TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI : tiếng Việt (cập nhựt 17/10/2020)


TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI : tiếng Việt (cập nhựt 17/10/2020)

TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI : tiếng Việt

Tran Quang Hai

Tiểu sử TRẦN QUANG HẢI (Tran Quang Hai’s biography in Vietnamese)

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã , tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê (sinh ngày 24 tháng 7, 1921) và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long (sinh ngày 19 tháng 9, 1921).Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ danh ca Bạch Yến ngày 17 tháng 6, 1978 tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc ngoại quốc Tây phương lúc đầu của sự nghiệp cầm ca . Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải , Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới .Trần Quang Hải xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời và anh là nhạc sĩ đời thứ năm . Ngoài ra anh là dân tộc nhạc học gia (ethnomusicologist – ethnomusicologue) chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, thuyết trình viên , nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, và thành viên của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique)

Vài dòng về khuôn mặt Trần Quang Hải. Anh đã theo gót cha anh , GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học. Anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh .

Gia đình nhạc sĩ cổ truyền

1. Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ của tôi là quan án sát, theo Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thuyết nhưng thất bại , treo ấn từ quan , vào Nam , cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. Rất giỏi về nhã nhạc Huế .

2. Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố của tôi là người đàn tỳ bà rất hay , được gởi ra thành nội Huế để học nhạc cung đình và chuyên về đàn tỳ bà . Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho đàn tỳ bà , nhưng tiếc thay là tất cả tài liệu đó bị thất lạc vì chiến tranh .

3. Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội của tôi là người đàn kìm rất giỏi, biệt hiệu Bảy Triều trong giới cải lương, đã đặt ra cách lên dây TỐ LAN cho đàn kìm để đàn những bài buồn ai oán. Hiện nay chỉ còn một số rất ít nhạc sĩ cổ nhạc biết đàn dây này (như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo , GS Trần Văn Khê)

4. Trần Văn Khê (1921 – ), ba của tôi là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng quốc tế và làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới ở địa hạt trình diễn cũng như nghiên cứu . Con trai trưởng trong gia đình có ba người con (ba tôi GS Trần Văn Khê, chú ba tôi là Quái kiệt Trần Văn Trạch, cô tư tôi là Trần Ngọc Sương từng nổi tiếng là ca sĩ tân nhạc vào đầu thập niên 50) , ông đã hăng hái trong phong trào nhạc mới lúc trẻ (cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Phạm Duy) và quay về nhạc cổ khi soạn luận án tiến sĩ tại Pháp . Từng là giáo sư nhạc Đông phưong tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Paris , Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, và từng giữ chức phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO . Hưu trí từ năm 1987, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và đóng góp một vai trò lớn cho hai hồ sơ Nhạc cung đình Huế (được danh hiệu kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Ông định cư ở Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và là cố vấn cho hồ sơ Ca Trù để đệ trình lên UNESCO cho năm 2007 và cho hồ sơ Đờn ca tài tử nam bộ cho năm 2011 dành cho kiệt tác văn hóa phi vật thể. Ngày 24 tháng 6 năm 2015 , ông từ trần tại quận Bình Thạnh, TP HCM, Việt Nam . .

5. Trần Quang Hải (1944 – ) , cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Saigon với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), đi sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở trường cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Tôi bắt đầu làm việc cho trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với ê-kíp nghiên cứu tại Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới 2009 thì về hưu). Trình diễn trên 3,500 buổi tại 70 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác nhạc hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng , hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại . Đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 4 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới .Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng , jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ .SỰ NGHIỆP1. 1955-1961 trường quốc gia âm nhạc Saigon, tốt nghiệp vĩ cầm (lớp GS Đỗ Thế Phiệt)2. 1954-1961 trường trung học Pétrus Ký, Saigon.3. 1963-1970 Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (CEMO – Centre d’Etudes de Musique Orientale – Center of Studies for Oriental Music, Paris) , học các truyền thống nhạc Ba Tư (Iran), Ấn độ (Inde), Trung Quốc (Chine), Nhật Bổn (Japon), Nam Dương (Indonesie), Đông Nam Á (Asie du Sud-Est), Việt Nam (Vietnam)4. 1963 trường Ecole du Louvre, Paris5. 1965 certificate of proficiency in English (chứng chỉ Anh văn) , University of Cambridge, Anh quốc6. 1965 certificat de littérature française (chứng chỉ văn chương Pháp), Université de Sorbonne, Paris.7. 1967 cao học dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xã hội, Paris8. 1969 chứng chỉ âm thanh học (certificat d’acoustique musicale) , Paris9. 1970 văn bằng cao đẳng nhạc Việt trung tâm nghiên cứu nhạc đông phương , Paris10. 1973 tiến sĩ dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xà hội, Paris11. 1989 văn bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống , Paris.Từ năm 1965 tới 1966 theo học lớp nhạc điện thanh (musique électro-acoustique) với GS Pierre Schaeffer, người sáng lập loại nhạc điện tử ở Pháp .Từ năm 1968 tới 2009, tôi làm việc tại Viện dân tộc nhạc học của Viện Bảo Tàng Con Người (Département d’Ethnomusicologie du Musée de l’Homme) ở Paris (Pháp) . Từ năm 1968 tới 1987, tôi làm việc ở Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng nghệ thuật và truyền thống dân gian (Département d’Ethnomusicologie du Musée des Arts et Traditions Populaires) ở Paris (Pháp)Nghiên cứu sư của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS) ở Paris từ năm 1968. Từng là thành viên của nhiều ê-kíp nghiên cứu (RCP 178 – Recherche coopérative sur programme từ 1968 tới 1973 ; ER 65 – Equipe de recherche từ 1974 tới 1981 ; Laboratoire Associé từ 1974 tới 1987 ; UPR 165 – Unité Propre de Recherche từ 1982 tới 1985 ; UMR 9957 – Unité Mixte de Recherche từ 1986 tới 1997 ; UMR 8574 – Unité Mixte de Recherche từ 1997 tới 2004 ; UMR 7173 – Unité Mixte de Recherche từ 2005 trở đi)Từ 1970 tới 1975 : giáo sư đàn tranh của Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương , ParisTrong suốt thời gian 55năm hành nghề nhạc sĩ chuyên nghiệp (1962 -2017) tôi đã trình diễn trên 3.500 buổi cho khán giả Tây phương , và trên 1.500 buổi diễn cho học trò trên thế giới do các cơ quan chính thức của Na Uy (Rikskonsertene), Bỉ (Jeunesses Musicales de Belgique), Thụy Sĩ (Jeunesses Musicales Suisses), Pháp (Jeunesses Musicales de France, Association départementale pour diffusion et initiation musicale – ADDIM).

Từ 1971 tôi đã làm 15 dĩa 30cm / 33 vòng và 8 CD về nhạc cổ truyền Việt Nam , đặc biệt là về đàn tranh. Nhiều sáng tác đã đưọc thu vào dĩa và được đăng trong các quyển tự điển Who’s Who in Music (từ năm 1987) , Who’s Who in the World (từ năm 1981 ), và Who’s Who in France (từ năm 1997).Về sáng tác nhạc, tôi có viết 12 ca khúc nhi đồng với sự cộng tác của nhà văn Duyên Anh năm 1984. Tôi đã sáng tác trên 400 nhạc phẩm đủ loại với ca khúc viết tiếng Việt, Pháp, Anh và nhạc cho đàn tranh, đàn bầu, muỗng, đàn môi và hát đồng song thanh . Ngoài ra còn viết nhạc cho phim « Long Vân Khánh Hội »của Lê Lâm vào năm 1980, phim « Le Chant des Harmoniques » (Bài ca bồi âm) vào năm 1989, và cho phim « La Rencontre du Coq et du Dragon » (Cuộc hội ngộ giữa Gà và Rồng) vào năm 1998 .

Với tư cách nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học, tôi đã viết nhiều bài cho các tập san nghiên cứu nhạc học như « The World of Music » (UNESCO), « Journal of Asian Music Society (Cornell University, Hoa Kỳ), « Yearbook of the International Council for Traditional Music –ICTM, Hoa Kỳ), « Cahiers de Musiques Traditionnelles » (Thụy Sĩ ), « Koukin Journal » (Tokyo, Nhật Bản). Tôi có viết một bài về nhạc Cao miên cho New Grove Dictionary of Music and Musicians, ấn bản lần thứ 1 (1980) (20 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa vài nhạc cụ Việt Nam cho New Grove Dictionary of Music, ấn bản lần thứ nhì (2001) (29 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa cho trên 200 từ nhạc cụ của Việt Nam, và Đông Nam Á cho New Grove Dictionary of Musical Instruments, ấn bản lần thứ nhứt (1984) (3 quyển, London, Anh quốc)Tôi viết lịch sử nhạc Việt Nam, Lào, Cao Miên và Thái Lan cho quyển tự điển Algemeine Muziekencyclopedia (1082-1984, Hòa Lan), và nhiều bài cho tự điển Encyclopaedia Universalis (1984, 1986, 1988 , 1990, 1991, Paris)

Tôi đã làm 4 DVD về giọng và hát đồng song thanh : « Le Chant diphonique » với CRDP (trung tâm địa phương tài liệu sư phạm và Hàn lâm viên La Réunion, 2004), « Le chant des Harmoniques » (CNRS – Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học, 2005), « La Voix » với nhà xuất bản Lugdivine (2006, Lyon, Pháp), và « The Song of Harmonics » với CNRS, Paris, 2006.Ngoài ra Pierre Ravach có làm một cuốn phim  (TRẦN QUANG HẢI : parcours d’un musicien vietnamien / Trần Quang Hải : hành trình của một nhạc sĩ việt nam ), Bruxelles, Bỉ vào năm 2005. Bùi Xuân Quang và Paris Vietnam Productions thực hiện một cuốn video « Variations sur la musique vientamienne par Trần Quang Hải et Bạch Yến / các biến thể về nhạc việt với Trần Quang Hải & Bạch Yến) Paris, 2009.   Nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học cũng là đạo diễn Pháp Patrick Kersalé đã thực hiện hai chương trình video « Mystères des Voix du Monde » (Sự huyền bí của các gịong thế giới) (2012), và « Le Chant des Harmoniques » (Bài ca bồi âm) (2013) với tôi là nhân vật chính của hai video này .

Giảng dạy ở các trường đại học , viện bảo tàng và trung tâm nghiên cứu trên thế giớiTôi đã từng được mời dạy và thuyết trình tại nhiều trường đại học, trung tâm nghiên cứu và viện bảo tàng ở khắp năm châu :

Mỹ : University of Hawaii (1977), University of Berkeley (1977), University of Maryland (1980), Columbia University (1983), Museum of Modern Art (MOMA ở New York, 1984), University of California, San Diego (UCSD, 1990), Cornell University (1994), Thomas University (Minneapolis, 1996), Foundation of the Voice, Philadelphia (1997), Wisconsin University, Madison (1998), George Mason University (2000), California State University Long Beach (2019)

CANADA : Université de Montréal (1991), York University, Toronto (1994), University of Toronto (1994), Royal Museum of Ontario, Toronto (1994),.Saint John’s University, Saint John’s, Canada (2011)

BRAZIL : Âm nhạc viện, Rio de Janeiro (1983), University of Rio de Janeiro (1998, 2006), University of Recife (1998), Faculty of Music , Rio de Janeiro (2006)

Nam Phi : University of Cape Town (1984, 1997), Stellenbosch University, Cape Town (1984), University of Fort Hare, Fort Hare (2011)

Úc Châu : Monash University, Melbourne (1986), Sydney University, Sydney (1986), Western Australian University, Perth (1986), College of Advanced Education, Melbourne (1988), University of Canberra (1995)

Đại Hàn : National Seoul University (1981), National Institute of Performing Arts, Seoul (1994), Academy of Korean Studies, Seoul (2006)

Nhật Bản : Royal Academy of Music (1981), University of Hiroshima, Hiroshima (1999), Osaka University of Fine Arts , Osaka (2000).

Đài Loan : University of Taiwan, Taipei (2000), National Center of the Arts , Taipei (2000, 2002)

Thái Lan : University of Mahasarakham (1986), Chulalongkorn University, Bangkok (2012, 2019)

Việt Nam : Viện âm nhạc Hà nội, Hà nội (2002, 2006, 2017 ), Trung tâm văn hóa Pháp, Hà Nội (2006), Âm nhạc viện thành phố HCM (2006), Học Viện Âm nhạc quốc gia, Hà nội (2017)

Trung Quốc : Âm nhạc viện Thượng Hải (2012)

Lebanon : CLAC (Centre de lecture et d’animation culturelle – trung tâm văn hóa), ở các tỉnh Barja, Mansoura, Kfar Debyan, Amioun (2002)

Đức : Volkekunde Museum, Berlin (1985), Musik Hochschule , Detmold (1994), Institute of Psychotherapy, Heidelberg (1997), Musik Hochschule, Stuttgart (2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006,2013 ), Musik Hochschule, Hanover (2003), Aachen Universitet, Aachen (2003), Erfurt University (2004)

Belarus : Music Academy of Belarus, Minsk (1996)

Bỉ : Institute of Musicology , Louvain (1976), Royal Museum of Central Africa, Tervuren (1976), Royal Instrumental Museum, Brussels (1980, 2001), University of Anwerpen (1981), Institute of Living Voice , Anverpen (2001), Royal Museum of Mariemont, Mariemont (2002), Conservatory of Music, Mons (2006)

Đan Mạch : Musikhistoriska Museum, Copenhagen (1972), Institute of Danish Folk Archive, Copenhagen (1972), Odin Teatret (Laboratorium of NordicTheatrical Researches), Holstebro (1998), Laboratory of theatrical experimental researches Cantabile 2, Wordingborg (2000).

Tây Ban Nha : Summer University, Madrid (1990)

Pháp : Paris : Université de Paris X-Nanterre (1985-92), Université de Paris VIII –Saint Denis (1991, 1993), Université de Paris IV-Sorbonne (1989), Centre d’Etudes de Musique Orientale (1970-1975), Ecole Nationale des Langues Orientales Vivantes – ENLOV (1991, 2006), Laboratoire d’Acoustique Musicale (1971, 1974), IUFM, Université de Cergy (1996, 1997, 1998, 1999, 2001)Nice : Université de Nice (1990), Musée des Arts Asiatiques (1999, 2000, 2003)Tours : Université de Tours (1975)Montpellier : Université de Montpellier 3 (1996, 1997, 1998, 1999, 2000, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006)Toulouse : Université de Toulouse (1985, 1991, 1995, 1997)Marseille : Conservatoire National de Musique (1987)Strasbourg : Conservatoire National Régional – CNR (1995, 1997, 1998)Mulhouse : Ecole Doctorale (2000), Université de la Haute Alsace (2005)Rennes : Conservatoire de Musique (1980), Université de Rennes (1999, 2000, 2001, 2004), IFMI de Rennes (2005)Poitiers : Université de Poitiers (2000)Bordeaux : Université de Bordeaux 2 Victor Segalen (2001)Lille : Université de Lille (2004)

Vương quốc Anh : Horniman Museum , London (1972), University of Durham (1985), University of London (1991), City University, London (1992), SOAS – School of Oriental and African Studies, London (1998), University of Reading, Reading (2004, 2005) Queen’s University, Belfast (1984),

Ái nhĩ lan : University of Limerick, Limerick (2004, 2005, 2017), University of Cork, Cork (2005),

Ý đại lợi – Italy: Institute of Musicology, Bologna (1979), University of Bologna (2000, 2003), Foundazione San Georgio Cini , Istituto Interculturale di Studi Musicali Comparati (1979, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006), Santa Cecilia Nazionale Academia, Roma (1994), University of Roma (1994), Institute of Musicology and Linguistics, Venezia (1996), Teatro La Fenice , Venezia ( 1995, 1996, 1997), Academy of Music, Sienna (1999), Institute of Musictherapy, Padova (2001, 2016).

Lituania : Music Academy of Lituana, , Vilnius (1997)

 Na Uy – Norway : Institute of Musicology, Trondheim (1976, 1980, 1981), University of Oslo (1979), Music Academy Grieg, Bergen (2004), Conversatory of Music, Oslo (2005, 2006)

Hà Lan – Holland : Jaap Kunst Centrum, Amsterdam (1974), Gemeente Museum, Den Haag (1980), Tropen Museum, Amsterdam (1992, 1998), University of Leiden , Leiden (2000), University of Groningen , Groningen (1998)

Ba Lan – Poland : Summer University, Warsaw (1997), University of Wroclaw (2013, 2016)

Nga – Russia : Âm nhạc viện Chaikowsky , Moscova (1993), Institute of World Music Research , Moscova (1993, 2012), International Centre of Khoomei, Kyzyl, Tuva (1995)Slovakia : Music Academy, Nitra (1997)

Thụy Điển – Sweden : Lund University , Lund (1976), Stockholm University, Stockholm (1976), Music Museet , Stockholm (1981), Royal Music Academy, Stockholm (1985)

Thụy Sĩ – Switzerland : Ethnographical Museum, Basel (1969), Music Academy, Basel (1993, 1995).

Yugoslavia : Music Academy, Sarajevo (1991)

Slovenia : Music Academy of the University in Ljubljana (2006, 2011)

Croatia: Institute of Ethnology and Folklore Research in Zagreb (2006)

ĐẠI HỘI LIÊN HOAN VÀ HỘI NGHỊ QUỐC TẾ

Trong vai trò nhạc sĩ , tôi đã trình diễn tại hơn 130 đại hội liên hoan nhạc truyền thống sau đây:

1970 :*Festival International du Son (Nhạc hội quốc tế về âm thanh), Paris, Pháp-France

*Festival of Arts – Chiraz / Persepolis (Nhạc hội về nghệ thuật), Chiraz, Ba Tư-Iran

1971 :*Cinq Journées de Rencontre avec le Groupe de Recherches Musicales (5 ngày gặp gỡ với Nhóm Nghiên cứu nhạc), Paris, Pháp –

 FranceSemaine culturelle indochinoise (Tuần lễ văn hóa Đông Dương), Geneva, Thụy Sĩ (Switzerland)

*Oriental Music Festival (Đại hội liên hoan nhạc đông phương), Berlin, Đức – Germany .

*Festival de Musique d’Ajaccio (Đại hội liên hoan âm nhạc tại Ajaccio), đảo Corsica, Pháp

*15 Jours de Musique Traditionnelle avec le Folkclub Le Bourdon (15 ngày nhạc truyền thống với hội dân nhạc Le Bourdon), Geneva, Thụy sĩ – Switzerland .

1972 :*Pampelune Music Festival (nhạc hội tại Pampluna), Pampluna, Tây ban nha – Spain

*La Geolette d’Or , Knokke le Zoute , Bỉ – Belgium

*Festival of Traditional Music in Vesdun (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Vesdun, Pháp-France

*SIGMA 8 : Festival de musique contemporaine (đại hội nhạc truyền thống), Bordeaux, Pháp-France.

1973 :*Festival de musique de Royan (nhạc hội tỉnh Royan), Royan, Pháp – France

*Festival international de Musique Traditionnelle (nhạc hội quốc tế nhạc truyền thống), Le Havre, Pháp – France

*Festival international de Cultures et Jeunesses (Nhạc hội quốc tế về văn hóa và tuổi trẻ), Presles, Pháp – France .

1974 :*Festival de Musiques Traditionnelles (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Bezon, Pháp-France

*Festival international de Musique Folk (Nhạc hội quốc tế nhạc dân gian), Colombes, Pháp-France .

*Festival de Musique du Haut Var (Nhạc hội vùng Haut Var), Pháp – France

*Musicultura (Văn hóa âm nhạc), Breukelen, Hà Lan – the Netherlands

1975 :*Trois jours de musique folk (3 ngày dân nhạc), Conflans Sainte Honorine, Pháp – France

*5ème Festival de Musique contemporaine (Nhạc hội nhạc đương đại lần thứ 5), Bourges, Pháp – France .

