NGUYEN THANH HIEP : CAM TUONG SAU KHI NHAN SACH “5O NAM NGHIEN CUU NHAC DAN TOC VIET” cua TRAN QUANG HAI , 01.07.2021


Nguyễn Thanh Hiệp added 2 new photos to the album: GSTS TRÂN VĂN KHÊ — feeling grateful with Lê Thu Imbert and 13 others at Báo Người Lao Động.

tScponsdomre12ihd  · Ho Chi Minh City, Vietnam  · Nhận được món quà từ thủ đô Paris của GSTS Trần Quang HảiĐó là quyển sách quý “Trần Quang Hải : 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt” đã từng ra mắt tại CSU LB , California, USA ngày 10-2-2019.

Hôm nay anh gửi về tặng trong niềm xúc động bởi đó là pho tư liệu quý trong quá trình nghiên cứu về văn hóa, nghệ thuật và âm nhạc dân tộc Việt.Sách đã trình bày và giới thiệu các loại đàn, hát của dân tộc ta từ thời nhà Đinh, thế kỷ thứ 10, cho tới ngày nay.

Phần trình bày rành rẽ của anh là tài liệu quý báu cho những người biên khảo về âm nhạc Việt Nam, cổ nhạc lẫn tân nhạc.Tôi thích nhất phần cổ nhạc, anh đã giới thiệu về các loại nhạc như nhạc cung đình, nhạc lễ, nhạc tôn giáo, nhạc thính phòng, nhạc tuồng, dân ca, nhạc dân tộc thiểu số.

Các nhạc cụ: đàn tranh, đàn đá thêm vào những nhạc cụ đặc hữu của Việt Nam, các loại hát như hát xoan, hát Then, Tày, Nùng, Thái… Ở phần tân nhạc được anh ghi chép khá tỉ mỉ các giai đoạn tượng hình (1928-1937), thành lập (1938-1945), kháng Pháp (1946-1954), giai đoạn đất nước bị chia cắt (1954-1975) và giai đoạn từ 1975 đến nay.

Thừa hưởng từ cha – cố GSTS Trần Văn Khê, anh ghi chép cẩn thận, đối chiếu khoa học và có những so sánh toát lên tinh thần tự hào dân tộc khi nói về cội nguồn văn hóa Việt, trong đó màu sắc chủ đạo là âm nhạc dân tộc.

Đây là công trình sáng tác, khảo cứu mà anh đã bảo vệ luận án tiến sĩ nhạc dân tộc tại trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội Pháp tại Paris năm 1973, năm anh 29 tuổi, về những khám phá mới mẻ trong kỹ thuật hát đồng song thanh.Tới năm 1989, anh được cấp bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống nhưng đã làm việc khảo cứu từ năm 1968 tại Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học CNRS ở Paris. Đồng thời, anh còn làm việc trong Viện Dân Tộc Nhạc Học của Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật và Truyền Thống Dân Gian tại Paris.

Sở trường của anh là hát đồng song thanh và đàn môi. Ở bộ môn nghệ thuật độc đáo này, GSTS Trần Quang Hải là người tài ba nhất thế giới. Anh đã sáng tác hơn 50 bài kể chung cho đàn tranh, cho muỗng, hát đồng song thanh hay là nhạc cho phim.

Qua quyển sách cũng hiểu hơn về cuộc hành trình của anh khi đã trình diễn trên 3500 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 nước từ năm 1966 đến nay. Và trong hơn 1500 buổi nói chuyện, giảng dạy cho học sinh các trường học ở Âu Châu, tại 100 trường đại học trên thế giới đã cho thấy nỗ lực phi thường của anh. Thích nhất vẫn là những kỷ niệm, ký ức khi anh tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có hơn 8000 người theo học hát đồng song thanh do anh giảng dạy.

Trong từng câu chuyện, anh đã nhắc đến dòng dõi bốn đời tài danh trong ngành nhạc dân tộc và anh là đời thứ năm – một trái tim nồng nàn dành cho âm nhạc dân tộc không kém gì cha của mình và một nghệ sĩ tài hoa đã làm rạng danh nhạc dân tộc Việt khắp năm châu.

Cảm ơn anh – mong một ngày sau khi dịch bệnh được đẩy lùi sẽ hội ngộ cùng anh tại quê nhà. Nhớ mãi đóa hoa anh tặng trong kỷ niệm 100 ngày mất của GSTS Trần Văn Khê do GS Phương Oanh tổ chức tại Pháp mà anh và chị (ca sĩ Bạch Yến) đến tặng cho Thanh Hiệp.#trănuanghai

NGUYEN THANH HIEP

bia sach : tran quang hai : 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing

BĂNG CHÂU : Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến


Thứ năm, 17/06/2021 – 15:27

Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến

Dân trí

Nhân kỷ niệm 43 năm ngày cưới, GS-TS Trần Quang Hải đã trải lòng về cuộc sống hạnh phúc bên danh ca Bạch Yến tại nước Pháp.

Giáo sư – Tiến sĩ (GS-TS) Trần Quang Hải, sinh năm 1944, là con trai trưởng của cố GS.TS Trần Văn Khê. Trong hơn 60 năm gắn bó với hoạt động nghệ thuật, trình diễn và nghiên cứu, ông đạt được nhiều thành tựu với gần 30 giải thưởng Quốc tế. Bên cạnh thành công trong sự nghiệp, GS Trần Quang Hải còn có cuộc hôn nhân hạnh phúc cùng danh ca Bạch Yến.

Ngày 17/6/2021 là ngày kỷ niệm 43 năm thành hôn của GS.TS Trần Quang Hải – Bạch Yến. Sau hơn 4 thập kỷ gắn bó trong hôn nhân, dù không có người con chung nào nhưng ông bà vẫn có cuộc sống gia đình hạnh phúc và sự thành công trong sự nghiệp âm nhạc.

Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến - 1
Ảnh cưới năm 1978 của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến.

Nhân kỷ niệm 43 năm ngày cưới, GS-TS Trần Quang Hải đã trải lòng về cùng Dân trí về cuộc sống hạnh phúc bên danh ca Bạch Yến tại nước Pháp.

Tôi thành công nhờ có vợ… sắp đặt

Với hơn 43 năm gắn bó trong cuộc sống hôn nhân, điều gì khiến GS-TS Trần Quang Hải trân trọng nhất ở người bạn đời của mình – danh ca Bạch Yến?

Tôi trân trọng vợ mình vì có tình thương, chung thủy và sự hy sinh nghề nghiệp. Bạch Yến đã chuyển từ hát tân nhạc sang học hỏi hát dân ca để cùng tôi đi truyền bá nhạc dân tộc khắp thế giới. 

Trong 43 năm qua, chúng tôi đã cùng thực hiện nhiều CD, trình diễn qua 60 quốc gia và hơn 100 đại nhạc hội quốc tế.

Ông thương vợ mình nhất ở điều gì trong tính cách và cách sống?

Vợ tôi sống rất ngăn nắp, ăn uống cẩn thận để giữ gìn sức khỏe. Đặc biệt, Bạch Yến rất chú trọng về cách trình diễn trên sân khấu và thận trọng khi xếp đặt chương trình.

Vợ bảo tôi ăn mặc đúng phong cách người Việt xưa khi chúng tôi đi diễn. Mỗi khi lên sân khấu yêu cầu tôi phải mặc áo dài the, khăn đóng đen, dép Gia Định, áo quần trắng bên trong… Cả cách đi đứng trên sân khấu, cách chào cung kính theo người Việt Nam.

Còn về phía vợ tôi thì móng tay, móng chân phải để trắng, không đeo nữ trang vì đóng vai gái quê. Bà mặc trang phục theo nội dung bài hát. Là khăn mỏ quạ, áo tứ thân cho dân ca Bắc; khăn rằn ri, áo bà ba trắng quần đen cho dân ca Nam Bộ. Khi đi ra sân khấu, luôn luôn đi sau chồng. 

Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến - 2
Hình ảnh vợ chồng GS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến trình diễn cùng nhau năm 1998.

Nhờ vậy mà chúng tôi chỉ có hai người không cần phải rườm rà áo quần, trình diễn mộc không cần micro, âm thanh. Chỉ có hai người với vài nhạc cụ do tôi trình diễn, như đàn tranh, đàn cò, sinh tiền, muỗng… mà vẫn chinh phục khán giả Tây phương vì giữ đúng phong cách cổ truyền. 

Nên tôi khẳng định, nhờ xếp đặt của vợ để chúng tôi đi đến thành công.

Theo ông, có phải khi người ta có cuộc sống riêng an ổn thì mới có thể chuyên tâm cho sự nghiệp? Ông có thấy mình may mắn khi gặp được người bạn đời ăn ý như bà Bạch Yến?

Có thể nói, tôi rất may mắn khi cưới được Bạch Yến làm vợ. Chính vợ đã giúp tôi thành công trong sự nghiệp âm nhạc và nghiên cứu. 

« Đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn », từ ngày chúng tôi thành vợ chồng tới nay, tôi đã gặt hái nhiều thành công rực rỡ.

Và có điều gì vợ làm khiến ông « bực mình » mà không dám nói không?

Vợ tôi tính quá kỹ lưỡng, đâu ra đó đàng hoàng. Đôi khi tôi không quen vì tính hay buông đùa, xí xóa. Cũng có lúc bực mình, nhưng tôi không dám thổ lộ (cười). Nhưng rồi nghĩ lại, thấy mình bực bội hoàn toàn vô lý. Vậy là tìm cách giải hòa.

