HỒNG NỤ : NSND Xuân Hoạch cả đời gắn bó với đàn bầu, VIETNAM 2009


NSND Xuân Hoạch cả đời gắn bó với đàn bầu

(NHN)Trong đời sống âm nhạc hiện nay, cây đàn bầu mộc được chế tác theo đúng cây kiểu đàn cổ truyền vốn đã vắng bóng nhiều năm đã và đang xuất hiện trở lại. NSND Xuân Hoạch, người đã có công gìn giữ báu vật cổ truyền của dân tộc có cuộc trò chuyện với phóng viên Báo điện tử Người Hà Nội.

– Xin chào NSND Xuân Hoạch, cơ duyên nào đã đưa ông đến với âm nhạc truyền thống?

Tôi sinh ra trong gia đình có truyền thống về hát chèo. Các anh, chị đều là diễn viên chèo của làng, ngấm những làn điệu hát chèo từ nhỏ. Khi 8 tuổi tôi đã tham gia vào tốp nhạc. Cây đàn tôi được học đầu tiên là Nhị. Sau hai năm học, tôi đã biểu diễn được các làn điệu trên chiếu chèo truyền thống của địa phương.

Được biết, ngoài Nhị ông còn chơi được nhiều lọai nhạc cụ khác như đàn nguyệt, đàn đáy và đàn bầu. Đặc biệt hơn, ông đang sở hữu những cây đàn bầu mộc có một không hai, ông đã làm thế nào để khôi phục lại cây đàn này?

Tôi đã được xem và nghe những nghệ nhân như cụ Thân Đức Chinh, cụ Trùm Nguyên vừa chơi nhị – hồ, bầu vừa hát xẩm. Khi cụ Thân Đức Chinh chơi đàn bầu và hát, chân trái gõ song loan, chân phải gõ cái trống con còn tay gảy đàn, bản thân cụ là người khiếm thị, khâm phục tài năng của cụ, tôi muốn khôi phục lại và giữ gìn bản sắc đậm đà nhất của cây đàn.

Để có một cây đàn ưng ý, ông có bí quyết gì trong việc chọn chất liệu?

Tôi đã từng làm một cây đàn mộc bằng ống tre, rất đẹp nhưng vẫn chưa ưng ý.  Ý định nung nấu làm bằng được cây đàn theo đúng nguyên mẫu truyền thống là trăn trở rất lâu và cuối cùng tôi cũng tìm được chất liệu đó là lõi gỗ thông. Theo tôi đây là 1 chất liệu khá tốt để tạo cho tiếng đàn được vang hơn.

– Vậy cây đàn bầu mộc này khác với cây đàn bầu thường ở điểm nào?

Bản thân cây đàn giữ được dáng cổ là vì tôi đã tạo dáng theo bức ảnh mà người Pháp để lại. Hộp cộng hưởng cũng bằng gỗ và cần đàn rất dài để tạo được âm thanh vang, ngân, to đồng thời thoải mái hơn khi chơi đàn. Điều đó nó đã khác so với cây đàn mà hiện nay chúng ta đang sử dụng trong các trường âm nhạc.

Hình dáng cây đàn được trang trí rất cầu kỳ, vậy họa tiết trên cây đàn có ý nghĩa thế nào?

Trên cây đàn là bộ tứ bình Tùng – Cúc – Trúc – Sen, để tạo ra cái dáng trên cây đàn, tôi điểm một vài bông cúc, một vài lá trúc, cành tùng. Đáng lẽ ra tôi dùng bông mai nhưng vì ấn tượng với hồ sen ở đình Hào Nam nên tôi đã làm bông sen và bông sen này chính là đài để nâng tượng phật nghìn tay nghìn mắt. Tôi cũng đã tạo dáng để quay lại hình dáng cổ là cần đàn cao. Quan trọng nhất là gỗ và tre, một vài điểm nhấn là những lá đồng rất nhỏ.

 – Ông đã cảm thấy mãn nguyện về cây đàn mà mình đã chế tác?

