự. Và được thấy Xuân Hoạch trong vai trò tay trống chính của tiết mục vẫn vững vàng, linh hoạt, nhuần nhị lắm.
 

Hát xẩm chợ “Sướng khổ vì chồng” do NSND Xuân Hoạch và NSƯT Thanh Ngoan biểu diễn

 

Đến tiết mục hát xẩm chợ “Sướng khổ vì chồng”, khán giả được thưởng thức tài năng vừa đàn vừa hát của ông. Một chất giọng xẩm đạt đến độ điêu luyện lả lướt đầy ngẫu hứng, tiếng đàn nhị réo rắt khiến lòng người không khỏi thổn thức. NSND Xuân Hoạch và người bạn diễn NSƯT Thanh Ngoan đưa cả hội trường chìm vào âm hưởng đặc trưng của làn điệu xẩm chợ – một trong hai điệu chính của loại hình nghệ thuật cổ xưa hát xẩm. Một điệu xẩm có giọng hát mạnh, những tiếng đệm, tiếng hơi đều hát nối tiếng bằng lời hát chính và đệm đàn bầu hay đàn nhị với sênh phách. Tiết mục của hai nghệ sĩ nhận được tiếng vỗ tay nhiệt của khán giả.

 

Khán giả còn tiếp tục được gặp ông trong tiết mục hát Hầu Văn “Xá thượng” cầu tài lộc đầu xuân. 

 

Ngoài hát xẩm, trong chương trình giới thiệu văn hoá nghệ thuật truyền thống, NSND Xuân Hoạch đã cùng các nghệ sĩ Nhà hát ca múa nhạc Trung ương mang đến nhiều âm hưởng độc đáo của dân tộc như: Chùm sáo dân tộc – NS Xuân Trung; Độc tấu đàn bầu – NS Xuân Bình; Quan họ Bắc Ninh (Tương phùng tương ngộ, Hát Giã Bạn) – NS Mạnh Thắng và NSUT Vương Hà; Hoà tấu đàn Tra Ngô: Dân ca Thái – “Inh Lả ơi” … 

 

Và dù là đêm văn nghệ truyền thống; chưa đến cuối tuần lại đang độ thi cử nhưng chương trình vẫn thu hút sự quan tâm của nhiều bạn trẻ. Tham dự có sinh viên trường KHXHNV, ĐHTN và các trường ĐH Hà Nội, ĐH Kiến Trúc… Nhà Văn hoá KTX Mễ Trì, các dãy ghế chật ních khán giả. Không khí cổ vũ không kém phần sôi nổi như những đêm văn nghệ hiện đại.
 
Một tiết mục giao lưu của các nghệ sĩ với sinh viên KTX Mễ Trì tối qua 14/5

 

Nguyễn Văn Chương (sinh viên năm thứ 3 trường KHXHNV) bộc bạch: “Quả không phí. Đây là lần đầu tiên em được thưởng thức một chương trình đặc sắc và chuyên nghiệp, tổng hợp nhiều loại hình văn hoá nghệ thuật truyền thống. Đó là cơ hội để em biết thêm về nét đẹp tinh hoa cội nguồn dân tộc mình”.

 

“Giới thiệu văn hóa nghệ thuật truyền thống với cán bộ và sinh viên ĐHQGHN sẽ là một hoạt động thường xuyên. Mỗi tháng sẽ có hai buổi diễn ở hai địa điểm là: Kí túc xá Mễ Trì (182 Lương Thế Vinh – Hà Nội) và Hội trường 10-12 (144 Xuân Thuỷ – Hà Nội)”, thầy Vũ Minh Giang – Phó GĐ ĐHQG cho biết.

 

Mai Xuân Tùng

(K51-Ngôn ngữ học, trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN)

Thứ Sáu, 15/05/2009 – 09:34

PHẠM HẠNH : Độc đáo cây đàn đáy cổ tuổi đời gần 1 thế kỷ, VIETNAM 2012


Độc đáo cây đàn đáy cổ tuổi đời gần 1 thế kỷ

Nguoiduatin.vn – 4 tháng trước

(Nguoiduatin.vn) – Điểm quý báu của cây đàn không chỉ nằm ở âm thanh, chất liệu mà nó còn ở giá trị vô hình về thời gian và những cống hiến không mệt mỏi cho nghệ thuật ca trù nước nhà của nhiều đời nghệ nhân, nghệ sĩ.

Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này

Trường cổ đại thanh

Sau rất nhiều lần hẹn gặp, cuối cùng tôi cũng có may mắn được đến tư gia của NSND Nguyễn Xuân Hoạch để có cơ hội tận mắt chiêm ngưỡng cây đàn đáy vốn được người trong giới âm nhạc dân tộc mệnh danh là cây đàn đáy cổ nhất Long Thành.

NSND Xuân Hoạch trong một lần đi diễn.

Đến với ca trù như một sự tình cờ, bởi trước đó NSND Xuân Hoạch theo học đàn nguyệt. Ông là một trong những người đầu tiên được trường âm nhạc Việt Nam nay là Học viện âm nhạc Việt Nam được cử đi học đàn đáy để hiểu về môn ca trù và phục vụ cho đoàn ca múa nhạc dân tộc. Lại thêm một sự tình cờ tưởng chừng như duyên tiền định.

Năm 1982, sau khi tốt nghiệp, ông về công tác tại Đoàn Ca múa Trung ương (Nhà hát Ca múa nhạc Quốc gia Việt Nam hiện nay) và được nhà hát tin tưởng giao cho một cây đàn đáy. Trước đó, vào năm 1972, hướng tới phát triển các loại hình nghệ thuật dân gian, Đoàn Ca múa Trung ương quyết định chi 4.200 đồng (tương đương khoảng 2 cây vàng) để mua cây đàn này. Thời điểm ấy, lương của các nghệ sĩ còn rất thấp chỉ khoảng 50-80 đồng, nhưng Đoàn vẫn dành số tiền khổng lồ ấy để mua lại cây đàn.

Sau khi đánh mấy điệu cơ bản, NSND Xuân Hoạch tỉ mỉ giới thiệu cho tôi nghe về cây đàn. Lúc nhận cây đàn từ thầy Đinh Khắc Ban, ông đã được nghe kể về sự kỳ công khi vị thân sinh ra cụ Ban chế tác cây đàn này cách đây gần trăm năm. Khi làm đàn, nguyên liệu phải được chuẩn bị chừng 3-4 năm trước. Cần đàn dài khoảng 1,5m được đẽo từ gỗ lim nguyên khối. Thành đàn làm bằng gỗ trắc mật, mặt hộp đàn làm từ gỗ vàng tâm. Đây đều là những loại gỗ quý và rất khó để tìm kiếm được. Bộ phím của cây đàn này được làm từ thân cây tre đực, phơi sương phơi nắng qua nhiều năm liền nên rất chắc chắn. Ở giữa các phím có chế tạo một rãnh nhỏ để đặt các suốt tre.

Dây đàn được làm bằng dây tơ rất tỉ mỉ, kỳ công. Chính từ những nguyên liệu đặc biệt ấy mà âm thanh của cây đàn cũng rất đặc trưng, vừa trầm đục nhưng lại chắc nịch và rất vang. Có lẽ lý do khiến cụ thân sinh của nghệ nhân Đinh Khắc Ban kỳ công chế tác cây đàn này không chỉ vì cụ muốn con trai mình có được tiếng đàn hay nhất mà còn như gửi gắm vào đó cả tâm huyết một đời với nghệ thuật ca trù.

Theo tục lệ gia đình, cụ Đinh Khắc Ban còn được làm lễ đóng đàn trước tổ tiên. Với niềm đam mê với môn nghệ thuật truyền thống được cha truyền dạy lại, cụ Đinh Khắc Ban không ngừng học hỏi để trở thành một kép đàn nổi danh. Sau này, nhắc đến ca trù thế kỷ 20 người ta không thể không nhắc đến những cái tên như ca nương Đinh Thị Bản và kép đàn Đinh Khắc Ban. Không chỉ sinh sống và tham gia vào các giáo phường ca trù ở Khâm Thiên (Hà Nội), cụ Ban còn cùng cây đàn bôn ba khắp nơi để diễn hát ca trù. Cụ thường đem theo cây đàn, lọc cọc đạp xe sang các vùng Lỗ Khê, Sơn Tây (Hà Tây cũ) hoặc xuống những vùng liên quan đến ca trù để đàn hát, đem ca trù đến với công chúng.