Trong cuộc sống sẽ không tránh khỏi những lúc bất đồng. Vậy điều gì khiến ông bà bất đồng với nhau nhiều nhất? Và cả hai làm sao để chấp nhận những bất đồng của nhau?

Không ai có thể sống hoàn toàn trong một cuộc sống yên lặng. Chúng tôi thường hay bất đồng ý kiến trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng dù có gây sự với nhau thường cũng chỉ trong chốc lát, lâu hơn là trong một ngày thì cả hai hòa hợp lại với lời xin lỗi của đôi bên.

Mỗi ngày, tôi luôn chọc vợ cười vì tính tôi hay đùa. Chúng tôi gọi nhau bằng ba-má nên vợ tôi thường nói « Ngày nào ba không làm má cười thì thôi nhau ».

Có bao giờ giữa ông bà xảy ra mâu thuẫn đến mức muốn chia tay nhau không?

Có đôi lúc chúng tôi gây nhau « dữ tợn » lắm, nhưng chưa đi tới chỗ muốn chia tay. Cả hai đều có một « quá khứ sôi động », với sự hiểu biết nhau, thương yêu nhau, kính trọng nhau cho nên dễ làm hòa.

Tôi biết ơn vì vợ – « kế mẫu » đã dạy dỗ con gái tôi nên người

Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến - 3
Vợ chồng GS Trần Quang Hải tại New York năm 1980

Ông có cảm thấy buồn hay tiếc gì khi ông bà không có người con chung nào?

Chúng tôi không buồn vì không có con với nhau. Trời Phật định đoạt như thế nào thì mình phải chấp nhận. 

Tôi đã có con với người vợ trước. 3 năm sau khi ly dị tôi gặp Bạch Yến. Vợ tôi là « kế mẫu » nhưng thương yêu con gái của tôi như con ruột của mình. Bà còn dạy dỗ con tôi đúng theo truyền thống Việt Nam. 

Nhờ vậy con gái tôi dù sinh ở Pháp nhưng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt thông thạo. Tôi không bao giờ quên công ơn này của vợ.

Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến - 4
GS Trần Quang Hải và con gái Minh Tâm

Ông bà đều lớn tuổi, bên cạnh không có con cháu, cả hai chăm sóc nhau như thế nào?

Vợ lúc nào cũng chăm lo sức khỏe cho tôi. Mỗi ngày bà « coi chừng » và khuyên tôi không nên ăn nhiều thịt mà nên ăn rau, trái cây. 

Năm 2017, khi biết tôi mắc bệnh ung thư máu, tiểu đường nặng, suy thận, áp huyết cao… tôi không còn lái xe vì uống nhiều thuốc. Bà ấy trở thành tài xế lái xe đưa tôi đi bệnh viện, nhắc chừng tôi phải uống thuốc đúng ngày giờ.

Tôi uống 20 viên mỗi ngày, y tá tới nhà chích ba lần mỗi tuần, thử máu một lần mỗi tháng. Tôi ba lần « xém chết » vì kỵ thuốc uống.

Tôi suýt bị tai biến não vì độ đường xuống quá thấp phải cấp cứu. May nhờ vợ tôi hay, kịp kêu xe cấp cứu. Tôi nằm bệnh viện 3 lần trong 3 năm 2017, 2018 và 2019.

Ngoài ra, vợ còn lo cơm nước, giặt ủi quần áo, đi chợ búa… cùng đi bộ với tôi 2km mỗi ngày. Nhờ sự chăm sóc chu đáo của vợ mà sức khỏe tôi đã tốt hơn rất nhiều và tôi càng thương vợ hơn. 

Như GS Trần Quang Hải chia sẻ, vợ chăm cho ông từ miếng ăn, giấc ngủ. Vậy ngược lại, ông sẽ chăm lo cho bà như thế nào?

Từ lúc về hưu tới nay, tôi nói vợ để mình làm bếp. Tôi muốn giúp vợ đỡ lo phần nấu nướng. Lúc đầu vợ không chịu vì « nghi ngờ » tài làm bếp của tôi (cười).

Vợ chỉ bằng lòng chỉ dạy tôi cách căn bản pha nước mắm tỏi ớt theo gu miền Nam, cách ướp thức ăn theo Việt, Hàn, Trung Quốc… 

Tôi thường xem các chương trình dạy nấu nướng trên mạng để thay đổi thực đơn mỗi ngày. Dần dần, vợ đã thấy tôi từ « nấu tạm được » thành càng ngày nấu càng ngon.

Hiện, tôi đã biết nấu trên 60 món, một nửa là món ăn Việt Nam, một nửa là các xứ khác. Tôi lo việc rửa chén dĩa, chuẩn bị đồ ăn sáng, cà phê, bánh mì để vợ chồng cùng ăn với nhau. Tuy không nhiều nhưng đó là cách tôi chăm lo cho vợ.

Giấc mơ ấp ủ sau 60 năm xa quê

Một ngày của ông sẽ bắt đầu như thế nào?

Khi còn làm việc công sở, tôi đi làm ở Viện bảo tàng Con người. Cuối tuần hai vợ chồng cùng nhau đi trình diễn khắp Châu Âu theo lịch trình mỗi năm.

Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến - 5
GS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến chụp ảnh cùng Tổng thống Pháp Jacques Chirac năm 2002. 

Từ năm 2009, khi về hưu, cuộc sống thường nhật có thay đổi. Tôi vẫn dậy sớm như hồi còn đi làm, nhưng để nghiên cứu hát đồng song thanh (Hát đồng song thanh là sự hài hòa âm thanh mà người hát có thể sản xuất từ sâu trong cổ họng – PV), viết bài và sửa soạn các bài tham luận cho các hội nghị quốc tế.

Tôi đã tham gia hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam do UNESCO đề xướng trong thời gian hưu trí. 

Trước khi phát hiện bị bệnh ung thư máu, năm 2017 tôi đã tặng cho Viện Âm nhạc Hà Nội hơn 1000 CD nghiên cứu nhạc dân tộc thế giới và hơn 1000 quyển sách tài liệu nghiên cứu dân tộc nhạc học.

Từ ngày biết mình bệnh, tôi có viết hai quyển sách kể lại 50 năm nghiên cứu nhạc truyền thống Việt nam và hát đồng song thanh.

Những năm tháng đã đi qua, ngoài công việc thì điều gì khiến ông cảm thấy hạnh phúc nhất? Vui vẻ nhất?

Suốt 43 năm qua, tôi cảm thấy hạnh phúc nhất là vợ chồng tôi đã tạo một hình ảnh đẹp cho thế giới nghệ sĩ. Đó là lòng chung thủy với nhau, không một tiếng xấu trong cuộc sống, và luôn làm đẹp hình ảnh Việt Nam trong làng văn nghệ thế giới.

Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến - 6
« Mỗi ngày tôi nói với vợ « Ba thương Má » và bà luôn đáp lời « Má cũng vậy », rồi cả hai cùng cười xòa. Nhờ vậy mà ít khi gây với nhau và tình yêu ngày càng đậm đà ».

Ông bà có định về sống tại Việt Nam những năm tháng sau này không?

Vợ chồng tôi mong muốn trở về sống ở Việt Nam trong những ngày cuối đời. Đó là giấc mơ của những người xa quê hương gần 60 năm. Chúng tôi chỉ sợ người trong nước không coi chúng tôi là người Việt mà chỉ coi là Việt Kiều!

Xin trân trọng cảm ơn ông đã dành thời gian chia sẻ. Kính chúc ông bà luôn nhiều sức khỏe và an vui trong cuộc sống!

Băng Châu

https://dantri.com.vn/van-hoa/hon-nhan-43-nam-ngot-ngao-cua-gsts-tran-quang-hai-va-danh-ca-bach-yen-20210617141835109.htm

BÁN SÁCH GÂY QUỸ HỌC BỔNG TRẦN VĂN KHÊ


BÁN SÁCH GÂY QUỸ HỌC BỔNG TRẦN VĂN KHÊ

Đặt mua sách liên hệ :Email: tranvankhefoundation@gmail.comThư ký: Ngọc Hân 0782 78 28 28 (zalo, viber)

BÁN SÁCH GÂY QUỸ HỌC BỔNG TRẦN VĂN KHÊ

bìa sách TRẦN VĂN KHÊ / TÂM và NGHIỆP

Ngày 01/03/2021, UBND TPHCM đã ban hành Giấy phép thành lập số 680/QĐ-UBND cùng việc Công nhận Điều lệ Quỹ Học bổng Trần Văn Khê. Hoạt động chính của Quỹ Trần Văn Khê hỗ trợ, tài trợ, xét trao giải thưởng và học bổng thường niên của Quỹ góp phần cổ vũ việc gìn giữ, phát huy các giá trị âm nhạc truyền thống Việt Nam theo di nguyện của cố Giáo sưMời quý bạn hữu ủng hộ mua sách “Trần Văn Khê – Tâm và Nghiệp” đóng góp gây quỹSách Trần Văn Khê – Tâm và Nghiệp dày 296 trang, giá 110.000 đồng. Sách có 37 bài viết của 35 tác giả như GS.TS. Trần Quang Hải, NSND Bạch Tuyết, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, nhà báo Nguyễn Thế Thanh, Trần Trọng Thức, giáo sư triết học Thái Kim Lan, nhà nghiên cứu Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, TS NSUT Nguyễn Thị Hải Phượng… Phần hình ảnh do nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á thực hiện.