Tôi rất hài lòng về cây đàn này, chỉ có một điều là chưa được phổ cập nhiều cho lớp trẻ. Tôi rất muốn cây đàn bầu mộc này gần gũi với lớp trẻ, để giúp họ hiểu nhiều hơn về âm nhạc dân tộc.

 – NSND Xuân Hoạch còn có biệt tài miệng hát, tay đàn và chân gõ phách, nhịp. Ông đã mất bao nhiêu thời gian khổ luyện để làm được điều đó?

Để có được tiếng đàn như ngày hôm nay tôi đã mất hai năm vừa làm đàn, vừa tập gõ bằng chân và cũng may trời phú cho tôi có được cái độ phân tâm để làm tốt nhiều vai trò trong cùng một lúc.

Trong lúc hát và đàn thì bộ gõ có tầm quan trọng như thế nào khi kết hợp với cây đàn?

Bộ gõ là phần vô cùng quan trọng vì nó truyền tải cái tinh thần của tác phẩm và các làn điệu tới người nghe.

Ông đã khôi phục lại thành công cây đàn bầu mộc và kết hợp hình thức biểu diễn như thế nào?

Tôi đã chế tác được cây đàn theo đúng nguyên bản, kết hợp với đôi chân vừa giữ nhịp, vừa phụ họa những tiết tấu khá phức tạp. Như một làn điệu chèo “Đường trường phải chiều”, thì tiết tấu của một chân là tiếng trống đế và tiếng thanh la còn một chân là tiếng mõ. Nếu như nhắm mắt lại ta tưởng rằng có người gõ riêng một bộ gõ. Vì thế, tôi đã nghiên cứu và phát triển thành công hình thức biểu diễn này cho cả những làn điệu xẩm.

Tôi luôn tâm niệm cả cuộc đời gắn bó với loại hình âm nhạc mà mình theo đuổi. Trong biểu diễn, tôi kết hợp vào rất nhiều làn điệu xẩm như: xẩm tàu điện, huê tình, chênh bong, thập ân, sa mạc, trống quân, bồng mạc và các làn điệu chèo.

Là một nghệ sĩ của Nhà hát ca múa nhạc Quốc gia Việt Nam, vừa tham gia ở TT.ANVN thì thời gian nào ông dành cho việc chế tác?

Tất cả những thời gian nghỉ ngơi tôi dành tâm huyết để chế tác ra những cây đàn.                                                                                          

Hồng Nụ

Published on 09/09,2009

30.05.2009 01:30

http://buinu.vnweblogs.com/post/15059/182848

HÁT XẨM (audio) với Thanh Ngoan, Xuân Hoạch , Văn Ty, Xuân Hinh, Tuyết Hoa


XẨM XOAN do THANH NGOAN trình bày

http://us.nhac.vui.vn/xam-xoan-thanh-ngoan-nhieu-ca-si-m172214c97p1507a13080.html

Xuân Huê Tình (Đoàn Thanh Bình) – Thể hiện: Nhiều Ca Sĩ

http://us.nhac.vui.vn/xuan-hue-tinh-doan-thanh-binh-nhieu-ca-si-m172212c97p1507a13080.html

Mục Hạ Vô Nhân (Văn Ty) – Thể hiện: Nhiều Ca Sĩ

http://us.nhac.vui.vn/muc-ha-vo-nhan-van-ty-nhieu-ca-si-m172210c97p1507a13080.html

Hát Xẩm (Xuân Hinh) – Thể hiện: Nhiều Ca Sĩ

http://us.nhac.vui.vn/hat-xam-xuan-hinh-nhieu-ca-si-m172208c97p1507a13080.html

Xẩm Tàu Điện (Tuyết Hoa) – Thể hiện: Nhiều Ca Sĩ

http://us.nhac.vui.vn/xam-tau-dien-tuyet-hoa-nhieu-ca-si-m172213c97p1507a13080.html

Xẩm Ba Bậc (Xuân Hoạch) – Thể hiện: Nhiều Ca Sĩ

http://us.nhac.vui.vn/xam-ba-bac-xuan-hoach-nhieu-ca-si-m172211c97p1507a13080.html