Lại nói về cây đàn, ngày nay do sự khó khăn của nguyên liệu nên người ta hay dùng dây nilon để thay thế dây đàn. Tuy nhiên, theo NS Xuân Hoạch, để đàn đáy có được âm sắc cổ kính và giống với tiếng người nhất thì dây đàn phải làm từ dây tơ. Để có được những cuộn dây ấy, ông đã phải xuống tận làng lụa Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội) để tìm mua những sợi tơ vừa được tằm nhả ra. Có tơ rồi, NS Xuân Hoạch kỳ công xe đi xe lại. Chập hai sợi tơ thành một, rồi từ những sợi to ấy lại xe thành một dây đàn. Để dây tơ bền và dùng được lâu, ông đã tham khảo cách làm dây của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc.

NSND Xuân Hoạch bên cây đàn cổ.

Giữ cho âm sắc mãi ngân vang

NS Xuân Hoạch năm nay đã ngoài 60 tuổi. Năm 1982 ông được nhận cây đàn từ Đoàn ca múa nhạc Trung ương. Nhẩm tính, cây đàn cũng đã bên ông nửa đời người. Ông hiểu được, đó không chỉ là một nhạc cụ bình thường mà còn là một chứng nhân cho một thời kỳ dài lắm “truân chuyên” của nghệ thuật ca trù và tình yêu của các nghệ nhân, nghệ sĩ. Do vậy, từ thời khắc nhận đàn, NS Xuân Hoạch đặc biệt coi trọng việc lưu giữ và phát triển loại hình nghệ thuật đặc sắc này.

Thời đó, để tìm được đào nương cho mình đệm đàn không phải dễ, nên ông đành luyện chay cả ngày. Sau này, khi được đi diễn, được sự ủng hộ của các NS trong đoàn ca múa nhạc mà đặc biệt là NSND Thanh Hoài, NSƯT Đoàn Thanh Bình thì ông mới có nhiều cơ hội đệm đàn hơn. Ông đã cùng cây đàn tham gia nhiều hội diễn, cuộc thi và đạt được những thành công vang dội.

Bộ phím bằng tre chắc chắn và chưa khi nào phải thay.

Hai năm gần đây, ông được nghệ nhân, NSƯT Phó Thị Kim Đức (đào nương cuối cùng của giáo phường Khâm Thiên xưa) truyền dạy cho những khuôn khổ, lòng bản của nghệ thuật đệm hát lối đàn hát khuôn (lối hát theo khuôn bậc, nắn nót từng tiếng; luyến láy công phu, tròn vành rõ chữ). Nghệ nhân Kim Đức vốn am hiểu ca trù và ngấm tiếng đàn, tiếng thơ từ bé đã hết lời khen ông. Nhiều người nghe tiếng đàn ông còn ngỡ như được trở về không gian cổ kính, tinh hoa ngày xưa.

Những lời khen giản dị ấy khiến NS Xuân Hoạch có thêm động lực chơi đàn và ngày đêm truyền dạy học trò tiếp bước mình. Hiện nay, một số học trò của ông cũng rất say mê với nghề. Tuy nhiên, người nghệ sĩ già vẫn trăn trở ngày đêm tìm cho mình một người học trò xứng đáng để một ngày nào đó yên tâm trao lại cây đàn và giữ lấy tiếng đàn.

Chưa tìm được trò để gửi gắm cây đàn

Những năm gần đây, biết được giá trị của cây đàn, không ít người đã tìm đến hỏi mua với ước mong có thể sở hữu được cây đàn quý gần 1 thế kỷ ấy. NS Xuân Hoạch chia sẻ: Đến giờ phút này, không dám khẳng định rằng mình đã làm tròn tâm nguyện của người thầy, nhưng tôi cũng có thể tự hào rằng mình đã tiếp nối người đi trước để tiếng đàn đã và đang ngân vang. Cây đàn là một báu vật và báu vật không tồn tại ở dạng tĩnh tại mà nó đang được lan tỏa trong cuộc sống. Giờ đây, tôi chỉ có một mong ước là sớm tìm được một học trò xuất sắc trao lại cây đàn để tiếng đàn ấy tiếp tục đồng hành cùng nền nghệ thuật dân gian nước nhà.