GS TRẦN QUANG HẢI giới thiệu sách tại TP HCM 2016
GS TRẦN QUANG HẢI & GS TRẦN VĂN KHÊ

Cố Giáo Sư Trần Văn Khê – Người Đưa Âm Nhạc Cổ Truyền VN Ra Thế Giới


Cố Giáo Sư Trần Văn Khê – Người Đưa Âm Nhạc Cổ Truyền VN Ra Thế Giới

Cố Giáo Sư Trần Văn Khê – Người Đưa Âm Nhạc Cổ Truyền VN Ra Thế Giới

3,798 views•Apr 2, 2021901ShareSaveNgười Nổi Tiếng 1.36M subscribers

Cố Giáo Sư Trần Văn Khê – Người Đưa Âm Nhạc Cổ Truyền VN Ra Thế Giới Với giới mộ điệu, cố giáo sư – tiến sĩ Trần Văn Khê là “báu vật” của nước nhà. Ông chính là người đã có công nghiên cứu và quảng bá âm nhạc cổ truyền VN ra thế giới. Dù ở bất cứ nơi đâu, giáo sư Khê đều nói về giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống và tầm quan trọng của việc giảng dạy, quảng bá, khai thác đúng nguyên tắc để bảo tồn và phát huy nó. Trên cả mục đích công việc, đó là hành động thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc của một người con hơn 50 năm bôn ba nơi xứ người.

Nguồn: vi.wikipedia.org, cafef.vn, dantri.com.vn, vnexpress.net, nongnghiep.vn, giadinh.net.vn, congly.vn, thanhnien.vn, tuoitre.vn

MAI MỸ DUYÊN (1959 -)bảo vệ luận án tiến sĩ năm 2007 về Đờn ca tài tử nam bộ


Trang chủQuy địnhChính sáchLiên hệ

Trang chủĐào tạo Nghiên cứu sinh

Nghiên cứu sinh

Mai Mỹ Duyên

Cập nhật ngày: 29 Tháng Giêng 2011

I. Thông tin cá nhân

Họ và tên: Mai Mỹ Duyên

Giới tính: Nữ

Sinh ngày 21-01-1959

Nơi sinh: Tiền Giang

Quê quán: Thị trấn, Cai Lậy, Tiền Giang

Dân tộc: Kinh

Chức vụ, đơn vị công tác hiện nay: Phó trưởng khoa Sau đại học-Trường Đại học Văn hóa Tp.Hồ Chí Minh

Địa chỉ liên lạc: Đại học Văn hóa Tp.HCM số 51 Quốc Hương, Phường Thảo Điền, Quận 2, Tp. Hồ Chí Minh

Điện thoại cq: 08.35011788 (Khoa SĐH)

Điện thoại dđ: 0983210159

Fax: 08.38980740 Email: maimyduyen1959@yahoo.com.vn

II. Luận án tiến sĩ

– Mã số: 62 31 70 05
– Hướng nghiên cứu: Đờn ca Tài tử trong đời sống văn hóa cư dân Tây Nam Bộ
– Chuyên ngành: Văn hóa dân gian
– Người hướng dẫn: PGS Tô Vũ
– Thời gian bảo vệ: 06-8-2007
– Nơi bảo vệ: Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

III. Hoạt động khoa học

3.1. Sách

60 năm Đề cương Văn hóa Việt Nam, viết chung, Viện Văn hóa Thông tin, 2004.

05 bài báo khoa học đăng trên tạp chí chuyên ngành. Tham dự nhiều hội thảo trong nước và quốc tế.

http://vicas.org.vn/fellow.aspx?sitepageid=587&id=38

Hát xẩm – Nghệ thuật của cội nguồn dân gian | Chào Ngày Mới | ANTV


Hát xẩm – Nghệ thuật của cội nguồn dân gian | Chào Ngày Mới | ANTV

40,503 views•Jan 8, 20199257ShareSaveANTV – Truyền hình Công an Nhân dân 4.52M subscribers ANTV | Hát xẩm – Nghệ thuật của cội nguồn dân gian | Chào Ngày Mới ✯✯✯✯ Đông đi xuân tới, cùng với tiết trời mưa phùn se lạnh của mùa xuân Hà Nội. Hãy cùng ANTV thưởng thức đặc sản của dân gian- Hát Xẩm để trải nghiệm nét đặc sắc của Hà Nội. ————————————————————— ANTV – Truyền hình CAND là kênh tin tức thời sự an ninh trật tự chuyên biệt. Tin tức, tin tức 24h, tin mới, tin mới nhất, tin tức 24h mới nhất được cập nhật liên tục hàng ngày. Nguyên tắc thông tin là Nhân văn – Tin cậy – Kịp thời – Hấp dẫn . ✮✮✮ ĐĂNG KÝ KÊNH ✮✮✮ ★ Camera Giấu Kín: http://bit.ly/CameraSubscribe​ ★ An Ninh Thế Giới: http://bit.ly/ANTGSubscribe​ ★ ANTV – Truyền hình Công an Nhân dân: http://bit.ly/ANTVSubscribe​ ★ An Ninh Toàn Cảnh : http://bit.ly/ANTCSubscribe​ ★ Chuyện kể lúc 0 giờ: http://bit.ly/ChuyenKeSubscribe​ ★ Địa chỉ liên hệ: anvienmedia@gmail.com

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Vĩnh biệt ‘di sản sống’ của âm nhạc dân tộc Việt Nam


Vĩnh biệt ‘di sản sống’ của âm nhạc dân tộc Việt Nam

Hà Đình Nguyên

hdnthanhnien@gmail.com 06:23 – 08/01/2021 7 Thanh Niên

Có thể nói trong các nghệ sĩ Việt Nam, không ai được đại thọ như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo (104 tuổi). Không chỉ có vậy, khi đã hơn 100 tuổi, ông vẫn hòa đàn với các môn sinh hoặc ngồi vào máy tính dạy đàn trực tuyến cho người nước ngoài…

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo (phải) với Giáo sư Trần Văn Khê /// TƯ LIỆU

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo (phải) với Giáo sư Trần Văn KhêTƯ LIỆU Tôi nhớ cách đây 25 năm (1996), sau khi dẫn tôi đến thăm thầy giáo – nhạc sư Nguyễn Hữu Ba lúc đó đã ốm liệt giường, cô Phạm Thúy Hoan nói: “Cô còn một người thầy nữa. Vị thầy này dù tuổi đã cao nhưng vẫn rất tráng kiện, minh mẫn”. Rồi cô đưa tôi đến một căn nhà nằm trong con hẻm đường Bùi Hữu Nghĩa (gần chợ Bà Chiểu, Q.Bình Thạnh, TP.HCM). Ấn tượng đầu tiên khi tôi gặp nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là cốt cách “tiên phong đạo cốt” của ông: mái tóc dài bạc phơ, nụ cười đôn hậu, phong thái đĩnh đạc, khoan thai… Mới gặp lần đầu, tôi lại là kẻ hậu bối, vậy mà ông cho tôi ngồi kề bên để… đàm đạo. Với ngón đàn tranh lả lướt bậc thầy, ông “nhấn nhá” cho tôi nghe 3 bản Hòn vọng phu của Lê Thương. Thỉnh thoảng, ông ngưng đàn để nói chuyện về âm nhạc cổ truyền, về nhân tình thế thái, chuyện “tái ông mất ngựa”, luật nhân quả, trả – vay, được – mất ở đời… Người nghe không khỏi bị cuốn hút vào lối nói chuyện hóm hỉnh, rất có duyên của ông. Từ đó, tôi trở thành người thân của gia đình ông.

Ôm đàn đi giang hồ, học với 200 người thầy

Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ngày 19.8.1918 tại làng Mỹ Trà, Q.Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc Đồng Tháp) trong một gia đình rất yêu thích đờn ca tài tử. 5 tuổi ông đã biết chơi đờn kìm, đờn cò; 10 tuổi biết chơi tất cả các loại nhạc cụ dân tộc (trừ sáo, tiêu…). Ông kể: “Tôi học đờn với thầy Hai Lòng (Vĩnh Long), Sáu Tý, Năm Nghĩa (Trà Ôn), nhưng tôi từng thụ giáo dễ đến… 200 ông thầy. Hễ nghe tiếng người nào có ngón đàn tuyệt hay thì dù ở tận nơi đâu trong cái xứ Nam bộ này tôi cũng tìm tới, trước là giao lưu, sau là “học lỏm”. Nhờ đó, tôi được đánh giá nổi trội hơn cả ở các ngón đờn tranh, đờn kìm, đờn gáo…”. Không chỉ ôm đờn đi giang hồ ở Nam bộ mà ông còn phiêu lưu tận xứ Chùa Tháp. Ở đó (Phnom Penh, Campuchia) vào năm 1937, trong một buổi kéo đàn cò phục vụ bà con Việt kiều, bất ngờ có một anh chàng đạp xích lô ngồi nghe một hồi rồi đến bên chiếc xích lô của mình, rút ra cây đàn cò cùng song tấu với ông. Đó là một kỷ niệm làm ông nhớ đời. Năm 1935, ông sáng chế ra dây tỳ và dây xề trên cây đàn gáo. Năm 20 tuổi (1938), ông được Hãng đĩa BEKA mời đàn cho cô Ba Thiệt (chị của cô Năm Cần Thơ) ca. Năm 1955, ông cải tiến cây đàn tranh 16 dây thành đàn 17, 19 và 21 dây rất tiện lợi để có thể đờn các loại “hơi, điệu” mà không cần phải sửa dây, kéo nhạn. Cây đàn tranh này đã được chấp nhận, các tiệm đóng đàn cũng theo khuôn mẫu của ông. Từ đó, cây đàn tranh 16 dây không còn được sử dụng tại Việt Nam đến tận ngày nay.