Lỡ Bước Sang Ngang (Thanh Ngoan & Tuyết Hoa)… – Thể hiện: Nhiều Ca Sĩ

http://us.nhac.vui.vn/lo-buoc-sang-ngang-thanh-ngoan-tuyet-hoa-nhieu-ca-si-m172209c97p1507a13080.html

Anh Khóa (Xuân Hoạch) – Thể hiện: Nhiều Ca Sĩ

http://us.nhac.vui.vn/anh-khoa-xuan-hoach-nhieu-ca-si-m172207c97p1507a13080.html

Tiếng tơ lòng của người truyền nhân mang ngón út dị dạng, VIETNAM 2012


Tiếng tơ lòng của người truyền nhân mang ngón út dị dạng
(Ngày đăng: 06/04/2012   Lượt xem: 163)

Tơ lòng đã lỡ đôi dây 
Tình tang chi mãi cho đây 
thêm sầu (cổ nhạc)

NSƯT Xuân Hoạch với cây đàn quý của người thầy – Đinh Khắc Ban. Ảnh: Hi Lam

so tiếng của dây tơ ngày xưa với tiếng của dây nilông hiện tại thì đúng là một trời một vực. Tiếng dây nilông vang lên rồi mất ngay, làm âm thanh bị biến dạng. Còn “tiếng dây tơ nghe đã lắm, sâu thăm thẳm, có đục có trầm, chứ không bong như tiếng dây nilông” – lời thầy Đinh Khắc Ban cứ văng vẳng trong tâm trí NSND Xuân Hoạch suốt mấy chục năm trời. Và rồi, ông mày mò tìm cách hồi sinh tiếng tơ cho cây đàn dân tộc.

Một bữa nắng gắt, trong ngôi nhà cổ làm toàn bằng gỗ của hoạ sĩ Bùi Hoài Mai tại Bắc Ninh, diễn ra một chương trình âm nhạc dân tộc thật khó quên. Nhân vật chính là nghệ nhân ca trù Kim Đức và nghệ nhân đàn đáy Xuân Hoạch. Nhân vật phụ, ngoài đài truyền hình địa phương còn có nghệ sĩ Việt kiều Nguyễn Nhất Lý, từng ghi dấu ấn với vở xiếc Làng tôi. Lý vượt đường xa, vác theo dàn âm thanh, là để tranh thủ ghi lại những tác phẩm ca trù chuẩn mực của đôi đào nương – kép đàn gạo cội: Kim Đức – Xuân Hoạch, và cũng vì không muốn bỏ lỡ buổi ra mắt một cây đàn đáy “đặc biệt”, như giới thiệu của NSND Xuân Hoạch. Khi nghệ nhân Xuân Hoạch lựa thế ngồi, nâng cây đàn cổ, những âm thanh đầu tiên phát ra từ đôi bàn tay chai sần biến dạng sau mấy chục năm khổ luyện, hết thảy sững sờ, mà người xúc động hơn cả là nghệ nhân ca trù Kim Đức. Thứ âm thanh tuyệt đẹp này đã mất tích lâu lắm rồi, chỉ còn ngân rung trong nỗi nhớ của bà hơn nửa thế kỷ qua. Nhất Lý cũng bàng hoàng không kém, bởi những sợi tơ mỏng manh anh tìm về cho nghệ nhân Xuân Hoạch, không ngờ, lại là thành tố quan trọng tạo nên thứ âm thanh kỳ lạ, vốn gắn liền với những cây đàn cổ truyền của Việt Nam: tiếng tơ.