*La Geolette d’Or, Knokke le Zoute, Bỉ – Belgium

*Festival de Musique de Tradition orale (Nhạc hội truyền thống truyền miệng), Châlon sur Saône, Pháp-France

*Festival international de musique (nhạc hội quốc tế), Olivet , Pháp – France

1976 :*Le Printemps des Peuples Présents (Mùa Xuân của các dân tộc hiện tại), Paris, Pháp-France

*Festival de Musique d’Eté (Nhạc hội hè), Chailles, Pháp-France

*Festival du Marais (Nhạc hội khu Marais), Paris, Pháp-France

*Journées Musicales Internationales (Ngày nhạc quốc tế), Vernou, Pháp – France

*Un mois d’Arts Asiatiques (Một tháng nghệ thuật á châu), Laon, Pháp-France

*Oriental Music Festival (Nhạc hội nhạc Đông phương), Durham, Anh quốc – United Kingdom

*Festival de Musique de l’Asie du Sud-Est (Nhạc hội Đông Nam Á), Laon, Pháp- France

1977 :*Journées Musicales Internationales (Ngày Nhạc quốc tế), Vernou, Pháp-France

*World Music Festival (Nhạc hội nhạc thế giới), Berkeley, Hoa Kỳ -USA

*World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC), Honolulu, Hawaii, Mỹ – USA

1978 : *Journées Musicales Internationales (Ngày Nhạc quốc tế), Vernou, Pháp-France

*Festival de Musique Traditionnelle, Lugano, Thụy sĩ- Switzerland

*Fête de la Saint Jean (Lễ thánh Jean), Dieppe, Pháp-France

1979 :*Oriental Music Festival (Nhạc hội nhạc Đông phương), Durham, Anh quốc-United Kingdom

*Festival International de Musique Contemporaine (Nhạc hội quốc tế nhạc đương đại), Clichy, Pháp-France

*World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC), Oslo, Na Uy – Norway

1980 :*Festival d’Automne (Nhạc hội mùa thu), Paris, Pháp-France

*Festival International de Musique traditionnelle (Nhạc hội quốc tế nhạc truyền thống), Sarajevo, Nam tư-Yugoslavia1981 :

*Asian Music Festival (Nhạc hội Á châu), Seoul, Đại Hàn- Republic of Korea*World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC) , Seoul, Đại Hàn, Korea

1982 :*Chamber Music Festival (Nhạc hội nhạc thính phòng), Kuhmo, Pháp-France

*Polyphonix : Poésie et Musique (Nhạc hội về Thơ và Nhạc), Paris, Pháp-France

1983 :*First World Music Festival (Nhạc hội nhạc thế giới lần thứ nhất), Rio de Janeiro, Ba Tây – Brazi

l*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), New York, Mỹ – USA

1984 :*Polyphonix : Poetry and Music (Nhạc hội về Thơ và Nhạc), New York, Hoa Kỳ -USA

*Folk Music Festival (Nhạc hội dân nhạc) , Kaustinen, Phần Lan-Finland

*New Music Festival (Đại hội nhạc mới), Vitaasarii, Phần Lan-Finland

*Chamber Music Festival (Đại hội nhạc thính phòng), Kuhmo, Phần Lan-Finland

*Festival of World Musical Cultures (Đại hội văn hóa nhạc thế giới), Cape Town, Nam Phi- South Africa

1985 :*First World Festival of Traditional Music (Đại hội thế giới nhạc cổ truyền lần thứ nhất), Belfast, Bắc Ái nhĩ lan – Northern Ireland, United Kingdom

*Festival international de musique(đại hội quốc tế âm nhạc), Langeais, Pháp-France

*Festival estival (đại hội mùa hè), Paris, Pháp-France

1986 :*Festival de Musique des Trois Continents (Đại hội nhạc ba lục địa), Nice, Pháp-France

*Festival de Musique Traditionnelle – Nord/Sud (Đại hội nhạc truyền thống -Bắc/Nam), Paris, Pháp-France

*Festival de Musiques des Immigrants (Đại hội nhạc di dân), Paris, Pháp-France

1987 : *Polyphonix : Poésie et Musique (Đại hội Thơ và Nhạc), Paris, Pháp-France

*Festival de Musique Folk (Đại hội dân nhạc), Ris Orangis, Pháp-France

1988 :*Premières Rencontres d’Expressions Vocales (Cuộc gặp gỡ đầu tiên về Giọng hát), Abbaye de Fontevraud, Pháp-France

*World Music Festival (đại hội nhạc thế giới) , Melbourne, Úc châu – Australia

*People’s Music Festival (đại hội nhạc dân chúng), Milano, Ý-Italy

*Festival de Musique asiatique (đại hội nhạc Á châu), Estampes, Pháp-France

1989 :*Bicentenaire de la Révolution Française (Đại hội nhạc kỷ niệm 200 năm cách mạng Pháp), Paris , Pháp-France

*Festival international de Saint Herblain (đại hội quốc tế âm nhạc tỉnh Saint Herblain), Saint Herblain, Pháp-France

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Schladming, Áo quốc-Austria

1990 :*Music Festival « Bloomed Sounds, Floating Song »( Đại hội âm nhạc “âm thanh nở, ca khúc trôi”), Osaka, Nhật Bản-Japan

 *First Forum of Pacific and Asian Arts (Đại hội nhạc Á châu và Thái bình dương lần thứ nhất), Kobe, Nhật Bản-Japan

.*Asian Music Festival (Nhạc hội Á châu), Tamba, Nhật Bản-Japan.

*Festival de Musique Traditionnelle (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Arzila, Maroc – Morocco

*Berlin Music Festival (Nhạc hội thành phố Berlin), Berlin, Đức – Germany

*Vox Populi (Nhạc hội về Giọng), Bruxelles, Bỉ-Belgium

1991 : *700 ans de Suisse (Nhạc hội 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ), Lausanne, Thụy Sĩ-Switzerland

*Festival de Musique de Saint Denis (Nhạc hội tỉnh Saint Denis), Saint Denis, Pháp-France

*String Music Festival (Nhạc hội đàn dây), Berlin, Đức-Germany

*Voice Festival (Đại hội Giọng), Rotterdam, Hà Lan – the Netherlands

1992 :*4ème Rencontre de Chants Polyphoniques (Gặp gỡ lần thứ 4 Hát Đa âm), Calvi, Corse, Pháp

*Festival autour de la Voix (Đại hội quanh về Giọng), Argenteuil, Pháp-France

*Festival sur l’esprit des Voix (Đại hội về Giọng), Périgueux, Pháp-France

*Festival de Musique de Montréal, (đại nhạc hội kỷ niệm 350 thành lập xứ Canada), Montréal, Canada .

1993 :*Festival de Musique Folk (Đại hội nhạc dân gian), Ris Orangis, Pháp-France

*Voice Festival (Đại hội về Giọng), Volterra, Ý – Italy

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Berlin, Đức – Germany

1994 :*Festival de Musique Traditionnelle (Đại hội nhạc cổ truyền), Azrilah, Maroc-Morocco

*Festival de Musiques du Monde (Đại hội nhạc thế giới), Nantes, Pháp-France

*First Festival and International Conference of the Pacific / Asian Society for Ethnomusicology (Đại nhạc hội và hội nghị quốc tế lần thứ nhất ), Seoul, Hàn quốc-Korea

1995:*Giving Voice : A Geography of the Voice (Đại hội về Giọng), Cardiff, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*2nd International Festival of Throat Singing Khoomei (Đại hội quốc tế lần thứ 2 về Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga – Russia

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Canberra, Úc chậu – Australia

1996:*Voice Festival (Đại hội về giọng), Grosetto, Ý-Italy

*Giving Voice: A Geography of the Voice (Đại hội về Giọng), Cardiff, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*4th World Festival of Choral Music (Đại hội thế giới lần thứ 4 về nhạc hợp xướng), Sydney, Úc châu – Australia

*1st World Meeting of Vietnamese Music (Gặp gỡ thế giới lần thứ nhất về nhạc Việt), Minneapolis, Mỹ – USA

1997:*International Festival of Music (Đại nhạc hội quốc tế), Cape Town, Nam Phi – South Africa

*Festival de Musique Folk (Đại hội nhạc dân gian), Ris Orangis, Pháp – France

*Giving Voice : An Archeology of the Voice (Đại hội về Giọng), Aberyswith, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*Festival Régional de Musiques Traditionnelles (Đại hội địa phương nhạc cổ truyền), Montpellier, Pháp – France

*World Conference of the ICTM (Hội nghị quốc tế ICTM), Nitra, Slovakia

1998 : *International Festival of Stringed Instruments (Đại hội quốc tế đàn dây), Amsterdam, Hà lan – the Netherlands

*International Festival of Mediterranean Music (Đại hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý – Italy

*Asian Music Festival in Europe (Đại hội nhạc Á châu ở Âu châu), London, Anh quốc – Great Britain

*Printemps pour la culture vietnamienne (Mùa Xuân cho văn hóa Việt), Paris, Pháp-France

*Festival de la Voix (Đại hội về Giọng), Auch, Pháp-France

*3rd World Jew’s Harp Festival (Đại hội thế giới lần thứ 3 về Đàn Môi), Molln, Áo quốc-Austria

*Bela Bartok Festival of Contemporary Music (Đại hội Bela Bartok nhạc đương đại), Szombathely, Hungari – Hungary

*Asian Music Festival (Đại hội nhạc Á châu), Firenze , Ý-Italy

*International Voice Festival (Đại hội quốc tế về Giọng), Rio de Janeiro, Braxin- Brazil

1999 :*Festival d’Auch (Đại hội về giọng thành phố Auch), Auch , Pháp – France

*Festival international de Musique de Saint Chartier (Đại hội quốc tế nhạc cổ truyền), Saint Chartier, Pháp-France

*Giving Voice : A Divinity of the Voice (Đại hội về Giọng), Aberyswith, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*Bela Bartok Festival of Contemporary Music (Đại hội Bela Bartok nhạc đương đại), Szombathely, Hungari – Hungary

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Hiroshima, Nhật Bản – Japan

2000:*Festival Printemps musical de Pérouges (Nhạc hội mùa xuân tỉnh Pérouges), Pérouges, Pháp-France

*Fête de la Musique (Ngày lễ âm nhạc), Paris, Pháp-France

*International Jew’s harp Festival (Đại hội quốc tế Đàn môi), Moll, Áo quốc-Austria

*Festival of Dances and Folk Music (Đại hội múa và nhạc dân gian), Rudolstadt, Đức – Germany

*Festival de Musiques des 5 continents (Đại hội nhạc 5 châu), Mauléon, Pháp-France

*International Festival of Extreme Voices (Đại hội quốc tế về Giọng), Genova, Ý-Italy

*International Festival of Qin music (Đại hội quốc tế về nhạc đàn tranh), Amsterdam, Hà Lan – the Netherlands

*Festival de Voix d’Hommes (Đại hội Giọng Nam), Bretagne, Pháp – France

*Festival of Traditional Music (Đại hội nhạc cổ truyền), Đài Bắc, Đài loan – Taiwan

2001 :*Colloque de la Voix chantée (Hội nghị về Giọng ), Lyon, Pháp – France

*Festival de Musique Traditionnelle (Đại hội nhạc cổ truyền), Denain, Pháp-France

*City London Music Festival (Đại nhạc hội thành phố London), London, Anh quốc –England

*Fête de la Musique (Lễ âm nhạc), Paris, Pháp – France

*Festival « Performato » (Đại nhạc hội Performato), Rio de Janeiro, Braxin – Brazil

*International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế nhạc hợp xướng), Singapore

*Festival “1000 Facettes de la Voix” (Đại hội 1000 bộ mặt của Giọng), Village du Lac, Pháp-France

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Rio de Janeiro, Braxin – Brazil

2002 :*International Voice Festival (Đại hội quốc tế về Giọng), Genova , Ý –Italy

*Fête de la Musique (Lễ âm nhạc), Beirut, Liban – Lebanon

*International Congress of Yoga (Hội nghị quốc tế về Yoga), Vogüe, Pháp – France

*6th World Symposium of Choral Music (Đại hội thế giới lần thứ 6 về nhạc hợp xướng), Minneapolis, Mỹ – USA

*4th World Jew’s Harp Festival (Đại hội thế giới lần thứ 4 về Đàn Môi), Raudal, Na Uy- Norway

*International Congress of Polyphony (Hội nghị quốc tế nhạc đa âm), Tbilissi, Georgia

2003*International Music Festival of Telemark (Đại hội quốc tế âm nhạc ở Telemark), Bo, Na Uy – Norway

*Festival de culture vietnamienne (Đại hội văn hóa Việt), Lausanne, Thụy Sĩ – Switzerland

*International Congress of Psychotherapy (Hội nghị quốc tế tâm lý điều trị học), Hanover, Đức – Germany

*International Festival “Voice of the World” (Đại hội quốc tế “Giọng thế giới”, Bologna, Ý- Italy

2004:*World Conference of the ICTM(Hội nghị thế giới ICTM), Fuzhou, Trung quốc – China

*International Festival “Making New Waves” (Đại hội quốc tế nhac đương đại), Budapest, Hungari – Hungary

*International Congress of Musical Acoustics (Hội nghị quốc âm thanh nhạc học), Nara, Nhật Bản – Japan

*International Congress of Acoustics (Hội nghị quốc tế âm thanh học), Kyoto, Nhật Bản – Japan

*International Congress of Yoga (Hội nghị quốc tế về Yoga), Vogüe, Pháp – France

*International Festival of Mediterranean Music (Đại hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý – Italy

*3ème Festival “Le Rêve de l’Aborigène » (Đại hội nhạc đàn môi, didjeridu và hát đồng song thanh lần thứ 3), Poitiers, Pháp – France

*International Congress of Shamanism (Đại hội quốc tế về đồng bóng), Trường đại học Donau, Krems, Áo quốc – Austria

*Manifestations scientifiques et musicales dans le cadre “Lille, Ville européenne Culturelle

 *2004 (Sinh hoạt khoa học và âm nhạc trong khung cảnh « Lille, thành phố Âu châu văn hóa 2004), Lille, Pháp – France

*International Seminar on Voice (Hội nghị quốc về Giọng), Reading, University of Reading,, Anh quốc – England.

*International Symposium of Sung and Spoken Voice (Hội nghị quốc tế về giọng hát và giọng nói, Stuttgart, Đức – Germany

.2005:*International Festival of Avant Garde Music “Making New Waves” (Đại hội quốc tế ậm nhạc đương đại), Budapest, Hungari – Pháp

*International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế về hát hợp xướng), Erfurt, Đức – Germany.

*International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế về hát hợp xướng), Arnheim, Hà Lan – the Netherlands

*International Festival of Mediterranean Music (Nhạc hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý-Italy

*Sunplash Festival (Nhạc hội nhạc Reggae), Ý – Italy*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Sheffield, Anh quốc

.*MELA Festival (Đại nhạc hội MELA về nhạc thế giới), Oslo, Na Uy – Norway.

*1st World Festival of Marranzanu (Đại hội thế giới về Đàn môi lần thứ nhất), Cantania, Sicily, Ý – Italy

*International Symposium of Voice (Hội nghị quốc tế về Giọng), Stuttgart, Đức – Germany

*“30 ans d’existence de l’Université en Haute Alsace” (Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập trường đại học Haute Alsace), Mulhouse, Pháp – France

*International Festival of Traditonal Music (Đại hội quốc tế nhạc truyền thống), Limerick, Ái nhĩ lan – Ireland.

2006:*Tết in Seattle (Đại hội âm nhạc Tết tại Seattle), Seattle, Mỹ – USA

*2ème Rencontre sur la parole chantée (Cuộc gặp gỡ thứ nhì về lời hát), Rio de Janeiro, Braxin- Brazil

.*Festival « La Semaine du Son » (Đại hội tuần lễ âm thanh), Châlon sur Saône, Pháp – France

*International Seminar on Ca Trù (hội thảo quốc tế về Ca Trù ), Hà Nội, Việt Nam

*Festival international des Musiques Sacrées (Đại hội quốc tế nhạc tôn giáo), Fribourg, Thụy Sĩ – Switzerland.

*5th International Jew’s Harp Festival (Đại hội quốc tế Đàn môi lần thứ 5), Amsterdam, Hà Lan – the Netherlands

*MELA Festival (Đại hội quốc tế nhạc thế giới), Oslo, Na Uy – Norway

*International Meeting of the ICTM (Hội thảo quốc tế ICTM), Ljubliana, Slovenia

*International Congress of Applied Ethnomusicology (Hội nghị quốc tế về dân tộc nhạc học áp dụng ), Ljubljana, Slovenia

.*International Symposium of Voice (Hội nghị quốc tế về Giọng), Stuttgart, Đức – Germany

*International Meeting “Music as Memory” (Hội thảo quốc tế “Nhạc như là Trí Nhớ), Oslo, Na Uy – Norway.

*The Global Forum on Civilization and Peace (Hội thảo về văn minh và hòa bình), Seoul, Đại Hàn – Republic of Korea.

2007 *“Bilan du film ethnographique” (Đại hội liên hoan phim nghiên cứu), Paris, France (march)

*“Voice Festival / 9th session of the ILV/ CETC”, (đại hội liên hoan về giọng) Buenos Aires, Argentina (march)

*“Symposium on music therapy”, (hội thảo về âm nhạc điều trị học) Sao Paulo, Brazil (april)

*“Bergen International Music OI OI Festival”, (Đại hội liên hoan quốc tế tại Bergen) Bergen, Norway (may-june)

*“Homage to Demetrio Stratos” (Lễ hội kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

*“39th World conference of the ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM), Vienna, Austria (july)

*“PEVOC 7 – International Congress on Voice”, (PEVOC , hội nghị quốc tế về Giọng) Groningen, the Netherlands (august)

*“International Doromb Jew’s Harp Festival” (đại hội liên hoan quốc tế về đàn môi), Hungary (september)

2008 *“A Week of Sound Festival, Lyon”, (Đại hội liên hoan một tuần về âm thanh) France (january)

*“Unesco Congress of World Heritage”(Hội nghị UNESCO về di sản thế giới), Canberra, Australia (February “

*“Giving Voice” (Đại hội liên hoan về Giọng), Aberystwith, New Wales (march)

*“Bergen International Music OI OI Festival”( đại hội liên hoan quốc tế về nhạc tại Bergen) Bergen, Norway (may/june)

*“Homage to Demetrio Stratos” (đại hội nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

* »A Voix Haute » Festival, (đại hội liên hoan về giọng hát) Bagnères de Bigorre, France (august)

*“MELA music festival” (Đại hội liên hoan quốc tế nhạc dân tộc MELA) , Oslo, Norway (august)

*“International Voice Festival” (Đại hội liên hoan giọng hát quốc tế), Dresden, Germany (september)

2009 *“Voice Festival” (đại hội liên hoan về Giọng), Switzerland (may)

*“Homage to Demetrio Stratos” (đại hội nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

*“40th World conference of the ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM), Durban, South Africa (july)

*“International Congress of Voice Teachers”(hội nghị quốc tế các giáo sư dạy giọng), Paris, France (july)

*“MELA Music Festival” (đại hội liên hoan nhạc dân tộc quốc tế MELA), Oslo, Norway (august)

2010 *“Homage to Demetrio Stratos” (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

 *“International of Sound” (đại hội liên hoan âm thanh quốc tế), Saint John’s, Canada (july)

*“ICTM 2 study groups meeting”j hội thảo ICTM về nhạc sắc tộc và dân tộc nhạc học ứng dụng) , Hanoi , Vietnam (july)

*“Vietnamese Guiness Record Ceremony” (Lễ trao giải kỷ lục Việt Nam), Ho Chi Minh city, Vietnam, (december)

2011 *“International Symposium on Don Ca tai tu Nam bo”(hội thảo quốc tế về đờn ca tài tử nam bộ), Ho Chi Minh city (January)

*“International colloquial about 400 years of the birth of Phu Yen city” (hội thảo quốc tế về 400 năm thành phố Phú Yên được sinh ra ), Phu Yên, Vietnam (april)

*“Le Vietnam à Lorient”, (Việt Nam tại tỉnh Lorient , Pháp) Lorient, France (may)

*“World Jew’s Harp Festival” (Đại hội liên hoan đàn môi thế giới )in Yakutsk, Yakutia (june)

*“Homage to Demetrio Stratos”( đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

*“International Festival of Mediterranean Music” (đại hội liên hoan quốc tế nhạc địa trung hải), Genova, Italy (july)

*“41stWorld Conference ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM) in Saint John’s , Canada (july)

*“World Symposium of Choral Music” (hội thảo thế giới nhạc hợp xướng), Puerto Madryn, Argentina (august)

*“Spring Festival of South African Music” (đại hội liên hoan mùa xuân nhạc Nam Phi), Fort Hare, South Africa (september)