Vang danh nhạc sư quốc tế

ADVERTISING Năm 1955, Trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn được thành lập và Nguyễn Vĩnh Bảo được mời dạy đàn tranh kiêm Trưởng ban Cổ nhạc miền Nam cho tới năm 1964. Nhờ khả năng ngoại ngữ (ông biết tiếng Anh, Pháp…), ông được mời đi diễn thuyết và trình tấu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở nhiều nơi trên thế giới: Singapore (1963), Nhật (1969), Pháp (1972)… Đặc biệt, Đại học Illinois (Mỹ) đã mời ông với tư cách “giáo sư biệt thỉnh” dạy đàn tranh trong những năm 1970 – 1972…

Chưa từng nghe ngón đàn tranh nào hay hơn ngón đàn của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo: phong phú, bay bướm, sâu sắc. Nếu ngày nào đó nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo mất đi, thế giới sẽ mất đi tiếng đàn liêu trai, phù thủy độc nhứt vô nhị…

GS-TS Trần Văn Khê phát biểu tại Hà Lan hơn 20 năm trước Có thể nói, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là một trong những người tiên phong trong việc dạy đàn cho người nước ngoài qua phương pháp hàm thụ. Từ những năm 1960 – 2004, ông đã ghi âm tiếng đàn vào băng cassette gửi ra nước ngoài qua đường bưu điện. Sau này, những học trò của ông đã trang bị cho thầy dàn máy vi tính, máy phát nhạc mp3, máy in, máy scanner để ông chuyển sang dạy trực tuyến (online) cho học trò nước ngoài. Cho tới lúc 97 tuổi, nhạc sư Vĩnh Bảo vẫn tiếp tục dạy đờn trên mạng internet cho một số người Việt hay ngoại quốc (Pháp, Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ, Mỹ…). Trong số học trò người nước ngoài của ông có nhạc sĩ nhạc đồng quê người Mỹ Stephen Steve Addis ở Michigan (học ông từ năm 1967) và 4 tiến sĩ âm nhạc do ông hướng dẫn luận án như: John Paul Trainor (năm 1977), Alexander Cannon (2007) – 2 người này đều là giảng viên âm nhạc của Đại học Michigan. Tất cả vẫn thường xuyên giữ liên lạc với ông cùng nhà âm nhạc học – GS Jean Christophe Maillard và GS Trần Quang Hải (đều ở Pháp) để trao đổi kiến thức âm nhạc. Cho nên, không kể các học trò trong nước, các môn sinh “quốc tế” của ông cũng rất nhiều và “đa quốc tịch”.

Tình bạn với giáo sư Trần Văn Khê

Năm 1972, GS-TS Trần Văn Khê và nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo đã thực hiện cho Đài Ocora (Pháp) một đĩa nhạc Tài tử Nam bộ. Đĩa này khiến UNESCO chú ý và cơ quan này đã mời 2 người thực hiện thêm đĩa Collection UNESCO (Musical Sources, Hãng Philips của Hà Lan sản xuất) với Trần Văn Khê (đàn tỳ bà), Nguyễn Vĩnh Bảo (đàn tranh) hòa tấu các bản Bình bán, Kim tiền, Tây Thi, Cổ bản. Riêng nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo còn độc tấu đàn tranh các bản Nam xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung và Tứ đại oán. Phải chăng sự kiện này là những viên gạch để 42 năm sau, UNESCO công nhận đờn ca tài tử là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại? Tiếng đàn tranh của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo đã in đậm trong trí nhớ của GS-TS Trần Văn Khê nên hơn 20 năm trước đây, ông Khê từng phát biểu tại Hà Lan: “Chưa từng nghe ngón đàn tranh nào hay hơn ngón đàn của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo: phong phú, bay bướm, sâu sắc. Nếu ngày nào đó nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo mất đi, thế giới sẽ mất đi tiếng đàn liêu trai, phù thủy độc nhứt vô nhị…”, và ông đã xưng tụng nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là “đệ nhứt danh cầm”. Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo từ trần lúc 18 giờ 50 ngày 7.1.2021 tại Cao Lãnh, Đồng Tháp. Lễ viếng bắt đầu từ 10 giờ ngày 8.1 tại CLB Hưu trí TP.Cao Lãnh (209 Nguyễn Thị Minh Khai, P.1, TP.Cao Lãnh, Đồng Tháp). Di quan lúc 10 giờ ngày 10.1, hỏa táng tại Nghĩa trang Quản Khánh, TP.Cao Lãnh. Vậy mà GS Trần Văn Khê, thua ông 3 tuổi (sinh 1921), lại mất trước ông hơn 5 năm (2015). Ngày GS Khê mất, ông Nguyễn Vĩnh Bảo ôm cây đàn tranh đến bên quan tài của bạn, gảy lên những khúc đoạn trường, ai oán như Bá Nha khóc Tử Kỳ, khiến người nghe không ai cầm nổi nước mắt… Cách đây khoảng hơn 5 năm, ông được Thủ tướng tặng Bằng khen “đã có thành tích bảo tồn, phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ – Góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc” (tháng 10.2014), Giải thưởng Phan Chu Trinh (tháng 3.2015)… Người viết gọi điện thoại chúc mừng ông, ông bảo: “Qua điện thoại, chỉ nghe giọng là tui biết chú em liền. Mấy ngày nay, rất nhiều báo và đài xin phỏng vấn, tui từ chối hết. Nhưng với chú em là chỗ thân tình, cứ lại chơi…”. Ông đón tôi, tay bắt mặt mừng và đưa lên trên lầu. Nhìn một ông già bước thoăn thoắt lên các bậc cầu thang, tôi không tin nổi ông đã… 98 tuổi. Ông khoe chẳng những đi đứng vững vàng, tinh thần minh mẫn, tai còn thính lắm, tay chưa run… Rồi ông thủ thỉ: “Đã 40 năm nay tui sống ẩn dật với câu “ai biết ta chăng hỡi biết. Có biết cùng chăng, ta chỉ biết ta”. Bây giờ vào tuổi 98 này, lợi – danh chỉ là giấc mộng”. Rồi khi thấy mình đã có thể “cưỡi hạc vân du”, ông âm thầm rời bỏ Sài Gòn hoa lệ về quê (Cao Lãnh) sống nốt quãng đời còn lại. Dù ông rất khiêm tốn nhưng chúng tôi xin trích nhận xét của một tờ báo nước ngoài về ông: “Nguyễn Vĩnh Bảo là một trong số những nhạc sĩ hiếm hoi còn lại của lối đàn ứng tấu, ứng tác… Ở Việt Nam chưa bao giờ có một nhạc sĩ truyền thống vừa là giáo sư giảng dạy âm nhạc, vừa là nhạc sĩ trình tấu, vừa là nhà nghiên cứu, vừa là nghệ nhân đóng đàn như vậy” (tạp chí The World of Music tháng 3 – 4.1977). Xin vĩnh biệt ông – một “di sản sống” của âm nhạc cổ truyền nay đã rời xa…

Tin liên quan

#Nguyễn Vĩnh Bảo#nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo#qua đời#cây đại thụ đờn ca tài tử Nam bộ#Đồng Tháp

Bình luận

User

Đăng nhập bằng: hoặc Đăng ký

Khách lữ

Khách lữ

09:02 08/01 Thành Kính Phân Ưu, tài năng và nhân cách của ông còn mãi với thời gian. Trả lời13 thíchBáo nội dung xấu

Long Phùng Kim

Long Phùng Kim

09:45 08/01 Tự hào về một người Việt Nam!Xin thành kính phân ưu cùng gia đình! Trả lời13 thíchBáo nội dung xấu

HIEN NGUYENVAN

HIEN NGUYENVAN

07:28 08/01 Xin vĩnh biệt Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo ! Một cây đại thụ ,đã suốt đời cống hiến cho sự nghiệp âm nhạc ,tiêu biểu là dòng nhạc dân tộc ,một di sản văn hóa thế giới ! Trả lời10 thíchBáo nội dung xấu

NGUYỄN THANH HÙNG

NGUYỄN THANH HÙNG

10:52 08/01 Thành kính phân ưu và chia buồn cùng gia đình Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo _Cây Đại Thụ của Đờn Ca Tài Tử Nam Bộ ,”Đệ nhất Danh Cầm” ./. Trả lời6 thíchBáo nội dung xấu