Năm 1973, NSND Xuân Hoạch khi ấy đang đầu quân cho nhà hát Ca múa nhạc Trung ương, được giao một nhiệm vụ quan trọng: trong vòng ba tháng, gấp rút học cách chơi đàn đáy để tham gia biểu diễn trong một tác phẩm lớn. Ông tìm đến nghệ nhân Đinh Khắc Ban nhờ chỉ dạy. Thực ra, lúc đầu, cũng chỉ định học tới mức “lấy gân, ngón” là ngưng. Nhưng, không ngờ, càng học càng ngấm, càng say. Khoá đào tạo ngắn hạn chuyển thành dài hạn. Năm năm trời, thầy trò gắn bó với nhau. Có lúc, trò đón thầy về ở cùng, để tiện cho việc học. Cụ Đinh Khắc Ban có một cây đàn quý, sử dụng từ nhỏ, và cũng là cây đàn cụ dùng để đệm cho đào nương Quách Thị Hồ hát bản Tỳ bà hành (tác phẩm này cùng tác phẩm solo đàn đáy của NSND Xuân Hoạch giành giải nhì (không có giải nhất) liên hoan Quốc tế băng từ dân gian, tổ chức tại Mông Cổ). Một bữa, thầy Ban nói với Xuân Hoạch, sau này sẽ tặng lại trò cây đàn. Thời ấy, cây đàn là báu vật của kép đàn, nên nghe thế, Xuân Hoạch sung sướng, cảm động lắm. Dĩ nhiên, đó không phải là lý do chính khiến ông miệt mài với cây đàn đáy. Chìa đôi bàn tay gân guốc có hai ngón út và áp út gần như dính liền nhau, Xuân Hoạch cười bảo: “Không phải bỗng dưng người ta gọi đàn đáy là nhục cầm. Muốn biết ai khổ luyện hay không chỉ cần xoè tay ra là thấy. Ngón út của người chơi đàn đáy bao giờ cũng to bất thường. Ngón út của thầy Ban thậm chí còn to bằng ngón trỏ”. Cũng chính vì nhìn vào đôi bàn tay dị dạng ấy, cụ Đinh Khắc Ban mới tin tưởng trao lại báu vật của mình cho Xuân Hoạch. Đến giờ, cây đàn đã ngoài 90 năm tuổi, nhưng phím đàn vẫn nguyên vẹn, âm thanh phát ra vẫn chuẩn mực như ngày kép đàn Đinh Khắc Ban được làm lễ “đóng đàn”.

Trong thời gian theo học nghệ nhân Đinh Khắc Ban, thi thoảng, Xuân Hoạch lại thấy thầy ôm cây đàn trầm ngâm: “Giá như còn dây tơ…” Hỏi chuyện, thầy kể, ngày xưa, “tiếng trúc, tiếng tơ” là âm thanh đặc trưng của các cây đàn cổ truyền. “Tiếng trúc” là tiếng của bộ gõ, phách. “Tiếng tơ” là tiếng của dây đàn làm bằng dây tơ. Tiếng vang của dây tơ rất lạ, ngay cả khi gần tắt thì vẫn nguyên âm sắc, độ đục, độ trầm sâu thăm thẳm, nghe rất sướng, mà người chơi đàn cũng sướng. Có điều, nó khiến kép đàn mệt hơn nhiều so với dây nilông, vì phải “miết” chặt. Độ “miết” càng chặt, càng cao bao nhiêu thì tiếng đàn càng có sức nặng, có thần bấy nhiêu. Từng ấy chi tiết đủ khiến Xuân Hoạch nôn nao. Mặc dù chưa từng thấy dây tơ, chưa từng nghe tiếng tơ, nhưng trong đầu ông đã nhen nhúm một ý định…

                                                                           Theo SGTT

http://langnghevietnam.vn/?go=New&page=d&igid=671&iid=1067

 

NGUYỄN QUANG LONG : Còn đây một giọt đàn bầu, VIETNAM 2009


Còn đây một giọt đàn bầu

(TT&VH Cuối tuần) – Ai cũng nghĩ đàn bầu, báu vật vô giá của dân tộc, vẫn còn sống rất mãnh liệt khắp chốn nhân gian. Vậy mà, cây đàn bầu mộc đã gần như vắng bóng, và bị thay thế bởi đàn bầu điện. Nhưng mới đây, giữa Hà thành nghìn năm tuổi, du khách có thể thưởng thức tiếng đàn bầu cổ truyền qua tài đàn của NSND Xuân Hoạch tại một nơi hết sức dân dã: chiếu Xẩm Hà thành ở ngay trước cửa chợ Đồng Xuân vào mỗi tối thứ Bảy. Ông cũng chính là người từng mày mò phục chế cây đàn bầu mộc từ trong những tư liệu ảnh của người Pháp…