 *“International Festival of Humour and Music” (đại hội liên hoan hài hước và nhạc) , Stavanger, Norway (september)

*“Peace Festival” (đại hội liên hoan về hòa bình), Wroclaw, Poland (october)

*“30th International Ethnographical Film Festival” (đại hội liên hoan phim ảnh nghiên cứu quốc tế), Paris, (november)

 *“International Conference of Arirang” (hội nghị quốc tế về bản nhạc dân ca Arirang), Seoul, Korea (December

)2012 *Festival d’Auch (đại hội liên hoan về giọng tại tỉnh Auch), Auch, France (april)

*Festival Music Night (đại hội liên hoan nhạc ban đêm), Munich, Germany (april)

2013 *Festival de la Voix (đại hội liên hoan về giọng) Colombes, France (may)

*42nd ICTM WORLD CONFERENCE (hội nghị quốc tế ICTM) , Shang Hai , China (july)

 *Festival Les Nuits du Monde “Vietnam Style” (đại hội liên hoan Đêm thế giới), Geneva, Switzerland (November)

 *Exhibition VOICE – « Voices of the World » (triển lãm GIỌNG – Giọng của thế giới), City of Sciences, Paris, France (december 2013 – september 2014)

*Congress “Biomedical Signal Processing & Control (Elsevier) devoted to the workshop MAVEBA (hội y khoa về Giọng), Florence, Italy (december)

*World Marranzano Festival (đại hội liên hoan thế giới đàn môi) , Catania, Sicily, Italy (december)

2014 *Festival “Pauses Musicales” (đại hội liên hoan giải lao âm nhạc), Toulouse, France (February)

*“Promenade Vietnam” (Đi dạo Việt Nam), City of Music, Paris, France (march)

*International Conference “Safeguarding & Promotion of Folk Songs in the Contemporary Society” (hội nghị quốc tế về bảo vệ và quảng bá dân ca trong xã hội đương đại), Vinh city, province of Nghệ An, Vietnam (may)

*Ancient Trance Festival – Jew’s harp world festival, (đaị hội liên đàn môi thế giới) Taucha, Germany (august)

*10 Internationale Stuttgarter Stimmtage, (hội thảo quốc tề về goịng) Stuttgart, Germany (october)

 *Opening ceremony of the World Vocal Clinic / Deutsche Stimmklinik (lễ khai mạc về giọng khía cạnh y khoa), Hamburg, Germany (october)

*Festival « Il teatro vivo », (đại hội liên hoan nhà hát linh động) Bergamo, Italy (november)

2015 *Omaggio a Demetrio Stratos (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone, Italy (june)

*43rdICTM World Conference (hội nghị quốc tế ICTM) , Astana, Kazakhstan (july)

 *Festival of Hát Then Nùng Thái (đại hội liên hoan hát then nùng thái), Việt Bắc , Vietnam (september)

*Convegne, Concerti e master class dedicati al « canto sardo e canto armonico nel mondo » (hội thảo, khóa dạy hát đồng song thanh”, Sorso , Sardinia, Italy (october)

2016 *Festival of Chầu Văn (Vietnamese music of possession ) (đại hội liên hoan chầu văn), Nam Định, Vietnam (january)

*Voice Encounters : Voice Pedagogy, (Cuộc gặp gỡ về giọng – sư phạm giọng) Wroclaw, Poland (april)

*International Meeting A GRAN VOCE (gặp gỡ quốc tế về giọng) , Vicenza , Italy (may)

*Omaggio a Demetrio Stratos 2016 (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone, Italy (june)

*Ancient Trance Festival , (đại hội liên hoan nhạc dân tộc)Taucha, Germany (August)

*12th international Voice Symposium « BRAIN & VOICE » (hội thảo quốc tế về gịong ), Salzburg , Austria (august)

2017 *44th ICTM World Conference (hội nghị quốc tế ICTM), Limerick, Ireland (july)

*Congress “Voci e Soni “Di Dentro e Di Fuori” (hội nghị về Giọng và Âm thanh), Padova, Italy (october)

 *Congress La Voce Artistica (hội nghị về Giọng nghệ thuật) 2017 XI edìtion, Ravenna, Italy (october)

2018“ Fontefina Festival  (đại hội nhạc dân gian ), Folignano, Italy (july)

2019 *10th Marranzano World Festival (đại hội thế giối đàn môi), Catania, Italy (June)

*45th ICTM World Conference ( hội nghị quốc tế ICTM), Bangkok, Thailand (July)

*29th Festivale Musicale del Mediterraneo (đại hội liên hoan quốc tế nhạc địa trung hải), Genova, Ialy (September)

*Umbria in Voce 5 (đại hội liên hoan về giọng), Gubbio, Italy (November)

2020 * La Voce Harmonica (đại hội liên hoan giọng bồi âm), Gubbio, Italy (February)s

Tôi đã sáng tạo một số kỹ thuật mới cho muỗng được thấy ở Việt Nam vào cuối thập niên 40 (gần 70 năm).Ngoài ra tôi khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh từ năm 1969 và hiện nay được xem như chuyên gia có được nhiều giới nghiên cứu về dân tộc nhạc học, âm thanh học, nhạc đương đại, y học biết tới khắp nơi trên thế giới .

Tôi đã thể nghiệm nhiều loại nhạc với tư cách nhạc sĩ. Tôi đã từng chơi nhạc Free Jazz với nhóm Alain Brunet Quartet), nhạc pop, nhạc điện thanh (electro- acoustical music) qua bài Về Nguồn (soạn chung với Nguyễn Văn Tường được trình bày lần đầu tiên năm 1975 tai Champigny sur Marne, Pháp), nhạc tùy hứng (hợp tác với Arlette Bon vũ sư đương đại năm 1972, với Muriel Jaer, vũ sư đương đại nhiều năm từ 1973 tới 1980, qua bài Shaman với Misha Lobko vào năm 1982, Paris).

Tôi đã cộng tác trình diễn trong các dĩa CD như với Philip Peris (tôi chơi đàn môi và hát đồng song thanh hòa với kèn thổ dân Úc didjeridu năm 1997), với các nhạc sĩ đàn môi qua hai CD về đàn môi năm 1999 và một CD đàn môi với John Wright, Leo Tadagawa và Svein Westad năm 2000. Dĩa VIETNAM / TRAN QUANG HAI & BACH YEN do hãng SM Studio sản xuất tại Paris năm 1983 đã đưọc giải thưỏng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1983, và dĩa LES VOIX DU MONDE do hãng Le Chant Du Monde sản xuất năm 1996 tại Paris cũng được giải thưởng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1996.

Hội Viên các hội nghiên cứu

• Society for Ethnomusicology (Hội Dân tộc nhạc học), Hoa Kỳ, từ 1969

• Asian Music Society (Hội Nhạc Á châu), Hoa Kỳ, từ 1978

• ICTM (Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống), Hoa Kỳ, từ 1976(đưọc bầu làm thành viên của ủy ban chấp hành – member of the Executive Board từ 2005-2017)

• Société Internationale de Musicologie (Hôi quốc tế nhạc học), Thụy Sĩ, từ 1977

• International Association of Sound Archives (IASA) (Hội quốc tế âm thang viện), Úc châu từ 1978

• Association of the Foundation of Voice (Hội về Giọng), Hoa Kỳ từ 1997

• Société de Musicologie (Hội nhạc học), Pháp, từ 1980

• Société Francaise d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Pháp) từ 1985 (sáng lập viên)

• CIMCIM (Unesco) từ 1983

• Séminaire Européen d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Âu châu), Thụy Sĩ , từ 1983

.• Association Francaise d’Archives sonores (Hội âm thanh viện Pháp) từ 1979

• Centre d’Etudes de Musique Orientale (Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương), Paris, từ 1962 (giáo sư của trung tâm từ 1970 tới 1975)

• Centre d’Etudes Vietnamiennes (Trung tâm nghiên cứu Việt học), Pháp ,từ 1987

• Association Francaise de Recherche sur l’Asie du Sud-Est (Hội nghiên cứu Đông Nam Á Pháp), Pháp từ 1986.

• Société des Auteurs , Compositeurs et Editeurs de la Musique (SACEM) , Pháp, từ 1980

• International Center of Khoomei (Trung tâm quốc tế Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga từ 1995.

• International Jew’s Harp Society (Hội quốc tế Đàn Môi) , Áo quốc, từ 1998 (sáng lập viên)

• Scientific Association of Vietnamese Professionals (Hội khoa học chuyên gia Việt Nam) (hội viên danh dự) , Canada từ 1992.

• Vietnamese Institute for Musicology (Viện Âm nhạc Hà nội), Việt Nam từ 2004, (hội viên danh dự)

• American Biographical Institute and Research Association (ABIRA) , Hoa kỳ, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)

• International Biographical Association (IBA), Anh quốc, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)

• Encyclopaedia Universalis Tự điển, Pháp, từ 1985 (cố vấn cho giải thưởng Diderot)

• American Order of Excellency, Hoa Kỳ, từ năm 1998 (sáng lập viên)

• World Wide Library, Hoa Kỳ (thành viên)

.• Vietnamese Public Library of Knowledge (ViPLOK) (founding member of the editorial board), Hoa Kỳ từ 2006.

NHỮNG QUYỂN SÁCH CÓ TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI

Sau đây là những quyển tiểu sử Who’s Who và các quyển sách khác có đăng tiểu sử của tôi :

• Dictionary of International Biography, ấn bản thứ 15, Anh quốc

• Men of Achievement, ấn bản thứ 5, 6, và 7, Anh quốc

• International Who’s Who in Music, từ ấn bản thứ 8 cho tới hiện nay (2020), Anh quốc

• Who’s Who in Europe, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc

• Men and Women in Distinction, ấn bản thứ 1 và 2, Anh quốc

• International Register of Profiles, ấn bản thứ 4 và 5 , Anh quốc .

• International Who’s Who of Intellectuals, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc

• The First Five Hundred, ấn bản thứ nhất, Anh quốc

• Who’s Who in the World, từ ấn bản thứ 5 tới nay (2020), Hoa Kỳ

• 5,000 Personalities in the World, ấn bản thứ nhất, Hoa kỳ

• International Directory of Distinguished Leadership, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• International Book of Honor, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• Who’s Who in Entertainment, ấn bản thứ 3, Anh quốc

• Who’s who in France, từ ấn bản thứ 29 tới nay (2020), Pháp

• Nouvelle Dictionnaire Européen, từ ấn bản thứ 5 tới ấn bản thứ 9, Bỉ•

Who’s Who in International Art, ấn bản thứ nhất, Thụy Sĩ

• Vẻ Vang Dân Việt – The Pride of the Vietnamese, quyển 1, ấn bản thứ 1 và 2, Hoa Kỳ

• Fils et Filles du Viet Nam , ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• Tuyển tập nghệ sĩ (Selection of Artists), quyển 1, Canada

• Guide du Show Business, từ 1986 tới nay (2020), Pháp

• The Europe 500 Leaders for the New Century, Barons Who’s Who, Hoa Kỳ

• QUID, từ 2000 tới (2017) , Pháp

• 500 Great Minds of the Early 21st Century, Bibliotheque World Wide, Hoa Kỳ

• Officiel Planète,từ năm 2000 tới nay (2020), nhà xuất bản IRMA, Pháp

NHỮNG GIẢI THƯỞNG

• 1983 : Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn Lâm viện dĩa hát Charles Cros) cho dĩa hát “Viet Nam / Tran Quang Hai & Bach Yen” do hãng SM Studio sản xuất tại Paris, Pháp

• 1986 : Médaille d’Or (Huy chương vàng) của Hàn lâm viện văn hóa Á châu, Paris, Pháp

• 1987 : D.MUS (Hon) (tiến sĩ danh dự) của International University Foundation, Hoa Kỳ

.• 1988 : International Order of Merit của International Biographical Centre, Cambridge, Anh quốc.

• 1989 : Ph.D.(HON) (Tiến sĩ danh dự) của Albert Einstein International Academy Foundation, Hoa Kỳ

• 1990 : Grand Prix du Festival International du Film Anthropologique et Visuel (Giải thưởng tối cao của đại hội quốc tế phim nhân chủng và hình ảnh) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do tôi là tác giả, diễn viên chánh và viết nhạc cho phim, Parnü, Estonia.

• 1990 : Prix du Meilleur Film Ethnomusicologique (Giải thưỏng phim hay nhất về dân tộc nhạc học) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do Hàn lâm viện khoa học cấp, Parnü, Estonia

• 1990 : Prix Spécial de la Recherche (Giải thuởng đặc biệt về nghiên cứu) của Đại hội quốc tế điện ảnh khoa học dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Palaiseau, Pháp.

• 1991 : Grand Prix Northern Telecom (Giải thưởng tối cao Northern Telecom) của Đại hội quốc tế Phim khoa học lần thứ nhì của Québec dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Montréal, Canada .

• 1991 : Prix Van Laurens (Giải thưởng Van Laurens) của British Association of the Voice và Ferens Institute của London tặng cho bài tham luận của tôi mang tên là “Discovery of overtone singing” (Khám phá hát đồng song thanh), London, Anh quốc .

• 1991 : Alfred Nobel Medal (Huy chương Alfred Nobel)của Albert Einstein Academy Foundation, Hoa Kỳ

• 1991 : Grand Ambassador (Huy chương Đại sứ lớn) của American Biographical Institute, Hoa kỳ

• 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do American Biographical Institute tặng, Hoa kỳ

• 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do International Biographical Centre tặng, Cambridge, Anh quốc.

• 1994 : Men of the Year (Người của Năm 1994) do American Biographical Institute tặng , Hoa kỳ

• 1994 : Gold Record of Achievement (Kỷ lục vàng về thành đạt) do American Biographical Institute tặng, Hoa Kỳ

• 1995 : Giải thưởng đặc biệt về hát đồng song thanh tại Đại hội liên hoan hát đồng song thanh, Kyzyl, Tuva, Nga

• 1996 : Médaille de Cristal (Huy chương thủy tinh) do Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học tặng cho 25 năm nghiên cứu hát đồng song thanh, Pháp

• 1997 : Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn lâm viện Charles Cros) cho dĩa hát “Voix du Monde » (Giọng Thế giới), Pháp

.• 1997 : Diapason d’Or de l’Année 1997 (Dĩa vàng năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp

• 1997 : CHOC de l’année 1997 (Ấn tượng mạnh nhất trong năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp

• 1998 : Médaille d’Honneur (Huy chương danh dự dành cho công dân danh dự) của thành phố Limeil Brévannes (nơi tôi cư ngụ), Pháp

.• 1998 : Giải thưởng đặc biệt của Đại hội thế giới về Đàn Môi, Molln, Áo quốc

• 2002 : Chevalier de la Légion d’Honneur (Hiệp sĩ Bắc đẩu bội tinh), huy chương tối cao của Pháp, Pháp .

• 2009 : Huy chương lao động hạng đại kim (Médaille du Travail, catégorie Grand Or), bộ lao động Pháp

.• 2015 : Bằng cấp danh dự của Viện Bảo tàng đàn môi, Yakutsk, xứ Yakutia

• 2017 : Huy chương sáng lập viên hội dân tộc nhạc học Pháp, Paris, Pháp

SÁCH DO TRẦN QUANG HẢI VIẾT

• Biên Khảo Nhạc Việt Nam , nhà xuất bản Bắc Đẩu, 362 trang , 1989, Paris, Pháp

• Musiques du Monde (Nhạc thế giới) : với sự hợp tác của Michel Asselineau và Eugène Bérel, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1993, Courlay, Pháp• Musics of the World (Nhạc thế giới) : nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1994, Courlay, Pháp . Bản dịch tiếng Đức được xuất bản năm 1996, bản dịch tiếng Tây Ban Nha xuất bản năm 1998.• Musiques et Danses Traditionnelles d’Europe (Nhạc và vũ truyền thống Âu châu) : với sự hợp tác của Michel Asselineau, Eugène Bérel và FAMDT, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 380 trang, 2 CD, 1996, Courlay, Pháp

*TRẦN QUANG HẢI : 50 năm nghiên cứu nhạc Việt dân tộc, nhà xuất bản Nhân văn nghệ thuật, California, Hoa Kỳ,  462 trang, 2019

*TRẦN QUANG HẢI : 50 years of research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing, nhà xuất bản Nhân Văn Nghệ thuật, California, Hoa Ky , 414 trang, 2019

.DVD do TRẦN QUANG HẢI biên soạn

• Le Chant Diphonique, (Hát đồng song thanh) 27 phút, với 2 bản (tiếng Pháp và tiếng Anh), nhà xuất bản CRDP của đảo Réunion, 2004. Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Luc Souvet

*HAI : parcours d’un musicien vietnamien (HẢI : hành trính của một nhạc sĩ Việt Nam), đạo diễn Pierre Ravach, , phim video 52 phút , máu, Bruxelles, Bỉ, 2005

• Le Chant des Harmoniques (Bài hát bồi âm), 38 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2005, Meudon, Pháp . Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Hugo Zemp• The Song of Harmonics, (Bài hát bồi âm) 38 phút , bản tiếng Anh, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2006, Meudon, Pháp. Đồng tác giả : Trần quang Hải và Hugo Zemp

• Thèm’Axe 2 LA VOIX (Giọng), 110 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản Lugdivine, Lyon, 2006 . Tác giả : Patrick Kersalé với sự hợp tác của Trần Quang Hải

*Variations sur la musique vietnamienne par Tran Quang Hai & Bach Yen (Những biến thể về nhạc Việt với Trần Quang Hải & Bạch Yến, đạo diễn Bùi Xuân Quang , sản xuất Productions Paris Vietnam, 52 phút,  Paris, 2009

.NHỮNG BIẾN CỐ QUAN TRỌNG TRÊN THẾ GIỚI

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên tham gia trình diễn tại những biến cố lịch sử quan trọng trên thế giới

• 1988 : 200 năm thành lập xứ Úc

• 1989 : 200 năm Cách mạng Pháp

• 1991 : 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ

• 1992 : 350 năm thành lập thành phố Montréal, Canada

• 1992 : 500 năm khám phá Mỹ châu của Chritophe Colombus

• 1994 : 600 năm thành lập thủ đô Seoul, Đại Hàn

• 1996 : 50 năm vua Thái Lan trị via

• 2000 : 100 năm thành lập âm thanh viện Berlin, Đức

• 2004 : Genova , thành phố văn hóa Âu châu, Ý

• 2004 : Lille , thành phố văn hóa Âu châu, Pháp

• 2005 : 100 năm xứ Na Uy được độc lập .

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam tham gia nhiều nhất Ngày Lễ Âm nhạc do Pháp đề xướng từ lúc đầu tiên vào năm 1982, rồi năm 1984, 1985 , 1987, 1989 tại Paris, rồi năm 1991 tại đảo La Réunion, rồi năm 2000, 2001 tại Paris, năm 2002 tại Beirut (Lebanon)

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đàn nhạc phim của các nhà viết nhạc phim của Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit , và trình diễn những nhạc phẩm đương đại của các nhà soạn nhạc như Nguyễn Văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard.

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3.500 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 quốc gia từ năm 1966, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8.000 người theo học hát đồng song thanh .

Liên lạc : TRẦN QUANG HẢI điện thoại di động :+33 (0)6 50 25 73 67

email: tranquanghai@gmail.com

trang nhà : https://tranquanghai.com

địa chỉ: 12 RUE GUTENBERG , 94450 LIMEIL BREVANNES, FRANCE

STEPHANE LAGARDE : Tran Quang Hai, 52 ans, ethnomusicologue, est son propre cobaye pour ses recherches sur la voix. L’empire des sons, Journal LIBERATION 10.10.1996


Portrait

Tran Quang Hai, 52 ans, ethnomusicologue, est son propre cobaye pour ses recherches sur la voix. L’empire des sons.

Par Stéphane LAGARDE

Tout commence par un embouteillage. «Je chantais coincé sur le

périph’ lorsque, tout à coup, en prononçant la lettre L, j’ai entendu un sifflement. J’ai couru à la maison et je me suis enregistré.» Tran Quang Hai ­ Océan illuminant ­ n’a rien d’un illuminé. Pourtant, quand en 1971 il perce le mystère des voix mongoles, ses collègues chercheurs s’étonnent. La technique a de quoi surprendre: elle permet à l’interprète de produire deux sons en même temps à des niveaux différents.