MAI ANH : GS. Lưu Hữu Phước, cây đại thụ của nền âm nhạc Cách mạng Việt Nam


  Trang chủ ĐHQGHN |   Trang nhất  
Ngày 6 Tháng 5 Năm 2021    Số người truy cập: 403172
Theo dòng lịch sử 100 nămLịch sử Đại học Quốc gia Hà NộiThành tựu 100 năm Tin tức & Sự kiện Các hoạt động kỷ niệm 100 nămKỷ niệm 50 năm Trường Đại học Khoa học tự nhiên Con người & Sự kiện100 chân dung – Một Thế kỷ Đại học Quốc gia Hà NộiChân dung Nhà giáoNhững gương mặt trẻ tiêu biểu Tư liệu Diễn đàn Hà Nội về GDĐH Thế kỷ XXI Hướng dẫn đăng ký cựu sinh viên, cán bộ và đăng nhập diễn đàn Tâm sự về ngôi trường 100 tuổiGS. Lưu Hữu Phước, cây đại thụ của nền âm nhạc Cách mạng Việt Nam Có lẽ không phải ai cũng được biết nhạc sĩ Lưu Hữu Phước xưa kia lại là sinh viên Trường Y – Dược, một thành viên của Đại học Đông Dương vào những năm 1940 – 1944 và cũng chính tại nơi đây ông bắt đầu tham gia cách mạng trong phong trào thanh niên – sinh viên yêu nước để rồi trở thành một trong những cây đại thụ của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam. Ông đã cống hiến cả cuộc đời, tài năng cho đất nước và đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp âm nhạc lớn lao, đa dạng, bao gồm nhiều thể loại từ những bài hát lịch sử hào hùng, những hành khúc hoành tráng, những ca cảnh, những bản nhạc múa cho đến những vở nhạc kịch cuối đời… Sinh ngày 12.9.1921, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước lớn lên tại quê nhà – huyện Ô Môn, tỉnh Cần Thơ. Thuở nhỏ được cha cho học đàn kìm, về sau có chơi cả mandoline, guitare và tự học lý thuyết âm nhạc. Vào năm 1940 khi còn là học sinh Trường Trung học Pétrus Ký (nay là Trường Lê Hồng Phong, thành phố Hồ Chí Minh), Lưu Hữu Phước đã sáng tác “Hành khúc của thanh niên Nam Kỳ” với mục đích cổ vũ tinh thần đoàn kết yêu nước nhân phong trào học sinh đang được phát động. Bước ngoặt của cuộc đời ông bắt đầu từ sau khi đỗ tú tài, Lưu Hữu Phước cùng với người bạn nổi tiếng Mai Văn Bộ lên tàu hoả ra Hà Nội để học tiếp bậc đại học. Dọc đường, ông có dịp được ngắm nhìn nhiều phong cảnh của đất nước và thực sự chưa bao giờ ông cảm nhận được tâm hồn và cái đẹp của quê hương một cách sâu sắc đến như vậy. Tinh thần yêu nước, yêu đồng bào lại càng được khơi dậy trong tâm trí của người thanh niên miền Nam mới ra Bắc lần đầu tiên đã cảm thấy như mình được trở về với quê nhà. Bắt đầu ý thức hướng về cội nguồn được nhen nhóm trong trái tim của ông qua ký ức ôn lại những chiến công oanh liệt của tổ tiên ta trong những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, những địa danh linh thiêng: Thăng Long, Đông Đô, Bạch Đằng, Chi Lăng…, những di tích lịch sử vẻ vang rải khắp miền Bắc, tất cả đã đem lại cho ông những cảm xúc mãnh liệt để từ đó sáng tạo nên những tác phẩm âm nhạc có sức lôi cuốn mạnh mẽ, thúc giục và động viên tinh thần yêu nước của nhân dân, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, tiến lên theo con đường cách mạng giải phóng dân tộc vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước… Những năm là sinh viên ở Hà Nội, Lưu Hữu Phước được sống trong bầu không khí sôi sục của cuộc đấu tranh chính trị giữa phong trào yêu nước của nhân dân ta với thực dân Pháp đang diễn ra, được chứng kiến những sự kiện trọng đại có liên quan đến vận mệnh dân tộc, từ việc Pháp đầu hàng phát xít Đức, thực dân Pháp ở Đông Dương đầu hàng phát xít Nhật đến hai cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ bị đàn áp khốc liệt. Trong phong trào hưởng ứng chủ trương hướng về nguồn, sinh viên đã tổ chức nhiều đoàn xe đạp đi thăm viếng những di tích lịch sử nhằm bồi dưỡng nâng cao tinh thần dân tộc, đấu tranh chống ngoại xâm. Từ những chuyến đi thâm nhập thực tế độc đáo và đầy ý nghĩa ấy, Lưu Hữu Phước đã sáng tác được nhiều ca khúc nổi tiếng như “Bạch Đằng Giang”, “Ải Chi Lăng”,Hát giang trường hận” (sau đổi tên là “Hồn tử sĩ”), “Hờn sông Gianh”, “Người xưa đâu tá” và “Hội nghị Diên Hồng” là đỉnh cao của thể loại bài hát về đề tài lịch sử. Một sự kiện quan trọng nữa là cuộc hành hương về Đền Hùng nhân ngày Giỗ tổ Hùng Vương (năm 1942), dấy lên phong trào sinh viên từ bỏ mộng học giỏi đỗ cao để làm quan cho thực dân Pháp, đồng lòng quyết tâm trau dồi ý thức cứu dân, cứu nước, sẵn sàng tiến lên “đáp lời sông núi” khi Tổ quốc cần. Lần đầu tiên bài hát “Tiếng gọi sinh viên” tựa như một lời hiệu triệu đanh thép, hào hùng do một dàn hợp xướng mấy chục người trình diễn được vang lên ở chân núi Nghĩa Lĩnh trong một đêm lửa trại lịch sử (Bài hát này chính gốc là “Bài hát kêu gọi khởi nghĩa” được sáng tác năm 1940 sau cuộc khởi nghĩa Nam Bộ bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, về sau được đặt lời mới dành cho phong trào sinh viên để dễ được phổ biến). “Tiếng gọi sinh viên” sau đổi tên thành “Tiếng gọi thanh niên” là một chính ca bất hủ nhanh chóng lan rộng từ Bắc chí Nam, theo sự lớn mạnh của phong trào sinh viên yêu nước, góp phần mạnh mẽ đánh bại mưu đồ của thực dân Pháp hòng làm lung lạc ý chí cách mạng của thanh niên ta thời bấy giờ bằng bài hát có tên gọi “Maréchal, nous voilà!” (Thưa thống chế, có chúng tôi sẵn sàng)… Một sự kiện gây ấn tượng mạnh đối với mọi người là trong khi các bản nhạc hùng tráng của Lưu Hữu Phước đang lần lượt vang lên trong khí thế cách mạng tràn ngập trên cả nước thì vở ca kịch “Tục lụy” của ông được trình diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội ngày 21.3.1943, minh chứng thêm tài năng của ông trong lĩnh vực âm nhạc trữ tình, lãng mạn, giàu bản sắc dân tộc, với bút pháp bay bổng độc đáo. Năm 1944, Lưu Hữu Phước được Mặt trận Việt Minh giao nhiệm vụ vào Nam tham gia vận động cách mạng cùng với lúc nổ ra phong trào của đông đảo sinh viên ba miền Nam – Trung – Bắc rủ nhau bỏ học để trực tiếp tham gia hoạt động cách mạng. Nhóm Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ và Đặng Ngọc Tốt trong một đêm đã tập trung soạn ba bài hát: “Xếp bút nghiên”, “Mau về Nam” “Gieo ánh sáng” để kịp thời cổ vũ cho phong trào này, còn được gọi là phong trào Xếp bút nghiên, rầm rộ kéo dài đến mãi tận ngày khởi nghĩa tháng 8.1945 cùng với sự ra đời của bài ca “Khúc khải hoàn” của ông mang đậm phong cách ngợi ca, hoành tráng… Tháng 5.1946, Lưu Hữu Phước được điều động ra Hà Nội, đầu tiên lãnh trách nhiệm thành lập Trung ương Nhạc viện (9.1946), sau đó ông cùng tập thể Hội Văn hoá Cứu quốc tản cư đi kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc. Ông được giao nhiệm vụ thành lập đội Thiếu nhi tuyên truyền xung phong, sau được đổi tên là Đoàn nhạc kịch Thiếu nhi kháng chiến thuộc Trung ương Nhạc viện. Đoàn đã lần lượt trình diễn một số vở ca kịch do ông sáng tác như “Con thỏ ngọc”, “Diệt sói lang”, “Phá mưu bù nhìn”, “Hai chàng lưng gù” và “Hái hoa dâng Bác” nhân kỷ niệm 60 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó Bác Hồ cho thành lập Trường Thiếu nhi Nghệ thuật và nhạc sĩ Lưu Hữu Phước được cử làm Giám đốc. Trong kháng chiến chống Pháp, vẫn ông là tác giả của nhiều tác phẩm âm nhạc có giá trị như “Ca ngợi Hồ Chủ Tịch”, “Đông Nam Á châu đại hợp xướng”, “Tuổi hai mươi”, “Thiếu nhi thế giới liên hoan”, “Nông dân vươn mình”, “Hăngri Máctanh”, “Em yêu chị Rây-mông”, “Cả cuộc đời về ta”… Sau kháng chiến chống Pháp, từ năm 1954 đến 1965, Lưu Hữu Phước được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Nghiên cứu Nhạc – Vũ thuộc Vụ Nghệ thuật, Bộ Văn hoá, sau đó làm Vụ trưởng Vụ Âm nhạc và Múa, ngoài ra còn được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Ban Thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Ông đã có công tổ chức các nhạc sĩ đi thực tế sưu tầm dân ca và đã cho ra đời công trình nghiên cứu “Dân ca quan họ”. Ông đã góp phần không nhỏ trong việc thành lập Trường Âm nhạc Việt Nam đầu tiên của nước ta (nay là Nhạc viện Hà Nội), Trường Múa, Trường Sân khấu Điện ảnh, Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng Nhạc Vũ Kịch Việt Nam, trong đó có Dàn nhạc Giao hưởng đã biểu diễn thành công lừng lẫy tại thành phố Sài Gòn sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng (1975). Từ tháng 2.1965, Lưu Hữu Phước được cử đi B công tác, trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam vào thời điểm hết sức khốc liệt. Ông được cử làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng, sau đó Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hoá của Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Dù ở cương vị lãnh đạo nào, ông vẫn không quên sự nghiệp âm nhạc thiêng liêng của mình. Lưu Hữu Phước đã sáng tác cho miền Nam một loạt các bài hát nổi tiếng như “Bài hát Giải phóng quân”, “Giờ hành động”, “Hành khúc giải phóng”, “Xuống đường”, “Tiến về Sài Gòn”, đặc biệt là “Giải phóng miền Nam” là một đỉnh cao của thể loại hành khúc của âm nhạc cách mạng Việt Nam. Sau ngày giải phóng miền Nam, ông trở về làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Âm nhạc (1978 – 1989), được phong học hàm Giáo sư và Viện sĩ thông tấn của Viện Hàn lâm Nghệ thuật CHDC Đức, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Âm nhạc Quốc gia, Thành viên Hội đồng Âm nhạc Quốc tế, ngoài ra còn là Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá và Giáo dục của Quốc hội, Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc, Phó chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. GS. Lưu Hữu Phước là một nhà hoạt động chính trị lỗi lạc, một trí thức lớn đã có nhiều công lao đóng góp cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, đặc biệt đã để lại cho đất nước một di sản văn hoá âm nhạc vô cùng quý giá, xứng đáng là một trong những con chim đầu đàn của nền âm nhạc mới Việt Nam. Những tác phẩm của ông, đặc biệt là những bài hát lịch sử, những ca khúc cách mạng kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, có tác dụng to lớn trong việc giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh bảo vệ đất nước của dân tộc ta từ ngàn xưa đến nay, làm cho chúng ta hiểu một cách sâu sắc những giai đoạn quan trọng của cách mạng Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh vĩ đại từ thời kỳ tiền khởi nghĩa đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng hiều Huân chương cao quý, trong đó có Huân chương Độc lập hạng Nhất (1987) và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)./.  
Mai Anh [100 Years-VietNam National University,HaNoi]