Long đong phận đàn bầu

Cây đàn bầu vốn chiếm thế độc tôn trong lòng mỗi người con đất Việt nhiều thế kỷ, nhưng tới nửa cuối thế kỷ 20 khi các nhạc cụ điện ngày càng phổ biến thì phong trào cải tiến đàn bầu để âm thanh lớn bắt đầu phát triển và nở rộ. Đó cũng là thời điểm báo hiệu những thăng trầm của đàn bầu.
 
Đàn bầu mộc ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
 
Vào những năm 1950 đàn bầu điện bắt đầu xuất hiện trong các đoàn văn công. GS.TS Phạm Minh Khang – nguyên Chủ nhiệm khoa Lý luận Sáng tác Chỉ huy – Học viện Âm nhạc Quốc gia VN (HV ANQGVN) cho rằng: “Sự xuất hiện tiếng đàn điện phù hợp với thời điểm ấy, khi các đoàn phải tập trung biểu diễn phục vụ chiến sĩ và nhân dân. Để phục vụ đông đảo công chúng một cách hiệu quả cần phải có âm thanh lớn, các nghệ sĩ đã sáng tạo ra việc lắp thêm ô-ri-ông-tông khuếch đại âm thanh”. Sáng tạo này rất độc đáo vì nó vẫn giữ được hồn cốt của tiếng đàn bầu, từ nhấn nhá đến rung, kể cả những tiếng phát ra từ sự tác động giữa que gảy với dây đàn rất đặc trưng của đàn bầu. Vài thập niên sau, thêm một làn sóng cải tiến nhạc cụ, nhiều nghệ sĩ đã lắp thêm mô-bin kèm theo cái loa như loa nén cỡ nhỏ. Cũng từ thời điểm ấy đàn bầu điện có thể rung, nhấn nhá thêm nhiều cung bậc nhưng nó đã khác xa với cây đàn bầu cổ truyền và rất dễ lẫn với âm thanh của nhiều nhạc cụ điện du nhập khác như guitar điện, guitar Hawai…
 
Theo các chuyên gia, lần cuối cùng đàn bầu mộc đến với đông đảo công chúng cách đây đã 30 năm. Năm 1978, Nhạc hội Đàn bầu lần đầu được tổ chức từ sáng kiến của cố GS, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước nguyên là Viện trưởng Viện Âm nhạc. Nhạc sĩ Thao Giang, lúc ấy là Phó trưởng Khoa Nhạc cụ Truyền thống của Trường Âm nhạc VN (nay là HV ANQGVN) đã được sự chỉ đạo của GĐ, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương về việc đặt những cây đàn bầu này để khai thác, áp dụng trong giảng dạy tại trường: “Cụ Phước muốn tổ chức Nhạc hội vì cụ muốn cây đàn bầu cổ truyền trở về với vị trí vốn có của nó, đồng thời cũng là dịp nhìn nhận để tiếp tục phát triển cây đàn cải tiến. Không thể quên được lần ấy tiếng đàn bầu mộc độc đáo được các nghệ nhân Thân Đức Chinh (Bắc Giang), Nguyễn Văn Nguyên (Hà Nội), Nguyễn Ngọc Thư, Nguyễn Văn Quang (Hải Phòng)…”.
 
