Asides

TÂM GIAO : BẠCH YẾN : Cưới 38 năm, vợ chồng tôi vẫn như tình nhân


Thứ ba, 18/3/2014 08:44 GMT+7

TÂM GIAO : Bạch Yến: ‘Cưới 38 năm, vợ chồng tôi vẫn như tình nhân’

Danh ca nổi tiếng Sài Gòn trước năm 1975 chia sẻ về cuộc sống hôn nhân đầy viên mãn trong lần về nước tham gia đêm nhạc.

– Cảm giác của chị như thế nào khi sắp biểu diễn trước khán giả truyền hình cả nước vào ngày 22/3?

– Từ năm 1975 đến nay, có một vài lần tôi về nước hát phòng trà với khán giả thân thuộc. Tôi chưa từng xuất hiện trước công chúng cả nước hoặc trên truyền hình. Nên lần này, cảm xúc của tôi rất đặc biệt. Tôi khá hồi hộp và run rẩy. Tôi không biết khán giả có còn yêu thương mình không. Mình có hát tốt như đã chuẩn bị không. Mọi người có nhận ra một Bạch Yến của nhiều năm về trước không.

yen-1.jpg
Danh ca Bạch Yến.

– Chị có kế hoạch nào khác cho lần về này?

– Tôi kết hợp làm đĩa nhạc của Lam Phương. Trước khi rời Việt Nam, tôi được một người bạn đề nghị thu CD nhạc của anh ấy. Trước khi về, tôi dành thời gian nghiên cứu kỹ về nhạc của Lam Phương hơn, vì tôi chỉ biết mỗi bài Cho em quên tuổi ngọc mà anh ấy sáng tác riêng cho tôi. Còn lại tôi không biết một bài nào khác. Sau khi nghe nhiều nhạc của anh ấy, tôi thấy nhiều ca khúc rất thú vị nhưDuyên kiếp, Chờ người hay Phút cuối… Tôi thử hát một lần xem sao.

Đây là CD thứ hai tôi làm ở Việt Nam. Tôi rất ít khi thu âm làm album nhạc. Bởi, tôi thích đứng hát trên sân khấu, đứng trước khán giả, tôi có cảm xúc hơn. Còn khi vào phòng thu âm tự nhiên tôi cảm thấy bị ngộp. 

– Nhạc sĩ Lam Phương từng chia sẻ chị là mối tình đầu, là nguồn cảm hứng sáng tác của anh. Với chị thì sao?

– Thông tin tôi là mối tình đầu của nhạc sĩ Lam Phương là sai. Tôi và anh ấy là bạn ấu thơ. Lúc đó, tôi mới 11-12 tuổi thì làm sao mà biết yêu được. Thời đó, tôi đã đi hát ở đài phát thanh Việt – Pháp nên thường hay được anh ấy hướng dẫn góp ý. Có thể anh ấy lấy tôi làm hình mẫu để thể hiện cảm xúc âm nhạc. 

Nhiều người cũng từng hỏi tôi về thông tin nhạc sĩ Lam Phương mang trầu cau qua hỏi cưới tôi. Thật sự, tôi không biết việc này. Nếu có thì chắc là anh ấy nói chuyện với mẹ tôi thôi. Có thể anh ấy quý mến tôi thật vì trong một cuốn video phát hành tại Mỹ, anh ấy có tuyên bố rằng tôi là niềm cảm hứng của anh ấy. Nhưng đó là tình cảm riêng của người ta sao tôi biết được. Với tôi anh ấy là một người anh thân thiết. 

– Chồng chị – nhạc sĩ Quang Hải – phản ứng sao khi biết nhạc sĩ Lam Phương có tình cảm với chị?

– Anh ấy rất quý nhạc sĩ Lam Phương. Mà dù có là tình cũ của tôi thật thì anh ấy cũng không quan tâm nhiều. Khi xem cuốn video mà anh Lam Phương nói về tôi, anh Hải còn bảo tôi là gọi điện hỏi thăm Lam Phương đi và gởi lời chào hỏi nữa (cười).

yen-3.jpg
Bạch Yến yêu mến tà áo dài Việt.

– Chồng chị chia sẻ với chị như thế nào trong đời sống âm nhạc?

– Chúng tôi là vợ chồng, là bạn và có một tình yêu chung là âm nhạc. Trong 38 năm kết hôn, cả hai gần như không rời nhau nửa bước. Tôi cùng chồng đi hơn 70 nước trên thế giới để giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam đến với mọi người. Chúng tôi nói chuyện với nhau mỗi ngày nếu không được gần nhau. Khi tôi đi công tác, tôi làm gì, đi đâu cũng gửi ảnh cho anh ấy xem qua mạng. Lấy nhau đã lâu mà vợ chồng cứ như một tình nhân mới quen vậy.

 Thường ngày, chị xưng hô với chồng như thế nào?

– Chúng tôi không gọi nhau là anh và em như những người khác, mà gọi là “má và ba” mặc dù tôi chưa đẻ con. Tôi nuôi con gái riêng của chồng từ lúc nó lên 5 tuổi. Lúc đó chúng tôi xưng với nhau là ba với má cho con gái quen. Bây giờ muốn đổi lại là anh với em nhưng anh ấy không chịu (cười). Lâu lâu đứng ngoài phố, anh ấy có khi cầm tay tôi rồi hôn nhưng bảo gọi tôi bằng tiếng “em” thì nhất quyết không chịu.

 Bao năm nay, sao chị không sinh thêm con để vui cửa vui nhà?

– Tôi rất muốn đó chứ nhưng mà không được. Hồi năm 1975, tôi bị một cú sốc lớn khi nghe tin mẹ tôi về quê hương rồi mất tích. Lúc đó vì quá đau buồn nên tôi bị ảnh hưởng và không thể có con được. Chắc là số trời không cho tôi có con nhưng chúng tôi quá yêu nhau nên chuyện đó không ảnh hưởng gì đến đời sống hôn nhân.

 Nhạc sĩ Trần Quang Hải là cuộc tình thứ mấy trong đời chị?

– 36 tuổi mới kết hôn thì chắc chắn chồng tôi không phải là mối tình đầu tiên rồi. Thời trẻ, tôi có khá nhiều người theo đuổi. Nhưng rồi không mấy ai ở lại. Đến khi gặp anh Hải, tôi mới thấy anh ấy chính là mối tình trọn đời. Anh ấy cầu hôn tôi sau 24 tiếng quen nhau và chúng tôi đã sống đến nay gần 40 năm rồi còn gì.

– Chị nhìn nhận như thế nào về sự thay đổi của nền âm nhạc Việt Nam hiện tại?

– Âm nhạc bây giờ mang tính thương mại khá nhiều. Tôi thường xem lại các chương trình ca nhạc Việt Nam, các sản phẩm âm nhạc của ca sĩ quê hương mình nhưng ít thấy có chất nghệ thuật. Bây giờ, các ca sĩ toàn hát nhạc nhảy. Theo tôi, nếu một người có chất giọng, có thẩm mỹ âm nhạc sao không chọn một ca khúc chậm rãi để mọi người cùng chiêm nghiệm, thưởng thức.

 Bản thân chị sẽ mang lại cho khán giả điều gì sau nhiều năm xa cách?

– Người ta nói càng già chất giọng sẽ càng trầm hơn. Còn tôi thì khác, tôi vẫn luyện giọng hàng ngày và tập thể dục để có sức khỏe tốt. Tôi hy vọng khán giả sẽ gặp lại một Bạch Yến của ngày nào. 

Danh ca Bạch Yến là khách mời đặc biệt trong đêm nhạc “Tình khúc vượt thời gian”. Chị sẽ thể hiện các ca khúc Cho em quên tuổi ngọc, Đêm đông, Duyên kiếp, Đi với tôi đến chân trời xa, La vie en rose, If you go away. Chương trình còn có sự tham gia của: NSND Ngọc Giàu,  Lan Ngọc, Cẩm Vân, Xuân Phú, Đức Tuấn, Hoàng Lê Vi. Đêm nhạc diễn ra ngày 22/3 tại Nhà hát Hòa Bình TP HCM. 

Tâm Giao thực hiện

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/gioi-sao/trong-nuoc/bach-yen-cuoi-38-nam-vo-chong-toi-van-nhu-tinh-nhan-2964971.html

Đêm liveshow danh ca hải ngoại Bạch Yến với chủ đề LA LLORONA người tình nữ khóc than Bạch Yến


Bạn sẽ được thưởng thức giọng ca của Danh ca hải ngoại Bạch Yến qua Đêm liveshow danh ca hải ngoại Bạch Yến với chủ đề LA LLORONA người tình nữ khóc than Bạch Yến về lại chốn xưa được diễn ra vào lúc 20h ngày 09/03 tại phòng trà Tiếng Xưa. Đến với đêm nhạc bạn sẽ được nghe lại các ca khúc đã gắn liền với tên tuổi của Bạch Yến như ca khúc Đêm Đông… Hãy đến với phòng trà Tiếng Xưa để được thưởng thức giọng ca tuyệt vời của Bạch Yến cùng nhạc sĩ Bảo Chấn, dưới sự phục vụ chu đáo tận tình của nhân viên phòng trà Tiếng Xưa, dưới sự chỉ đạo dẫn chương trình của đạo diễn nhạc sĩ Vũ Xuân Hùng sẽ đem lại cho bạn những giây phút trải nghiệm âm nhạc tuyệt vời nhất.

Danh ca Bạch Yến

Bạch Yến

Bảo Chấn

Bạch Yến sinh năm 1942, là một trong những danh ca của Sài Gòn trước 1975. Bà được biết đến như một nghệ sĩ thực thụ với những ca khúc tân nhạc Việt Nam và nhạc ngoại quốc từ khi còn là một cô bé 10 tuổi, bà giành huy chương vàng cuộc thi tuyển lựa những giọng ca nhi đồng do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức và sau đó được mời cộng tác với ban ca nhạc nhi đồng của Đài. Năm 15 tuổi, bà bắt đầu được khán giả chú ý với ca khúc Đêm đông của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương.Năm 21 tuổi, Bạch Yến được mời qua Mỹ biểu diễn và trở thành người Việt Nam đầu tiên và duy nhất xuất hiện trên chương trình truyền hình Mỹ vào đầu năm 1965. Bà là người đại diện cho Việt Nam tham gia Environment Show – chương trình ăn khách nhất của nước Mỹ thời ấy và biểu diễn cùng nhiều danh ca, ban nhạc nổi tiếng như Beatles, Bob Hoge, Bing Crosby, Pat Boone, Rolling Stones… Ngoài tiếng Việt, bà có thể hát tốt các bản nhạc tiếng: Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Italy và Do Thái.

Đôi nét và chủ đề của Đêm nhạc. Bài hát LLORONA đã luôn đi bên cạnh cuộc đời của Danh Ca BACH YÊN : Llorona Mexico Thật sự là như vậy , Khi Bạch Yến lưu diễn Mexico khi nghe bài hát này Bạch Yến đã khẳng đinh La Llorona sẽ gắn liền với cuộc đồi của mình Khi Bạch Yến cât tiếng Hát bài Llorona thì Bạch Yên là hiên thân của người đàn bà trong La Llorona

Một huyền thoại ma quái của người Mêxicô Kể về một người phụ nữ lang thang từ đời này sang đời khác, không ngừng than khóc để tìm lại những đứa con đã bị chết đuối của mình. Một hình tượng bi thảm và đáng sợ, rằng La Llorona chỉ xuất hiện khi bóng chiều đã tắt, cất tiếng khóc ai oán và sẵn sàng bắt trẻ con ném xuống sông, suối cho chết đuối để trả thù cho nỗi đau của mình. Đến nỗi dân Mêxicô thuở ấy không dám ra khỏi nhà vào ban đêm.

Tình Nữ Khóc Than ( La Llorona )

Người tình nữ khóc than

La Llorona là một khúc dân ca nổi tiếng hơn 300 năm qua của Tây Ban Nha . Kể về môt thôn nữ xinh đẹp tên Maria . Kết hôn với một công tử con nhà giầu có ở Tijuana . Nàng sinh được 2 đứa con và sống hanh phúc trong vài năm đầu . Cho đến một ngày nàng bắt gặp chồng mình ngoại tình với một phụ nữ ở làng bên Trong cơn ghen đốt cháy thần trí , Maria đã bóp cổ hai đứa con nhỏ ,ném xuống sông rồi gieo mình tự tử . Theo truyện kể lại thì sau khi Maria được dân làng chôn cất thì hằng đêm người ta thường nghe thấy tiếng khóc văng vẳng trong gió và nhều người đã nhìn thấy nàng mặc tấm khăn liệm lang thang bên bờ sông , u uẩn tiếng khóc thảm thiết .

Người tình nữ khóc than

Maria bị trời phạt bắt biến thành một vong hồn bị đầy ải suốt kiếp đời phải lang thang bên bờ sông hằng đêm gào thét ,khóc lóc mong tìm lại những đứa con nàng đã giết . Ca khúc La Llorona (The Crying Woman ) đã được chuyển dịch lời Việt thành Tình Nữ Khóc Than.

Đêm liveshow danh ca hải ngoại Bạch Yến

Bạch Yến

Đêm liveshow Bạch Yến

Danh ca hải ngoại Bạch Yến

Bạch Yến

http://tapi.vn/dem-liveshow-danh-ca-hai-ngoai-bach-yen-voi-chu-de-la-llorona-nguoi-tinh-nu-khoc-than-bach-yen-ve-lai-chon-xua

Liveshow Dấu Ấn: Hiền Thục


Liveshow Dấu Ấn: Hiền Thục

01
Tháng 032014

Sự kiện sắp diễn ra …

07ngày
03giờ
06phút
39giây

 Từ: 19:00 – Thứ Bảy, Ngày 01-03-2014 
 Đến: 22:00 – Thứ Bảy, Ngày 01-03-2014

  Nhà thi đấu Nguyễn Du , Q.1, TP Hồ Chí Minh

Liveshow Dấu Ấn: Hiền Thục

Ngay sau Tết Nguyên Đán 2014, Hiền Thục sẽ là nữ ca sỹ đầu tiên làm liveshow ca nhạc. Đây cũng là liveshow đầu tiên của Hiền Thục trong gần 25 năm ca hát và là show thứ 7 của Dấu Ấn – Chương trình ca nhạc do Trung tâm truyền hình Việt Nam tại TP.HCM (VTV9) thực hiện với sự tài trợ của nhãn hàng Hảo Hảo (thuộc Acecook Việt Nam), diễn ra vào lúc 19h thứ Bảy, ngày 01/03/2014 tại Nhà thi đấu Nguyễn Du (Q.1 – TPHCM) và được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV9, VTV Huế, VTV Phú Yên, VTV Lâm Đồng và một số đài địa phương khác.

Chương trình dài 90 phút, sẽ tái hiện lại những “dấu ấn” của Hiền Thục với những ca khúc gắn liền với tên tuổi của cô kể khi còn là một giọng hát nhí cho đến những thành công rực rỡ gần đây. Chương trình sẽ mang đến bất ngờ cho khán giả với tiết mục kết hợp đặc biệt giữa Hiền Thục và nữ danh ca Bạch Yến – nữ ca sĩ Việt Nam duy nhất có sự nghiệp âm nhạc thoát khỏi phạm vi cộng đồng người Việt, từng tham gia những show truyền hình ăn khách nhất ở Mỹ và biểu diễn cùng nhiều danh ca, ban nhạc lừng danh thế giới…Đây cũng là ca sỹ mà Hiền Thục vô cùng yêu thích và thần tượng. Ngoài ra, chương trình còn có sự góp mặt của các giọng hát đến từ cuộc thi Giọng hát Việt nhí – cuộc thi mà Hiền Thục làm Huấn luyện viên. Đặc biệt, chương trình còn có sự góp mặt của một “khách mời bí mật” – vốn cũng là ca sỹ hàng đầu hiện nay tại Việt Nam. Bí mật này sẽ được Hiền Thục tiết lộ trong buổi giới thiệu chính thức liveshow Dấu Ấn, sẽ được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Riverside Palace vào tuần sau.