Tran est depuis vingt-six ans son propre sujet de recherche. De concert en colloque, son chant enchante le monde entier. L’an passé, au Tuva, il a obtenu non sans fierté la carte de membre du Khoomei, distinction réservée aux chanteurs de gorge professionnels. «Si vous trouvez quelqu’un qui chante mieux que moi, dites-le, on fera un duo.» Passé maître du chant triphonique, Tran fredonne la Neuvième de Beethoven d’un seul souffle. Debout, le corps tendu, la tête en arrière, tout son être se met à vibrer. Un son échappe, venu de nulle part. C’est l’Hymne à la joie! Les visiteurs n’en reviennent pas: «Ce type est une chorale à lui tout seul!» Deux harmoniques sur une base fondamentale, soit trois voix en une seule gorge. Cela valait bien une médaille.

Dans son petit bureau saturé d’appareils de mesure, Tran ne participe guère au branle-bas qui agite le musée de l’Homme depuis la décision présidentielle de transférer certains objets au Louvre. Juste le temps pour un état des lieux furieux sur le manque de moyens, le manque d’envie d’un musée sans subventions. Les huit mille instruments de la réserve d’ethnomusicologie, recouverts de plastique, le désolent. Il plaisante en imitant le timbre métallique du synthétiseur. C’est lui qui doublait Nono le petit robot dans le dessin animé japonais des années 80. «Je dois mon talent au travail et à mes ancêtres.» Avec un arrière-arrière-grand-père musicien de cour, un grand-père joueur de luth et un père vice-président du Conseil international de musique à l’Unesco, on a la musique dans la peau. Sa fille chante à deux voix depuis l’âge de 5 ans. Auteur de plusieurs disques à la vièle chinoise, à la cithare vietnamienne ou encore à la vina indienne, il compose également pour le cinéma.

Les enregistrements qu’il archive au musée de l’Homme servent de base à sa recherche: «Je préfère le travail de bureau aux grands espaces.» Quand l’émission Envoyé spécial lui propose une semaine de tournage en Mongolie, il refuse. L’aventure est ailleurs. A Paris, par exemple, lorsqu’il expose ses cordes vocales aux rayons X pendant 10 minutes. La science réclame du concret, et la radiographie permet de constater directement les effets de son travail. Le résultat est probant (le Chant des harmoniques, un film plusieurs fois primé), mais pas sans danger. «C’est l’équivalent de 6 000 radios des poumons. Je sacrifie ma vie à mes recherches, heureusement Dieu est là.» Quand Tran chante, il ferme les yeux. Et il chante partout: en voiture, sous la douche, au bureau. Ses collègues admirent ce regard intérieur, «cette force de concentration que n’ont pas les Occidentaux».

Quand on lui parle de sérénité, il sourit. Se rallume une beedie, bredouille deux trois trucs sur les arts martiaux et reparle musique. Avec les années, sa voix est devenue plus grave. Il a commencé baryton, désormais il se consacre à l’étude du chant des moines tibétains. Le «O» de la prière, la fameuse harmonique n$10 qui demande tellement de travail et n’a rien à voir avec le «snobisme» des club de zen pour stressés occidentaux. Il en fait la preuve. Sur le sonographe, Tran voit sa voix, elle oscille entre 35 (très grave) et 2 000 Hz (aigu). Le «O» moyen est de 185 Hz, on est loin de l’harmonie universelle.

Hors du CNRS, le chercheur devient médecin. De gentil docteur Jekyll, il se transforme en un Mister Hyde doux rêveur. Tran veut changer la vie par le chant. Une voix dans tous ses éclats, utilisée jusqu’à l’accouchement sans douleur. A l’écouter, les problèmes conjugaux sont solvables dans l’air. Il conseille le «faux baiser de Rodin» aux couples en péril: les amants enlacés se font face, bouche à bouche. Pendant que l’un chante, l’autre remue les lèvres et produit la mélodie. Il s’amuse: «30% des disputes peuvent être résolus par cette méthode.» Il songe même à repeupler l’Europe.

Mais derrière le côté savant fou se dissimule l’humoriste. Physique d’opérette, ventre rond et grande bouche, il peut jouer Pop Corn avec n’importe quel instrument traditionnel. «Je suis le virtuose de la guimbarde, lance-t-il, fier de son effet. Je fais de la musique comme d’autres de la cuisine, en mélangeant les ingrédients.» Un opéra bouffe revendiqué sérieux. Avec des élèves du bac option musique, il monte un orchestre de 100 cuillères et décroche le titre de professeur au Conservatoire. La cuillère à café comme la louche deviennent de véritables instruments rythmiques et mélodiques. D’ailleurs la mélodie est partout, y compris dans les langues. Il en parle une dizaine, reproduit leurs intonations, parfois sans les comprendre. Car depuis l’en- fance, Tran jalouse les imitateurs. Il les connaît tous, de Le Luron à Leeb, en passant par «ce Canadien formidable qui imite 120 personnes dans son spectacle.» Modeste, il déclare: «Je ne peux pas chanter comme France Gall, mais j’arrive à reproduire les accents de l’opéra de Pékin.» Dans le bruit et la fureur du monde, Tran Quang Hai reprend le chant des autres avec enthousiasme. Son bras bat la mesure, il entonne Marinella de Tino Rossi, suivi d’un jodel des montagnes suisses. Les Voix du monde, une anthologie des expressions vocales à laquelle il a collaboré, sortira fin septembre.

Un vaste chant des possibles reste encore à explorer. Dans son laboratoire, Tran se met à rêver: «Mon prochain but, jusqu’à ma mort, c’est de chanter à quatre voix.» Il a bon espoir. Le petit homme sait que, comme le cygne, on ne meurt pas en chantant.

photo LAURENT MONLAÜ Tran Quang Hai en 6 dates 1944 Naissance à Linh Dông Xa, au Viêt-nam 1968 Intègre le départe-ment ethno-musicologie du musée de l’Homme 1984 Rencontre du chanteur mongol Sundui, qu’il considère comme son maître 1989 Sortie du film le Chant des harmoniques 1995 Président du jury d’un festival de chant au Tuva 1996 Reçoit la médaille de cristal du CNRS.

Stéphane LAGARDE

LỜI NGỎ CỦA TRẦN QUANG HẢI nhân dịp lễ tổ chức sinh nhựt thứ 99 của cố GS TRẦN VĂN KHÊ tại VIỆT NAM 24.07.2020


LỜI NGỎ CỦA TRẦN QUANG HẢI nhân dịp lễ tổ chức sinh nhựt thứ 99 của cố GS TRẦN VĂN KHÊ tại VIỆT NAM 24.07.2020

Kính chào quý vị ban tổ chức và quan khách,

Tôi tên là TRẦN QUANG HẢI, trưởng nam của cố GS TRẦN VĂN KHÊ, xin thành thật cám ơn ban lãnh đạo trường đại học VĂN LANG, chị THẾ THANH, chị KIM CƯƠNG, anh NGUYỄN ĐẮC XUÂN, chú BÁ THÙY và cô HỶ KHƯƠNG , anh NGUYỄN NHÃ, anh LÊ QUỐC ÂN, các em SĨ HOÀNG, HUỲNH KHẢI , THANH HIỆP và cháu NGỌC HÂN đã tận tình tổ chức ngày sinh nhựt lần thứ 99 của thân phụ tôi đã quá vãng 5 năm nay.

Vì  đang điều trị bịnh ung thư máu , bịnh tiểu đường khá nặng và bịnh suy thận, thêm vào đó bịnh dịch COVID-19 lan tràn khắp thế giới tôi không thể trở về Việt Nam để tham dự chương trình này.

Tôi trân trọng chúc buổi lễ thành công như ý và tin rằng thân phụ tôi sẽ ngậm cười nơi chín suối trước tấm lòng  ưu ái của những người bạn còn thương nhớ thân phụ tôi.

Nay kính

TRẦN QUANG HẢI

TRẦN QUANG HẢI & TRẦN VĂN KHÊ
TRẦN QUANG HẢI (23.07.2020)

HAPPY BIRTHDAY TO BACH YEN MY BELOVED WIFE (09.06.2020)


 

What do you want to do ?

New mailCopy

HAPPY BIRTHDAY TO BACH YEN MY BELOVED WIFE (09.06.2020)

HAPPY BIRTHDAY TO BACH YEN MY BELOVED WIFE

WITH JOY AND HAPPINESS during her special day 09.06.2020

JOYEUX ANNIVERSAIRE À MA BIEN AIMEE BACH YEN

QUE CETTE JOURNEE SPECIALE LUI APPORTE JOIE ET BONHEUR 09.06.2020

Một bài thơ con cóc tặng người vợ đã chung sức với tôi trên 40 năm qua

Hôm nay mừng đón ngày sinh

Của người vợ quý mà mình cưng thương

Một ngày hạnh phúc yêu đương

Vợ chồng sát cánh trên đường dân ca.

Limeil Brevannes 09.06.2020

Trần Quang Hải

TRƯỜNG VŨ trổ tài nấu món Triều Châu | Món ngon nhà làm


What do you want to do ?

New mailCopy

TRƯỜNG VŨ trổ tài nấu món Triều Châu | Món ngon nhà làm

854,961 views
Premiered Mar 10, 2020

10K 442 Share

TRƯỜNG VŨ TRỔ TÀI NẤU MÓN TRIỀU CHÂU | MÓN NGON NHÀ LÀM #truongvu #truongvusinger #monngonnhalam *** Đăng ký kênh để đón xem những video mới nhất từ Trường Vũ nhé! Chúc tất cả các bạn luôn vui, khỏe và an lành!

 

Trương Như Bá – Kyluc.vn: Đặng Văn Khai Nguyên – Người kế vị “vua đàn môi” Việt Nam


 

What do you want to do ?

New mailCopy

Đặng Văn Khai Nguyên – Người kế vị “vua đàn môi” Việt Nam

12-08-2016

(Vietkings) Mới ngoài 20 tuổi Đặng Văn Khai Nguyên đã chơi được 25 loại Đàn môi, sở hữu 600 chiếc Đàn môi và đi biểu diễn loại đàn này ở nhiều nơi trong nước và châu Âu. Anh là học trò xuất sắc của GS.TS.Trần Quang Hải – người được tôn vinh là “vua muỗng” và “vua Đàn môi” của Việt Nam. Khai Nguyên được xem là người kế vị xuất sắc của GS.TS.Trần Quang Hải.

Qua e-mail GS.TS Trần Quang Hải từ Pháp với nội dung giới thiệu về một cậu học trò chơi đàn môi“Cậu Khai Nguyên năm nay 25 tuổi, là học trò đàn môi của tôi từ nhiều năm qua. Hiện Khai Nguyên chơi đàn môi giỏi hơn tôi và đã trình diễn ở nhiều chương trình truyền hình Việt Nam từ năm 2015”, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã tiếp nhận hồ sơ, xem xét, thẩm định và chính thức công bố xác lập kỷ lục Việt Nam đến chàng trai Đặng Văn Khai Nguyên.

Cổng Thông tin kỷ lục Việt Nam đã có cuộc trò chuyện cùng Khai Nguyên xung quanh chuyện sử dụng “chiếc Đàn tỏ tình” của các thanh niên dân tộc vùng cao Việt Nam này:

Chào anh, được biết anh là một trong số những môn sinh ưu tú về Đàn môi của GS.TS Trần Quang Hải, anh cho biết cơ duyên nào đã đưa anh đến với Thầy Hải và anh đã học “nghề” này trong bao lâu?

Đặng Văn Khai Nguyên: Cơ duyên đến với Đàn môi của tôi cũng rất tình cờ, khoảng 6 năm trước tôi được xem một chương trình Văn hoá nghệ thu�����t trên đài truyền hình, có giới thiệu GS.TS Trần Quang Hải từ Pháp về Việt Nam biểu diễn nghệ thuật Đàn môi và đánh muỗng, tôi rất ấn tượng những loại hình âm nhạc dân tộc độc và lạ này. Tôi tự tìm mua 2 cây Đàn môi H’mông đầu tiên để tập chơi và thời gian ngắn sau đó, tôi trực tiếp liên lạc qua email với GS.TS Trần Quang Hải để nhờ sự hướng dẫn chuyên môn và được ông hướng dẫn rất nhiệt tình, đồng thời nhận tôi làm học trò. Từ đó, hai thầy trò thường xuyên trao đổi với nhau qua email và các video clip hướng dẫn và thực hành, tính đến nay đã được 5 năm.

Màn biểu diễn đàn môi mang tên “Sơn ngôn” của Đặng Văn Khai Nguyên – Kỷ lục gia Việt Nam với kỷ lục Người chơi được nhiều loại đàn môi nhất.

Trước khi học Đàn môi, anh có học qua những loại Đàn nào chưa?

Đặng Văn Khai Nguyên:  Như đã nói ở trên, cái duyên đến với Đàn môi của tôi thật sự tình cờ, vì từ trước tôi không theo đuổi bất kỳ bộ môn nghệ thuật nào cũng như chơi một loại nhạc cụ nào khác.

Hiện nay anh chơi được tất cả bao nhiêu loại Đàn môi?

Đặng Văn Khai Nguyên: Hiện tại tôi chơi được hơn 25 loại Đàn môi của Việt Nam và trên thế giới, tiêu biểu nhất là Đàn môi H’mông Việt Nam, Đàn môi Morchang của Ấn Độ, Khomus của Yakutia-Nga, Karinding của Indonesia, Maranzano của Italia…

Vậy theo anh Đàn môi nào khó chơi nhất? Đàn nào là dễ chơi nhất?

Đặng Văn Khai Nguyên: Theo đánh giá chung của những người chơi Đàn môi thì Đàn môi đồng Kou Xiang của Trung Quốc là loại khó chơi nhất, ngoài ra còn có Đàn môi tre. Còn loại Đàn dễ chơi nhất có lẽ là Đàn môi H’mông Việt Nam, loại Đàn này nhỏ gọn, đặt lên miệng khảy là có thể tạo ra âm thanh, rất dễ tập chơi.

Vậy trước đây, Đàn môi chủ yếu được dùng như một phương tiện tỏ tình của các chàng trai cô gái ở vùng cao, thì ngày nay loại nhạc cụ này được sử dụng như thế nào?

Đặng Văn Khai Nguyên:  Hiện nay một số nhạc sĩ, nghệ sĩ chuyên nghiệp dùng Đàn môi để độc tấu hay hòa tấu với những nhạc cụ khác, ứng dụng Đàn môi trong âm nhạc điện tử, lồng tiếng, nhạc nền cho phim..sử dụng Đàn môi đang dần phổ biến hơn trước.

GS.TS Trần Quang Hải và trò cưng (Ảnh FB)

Đàn môi thường hòa tấu với các loại nhạc cụ nào?           

Đặng Văn Khai Nguyên: Ở Việt Nam, những người nghệ sĩ đã chuyển hóa và làm mới âm thanh của Đàn môi qua việc kết hợp với những nhạc cụ dân tộc khác để tạo một giai điệu mới lạ, hấp dẫn. Còn trên thế giới thì từ lâu Đàn môi được trình diễn độc tấu, song tấu hay tập thể, ngoài ra còn kết hợp với những nhạc cụ hiện đại như: trống, piano, organ, violon, didgeridoo (một loại sáo châu Úc) Hang (trống làm bằng kim thép), Beatbox (trống miệng)…

Anh chơi Đàn môi theo bài bản có sẵn (của nhạc sĩ sáng tác) hay tự phát từ cảm hứng của mình?

Đặng Văn Khai Nguyên: Hiện nay tôi vẫn chưa tìm được một bản nhạc nào dành riêng cho Đàn môi, mà Đàn môi chỉ được kết hợp với một số những nhạc cụ khác để tạo nên một tác phẩm hoàn chỉnh.

Hiện tại anh có tất cả bao nhiêu loại Đàn môi trên thế giới?

Đặng Văn Khai Nguyên: Về số lượng Đàn môi, hiện tôi có 600 cây Đàn (gọi là “cây Đàn” nhưng thực ra cây Đàn lớn nhất chỉ chừng 2 gang tay và cây nhỏ nhất chỉ bằng ngón tay út hoặc nhỏ hơn nữa), trong đó có hơn 100 cây của 25 nước trên thế giới (trên tổng số 30 nước có Đàn môi).

 

Bộ sưu tập đàn môi của Khai Nguyên

 

Nguyên nhân nào đưa anh đến với khán giả nước ngoài ở Italia, Nga? Cảm xúc của họ như thế nào khi nghe anh biểu diễn?

Đặng Văn Khai Nguyên: Qua một số thông tin từ báo chí, tôi có cơ hội được tập luyện một số tiết mục có Đàn môi trong chương trình âm nhạc dân tộc Việt Nam ở sự kiện triển lãm thế giới Expo Milano 2015. Ngoài ra do có kỹ thuật chơi Đàn môi Khomus (Yakutia-Nga) theo đúng truyền thống người Yakutia nên tôi đã được mời góp mặt vào một số chương trình truyền hình và báo chí của đất nước Italia, Nga. Khi biểu diễn xong, những tràng pháo tay nồng nhiệt của khán giả đã nói lên tất cả tình cảm mà họ đối với tôi cũng như tiếng đàn môi.

Đặng Văn Khai Nguyên trong một lần biểu diễn đàn môi (Ảnh Internet)

Nắm vững những nguyên tắc kỹ thuật, nghệ thuật của Đàn môi, anh đã chế tạo ra những chiếc Đàn môi nào của riêng anh chưa?

Đặng Văn Khai Nguyên: Hiện tại tôi đã sáng tạo ra được các loại Đàn môi tre với đủ kỹ thuật chơi là “Khảy”, “Gõ” và “Giật dây”. Tôi là nghệ nhân Đàn môi đầu tiên trên thế giới sáng chế và thực hành thành công loại Đàn môi tre có từ 1 đến 4 lưỡi, ngoài ra còn tạo thêm một số loại Đàn môicó hai đầu (Đàn môi hai đầu với hai kỹ thuật chơi khác nhau) và Đàn môi tre bé bằng đầu đũa…Cũng xin nói thêm, vừa qua một Viện Bảo tàng chuyên Sưu tập các loại Đàn môi trên thế giới (đặt tại Nga) có lời mời tôi gửi vào Bảo tàng ấy một bộ Đàn môi tre do tôi sáng chế. Có lẽ trong năm nay, Bộ Đàn môi tre của tôi sẽ hiện diện ở một khu trưng bày nào đó của Bảo tàng này.

 

Khai Nguyên nhận bằng xác lập kỷ lục Việt Nam trong Hội ngộ Kỷ lục gia Việt Nam lần thứ 31

Cho biết cảm tưởng khi được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục: “Người chơi được nhiều loại Đàn môi nhất”?

Đặng Văn Khai Nguyên: Tôi thật sự vui mừng vì những cố gắng của mình trong việc sưu tầm, nghiên cứu và chơi được nhiều loại Đàn môi đã được cộng đồng người yêu nhạc, yêu văn hóa truyền thống Việt Nam biết đến. Xin chân thành cảm ơn người Thầy yêu quý của tôi là GS.TS Trần Quang Hải đã hướng dẫn, dìu dắt tôi để tôi có được ngày hôm nay. Cám ơn Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu, thẩm định để công nhận kỷ lục Việt Nam cho tôi với danh hiệu: “Người chơi được nhiều loại Đàn môi nhất”.

 

Cám ơn tài năng trẻ, chúc anh luôn vui khỏe và thành công trên bước đường nghệ thuật.

Clip Khai Nguyên biểu diễn đàn môi:

Trương Như Bá – Kyluc.vn

Trân Quang Hải : Một vài hình ảnh của Quái Kiệt Trần Văn Trạch , 2008


 

What do you want to do ?

New mailCopy

Trân Quang Hải : Một vài hình ảnh của Quái Kiệt Trần Văn Trạch , 2008

Một vài hình ảnh của Quái Kiệt Trần Văn Trạch

Hình ảnh
Trần Văn TrạchHình ảnhHình ảnh
Trần Văn Trạch & Bạch Yến , Saigon, 1963.Hình ảnh
Trần Văn Trạch & Hoàng Thi ThơHình ảnh
Trần Văn Trạch & Trần Quang Hải, Paris

Hình ảnh
Trần Văn Trạch hồi còn trẻ

Hình ảnh
Trần Văn Trạch & Đức Quỳnh, Saigon

 

Hình ảnh
Trần Quang Hải trước mộ Trần Văn Trạch, Valenton, 2003.