NSND Xuân Hoạch và cây đàn bầu mộc do ông chế tác

Không ai biết thời điểm chính xác cây đàn xuất hiện, song nhà nghiên cứu Hoàng Kiều dẫn lời cụ nghệ nhân Nguyễn Văn Nguyên: Đàn bầu tương truyền chính là báu vật mà Bụt ban cho thái tử Trần Quốc Đĩnh trong lúc bị người em ruột hãm hại bơ vơ giữa nơi rừng sâu. Cũng từ đấy hát xẩm ra đời gắn với đàn bầu. Có lẽ cũng do gắn với hát xẩm và những nghệ nhân mù lòa cơ cực nên đàn bầu cũng cùng chung số phận hẩm hiu! Rồi mãi đến năm 1892 đàn bầu mới được những người hát xẩm Bắc kỳ đưa vào Huế và khoảng đầu thế kỷ 20 người ta mới thấy một số nhạc sĩ tài tử dùng đàn bầu để hòa tấu trong dàn nhạc…

Và mối duyên nợ với “tiếng hồn dân tộc”

NSND Xuân Hoạch được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSƯT năm 1993 và NSND năm 2007 do những đóng góp cho cây đàn nguyệt. Song, ông lại luôn bị tiếng đàn bầu ám ảnh. Quê ông ở Thái Bình, từ nhỏ đã ngấm tiếng bầu cùng những làn điệu chèo. Được học đàn nguyệt chính quy tại Trường Âm nhạc VN nhưng ông vẫn học lỏm đàn bầu ở lớp của thầy Bá Sách. NSND Xuân Hoạch kể: “Đàn bầu với tôi như một món nợ. Chừng nào chưa trả lại được cho nhân dân tiếng đàn bầu dân tộc thì chừng đó gánh nợ vẫn còn đeo đẳng bên tôi”.

 

NSND Xuân Hoạch cho biết: Cây đàn bầu mộc có nhiều đặc điểm khác biệt với đàn bầu hiện nay. Hộp cộng to, cần đàn cứng cáp, và que đàn thì rất dài, có khi dài bằng cái đũa con. Khi đánh, sự tác động giữa que đàn lên dây đàn sẽ tạo một tiếng phụ nghe rất hay, rất đặc trưng của tiếng đàn bầu mộc, vì thế nó mới được ví như tiếng kêu “tích tịch tình tình tang”. Đàn bầu ngày nay đã hoàn toàn mất đi âm sắc này. Tư thế chơi đàn cũng rất đẹp chứ không phải cúi gầm mặt như đàn bầu điện hiện nay.

Quá trình chế tác đàn bầu mộc của NSND Xuân Hoạch không hề đơn giản. Có quá nhiều khâu phải thực hiện. Đầu tiên phải nhớ lại cây đàn ngày xưa mà nghệ sĩ từng được tận mắt thưởng thức kết hợp với những tấm ảnh đàn bầu do người Pháp chụp đầu thế kỷ 20 ở Hà Nội, sau đó vẽ ra để định dạng kích thước. Việc chọn chất liệu phục chế cũng không đơn giản. Xưa các cụ dùng gỗ hoặc tre to để làm hộp đàn, sau khi suy nghĩ và tham khảo, ông quyết định chọn chất liệu tre làm bầu đàn. Bỏ ra không biết bao nhiêu thời gian rong ruổi khắp các điểm bán tre nứa mới có thể tìm cho ra một cây ưng ý. Ngay như quả bầu nậm, dù chỉ có tác dụng giúp cho cây đàn thêm duyên dáng nhưng ông cũng phải nhờ anh em họ hàng ở tận Quảng Trị gửi ra. Vì thời điểm ấy không thể tìm được bầu nậm khô ở Hà Nội. Có đầy đủ nguyên liệu làm đàn rồi mới đến khâu quan trọng nhất là chế tác. Phải chú ý từng chi tiết nhỏ để làm sao khi cây đàn thành hình có thể phát ra được âm thanh tốt nhất. Mãi tới năm 1990, ông mới phục chế xong cây đàn bầu mộc đầu tiên. Rồi đàn thử, thu băng và đem “khoe” những người bạn thân thiết.
 