Góp mặt trong liveshow Dấu Ấn Hiền Thục còn có nhạc sỹ Thanh Tâm trong vai trò Giám đốc Âm nhạc và Họa sỹ Phạm Hồng Minh – họa sỹ từng gây ấn tượng mạnh tại chương trình Vietnam’s Got Talent mùa thứ hai. Anh sẽ mang đến cho khán giả những bức phác họa độc đáo, được vẽ trực tiếp trong chương trình.

Cũng như các chương trình Dấu Ấn lần trước, liveshow của Hiền Thục cũng sẽ có một “Góc Dấu Ấn” – khu trưng bày những kỉ vật vô giá gắn liền với những cột mốc đáng nhớ trong sự nghiệp, cũng như trong cuộc sống của Hiền Thục. Tại đây, khán giả sẽ tận mắt chiêm ngưỡng những kỷ vật lưu niệm của Hiền Thục trong hơn 2 thập niên đi hát trong đó có nhiều món đồ giá trị lần đầu được trưng bày. Với tổng giá trị đồ nội thất trang trí lên đến 1 tỷ đồng do Trung tâm nội thất Phố Xinh tài trợ, “Góc Dấu Ấn” Hiền Thục sẽ được trang trí một cách trang trọng và đẹp mắt. Ngoài “Góc Dấu Ấn”, sân khấu của chương trình rộng hơn 300m2 cũng được đầu tư hoành tráng với 60m2 màn hình LED P5 tân tiến bậc nhất hiện nay, với nhiều hiệu ứng được thiết kế riêng cho từng tiết mục…Sự đầu tư của chương trình hứa hẹn sẽ mang đến cho khán giả một đêm nhạc hoàng tráng, một liveshow ấn tượng để mở đầu cho năm 2014.

http://nexttopevent.com/su-kien-giai-tri/liveshow-dau-an-hien-thuc.html

QUỲNH NGUYỄN : Xuất ngoại làm sô


Xuất ngoại làm sô

08/02/2014 10:15 (GMT + 7)
 
 
TT – Xuất ngoại làm sô được dự báo sẽ là xu hướng mới trong năm nay của giới ca sĩ Việt.

 

Chưa có một tin tức nào về các chương trình lớn trong nước nhưng đã có không ít thông tin về những đêm nhạc của ca sĩ Việt tại nước ngoài thời gian tới. Người đầu tiên mở hàng cho phong trào này trong năm 2014 là nữ ca sĩ Hồng Hạnh. Chị sẽ trở lại sân khấu ca nhạc sau nhiều năm vắng bóng bằng dự án HStar với rất nhiều sô diễn trong và ngoài nước, mà khởi đầu sẽ là đêm nhạc Diễm xưa diễn cùng ca sĩ – doanh nhân Thái Hòa tại Tokyo, Nhật Bản ngày 8-2.

Diễm xưa ngày nay

Lâu nay, ca sĩ bay sô hải ngoại là chuyện thường tình. Nhưng những chương trình có chủ đề, live concert do chính ca sĩ bỏ tiền đầu tư hoặc do một nhóm kiều bào tổ chức vẫn là số ít. Hơn nữa, ca sĩ Việt hát ở hải ngoại phần lớn phục vụ kiều bào hải ngoại. Vậy nên dòng nhạc được ưa chuộng vẫn là nhạc xưa, nhạc tiền chiến hay tình ca. Tuy nhiên, Hồng Hạnh cho biết những đêm nhạc của HStar Production sẽ là một chuỗi sản phẩm âm nhạc mang thương hiệu Việt ra toàn cầu, phục vụ người Việt tại hải ngoại và cả khách nước ngoài.

Để chuẩn bị cho loạt chương trình tại Nhật lần này, ngay từ trước tết Hồng Hạnh và Thái Hòa đã tung ra album Diễm xưa với 10 ca khúc của Trịnh Công Sơn, được thể hiện cả bằng tiếng Việt lẫn tiếng Nhật cùng MV Mưa mùa hạ.

Hồng Hạnh chia sẻ: “Tôi đã có duyên may thể hiện ca khúc Diễm xưa của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bằng tiếng Nhật nhiều năm về trước. Và hôm nay, thật hạnh phúc khi có cơ hội thể hiện nhiều hơn nữa những ca khúc nổi tiếng khác của ông như Mưa mùa hạ, Tình xa, Ca dao mẹ, Hoa vàng mấy độ, Ở trọ, Như cánh vạc bay… bằng tiếng Nhật với những đêm diễn tại Nhật Bản, quê hương của ông xã tôi”.

Hồng Hạnh cũng sẽ có hai đêm nhạc cá nhân Hồng Hạnh in Japan vào ngày 10 và 11-2 tại Wakayama, Nhật Bản. Sau khi công diễn tại Nhật, Diễm xưa sẽ về lại Hà Nội đêm 28-2. Ca sĩ Thái Hòa – giám đốc chiến lược của Tập đoàn FPT, người hợp tác với Hồng Hạnh trong dự án này – thổ lộ: “Hồng Hạnh có một lượng người hâm mộ đáng kể ở Nhật nên chúng tôi chọn Nhật để mở đầu cho dự án HStar. Chúng tôi cũng chọn nhạc Trịnh thân thuộc để mở màn cho dự án này với hi vọng sẽ mang đến người nghe những gì vừa dấu yêu vừa lạ lẫm, đương đại qua các bản phối mới bằng chất liệu jazz thật phiêu diêu, tình tứ mà không làm mất đi cái đẹp nàng Diễm của ngày xưa”.

Thái Hòa cũng hé lộ dự án sẽ giới thiệu những đêm nhạc mùa xuân, đêm nhạc mùa hè, đêm nhạc mùa thu và đêm nhạc mùa đông ở những địa điểm còn trong vòng bí mật.

 

Độc đáo Độc đạo

Nhật Bản cũng là điểm đến của Tùng Dương và êkip Độc đạo của anh trong năm 2014 với một đêm diễn vào đầu tháng 4 tại Tokyo. Trước khi đến Nhật, “phái đoàn Độc đạo” này sẽ giới thiệu những thành quả của mình vào đêm diễn được chờ đợi vào ngày 22-2 tại Matxcơva, Nga và ngày 2-3 tại Paris, Pháp. “Độc đạo là niềm tự hào lớn của Tùng Dương trong năm 2013. Chính thành công không ngờ của đêm Độc đạo tại Hà Nội vào cuối tháng 11-2013 đã mang đến cho Dương cơ hội được giới thiệu những sáng tạo mới của mình cùng êkip tại Nga, Pháp hay Nhật trong thời gian sắp tới” – Tùng Dương chia sẻ.

Độc đạo tại nước ngoài vẫn giữ đúng tinh thần cùng phần tham gia của các nghệ sĩ quốc tế như tại Hà Nội. Nghệ sĩ guitar danh tiếng Nguyên Lê vẫn sẽ tiếp tục hỗ trợ Tùng Dương bên cạnh rất nhiều tên tuổi quốc tế khác như: ca sĩ Julia Sarr (Senegal), Dhafer Youssef (Tunisia), Tom Diakite (Mali) và nghệ sĩ đàn koto Nhật nổi tiếng Mieko Miyajaki. Đặc biệt đêm diễn tại Paris còn có sự góp mặt của ca sĩ Hương Thanh – người đã cùng Nguyên Lê tạo nên cặp bài trùng vô cùng đặc sắc dành cho world music Việt ở nước ngoài.

Việc Độc đạo, một đêm nhạc theo thể loại jazz, world music khá kén người nghe ra nước ngoài với những suất diễn bán vé (chứ không phải theo dạng liên hoan, trình diễn miễn phí) được cho là một tín hiệu đáng mừng cho làng nhạc Việt trong những ngày đầu năm. “Rốt cuộc thì Dương cũng tìm thấy lối đi cho mình trên “con đường độc đạo”. Dương vui mừng muốn hét lên khi qua Độc đạo đã phát hiện kiều bào mình không chỉ chịu nghe nhạc xưa mà còn sẵn sàng tiếp nhận những thứ âm nhạc mới hơn, “khó chịu” hơn. Và cũng rất hãnh diện khi khán giả nước ngoài quan tâm đến những sáng tạo mới của những nghệ sĩ trẻ như Dương” – Tùng Dương chia sẻ đầy phấn khởi.

Nhạc kịch “ra khơi”

Ngoài Hồng Hạnh, Tùng Dương đã có không ít ca sĩ lên kế hoạch làm sô cá nhân, thậm chí tour tại nước ngoài trong năm mới. Ca sĩ Đức Tuấn sẽ có đêm nhạc Requiem với ca sĩ khách mời Ngọc Tuyền tại nhà hát Adyar, Paris, Pháp vào tối 28-6 và đêm nhạc kịch Music of the night tại Hong Kong vào tối 18-10. Nếu như Music of the night tập hợp những ca khúc bất hủ trong những vở nhạc kịch danh tiếng, khá dễ “lấy lòng” người nghe thì Requiem với những ca khúc VN được nghệ sĩ Đức gốc Việt Nguyễn Công Phương Nam (Vincent Nguyễn) phối mới sẽ là một thử nghiệm đáng chú ý của Đức Tuấn trong lần “ra khơi” này. “Nếu mô hình như Requiem được đón nhận, tôi sẽ tự tin trình làng nhiều dự án âm nhạc cũng như những đêm diễn đặc biệt khác tại nước ngoài trong năm 2014” – Đức Tuấn chia sẻ.

Nhiều kế hoạch tấn công thị trường ca nhạc ngoài nước đang trong vòng thương thảo và bạn yêu nhạc sẽ còn nghe được nhiều tin thú vị từ Thu Minh, Thanh Bùi, Hà Anh Tuấn, Đông Nhi, Thảo Trang… trong nay mai.

 

 

Thị trường hải ngoại mở lối

Anh Hiếu Cao – đại diện truyền thông của Công ty tổ chức biểu diễn Vietvision – cho biết khán giả VN trên toàn thế giới đang rất hào hứng với những sô diễn riêng có chủ đề, có đầu tư, sáng tạo của ca sĩ trong nước. Vì vậy, việc ca sĩ ta ra nước ngoài làm sô cá nhân sẽ là xu hướng trong những năm sắp tới. “Ngoài việc khán giả háo hức với những giọng ca, sáng tạo mới của nghệ sĩ trong nước, việc làm sô ở hải ngoại cũng sẽ nở rộ vì chi phí làm sô chấp nhận được, thủ tục đơn giản, doanh thu có thể cao hơn trong nước” – anh Đặng Phú Hải, quản lý ca sĩ Đức Tuấn, tiết lộ.

 

 

QUỲNH NGUYỄN

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/592790/xuat-ngoai-lam-so.html#ad-image-0


Về Hòa Cuông nghe hát giao duyên

Thứ hai, 14 tháng 11 2011 09:24
THANH CHI – MẠNH CƯỜNG
  • Email
  • In
  • PDF.

 

Thiếu nữ người dân tộc Cao Lan

Những lời ca mộc mạc mà da diết, sâu lắng trong lối hát giao duyên của dân tộc Cao Lan đã có một sức hút diệu kỳ, thôi thúc người nghe tìm đến với bản tộc người Cao Lan.

 

Trong tiết xuân ấm áp, cả bản Cao Lan hay còn gọi là người Sán Chay ở xã Hòa Cuông, huyện Trấn Yên (Yên Bái) lại say nồng trong những câu hát giao duyên Sình ca vang ngân hòa quyện vào núi rừng.

Là loại hình dân ca trữ tình, một thể loại văn hóa dân gian phong phú có từ lâu đời của dân tộc Cao Lan – Sình ca đã trở thành “món ăn” tinh thần không thể thiếu của đồng bào mỗi độ tết đến, xuân về.

Không ai biết điệu Sình ca có từ bao giờ, những người già trong làng chỉ biết rằng có một truyền thuyết về tác giả của những bài Sình ca là nàng Lausam. Nàng đã gửi gắm những ước mơ của mình vào những bài ca trữ tình sâu sắc. Để rồi những giai điệu, câu hát ấy không chỉ lưu lại đời đời mà còn chứng tỏ sức sống mãnh liệt và tình yêu trong sáng, ngọt ngào và bình dị của người Cao Lan.

Hát Sình ca là một loại hình sinh hoạt văn hóa bình dị nhất, ai cũng có thể hát được. Hát Sình ca ít khi có nhạc đệm mà chủ yếu là dựa vào tài ứng khẩu của người hát.

Các đề tài bình dị trong điệu hát Sình Ca đã phản ánh đời sống tinh thần, nói lên ước vọng của người Cao Lan về một cuộc sống ngập tràn tình yêu thương và hạnh phúc. Sình ca được hát trong nhiều hoàn cảnh khác nhau nhưng hát nhiều nhất vẫn là khi mỗi độ tết đến xuân về, những người lớn tuổi thì hát để so tài, còn nam thanh nữ tú sẽ giao duyên, tỏ tình với nhau qua những câu hát đối đáp để tìm hiểu nhau. Và vào dịp lễ hội, những làn điệu Sình ca ấy cứ dập dìu lúc bổng lúc trầm, lúc thánh thót, lúc du dương suốt đêm. Có khi cuộc so tài hát đối đáp giữa bên nam và bên nữ diễn ra thâu đêm, qua ngày mà vẫn không phân được thắng bại. Và những giai điệu, lời ca đó cứ vang lên, hòa vào trong gió, quyện vào đất trời làm lòng người thêm xốn xang trước một mùa xuân mới.

Nghệ nhân Nịnh Quang Thanh đang truyền dạy lại những giai điệu, câu hát Sình ca của dân tộc cho thế hệ trẻ

Vì Sình ca được viết theo thể thơ tứ tuyệt, ghi chép bằng chữ Hán nên hiện nay lớp thanh niên trẻ người Cao Lan không còn nhiều người đọc được những lời Sình ca cổ nữa do đó việc bảo tồn và phát triển những làn điệu dân ca chủ yếu là dựa vào truyền miệng. Giờ tuổi đã cao nhưng nghệ nhân Nịnh Quang Thanh vẫn say sưa hát và truyền dạy lại những giai điệu, câu hát Sình ca của dân tộc cho thế hệ trẻ.

Những giá trị văn hóa truyền thống đó vì thế cứ tuôn trào như một dòng chảy bất tận trong lòng mỗi người dân Cao Lan, từ năm này qua khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác và sẽ mãi trường tồn với thời gian.

Mang giá trị quan trọng trong đời sống tinh thần, hát Sình ca đã trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống không thể thiếu của đồng bào Cao Lan mỗi độ tết đến xuân về. Đó là lúc người Cao Lan lại tự hào hát lên những làn điệu dân ca của dân tộc mình với niềm cảm xúc trào dâng và Sình ca sẽ lại mãi vang lên trên khắp các bản trên, làng dưới với ước mơ và khát vọng về một cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc của dân tộc trước mùa xuân mới.

Thanh Chi – Mạnh Cường (yb)


Bài mới hơn:
Bài cũ hơn:

http://songnhac.vn/di-san/muc-luc/nghe-thuat-dangian/2701-ve-hoa-cuong-nghe-hat-giao-duyen.html

Trương Thiên Lý : BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG / Luận văn tốt nghiệp (2006) , phần 2


CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

I. ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ”.
1. “Đờn ca tài tử” là một loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo của Việt Nam và của ĐBSCL.
Đồng bằng sông Cửu Long, miền đất trù phú nằm ở phía Nam của đất nước Việt Nam mà người xưa gọi là “Đất chín rồng”, miền đất Tây Nam bộ được bù đắp nhiều phù sa bởi những nhánh sông và cũng là miền đất của một trong những chiếc nôi của dòng nhạc truyền thống ở Nam bộ đặc biệt là nhạc tài tử.
Trên vùng đất mới này, nhạc tài tử đã hình thành dựa trên nền tảng của nhạc Cung đình hoà vào cuộc sống dân dã. Nó hội nhập cùng các điệu lý, các câu hát đối đáp, các giọng hò sông nước để nói lên tiếng lòng của người dân châu thổ. Tiến trình âm nhạc này là thành tố quan trọng trong đời sống văn hoá của người dân ĐBSCL.