Phạm Hạnh

http://www.baomoi.com/Doc-dao-cay-dan-day-co-tuoi-doi-gan-1-the-ky/71/9715134.epi

Đàn đáy cổ nhất Long thành, VIETNAM 2009


Đàn đáy cổ nhất Long thành

Tiền Phong – 41 tháng trước

Dan day co nhat Long thanh

TP – Cây đàn có tuổi đời cỡ 100 năm là vật gia truyền của gia đình nghệ nhân đàn đáy nổi tiếng Đinh Khắc Ban đang được NSND Xuân Hoạch lưu giữ như một báu vật. Nó chính là cây đàn đáy cổ nhất Long thành hiện vẫn còn sử dụng được.

 

Sau bao năm thế kỷ 20 nhiều thăng trầm, ca trù gần như bị mai một và lãng quên trong đời sống tinh thần. Vậy nhưng chính trong giai đoạn khốn khó ấy ca trù vẫn âm ỉ cháy một cách bền bỉ ở đâu đó trong hut hút những con ngõ nhỏ khắp Long thành.

Men theo một trong những con ngõ ấy chúng tôi tới nhà NSND Xuân Hoạch, người đang giữ cây đàn đáy có tuổi đời cỡ trăm năm, một báu vật có thể nói vô giá của nghệ thuật ca trù. Cả hai vợ chồng ông đều có nhà.

Vừa dẫn chúng tôi lên cầu thang của căn nhà 5 tầng để đến nơi cất giữ cây đàn ông vừa cởi tấm lòng: “Tôi nâng niu cây đàn như báu vật gia đình gần ba chục năm nay”, “Cây đàn hẳn xưa đã từng được thể hiện trong các canh hát ca trù với đúng nghĩa thưởng thức?”, “Đúng thế” – NSND Xuân Hoạch cho biết.

Phòng trưng bày, cũng là nơi tập luyện của ông đủ loại nhạc cụ dân tộc, từ cây đàn bầu mộc, đàn nhị, đàn nguyệt đến trống phách… cây đàn đáy được đặt ở vị trí trang trọng nhất. Thoạt trông, cây đàn không có gì đặc biệt, NSND Xuân Hoạch cũng như tán đồng:

“Thực ra về hình dáng nó không có gì khác biệt nhưng có điều gỗ rất tốt và được chế tác cầu kỳ. Chẳng hạn lấy những chỗ tốt nhất của một cây tre làm bộ phím.

Cây đàn chứa đựng sự sáng tạo rất cao bởi vì người chế tác đã tính đến chuyện không phải thay bộ phím rất rườm rà như bao cây đàn khác bằng cách đắp miếng cật tre vào một cái rãnh ở trên phím, khi mòn chỉ việc thay cật, rất đơn giản mà nhanh.

Thành đàn làm bằng gỗ trắc mật để có màu đẹp, mặt đàn là gỗ vàng tâm, cả hai đều là gỗ quý, cho nên tiếng đàn rất đẹp, trầm đục, chắc nịch mà lại vang.

Ngày trước dùng dây tơ, nhưng sau này dây tơ hiếm quá nên tôi chuyển sang dây ni-lông” – NSND Xuân Hoạch cho biết.

Cây đàn vốn là vật gia truyền của một gia đình gốc Vĩnh Phúc di chuyển xuống Hà Nội có nhiều đời gắn với ca trù nhưng nay đã thất truyền.

Tới thế hệ ca trù cuối cùng của gia đình ấy có những cái tên rất nổi tiếng của ca trù thế kỷ 20 như ca nương Đinh Thị Bản và kép đàn Đinh Khắc Ban. Cụ Ban chính là chủ nhân cây đàn cổ này.

“Tôi vẫn nhớ như in lời cụ Ban nói, theo truyền thống gia đình, ngay từ nhỏ cứ con gái thì học hát, con trai sẽ học đàn. Lúc ấy người cha đã phải tính chuyện đóng một cây đàn tốt cho con trai. Nhưng trước khi nhận đàn, người con trai phải được làm lễ đóng đàn trước tổ tiên” – NSND Xuân Hoạch kể. Cụ Ban được cha trao đàn khi vẫn chưa tới tuổi thanh niên.