http://100years.vnu.edu.vn/BTDHQGHN/Vietnamese/C1778/C1779/2006/05/N7749/?1


LÊ CÔNG SƠN : Quỹ học bổng Trần Văn Khê ra đời đúng 100 năm ngày sinh của ông

lecongsontn@gmail.com 06:13 – 08/03/2021 0 Thanh Niên

UBND TP.HCM quyết định cấp giấy phép thành lập và công nhận điều lệ quỹ học bổng mang tên Giáo sư – nhạc sĩ Trần Văn Khê.

 /// Ảnh: GIA KHIÊM

Ảnh: GIA KHIÊM Theo đó, Quỹ học bổng Trần Văn Khê chịu sự quản lý nhà nước của Sở GD-ĐT TP.HCM, đồng thời có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng, tự đảm bảo kinh phí, phương tiện hoạt động. GS-TS Trần Văn Khê (ảnh) là nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền Việt Nam nổi tiếng thế giới. Ông từng được tặng thưởng Huân chương Văn hóa nghệ thuật của chính phủ Pháp và tháp tùng Tổng thống Pháp Francois Mitterrand sang thăm Việt Nam, đồng thời là Ủy viên danh dự Hội đồng âm nhạc thế giới của UNESCO. Ông đã đặt chân qua hàng chục quốc gia để nói chuyện và giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam đến với bạn bè năm châu. Trước khi qua đời năm 2015, trong di nguyện của mình, ông mong muốn có một quỹ học bổng trao cho các sinh viên âm nhạc dân tộc có thành tích học tập, các nghệ sĩ xuất sắc trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật dân tộc và những công trình nghiên cứu có giá trị về âm nhạc dân tộc. Năm nay, đúng kỷ niệm 100 năm ngày sinh GS-TS Trần Văn Khê (1921 – 2021), quỹ học bổng mang tên ông đã được chính thức cho phép hoạt động như ước nguyện của “cây đại thụ” âm nhạc dân tộc.

https://thanhnien.vn/van-hoa/quy-hoc-bong-tran-van-khe-ra-doi-dung-100-nam-ngay-sinh-cua-ong-1350707.html

Tin liên quan

MAI ANH : GS. Trần Văn Khê – Nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống làm vinh danh nước Việt