1.1. Đôi nét về văn hoá ở ĐBSCL những năm đầu thế kỷ XX:
Đồng bằng sông Cửu Long với 4 dân tộc sinh sống, đó là Việt, Hoa, Khmer và Chăm. Nhưng phần đông là người Việt sinh sống khắp 13 tỉnh, thành phố miền Tây Nam bộ. Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng được thể hiện qua các lễ hội dân gian. Tuy nhiên trong sinh hoạt hàng ngày họ sống rất hoà đồng với nhau trong các làng xã.
Sinh hoạt tinh thần của cộng đồng người Hoa tập trung ở chùa Ông Bổn. Đây là ngôi miếu thờ quan công, một biểu tượng tinh thần của người Hoa, được xây dựng rải rác ở khắp các tỉnh Nam bộ – nơi có dân cư người Hoa sinh sống. Lễ hội gia đình thì tập trung vào Tết nguyên đán, Thượng ngươn, Thanh minh, Tết đoan ngọ, Rằm tháng bảy (xá tội vong thân), Tết trung thu, Hạ ngươn, Tết táo quân. Các lễ tết này của người Hoa đã ảnh hưởng và hoà vào sinh hoạt lễ hội của cộng đồng người Việt, tạo thành một sắc thái riêng cho cả khu vực và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.
Người Khmer sinh hoạt lễ hội chủ yếu tập trung ở chùa. Hàng năm có 3 ngày lễ chính là Chol – chman – thmay, Đôn – ta, và Oc – om – bóc. Còn lại ngày rằm thì họ lên chùa lễ phật. Hoạt động văn nghệ của người Khmer cũng rất phong phú. Hầu như bất cứ người Khmer nào cũng biết múa Lam – thôn, hát à – day (đối đáp). Mỗi khi họ đi đến chùa thì đều tập trung múa hát bên cạnh một dàn nhạc ngũ âm. Tuy nhiên do cộng đồng người Khmer ít, nên dần dần các sinh hoạt tinh thần cũng thu hẹp khu trú ở một bộ phận nhỏ mà thôi.
Đối với người Việt thì cúng đình và lễ hội cúng đình là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian tiêu biểu. Lễ hội cúng đình được tổ chức 3 ngày đêm với các lễ như: Thỉnh sắc thần, cúc yết, xây chầu, tế thần nông,… Hát bội là một hoạt động không thể thiếu được trong lễ hội cúng đình. Lúc bấy giờ ở Cần Thơ có nhiều gánh hát bội nổi tiếng khắp vùng: gánh của Ông bầu Bòn (quê ở LáiHiếu – Phụng Hiệp), gánh của cô Năm Nhỏ (cái Vồn), gánh của ông Mười Bếp (chợ Cần Thơ), . .tuồng “Kim thạch kỳ duyên” của thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (1807 – 1872) được nhiều người dân trong vùng yêu thích và thông thuộc.
Sinh hoạt văn hoá dân gian phổ biến ở ĐBSCL còn có nói thơ, hát đối đáp và các điệu hò, lý,.. và ĐBSCL cũng là nơi sinh hoạt văn hoá văn nghệ sôi nổi nhất lúc bấy giờ.

1.2. Bối cảnh sinh hoạt văn hoá – văn nghệ ở Nam bộ những năm đầu thế kỷ XX.
Trong thời gian này, ở các tỉnh Nam bộ các nhóm “Đờn ca tài tử” phát triển khắp nơi. Đây là loại hình nghệ thuật phổ biến nhất lúc bấy giờ và rất được công chúng yêu thích, say mê.
Ông Trương Duy Toản (1885 – 1957), quê ở Vũng Liêm – Vĩnh Long. Sau thời gian tham gia cách mạng, bị an trí về Phong Điền – Cần Thơ khoảng năm 1914 – 1915. Ở đây có ban tài tử Ai Nghĩa (ghép từ 2 làng Nhơn Ai, Nhơn Nghĩa huyện Châu Thành) hoạt động rất mạnh. Trong lúc thời gian rảnh rỗi ông Trương Duy Toản tham gia các hoạt động nghệ thuật. Ông sáng tác ra nhiều bài ca có ý nghĩa tiến bộ cho ban tài tử Ai Nghĩa ca hát trong các thôn xóm.
Ông Tống Hữu Định (còn gọi là phó Mười Hai) ở Vĩnh Long, thành lập ra nhóm “Đờn ca tài tử” biểu diễn trong các dịp lễ, tết… Năm 1915, lần đầu tiên ban tài tử củ ông tổ chức ca ra bộ có 3 người thủ vai: Bùi Ông, Bùi Kiệm và Nguyệt Nga, các diễn viên không biểu diễn trong thính phòng mà đứng diễn trên bộ ván gõ.
Ông Trần Quan Quờn (kinh lịch Quờn) làm thư ký cho Toà án tỉnh Vĩnh Long, sống cùng thời với Ong Tống Hữu Định, có sở trường sáng tác các bài Tứ Đại Oán. Ông cũng có công cải tiến cây đàn Nguyệt cổ điển thành cây đàn Kìm với tiếng kêu to hơn, nhanh hơn, phù hợp nhiều bài bản trong ca nhạc tài tử.
Ở Mỹ Tho, ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) cũng thành lập ban “Đờn ca tài tử” năm 1910. Ban tài tử Tư Triều thu hút nhiều danh cầm, danh ca như: Tư Triều (đàn kìm), Chín Quán (độc quyền), Bảy Võ (đàn cò), Hai Nhiều (đàn tranh), và cô Ba Đắc (diễn viên). Ban tài tử Tư Trièu đã đi lưu diễn ở Pháp và nhiều lần biểu diễn tại Sài Gòn. Ban tài tử Tư Triều khi đi Pháp về đã tiếp thu cách biểu diễn đàn ca trên sân khấu.
Các ban nhạc tài tử thường xuyên tổ chức sinh hoạt giao lưu với nhau để vừa thi thố tài năng, vừa trao đổi học tập kinh nghiệm bài bản và cách thể hiện mới. Bên cạnh các loại hình nghệ thuật truyền thống, loại hình kịch nói được thực dân Pháp du nhập vào nước ta, nhưng các vỡ kịch này không thu hút khán giả và nhanh chóng đi vào quên lãng vì còn nhiều xa lạ với các loại hình nghệ thuật truyền thống của nước ta.
Tóm lại những năm đầu thế kỷ XX Nam bộ đã sớm phát triển truyền thống văn hoá – văn nghệ mà đặc biệt là nghệ thuật “Đờn ca tài tử”. Nếu nhạc lễ Cung đình biểu trưng cho nền văn minh, văn hoá Phú Xuân, thì ca nhạc tài tử biểu hiện cho văn hoá, văn minh Nam bộ. Nó vừa mang nét trang trọng cung kính của nhạc lễ vừa dịu êm ngọt ngào dễ hoà vào tâm hồn những con người vừa định cư ở vùng đất mới mà lòng không nguôi thương nhớ quê cũ làng xưa.
1.3.” Đờn ca tài tử” là một loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo của Việt Nam và của ĐBSCL.
Vùng ĐBSCL không chỉ có văn hoá lễ hội dân gian mà văn hoá vùng đất này cũng mang tính văn nghệ rất cao, nhất là nghệ thuật cải lương – đờn ca tài tử, mang nỗi niềm những người lao động nhớ về cố quốc quê hương với ý thức thẩm mỹ sân khấu “phải có ca nhạc và điệu bộ”. Từ đây nảy nở nền văn hoá dân gian Nam bộ phong phú và đặc sắc của dân tộc.
Tìm hiểu khái quát về nguồn gốc , ý nghĩa và tính nghệ thuật của bộ môn “Đờn ca tài tử” thì rõ ràng ta thấy đây không chỉ là một loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo mà đây còn là một trong những giá trị văn hoá cần được phát huy nâng cao và giữ gìn nó theo tinh thần nghị quyết TW 5 khoá 8 “Người xưa sáng tạo ra đờn ca tài tử để làm món ăn tinh thần mà chóng chọi với thiên nhiên, chóng áp bức bóc lột trong xã hội đấu tranh đánh đuổi ngoại xâm. Còn ngày nay ta kế thừa và phát huy nó để làm món ăn tinh thần trong xây dựng quê hương đất nước”.
Để hiểu rõ hơn về điều này chúng ta hãy một lần nhìn lại hình ảnh những chiến sĩ văn công ngày xưa đã dùng lời ca tiếng hát của mình mà đánh đuổi giặc. 
Kim Chi – chiến sĩ văn công Cà Mau, người lừng danh cả thanh cả sắc, cô hát hay, hay tới mức địch yêu cầu hát, cứ áp sát hàng rào mà ca binh vận theo yêu cầu của binh sĩ.
Cùng thời với Kim Chi còn có ông Huỳnh Khánh, hiện là Giám đốc Sở văn hoá thông tin tỉnh Cà Mau, nghệ sĩ ưu tú Minh Đương là trưởng đoàn cải lương Hương Tràm – đã có lần cất tiếng hát lấy được đồn giặc. Hát trước đồn là một hoạt động tuyên truyền binh vận của văn công. Ong Huỳnh Thanh An, Giám đốc đài phát thanh truyền hình Sóc Trăng kể:” Các ông lấy tấm nilon căng rộng ra khoét lỗ ở giữa để khoét thanh tính cho tiếng phân tán ra để địch khỏi biết mình ở chỗ nào. Còn binh vận nghĩ lại thấy dũng cảm nhưng… khó an toàn. Ở Sóc Trăng, tuyên truyền phải dùng tiếng Việt, sau đó là tiếng Khmer, đã vậy lại ca hai bài 6 câu”.
Còn nghệ sĩ Minh Đương thì nói:”phải có chiến thuật ca binh vận, ca – ngưng 5 phút – nói chuyện – ca. Nói chuyện tuyên truyền đương nhiên, nghỉ 5 phút giặc chờ … nếu ta có rút đã đi được quãng đường xa an toàn. Huỳnh Khánh đờn, Minh Đương ca bao đồn Thứ Giải (Bình Phú), những bài Sóng tam giang,Xuân tình đêm ấy đã thay súng đạn gọi giặc ra hàng. Sức mạnh của văn nghệ không thể lường hết. (Trích “Đặc sắc đờn ca tài tử phương Nam” – Báo Nhân Dân bằng tháng số 75 tháng 7/2003)
Còn hiện nay tại các tỉnh ở ĐBSCL lấy “Đờn ca tài tử” làm một trong những tiêu chí trong việc xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư. Song song với đó “Đờn ca tài tử” cũng đang đuợc đưa vào hoạt động phục vụ du lịch tại các điểm du lịch ở ĐBSCL. Tuy cung cách hoạt động và hiệu quả chưa được đánh giá một cách thấu đáo nhưng nó đã chứng tỏ được sức sống mạnh mẽ và khả năng đáp ứng nhu cầu của khán giả (du khách).
Từ những điều trên cho thấy nghệ thuật “Đờn ca tài tử” là một loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo không chỉ của ĐBSCL mà còn là của dân tộc Việt Nam.
2. Khai thác sử dụng “Đờn ca tài tử” trong hoạt động du lịch ĐBSCL.
2.1. Qui hoạch các điểm du lịch kết hợp với nghệ thuật “Đờn ca tài tử” tại các địa phương (Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang).
Sông Mekong là một trong những con sông lớn của thế giới. Châu thổ sông Cửu Long chủ yếu nằm trên địa bàn Nam bộ và trung tâm của nó là các tỉnh nằm ở đôi bờ hai nhánh của sông Cửu Long là sông Tiền và sông Hậu. Ở ĐBSCL, không có thành quách xưa cũ, không có núi non, ngút tầm mắt là đồng lúa, nhuộm xanh tầm mắt là vườn cây ăn trái, mở xa tầm mắt là dòng sông cuồn cuộn đổ ra biển Đông. Đặc thù sông ngòi chằn chịt, những con kênh do người đào đã vẽ lên ĐBSCL những nét ngang dọc hết sức riêng. ĐBSCL với hệ sinh thái của nó là một bộ phận của nền du lịch quốc gia. Đây là cái do chúng ta tạo ra và cái gì do chúng ta tạo ra thì sẽ có sức sống lâu dài, sẽ không ngừng thay đổi sắc diện.
2.1.1. QUY HOẠCH, PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI MIỆT VƯỜN (DU LỊCH NHÀ VƯỜN) KẾT HỢP VỚI NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” TỈNH VĨNH LONG.
Vĩnh Long nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, hai nhánh sông Mekong dài 4.300km, là con sông dài nhất Đông Nam Á, và dài thứ 10 trên thế giới với lượng phù sa rất lớn bồi đắp cho cả ĐBSCL. Đến Vĩnh Long cũng nhằm khám phá vùng hạ lưu sông Mekong, đây là đề tài hấp dẫn du khách quốc tế và nội địa đến tham quan. 
Vĩnh Long có tương đối đầy đủ yếu tố du lịch sinh thái miệt vườn, sông nước hữu tình, nhiều loại cây trái nhiệt đới, các loại ca nhạc tài tử , hò vè, đối đáp Nam bộ… các di tích cách mạng, lịch sử, văn hoá, nhìn chung có tiềm năng phát triển du lịch rất lớn.
– Mảng du lịch sông Tiền từ Mỹ Thuận đến tiếp giáp chợ nổi Cái Bè – Chợ Lách – Mang Thích là khu có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái miệt vườn với hơn 30 sản phẩm tiềm năng có thể khai thác phục vụ du khách, từ khu vực này có thể nối tuyến xa hơn về phía Trà Vinh và về thượng nguồn có thể nối tuyến du lịch sang Campuchia.
– Mảng sông Hậu từ Bình Minh – Mỹ Hoà tiếp giáp Cần Thơ và nối tuyến chợ nổi Trà Ôn, Phụng Hiệp và các tỉnh cựu Nam, khu vực này có nhiều sản phẩm đặc trưng ấn tượng: Bưởi năm roi, vườn ươm cho các loại rau, củ, các làng nghề, . . .
“Đờn ca tài tử” tại nhà vườn – Cù lao An Bình – Vĩnh Long 
Cuộc sống, sinh hoạt văn hoá của người dân miệt vườn sông nước đã tạo ấn tượng cho du khách tham quan: các loại thuyền, chài, lưới, các loại hình đánh bắt thuỷ sản, đám cưới trên sông, chợ nổi, các hình thức canh tác truyền thống, lúa nước, làm rẫy, thưởng thức và tìm hiểu loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử tại các nhà vườn,… các lễ hội đình làng, các lễ hội của dân tộc Khmer, các di tích lịch sử, văn hoá, chiến tranh đều có thể giới thiệu và ngay cả phục chế, tái tạo một số lễ hội phục vụ du khách tại các khu, điểm du lịch vừa tạo tính hiếu kỳ, vừa giáo dục truyền thống đối với thế hệ trẻ.
Một số sản phẩm tiêu biểu là nền văn minh lúa nước, qui trình sàn xuất, chế biến các sản phẩm từ gạo, nếp thành các loại bánh có chất lượng, chế biến các loại trái cây, các hình thức thưởng thức ẩm thực Nam bộ, các làng nghề thủ công truyền thống, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác đều có thể quy hoạch phát triển hoặc phục chế phục vụ du khách. Các loại hình vui chơi giải trí dân gian cũng như thư giãn theo phong cách Nam bộ, tiếp xúc cởi mở với dân cư địa phương, ngắm trăng, thả diều, câu cá, bơi thuyền thưởng ngoạn, ca tài tử đều làm cho du khách gần gủi thiên nhiên và cảm nhận được sự bình yên của người dân đồng bằng sông Cửu Long.
2.1.2 PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI BỀN VỮNG TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG Ở KHU DU LỊCH SINH THÁI CÙ LAO THỚI SƠN – TỈNH TIỀN GIANG
Tiền giang, một tỉnh thuộc hạ lưu sông Cửu Long với những nét đặc thù giống như các tỉnh khác trong khu vực. Loại hình du lịch sinh thái là tham quan nền văn minh miệt vườn, sông nước ĐBSCL.
Cù lao Thới Sơn, trên phương diện hành chính gọi là xã Thới Sơn thuộc huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang, nằm trên nhánh sông tiền trải dài từ phía trên rạch Xoài Mút đến thành phố Mỹ Tho. Cạnh cồn Phụng, cồn Tân Long và cách không xa cồn Qui (dân gian gọi đây là tứ linh: Long, Lân, Qui, Phụng mà Thới Sơn là Lân). Diện tích tự nhiên của cù lao Thới Sơn là 1.176ha (11,76km2), trong đó có 569ha là diện tích vườn cây ăn trái. Trên cù lao chằng chịt những sông rạch quanh co, hai bên là bần và dừa nước. Hằng năm cù lao được bồi đắp lượng phù sa rất lớn bình quân 1.000m3/năm nên đất đai rất màu mỡ. Do đó, người dân cù lao làm nghề kinh tế vườn là chính với nhiều loại cây ăn trái. Toàn bộ cù lao được phủ xanh, hiện trạng môi trường sinh thái trong lành, thoáng mát, chưa bị ô nhiễm. Bản sắc văn hoá miệt vườn Nam bộ lâu đời vẫn còn tồn tại.
Với 30 phút ngược dòng sông Tiền du khách sẽ đến được cù lao Thới Sơn. Đến đây du khách có thể hoà nhập vào nếp sống dân dã với nụ cười vui vẽ hiếu khách, với vườn kiểng, căn nhà xưa, thưởng thức trái cây đặc sản,… Từ đây đã dần trở thành một quần thể các điểm du lịch sinh thái và văn hoá trên cù lao Thới Sơn. Nét văn hoá dân gian, sinh thái miệt vườn, không khí trong lành yên tĩnh luôn được bảo tồn tạo niềm thích thú cho du khách. Năm 2002 khách quốc tế đến Tiền Giang là 258.773 lượt khách, trong đó khách đến khu du lịch Thới Sơn chiếm 84,95%, tăng bình quân 25,57%/năm. Khách du lịch nội địa đến Tiền Giang năm 2002 là 180.535 lượt khách, trong đó khách đến khu du lịch Thới Sơn chiếm 27,98%.