Năm 1982, cảm thấy sức khỏe ngày càng yếu, hai người con một trai một gái của cụ không ai theo nghề, cụ đã chọn người học trò xuất sắc nhất, NSND Xuân Hoạch để truyền lại cây đàn. Tới năm 1992 cụ về với tổ tiên ở tuổi 78. Cho tới thời điểm này thì cây đàn có cỡ 100 năm tuổi.

Năm 1966, tròn 16 tuổi, Xuân Hoạch học Trường Âm nhạc VN lúc đó sơ tán tại Xuân Phú (Bắc Giang). Thời điểm ấy, ca trù gần như bị lãng quên. Ngay thời gian ấy Xuân Hoạch đã ngưỡng mộ nghệ nhân Đinh Khắc Ban qua lời kể của các thầy và đồng nghiệp, lại thêm một may mắn con gái của cụ (Nghệ sĩ đàn tranh Đinh Thị Nội, hiện là giảng viên Học viện Âm nhạc Quốc gia VN) học chung lớp.

Năm 1970 tốt nghiệp, ít lâu sau, Xuân Hoạch về công tác tại Đoàn Ca múa Trung ương (Nhà hát Ca múa nhạc Quốc gia VN hiện nay).

Cuộc sống thời đó khó khăn, nên dù đã về Hà Nội nhưng ông vẫn chưa thực hiện được mong ước được học đàn cụ. Bẵng đi tới quãng năm 1975 – 1976, nhân Đoàn dựng tác phẩm của NS Hoàng Đạm phổ thơ Hồ Chí Minh khai thác chất ca trù, Xuân Hoạch mới đề nghị được đến học cụ Ban.

Dù không học đàn để chơi trong ca trù nhưng khỏi phải nói cụ Ban vui thế nào bởi ở cái thời ca trù gần như chẳng ai còn quan tâm, mà ngay cả những nghệ nhân tài năng cũng phải náu vào những nghệ thuật “bình dân” hơn, bản thân cụ Ban về công tác tại tổ dân ca Đài Tiếng Nói VN chuyên đệm ngâm thơ, ca Huế, Chèo… mà lại có người tới xin học.

Đang mạch chuyện bỗng người bạn đời của NSND Xuân Hoạch mắt sáng lên với kỷ niệm khó phai: “Hồi đó còn đang yêu nhau, mỗi lần học xong ông ấy lại đeo cái đàn dài dài đạp xe đến nhà tôi ở Liễu Giai chơi.

Cả nhà tôi nhìn thấy còn trêu: Đeo cái đàn gì thế hả thằng thầy cúng?! Ông ấy mới giải thích là đàn hát ả đào”. Một chàng trai mới chừng đôi mươi khi ấy lại bị đùa như thế có ngại không? Xuân Hoạch gạt phắt: “Nghiệp rồi mà!”.

Quãng thập niên 80 thế kỷ trước vẫn còn nghèo lắm, ấy thế mà hai thầy trò gắn bó tới mức cụ Ban có thời gian tới ở nhà học trò chừng năm rưỡi để thầy trò cùng say sưa với ca trù.

Quãng thời gian đấy, Nhà hát Chèo VN gửi gắm cụ 4 diễn viên gồm NSND Thanh Hoài, NSUT Đoàn Thanh Bình học ca và hai kép học đàn.

Cụ dạy ngay tại nhà NSND Xuân Hoạch. Trong 4 người đó một kép đàn đã bỏ nghề, 3 người còn lại đều thành danh. NSƯT Công Hưng hiện đang chơi đàn đáy trong nhóm NSUT Kim Đức.

Học trò của cụ Ban còn phải kể tới nghệ sĩ Trang Nhung, Thúy Đạt… Như vậy người giữ tiếng đàn Đinh Khắc Ban giờ chỉ còn 2 là NSND Xuân Hoạch và NSUT Công Hưng.