Tiếng đàn bầu mộc hôm đó của NSND Xuân Hoạch đã trở thành cảm hứng ra đời tác phẩm Du thuyền trên sông Hương đậm chất âm nhạc Huế lại pha chút âm nhạc Hát Văn của nhạc sĩ Thao Giang. Đó là một bản nhạc với sự góp mặt của 4 nhạc cụ, trong đó ngoài đàn bầu còn có 3 nhạc khí gõ là mõ, thanh la và trống. Trao tặng NSND Xuân Hoạch tổng phổ bản nhạc, nhạc sĩ Thao Giang động viên: “Đây là tác phẩm viết cho đàn bầu mộc sẽ thể hiện được tính năng cây đàn và tài nghệ của người nghệ sĩ biểu diễn. Nhưng phải tập để làm sao chỉ một mình có thể đảm đương tất cả các nhạc cụ này. Các cụ nghệ nhân đàn bầu xưa vẫn làm được điều này”. Quả là một điều không đơn giản trong khi tay đàn, hai chân phân 3 loại nhạc cụ mà mỗi chân lại phải đảm đương hai kiểu tiết tấu khác nhau (một chân nhịp thuận và một chân là tiết tấu đảo). Các cụ nghệ nhân thời xưa không phải lúc nào cũng sử dụng “chiêu độc” này nhưng cụ nào cũng thạo việc tay vừa gảy đàn vừa đánh trống, chân giậm nhịp rất điệu nghệ…
 
Hiện đang thuộc “quân số” của Nhà hát Ca múa nhạc VN nhưng muốn gặp NSND Xuân Hoạch phải tìm tới Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc VN (Trung tâm) tại đình Hào Nam. Vì cứ rảnh ông lại tới đây truyền dạy cho các bạn yêu nghệ thuật truyền thống về đàn nguyệt, đàn bầu, đàn đáy, hát văn và hát xẩm… Học sinh của ông đủ lứa tuổi, có cụ bà hơn 80 đến học lại những câu hát ru, có cháu bé chỉ hơn 10 tuổi. Nhưng điều ông trăn trở là cho đến nay, vẫn chưa tìm được một học trò cưng để giao lại những bí quyết phục chế đàn bầu nguyên gốc. Ông bảo để có thể thể hiện đàn bầu theo đúng lối truyền thống dân tộc để đạt được yêu cầu đơn giản nhất chí ít cũng phải mất 3 năm dồn toàn tâm toàn lực, còn đạt độ nhuần nhuyễn thì phải mất cả cuộc đời. Mà bây giờ, tìm được một người trẻ yêu và dám hy sinh tất cả cho cây đàn bầu thật như đáy bể mò kim…
 
Nguyễn Quang Long
Thứ Hai, 12/01/2009 16:28 |

NGUYỄN HÀ AN : Làm sống lại cây đàn bầu cổ, VIETNAM 2010


Làm sống lại cây đàn bầu cổ

21/12/2010
Những người yêu nhạc dân tộc và thậm chí cả những nghệ sỹ chơi đàn bầu, rất ít người được mục sở thị cây đàn bầu cổ, mà chỉ biết đến đàn bầu điện vẫn được sử dụng rộng rãi. Con đường tìm kiếm và phục dựng cây đàn bầu cổ là cả một hành trình gian nan.

04-lai-song-35510-300.jpg

NSND Xuân Hoạch kể, trong Nhạc hội Đàn bầu tổ chức tại Hà Nội năm 1978, ông và nhạc sỹ Thao Giang (hiện là Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Âm nhạc Việt Nam) đã tận mắt được xem ông Nguyên, lúc đó là một trong những trùm xẩm nổi tiếng của Hà Nội chơi một cây đàn bầu rất lạ. Nó không chỉ khác về hình dáng mà âm thanh cũng nổi trội hơn. Điều đặc biệt là không cần kích điện nhưng tiếng của nó rất to và vang. Trở về, ông cùng nhạc sỹ Thao Giang tìm trong các tư liệu về đàn bầu thì chỉ có những ghi chép sơ qua mà không có hình ảnh minh họa. Nhạc sỹ Thao Giang đã phải nhờ một người bạn bên Pháp tìm cho bức ảnh mà người Pháp đã chụp hai người Việt hát xẩm trước cổng chợ chơi cây đàn mà ông đã được nhìn thấy ông trùm Nguyên chơi.