Đội “Đờn ca tài tử” khu du lịch cù lao Thới Sơn – Tiền Giang
Hiện nay, nếu muốn phát triển du lịch bền vững thì còn phải phụ thuộc tính đa dạng sản phẩm du lịch bao hàm sản phẩm hữu hình và sản phẩm vô hình. Ngoài việc khai thác môi trường thiên nhiên đặc thù miền sông nước, cây trái bốn mùa, thì nét văn hoá con người bản địa cũng góp phần rất lớn trong hoạt động du lịch. Những điệu hò, điệu lý, đờn ca tài tử Nam bộ, bản chất của người dân miệt vườn từ ánh mắt đến nụ cười được giới thiệu đến du khách như một phần thiết yếu của chương trình tham quan thông qua việc tiếp xúc, trao đổi với người dân địa phương. Chính sự đa dạng của thiên nhiên, văn hoá và xã hội đã tránh được hiện tượng nhàm chán do sự trùng lắp các chương trình tham quan và giúp cho du khách hài lòng với những gì mà họ muốn đạt được trong chuyến tham quan.
Tuy nhiên điều mà chúng ta không thể thiếu được trong quá trình khai thác du lịch là công tác quy hoạch. Để du lịch phát triển tràn lan, mang tính tự phát không theo một định hướng và qui hoạch chung thì kết quả tất yếu sẽ là huỷ hoại cả một không gian du lịch. Không nằm ngoài khuôn khổ hoạch định chiến lược cấp quốc gia. Tiền Giang đã lập dự án quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Tiền Giang thời kỳ 2001 -2010 được UBNN tỉnh Tiền Giang phê duyệt, trong đó có quy hoạch cù lao Thới Sơn thành một làng du lịch sinh thái mang đậm nét làng quê Nam bộ. Và vào năm 2002 Tổng Cục Du Lịch đã đầu tư 50 triệu đồng để mua sắm nhạc cụ,… nhằm nâng chất lượng cho 4 đội “ca nhạc tài tử” tại Thới Sơn phục vụ cho du lịch. Từ khi du lịch Thới Sơn phát triển đã trực tiếp và gián tiếp tạo công ăn việc làm cho dân cư tại xã tăng thêm thu nhập. Các hộ dân là điểm tham quan, dừng chân cho du khách đều thể hiện văn minh, hiếu khách, phục vụ tận tình,…
2.1.3. PHÁT TRIỂN DU LỊCH SÔNG NƯỚC MIỆT VƯỜN KẾT HỢP VỚI “ĐỜN CA TÀI TỬ” TỈNH CẦN THƠ.
Cần Thơ, vùng đất ven sông Hậu có vị trí trung tâm ĐBSCL, tự hào với tên gọi Tây Đô. Con người Tây Đô chân chất, hiền hoà, giàu lòng mến khách. Đây là vùng đất mới giàu tiềm năng phát triển du lịch. Nơi đây có thế mạnh về du lịch sông nước miệt vườn hết sức đa dạng, phong phú, văn hoá lễ hội, chùa chiền, di tích lịch sử của Tây Đô cũng là nét văn hoá đặc trưng cho vùng sông nước Nam bộ.
Cần Thơ, miền đất trù phú nằm bên nhánh sông mà người xưa có lúc đặt là Cầm Thi Giang, cái tên gợi lên giọng thơ, tiếng đàn vào những đêm trăng nước. Một trong những loại hình giải trí phổ biến nhất cho khách du lịch khi đến với Cần Thơ hiện nay là “Đờn ca tài tử”, du khách đến đây sẽ được phục vụ “Đờn ca tài tử” ở các điểm du lịch sinh thái như: vườn du lịch Mỹ Khánh, vườn du lịch Thuỷ Tiên, vườn du lịch Xuân Mai, du thuyền trên bến Ninh Kiều. 
Với tiềm lực sẳn có về cảnh quan thiên nhiên, vườn cây ăn trái, môi trường sinh thái đặc thù, các di tích, di sản văn hoá dân tộc và lễ hội đặc sắc của vùng sông nước Nam bộ, khai thác lợi thế vị trí địa lý khu vực, có các khu công nghiệp, khu chế xuất, cảng, sân bay. Từ đó Cần Thơ có thể phát triển loại hình du lịch trọng điểm như: Du lịch sinh thái, du lịch văn hoá – lịch sử, du lịch MICE. 
Trong các loại hình du lịch này thì du lịch phong cảnh miệt vườn vẫn là nét đặc trưng độc đáo của Cần Thơ. Với hơn 30.000 ha cây ăn trái nổi tiếng như: cam, quýt, sầu riêng, nhãn, chôm chôm, măng cụt, mận, ổi, xoài, sapôchê. Trên diện tích trồng cây ăn trái trù phú này không chỉ đơn thuần là những vườn cây ăn trái xum xuê mà đa phần đã được người dân cải tạo săn sóc trở thành địa điểm du lịch phong cảnh miệt vườn hết sức hấp dẫn. Bên cạnh vườn cây ăn trái người dân còn thu hút khách du lịch bằng những vườn cảnh Bonsai mang tính nghệ thuật cao, với hàng trăm loại cây cảnh lớn nhỏ được tạo hình rất tinh vi. Xung quanh nhà vườn còn được thiết kế các ao thả cá với nhiều loại cá ngon và nổi tiếng. Hơn thế nửa, để tạo sự thoải mái vui tươi cho du khách các chủ nhà vườn còn kết hợp với các đội “đờn ca tài tử” để phục vụ cho du khách. Du khách vừa có thể vãn cảnh, vừa dùng bửa vừa thưởng thức ca nhạc tài tử tại vườn thật lý thú và ngon miệng.
2.1.4. QUY HOẠCH, PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI KẾT HỢP NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” TỈNH BẾN TRE.
Bến Tre là một trong 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, có mạng lưới sông ngòi chằng chịt và 65 km tiếp giáp biển Đông, giao thông chính là đường bộ và đường thuỷ. Hệ thống giao thông đường bộ được nâng cấp và hoàn thiện từ trung tâm thị xã đến các thị trấn của huyện. Cầu Rạch Miễu đang thi công, dự kiến hoàn thành vào trong năm nay, không chỉ đơn thuần giải quyết việc đi lại dễ dàng nhanh chóng mà còn giúp phát triển tiềm năng kinh tế cũng như du lịch, dịch vụ – thương mại của tỉnh nhà, giúp Bến Tre hội nhập với Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh thành khác trong cả nước.
Bến Tre có hình rẽ quạt, đầu nhọn nằm về phía thượng nguồn, các nhánh sông lớn tựa những nan quạt xoè rộng phía Đông. Bến Tre được hợp thành bởi 3 cù lao (cù lao An Hoá, Bảo Minh) và do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ qua nhiều thế kỷ. Phía Bắc giáp Tiền Giang, Tây giáp Vĩnh Long, Nam giáp Trà Vinh, Đông giáp với biển Đông. Bến Tre là một châu thổ nằm sát biển có địa hình bằng phẳng với những dòng cát xen kẻ ruộng vườn, được bao bọc bởi 4 bề sông nước, vì thế nơi đây có một hệ thống giao thông đường thuỷ chằng chịt tạo nên nét đặc thù riêng cho vùng đất phù sa.
Nói đến Bến Tre không chỉ được biết đến với quê hương của phong trào “Đồng khởi”, Bến Tre còn được mệnh danh là “quê hương của xứ dừa”. Vì vậy, đến với Bến Tre là du khách đến với những vườn dừa ngút ngàn trĩu quả, thưởng thức vị ngọt mát của những quả dừa mới hái. Đi giữa làng quê rợp bóng dừa, lắng nghe tiếng lá dừa xạc xào trong gió, hương hoa dừa nhè nhẹ bay, xa xa đàn bò nhờn nhơ gặm cỏ, thoảng đâu đó có tiếng hát câu vọng cổ vọng lại, du khách sẽ thấy tâm hồn thanh thản, rũ bỏ mọi lo toan, khó nhọc thường ngày. Cùng với vẽ đẹp nên thơ của xứ dừa, người Bến Tre cũng hiền hoà, hiếu khách, dễ gần gũi. Tất cả những điều đó sẽ khiến vùng đất cù lao này dễ dàng giữ chân du khách mỗi khi đến đây.
Không phải là nơi hội tụ những danh thắng, nhưng Bến Tre hấp dẫn du khách bởi nét đậm đà, mộc mạc của một làng quê Việt Nam với bạt ngàn vườn cây trái. Nói đến hoa trái Bến Tre, phải nói đến vườn cây trái Cái Mơn, một thị tứ sầm uất của huyện chợ Lách. Nơi đây còn là quê hương của Trương Vĩnh Ký, người được tôn vinh là một trong 18 nhà bác học trên thế giới cuối thế kỷ XIX. Cái Mơn được biết đến như là cái nôi của vùng cây ăn trái Nam bộ. Thiên nhiên đã ưu đãi cho Cái Mơn đất đai và khí hậu thích hợp cho nhiều loại trái cây nhiệt đới, mùa nào trái ấy. Đặc biệt vào mùa hè, đến Cái Mơn du khách sẽ tận mắt nhìn thấy những vườn chôm chôm đỏ mọng, vườn sầu riêng trĩu quả, hoặc len lỏi dưới những tán cây, thưởng thức tại chỗ từng chùm bòn bon, măng cụt ngọt lim. Màu xanh mướt của những vườn cam, quýt, bưởi,… sẽ làm dịu cơn khát của du khách giữa trưa hè nóng bức. Không chỉ chào đón du khách bằng hương vị ngọt ngào, hấp dẫn của cây trái, vùng đất này còn giữ chân du khách bởi không khí thanh bình, người dân hiền hoà mến khách. Đi giữa bạt ngàn cây trái, lắng nghe tiếng chim hót, vẳng đâu đó câu vọng cổ từ những ngôi nhà đơn sơ vọng lại, du khách sẽ thấy tâm hồn mình thanh thản lạ kỳ.
Ngoài điểm du lịch Cái Mơn, du khách cũng có thể thưởng thức “Đờn ca tài tử” tại khu du lịch cồn Phụng. Cồn Phụng nằm ở vị trí khá đẹp trên sông Tiền, nơi cửa ngõ đi vào bến tre, thuộc xã Tân Thạch huyện Châu Thành, cách trung tâm thị xã 12km, được hình thành bởi phù sa, cồn Phụng có những vườn cây ăn trái trĩu cành, những hàng dừa xanh mướt ven sông bao bọc xóm làng, khí hậu mát mẽ, môi trương sinh thái trong lành. Nơi đây còn được nhiều người biết đến vì trước kia từng là trụ sở của “đạo Dừa”. Du khách đặt chân đến cồn Phụng sẽ có dịp thăm nhiều di tích: sân Rồng, tháp,…, được nghe kể về “giáo chủ đạo Dừa – Nguyễn Thành Nam”. Khu du lịch rộng 2ha, có các cơ sở sản xuất kẹo dừa, các hàng thủ công mỹ nghệ bằng gỗ dừa, . . phục vụ đờn ca tài tử cho du khách.

Điểm phục vụ “Đờn ca tài tử” tại khu du lịch Cái Mơn – Bến Tre
“Đờn ca tài tử” có mặt ở hầu hết các tỉnh thuộc khu vực miền Tây Nam Bộ kể cả Bến Tre, là một loại hình ca nhạc mang tính dân tộc sâu sắc. Đi thuyền trên sông, nhìn con nước lững lờ trôi, nghe những tiếng đàn thắm đượm tình quê là một điều thú vị dành cho du khách. “Đờn ca tài tử” tồn tại cùng năm tháng trên đất Bến Tre và ngày càng phát triển như một nét đặc biệt điểm tô thêm nét duyên dáng cho vùng sông nước. Bằng những ngón đàn truyền cảm, giọng ca mượt mà, các “nghệ sĩ” không chuyên vẫn luôn mang đến cho du khách những giây phút thoải mái, nhẹ nhàng khi đến du lịch tại Bến Tre.
2.2. Các tuyến du lịch có kết hợp với nghệ thuật “Đờn ca tài tử” (Mekong tour).
Để khai thác có chất lượng và hiệu quả các tuyến điểm du lịch tại ĐBSCL, cần dựa trên quan điểm sinh thái và văn hoá của từng khu vực. Điều này đòi hỏi phải có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương. Phát triển du lịch tại ĐBSCL cũng là phát triển các loại hình du lịch khác nhau để đáp ứng nhu cầu của du khách.
Phong phú hoá các loại hình du lịch tại ĐBSCL, vừa khai thác hết tiềm năng du lịch, vừa thoả mãn những thị hiếu khác nhau của nhiều đối tượng du khách khác nhau. Hiện nay tại ĐBSCL, các chương trình du lịch chỉ mới tập trung vào các nội dung tham quan là chính, các nội dung khác chưa được khai thác đúng mức. Các chương trình du lịch chưa tạo điều kiện cho các hoạt động tiếp cận văn hoá của du khách, như nghỉ đêm tại nhà dân chỉ để ngủ, đi chợ nổi chỉ để nhìn, nghe ca nhạc tài tử để cho vui, ăn nhà dân không khác gì trong nhà hàng, . . Phụ thuộc vào các đối tượng du khách khác nhau, chương trình du lịch cần tạo điều kiện của những mức độ thâm nhập văn hoá khác nhau. Do đó các loại hình du lịch tại ĐBSCL cần được đầu tư thêm chẳng hạn như: khi ta đưa chương trình “ca nhạc tài tử” vào trong chương trình tham quan của chuyến du lịch thì ta phải đưa du khách đến ngủ nhà dân để du khách vừa được nghe “Đờn ca tài tử” vừa được tìm hiểu về bộ môn nghệ thuật này,…
Các tuyến du lịch có kết hợp nghệ thuật”Đờn ca tài tử”
Tuyến du lịch Các điểm tham quan du lịch Các điểm du lịch có “đờn ca tài tử”

Tuyến Tp.HCM – Cần Thơ – Châu Đốc – Phú Quốc – Chợ nổi Cái Răng, Làng du lịch Mỹ Khánh, Nhà cổ Bình Thuỷ.
– Miếu Bà Chúa Xứ, Làng cá bè, Làng Chăm Châu Giang.
– Xưởng sản xuất nước măm, vườn Tiêu, cơ sở nuôi cấy Ngọc Trai, khám phá biển và rừng Bắc Đảo,… – Bến Ninh Kiều, làng du lịch Mỹ Khánh (Cần Thơ)

Tuyến Tp.HCM – Mỹ Tho – Đồng Tháp – Các vườn trái cây, cơ sở sản xuất kẹo dừa, cù lao Thới Sơn, chùa Vĩnh Tràng, trại rắn Đồng Tâm,…
– Tràm chim Tam Nông, làng cây kiểng Tân Quy Đông, khu du lịch Gáo Giồng,… – Cù lao Thới Sơn.