Tran Viet Hai: Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi.


Subject: Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi.Gia đình của nhạc sĩ Phạm Duy đã thông báo danh ca Thái Thanh, người được mệnh danh là Tiếng hát vượt thời gian, đã qua đời tại Mỹ vào lúc 11 giờ 20 ngày 17-3 (giờ địa phương). Hưởng thọ 86 tuổi.——————————————————————————–Also ref link:https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/tieng-hat-vuot-thoi-gian-danh-ca-thai-thanh-qua-doi-huong-tho-86-tuoi/————————————–Xin Thành Kính Chia Buồn cùng Tang Quyến.Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian: Trần Mạnh Chi, Pham Hồng Thái, Nguyên Hồng, Bùi Quỳnh Giao, Lâm Dung, Quốc Sĩ, Duy Nhật, Vương Trang, Ngọc Quỳnh, Minh Châu, Paul Phú, Mai Hương, Thanh Thanh, Henry, John Tạ, Ngọc Cường, Ngô Thiện Đức, Ngọc Tú, Thanh Châu, Kim Nga, Tâm Bùi, ThụyVy, Minh Coeur, Mộng Thủy, Bích Trâm, Bích Ty, Mindy Lưu, Kim Lý, Lý Tòng Tôn, Thanh Thanh, Lưu Anh Tuấn, Yên Sơn, Thụy Lan, Hồng Anh, Khánh Lan, Hồng Tước, Mạnh Bổng, Trọng Nghĩa, Phạm Đăng Khải, Thanh Mỹ, Hoàng Vinh, Quyên Di, Trần Huy Bích, Dương Viết Điền, Đặng Quý Mão, Nhật Uyên, Gina Nga, Katherine Lê, Nguyễn Quang, Lệ Hoa, và Trần Việt Hải, Thân hữu văn nghệ sĩ: Lam Phương, Cung Trầm Tưởng, Trần Quang Hải, Bạch Yến, Thái Tú Hạp, Ái Cầm, Kiều Chinh, Thanh Thúy, Thanh Châu, Thanh Tuyền, Cao Mỵ Nhân, Hồng Vũ Lan Nhi, Kim Tước, Thanh Tước, Bích Huyền, Cát Ngọc, Trần Phong Vũ Ngọc Vân, Bồ Đại Kỳ, Nguyễn Bá Thảo, Vũ Đức Âu Vĩnh Hiền, Vương Trùng Dương, Nguyễn Ngọc Chấn, Nguyễn Thanh Huy, Thanh Thương Hoàng, Vũ Hoài Mỹ, Trần Trung Đạo, Trường Sa, Hoàng Sa, Mỹ Chương, Lê Văn Khoa, Ngọc Hà, Khiếu Long, Nhược Thu, Thúy Anh, Nguyên Vũ, Vũ Hương Thơ, Tha Nhân, Ông Như Ngọc, Trần Quốc Bảo, Lê Đình Hải, Phạm Quốc Bảo, Phạm Kim, Võ Ý, Nguyễn Xuân Vinh, Phiến Đan, Nguyễn Văn Liêm, Phạm Gia Đại, Phạm Gia Cổn, Kiều Hạnh, Cát Biển, Lê Thị Hoài Niệm, Diễm Chi, Trần Quảng Nam, Trịnh Nam Sơn, Võ Tá Hân, Kim Châu, Kiều Mỹ Duyên, Ngọc Hoài Phương, Vũ Uyên Giang, Phan Bá Thụy Dương, Hà Nguyên Du, Đỗ Bình Paris, Phương Oanh Paris, Hà Phương Hoài, Hà Huyền Chi, Vũ Xuân Hùng, Huỳnh Kỳ Phát, Trung Nghĩa, Túy Vân MS, Nguyễn Thiện Lý, Vân Khanh SJ, Mỹ Trâm, Nguyễn Đăng Dũng, Michelle Mỹ Thanh NY, Phạm Ngọc Mai và Bích Phương Hạ Đỏ.Đồng Thành Kính Phân Ưu.————————————————————————–Thái Thanh – Những Tình Khúc Hay Nhất Thập Niên 90 Của Tiếng Hát Vượt Thời Gian Thái Thanh:https://www.youtube.com/watch?v=CJBIroCwfzA——————————————————————————–THÁI THANH : Tiếng Hát Tuyệt Vời (Việt Hải Los Angeles)Sáng thứ bảy một hôm khi thức dậy tôi nghe chuông điện reo, bên đầu giây bên kia là chị nhà thơ Vũ Hoài Mỹ (VHM) hớn hở khoe với tôi là tối hôm qua chị nghe nhạc, trong một CD có bài hát “Nửa Hồn Thương Đau”, nhạc của Phạm Đình Chương và do ca sĩ Thái Thanh (TT) hát, chị cảm thấy rất “phê”. Chị VHM lập đi lập lại câu nói: “Giọng Thái Thanh tuyệt vời, Thái Thanh thật tuyệt vời!”. Đoạn chị đọc tôi nghe bài thơ chị vừa làm khi cảm xúc nẩy ra khi nhớ về một nữ hoàng của nền ca nhạc Việt Nam. Tôi biết nàng thơ VHM, chị có biệt tài làm thơ rất nhanh và nhuyễn. Ngày hôm nay chị là người góp ý niệm khi đọc cho tôi nghe bài thơ mới cảm tác của chị về cô Thái Thanh qua đề tựa của bài thơ là:“Thái Thanh: Tiếng Hát Tuyệt Vời”:” Thái bình, mà tiếng ngậm ngùi.Thanh âm xưa ấm lòng người ngàn phươngTiếng êm mượt ướp trầm hươngHát ru day dứt “nửa hồn thương đau”Tuyệt tình, không vướng lụy “Sao”Vời trông đất Mẹ dạt dào tự do. “Chị VHM giải thích là sau năm 75, TT chán nản không trở lại nghiệp ca hát, không chạy theo luồng gió mới của buổi giao mùa. Câu thứ 5 chị ám chỉ sự kiện dứt khoát lập trường với chế độ mới trong buổi giao thời đầy “trăng sao”, tức thời buổi đầy nghi kỵ của chế độ cờ đỏ “sao” vàng.Tôi cảm nhận sự kiện “phê, phê” lại đến với tôi, tôi bắt ý khi đọc bài thơ của chị xong, tôi quyết định viết lên những cảm nghĩ riêng của mình bằng lời lẽ thay vì bằng những vần thơ như chị. Bài viết này mang cùng tên với bài thơ của chị vì đây là sự kiện thật sự, một true fact theo ý nghĩ của tôi. Trước đây có vài thân hữu khuyến khích tôi viết ghi nhận các ca nhạc sĩ có những đóng góp cho lãnh vực âm nhạc, tôi ngần ngại vì khi không đủ dữ kiện thì viết không trung thực được. Riêng về ca sĩ TT tôi rất muốn viết từ lâu rồi. Vì những ai sống tại miền nam Việt Nam trước năm 75 ít nhiều cũng biết TT và những nhạc phẩm mà cô hát. Rất nhiều người như các bạn tôi đều thú nhận trong đời họ, họ có những kỷ niệm riêng tư với tiếng hát TT. Và tôi cũng như họ. Tôi vội ghi bài thơ của VHM lên trang bià một tờ báo với hàng chữ hý hoáy, và liền leo vào “người tình hi-tech”, một đặc ngữ mà nhà tôi ám chỉ cái computer của tôi, tôi quý nó vì nó gắn liền với cái nội tâm tri giác của tôi.Tôi nhớ một chương trình trên đài truyền hình số 9 về quê hương của những năm trước mùa di tản năm 75, giọng hát TT được dùng làm nhạc đệm mở đầu chương trình khi chạy bài hát bài “Tình Ca” của nhạc sĩ Phạm Duy:“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơiMẹ hiền ru những câu xa vờiÀ à ơi! Tiếng ru muôn đờiTiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vuiKhóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơiTiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôiThoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi…”Rồi đậm đà hơn về tình ca quê hương, giang sơn gấm vóc cho con tim tôi thêm rung động qua giọng ca mà làn hơi ngân dài của tiếng hát vượt dòng thời gian này xuôi theo khắp nẽo đường đất nước, theo nhiều biến cố, vận nước nổi trôi để chúng ta còn nhớ mãi:“Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanhRuộng đồng vun sóng ra Thái BìnhNhìn trùng dương hát câu no lànhĐất nước tôi ! Dẫy Trường Sơn ẩn bóng hoàng hônĐất miền Tây chờ sức người vươn, đất ơiĐất nước tôi ! Núi rừng cao miền Bắc lửa thiêngLúa miền Nam chờ gió mùa lên, lúa ơiTôi yêu những sông trườngBiết ái tình ở dòng sông HươngSống no đầy là nhờ Cửu LongMáu sông Hồng đỏ vì chờ mongNgười yêu thế giới mịt mùngCùng tôi ôm ấp ruộng đồng Việt NamLàm sao chắp cánh chim ngànNhìn Trung Nam Bắc kết hàng mến nhau…”Giọng ca TT thanh thoát, xao xuyến tâm tư người nghe về đất nước, quê hương mến yêu. Kỷ niệm cũ đó vẫn mãi mãi ngự trị trong tâm hồn tôi khi tiếng ca mang những tình tự rất quê hương đưa người dân Việt phiêu du tâm hồn qua ba miền đất nước. Hoà lẩn bài “Tình Ca” này trong hồn tôi là bài “Tình Hoài Hương”, nhạc cũng do Phạm Duy:“Quê hương tôi, có con sông dài xinh xắnNước tuôn trên đồng vuông vắnLúa thơm cho đủ hai mùaDân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê.Quê hương tôi có con sông đào ngây ngấtLúc tan chợ chiều xa tắpBóng nâu trên đường bước dồnLửa bếp nồng, vòm tre non, làn khói ấm hương thôn!Ai về, về có nhớ, nhớ cô mình chăng?Tôi về, về tôi nhớ hàm răng cô mình cười!Ai về mua lấy miệng cườiĐể riêng tôi mua lại mảnh đời, thơ ngây thơ…!Mấy anh em họ Phạm thành lập một ban hợp ca lấy tên là ban THĂNG LONG (tên này đã được dùng làm bảng hiệu cho quán phở gia đình ở Chợ Đại, Chợ Neo trước đây). Rồi cũng trong tâm trạng lưu luyến dĩ vãng rất gần, Phạm Đình Viêm lấy tên là Hoài Trung (nhớ Khu 4 chăng ?), Phạm Đình Chương lấy tên là Hoài Bắc (1). Cô em út trong gia đình, Băng Thanh đổi tên là Thái Thanh để đi đôi với tên chị Thái Hằng.Một bản nhạc hay là điều cần thiết để thành công cho người nhạc sĩ. Tuy nhiên, cái yếu tố khác không kém phần quan trọng là người ca sĩ chuyển đạt bài hát đó có khả năng thuyết phục sự rung cảm đến người nghe bản nhạc đó hay không. TT hát với sự khéo léo vận dụng âm thanh theo tiết tấu của bài hát và diễn tả lời bài hát trong một kỹ thuật giao thoa đồng điệu của năng khiếu thiên bẩm. Tôi nhớ lại khi xem hoặc nghe TT diễn tả một cách thật truyền cảm và thật điêu luyện những nhạc phẩm mà TT đã trình bày như: Kỷ Vật Cho Em, Mùa Thu Chết, Nghìn Trùng Xa Cách, Trả Lại Em Yêu, Bà Mẹ Gio Linh hay Bên Cầu Biên Giới, Ngàn Thu Áo Tím,… Tôi cho là vô cùng tuyệt vời:“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lạiXin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime,Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã,Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngảAnh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa,Anh trở về trên chiếc băng caTrên trực thăng sơn màu tang trắng.Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lạiXin trả lời xin trả lời mai mốt anh về.Anh trở về chiều hoang trốn nắngPoncho buồn liệm kín hồn anhAnh trở về bờ tóc em xanhChít khăn sô lên đầu vội vã… Em ơi!Em hỏi anh. Em hỏi anh bao giờ trở lạiXin trả lời, xin trả lời mai mốt anh vềAnh trở lại với kỷ vật viên đạn đồng đenEm sang sông cho làm kỷ niệmAnh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗAnh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân.Em một chiều dạo phố mùa Xuân,Bên nguời yêu tật nguyền chai đá…”Lời bài hát “Kỷ vật cho em” buồn thảm, thê lương, giọng ca cao vút như ai oán của TT khiến tôi rung cảm cho người chinh phụ trong bài hát đối diện với cái rủi ro oan nghiệt của chiến tranh cho hạnh phúc đời nàng. Lần đầu tiên tôi nghe giọng TT ca bài hát này nó đã in sâu cái cảm xúc xoáy vào nội tâm tôi hay một sự chấp nhận mặc nhiên tiên khởi trong hồn tôi cho tới nay. TT cho âm thanh bài hát ngân nga lên xuống theo cung điệu nhịp hát, khi cô phát âm ngôn từ “Em ơi!”, tôi nghe rỏ và thích khúc này, sự kiện cho ta chút bùi ngùi, chút tình tứ cảm thông. Đây là bài hát phải do TT ca và vì cái tần số thính giác đã quen thuộc trong tiềm thức như là một định kiến khuôn mẫu có sẵn trong tôi.Tiếng hát của Thái Thanh với riêng tôi, tôi có những kỷ niệm thật êm đềm. Năm 1967-68, tôi thường đến nhà 2 cô bạn Mỹ Trâm và Mỹ Xuân trong hẻm lối vào kế bên hông đại học Vạn Hạnh, hai cô này học nhạc từ lò luyện tập ca hát của nhạc sĩ Nguyễn Đức, có nhiều lần tôi chứng kiến 2 cô đang tập dượt hát tại nhà, tôi ngồi xem khi hai cô nghe máy hát phát ra những bản nhạc của Phạm Duy do Thái Thanh hát, Mỹ Xuân hát giọng trầm, Mỹ Trâm có giọng hát cao trong trẻo, cao vút khi nàng bắt chước giọng TT. Tôi nghĩ có lẽ không thể nào sánh bằng, nhưng những hậu duệ vẫn lấy giọng ca TT làm chuẩn hay thước đo của sự tiến triển của giọng mình qua các bài như bài “Tiếng Đàn tôi”, nhịp điệu Tango:“Đời lạnh lùng trôi theo giòng nước mắt,Với bao tiếng tơ xót thương đời.Vì cuộc tình đã chết một đêm nao.Lúc trăng hãy còn thơ ấu!Dù đời tàn trên cánh nhạc chơi vơi.Thoáng nghe tiếng ai khóc ai cười.Người đẹp về trong lúc mùa thu rơi.Tiếng chuông tiễn đưa đến tôi.Mênh mông lả lơi!Đàn trầm xa lánh cõi đời.Mênh mông lả lơi!Lạnh lùng em đã rời tôi.Khoan, khoan, hò ơi!Người về xa tắp không lời.Khoan, khoan, hò ơi!Lệ sầu rụng xuống đàn tôi…”Bài ca khác qua giọng hát TT được 2 cô tập dượt mà tôi còn nhớ là “Ngày đó chúng mình”, một bài tình ca với nét nhạc trữ tình, nhẹ nhàng, du dương, giọng ca TT bắt đầu:“Ngày đó có em đi nhẹ vào đờiVà mang theo trăng sao – đến với lời thơ nuốiNgày đó có anh mơ lại mộng ngờiVà se tơ kết tóc – giam em vào lòng thôiNgày đôi ta ca vui tiếng hát vói đường dàiNgâm kẽ tiếng thơ, khơi mạch sầu lơiNgày đôi môi đôi môi đã quyết trói đời ngườiôi những cánh tay đan vòng tình áiNgày đó có ta mơ được trọn đờiTình vươn vai lên khơi – tới chín trời mây khóiNgày đó có say duyên vượt biển ngoàiTrùng dương ơi! Giữ kín cho lâu đài tình đôi …”Một bài hát khác của nhạc sĩ Phạm Duy là bài “Tiếng Sáo Thiên Thai”, một ca khúc chứa đựng nhiều lời thanh thoát ca tụng vẽ đẹp thiên nhiên, khi TT cất tiếng hát thì hồn tôi có cảm giác thật “thiên thai”, khúc nhạc mang âm thanh thư thái:“Xuân tươi!Êm êm ánh xuân nồng,Nâng niu sáo bên rừng,Dăm ba chú Kim đồng…Tiếng sáo,Nhẹ nhàng lướt cỏ nắng,Nhạc lòng đưa hiu hắt,Và buồn xa buồn vắng,Mênh mông là buồn!Tiên nga, buông lơi tóc bên nguồn,Hiu hiu lũ cây tùng,Ru ru tiếng trên cồn…Mây ơi!Ngập ngừng sau đèo vắng,Nhìn mình cây nhuộm nắng,Và chiều như chìm lắng,Bóng chiều không đi…”Rồi một bài hát mà giọng ca TT đã làm lòng tôi dâng lên nỗi buồn man mác là bản “Hoa Rụng Ven Sông”:“Giờ đây trên sông hoa rụng tơi bờigiờ đây em ơi cơn mộng tan rồilòng anh tan hoangthôi vỗ tình ơingày như theo sôngbóng xế tàn rơiCòn đâu em ơi còn đâu ánh trăng vàngcòn đâu ánh trăng vàngmơ trên làn tóc rốicòn đâu em ơi còn đâu bước chân ngườicòn đâu bước chân ngườimơ trên đường chiều rơiCòn đâu đêm sang lá đổ rộn ràngcòn đâu sương tan trăng nội mơ màngcòn đâu em ngoantóc rối ngổn ngangtuổi em đôi mươixuân mới vừa sang…”Tôi nhận xét trong lịch sử âm nhạc Việt Nam thì nhạc Phạm Duy và tiếng hát Thái Thanh có sự liên hệ mật thiết, bất khả phân ly, vì nhiều bài ca của Phạm Duy được sáng tác ra chỉ để giọng ca TT đem lên đỉnh cao đúng vị trí của nó, và ngược lại nhạc Phạm Duy cũng đem tiếng hát TT vào sự đam mê, ngưỡng mộ, thần tượng cô nhiều hơn đối với hàng nhiều, thật nhiều người, trong đó có nhiều ca sĩ tập sự như Mỹ Trâm, Mỹ Xuân,… Nhiều bài viết đã nói nhiều về tương quan giữa nhạc Phạm Duy và tiếng hát Thái Thanh, và đó là tương quan hai chiều bổ sung lẫn nhau.Qua nhiều bài hát từ các bài vừa nói trên hay Ngày Xưa Hoàng Thị, Tiễn Em, Dòng Sông Xanh, Nụ Tầm Xuân, Tìm Nhau, Giết Người Trong Mộng, Em Lễ Chùa Này, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng,… hay Đừng Xa Nhau mà Mỹ Trâm nghe nhiều lần học kỹ thuật ca của TT:“Đừng xa nhau! Đừng quên nhau!Đừng rẽ khúc tình nghèoĐừng chia nhau nỗi vui niềm đau.Đừng buông mau! Đừng dứt áo!Đừng thoát giấc mộng đầu,Dù cho đêm có không bền lâu.Đời phai mau, người ghen nhau,Lòng vẫn cứ ngọt ngào,Miệng ru nhau những ân tình sâu.