  Trang chủ ĐHQGHN |   Trang nhất  
Ngày 6 Tháng 5 Năm 2021    Số người truy cập: 403061
Theo dòng lịch sử 100 nămLịch sử Đại học Quốc gia Hà NộiThành tựu 100 năm Tin tức & Sự kiện Các hoạt động kỷ niệm 100 nămKỷ niệm 50 năm Trường Đại học Khoa học tự nhiên Con người & Sự kiện100 chân dung – Một Thế kỷ Đại học Quốc gia Hà NộiChân dung Nhà giáoNhững gương mặt trẻ tiêu biểu Tư liệu Diễn đàn Hà Nội về GDĐH Thế kỷ XXI Hướng dẫn đăng ký cựu sinh viên, cán bộ và đăng nhập diễn đàn Tâm sự về ngôi trường 100 tuổiGS. Trần Văn Khê – Nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống làm vinh danh nước Việt Con người đã có một sự nghiệp lừng lẫy ở nơi từng được coi là thủ đô văn hoá của châu Âu, Giáo sư – Tiến sĩ của Đại học Sorbonne lừng danh, từng được tặng Huân chương Văn hoá nghệ thuật của Chính phủ Pháp, từng được tháp tùng Tổng thống Pháp Mitterand thăm Việt Nam, Uỷ viên danh dự của Hội đồng Âm nhạc thế giới của UNESCO, người thầy về dân tộc nhạc học được chào đón nồng nhiệt tại hơn 67 quốc gia, sau hơn 50 năm bôn ba đã trở về quê nhà – đó chính là GS.TS Trần Văn Khê. Trần Văn Khê sinh ngày 24.7.1921 trong một gia đình 4 đời làm nhạc sĩ ở làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang ngày nay). Năm 6 tuổi, Trần Văn Khê được cậu ruột Nguyễn Tri Khương (cháu nội ông Nguyễn Tri Phương), vốn là một thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng hát có tiếng, dạy chơi đàn nguyệt (đàn kìm), đàn cò (đàn nhị); được người cô thứ ba là Trần Ngọc Viện dạy đàn tranh. Từ đó ba cây đàn chẳng rời ông nửa bước, kể cả khi ông là một sinh viên Trường Y Hà Nội hay là một giáo sư danh tiếng ở Paris. Trần Văn Khê mồ côi mẹ năm 9 tuổi và mồ côi cha năm 10 tuổi. Ba anh em Trần Văn Khê đã được cô Trần Ngọc Viện (tức cô Ba Viện) nuôi và dạy dỗ chu đáo. Khi học tại Trường Pétrus Ký (còn gọi là Trường Trương Vĩnh Ký), (1934 – 1941), Trần Văn Khê đã cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên Scola Club của Hội Đức trí Thể dục (SAMIPIC). Năm 1941, được học bổng của chính phủ thuộc địa và học bổng của Hội SAMIPIC, Trần Văn Khê ra Hà Nội học Y khoa tại Đại học Đông Dương. Ông tâm sự: “Ngày khai giảng ở trường đại học (nay ở số 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội) để lại ấn tượng không phai mờ trong tôi. Từ nhỏ đến lớn sống ở miền Nam, mỗi lần có lễ lạc gì chỉ nghe bài La Marseillaise trỗi lên cùng với lá cờ tam tài, là quốc ca và quốc kỳ của nước Pháp. Nhưng trong ngày khai giảng này, sau khi dứt bài La Marseillaise thì có một điệu nhạc lạ tai trỗi lên tiếp theo cùng với một lá cờ màu vàng được kéo lên. Một anh bạn miền Bắc đứng kế bên khẽ nói: “Quốc kỳ và Quốc ca của ta đấy!”. Tôi vô cùng xúc động, ngây người ngắm lá cờ đang lần lần vươn lên cao, lắng nghe giai điệu mới mẻ mà cả hai dòng nước mắt chảy dài“… Đấy cũng là lần đầu tiên trong đời ông ý thức được rằng dân tộc mình phải có một đất nước độc lập. Và cũng kể từ ngày đó, trong ông có một ý nghĩ thôi thúc tìm hiểu thêm về đất nước, dân tộc thời xa xưa… Tại Đại học Đông Dương, ông cùng các bạn Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Nguyễn Thành Nguyên, Phan Huỳnh Tấng (tức Phạm Hữu Tùng)… hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội sinh viên, tham gia ban nhạc của trường, cùng nhau khuấy động nên phong trào thanh niên lành mạnh, cũng như khơi dậy tình dân tộc thể hiện qua các hành khúc đầu tay của Lưu Hữu Phước như: “Người xưa đâu tá, Bạch Đằng giang, Ải Chi Lăng“… Ngay từ những năm đầu tiên bậc đại học, Trần Văn Khê tuy thuộc lớp đàn em nhỏ nhất nhưng đã có những suy nghĩ độc lập của riêng mình. Năm 1941, chàng thanh niên 20 tuổi Trần Văn Khê đã đứng trên sân khấu nhà hát lớn Hà Nội chỉ huy dàn nhạc, hát bài hát tiếng Pháp “Le petit doigt de maman” để nhằm mục đích chính là được giới thiệu dân ca ba miền tiếp sau đó. Ngay từ lúc ấy, ông đã có ý thức giới thiệu âm nhạc dân tộc. Sau buổi biểu diễn, báo La Volonté Indochinoise đã viết bài khen ngợi: “Việt Nam có một sinh viên trẻ tuổi chỉ huy dàn nhạc với phong cách một nhạc sĩ nhà nghề. Đó là một kỷ niệm đẹp về đêm nhạc sinh viên đầu tiên của Trần Văn Khê – nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống và văn hóa dân tộc nổi tiếng của Việt Nam sau này. Năm 1943, Trần Văn Khê lập gia đình với Nguyễn Thị Sương, người bạn gái học cùng lớp Triết ở Trường Pétrus Ký. Sau khi thi đỗ từ năm thứ nhất sang năm thứ nhì Trường Đại học Y – Dược, vì bị sốt rét rừng rất nặng, nạn đói ở miền Bắc bắt đầu hoành hành, lại có phong trào “xếp bút nghiên lên đường” Trần Văn Khê và nhiều bạn bè phải rời trường về Nam. Đầu năm 1944, ngoài việc tham gia dạy học tại hai trường tư thục ở Sài Gòn (Trường Lê Bá Cang và Trường Nguyễn Văn Khuê), Trần Văn Khê còn tham gia Ban tuyên truyền của tỉnh Bến Tre, đi khắp tỉnh để hát các bài hát của Lưu Hữu Phước nhằm nhắc lại những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Năm 1945, Trần Văn Khê bắt đầu tham gia kháng chiến, hoà mình vào cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc. Trần Văn Khê tình nguyện tham gia kháng chiến nhưng không muốn cầm súng mà xin được hoạt động văn nghệ. Ông cùng Lưu Hữu Phước đặt các điệu kèn cho quân đội để thay thế các điệu kèn Tây thổi lúc sáng sớm thức dậy, lúc chào cờ, lúc đi ngủ; tổ chức đoàn quân nhạc gồm các nhạc sĩ công giáo làng Lương Hoà, đi khắp vùng Đồng Tháp, chợ Thiên Hộ, đi tới Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… vừa giúp Ban tuyên truyền trong việc vận động toàn dân kháng chiến, vừa quyên góp tiền để giúp nhà thương quân đội, đàn hát những điệu hò dân gian cho thương binh nghe. Cuối năm 1946, Trần Văn Khê trở về Sài Gòn tham gia nhóm “kháng chiến tại thành”. Ông vừa viết cho báo Thần Chung, Việt Báo, tạp chí Sông Hương, tạp chí Mai, vừa dạy Anh Văn tại hai trường Huỳnh Cẩm Chương, Ngô Quang Vinh, và mở lớp dạy tư Anh văn tại nhà. Được phân công phê bình âm nhạc và sân khấu, Trần Văn Khê thường gặp gỡ các đào kép cải lương như Tư Chơi, Năm Châu, Bảy Nhiêu, Duy Lân… để bàn về sự phát triển của cải lương. Năm 1948, các tổ kháng chiến tại thành bị lộ, Trần Văn Khê bị bắt và giam tại khám Catinat cùng một lúc với các Giáo sư tư thục Nguyễn Văn Hiếu (sau này là Bộ trưởng Văn hoá, Trần Thọ Phước (sau này là Giám đốc Air Vietnam ở Đông Nam Á). Năm 1949, vì bị lộ nên Trần Văn Khê, sau khi bàn với các bạn, rời Việt Nam sang Pháp, vừa “lánh nạn”, vừa du học với hai bàn tay trắng, một bộ đồ vải tropical và bản hợp đồng với các báo kể trên để làm “phóng viên”. Ông bắt đầu cuộc sống tự lập nơi đất khách quê người bằng cách vừa học, vừa làm nhiều việc để sinh sống. Suốt thời gian từ 1949 tới 1951, ông đọc các báo Pháp để viết mục “điểm báo”, làm phóng viên về các sinh hoạt của Việt kiều; viết du ký, phóng sự; cắt gửi về toà soạn những bài xã luận về chính trị quốc tế và chính trị liên hệ đến Việt Nam. Trần Văn Khê thử thi vào Viện Khoa học Chính trị nổi tiếng mang tên Sciences Po (Sciences Po, Institut d’Etudes Politiques de Paris), không ngờ đỗ vào năm thứ hai của Viện. Và rồi, ông đã tốt nghiệp hạng cao (hạng 5) Khoa Giao dịch Quốc tế sau hai năm miệt mài học tập trên ghế nhà trường và học thêm Anh văn tại Đại học Văn khoa Paris. Tháng 8.1951, 2 tháng sau khi tốt nghiệp, tới tháng 10.1954, do phát sinh nhiều bệnh, ông phải đi từ bệnh viện này tới trung tâm dưỡng bệnh nọ, bị giải phẫu 4 lần. Ngay trên giường bệnh ông vẫn tiếp tục nghiên cứu, đọc nhiều sách tại thư viện Paris và học tiếng Ả Rập từ những bệnh nhân cùng phòng. Cuối năm 1954, ông theo học và chuẩn bị luận án tiến sĩ tại Khoa Anh văn và Âm nhạc học, Trường Đại học Sorbonne, Paris. Để lấy tiền sinh hoạt, ông đã làm nhiều công việc khác nhau như: thuyết trình về các đề tài âm nhạc, kịch nghệ, kể chuyện cổ tích Việt Nam cho đài BBC; đóng phim; lồng tiếng cho phim… Tháng 6.1958, ông bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ với đề tài chính: “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” và hai đề tài phụ: “Khổng Tử và âm nhạc“, “Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam“. Từ đây, ông bắt đầu đi những bước đầu tiên trên chặng đường dài mà mình đã chọn: sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ông sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam không phải bởi thấy âm nhạc Việt Nam độc đáo hay đẹp hơn âm nhạc của các dân tộc khác mà đơn giản bởi ông yêu âm nhạc, ông là người Việt Nam. Với ông, đó là một thứ “quốc hồn”, “quốc tuý”. Luận án tiến sĩ của ông là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên về nền âm nhạc Việt Nam thống nhất được giới thiệu trên thế giới khi đất nước còn bị chia cắt. Kể từ khi ông trở thành một giáo sư – tiến sĩ ở Đại học Sorbonne danh tiếng, thế giới bắt đầu biết đến hình ảnh một “thầy đờn” Việt Nam độc đáo và hấp dẫn kỳ lạ. Ông không bỏ lỡ một dịp nào để đem lời ca, tiếng nhạc Việt Nam đến khắp năm châu dù đó là những lần thuyết trình trên các đài truyền thanh, truyền hình