Tuyến Tp. HCM – Vĩnh Long – Cần Thơ – Sóc Trăng – Cơ sở sản xuất gạch, gốm, nhà xưa ông Cai Cường, vườn cây ăn trái, Văn Thánh Miếu.
– Vườn cò Bằng Lăng, chợ nổi Phong Điền, làng du lịch Thuỷ Tiên, đình Bình Thuỷ, . . .
– Chùa Khleang, chùa Dơi, chùa Sà Lôn, hồ Nước Ngọt, . . – Nhà vườn ông Cai Cường (Vĩnh Long), làng du lịch Thuỷ Tiên (Cần Thơ).

Tuyến Tp. HCM – Châu Đốc – Hà Tiên – Cần Thơ – Chùa Tây An, Miếu Bà Chúa Xứ, núi Sam, đồi Tức Dụp, đền thờ Ba Chúc, . .
– Bãi biển Mũi Nai, hòn Chông, hòn Phụ Tử, đền thờ Nguyễn Trung Trực, . .
-Vườn cò Bằng Lăng, khu du lịch Xuân Mai, bến Ninh Kiều, chợ cổ Cần Thơ, . . – Bến Ninh Kiều, khu du lịch Xuân Mai (Cần thơ)

Tuyến Tp. HCM – Mỹ Tho – Bến Tre – Chùa Vĩnh Tràng, trại rắn Đồng Tâm, cù lao Thới Sơn,..
– Vườn cây ăn trái Cái Mơn, cồn Phụng, khu di tích Đồng Khởi, cơ sở sản xuất kẹo dừa, làng nghề thủ công, . . – Cù lao Thới Sơn (Mỹ Tho), cồn Phụng, vườn cây ăn trái Cái Mơn (Bến Tre).

3. Thực trạng lực hấp dẫn của nghệ thuật “Đờn ca tài tử” đối với du khách (đặc biệt là khách quốc tế).
Đồng bằng sông Cửu Long (Miền Tây Nam Bộ) là vùng châu thổ với địa hình thấp có hệ thống kênh rạch chằng chịt đan xen những cù lao, miệt vườn cây trái 4 mùa. Quần cư gắn liền với vùng sinh thái này có đặc thù văn hoá “lúa nước” của một thời mở đất “khai khẩn đất Phương Nam”. Tại đây cũng là vựa lúa lớn nhất của cả nước. ĐBSCL có nền văn hoá đa dân tộc, nổi rõ là văn hoá Việt, Hoa, Khmer, được gìn giữ và phát triển trong quá trình sinh tồn của cộng đồng, vùng châu thổ với đặc trưng các lễ hội mang tính tín ngưỡng như hội Oc – Om – Bóc, hội Vía Bà (An Giang), Roya của người Chăm. Đồng thời với các di tích lịch sử như Ap Bắc (Tiền Giang), Đồng Khởi (Bến Tre), đồi Tức Dụp (An Giang),… cùng với nhiều chùa chiền mang dấu ấn tôn giáo đã tạo nên đời sống văn hoá tinh thần phong phú đa dạng của dân cư ĐBSCL. 
Đồng bằng sông Cửu Long với tài nguyên du lịch rất phong phú và đa dạng, song song với yếu tố sinh vật về cây, con thì cảnh quan ở ĐBSCL cũng không kém phần hấp dẫn; khi bình minh hoặc hoàng hôn tren mặt sông, mặt biển, với những kỳ thú huyền ảo thanh bình để con người thư giãn đắm mình trong thiên nhiên cùng với những cảnh quan đẹp như Rừng Dừa Bến Tre, núi Sam An Giang, Hà Tiên, Phú Quốc Kiên Giang,… tạo nên các tuyến điểm du lịch mang dấu ấn cảnh quan môi trường mà cuộc sống công nghiệp đang muốn tìm về cội nguồn thiên nhiên. Bên cạnh đó, tài nguyên du lịch nhân chủng với đặc trưng dân cư quần tụ gắn liền với việc khai thác vùng đất mới. Con người ở đây không những biết lợi dụng điều kiện tự nhiên mà còn biết chinh phục thiên nhiên. Hệ thống kênh rạch chằng chịt và các đê bao quanh các vườn cây trái cho thấy sự lao động cằn cù và thông minh của người dân ĐBSCL. Bên cạnh văn hoá lao động, văn hoá sinh hoạt dân cư với kiến trúc nhà ở, trang phục và phong cách ẩm thực tạo nên các nét riêng của cư dân của miền sông nước cùng với ca kịch cải lương, đờn ca tài tử, các điệu lý câu hò phản ánh cuộc sống dân dã, sâu đậm và phóng khoáng mà đây cũng chính là yếu tố hấp dẫn để khách du lịch tìm đến Đồng bằng sông Cửu Long.
Bảng số 1: Số lượng du khách đến ĐBSCL. 
Năm Khách quốc tế
(ngàn khách) Khách nội địa 
(ngàn khách)
2000 356 3.125
2005 635 4.240
Dự báo 2010 820 5.410
Nguồn: Tổng cục du lịch.
Qua bảng số liệu cho thấy lượng khách du lịch đến ĐBSCL tăng cao, trong vòng 5 năm lượng khách quốc tế tăng 1,7 lần, khách nội địa tăng hơn 1,3 lần. Từ đó cho thấy sản phẩm du lịch ở ĐBSCL có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách mà đặc biệt là khách quốc tế, một trong những sản phẩm du lịch có sức hấp dẫn đó thì có “Đờn ca tài tử”. Tuy cung cách hoạt động và hiệu quả chưa được đánh giá cao, nhưng nó đã chứng tỏ được sức sống mạnh mẽ và khả năng đáp ứng nhu cầu của du khách. 
Mặc dù hiện nay chưa có một số liệu thống kê cụ thể là hàng năm có bao nhiêu khách du lịch đến ĐBSCL để thưởng thức “Đờn ca tài tử”, nhưng từ số liệu trên và từ các chương trình du lịch thì ta thấy hầu như tất cả các tour du lịch đến ĐBSCL đều có chương trình thưởng thức “đờn ca tài tử”, và theo khảo sát thực tế thì du khách rất thích chương trình này. ”Khi đến hỏi một số khách du lịch quốc tế thì họ bảo rất thích loại hình nghệ thuật này mặc dù khi nghe hát thì họ không biết là lời hát nói gì nhưng qua cách diễn tả tâm trạng của người hát, rồi nghe tiếng đàn thì họ có thể hiểu bài hát đó muốn thể hiện tâm trạng vui hay buồn, yêu thương hay oán giận,…”. Từ đó cho thấy loại hình nghệ thuật này đã có sức hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước, tuy chưa cao nhưng phần nào đã nói lên được giá trị của nó đối với hoạt động du lịch ở ĐBSCL.
II. THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” CHO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH.
1. Sự quan tâm của Sở văn hoá thông tin và Sở du lịch ở các tỉnh ĐBSCL.
* Đối với Sở văn hoá thông tin thì hiện nay đã có sự quan tâm rất sâu sắc với bộ môn nghệ thuật này, điều này được thể hiện cụ thể qua các hoạt động sau:
• Thường xuyên vận động từ xã, huyện cho đến khóm ấp mỗi đơn vị phải thành lập một đội đờn ca tài tử. Từ đó Sở văn hoá thông tin sẽ hỗ trợ kinh phí để mua sắm nhạc cụ cho mỗi đơn vị.
• Thường xuyên phát động phong trào thi văn nghệ ở khóm (ấp), rồi lên cấp xã, huyện. Từ đó sẽ chọn ra những đội có thành tích tốt để tham dự hội thi liên hoan “Đờn ca tài tử” cấp tỉnh – mỗi năm Sở văn hoá thông tin tổ chức một lần.
• Sở văn hoá thông tin các tỉnh cũng hỗ trợ kinh phí cho các trường Văn hoá – nghệ thuật khi có mở các lớp dạy đờn ca tài tử (khi lớp có số lượng học viên tương đối – khoảng 30 học viên trở lên)
• Ngoài ra các Sở văn hoá thông tin các tỉnh còn liên kết tổ chức liên hoan “Đờn ca tài tử” khu vực Nam bộ (2 năm một lần) nhằm mục đích: tạo điều kiện giao lưu, nâng cao hiểu biết về đờn ca tài tử cũng như cách chơi tài tử ở những vùng miền khác nhau. Đồng thời, qua các cuộc liên hoan này không những nâng cao hiểu biết cho người chơi mà còn nâng thời lượng chương trình giải trí đáp ứng nhu cầu tốt hơn đời sống văn hoá tinh thần của bạn xem đài, nghe đài,..
* Đối với các Sở du lịch, thì hiện nay cũng đã có sự quan tâm rất đáng kể. Do hiện nay “Đờn ca tài tử” được đưa vào phục vụ du lịch ở ĐBSCL và cũng được rất nhiều du khách yêu thích và quan tâm nên các đội “Đờn ca tài tử” phục vụ cho du lịch đã được các Sở du lịch hỗ trợ rất nhiều. Theo tìm hiểu thực tế thì các năm vừa qua các Sở du lịch đã hỗ trợ một số kinh phí cho các đội “Đờn ca tài tử” để mua sắm nhạc cụ nhằm phục vụ tốt hơn cho nhu cầu du khách tại các điểm du lịch.
Ngoài ra, trong các lần tổ chức Mekong Festival Sở du lịch cũng đã đưa “Đờn ca tài tử” vào biểu biễn, thi thố tài năng. Với hoạt động này cũng nhằm giới thiệu cho du khách biết đây cũng chính là sản phẩm du lịch của ĐBSCL.
2. Sự phục hồi và phát huy nghệ thuật “Đờn ca tài tử” của các gia đình nghệ nhân.
Hàng trăm năm nay trên châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long tồn tại và phát triển dòng cổ nhạc hay còn gọi là “Đờn ca tài tử”. Trong kho tàng cổ nhạc của đờn ca tài tử đã hình thành nên nghệ thuật cải lương đặc sắc đã đi sâu vào lòng công chúng. Và để loại hình nghệ thuật này còn tồn tại đến ngày hôm nay thì không thể không nhớ đến công lao của những gia đình nghệ nhân, họ đã có công rất lớn trong việc giữ gìn và phát huy bộ môn nghệ thuật truyền thống này.
Tại phường Hưng Lợi, thành phố Cần Thơ có câu lạc bộ sân khấu cải lương mà trước đây là Ban đờn ca tài tử gia đình Sĩ Long. Nghệ nhân Sĩ Long có ông nội là người Hoa lấy vợ là người Khmer ở Tam Bình – Vĩnh Long. Cha của nghệ nhân Sĩ Long là ông Thạch Sô cùng vợ qua Cam-pu-chia làm ăn. Ông Thạch Sô nhập đoàn hát Dù kê là một tay đàn trong dàn nhạc Ngũ âm. Trước năm 1975 ông Thạch Sô cùng vợ chuyển về Cần Thơ mua đất, mở lò bún ở phường Hưng Lợi. Say ca hát, ông Thạch Sô học đờn sến, đờn gáo và chơi rất sành điệu. Sau Ông dạy đờn sến, đờn tranh, dạy tài tử vọng cổ cho hai con trai. Được cha dạy từ nhỏ nên có lòng say mê, lớn lên Thạch Sĩ Long theo học trường Sân khấu 2 và hiện đang giảng dạy tại trường Văn hoá – nghệ thuật Cần Thơ. Các con cháu của ông là Thạch Thị Vân Phượng, Thạch Thị Kim Liên còn học phổ thông cơ sở – nghĩa là còn tuổi thiếu niên, nhưng ông Sĩ Long đã dạy các em đờn ca tài tử. Bạn bè gần 30 em, thế là gia đình tài tử thành câu lạc bộ ca nhạc tài tử. Sau này, 30 thành viên người là sinh viên, người là công nhân, người buôn bán, làm thủ công kiếm sống. Mỗi tối tập họp luyện ca, luyện đàn, dàn dựng các tiết mục cho chương trình “chơi” đa dạng. Khi các gia đình mừng thọ, đăng khoa, khi các cơ quan, các đơn vị xa gần yêu cầu phục vụ, 30 thành viên họp thành “Ban tài tử” ba dân tộc Việt – Hoa – Khmer. Nếu được nói một câu về Câu lạc bộ tài tử này thì không thể không nhắc đến Ông bầu (nghệ nhân) Thạch Sĩ Long.
Rời gia đình nghệ nhân Sĩ Long đến Trung tâm Văn hoá quận Ô Môn gặp gỡ nghệ nhân Hai Lợi, sau khi trò truyện với ông giây phút tôi như bị cuốn vào câu chuyện của Ông kể: “gia đình Ông có 6 anh chị em thì cả 6 người đều được cha dạy đờn ca tài tử, trong đó 5 anh em trai thì được cha dạy đàn, còn người con gái thì được cha dạy hát, nhưng điều đáng trân trọng ở đây là cả 6 anh chị em đều say mê môn nghệ thuật này, và người nào cũng đàn, hát rất hay”. Ở lứa tuổi 60, nghệ nhân Hai Lợi là một trong những hậu duệ của dòng nhạc tài tử trên đất Cần Thơ còn nắm giữ được khá nhiều tinh tuý của nghề cầm ca. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống cổ nhạc, làm quen với cây đàn từ thuở nhỏ, hơn 30 năm theo đoàn hát cải lương rồi trở về với quê hương Ô Môn, ông đã góp phần vào việc khôi phục và phát triển “Đờn ca tài tử” trên mảnh đất đã sản sinh ra nhiều tài năng âm nhạc như: Lưu Hữu Phước, Trần Kiết Tường, Đắc Nhẫn, Triều Dâng. Gian phòng nhỏ ở Trung tâm văn hoá quận Ô Môn là nơi nghệ nhân Hai Lợi hàng ngày dành thời gian cho việc nghiên cứu, trau luyện các bài bản tổ truyền, để trao gởi lại cho thế hệ trẻ và những người mộ điệu cái hay, cái đẹp của dòng nhạc giàu tính bác học nhưng cũng đậm chất dân gian này.