Đừng xôn xao, đừng khóc dấu,Đừng oán trách phận bèo,Vì sông xa vẫn trung thành theo…”Tôi biết tôi có viết về giọng ca Thái Thanh, dù là ghi nhận lại hay quảng bá giọng ca này là độc đáo hay xuất chúng thì cũng bằng thừa, nhưng vì có vài người bạn thân khuyến khích tôi nên viết ra những cảm nghĩ của mình và bạn bè về giọng ca vàng Thái Thanh đã làm mưa, làm gió, tung hoành trong vườn ca âm nhạc Việt Nam trong bao năm qua. Tôi nẩy ra ý nghĩ đi gom góp ý kiến của các bạn, rồi đúc kết những ý nghĩ của họ lại trong một bài viết về người ca sĩ của sự mến mộ chung này của quần chúng. Phần kế tiếp tôi xin trích các emails được phúc đáp từ một số thân hữu trong giới thi, văn và nhạc để tìm hiểu xem giọng ca TT có kỷ niệm nào với họ hay họ nghĩ sao về giọng hát này. Nào, chúng ta hãy xem sự ghi nhận của các bạn qua những lời nhận xét sau đây:Nhạc sĩ trẻ Nguyễn Thiện Doãn cung cấp cho tôi những lời tận đáy lòng của anh về tiếng ca của Thái Thanh:“Vào thuở 18 tuổi khi vừa lớn, Thiện Doãn vẫn thích nhất bài Khi Tôi Về do Phạm Duy sáng tác và Thái Thanh trình bầy. Lời và nhạc, đối với Thiện Doãn, đã quá hay, nhưng nếu không có giọng hát của ca sĩ Thái Thanh thì chưa chắc đã làm NTD phải chú tâm mà ưa thích trong lúc cái tuổi đời mình chưa đủ để phải cưu mang và suy tư (Tam thập nhi lập, Tứ thập nhi viễn chi). Tuy lúc đó còn trong lứa tuổi mới lớn, yêu đương bồng bột, sá gì đến chuyện chiến chinh và thanh bình, nhưng không hiểu sao cứ mỗi lần nghe ca sĩ Thái Thanh cất lên với giọng trong veo, vút tầng mây để rồi giọng ca ấy lẽn vào tâm tư mình với nhiều hình tượng và mơ ước: “Khi tôi về, con chim bồ câu nằm trong tổ ấm khi dây thép gai đã hết rào quanh đồn phòng ngư. Và người lính đã trở về bờ ruộng nương đã một lần hoang phế và hôm nay anh cày đám ruộng xưa khi anh về đường đồng quê lối cũ. Con diều bay hồn nhiên, đùa bay trong chiều lộng gió thanh bình. Ôi, chốn quê nhà trên thảm cỏ xanh… Chắc chắn là mơ ước về một quê hương thanh bình, hiền hoà của miền quê mộc mạc, của quê hương đầy ắp tình tự và thâm thúy qua lời nhạc, tiếng ca được gói ghém trong bài “Khi Tôi Về. Con cò lại bay trên đồng ruộng xanh Tre già bảo nhau cúi đầu trầm ngâm Cùng mùi khói lam quen thuộc…”.Đến những năm cuối thập niên 80’s thì lại được dịp nghe những bài Đạo Ca của nhạc sĩ Phạm Duy qua giọng hát tuyệt vời quen thuộc của nữ ca sĩ Thái Thanh. Giọng ca của ca sĩ Thái Thanh đã để lại trong tâm hồn Thiện Doãn một ấn tượng miên man, to lớn. Bên cạnh những dòng nhạc thanh thoát của nhạc sĩ Phạm Duy, những hòa âm điêu luyện của nhạc sĩ Duy Cường, lời thơ nỗi tiếng của thi sĩ Phạm Thiên Thư, tiếng hát thánh thót như chim sơn ca của ca sĩ Thái Thanh đã chuyên chở những vàng son về ý niệm của dòng nhạc và lời ca rót vào lòng người nghe mà trong đó có Thiện Doãn là một ví dụ điển hình. Tuy tuổi đời còn trẻ so với những bậc trưởng thượng, TD vẫn xin được ghi nhận nơi đây lòng kính phục và trân qúy đến với nữ ca sĩ Thái Thanh nói riêng, và các nhạc sĩ đóng góp nhạc cho ca sĩ Thái Thanh ca nói chung.”, Thiện Doãn, San José.Với nhạc sĩ Phan Ni Tấn từ Canada, cho ý kiến của anh:“Nói về giọng hát Thái Thanh, bắt tôi lựa ra một hay hai bài thì tôi e sẽ không đủ, nhưng đã hỏi thì tôi xin nêu ra nhé. Tôi xin chọn bài Đường Chiều Lá Rụng vì lời như thơ, được giọng ca thánh thót cất lên trong âm thanh âm nhạc tạo nên hình ảnh một không gian mênh mông, bao la của buổi chiều lá rụng. Khi tâm tư tôi đang định cư nơi nhiều rừng núi của Canada này mà hồn nghe thấy lá mùa thu rơi để dễ đồng cảm hơn những hình ảnh cô liêu, tàn tạ hay héo úa của cảnh chiều hoang phế…”, Phan Ni Tấn, Toronto.Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng cho biết anh thích nhiều bài hát qua giọng ca của Thái Thanh, một ví dụ điển hình là bài “Bà Mẹ Gio Linh”. PAD, Santa Maria.Mẹ Gio Linh tượng trưng cho hằng triệu bà mẹ khác khắc khổ trong chiến tranh, hy sinh thân phận mình để nuôi con ra chiến trận, họ bám víu lấy quê hương tội nghiệp như thân phận chính mình, nhạc Phạm Duy qua sự diễn đạt như lời tâm sự rất tình tự của giọng ca Thái Thanh:“Mẹ già cuốc đất trồng khoaiNuôi con đánh giặc đêm ngàyCho dù áo rách sờn vaiCơm ăn bát vơi bát đầyHò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!Nhà thì nó đốt còn đâyKhuyên nhau báo thù phen nàyMẹ mừng con giết nhiều TâyRa công sới vun cầy cấyHò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!Con vui ra đi, sớm tối vác súng vềMẹ già một con yêu nước có kém chiĐêm nghe xa xa có tiếng súng lắng vềMẹ nguyện cầu cho con sống rất say mê.Mẹ già tưới nước trồng rauNghe tin xóm làng kêu gàoQuân thù đã bắt được conĐem ra giữa chợ cắt đầu…”Nhạc Sĩ Anh Vũ biên cho tôi đôi dòng nhận xét của anh như sau:“Với tôi, ca sĩ Thái Thanh hát bài nào cũng tuyệt vời vì giọng hát của cô là cả sự điêu luyện và thiên phú. Điêu luyện ở chỗ cách chuyển tông (tone), luyến, láy, rung, ngân cơ hồ như những bất cứ nhạc cụ nào mà người nhạc công tài ba đang xữ dụng. Thái Thanh không những áp dụng lối ép hơi từ bụng, thanh quản trong kỷ thuật thanh nhạc, mà cô còn áp dụng cả một vùng trời nghệ thuật bằng cách đem cả trái tim, tâm hồn gởi gấm theo từng ý nghĩa âm ba nhịp điệu, cuờng độ trải rộng bát ngát hay sâu thăm thẳm trong khoảng không gian, thời gian cơ hồ yên tĩnh… Tôi vốn thích nhất là bài -Trường ca- Con đường cái quan.” Anh Vũ, Orange county.Nhạc sĩ Trần Đại Phước cho dòng ghi nhận của anh về TT:“Theo kinh nghiệm và cảm nhận riêng, tôi nghĩ Thái Thanh có một giọng hát cùng một cung cách hát vô cùng điêu luyện một cách cực kỳ sắc sảo, không có giọng nữ nào trong giới ca sĩ Việt Nam có thể vượt qua nổi.Sự sắc sảo này không chỉ nằm trong âm sắc (timbre) mà còn ở trong việc diễn tả cao độ của âm thanh nữa. Sắc giọng của Thái Thanh bén nhọn, mạnh mẽ nên có tính cách xoáy sâu vào tâm tư của người nghe. Do đó, chỉ có giọng Thái Thanh mới có thể đi đôi với hai sắc giọng khác trong ban Thăng Long, một rất “rền” (Hoài Trung) và một rất “nhựa” (Hoài Bắc). Cũng có thể nói là tiếng hát Thái Thanh mang tính chất opera, nhưng do thiên phú chứ không phải do đào luyện nên nghe tự nhiên, dễ chịu. Tuy nhiên, tôi xin thêm rằng nghe Thái Thanh hình như cũng phải cần đến một “tâm lực” hùng hậu, vì có hơn một người quen đã nói với tôi rằng khi nghe Thái Thanh hát, họ cảm thấy “sợ”.Cũng nhờ sắc sảo – chính xác và uyển chuyển – trên độ cao của nốt nhạc, Thái Thanh đã phần lớn có thể diễn tả vượt trên những ký âm thông thường của một ca khúc, đôi khi còn có thể tạo nên những “glissandi” mà cũng chỉ có Thái Thanh mới thể hiện được, ví dụ chữ “lướt” trong “Buồn Tàn Thu”. Người khó tính về chuyện hát thật sát với ký âm có thể không hài lòng, nhưng theo tôi, đó cũng là quyền diễn xuất của một ca sĩ trong việc đơn ca, mình chỉ nên nhận xét về hay hay dở, xuất sắc hay tầm thường, mà ở Thái Thanh, hầu như luôn luôn chỉ có xuất sắc.”, TĐP, Dallas.Nhạc sĩ Hiếu Anh cho tôi ý nghĩ của anh khi nghe TT hát:“Rất hân hạnh biết anh và lại được anh nhắc tới ca sĩ THÁI THANH, một ca sĩ có giọng ca thánh thót ngọt nào và truyền cảm, một giọng ca mà nhiều người đã phải nhìn nhận rằng: “GIỌNG CA VƯỢT THỜI GIAN và KHÔNG GIAN”. Những bản TÌNH CA của Phạm Duy mà THÁI THANH đã hát sau này ít có ai qua mặt được THÁI THANH như bài Đố Ai, NỤ TẦM XUÂN,… hay HỘI TRÙNG DƯƠNG của Phạm Đình Chương, và cả những tác phẩm của các nhạc sĩ khác như bài MÙA THU KHÔNG TRỞ LẠI của Phạm Trọng Cầu, mà THÁI THANH đã hát rất hay.Tuy vậy, sở thích và trình độ thưởng thức của mỗi người mỗi khác… nhưng tựu trung hầu như đa số đều mến mộ giọng ca THÁI THANH như một GIỌNG CA VÀNG hiếm có.Sau cùng, tôi có một kỷ niệm rất khó quên với giọng ca THÁI THANH là tôi đã rơi nước mắt khi nghe THÁITHANH ca bài BIỆT LY của DZOÃN MẪN trong cái đêm của ngày cuối cùng mà tôi phải biệt ly người vợ vừa cưới để ngày mai lên đường nhập ngũ vào trường Bộ Binh Thủ Đức… vì nó xảy ra đúng tâm trạng sắp tạm biệt gia đình và người vợ mới cưới.”, Hiếu Anh, Louisville, Kentucky.Nhạc sĩ Hàn Sĩ Nguyên góp ý của anh như sau:“Anh hỏi về ca sĩ Thái Thanh, Nguyên biết trả lời sao bây giờ? Thái Thanh nổi tiếng quá rồi. Thôi thì vắn tắt như thế này nhé :Có nhiều yếu tố tác động, vun đắp, hình thành nên một nhân cách, một tâm hồn…– Một là Ca dao VN– Hai là Thơ Kiều của Nguyễn Du– Ba là nhạc Phạm Duy đi đôi cùng tiếng hát Thái Thanh, mà Nguyên nghĩ hai thành phần này theo Nguyên là không thể tách rời nhau.Chính Nguyên là một trong số những người chịu ảnh hưởng nặng nề của cả 3 yếu tố ấy, ngay từ tấm bé, cho đến bây giờ, mãi mãi về sau này. Vì vậy, tình cảm của Nguyên là “vô cùng biết ơn những người nghệ sĩ ấy”.Nói riêng về Thái Thanh thì… bài nào cũng thích, nhưng nếu phải chọn thì Nguyên đặc biệt thích thì 2 bài:1- “Ngày đó chúng mình”, gamme Re trưởng: là bản nhạc đầu tiên Nguyên tập chơi đàn năm 16 tuổi.2- “Tình cầm”, đặc biệt thích khi mình… không còn trẻ nữa, vì nó quá tuyệt vời!”, Hàn Sĩ Nguyên.Nhạc sĩ Trần Quốc Sỹ cho ý kiến của anh về Thái Thanh:“Theo tôi, hai nhạc phẩm mà Thái Thanh đã làm rung động người nghe nhất là bài “Áo anh sứt chỉ đường tà” và bài “Kỷ vật cho em”. Có lẽ ít ca sĩ nào có thể trình bày hai nhạc phẩm này hay hơn Thái Thanh.Nghe Thái Thanh trong bài “Áo anh sứt chỉ đường tà” và bài “Kỷ vật cho em”, thính giả có thể có cảm tưởng như mình đứng giữa những gì đang xảy ra của cuộc chiến buồn vơi…”, Trần Quốc Sỹ, Hungtington Beach, nam Cali.Từ bên Úc châu, nữ nhạc sĩ Quách Nam Dung ghi những nhận xét về Thái Thanh như sau:“Thái Thanh được coi là giọng ca hàng đầu của nền âm nhạc Việt Nam, giọng ca oanh vàng này đã chiếm một khoảng thời gian dài, nhất là từ thập niên 50’s đến giữa 70’s, trong không gian Việt Nam, đặc biệt là tại miền nam khi nhiều nhạc phẩm của nhạc sĩ Phạm Duy và nhiều nhạc sĩ khác được cô cất tiếng ca mình chuyên chở đến đám đông. Trong nhiều bài ca cô hát, QND thích nhất bài “Giết Người Trong Mộng” của Phạm Duy.”, Quách Nam Dung, Melbourne.Nhạc sĩ Đỗ Duy Thụy đóng góp quan điểm của anh về giọng ca vàng Thái Thanh:“Nói đến giọng ca Thái Thanh, phải nói đến nhạc Phạm Duy, cũng như Khánh Ly với nhạc Trịnh Công Sơn. Những bản nhạc rất hay lại càng truyền cảm hơn nên rất dễ thu hút tâm hồn người nghe, cộng thêm sắc thái độc đáo của giọng ca nên rất dễ trở thành huyền thoại.Tôi đã rất yêu thích giọng hát của Thái Thanh nhưng nếu phải chọn bài hát nào hay nhất qua giọng hát của chị, thì hình như sự ưa thích đó đã đổi thay theo tâm trạng của tôi trong từng hoàn cảnh sống của mình. Nói như vậy, vì tôi còn nhớ cách đây đã lâu, ngày tôi cùng bao nhiêu thanh niên khác đã từ bỏ học đường theo tiếng gọi của non sông lên đuờng nhập ngũ vào thời điểm chiến tranh bộc phát mãnh liệt trong mùa hè đỏ lửa, để lại sau lưng cả một tuổi trẻ đầy mơ ước, rời xa những người thương yêu, và quên đi một tương lai nhiều hứa hẹn. Ngày đó, bước chân chiến đấu trên con đường vô định, tôi đã rất say mê những nhạc phẩm như “Trả Lại Em Yêu” và “Kỷ Vật Cho Em” của Phạm Duy. Và những nhạc phẩm này mà được nghe qua tiếng hát ray rứt cao vút của Thái Thanh thì tuyệt vời cho tâm trạng của tuổi trẻ lớn lên trong một quê hương đầy lầm than máu lửa.Nhưng sau này, từ khi ra đi làm thân viễn xứ trưởng thành nơi đất lạ, nỗi nhớ quê hương có lẽ đã thay thế cho sự khổ đau của chiến tranh và những dằn vặt mất mát của tuổi trẻ, nên tâm trạng của tôi cũng đổi thay khác đi. Bây giờ, có những buổi trưa hè nóng bức chợt nghe văng vẳng tiếng hát cải lương vọng từ đài phát thanh Việt Ngữ, tôi bỗng có một cảm giác rất gần gũi, rất thân thương với văn hoá của đất mẹ. Một cảm giác như mình đã mất mát tuổi trẻ, lớn lên trong trống vắng, và bây giờ tìm lại được dĩ vãng của chính mình.Vì vậy, tôi đã rất thích và xúc động mỗi khi nghe nhạc phẩm “Tiếng Nước Tôi” và phải với giọng hát Thái Thanh cao vút và ngân dài mới diễn tả trọn vẹn sự yêu thương một ngôn ngữ mà tôi đã dùng từ lúc chào đời.Tôi không biết giải thích tại sao bây giờ tôi lại yêu thích giọng hát của chị Thái Thanh qua nhạc phẩm này như vậy. Có thể vì nợ áo cơm phải dùng ngoại ngữ mà tôi vẫn không hấp thụ hoàn toàn. Có thể về già nên nặng lòng hoài hương chăng? Có thể vì tôi hoạt động trong lãnh vực Việt Ngữ được nhìn thấy các em nhỏ đang cố gắng học tiếng mẹ đẻ. Có thể vì tiếng Việt tôi đã xử dụng để cảm thông tận cùng với ông bà cha mẹ, anh chị em, vợ con, bạn bè v.v… Có thể vì ngôn ngữ này tôi đã diễn tả hoàn hảo hơn ý nghĩ và tâm hồn tôi, thông hiểu hoàn hảo hơn nhưng bài viết, bài thơ, bài nhạc của người cùng quê hương, Có thể tiếng Việt đã thấm vào trong dòng máu của tôi lúc chào đời từ trên môi mẹ.Vì lý do nào đó, tôi vẫn bâng khuâng cảm xúc mỗi khi nghe giọng hát của Thái Thanh cao vút: “Tôi yêu tiếng nước tôi… Từ khi mới ra đời à ơi…”, ĐDT, Houston.Nhà thơ Bích Khuyên đưa ra cảm nghĩ của chị là:“Tôi say mê giọng ca Thái Thanh từ khi mới lớn, bài hát thích nghe qua giọng ca Thái Thanh thì rất nhiều. Ví dụ bài Nửa Hồn Thương Đau, Ngậm Ngùi hay Giết Người Trong Mộng, tôi thấy lời ca vang cao vút của Thái Thanh tạo cho người nghe một nỗi buồn tê tái trong tâm hồn. Tôi nghĩ cái giá trị của giọng ca này sẽ vô cùng hiếm quý và sẽ đứng vững trong vườn hoa lịch sử âm nhạc Việt Nam.”, Bích Khuyên, Oklamoma city.Nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi bày tỏ tâm tình về Thái Thanh và kỷ niệm của chị:“Mỗi lần nghe đến “Tiếng Hát Vượt Thờì Gian” là tôi lại nghĩ liền đến Thái Thanh. Từ năm ngoái, tôi dã gặp chị Thái Thanh 2 lần, trong buổi họp mặt taị nhà anh chị bác sĩ Đỗ Xuân Giụ. Anh chị Đỗ Xuân Giụ có một tâm hồn rất văn nghệ, cho nên anh chị đã tổ chức ít ra là 2 lần trong năm, và quy tụ những thành phần cũng yêu văn nghệ như anh chị. Mỗi lần họp mặt như thế, cũng ước chừng một đám đông 60 người. Và lần naò cũng có chị Thái Thanh hát, và anh Nghiêm Phú Phi đàn. Tôi nhớ 2 lần gặp chị Thái Thanh, dáng ngươì cao cao, gầy gầy, và rất ít son phấn, có thể nói là chị trang điểm rất nhẹ, đến nỗi tôi có cảm tưởng chị không trang điểm Tôi ngồi bên chị và hỏi thăm xã giao. Chị nói chuyện cởi mở, và dễ thương. Chị ăn mặc giản dị, trẻ trung… Ăn uống xong, thì đến phần ca nhạc. Bao giờ thì cũng những ngươì bạn hát trước, có người ngâm thơ, và sau vài ba ngươì, thì Thái Thanh sẽ “bị” mời lên. Hình ảnh chị hôm nay, khác với những ngày xưa chỉ là khi hát, chị phải đeo kính trắng để đọc những lời. Còn lại thì không có chi thay đổi, cử chỉ nhún nhẩy, lốí hát vui tươi, hay buồn sầu cũng vẫn được thể hiện trên khuôn mặt của chị. Chị hát rất say sưa, và tôi nghe với hết cả tâm hồn. Đứng trước micro, chị tâm sự là chị thích hát nhạc Phạm Duy và Phạm Đình Chương, ngoài ra, chị cũng thích hát nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng chưa nhiều. Tuy nhiên, chị hát rất nhiều của nhiều tác giả khác nhau. Nhìn Thái Thanh, ắt hẳn, ai cũng nhớ đến bài Tình Ca của Phạm Duy, mà tôi đã nghe từ năm 1952, khi còn ở Huế, và còn là nữ sinh Đồng Khánh, cuả lớp đệ Thất B3. Vào thời đó, Ban Hợp Ca Thăng Long cũng có ra Huế để hát một chương trình đặc biệt, và tôi tuy chỉ khoảng 12, 13 cũng được gia dình mua vé cho đi xem. Rồi những bài Hội Trùng Dương của Phạm Đình Chương, Dòng sông Hồng, Dòng sông Hương và Dòng sông Cửu Long… Tôi còn nhớ khi có chương trình nhạc phụ diễn ở các rạp ciné do anh Trần văn Trạch đề xướng, tôi vẫn nhớ Ban Thăng Long với bài Ngựa Phi Đường Xa… mà Hoài Trung đã hí giống ngựa hí như đúc. Và Thái Thanh trong bài Dòng Sông Xanh, tiếng hát cao vút, khiến người nghe cảm thấy rộn ràng, xao xuyến. Khi tôi nghe Thái Thanh hát bài Hương Xưa