hay trong các chuyến đi tham dự hội nghị âm nhạc. Sống nơi đất khách, điều mong mỏi của ông là đem hồn nhạc Việt đi xa, quảng bá rộng rãi cho mọi người yêu nhạc. Bằng tài năng và bầu nhiệt huyết của mình ông đã bước vào làng nhạc quốc tế và thực hiện được điều mong ước đó. Năm 1975, ông trở về Việt Nam với tư cách Giám đốc nghiên cứu trong Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp, thành viên Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO, một chuyên gia hàng đầu về âm nhạc truyền thống của Việt Nam. Ông không ngần ngại thừa nhận công khai rằng công trình khoa học về âm nhạc truyền thống Việt Nam làm nên tấm bằng tiến sĩ của ông thực ra còn nhiều thiếu sót, hạn chế do được thực hiện trong hoàn cảnh xa đất nước. Bởi vậy, từ năm 1976 đến năm 1990, năm nào ông cũng về Việt Nam, lặn lội khắp các miền đất nước, ghi âm, chụp hình được trên 500 bài dân ca, dân nhạc các loại nhằm tìm hiểu cặn kẽ một nền âm nhạc đa dạng và sâu rộng, cố gắng ghi lại cũng như phục hồi những gì sắp bị chìm vào quên lãng; kêu gọi gìn giữ cái hay, cái đẹp cho thế hệ sau. Đồng thời, mỗi năm ông dành ra 2 – 3 tháng để thuyết trình tại các trường đại học trong cả nước. Tới mỗi trường đại học của Việt Nam, ngoài việc truyền bá những kiến thức âm nhạc; đem nhiệt huyết, tình yêu âm nhạc dân tộc thổi vào những lớp thanh niên thời đại mới ở Việt Nam, ông còn muốn gửi tới sinh viên Việt Nam một lời nhắn nhủ: Người sinh viên đại học không phải chỉ thụ động như học sinh trung học mà phải chủ động, ngoài những lời thầy giảng phải tự tìm sách báo, tư liệu để hiểu thêm các vấn đề. Dầu được thiên phú có một trí nhớ tốt, luôn luôn phải chăm chỉ nghe thầy giảng, tự học hỏi thêm và luyện tập cả trí nhớ. Khi gặp khó khăn phải bền chí và can đảm để tìm cách vượt qua những khó khăn. Có quyết tâm, có ý chí thì tự không mình sẽ tạo ra có, tự khó mình sẽ biến thành dễ. Học văn hóa của nhiều nước để mở rộng kiến văn nhưng luôn luôn nên nhớ văn hóa Việt Nam là cơ bản. Nên tự cho mình một khẩu hiệu: Ngày nay ta phải hơn ngày hôm qua và ngày mai sẽ hơn ngày hôm nay. Phải dự những buổi nói chuyện của GS.TS Trần Văn Khê, nghe ông nói về cội nguồn âm nhạc dân tộc, mới cảm được hết cái tình của một người nhạc sĩ suốt đời say mê nghiên cứu, sưu tầm, phổ biến âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ông rất bác học, tinh tế qua những cuộc diễn thuyết, minh họa về chèo, tuồng, hát bội, cải lương, hát bài chòi, hò Huế, hò lục tỉnh… Ông không chỉ nổi tiếng là người phổ biến âm nhạc dân gian Việt Nam với thế giới mà còn là người cực kỳ am hiểu âm nhạc dân tộc của nhiều nước, vì với ông: “Hạnh phúc nhất là được làm những điều mình tha thiết mong muốn: đem tiếng nhạc, lời ca dân tộc đến mọi nơi để siết chặt tinh thân hữu giữa dân tộc Việt Nam với bạn bè bốn biển, năm châu, đem được vui tươi nhẹ nhàng cho người nghe, lại có dịp góp sức với đồng nghiệp các nước Á, Phi bảo vệ nền âm nhạc cổ truyền, chống lại tệ nạn vọng ngoài, sùng bái nhạc phương Tây“. Gần nửa thế kỷ nghiên cứu, hoạt động và giảng dạy âm nhạc ở nước ngoài, GS. Trần Văn Khê đã viết hàng trăm bài báo và tham luận về đề tài âm nhạc dân tộc Việt Nam được dịch ra 14 thứ tiếng. Với ngón đàn điêu luyện và khả năng truyền cảm, ông đảm nhận giới thiệu các chương trình âm nhạc dân tộc Việt Nam trên làn sóng phát thanh, truyền hình, đồng thời ông cũng tham gia thuyết trình về âm nhạc truyền thống Việt Nam trong nhiều hội nghị và các trường đại học lớn tại hơn 50 quốc gia. Ông đã thực hiện được gần 30 đĩa hát 33 vòng và CD về âm nhạc Việt Nam và âm nhạc một số nước châu Á; đã tham dự 210 hội nghị quốc tế về Âm nhạc và Âm nhạc học trên 67 quốc gia, gần 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc khắp năm châu. GS. Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội quốc tế về âm nhạc và nghiên cứu âm nhạc như: Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO, Hội đồng Quốc tế Âm nhạc truyền thống, Hội đồng Quốc tế Giáo dục Âm nhạc, Hội đồng Quốc tế Nghiên cứu Âm nhạc, Hội Âm nhạc học, Dân tộc âm nhạc học, Hội nhà văn (Pháp), Hội dân tộc âm nhạc học Mỹ, Hội nghiên cứu âm nhạc truyền thống Nhật Bản, Hội nghiên cứu âm nhạc Ấn Độ. Ông cũng đã tham gia giảng dạy, đào tạo gần 7000 sinh viên, hướng dẫn gần 40 học viên cao học và nghiên cứu sinh về âm nhạc học. Ông thường tâm sự: “Tuy thân ở nước ngoài nhưng tâm tôi luôn ở trong nước vì đất nước thể hiện trọng tiếng đờn của tôi, trong những món ăn Việt Nam hàng ngày tự tay tôi nấu, nên lúc nào tôi cũng thấy mình gắn bó và gần gũi với quê hương, xứ sở“. Năm 2003, sau hơn nửa thế kỷ hoạt động âm nhạc ở nước ngoài, GS. Trần Văn Khê đã trở về Tổ quốc với dự định: tiếp tục làm công việc nghiên cứu, giảng dạy, gặp gỡ bạn bè trong và ngoài nước để góp phần bảo vệ, bảo tồn và phát huy vốn âm nhạc truyền thống. Với nhiều đóng góp cho sự nghiệp âm nhạc thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, GS. Trần Văn Khê là người Việt Nam đầu tiên được ghi danh và tiểu sử vào cuốn “Đại từ điển âm nhạc thế giới”, được tặng Giải thưởng đặc biệt về âm nhạc của UNESCO (1981), Huân chương Văn hoá nghệ thuật của Chính phủ Pháp (1991), Huân chương Lao động hạng Nhất của nước CHXHCN Việt Nam (1999), giải thưởng “Vinh danh nước Việt” (2003). Và tháng 11.2005 vừa qua, Trung tâm Bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc và Tạp chí Văn hiến Việt Nam đã tổ chức lễ mừng thọ GS.TS Trần Văn Khê tròn 85 tuổi và trao tặng ông giải thưởng Đào Tấn – giải thưởng tôn vinh những cá nhân, tập thể có đóng góp lớn cho văn hóa, nghệ thuật Việt Nam. Người ta thường nói: Đằng sau thành công của người đàn ông có bóng dáng của người phụ nữ. Điều này quả rất đúng với Trần Văn Khê. Được mẹ giáo thai, cho hấp thụ âm nhạc một cách bài bản ngay từ khi chưa chào đời, vừa lớn bà đã truyền cho con tình yêu đất nước. Khi mẹ mất, được người cô thứ ba là Trần Ngọc Viện thay cha mẹ nuôi dưỡng, giáo dục về mọi mặt, nhất là về môn âm nhạc. Vợ ông, bà Nguyễn Thị Sương đã mang lại cho dòng họ Trần 4 người con: hai trai (Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, một chuyên gia về hát đồng song thanh nổi tiếng nhất thế giới sau 32 năm nghiên cứu; Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở thành phố Hồ Chí Minh) và hai gái (Trần Thị Thuỷ Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thuỷ Ngọc, nữ nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia ở Paris). Khi xa gia đình và quê hương, ở ngoại quốc lúc nào cũng có một phụ nữ là em, con hay bạn, giúp ông công việc nhà để ông có thể dành hết tâm trí vào việc sưu tầm nghiên cứu âm nhạc. Lòng say mê âm nhạc của ông đã truyền sang các con, hiện nay các con ông đều đã trưởng thành và đang cùng ông viết tiếp trang sử thứ năm – đó chính là hạnh phúc lớn nhất của ông lúc tuổi già. Dầu tuổi cao, sức yếu nhưng dường như chẳng lúc nào GS. Trần Văn Khê rảnh rỗi. Sau những giờ làm việc căng thẳng, ông thường nghe nhạc, dạo vườn xem hoa, so dây độc tấu, thưởng thức vài chung trà trên bàn thạch… để thư giãn, hay luyện tập khí công, xem những chương trình tin tức hoặc nghệ thuật trên truyền hình, đọc vài tờ báo hay quyển sách mà ông thích, ngâm những bài thơ mình mới viết hoặc bạn bè mới cho. Với trí nhớ tuyệt vời được tạo hoá ban tặng, sự nhạy cảm của một tinh nhân, với phương pháp của một nhà khoa học, với sự kiên nhẫn và chuyên cần của một con kiến nhỏ, Trần Văn Khê hôm nay đã trở thành một thư viện sống, một bách khoa thư sống về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Với sự tín nhiệm của UNESCO ông đã có cơ hội góp sức vào việc thẩm định Hồ sơ Nhã nhạc cung đình Huế và được giao trọng trách thẩm định hồ sơ Cồng chiêng của Việt Nam. Ông đã chứng minh được những nét đặc sắc, độc nhất vô nhị của hai loại hình nghệ thuật này và Nhã nhạc cung đình Huế rồi mới đây là cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tới đây, ông sẽ cùng Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Viện Âm nhạc đề cử ca trù, quan họ và múa rối nước để UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể cho Việt Nam. Trong ông bấy lâu nay vẫn ấp ủ một nỗi niềm với âm nhạc truyền thống Việt Nam. “Tôi mong có một giáo trình dạy nhạc truyền thống Việt Nam ở bậc đại học và một chương trình đào tạo quốc gia cấp bằng thạc sĩ, tiến sĩ về âm nhạc dân tộc. Bởi thực tế đáng buồn hiện nay là các sinh viên Việt Nam thi bằng thạc sĩ âm nhạc dân tộc lại phải dựa vào lý luận… âm nhạc phương Tây“, GS. Trần Văn Khê tâm sự. Dự định của ông còn nhiều, dù sức khoẻ có hạn, nhưng mỗi khi thấy ông xuất hiện trên tivi, lúc ở thành phố Hồ Chí Minh, khi ở Hà Nội, chúng tôi vô cùng cảm phục tinh thần làm việc miệt mài của ông và thầm cầu mong cho ông được dồi dào sức khoẻ, tiếp tục thực hiện hoài bão của mình: giữ gìn những giá trị tinh thần của dân tộc và của nhân loại!
Mai Anh [100 Years-VietNam National University,HaNoi]

http://100years.vnu.edu.vn/BTDHQGHN/Vietnamese/C1778/C1779/2006/05/N7812/