“Tôi nghe cụ Ban nói ca trù xưa có nhiều phong cách, mỗi giáo phường mỗi phong cách riêng. Nhưng hiện nay đã mất đi sự phong phú, tất cả chỉ thể hiện theo một lối chung” – NSND Xuân Hoạch cho biết.

Tiếng đàn của cụ Ban chắc, khỏe và luôn có cái gì đó mới làm tăng sức quyến rũ – theo NSND Xuân Hoạch – gia đình cụ Ban có được tiếng đàn ấy có lẽ bởi lúc đương thời được mời đi giao lưu biểu diễn khắp nơi.

Năm 1988, tham gia Hội diễn Ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc, NSND Xuân Hoạch đã tự soạn tác phẩm độc tấu đàn đáy mang theo cái hồn của tiếng đàn đáy ấy.

Người bạn đời của ông kể: “Tôi nhớ mãi hôm ông ấy thi ở Nhà hát Lớn HN tôi ngồi ở ghế khán giả, trên hàng tôi có mấy cụ lớn tuổi xì xầm nhau: Lâu lắm mới lại được nghe tiếng đàn Đinh Khắc Ban, giờ chỉ có chú ấy chơi được”.

Và Xuân Hoạch đã thành công với tấm Huy chương Vàng, nhưng quan trọng hơn, chính ông là người đầu tiên đưa đàn đáy lên sân khấu ca nhạc chuyên nghiệp với tư cách một nhạc cụ độc tấu.

Gần đây lại thấy Xuân Hoạch ôm cây đàn đáy trong một nhóm ca trù. Tò mò hỏi tại sao mấy chục năm không thường xuyên đánh vẫn giữ được hồn của tiếng đàn? Xuân Hoạch cười bảo: “Quên làm sao được, lời thày dạy chưa bao giờ dứt vang lên trong tôi”.

Bên cạnh tình yêu ca trù và cây đàn mà người thầy đã truyền lại, ông còn bị cuốn hút bởi những âm thanh trầm đục rất sâu của tiếng đàn khi kết hợp với giọng đào nương trong sáng và sự chộn rộn của phách, sự đan tỉa vào những chỗ hay nhất của trống chầu tạo hiệu quả âm thanh rất đặc trưng đã ngấm thì không dễ quên.

Ở Liên hoan Ca trù toàn quốc 2009 vừa rồi nhóm ông (còn có ca nương Thu Yên, nghệ nhân trống chầu Phạm Lãm) gây được chú ý khi cả 3 thành viên đều đoạt Huy chương Vàng.

Nhưng lịch sử dường như lặp lại, mấy người con của NSND Xuân Hoạch không ai nối nghiệp cha. Điều ông trăn trở nhất là làm sao có một người trò xứng đáng để một ngày nào đó trao lại cây đàn và giữ lấy tiếng đàn.

http://www.baomoi.com/Dan-day-co-nhat-Long-thanh/71/3721960.epi

Xẩm Hà Nội với XUÂN HOẠCH, THANH NGOAN, MAI TUYẾT HOA, VĂN TY, đoàn THANH BÌNH, VIETNAM 2012


Published on May 29, 2012

Các bài hát Xẩm Hà Nội:
1. Quyết Chí Tu Thân – Xuân Hoạch
2. Cái Trống Cơm – Xuân Hoạch
3. Cô Hàng Nước – Thanh Ngoan & Mai Tuyết Hoa
4. Hà Thanh 36 Phố Phường – Đoàn Thanh Bình
5. Xẩm Chợ – Văn Ty

Nghệ sĩ Nhân dân Xuân Hoạch: Đừng lo hội nhập sẽ mất bản sắc, VIETNAM 2010


Nghệ sĩ Nhân dân Xuân Hoạch: Đừng lo hội nhập sẽ mất bản sắc

KTĐT – 17 tháng trước

Nghe si Nhan dan Xuan Hoach: Dung lo hoi nhap se mat ban sac

KTĐT – Là một trong ba nghệ sĩ của Việt Nam được tổ chức World Masters (WMOC) công nhận là nghệ nhân thế giới, cả đời nghệ sĩ Xuân Hoạch đã trăn trở với di sản văn nghệ của ông cha. Nhưng tâm huyết nhiều để rồi đắng cay cũng lắm.