của Cung Tiến mà nhớ cả một trời xưa thơ mộng. Nếu kể ra những bài tôi thích thì sẽ nhiều lắm. Nguyên những loạt bài của Phạm Duy như Nghìn Trùng Xa Cách, Đừng Xa Nhau, Ngày Xưa Hoàng Thị, Phố Núi Cao… sẽ nhiều rồi, và tiếng hát Thái Thanh đước các đài radio mãi rả rích một ngày không biết bao nhiêu lần. Và bài Dìu Nhau của Phạm Duy có lẽ tôi chỉ nghe Thái Thanh hát mà thôi . Tuy nhiên, Thái Thanh còn làm tôi nhớ đến bài Tuôỉ 13 của Nguyên Sa và Ngô Thụy Miên. Tôi thích tiếng hát Thái Thanh trong baì Em Dến Thăm Anh Một Chiều Mưa của Tô Vũ, gợi trong tôi những ngày ở Huế mưa dầm dề, mưa Cả tuần không ngớt, và tôi di trong mưa, nghe qua radio nhà ai bài Em Dến Tham Anh Một Chiều Mưa… trong lứa tuổi 13 đó, mà cũng thấy buồn chi lạ. Nỗi buồn man mác… Thái Thanh sinh ra để làm loài chim sơn ca hay họa mi, chỉ cho người đời lời ca tiếng hát, và hát nhiều bài của nỗi nhớ không nguôi, mà bài nào cũng cho người nghe một tâm trạng khác nhau, hoặc buồn, hoặc vui… Nhắc đến Thái Thanh, tôi muốn nói nhiều đến giọng hát đặc sắc của chị. Giọng hát có lúc nhõng nhẽo như khi chị hát lúc tuổi 13, có lúc tha thiết day dứt như khi chị cất tiếng hát: “Em hỏi anh, em hỏi anh, bao giờ trở lại. Xin trả lời, xin trả lời, mai mốt anh về…”. Có lúc trữ tình, lãng man, như trong bài Hương Xưa: “Người ơi, một chiều nắng tơ vàng hiền hoà hồn có mơ xa… Người ơi, đường xa lắm con đường về làng, diù mấy thuyền đò… Còn đó, tiếng tre êm ru, còn đó bóng da hẹn hò, còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mang nghe sáo vi vu…”. Tôi ngồi trong một góc, để nghe tiếng Thái Thanh đang vang lên trong căn phòng ấm cúng tại nhà anh chị Đỗ Xuân Giụ, mà lòng như bềnh bồng trôi về một thủa nào xa tít tắp, của một thời Huế xưa, một thời Sài Gòn trong dĩ vãng,… Nhất là thời của Trưng Vương, khi ở vào lứa tuổi đẹp nhất của những năm là học trò đệ Nhị, đệ Nhất ở trường Trưng Vương. Tiếng hát Thái Thanh đã gợi nhớ trong tôi bao nhiêu là kỷ niệm thật êm đềm, khiến nhiều khi nghe chị hát, mà ngỡ như nghe tiếng hát từ dĩ vãng vọng về, cuả những ngày xưa thân ái, để luyến tiếc thêm, và hoài niệm về những ngày xa xưa mà thôi.”, HVLN, Orange county.Chị HVLN nhắc tôi bài “Tuổi 13”, tôi có kỷ niệm với bài nhạc này khi viết bài văn “Mùa Thu Cho Em”. Tôi kể cho anh Ngô Thụy Miên nghe, bài “Tuổi 13” là thơ của Nguyên Sa, nhạc của Ngô Thụy Miên, nhưng phải do Thái Thanh hát, vì chỉ có giọng ca này mới diễn tả trọn vẹn nét dấu yêu với một chút e ấp, một chút nũng nịu, một chút thơ ngây, và một chút nhõng nhẽo của lứa tuổi 13 thần tiên trong cái cảm giác của tôi khi mãi nghe đi nghe lại bài này, và chỉ có Thái Thanh hát “Tuổi 13” mới thật sự “phê” trong cái đam mê hay ý thích của tôi mà thôi.Thi sĩ Nhược Thu cho tôi phần ý kiến của anh:“Tôi nghe Thái Thanh ca “Năm năm tình lận đận”, tôi hiểu nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên nhiều hơn. Giọng ca Thái Thanh diễn tả bài hát thật rung động tim tôi. Dù những ngày ở sân trường đại học văn khoa, hay khi đi vào quân ngũ, rồi bị bắt đi “học tập”, bao bài tình ca do Thái Thanh hát vẫn mãi sống trong tôi. Cám ơn “Trả lại em yêu”, cám ơn “Hẹn hò”:“Một người ngồi bên kia sôngim nghe nước chảy về đâuMột người ngồi đâytrông hoa trôi theo nước chảy phương nàoTrời thì mưa rơimưa rơi không ngưng suối tuôn niềm đauNgười thì hẹn nhau sang sôngmong cho chóng tạnh mùa Ngâu…”,Cám ơn “Tôi đi giữa hoàng hôn”, Cám ơn “Giã Từ Đêm Mưa”, Cám ơn “Biệt ly”,…, và cám ơn tiếng hát Thái Thanh sẽ còn mãi trong tôi.”, Nhược Thu, San Diego.Nhạc sĩ Nguyễn Đăng Tuấn đưa ra cảm nghĩ của anh:“Tiếng Hát Thái Thanh đã tung hoành ngang dọc trong suốt những thập niên sáu mươi và bảy mươi của thế kỷ hai mươi\. Hàng đầu\. Thái Thanh nổi tiếng với nhiều ca khúc khác nhau\. Từ nơi các người viết nhạc trước vào sau thời kỳ “toàn quốc kháng chiến”, hay trước và sau thời “tiền chiến”.Giọng hát Thái Thanh được vang trong khắp các đài phát thanh Sài Gòn, và đài phát thanh Quân Đội tại miền nam Việt Nam tự do\. Và bị tắt tiếng sau ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản. Để rồi ngậm ngùi “đâu rộn ràng giọng hát Thái Thanh”.br> Tiếng hát Thái Thanh trải suốt. Từ những ca khúc đầy mơ mộng như Suối Mơ của Văn Cao, Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong, Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước, Hoài Cảm của Cung Tiến, Suối Tóc của Văn Phụng, hay những ca khúc đượm tình quê hương như Đôi Mắt Người Sơn Tây của Phạm Đình Chương, Tình Quê Hương của Đan Thọ, Hòn Vọng Phu của Lê Thương, Tình Hoài Hương của Phạm Duy, hay ca khúc âm vang trời Âu như Paris Có Gì Lạ Không Em của Ngô Thụy Miên,v.v.tiếp theo và hếtĐương nhiên tiếng hát Thái Thanh trải rộng cả trăm ca khúc khác nhau, nếu không nói là nghìn bài là con số có được\. Tiếng hát rộng, mỏng, uốn éo, và thích nét làm dáng của Thái Thanh khi ca trên sân khấu hoặc trên màn ảnh ti vi. Tôi nghe TT ca mà tâm tư xao xuyến khi gợi về quê hương như bài Tình Hoài hương. Hẳn Thái Thanh đã có riêng một số lượng thích giả đông đảo.”, NĐT, New Jersey.Từ Sydney nhà thơ Tăng Đức Sơn cho nhận xét của anh:“Thời gian thịnh hành của nhạc tiền chiến là những năm đầu của thập niên 60 trở đi. Gọi là nhạc tiền chiến vì giới sáng tác như những nhạc sĩ cũng như ca sĩ đa số thuộc lớp thế hệ của trước khi chấm dứt chiến tranh Việt Pháp và chia đôi đất nước năm 1954, hay trước cuộc nội chiến nam bắc. Cuộc di cư vĩ đại đưa số nhân tài từ bắc vào nam đã mang theo luôn cái “gia tài” Thái Thanh ấy nam tiến. Kể từ sau cuộc giao duyên nam- bắc 1954 đó âm nhạc miền nam khởi sắc, mà cái “gia tài” Thái Thanh là một giọng ca hiếm có ít ai phủ nhận nó.Khi một người nổi tiếng, có danh vọng thì quần chúng có khuynh hướng bắt chước hay nhái theo, ví dụ như tại xứ Mỹ có truyền thống bắt chước bao nhiêu người giả bộ dạng Micheal Jackson, giả giọng, giả lối ca, tướng đi, áo quần, giả Elvis Presley, giả John Lennon, giả Ricky Martin hay thậm chí giả luôn cả ban nhạc bốn người trong ban nhạc ABBA v.v.… Tiếng hát hiếm có, trong sáng vượt thời gian, không gian từ tiền chiến cho đến 1975 của TT cũng không thoát ngoại lệ nầy. Một số ca sĩ địa phương nơi tôi ở hay nữ sinh trung học đều cố gắng luyện có một giọng cao vút trong trẻo như thế; có một dạo còn là đề tài tuyển lựa giọng ca gần giống TT nhất. Thí sinh cũng chỉ luyện hát những bản “ruột” cho giống TT nhất ca để phân biệt hơn thua giữa các ứng viên thi hát.Với tôi bài “Nghìn Trùng Xa Cách” cho tôi nhiều kỷ niệm khi tôi vượt biên ra đi lênh đênh trên biển cả, khi con tàu vượt bao con sóng biển, trùng dương ra khơi nhìn quê hương bỏ lại hơn bao giờ hết giọng ca TT chất chứa nỗi bùi ngùi khi tôi ly hương:“Trả hết cho người, cho người đi,trả hết cho ai, ngày tháng êm trôi,đường ta đi , trời đất yên vui,rừng nắng ban mai, đường phố trăng soi,trả hết cho người, cho người đi.Trả hết cho ai,trả những chua cay,ngày chia tay, lặng lẽ mưa rơi,một tiếng thương ôi, gữi đến cho người,trả hết đôi môi giựơng cười…”Một đặc điểm của giọng hát Thái Thanh ngân cao thánh thót, giọng ca opera thì cho dù vài bài nhạc người nghe không thích cho lắm, nhưng khi nghe TT ca thì bài nhạc trở thành quý phái, thanh cao mang âm hưởng giá trị nghệ thuật mà thính giả sẽ thích thú hơn khi thưởng thức.Khoảng mấy tháng trước tôi nghe TT xuất hiện trong một buổi phỏng vấn ngắn trên một đài phát thanh Việt Ngữ ở Cali. Giờ thì Cô tuổi tác cao, hơi lãng tai và giọng nói khàn khàn. Ôi! cũng là định luật tự nhiên chung đó thôi. Mấy thập niên vang tiếng của ngôi sao Hồng Hà, thánh thót một thời ngày xưa vẫn còn sống mãi trong lòng mọi người, trong lòng tất cả người Việt Nam, trong lòng thính giả nghe được tiếng Việt Nam. Tiếng hát TT cất lên mở đầu trong các chương trình hội thảo về ngôn ngữ, giáo dục văn hóa hay trong các buổi truyền thanh, truyền hình ở nơi nào có mặt của người Việt qua bài ca muôn đời mến yêu “Tôi yêu tiếng nước tôi”. Chúng ta yêu tiếng Việt, và ngày nào chúng ta còn ấp ủ nói ngôn ngữ mẹ Việt Nam thì bài Tình Ca qua tiếng hát TT sẽ mãi mãi rung động tâm tư chúng ta:“Tôi yêu tiếng nước tôi,từ khi mới ra đời,mẹ hiền ru những câu xa vời.Tiếng nước tôi,Bốn ngàn năm….”, Tăng Đức Sơn, Úc châu.Nhận xét của Nhạc sĩ Hoàng Thy về Thái Thanh như sau:“Người ta không ngạc nhiên khi nghe Thái Thanh ca bất cứ một nhạc phẩm nào trong quá khứ và nhạc phẩm được đó được xem là hay, tôi nghĩ chị chọn lựa bài và tập cho mình một phong thái riêng khi hát nó. Những ca khúc được chị ca đều vượt trội khi chị chuyên chở ý tưởng hay lời ca của bản nhạc. Thêm vào đó, cung cách trình diễn linh động như tôi còn nhớ khi xem chị trình bày các ca khúc Kỷ Vật Cho Em, Mùa Thu Chết hay Nghìn Trùng Xa Cách. Ngày nay quay về dĩ vãng cũ của Sài Gòn trước năm 75, hình ảnh hay giọng ca của chị là một kỷ niệm đẹp trong tôi.” Hoàng Thy, San Diego.Nhạc sĩ trẻ Minh Luân cho những dòng kỷ niệm chân thành của anh về giọng ca Thái Thanh như sau:“Nhắc đến nữ danh ca Thái Thanh thì chúng ta không thể nào không nhắc tới đại tác phẩm “Buồn Tàn Thu” của nhạc sĩ Văn Cao. Có lẽ tôi suy diễn hơi xa khi cho rằng nhạc sĩ Văn Cao sáng tác nhạc phẩm này chỉ dành riêng cho giọng hát Thái Thanh mà thôi. Quả thật là như vậy mỗi khi nghe Thái Thanh hát dạo câu đầu của bài “Buồn Tàn Thu” là hồn tôi rung cảm ngây ngất vì nó quá tuyệt vời… xin mời các bạn thưởng thức tại đây:“Ai lướt đi ngoài sương gióKhông dừng chân đến em bẽ bàngÔi vừa thoáng nghe emMơ ngày bước chân chàngTừ từ xa đường vắngĐêm mùa thu chếtNghe mùa đang rớt rơi theo lá vàngEm ngồi đan áoLòng buồn vương vấnEm thương nhớ chàngNgười ơi còn biết em nhớ mongTình xưa còn đó xa xôi lòng…”Văn Cao viết lên lời tình tự, nhưng lời tự tình này lại được cất vang từ giọng hát điêu luyện về ngàn trùng âm vang vọng nhớ, về dĩ vãng buồn bã của mùa thu tàn lụi:Tôi đã mở đi mở lại bài này cả trăm lần nghe mãi mà cũng không thấy chán… Giọng ca Thái Thanh, theo ý tôi, quả thật là tự cổ chí kim rất khó tìm. Ca sĩ Ngọc Hạ mặc dầu có một giọng ca có thể hát lại những đại tác phẩm của các bậc tiền bối, nhưng cũng không thể nào thay thế nổi vị trí của Thái Thanh trong bài “Buồn Tàn Thu”.”, Lê Minh Luân, San José.Nhà thơ Ngọc Anh GL cho nhận xét của chị khi nghe giọng ca Thái Thanh:“Có thể nói tiếng hát Thái Thanh đã làm say mê bao lớp người Việt Nam, đặc biệt là lớp người tha hương, sống viễn xứ, Thái Thanh làm say mê bao người trong những thập niên 40’s, 50’s, 60’s, 70’s, 80’s , 90’s và vẫn còn tiếp. Tôi thích nghe ca sĩ Thái Thanh hát chung với Ban hợp ca Thăng Long có Hoài Trung, Hoài Bắc như bài Xóm Đêm, Ngựa Phi Đường Xa, Giã Từ Đêm Mưa, hay Tiếng Đàn Tôi.”, NAGL, Los Angeles.Nhà thơ Trang Điền Morita gửi tôi phần cảm nghĩ của anh:“Thái Thanh được mệnh danh là “Tiếng hát vượt thời gian”, tôi nghĩ không ngoa từ khi chị tham gia phong trào Toàn quốc Kháng chiến đến khi chị ra hải ngoại, cho đến khi chọn lối sống ẩn dật, nhưng qua bao bài hát và giọng ca của chị vẫn được người đời nhắc nhở và hâm mộ. Tôi thích nhiều nhạc phẩm do chị ca, đan cử vài bài như: Ngậm ngùi, Mùa thu chết, Nửa hồn thương đau, Giết người trong mộng, Còn một chút gì để nhớ, Mùa thu Paris,… hãy nghe và nhớ mãi tiếng ca này.” Trang Morita, Northridge.Từ vùng tây bắc Mỹ, nơi tuyết và mưa nhiều hơn nắng, nhà thơ Đạm Thủy góp ý:“Cám ơn Việt Hải đã cho tôi cơ hội đóng góp vài nhận xét về tiếng hát Thái Thanh. Khi tham khảo ý tưởng của nhiều người về một giọng ca đã nổi tiếng “vượt thời gian” từ cả một thế hệ, chắc hẳn VH đã cảm thấy không thấy THỪA. Chính lý do đó mà Đạm Thủy không ngại đóng góp vài giọt nước trong một cái bể sẵn có, cái bể đập sóng ca ngợi một thiên tài.Ngoài những kỹ thuật rất điêu luyện của giọng ca mà nhiều người đã mô tả, giọng ca của nàng trong trẻo nhưng không chua, mà thánh thót nhưng không vắt vẻo, rất xứng đáng để người ta ca tụng mãi mãi, ngày nào còn nghe được nàng ca, dù rằng qua CDs hay DVDs đi nữa. Tôi gọi ca sĩ Thái Thanh là “nàng” chỉ vì sự trân quý, âu yếm như trân châu mà thôi, dù rằng tuổi của “nàng” có thể làm cô, dì của tôi. Thực ra như thế cũng giống như sự thể người ta sẽ không gọi thiên tài Thái Thanh là “bà Thái Thanh” được, vì tiếng hát Thái Thanh vốn gần gũi với quần chúng, và nó sẽ sống mãi với quần chúng.Về kỹ thuật, bản Buồn Tàn Thu của Văn Cao mà chúng ta được nghe Thái Thanh hát: Nàng bắt đầu chữ “Ai…” ngân dài một đỗi như treo lửng lơ cái thắc mắc người nào không rõ trong cơn gió mưa bên ngoài, xong rồi mới diễn tả động từ “lướt” một cách gợi hình. Cái hay là điểm độc đáo đó.Sau năm 1975, người ta lăng xê ra một ca sĩ trẻ tên là Ánh Tuyết chuyên hát những bài mà Thái Thanh xưa đã hát như Thiên Thai, chẳng hạn. Tôi bèn mua vài cuốn băng nghe thử. Nhưng nghe kỹ kỹ thuật ca không thể bằng được. Mặc dù, tôi tự kiểm điểm lại cho chính mình chọn sự vô tư. Lúc đó tôi mới thấy rõ cái dấu mộc hay rỏ hơn thì là cái giá trị kỹ thuật khi ngân vang tiếng hát mà Thái Thanh đã ấn lên từng bài hát của nàng. Nàng hát rồi là bản đó của nàng. Thế thôi.Xét cho cùng phải nhìn nhận là giọng hát Thái Thanh đã là một lằn ranh xác định mức tối hảo, để là một cái thước để đo lường nghệ thuật và định chẩn chân giá trị âm nhạc mà “yếu tố Thái Thanh” như một quy luật định phẩm.Nếu nhạc Việt về thể loại tiền chiến còn được sáng tác và các ca sĩ trong tương lai khởi sự chọn hát, tôi nghĩ tiếng hát Thái Thanh là sự tham khảo rất lợi ích cho họ vậy.”, ĐT, Seattle.Thi sĩ Nghiêm Xuân Cường góp phần nhận xét của anh:“Thực ra có quá nhiều nhạc phẩm đã đóng góp cho tên tuổi Thái Thanh. Tôi yêu giọng ca Thái Thanh vì cái nông nàn của làn hơi cũng như của sự diễn tả. Theo tôi thì hai bài Tình Ca và Tình Hoài Hương của Phạm Duy thì không ai có thể hát hay hơn Thái Thanh. Khi chị Thái Thanh cất tiếng hát bài Tình Ca: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi. Mẹ hiền ru nhung câu xa vời. À à ơi tiếng ru muôn đời…” tôi nghe như có cái gì rưng rưng ở trong lòng và, muời lần như một, là nuớc mắt tràn lên mi.Những cái lên xuống, ngắt câu, những chỗ diễn tả chua xót, ngọt ngào, buồn bã,v.v… mà chỉ có Thái Thanh mới làm được, và đem hết được ý của câu nhạc đi thẳng vào lòng nguời nghe. Thí dụ như khi nghe chị hát bài Thôi của Y Vân: “Thôi, em đừng khóc nữa mà làm gì. Kỷ niệm buồn ân tình cũ xa xôi, thôi, em đừng tiếc, em đừng tiếc. Đừng tiếc nữa mà làm gì. Kiếp này đành LỠ duyên rồi”. Chữ LỠ được phát âm láy và có một sự chua xót lẫn đắng cay mà phải nghe mới thấy được cái điêu luyện của giọng ca tuyệt vời này.Cũng vậy ,trong Hội Trùng Dương của Phạm Đình Chương giọng của chị lúc nhanh, lúc chậm, lúc