Nghệ nhân Hai Lợi 
Cũng ở đây, người em ruột của nghệ nhân Hai Lợi là soạn giả Việt Ấn – hiện là Giám đốc Trung tâm văn hoá quận Ô Môn. Ngoài công tác quản lý, đã vận dụng hiểu biết về cả tân lẫn cổ nhạc để viết lời mới cho các bài ca tài tử, một lĩnh vực mà về cả lý luận lẫn thực tiễn đều có nhiều khó khăn thách thức, đòi hỏi phải vừa làm, vừa lắng nghe để trau dồi kinh nghiệm.
Không chỉ ở Cần Thơ (một chiếc nôi của “Đờn ca tài tử” Nam Bộ), mà ở các tỉnh ĐBSCL hầu như tỉnh nào cũng có các gia đình nghệ nhân đã bao đời theo nghệ thuật đờn ca tài tử và còn gìn giữ truyền thống văn hoá này cho đến ngày hôm nay.
Đến thị xã Trà Vinh, hỏi thăm nhà ông Tám Tảo hầu như ai cũng biết. Ông tên là Nguyễn Văn Tảo – người ta thường gọi ông là ông Tám Tảo. Ông năm nay đã 84 tuổi, đang sống tại thị xã Trà Vinh. Gia đình Ông tính đến nay đã có 5 đời theo nghệ thuật “Đờn ca tài tử”. Ông nội của ông Tám Tảo là ông Nguyễn Kim Phuông tham gia ban hát thuở người ta kiêng kỵ không cho đàn bà con gái lên sân khấu, ông Phuông thường đóng vai nữ hoá trang rất đẹp và ca giọng kim rất trong (ông Tám Tảo kể lại). Cha của ông Tám Tảo là ông nguyễn Văn Ca là nhạc trưởng Ban nhạc lễ phục vụ cả vùng. Ông Tám Tảo có 8 anh chị em, cha dạy cho 5 anh em trai mỗi người chơi giỏi một nhạc cụ. Ông Tám kể “ông có vợ cũng do đờn hay, lương duyên của ông là do ông chú vợ say mê đờn mai mối gả cô cháu ruột cho”. Các con ông Tám đều có mặt trong ban tài tử. Nay dù tuổi cao ông Tám vẫn say mê rèn luyện thế hệ sau và hiện nay thế hệ thứ năm của gia đình ông cũng đang được rèn luyện. Cháu ngoại Trần Kim Dung 22 tuổi luyện ca, cháu nội Nguyễn Văn Sinh hơn 10 tuổi luyện đờn. Và tôi tin rằng gia đình này sẽ còn nối dài dài các đời tài tử. 
3. Đào tạo nghệ thuật “Đờn ca tài tử” trong các trường Cao đẳng, Đại học.
Thực trạng hiện nay ở Đồng bằng sông Cửu Long thì chưa có trường Cao đẳng, Đại học nào đưa bộ môn nghệ thuật này vào giảng dạy, ngay cả các trường Văn hoá – nghệ thuật cũng không thường xuyên mở các lớp giảng dạy bộ môn này. Ơ một số trường văn hoá – nghệ thuật ở các tỉnh thì chỉ dạy sử dụng nhạc cụ như: đàn guirta, đàn kìm, đàn tranh, đàn organ,… Riêng trường văn hoá – nghệ thuật Vĩnh Long thì khoảng 2-3 năm có mở một lớp “đờn ca tài tử”, giáo viên giảng dạy được mời từ trường Sân khấu điện ảnh TP.HCM. Lớp học này có thời gian từ 3-6 tháng, chương trình được học rất bài bản mặc dù chỉ là lớp sơ cấp căn bản nhưng vì đa số những học viên này đã qua một thời gian chơi nhạc tài tử ở địa phương (do tự học). Nên sau khi được đào tạo thêm qua lớp học này thì các học viên nắm rất vững bộ môn nghệ thuật này.

4. Đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu:
4.1. Mặt mạnh:
– Giữ gìn và phát phát huy được bản sắc văn hoá của dân tộc.
– Tạo một lối sống sinh hoạt văn hoá lành mạnh cho xóm, ấp (xã, phường).
– Tạo được sân chơi bổ ích cho những người yêu nghệ thuật.
– Góp phần làm phong phú và đa dạng cho sản phẩm du lịch của vùng ĐBSCL.
– Tạo được sự hấp dẫn cho du khách, góp phần phát triển du lịch ĐBCL.
4.2. Mặt yếu:
– Các nghệ nhân biết chơi “Đờn ca tài tử” thường thông qua năng khiếu cha truyền, con nối, học hỏi bạn bè nên đờn ca còn nhiều mặt hạn chế.
– Các cơ quan ban ngành chưa có quan tâm sâu sắc đối với bộ môn nghệ thuật này nên nó chưa được đầu tư để phát triển.
– Hiện nay đã có sự liên kết là đưa nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch. Tuy nhiên vẫn chưa mang lại hiệu quả cao vì còn quá sơ sài, chưa có chiến lược cụ thể.
– Việc phục vụ đờn ca tài tử tại các điểm du lịch chưa thực sự đúng nghĩa của nó. Thường thì chỉ hát các bài tân cổ chứ ít hát các bản vắn, các làn điệu trong đờn ca tài tử nên không nói nên được cái hay, cái độc đáo của đờn ca tài tử.
– Chưa mở được các lớp giảng dạy môn nghệ thuật đờn ca tài tử trong các trường Cao đẳng, Đại học

CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT “ĐỜN CA TÀI TỬ” CHO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

I. CÁC ĐỊNH HƯỚNG CHỦ YẾU:
1. Định hướng về bảo tồn, phát triển nghệ thuật “Đờn ca tài tử”.
Nhạc tài tử ra đời và lớn lên trong môi trường dân giả, gắn với cuộc sống của người chân quê ở nông thôn. Việc phát triển phong trào “Đờn ca tài tử” ở cơ sở cũng đặt ra nhiều vấn đề như: nên xã hội hoá hoạt động này theo hướng nào, có nên khuyến khích tài trợ cho sinh hoạt câu lạc bộ, có nên chuyên nghiệp hoá nghệ nhân để tổ chức biểu diễn có thu, có nên đề ra các qui định cụ thể về biên chế dàn nhạc và người ca? Ý kiến trả lời cho câu hỏi này còn đang rất khác nhau, và trông đợi vào một giải pháp thích hợp!
Song song với việc phát triển môn nghệ thuật “Đờn ca tài tử” như thế nào? thì việc bảo tồn môn nghệ thuật này hiện nay đang là vấn đề rất cần thiết và rất mong được sự quan tâm. Bởi vì việc bảo tồn môn nghệ thuật này không chỉ là nhiệm vụ của ngành văn hoá, các gia đình nghệ nhân,.. mà còn rất cần sự hợp tác tham gia của cả cộng đồng. Hy vọng rằng với nổ lực chung của những người nặng lòng với di sản nghệ thuật này sẽ mở ra bước khởi sắc cho nhạc tài tử được bảo tồn và phát triển đúng hướng, để không chỉ góp phần vào sự giàu đẹp của kho tàn âm nhạc truyền thống Việt Nam mà còn góp phần thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam nói chung và ngành du lịch ĐBSCL nói riêng ngày một phát triển.
Có nhiều phương pháp bảo tồn mà hiện bay các ban, ngành văn hoá đang áp dụng. Tuy nhiên, chỉ với bao nhiêu đó thì quá ít làm sao bảo tồn được lâu dài, huống chi đây là nét văn hoá độc đáo không chỉ của Đồng bằng sông Cửu Long mà còn là của cả dân tộc. Theo tôi để loại hình nghệ thuật này được bảo tồn lâu dài thì ngoài những cách thức bảo tồn trên ta cần có những cách để bảo tồn lâu dài và vững chắc hơn, cụ thể như sau:
– Tổ chức cuộc thi viết “Đề tài khoa học” về loại hình nghệ thuật “Đờn ca tài tử” cấp tỉnh sau nó nâng tầm lên cấp khu vực. Từ đó lựa chọn những đề tài hay viết thành sách lưu giữ cho thế hệ sau.
– Song song với việc lưu giữ bằng sách thì nên ghi lại hình ảnh qua các băng, đĩa để lưu giữ lại.
– Và một cách thức bảo tồn hết sức bền vững nửa đó chính là đưa nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch. Xã hội phát triển, nhu cầu du lịch của mọi người ngày càng nâng cao. Du lịch được xem là ngành công nghiệp không khói , ngành công nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế của các quốc gia. Người ta có thể kết hợp các ngành nghề với du lịch vì đây là ngành liên đới. Nghệ thuật là một trong những sức hút, sản phẩm vô giá của du lịch. Ngồi trong vườn cây ăn trái nghe “Đờn ca tài tử” thật tuyệt, một thú vui, một cảm giác không thể quên. Vậy tại sao chúng ta lại không đưa nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch theo qui hoạch và định hướng phát triển cụ thể. Công việc này vừa bảo tồn mãi mãi truyền thống bản sắc văn hoá của một dân tộc, vừa giới thiệu với du khách trong và ngoài nước tâm hồn, con người Việt Nam.
2. Định hướng về khai thác sử dụng nghệ thuật “Đờn ca tài tử” cho phát triển du lịch.
Hướng phát triển văn hoá Việt Nam hiện đại không phải chỉ có văn hoá nghệ thuật, những nét sinh hoạt ấy cũng chỉ là một mảng trong nền văn hoá của chúng ta. Và rõ ràng chúng ta có đi theo hướng hiện đại, phù hợp với nhịp điệu công nghiệp và có tính đến sự giao lưu giữa các nền văn hoá của nhân loại, vẫn cứ phải lấy nội dung văn hoá dân tộc làm định hướng chính, và phải chấp nhận sự tồn tại của nghệ thuật dân tộc như là một bộ phận hợp thành của nền văn hoá Việt Nam. 
Dân tộc phải có yếu tố nhân loại. Chúng ta cần hát chèo, tuồng, cải lương, kịch nói, ca trù,… Nhưng vẫn cần nhạc Rock và nhiều loại hình nghệ thuật khác. Cũng như thế, các dân tộc, các quốc gia khác sẽ được loại hình nghệ thuật của chúng ta “đại náo”, nếu như chúng ta biết khai thác đúng hướng phát triển của trí tuệ.
2.1. Phương hướng phát triển:
– Phát triển du lịch phải căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế của vùng.
– Không ngừng nâng cao chất lượng cho các đội “Đờn ca tài tử” phục vụ trong du lịch, nhằm đa dạng hoá sản phẩm du lịch.
– Nhanh chóng xây dựng các tuyến, điểm du lịch mới, hấp dẫn. Trong mỗi tour, tuyến đó ta kết hợp đưa chương trình “Đờn ca tài tử” vào, tạo chương trình tour thêm phong phú.
– Tăng cường mở các lớp giảng dạy “Đờn ca tài tử” trong các trường nghiệp vụ du lịch nhằm đào tạo cho đội ngũ này có một phong cách phục vụ chuyên nghiệp hơn.
– Tăng cường vai trò quản lý của các Sở du lịch, Sở văn hoá thông tin, nhằm đảm bảo cho hoạt động du lịch lành mạnh và đạt hiệu quả kinh tế, xã hội cao.
– Xây dựng chiến lược mang tính chất đồng bộ trong việc khai thác phục vụ nghệ thuật “Đờn ca tài tử” trong các tuyến điểm du lịch ở ĐBSCL.
2.2. Mục tiêu phát triển.
2.2.1. Mục tiêu kinh tế.
Trong hoạt động kinh doanh du lịch, tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế được thể hiện qua mục tiêu kinh tế: đảm bảo thu nhập cao nhất với chi phí sản phẩm du lịch thấp nhất.
Việc khai thác sử dụng nghệ thuật “Đờn ca tài tử” cho hoạt động du lịch không chỉ tạo điều kiện cho những người hoạt động trong lĩnh vực đờn ca tài tử có mức thu nhập ổn định mà còn mang lại lợi ích rất lớn cho ngành du lịch ĐBSCL. Bởi lẽ một khi đã tạo được sự chú ý cho du khách về sự độc đáo và hấp dẫn của bộ môn nghệ thuật này thì sẽ thu hút được rất nhiều du khách đến ĐBSCL, từ đó không chỉ giúp cho doanh thu của ngành du lịch ĐBSCL tăng mà còn giúp cho ngành du lịch Việt Nam ngày càng phát triển hơn. 
2.2.2. Mục tiêu văn hoá – xã hội.
Ngành du lịch có thể xem là một ngành mang tính tổng hợp. Ngoài chức năng là một ngành kinh tế, du lịch còn tạo cơ hội tìm hiểu giao lưu, học hỏi những nền văn hoá khác nhau ở những địa phương, đất nước khác nhau.
Khai thác sử dụng nghệ thuật “Đờn ca tài tử” trong hoạt động du lịch không những tạo sự đa dạng cho sản phẩm du lịch ở ĐBSCL mà còn mang lại lợi ích về văn hoá – xã hội rất lớn cho ĐBSCL nói riêng và cho Việt Nam nói chung.
– Tạo cơ hội việc làm cho những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật này.
– Tạo sự nhận thức cho người dân địa phương cũng như du khách đây là hoạt động giải trí hết sức lành mạnh. Giúp người dân quên đi một ngày lao động mệt nhọc, giúp du khách thoải mái sau một ngày dài ngồi tàu, xe mệt mỏi và cảm thấy thật thú vị cho chuyến du lịch của mình.
– Giới thiệu cho du khách trong và ngoài nước đây là nét văn hoá đặc thù của người dân ĐBSCL.
Trong phạm vi khu vực cần nhận định rằng việc giữ gìn, phát huy nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc là công việc rất quan trọng, đồng thời phải biết tiếp thu chọn lọc cái hay của nền văn hoá khác. Đặc biệt việc phòng chống tệ nạn xã hội trong phát triển du lịch, đảm bảo mục tiêu phát triển văn hoá xã hội là hết sức cần thiết.
Việc áp dụng nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vào hoạt động du lịch không những mang lại lợi ích kinh tế mà còn là một giải pháp hết sức tích cựu trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống bản sắc văn hoá dân tộc.
II. CÁC GIẢI PHÁP
1. Tăng cường sự quan tâm và quản lí của Sở văn hoá thông tin, Sở du lịch ở các tỉnh, TP.
– Các Sở du lịch, chính quyền địa phương cần quan tâm hơn nửa, nhất là cơ sở vật chất cho phong trào, phải xác định “Đờn ca tài tử” không phải là sinh hoạt vui chơi giải trí đơn thuần mà nó là bộ môn nghệ thuật cần được phát huy và gìn giữ, vì nó không chỉ là nét đặc thù của vùng ĐBSCL mà còn là một loại hình nghệ thuật độc đáo trong kho tàn văn hoá Việt Nam.
– Ngành văn hoá thông tin nên dành riêng chi phí thường xuyên mở các lớp ngắn, trung hạn, dài hạn để đào tạo cho các hạt nhân phong trào. Ngoài ra xu thế hiện nay giới trẻ đa số chỉ thích nhạc hiện đại, còn lại thiểu số cũng thích chơi nhạc tài tử nhưng không muốn học đờn kìm, đờn cò, đờn bầu,… vì cho rằng những thứ nhạc cụ đó dành riêng cho người lớn tuổi. Vì vậy cần có những giải pháp khuyến khích cho giới trẻ tham gia sinh hoạt bộ môn này
2. Đưa chương trình giảng dạy “Đờn ca tài tử” vào các trường học chuyên ngành và không chuyên ngành.
– Các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay hầu như mỗi tỉnh đều có trường Văn hoá – nghệ thuật thế nhưng không có trường nào đưa bộ môn “Đờn ca tài tử” vào giảng dạy mà chỉ có dạy một số nhạc cụ như: đàn tranh, guir – tar, đàn kìm,… mà hiện nay nhu cầu học “Đờn ca tài tử” rất nhiều vì hiện nay nhạc tài tử đã được khai thác để phục vụ trong hoạt động du lịch, mà muốn hoạt động này có hiệu quả thì những người chơi nhạc tài tử phải am hiểu sâu sắc và chơi có bài bản. Vì vậy các trường Văn hoá – nghệ thuật nên đưa bộ môn này vào giảng dạy một cách phổ biến.
– Ngoài việc đưa “Đờn ca tài tử” vào giảng dạy tài các trường chuyên ngành thì cần đưa bộ môn này vào giảng dạy tại các trường Cao đẳng, Đại học không chuyên ngành nhằm để giáo giục ý thức thế hệ trẻ hiểu sâu sắc hơn về bộ môn nghệ thuật này mà có ý thức giữ gìn và phát huy nó.
3. Động viên các nghệ nhân giữ gìn, phát huy nghệ thuật “Đờn ca tài tử”.
– Hiện nay các gia đình nghệ nhân còn gìn giữ và phát huy nghệ thuật “Đờn ca tài tử” là do lòng yêu nghề, say mê với môn nghệ thuật này. Tuy nhiên để môn nghệ thuật này còn được bảo tồn và phát triển cho mai sau thì Nhà nước, các cơ quan ban ngành có liên quan cần có chính sách cụ thể để khuyến khích các gia đình nghệ nhân phát huy môn nghệ thuật này. Bởi lẽ muốn bảo tồn được môn nghệ thuật này thì phải cần đến thế hệ trẻ mà hiện nay các con em của các gia đình nghệ nhân lại không muốn tiếp nối truyền thống của cha ông vì họ thấy nếu theo nghề thì mức thu nhập không cao, không đảm bảo cho gia đình có cuộc sống tốt, vì thế mà họ có xu hướng học ngành nghề khác để đáp ứng nhu cầu cuộc sống hiện nay. Vì vậy, nếu muốn thế hệ này tiếp tục nghề của cha ông thì Nhà nước cần có chính sách ưu đãi cho những ai hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật này, đây chính là sự động viên trước hết cho các gia đình nghệ nhân để họ có điều kiện mà tiếp tục tham gia vào việc bảo vệ loại hình nghệ thuật này.
4. Quảng bá, tiếp thị nghệ thuật “Đờn ca tài tử” trong các chương trình du lịch nội địa và quốc tế.
– Để du khách trong và ngoài nước biết đến môn nghệ thuật này thì cần đưa nó vào chương trình cụ thể của các tour du lịch. Đồng thời chúng các công ty du lịch cũng cần phải giới thiệu sản phẩm du lịch này trong các Brochure, báo chí, website, của các tour du lịch ĐBSCL.
– Các hướng dẫn viên của tuyến du lịch ĐBSCL phải am hiểu thật sâu săc về loại hình nghệ thuật này để thuyết minh cho khách, bài thuyết minh phải được chuẩn bị chu đáo để khi thuyết minh khách sẽ thấy được đây là một loại hình nghệ thuật độc đáo và thật sự rất muốn tìm hiểu về loại hình nghệ thuật này.
III. KIẾN NGHỊ
– Ngành văn hoá thông tin và các ngành hữu quan nên tổ chức Hội thảo nhạc tài tử Nam bộ trong đó đi sâu vào các vấn đề về biện pháp bảo tồn và phát triển nhạc tài tử Nam bộ cho phù hợp với xã hội đương đại mà vẫn giữ được bản sắc độc đáo của nó.
– Bài bản tài tử vốn được biên soạn và trình diễn khác với bài bản cải lương. Thế những, ở ĐBSCL đến nay vẫn chưa có một khoá đào tạo nào dành cho sáng tác và dàn dựng loại nhạc này. Trong khi nghệ thuật ca trù, quan họ đã được giảng dạy chính quy ở một số nơi, thì nghệ thuật “Đờn ca tài tử” vẫn còn theo lối truyền nghề là chính. Đây là vấn đề mà cả nghệ nhân lẫn công chúng rất quan tâm. Vì thế cần đưa bộ môn này vào giảng dạy tại các trường chuyên ngành.
– Sức sống của nhạc tài tử trong lòng người mộ điệu đã là chuyện hiển nhiên. Nhưng một nghệ thuật không chỉ cần sống, mà còn cần được phát triển, không chỉ được phổ cập mà còn cần nâng cao. Vì thế ngành văn hoá thông tin nên tạo điều kiện để các nghệ sĩ, nghệ nhân nuôi dưỡng tài năng, trau dồi ngón nghề để truyền nghề lại cho lớp trẻ.
– Cũng chính do hội nhập vào cải lương mà hiện nay nhạc tài tử thường bị lẫn lộn với các bài bản vốn dành cho sân khấu cải lương. Trong sinh hoạt văn nghệ ở xóm ấp, các tụ điểm văn hoá, các điểm du lịch, . . sự phân biệt giữ nhạc tài tử và nhạc cải lương hiện nay là vấn đề có tính lý luận, không những cần thiết cho công tác chỉ đạo quản lý, mà còn để bảo tồn và phát triển đúng hướng thể loại âm nhạc độc đáo này.
– Một số tỉnh hiện nay chưa có sự kết hợp giữ hoạt động nghệ thuật “Đờn ca tài tử” với hoạt động du lịch, hai lĩnh vực này còn hoạt động rời rạc, chưa có sự kết hợp nên chưa mang lại hiệu quả cao. Vì thế các cơ quan chức năng cần tạo mọi điều kiện cho việc đầu tư phát triển nghệ thuật “Đờn ca tài tử” cho hoat động du lịch.
– Ngành du lịch ĐBSCL cần có định hướng chung cho nghệ thuật “Đờn ca tài tử” trong hoạt động du lịch. Cũng là đờn ca tài tử nhưng tại các điểm du lịch khác nhau thì cần có cách phục vụ khác nhau, phải có tính đặc thù riêng của từng điểm du lịch, tránh cho khách sự nhàm chán.
– Đối với các công ty du lịch khi thiết kế chương trình tuor thì cần chú ý kỷ các tuyến điểm tham quan để tránh sự trùng lắp, không nên thiết kế chương trình thưởng thức đờn ca tài tử nhiều lần trong một chuyến đi.
– Các tiết mục “Đờn ca tài tử” để phục vụ du khách tại các điểm du lịch phải được lựa chọn và chuẩn bị chu đáo nhằm tạo cho sản phẩm du lịch thật độc đáo và thật ấn tượng.
– Cần có những chương trình như dạy cho du khách đàn, hát một vài câu trong các bài bản tài tử để tạo sự hấp dẫn và thu hút du khách trong chuyến đi cũng như trong chương trình tuor.
PHẦN KẾT LUẬN
Thế giới thay đổi, nhân sinh quan, thị hiếu của con người cũng dần đổi thay. Trước đây châu Au, châu Mỹ là những nơi thu hút hầu như toàn bộ du khách quốc tế. Nhưng hiện nay, vào đầu thế kỷ 21, châu Á bắt đầu nổi lên như một điểm đến an toàn – thân thiện – và ngày càng trở nên hấp dẫn du khách các nơi nhờ vào các tiềm năng du lịch. Để cùng sánh vai với các nước trong khu vực, Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng phải chuyển mình, thích ứng với một thị trường du lịch luôn năng động và nhiều thử thách.
Ngành du lịch ĐBSCL đang trong quá trình phát triển nhưng còn non yếu so với các khu vực khác trong cả nước, điều này thể hiện qua kết quả thực hiện các vấn đề cơ sở vật chất, về lượng du khách, doanh thu,.. .Tuy nhiên, ngành du lịch ĐBSCL cũng đã có bước phát triển đáng kể , là một ngành quan trọng trong cơ cấu phát triển kinh tế – xã hội của khu vực. Hoạt động của ngành giải quyết được một số lao động rất lớn có việc làm ổn định, tạo được sự giao lưu, giúp du khách trong và ngoài nước hiểu rõ hơn về mãnh đất và con người ĐBSCL hiền hoà, dễ mến nhưng cũng rất phóng khoáng, rất tài tử.
Khai thác sử dụng nghệ thuật “Đờn ca tài tử” cho hoạt động du lịch không những tạo sự đa dạng về sản phẩm du lịch mà sẽ mở ra một cái nhìn mới, một triển vọng mới cho ngành du lịch ĐBSCL. Do đó, chúng ta cần tạo điều kiện để loại hình văn hoá này được phát triển, phục vụ tốt cho du lịch mà hiện nay chưa được con người khai thác đúng mức.
Bảo tồn và phát triển văn hoá nghệ thuật “Đờn ca tài tử” đối với hoạt động du lịch ở ĐBSCL là việc làm rất cần thiết hiện nay, bởi lẽ nó không chỉ giúp cho ngành du lịch ĐBSCL phát triển mà còn bảo tồn được nét văn hoá độc đáo của ĐBSCL nói riêng và của Việt Nam nói chung. Nhưng để làm được điều này không chỉ đòi hỏi sự phấn đấu nỗ lực của ngành du lịch mà còn rất cần sự giúp đỡ của các ngành liên quan đặc biệt là ngành văn hoá thông tin. Từ đó nó góp phần to lơn vào sự phát triển kinh tế – xã hội của vùng, làm phong phú kho tàn văn hoá của quốc gia. 