Năm 1992, NSND Xuân Hoạch bắt tay phục dựng cây đàn cổ. Nguyên liệu được ông lựa chọn là tre. Theo ông, đàn làm bằng tre dễ làm hơn và mang đậm phong cách dân gian. Nói thì dễ nhưng ông cũng mất 17 năm để phục dựng được nó. Trong quá trình phục dựng, ông đã hiểu vì sao người hát xẩm xưa lại điều khiển cây đàn một cách dễ dàng như vậy. Cần đàn hay còn gọi là vòi đàn được uốn cong như chiếc vòi voi và cao đến 70cm. NSND Xuân Hoạch giải thích, cần cao như vậy giúp cho người hát xẩm khiếm thị vốn đã không nhìn thấy gì, không phải cúi mặt xuống mỗi khi đánh đàn. Khi khép nách lại tạo cự ly vừa phải để có thể đánh đàn mà không phải bò soài trên cây đàn. Dây của cây đàn cổ cách mặt đàn 45cm, cao hơn rất nhiều so với cây đàn cách tân chỉ cách 10cm. Cần đàn được ví như chiếc cổ con hạc “Trường cổ thì đại thanh”, nên người làm đàn xưa đã áp dụng nguyên lý đó để tạo cho tiếng đàn có thể vang xa.

Sau khi làm cây đàn bằng tre, NSND Xuân Hoạch vẫn chưa thỏa mãn. Ông quyết định làm một cây đàn bằng gỗ. Bởi cây đàn ông được nhìn thấy và cây đàn do người Pháp chụp ảnh đều được làm bằng gỗ. Nếu làm cây đàn bằng tre ông phải mất 17 năm thì chuyển sang làm cây đàn bằng gỗ ông chỉ mất 2 tháng. Bởi tất cả những nguyên lý về âm thanh, những khiếm khuyết của cây đàn tre ông đã nắm rất rõ. Điều khó nhất là tìm gỗ để làm đàn. Người xưa thường có câu: “Bầu sòi vòi nhãn”, tức là bầu đàn được làm bằng gỗ sòi, vòi đàn được làm bằng gỗ nhãn. Sở dĩ chọn gỗ nhãn để làm vòi đàn bởi gỗ nhãn có độ dẻo cao giúp người chơi dễ dàng chỉnh âm. Người xưa quan niệm bầu đàn được coi như một bào thai âm thanh từ trong phát ra chứ không phải từ ngoài dội vào nên phải chọn gỗ sòi làm bầu để bảo đảm âm thanh vừa trong vừa vang xa. Không tìm được gỗ sòi ông quyết định chọn lõi thông thay thế. Lõi thông cũng chịu được thời tiết khắc nghiệt của Việt Nam và âm thanh cũng chuẩn không kém gì gỗ sòi. Sau khi hoàn thành việc phục dựng cây đàn bầu cổ bằng gỗ, ông quyết định thêm một chi tiết nữa vào chân đàn, là bộ gõ, giúp người hát xẩm có thể một mình vừa gẩy đàn, vừa gõ, vừa hát.

Những cố gắng của NSND Xuân Hoạch đã được đền đáp. Hầu hết những CD hát xẩm hay độc tấu đàn bầu đều được chơi bằng cây đàn do ông phục chế. Điều ngạc nhiên là nếu chỉ nghe, người nghe tưởng như có hai người gõ đệm cho một người chơi đàn.

Vui vì đã phục dựng được cây đàn cổ nhưng NSND Xuân Hoạch vẫn đau đáu một nỗi niềm, là đến nay chưa có ai thực sự muốn học đánh cây đàn cổ. Bởi để học được nó cũng khó khăn như quá trình ông tìm cách phục dựng nó. Ông cười bảo: nếu có ai say mê nó như tôi, tôi sẽ đóng cửa chỉ ở nhà truyền dạy miễn phí cho họ.

Nguyễn Hà An