vui buồn, lúc lên xuống: “Ngày vui, tan đao binh. Mẹ bồng con sơ sinh. Chiều đầu xóm, hân hoan đón người trường chinh…” như những giòng sông của quê hương tuy đã xa, rất xa mà vẫn còn chẩy mãi trong lòng người tha hương…”, NXC, Michigan.Nhạc sĩ Dương Viết Điền viết về Thái Thanh như sau:“Tôi nghe tiếng hát của Thái Thanh qua hai bài hát chất chứa đầy tình tự quê hương, đó là các bài Tình Ca và Tình Hoài Hương, chị làm tôi nhớ nhà, nhớ dĩ vãng, nhớ cố hương thêm. Khi tôi di cư vào từ bắc vào miền trung, rồi miền trung vào miền nam, rồi những năm tháng dài tù đầy “cải tạo” tại miền bắc, rồi ly hương sang Mỹ, những lời ca của ca sĩ Thái Thanh qua hai bài hát bất hủ này của nhạc sĩ Phạm Duy mang hồn tôi trở về những kỷ niệm tình tự quê hương ngày xưa. Cám ơn giọng ca thiên phú của chị Thái Thanh và cám ơn Việt Hải cho tôi góp tiếng nói cùng các bạn hữu.”, Dương Viết Điền, Los Angeles.Kế tiếp là cây bút mê âm nhạc, thích viết về âm nhạc Minh Thanh, cô cũng là người say mê giọng ca Thái Thanh:“Giọng hát Thái Thanh đã được nhiều người yêu thích vì cô có nhiều bài hát lắm. Kể về các bài hát thì Thái Thanh không phải chỉ nổi tiếng với nhạc Phạm Duy mà còn rất nhiều bài hát của các nhạc sĩ khác, như bài hát của Nguyễn Ánh 9, Ngô Thụy Miên, Văn Cao, Hoàng Trọng, Dương Thiệu Tước, Phạm Đình Chương. Cũng có thể nói về Thái Thanh cho nét đặc biệt thích hợp tuyệt vời hơn là khi cô trình bày các bài sau 75, ví dụ như bài Rong Ca của Phạm Duy “Hẹn Em Năm 2000”:“Hẹn em nhé, năm 2000 sẽHai bên cửa hé, cho anh trở vềTừ ngày đi, theo cuộc tỉnh mêTrăm năm nhỏ bé, trăm năm bộn bề…”Bài Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn (phổ thơ Du Tử Lê) nhạc Phạm Đình Chương, Bài Đêm Màu Hồng (trước 75), Suối Mơ, Dòng Sông Xanh, Hoài Cảm, Đôi Mắt Người Sơn Tây, rồi Quán Bên Đường (Phạm Duy phổ thơ Bình Nguyên Lộc), Thái Thanh diễn tả thật tuyệt vời.Bài Em Lễ Chùa Này, Đưa em tìm Động Hoa Vàng (Phạm Duy, phổ thơ Phạm Thiên Thư),… và còn quá nhiều để kể ra đây.”, Minh Thanh, nam Cali.Nhà thơ Lê Duyên Thùy Trang đóng góp ý của cô như sau:“Nhạc do Thái Thanh ca đến với tôi vào những năm đẹp nhất của khuôn viên sân trường đại học trong cuối thập niên 60’s và đầu thập niên 70’s. Khi mà tôi tìm thấy nơi Thái Thanh một giọng ca đượm nét quyến luyến, rất trữ tình, tôi thích các bài tình ca do cô hát như: Trả lại em yêu, Áo lụa Hà Đông, Tuổi 13, Từ giọng hát em, Muà thu trong mắt em, Mùa thu không trở lại,…”, LD Thùy Trang, Boston.Trong một buổi điện đàm thăm hỏi ca sĩ Mai Hương, tôi có hỏi chị với tư cách một người thưởng ngoạn nhạc Thái Thanh hát và cũng là người thân của cô Thái Thanh thì chị có nhận xét như thế nào về TT là một ca sĩ và TT là một người thân trong gia tộc. Chị Mai Hương cho biết là tiếng hát Thái Thanh điêu luyện về kỹ thuật, có nhiều kinh nghiệm về âm vực. Bên cạnh đó cô Thái Thanh là người mẹ tuyệt vời lo lắng cho các người con cô.Tôi có dịp học một lớp với Lê Việt con trai thứ của cô TT tại đại học Cal State Northridge, sau này tôi được biết Việt học lấy đủ loại bằng cấp từ kỹ sư rồi chuyển sang ngành bác sĩ. Lê Việt là một thanh niên rất thông minh. Em trai út của Việt là Lê Đại tốt nghiệp ngành âm nhạc tại trường Cal State Long Beach, với minor ngành computer science. Lê Đại rất khá về lãnh vực web design. Cô TT theo sát và khuyến khích các con trên bước đường học vấn. Thiết nghĩ tiến triển nghề nghiệp và bổn phận gia đình thông thường là 2 yếu tố tương phản, lắm khi có cái này thì không có cái kia. Trong tuổi đời mừng sinh nhật cổ lai hy cô đã hoàn thành cả hai. Đây là điểm son về vai trò làm mẹ của cô Thái Thanh, song song bên hào quang âm nhạc của cô. Ngoài ra, Lê Việt còn có hai chị em là hai ca sĩ thành danh Ý Lan và Quỳnh Hương, thỉnh thoảng tôi nghe trên radio 2 cô tham dự vào các hoạt động từ thiện xã hội, cộng đồng.Sau đây là đồi dòng cảm nghĩ của nhà thơ Sương Mai nuối tiếc về sự nghỉ hưu, sống ẩn dật của ca sĩ TT:“Tiếng hát Thái Thanh là một tiếng hát tuyệt vời, Thái Thanh lại biết chọn bài hát. Những bài hát của Thái Thanh hát là những bài có tầm vóc và giá trị dài lâu về nhạc cũng như lời, khi Thái Thanh góp vào tiếng hát, làm cho bài hát bốc lên bay cao như cánh hạc, Thái thanh hát bằng cả tâm hồn và bằng sự rung động của trái tim chính mình, cho nên khi hát Thái Thanh đã để cho mình bay bổng theo điệu nhạc, ai nghe Thái Thanh hát mà không xao xuyến, không mê man, hay không đắm say nỗi lòng?Sương Mai thích Thái Thanh hát bài “Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng” cuả nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ thơ thi sĩ Phạm Thiên Thư và bài “Ngàn Thu Áo Tím” cuả nhạc sĩ Hoàng Trọng và Lưu Thị Vĩnh Phúc:“Ngày xưa xa xôi em rất yêu màu tímNgày xưa xa xôi em sống trong trìu mếnChiều xuống aó tím thường thướt thaBước trên đường gấm hoa…Từ khi yêu anh anh bắt xa màu tím…”Tiếc là đời người ngắn ngủi và chóng tàn, Thái Thanh theo luật tuần hoàn của vũ trụ, giờ đây đã về hưu ẩn dật, không còn đứng trên sân khấu trước chúng ta, để hát cho chúng ta nghe nữa.Sắc đẹp, tiếng hát rồi cũng sẽ tàn lụn theo dòng thời gian, có chăng chỉ là những dư âm tiếng hát còn đọng lại cho ngàn sau…”, Sương Mai, Sacramento.Ngoài ra tôi có dịp đọc nhiều bài báo sau năm 75 tại hải ngoại kể về giai đoạn giao mùa khi CS xâm chiếm miền nam, ca sĩ Thái Thanh tỏ thái độ bất hợp tác với chính quyền mới. Bài viết của tác giả Thụy Khuê đưa ra nhận xét lý thú:“Ngay cả khi cô im tiếng 10 năm trong chế độ Cộng Sản (1975-1985) để bày tỏ thái độ chống đối một cách bất bạo động, tiếng hát Thái Thanh vẫn được yêu mến hàng đầu trong băng nhạc của nhiều gia đình người Việt xa xứ. Ngày nay cô đã ngưng hát, coi như “nghỉ hưu”, nhưng có thể nói số người thưởng ngoạn vẫn nhớ và thương giọng hát đó cũng vẫn rất đông đảo.Thái Thanh thường trả lời những người mến mộ muốn nghe cô cất tiếng lại: “Khi nào có hội nghị Diên Hồng hay có đại nhạc hội hồi hương trong tự do (chắc còn lâu!), thì cụ Thái Thanh này, dù có phải chống gậy lụ khụ, cũng sẽ tự động ra sân khấu, không cần ai mời cũng vẫn lên tiếng hát mừng quê hương tôi, mừng người nước tôi”.”Nhạc sĩ Minh Thao, Phạm Phú Minh hiện cư ngụ tại Bergen, Na Uy, kể lại chuyện cũ của buổi giao thời năm 75, thiết nghĩ bài viết của anh là nguồn tài liệu lịch sử nêu lên cái phong cách đáng kính của kẻ sĩ không ngã lòng, không a dua theo thời cuộc, không phục tòng sức mạnh trước những biến đổi đau thương của đất nước:“Ca sĩ Thái Thanh đối với tôi là ca sĩ hàng đầu tại Việt Nam thời cô còn sinh hoạt ca hát. Cho nên bài hát mà cô đã trình bày xuất sắc thì nhiều vô kể, rất khó thống kê. Tuy nhiên, có những bài hát đến với người nghe trong hoàn cảnh đặc biệt thì nó hay vô cùng, không có gì so sánh được. Xin được kể anh Việt Hải nghe một câu chuyện, nếu anh cảm thấy được thì tuỳ nghi xử dụng cho bài viết của anh nhé:Thời gian đầu giao mùa khi CS vào tiến chiếm miền nam, nếu tôi nhớ không lầm là vào tháng 8 năm 1975, CS chuẩn bị cho cuộc đổi tiền lần thứ nhất vào tháng 9 cùng năm, nên bọn chúng cho tập trung dân chúng lại để học tập chánh trị tại địa phương (không nêu ra đề tài đổi tiền, chúng chỉ nêu ra đề tài chánh quyền cải cách thống nhất đất nước, để chúng lót đường cho sự độc tài, hòng sang đoạt của cải của người dân về sau này).Nhà cô Thái Thanh ở trên đường Lê Thánh Tôn, gần Trung Tâm Văn Hoá Pháp, cũng gần bệnh viện Grall (tức nhà thương Đồn Đất), thuộc phường Bến Nghé, quận Nhất Sài Gòn. Cho nên cô cũng “được” mời đi học tập chánh trị thuộc khu vực được tổ chức tại hội trường đại học Dược Khoa, trên đường Cường Để…Nói là học tập chánh trị, nhưng CS cũng muốn khoe “cái văn hóa ưu việt” trước cái dân ngụy ở ngay trung tâm Sài Gòn. Cho nên chúng cho tổ chức buổi văn nghệ “tự phát” gần như thi đua giữa đám thanh niên địa phương chúng tôi với đám bộ đội lúc đó đóng tại building đối diện toà Đại Sứ Mỹ cũ. Và hôm đó bọn chúng bị bẽ bàng, sượng mặt. Tất cả cũng nhờ cô Thái Thanh… (và cũng từ đó về sau tôi không còn chứng kiến sự hợp tác văn nghệ theo cái kiểu… rất “bộ đội” và khích dân chúng “hồ hởi” cùng làm).Câu chuyện thế nầy:Phần thứ nhất do nhóm văn công bộ đội phụ trách, gồm các tiết mục đơn, hợp ca và cả độc tấu sáo, mandoline… Chúng cố lám ra vẻ chuyên nghiệp, người trình diễn nào cũng đánh tí phấn, tô tí son môi, dù chúng chỉ là đám đực rựa thuộc đơn vị bộ đội tại đó nên càng xem càng thấy ngô nghê và buồn cười.Nhóm thanh niên địa phương chúng tôi thời đó còn máu tư sản nên con gái còn mặc áo dài, con trai áo trắng bỏ trong quần xanh hoặc đen. Nhưng vì mới mất nước, thấy bộ đội sắt máu quá nên không ai trang điễm gì hơn.Rồi tình cờ có một người bạn nhận diện cô Thái Thanh đang là khán giả “bị mời” đang ngồi phía dưới. Chúng tôi đến nhờ cô giúp một tay. Và dù không nói ra, nhưng chúng tôi và cô ngầm hiểu phải “dạy” cho bọn ngố nầy một bài học để xem cái ưu việt nào hơn cái ưu việt nào. Dù không có sự chuẩn bị nào về chương trình và phần nhạc đệm chỉ có một cây guitar thùng, do một tay đàn còn… dưới mức tài tử mấy bực. Nhưng Cô Thái Thanh vẫn hăng hái nhận lời mở đầu phần thứ nhì (tức là phần của thanh niên địa phương chúng tôi). Cô lên tự giới thiệu hát bài Tình Ca của Phạm Duy là một tác giả bị cấm triệt để lúc đó. Trước bọn cán ngố cô bình tĩnh giới thiệu sẽ hát bài hát đầy tình tự yêu nước nhất mà cô biết và cô cất giọng…“Tôi yêu tiếng nước tôiTừ khi mới ra đời… người ơi…”Giọng cô cao vút và trong vắt, mặc kệ cho dàn âm thanh “phường khóm”, mặc kệ tiếng đệm đàn vụng về… Cô dẫn dụ người nghe về một cõi thần thiên của quê hương, mới bị tan hàng có mấy tháng mà tưởng đâu đã xa nghìn trùng… Đám bộ đội ngồi sững sờ, cũng chết lặng theo vì bị cô thu phục, mê hoặc hoàn toàn…“Tiếng nước tôiTiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi…Tiếng nước tôi…”Khi cô hát có những đôi mắt xung quanh nhoà lệ, trong đó có đôi mắt của tôi trong nỗi xúc cảm vô biên… một kỷ niệm thật khó quên trong đời tôi vì hậu quả tâm lý ngược lại do vấn đề nhân tính và tình cảm thiêng liêng của con người đối với quê hương và văn hóa dân tộc. Thế là phe bộ đội thua to.Từ trước tôi đã mê nghe cô hát… Và cho đến giờ tôi vẫn còn mê giọng hát của cô, nhất là trong bài “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” do nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ Màu Tím Hoa Sim của thi sĩ Hữu Loan. Nhưng đối với tôi cho đến tận giờ phút nầy của thế kỷ 21 bản TÌNH CA vẫn là bài hát hay nhất trong tâm hồn tôi, vì nó cho tôi kỷ niệm đáng nhớ từ cô Thái Thanh.Có lẽ tôi không cần kể thêm những bài tôi vẫn hằng yêu mến khi nghe cô hát như Còn Chút Gì Để Nhớ, Hẹn Hò,… Hoặc ngay cả những bài Em Hiền Như Ma Sơ, Trả Lại Em Yêu,… mà tôi hằng ưa thích do ca sĩ Thái Thanh cất giọng lên và cuối cùng vẫn là ca sĩ hát những bài hát đó “tới” nhất, tuyệt vời nhất theo cái thính giác hay âm nhĩ của tôi. Bởi vì chỉ với một baì Tình Ca trong hoàn cảnh giao mùa đó đã đủ cho hình tượng cô sống mãi trong tâm hồn tôi rồi. Cô mãi mãi nêu lên tinh thần bất khuất của kẻ sĩ trong cơn đổi đời bi thãm của lịch sử Việt Nam nói chung, hay lịch sử âm nhạc Việt Nam nói riêng.Thêm một chuyện bên lề nữa là khi “gian hàng cà phê” của cô mở ra ở vĩa hè đường Tự Do có một lần không biết vô tình hay cố ý bọn Công An tạo vở kịch bắt cướp đã xả súng AK bắn thẳng vô, khiến một cô gái bị thương (hình như đó là người giúp việc cho cô). Chúng tôi đến thăm cô tại nhà. Cô tiếp chúng tôi một cách niềm nở, hiền hoà, và chân tình như người hàng xóm với nhau. Cô đâu có biết là cô đang tiếp những người hết sức aí mộ cô như thần tượng, không những trong lãnh vực ca hát mà còn trong nhân cách sống của người nghệ sĩ trước bạo quyền.Lần đó cô có giới thiệu với tôi em Quỳnh Dao (hay Quỳnh Giao ?) là con gái của cô, đang học piano tại phòng khách. Không biết cô đó bây giờ có tiếp tục theo đuổi nghệ thuật âm nhạc hay không mà tôi không được nghe nói tới.Gởi anh Việt Hải bài viết theo ký ức đã trôi qua gần 30 năm. Nếu dùng được cho bài viết của anh thì tốt, nếu không thì xin anh giúp tôi forward lá thư nầy nầy đến cô Thái Thanh như cách tôi biểu lộ lòng ngưỡng mộ, tri ân chân thành nhất đối với cô vậy.”, Minh Thao, Phạm Phú Minh, Bergen, Na Uy.Lời Kết:Mỗi con người đều phải dính dáng hay liên hệ với ba yếu tố trong cuộc sống, đó là: Gia đình, Xã hội hay Cộng đồng chung quanh và Tổ quốc trên cao. Ngày xưa khi tôi học về cụ Nguyễn Đình Chiểu, tôi được thầy tôi dạy về tấm gương của cụ đồ nho phong bất khuất này. Khi chính quyền thực dân Pháp kêu gọi những thành phần thanh niên Việt ra làm tay sai cho chúng, cụ từ chối, mà chỉ chọn nếp sống ẩn dật làm thơ và dạy học. Khi các nghiã binh nổi dậy chống Pháp bị thực dân bắt đem đi xử tử, cụ viết Văn Tế Nghiã Sĩ Cần Giuộc khóc cho bản án của họ như một hình thức tri ân. Cụ cũng là nhà thơ nổi tiếng qua tác phẩm Lục Vân Tiên, cụ đào tạo rất nhiều thế hệ trẻ hành trang cho họ lòng yêu nước, trong đó có người con gái của cụ là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh. Bà SNA hoạt động ngầm quyên tiền cho phong trào Đông Du gửi du học sinh Việt Nam ra xứ ngoài du học, bà còn xuất bản tờ Phụ Nữ Chung tranh đấu cho quyền phụ nữ dưới thời Pháp thuộc. Nói như vậy để thấy rằng cụ Nguyễn Đình Chiểu quý trọng việc rèn luyện, dạy dỗ thế hệ mai hậu, là một vị thi hào của xứ sở và là một kẻ sĩ yêu nước, thương nòi.Tương tự như thế, người công dân Thái Thanh trong nhãn quan của tôi đã sống gương mẫu với cái bất khuất của kẻ sĩ trong giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử miền nam năm 75, cô là một ca sĩ thượng hạng của nền âm nhạc Việt Nam và cô đã thành công nuôi dưỡng những người con trưởng thành đóng góp cho cộng đồng và cho xã hội vậy. Bài viết nầy do nhiều anh chị em thuộc thế hệ đi sau cô gom góp những suy tư về những đặc điểm được xem là di sản Thái Thanh để lại cho ngàn sau.Việt Hải, Los Angeles.* VH chân thành cám ơn các anh chị thân hữu đóng góp ý trong bài nay. Mùa tưởng niệm, 30-04-2004.Link: : https://thanhthuy.me/2014/08/13/thai-thanh-tieng-hat-tuyet-voi-viet-hai/———————————————————————————–‘Tiếng Hát Vượt Thời Gian,’ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi:https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/tieng-hat-vuot-thoi-gian-danh-ca-thai-thanh-qua-doi-huong-tho-86-tuoi/THÁI THANH – NHỮNG Tình Khúc Hải Ngoại Để Đời CỦA DANH CA « TIẾNG HÁT VƯỢT THỜI GIAN »:https://www.youtube.com/watch?v=01Z89fXdFYsBAN HỢP CA THĂNG LONG – THÁI THANH: https://dotchuoinon.com/2015/08/23/tan-nhac-viet-nam-ban-hop-ca-thang-long/:

This blog is focused on Trân Quang Hai