 

Ông đã dốc nỗi lòng mình về sự thiếu hụt của văn nghệ dân gian trong đời sống đương đại.

Bỏ lối truyền dạy xưa học kỹ thuật Tây

– Điều gì khiến thứ nghệ thuật dân gian trầm lắng như ca trù, đàn bầu, đàn đáy, xẩm… ngấm trong người ông để ông dồn tâm huyết suốt mấy chục như vậy?

Tôi sinh ra ở Thái Bình, nơi có những chiếu chèo nổi tiếng. Ngay từ nhỏ, từng câu ca của chèo đã chảy trong thanh quản, tiếng đàn đáy, đàn nguyệt, đàn bầu trở nên quen thuộc từ đời cha ông. Để có được những tiếng đàn vang nẩy, tôi được ông bà, cha mẹ nắn từng điệu nhạc, bẻ từng khúc ca. Năm 1966, tôi đậu vào Khoa nhạc cụ truyền thống (nay là khoa Âm nhạc truyền thống), Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, học đàn nguyệt dưới sự chỉ dẫn của NGND Xuân Khải, học đàn đáy từ cố nghệ nhân Đinh Khắc Ban. Hình thức giảng dạy của các thầy cho sinh viên chúng tôi ngày ấy hoàn toàn bằng phương pháp truyền khẩu, giống như phương pháp của các cụ ta ngày xưa. Chính nhờ phương pháp ấy, tôi đã yêu ca trù, đàn bầu, đàn đáy rồi xẩm…

– Hiện nay, truyền khẩu không còn hình thức giảng dạy được ưa chuộng. Phương pháp đào tạo của các trường dạy nhạc ở Việt Nam là lấy kỹ thuật của phương Tây áp dụng vào dân gian, đó có phải là phương án tốt?

Cái nôi của giáo dục âm nhạc Việt Nam là Học viện Âm nhạc Quốc gia cũng không còn duy trì hình thức dạy truyền khẩu, mà học theo kiểu chép sách sau đó hát theo nốt nhạc. Áp dụng phương pháp học nhạc của phương Tây sẽ có kỹ thuật tốt nhưng nghệ thuật cứ nhàn nhạt, bản sắc dân tộc mất đi nhiều. Lớp trẻ hát dân gian cứng như… bêtông. Bài hát được cất lên chỉ là bộ khung, chưa có thịt và da. Không phải ngày xưa các cụ không có phương tiện ghi chép nên chọn cách học theo kiểu bắt tay chỉ ngón, mà phương pháp đó được đúc kết từ nhiều đời. Học truyền khẩu đánh đàn sẽ có cảm xúc, câu hát sẽ mượt mà, truyền cảm và người học tìm được tình yêu với nghệ thuật dân gian.

– Theo ông, phương pháp đào tạo âm nhạc không truyền dạy được tình yêu đối với văn nghệ dân gian, nên thế hệ trẻ không còn mặn mà với nó?

Bây giờ, lớp trẻ theo học nghệ thuật dân gian không nhiều. Những năm 60 của thế kỷ trước, khoa Âm nhạc truyền thống của Nhạc viện Hà Nội lúc nào cũng đông nhất, tuyển đầu vào cao điểm nhất. Nay thì ngược lại, số lượng tuyển giảm đã đành, lạikhông còn khả năng tuyển đủ. Người ta không lựa chọn vì vừa không có tình yêu, học ra trường không đủ sống.

Duy trì trong tình trạng “thắt lưng buộc bụng”

– Một thời gian dài, Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Việt Nam đã tụ họp được một vài nghệ sĩ tâm huyết (NSND Văn Ty, NSND Xuân Hoạch, NSƯT Thanh Ngoan…) với văn nghệ dân gian truyền dạy theo phương thức truyền khẩu. Tuy nhiên, hiện nay hoạt động này đã trở nên im ắng?