GS.TS. Trần Văn Khê 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Giới thiệu các tuyến du lịch Nam Bộ – Trần Huy Hùng Cường – NXB trẻ -2006.
2/ Văn hoá Nam Bộ – vấn đề và phát triển – TS. Hồ Bá Thâm – NXB văn hoá thông tin – 2003.
3/ Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam – PGS.TS.Trần Ngọc Thêm – NXB TP.HCM – 1997.
4/ Qui hoạch du lịch – Những vấn đề lý luận và thực tiển – TS.Trần Văn Thông – NXB Đại học quốc gia Tp.HCM – 2005.
5/ Soạn giả Mộc Quán – Nguyễn Trọng Quyền “Cuộc đời và sự nghiệp” – Sở VHTT tỉnh Cần Thơ – 2001.
6/ Kỷ yếu “Hội thảo tiềm năng phát triển du lịch ĐBSCL và cơ hội đầu tư” – Sở du lịch TP. Cần Thơ – 1003.
7/ Tài liệu “Hội thảo phát triển du lịch sinh thái – văn hoá các tỉnh ĐBSCL -UBNN tỉnh An Giang – 2006.
8/ Từ Dạ Cổ Hoài Lang – Kỷ yếu hội thảo khoa học về Cao Văn Lầu – NXB Cà Mau – 1992.
9/ Nhạc tài tử, nhạc sân khấu cải lương – Trương Bỉnh Tòng – NXB sân khấu TP.HCM – 1997.
10/ Văn hoá với âm nhạc dân tộc – GS.TS.Trần Văn Khê – NXB Thanh Niên – 2000.

 

LÊ VĂN KHOA : Sức Mạnh Ðáng Sợ Của Âm Nhạc


Sức Mạnh Ðáng Sợ Của Âm Nhạc

le van khoa

Thursday, 26 December 2013 00:40 GS Lê Văn Khoa
Posted by: Cao Minh Hưng
E-mailPrint

Read 90 times.

 


Có thể các nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam trước 1975 đã quên giá trị của trống trận Tây Sơn, hoặc đặt chưa đúng mức chỗ đứng của âm nhạc trong cuộc chiến Quốc-Cộng trên đất nước ta. Có thể phần lớn chúng ta vì quá tôn trọng sự tự do nên ít chú ý đến giá trị và sức mạnh của âm nhạc cần được ứng dụng trong thời chiến. Trong khi chiến cuộc gia tăng cường độ, các đài phát thanh, truyền hình của miền Nam, nhất là các phòng trà mãi rên rỉ về những cuộc tình tan vỡ. Ðến lúc sự ủy mị lan tràn quá mạnh, người có trách nhiệm tỉnh ngộ, ra lệnh cấm các cơ quan truyền thông phát thanh loại nhạc với nhịp điệu boléro, thường đi với ca khúc than khóc, dễ làm nản lòng chiến sĩ. Tôi còn nhớ khoảng năm 1972-1973 khi nộp một chương trình để thu hình cho ca đoàn Trùng Dương trình diễn trên Truyền Hình Việt Nam, trong đó có bài “Mùa Hoa Nở” của nhạc sĩ Cung Tiến. Kiểm duyệt viên của bộ Thông Tin hỏi tôi bài này theo nhịp gì? Tôi trả lời là nhịp boléro. Bài “Mùa Hoa Nở” bị xóa khỏi chương trình, không cho thu hình. Lý do: nhịp điệu boléro. Người ta không cần biết nội dung, không chú ý đến lời ca. Tôi nói với viên chức kiểm duyệt rằng: “Tôi sẽ thu hình bài này mà các ông không cấm được”. Ông ấy hỏi tôi: “Tại sao?” Tôi đáp: “Rồi các ông sẽ thấy”.

NS Kateryna Myronyuk su dung dan bandura

Tôi có lý do để trả lời cứng với người kiểm duyệt vì phần nhạc đệm không phải là ban nhạc loại phòng trà mà là ban Kim Mộc, ban nhạc diễn hành của Hải Quân Việt Nam. Bài nhạc có một đoạn ngắn được viết theo nhịp boléro, ngay sau đó tôi chuyển qua nhịp quân hành.
Vài tuần sau tôi xin kiểm duyệt lại bài “Mùa Hoa Nở”. Lần này tôi ghi bài sẽ được chơi theo nhịp quân hành, thì được cho phép thu hình. Thật ra boléro chơi với dàn hòa tấu Kim Mộc âm hưởng rất khác với ban nhạc loại phòng trà khiêu vũ.

Sau khi thu và phát hình bài “Mùa Hoa Nở” tôi bị khiển trách không phải vì nhịp điệu boléro (họ không chú ý đến boléro vì không thấy nét ủy mị) mà trách rằng: “Tại sao Tướng Kỳ chưa ra lệnh Bắc tiến mà các anh dám đi trước?” Tôi trả lời: “Cần chuẩn bị tinh thần quân dân sẵn sàng để Bắc tiến khi có lệnh! Nếu để xuất quân rồi mới chuẩn bị thì trễ mất rồi.” Lúc đó có dư luận nói quân đội miền Nam chuẩn bị Bắc tiến.

Việc này tôi tin tác giả Cung Tiến không hề biết.
Năm 2005 tôi qua Ukraine để thu thanh CD Symphony “Việt Nam 1975”. Có người trách tôi sao qua Nga để thu thanh. Họ không biết Ukraine đã bị Nga đô hộ suốt 70 năm và đã tách ra khỏi khối Liên Bang Sô Viết năm 1991, khi Nga Sô suy yếu sau vụ sụp đổ bức tường Bá Linh. Tuy hiện nay vẫn có những người thân Nga nhưng nói chung dân chúng Ukraine rất thù Nga. Dường như không có gia đình nào không có người bị Nga hành quyết.

Trong khi ở Ukraine, tôi chú ý đến nhạc cụ dân tộc của họ là cây đàn bandura và tôi có chuyển vài bài dân ca Việt như “Se Chỉ Luồn Kim” và “Trống Cơm” cho độc tấu bandura và dàn nhạc giao hưởng với ý muốn đem truyền bá dân nhạc Việt qua xứ người. Không ngờ việc làm này đã được Tiến Sĩ Nghệ Thuật chuyên về Bandura, bà Violetta Dutchak, thuộc Bộ Khoa Học Nhân Văn và Nghệ Thuật của Ukraine tuyên bố: “Lần đầu có người đưa hai nguồn văn hóa dân tộc (giai điệu dân ca Việt viết cho nhạc cụ quốc gia Ukraine) đến với nhau, qua âm nhạc.”
Khi nghiên cứu nhạc cụ mang tên là nhạc cụ dân tộc của Ukraine (họ không gọi là nhạc cụ cổ truyền), một lần nữa tôi được minh xác là từ trước người ta đã nhận thấy giá trị sâu xa của âm nhạc. Trong trường hợp này, người Đức, Ba Lan và Nga đối với nhạc dân tộc của người Ukraine đã thẳng tay truy diệt người phổ biến loại nhạc này. Ðàn bandura mang tên là “nhạc cụ dân tộc” quả nhiên đã trôi nổi và chịu khổ hạnh với dân tộc Ukraine trong nhiều thế kỷ.