Hầu hết các nghệ sĩ kể trên đã rút khỏi dự án khôi phục và truyền dạy miễn phí văn nghệ dân gian của Trung tâm. Nếu nói là không hiệu quả cũng không đúng, vì qua các lớp học đó chúng tôi đã tạo ra thế hệ kế cận biểu diễn chiếu xẩm ở chợ Đồng Xuân. Tuy nhiên, khi lớp học mở ra, số lượng đăng ký có hạn nên hạn chế chất lượng đầu vào. Đó là chưa kể, điều kiện dạy học quá khó khăn. Nghệ sĩ vừa lo dạy học vừa lo đảm trách công việc nặng nề ở đơn vị nơi công tác. Lớp học ngày ấy được tổ chức ngay tại sân đình Hào Nam, diễn ra đều đều dưới gốc cây cổ thụ của sân đình. Trụ sở của Trung tâm lúc ở ngôi nhà nhỏ nằm trên ngõ đường Hào Nam, lúc lại về đình Hào Nam. Ở đâu thuê rẻ hoặc được tài trợ miễn phí là lựa chọn chuyển trụ sở. Anh Văn Ty, chị Thanh Ngoan hay tôi vừa tham gia giảng dạy vừa tham gia biểu diễn. Tiền bồi dưỡng cho chúng tôi tất tần tật khoảng 500 – 600.000 đồng/tháng, chúng tôi tự nguyện quyên góp vào quỹ của Trung tâm để tái phục vụ các hoạt động điền giã tìm lại di sản. Trung tâm hoạt động không nhận được mấy sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng, mặc dù trực thuộc Hội Âm nhạc Việt Nam. Vừa qua, Trung tâm có dự án ký kết với Đại học Huế tổ chức truyền dạy văn nghệ dân gian theo phương pháp truyền khẩu cho sinh viên chuyên ngành nhạc và cũng ở trong tình trạng “thắt lưng buộc bụng”. Vì lo lắng văn nghệ dân gian bị mai một, nên suốt 4 – 5 năm chúng tôi cố gắng theo đuổi dự án. Nhưng nghệ sĩ chúng tôi đều đã có tuổi khó duy trì dự án ở tình trạng đó.

– Nếu phương pháp giảng dạy đúng, nghệ sĩ được sự hỗ trợ từ nhiều phía, dòng văn nghệ dân gian sẽ sống được?

Nếu biết cách dạy, văn nghệ dân gian sẽ ngấm và sẽ không có thứ âm nhạc nào thay thế được. Tôi chỉ đơn cử, đứa cháu 9 tuổi của nghệ nhân ca trù Kim Đức, trước khi học ca trù, mê mẩn hip hop, rap và cả những ca khúc nhạc nhẹ trữ tình lãng mạn. Nhưng bà đã níu chân cô bé gìn giữ ca trù, bằng sự tận tình, kiên trì dạy bảo từng nhịp phách, uốn từng câu ca. Đến giờ, thứ âm nhạc ngày xưa cô mê mẩn lại trở thành nhạt nhẽo sau mỗi lần nghe. Rồi sau những lần biểu diễn chiếu xẩm ở chợ Đồng Xuân, khi còn ở Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Việt Nam, mỗi năm chúng tôi cũng đã chiêu sinh được hơn 20 chục người theo học lớp học hát xẩm miễn phí. Theo đuổi lớp học đó có cả những cụ già hơn 80 tuổi, có em bé lên 10 và cả những cô cậu thanh niên mười tám đôi mươi.

– Ông có lo ngại trước tình trạng mất cân bằng giữa âm nhạc truyền thống và âm nhạc lai căng hiện nay?

Đến lúc nào đó công chúng sẽ quay lại với nghệ thuật dân gian. Bây giờ, nhiều thanh niên đã chán hip hop, lọ mọ ra chợ Đồng Xuân để xem xẩm. Cuộc sống năng động, họ sẽ chạy theo cái gì gọi là nhanh, là công nghệ, nhưng mọi ồn ào nào rồi cũng lắng xuống. Thực tế chứng minh, sau khi giải phóng miền Nam, nhạc miền Nam ào ạt khắp các đường phố, ngõ phố, xóm làng, nhưng cũng chỉ được một thời gian. Hội nhập luôn luôn là tốt, đừng lo hội nhập sẽ mất bản sắc.

– Cảm ơn ông!

http://www.baomoi.com/Nghe-si-Nhan-dan-Xuan-Hoach-Dung-lo-hoi-nhap-se-mat-ban-sac/71/7335802.epi