Đàn bandura có thể trình diễn như nhạc cụ độc tấu, nhưng cũng có thể dùng đệm cho giọng ca. Trong thời Ukraine bị Ba Lan đô hộ ở phía Tây, đàn bandura được ưa chuộng trong triều đình Ba Lan cho đến khi cuộc nổi dậy chống Ba Lan năm 1648 thì Bandura bị cấm tuyệt và người chơi đàn này bị giết vì bị liệt kê là rất nguy hiểm. Bên phía Ðông của Ukraine, phần đất thuộc Nga cai trị, đàn bandura được phát triển mạnh cho đến năm 1876 thì đàn này bị cấm, tất cả những gì trình diễn có tính chất dân tộc và ngôn ngữ Ukraine cũng bị cấm luôn. Nhưng đáng sợ hơn hết là Stalin và cộng sản Nga trong thế kỷ 20. Người Nga muốn đồng hóa nguời Ukraine vào dân tộc Nga nên không chấp nhận có một nhạc cụ mang tên Nhạc Cụ Quốc Gia từ Ukraine.

Năm 1933 Nga đã ra tay giết 7 triệu người Ukraine (sau này có tài liệu nói số người chết có thể lên đến trên 10 triệu) trong một năm bằng cách bỏ đói họ. Nga cướp hết những gì có thể ăn được của người Ukraine, kể cả cải muối làm dưa. Họ không cho phép người Ukraine ra nước ngoài, không cho người vùng này qua vùng khác trong xứ để kiếm ăn. Họ muốn biến những người còn sống không còn tinh thần quốc gia mà trở thành người quy phục Nga tuyệt đối.

Nhưng tinh thần quốc gia dân tộc vẫn còn được cổ võ trong dân chúng do những người kobzari. Kobzar là tên đến từ đàn kobza mà kobza là tiền thân của đàn bandura. Người chơi kobza gọi là kobzar, số nhiều là kobzari. Từ xa xưa kobzari đi theo đoàn quân Cossack để ủy lạo chiến sĩ và cầu hồn cho các tử sĩ. Họ dùng bandura để đệm hát những thiên hùng ca dân tộc.

Ai là kobzar? Kobzar là người chơi đàn kobza, nhưng không phải ai chơi đàn kobza cũng đều được gọi là kobzar. Muốn được vào thành phần kobzari, người nhạc sĩ phải bị mù, thường là từ nhỏ, phải có trình độ chơi nhạc rất cao, được trắc nghiệm và chứng nhận, phải có lòng yêu nước, có bổn phận đi loan truyền chân lý và tự do đặt trên căn bản công lý và nhân bản qua âm nhạc. Những trẻ em bị mù từ nhỏ, học đàn kobza không thành đạt thì không được vào hàng kobzari. Chúng chỉ được nhập vào đoàn hành khất có tổ chức và được phép đàn một số bài nhạc của kobzari.

Những người chơi bandura, một số là người trí thức, nhưng phần lớn là nhạc sĩ mù (kobzari) đi hát rong khắp nơi. Họ nêu cao tính khí hào hùng của người Cossack, ca ngợi lịch sử của Ukraine, tôn vinh tinh thần dân tộc chống ngoại xâm. hát ca khúc ái quốc và tôn giáo.
Những người trí thức thường yêu cầu kobzar hát các bài dumy (hùng ca ái quốc). Người bình dân thường yêu cầu họ hát bài ca tôn giáo. Thông thường họ hát bài ca ăn xin zhebranka. Khi được mời vào nhà, họ hát những bài ca do chủ nhà yêu cầu. Lúc ra về họ hát bài ca cám ơn blahoda-rinnia. Những nghệ sĩ mù này thường thuê một đứa bé mồ côi dẫn đường cho họ.

Chính những nghệ sĩ mù này là những người tuyên truyền rất đắc lực. Những tin tức thu lượm được họ chuyển thành bài ca và đem phổ biến các nơi, giữ vững tinh thần yêu nước trong quần chúng và nuôi giấc mộng tự do trong lòng mọi người. Vì vậy cộng sản Nga quyết tâm diệt trừ nghệ sĩ mù.

Năm 1933 (có tài liệu ghi 1939) Stalin ra lệnh “mời” tất cả kobzari về thủ đô (cũ) là Kharkiv, Ukraine, dự đại hội âm nhạc toàn quốc để ghi chép lại tất cả các bài ca do họ sáng tác và trình diễn dùng lưu truyền cho hậu thế.

Ý tưởng quá đẹp này đã thu hút trên 300 nghệ sĩ mù về Kharkiv dự đại hội âm nhạc. Trên thực tế người Nga tập trung họ lại một chỗ để dễ thanh toán. Quả nhiên tất cả những người này đã bị tàn sát tập thể.

Stalin sợ ảnh hưởng các bài ca của những nhạc sĩ mù được truyền đi các nơi cách nhanh chóng và có hiệu quả lớn trong việc kích động quần chúng chống Nga, nên ra tay giết những kobzari càng nhiều càng tốt.

Stalin cũng đã giết rất nhiều nhạc sĩ chơi bandura khác và tuyên bố họ bị Ðức Quốc Xã hạ sát. Sau này lịch sử chứng minh không phải quân Ðức giết họ. Ðó là chưa kể vô số người bị đày đi Siberia không có ngày về. Nhiều người khác bị giết, nhưng gia đình được thông báo là họ bị lưu đày và gia đình không được phép liên lạc với tội nhân. Trong số họ có nhạc sĩ Sohohub Viktor bị xử bắn ngày 27-11-1937 với 3 đứa con trai, cũng chơi đàn bandura như cha. Nếu quý độc giả muốn có bản danh sách những người bị hành quyết, có thể vào đọc trong trang web http://en.wikipedia.org/wiki/Persecuted_bandurists. Bảng danh sách nhiều trang giấy với ngày tháng mà người ta ghi nhận được. Danh sách còn đang được cập nhật. Thường thường khi bản án đã công bố thì “tội nhân” bị hành quyết trong vài giờ hoặc vài ngày, hay chậm lắm là vài tuần lễ sau.

Ivan Kuchuhura-Kucherenko
(1874-1937)

Án lệnh xử bắn nhạc sĩ mù Ivan Kuchuhura-Kucherenko (1937)

Trong thập niên 1930, nhất là năm 1937-38 rất nhiều toán nhạc sĩ bandura của Ukraine bị Nga hành quyết, mỗi toán đến nhiều chục người bị giết cùng lúc. Trong những người bị giết có một nhạc sĩ mù tên Ivan Kuchuhura-Kucherenko, khá đặc biệt. Ông chào đời ngày7-7-1874, bị mù từ ba tuổi, có năng khiếu nhạc rất cao, khi ông nghe người khác đàn là ông nắm được kỹ thuật ngay. Lớn lên rất có tài, đi trình diễn nhiều nơi. Ông được mời trình diễn 40 buổi ở St. Petersburg, năm 1913, hầu hết ở các cơ sở giáo dục và ở thủ đô Moscow nước Nga năm 1915. Ống là một trong vài người đầu tiên được cấp bằng tuyên dương “Nghệ Sĩ Nhân Dân”, năm 1919 và bằng “Nghệ Sĩ Nhân Dân Ukraine – Liên Sô”, năm 1926. Ông được xem như là người chơi đàn bandura xuất sắc nhất. Bộ tự điển Soviet Encyclopedia của Nga có viết về ông. Họ nói quân Ðức giết ông năm 1943 khi Đức chiếm Ukraine. Trên thực tế, tài liệu của Ủy Ban Nhân Dân Nội An Vụ của Nga Sô được tìm thấy sau này, có bản án ghi rằng ông Ivan Kuchuhura-Kucherenko bị Nga xử bắn ngày 24-11-1937, sau 8 tháng tra tấn, trên vùng đất của KGB ở ngoại ô Kharkiv, Ukraine. Ông bị chôn trong mồ tập thể, nơi 300 nhạc sĩ mù và vô số người khác bị hành quyết. Bên trên là bản sao lệnh xử tử ông, có ghi rõ ngày tháng.

Một trường hợp khác, nhạc sĩ bandura tên Oleksander Borodai có quốc tịch Hoa Kỳ, khi trở về Ukraine năm 1919, liền bị bắt và bị xử bắn.
Đến năm 1960 đảng cộng sản Ukraine hoàn toàn kiểm soát việc sử dụng đàn bandura. Nam sinh không được nhận vào phân khoa bandura trong nhạc viện mà chỉ dành cho nữ sinh.

Những bài hùng ca, ái quốc viết cho nhạc cụ này bị cấm, thay thế bằng những tình ca và nhạc cổ điển Tây phương được chuyển hóa cho nhạc cụ bandura.

Bang Tuong Niem Nguoi Ukraine bi Nga giet

Ðài tưởng niệm hằng nhiều triệu người Ukraine bị Nga giết, được dựng lên ở Edmonton, Canada

Xuyên qua những dữ kiện bên trên ta không ngạc nhiên khi thấy cộng sản Việt Nam ngày trước đã cấm dân chúng đàn và ca vọng cổ, loại nhạc ưa chuộng của người miền Nam.

Bên trên và trong bài “Âm nhạc ảnh hưởng đến vạn vật” chúng ta đã thấy âm nhạc được dùng trong nhiều khía cạnh của sinh hoạt nhân loại. Ở đây ta thấy một khía cạnh khác, người ta dùng âm nhạc để nhục mạ một người, một chế độ hay cả một dân tộc khác. Tuy nhạc không dùng ngôn từ nhưng ý nghĩa của nó rất mạnh. Một sự việc xảy ra gần đây làm ta phải suy nghĩ.

Hôm 19 tháng Giêng 2011, Tổng Thống Barak Obama của Hoa Kỳ mở quốc yến để khoản dải Hồ Cẩm Ðào, nhà lãnh đạo Trung Cộng tại tòa Nhà Trắng, bữa tiệc được gọi là tinh túy của Hoa Kỳ. Trong bữa đại yến, ngoài Hồ Cẩm Ðào còn có khách quý từ nhiều quốc gia, dĩ nhiên có một chương trình nhạc chọn lọc với sự đóng góp tinh hoa của nghệ sĩ từ hai quốc gia chính. Bên Trung Hoa đưa ra một diệu thủ piano tên tuổi là Lang Lang, mà phần lớn cuộc đời trưởng thành của ông là ở Hoa Kỳ,. Sau màn trình diễn chung với cầm thủ Hoa Kỳ Lang Lang tự giới thiệu và sau đó độc tấu bài piano “My Motherland”.

Ðọc tên bài nhạc “Ðất Mẹ” người ta tưởng nó chỉ là bài ca nhớ quê. Tại sao Lang Lang trình diễn trong quốc yến này? Vì nếu chỉ là một giai điệu hay thì Trung Hoa có nhiều bài nhạc rất hấp dẫn.
Thử tìm hiểu sâu hơn ta khám phá ra điều gì?

Ðây là ca khúc được dùng trong phim “Battle on Shangangling Mountain” do Trung Hoa cộng sản sản xuất năm 1956, chuyển trận chiến trên khu tam giác đồi núi Kimhwa, Bắc Triều Tiên năm 1952 thành phim ảnh. Quân Trung Cộng bị thiệt hại nặng, cố cầm chân quân đội Hoa Kỳ để chờ viện binh. Một nữ hộ lý Trung Hoa hát bài ca này để ủy lạo thương binh, trong đó có câu: “Khi bạn thân đến, ta có rượu ngon để mời. Khi sài lang (chó ghẻ Phi Châu) đến, ta có súng săn để giết chúng.” Sài lang ở đây ám chỉ lính Mỹ. Bài ca được dùng như là bài ca tuyên truyền chống Mỹ trong nhiều thập niên và được dạy trong tất cả trường học ở Trung Hoa. Khi trình diễn ở tòa Nhà Trắng, Tổng Thống Obama, phu nhân và mọi người vỗ tay tán thưởng. Truyền hình chiếu khắp thế giới. Người Trung Hoa cộng sản xem, cười hả dạ và nói là bọn Mỹ thật ngu, người ta mắng vào mặt mình không biết nhục mà còn khen hay. Thật đáng thương hại. Người chống cộng thì lắc đầu ngao ngán. Phát ngôn viên tòa Nhà Trắng là Tommy Victor thay vì nhận sự sơ hở của mình lại đi binh vực Lang Lang, nói: “Ý nghĩ cho việc trình diễn nhạc phẩm này để hạ nhục Hoa Kỳ thì rất sai. Nó chỉ là một giai điệu hay chứ không có ý nghĩa gì khác.”

Đối lại lập luận trên, tôi nhớ một nhạc sĩ thuộc nhạc viện Hà Nội đã nói: “Khi trình diển nhạc cổ điển không lời, đàn nhấn mạnh sai chỗ là đã biểu lộ tinh thần phản loạn rồi.”

Lang Lang không xin lỗi mà còn tuyên bố với truyền hình rằng đàn bài nhạc ấy trước những bậc lãnh đạo của thế giới là một hân hạnh và danh dự, làm cho người Trung Hoa kiêu hãnh về mình, cho thấy Trung Hoa là một quốc gia khiếp đảm và người dân Trung Hoa thật sự đoàn kết.

Nếu Tổng Thống Obama cũng như ban nghi lễ của tòa Bạch Ốc không biết bài nhạc này và ý nghĩa của nó, chắc chắn Hồ Cẩm Đào và đoàn tùy tùng biết. Họ để yên, không có ý chận Lang Lang. Cũng có thể họ gài cho Lang Lang chơi để nhục mạ Hoa Kỳ, xem Hoa Kỳ có dám làm gì không. Có thể đây là một đòn dọ dẫm để họ có những hành động táo bạo hơn ở Á Châu và thế giới trong tương lai gần. Thật ra sự việc này có thể đưa đến chiến tranh như chơi, nhưng Obama quá yếu, để cho chìm xuồng luôn mà không đòi hỏi Trung Hoa giải thích.
Khi câu chuyện này được đăng trên Sina Weibo blog, rất nhiều người đáp ứng. Họ chia ra hai phe rõ rệt. Một bên thì ca tụng Lang Lang như vị anh hùng, dám thẳng cánh đâm vào Hoa Kỳ bằng sứ điệp chí tử, ghi sâu hận thù. Một bên thì cho là chọn bài nhạc để dùng không đúng chỗ. Ngày 23 tháng Giêng năm 2011, The Epoch Times ghi thêm đề phụ: “Hoa Kỳ bị hạ nhục trước mắt người Trung Hoa bằng bài ca đã từng được dùng để kích động chống Mỹ.”

Việc này làm tôi nhớ lại câu nói đáng ghi nhớ của nhà danh họa Picasso: “Nghệ thuật là sự giả dối để làm cho chúng ta nhận thức sự thật.” (Art is a lie that make us realize the truth. – Pablo Picasso).

Phải chăng âm nhạc là đề tài đáng cho người nuôi mộng quang phục quê hương nghiên cứu, khai triển và thực hiện?

Tham khảo:
– wikipedia.org/wiki/Persecuted_bandurists
– Kobzari
– Ukrainian-Bandurist-Chorus
– Phỏng vấn riêng
– NY Post
– Christian Science Monitor
– YouTube

http://www.caulacbotinhnghesi.net/index.php?option=com_content&view=article&id=1765